Thông báo

Collapse
No announcement yet.

Góc Truyện Tình HOÀI HƯƠNG...

Collapse
X

Góc Truyện Tình HOÀI HƯƠNG...

Collapse
 
  • Filter
  • Giờ
  • Show
Clear All
new posts

  • Từ Cổ THÀNH đến Nha Trang tuyệt diễm

    Thưa anh Hoàng Yến thân & qúy mến,
    Dạ vâng, điều anh ghi ở trên nầy rất đúng ạ.
    Chẳng biết Hoài Hương ngớ ngẩn lú lấp thế nào, mà quên tiệt v/v ở Nha Trang đặc biệt ngoài Quân-trường Không Quân (TTHLKQ- QLVNCH), Quân-trường Hải Quân Nha Trang, còn có các trường quân sự:
    1/ Trung tâm huấn luyện Lam Sơn: ...
    2/ Trung tâm huấn luyện Dục Mỹ: ...
    3/ Trường Hạ sĩ quan Đồng Đế: ...
    Hoài Hương xin chân thành cảm ơn anh Hoàng Yến đã tế nhị nhắc nhở. Vâng, xin mời anh Hoàng Yến & qúy độc giả đón xem v/v nầy.
    *
    Hôm nay mở files, thì... té ra trong phần 1/ 2/ 3... ghi trên (về các TTHL tại Nha Trang); THH đã có bài viết v/v ấy ở một chương khác ạ. Tuy nhiên, nhờ anh Hoàng Yến nhắc nhở, để đáp lại tấm thịnh tình của qúy vị, HH xin đăng bài viết bổ túc về "Cổ Thành NHA TRANG..."
    Kính bút,
    Hoài Hương

    ***

    Từ Cổ THÀNH đến Nha Trang tuyệt diễm
    Tình Hoài Hương
    *

    Trời xám xịt, ảm đạm với từng cuộn mây đen phủ chụp lấy Cây Cẩy, xe chạy càng chậm như rùa bò khi đến Cổ Thành*, là một quần thể lục giác, có lối kiến trúc quân sự độc đáo, quy mô theo phương pháp Vauban, {do ông kỹ sư Công-binh quân sự nổi tiếng của Pháp: tên Vauban (1633-1707) tên thật của ông là Sébastien Le Prestre} Cổ Thành có hào sâu chắn bờ thành cao 3 mét rưỡi, bên trong thành đắp làm hai bậc cấp rộng và cao. Muốn về Nha Trang phải qua miền Cổ Thành nầy. Từ trong ca dao xa xưa Việt Nam đã có:
    Khánh Hoà biển rộng non cao
    Trầm hương Vạn Giã yến sào Nha Trang
    Tỉnh Khánh Hoà đậm đà mưa nắng
    Non chồng nghĩa nặng nước chứa tình thâm
    Ngọn gió bay phảng phất hơi trầm
    Mây xây tháp bút trăng dầm bến ngân (1. cd)

    Thời xa rất xưa khoảng thế kỷ 17 đã thấy có tên “cửa Nha Trang” do ông Đỗ Bá biên soạn. Một bản đồ ở niên đại cuối thế kỷ 17 năm Giáp Ngọ, Niên Bình Nam Đồ của Đoan Quận công Bùi Thế Đạt cũng thấy ghi tên "Nha Trang Hải môn". Trong thư tịch cổ Việt Nam có những tài liệu đề cập đến địa danh này. Thời Pháp thuộc Nha Trang chỉ là một “chef lieu”, sau 7 tháng Năm 1937, toàn quyền đông dương nâng Nha Trang lên hàng “commune”, cho đến 27 tháng Giêng 1958 thì có nghị quyết số 18-BNV bãi bỏ chức “Thị-xã”. Do vùng Nha Trang bao la mênh mông từ đất liền, hải đảo, đảo biển xa xôi chằn chịt, nên miền đất nầy được chia thành Nha Trang Đông & Nha Trang Tây, do Tổng-thống Ngô Đình Diệm ấn ký.
    Nha Trang xa Sài Gòn (441km, tính trên đường bộ, & Nha Trang đi đến Cam Ranh xa 45km). Thành phố Nha Trang duyên dáng thơ mộng nằm trên một đồng bằng khá rộng đã phân hoá, và được bồi đắp phù sa bên cạnh sông Cái và sông Quán Tường, rồi nước chảy ra biển cả:
    Suối Tiên nước chảy lững lờ
    Tiên đi đâu, để bàn cờ rêu phong
    Nước mây vắng vẻ tăm mòng
    Bền gan nay vẫn rày mong mai chờ (cd)

    Ven biển Nam Trung Bộ thuộc Tỉnh Khánh Hoà (& thành phố Nha Trang) phía Bắc giáp Tỉnh Phú Yên, gần sát nách là Ninh Hoà. Nam giáp Tỉnh Ninh Thuận. Tây là sườn Đông của dãy trường sơn giáp Đắc Lắc & Lâm Đồng. Đông giáp biển Đông. Biển Khánh Hòa trong đó bao gồm cả quần đảo Trường Sa nằm ở điểm cực Đông Việt Nam. Tóm lại Nha Trang là một thành phố rất thuận tiện về mọi mặt, là vị trí địa lý tiện nghi trên đường thủy, đường hàng không, & trục giao thông đường bộ qua quốc lộ 1C, quốc lộ 1 A quan trọng xuyên qua mọi miền đất nước Việt Nam khá thuận lợi. Quốc lộ 26 nối Khánh Hòa Đắc Lắc và các tỉnh Cao Nguyên Trung Phần. Có hai con sông lớn chảy qua Tỉnh là sông Cái & sông Dinh. Đặc biệt Khánh Hoà có 5 suối nước nóng vẫn trữ lượng cả triệu mét khối nước uống, và chữa bệnh. Ngoài ra Khánh Hòa có hệ thống xe lửa nối dài từ Phan Rang chạy xuyên qua các miền tới Cà Mau & đồng thời ra tới Bến Hải. Khánh Hòa có nhiều hải cảng và phi cảng náo nhiệt, đông đúc, đồ sộ, thì đã có:
    Ông Trần Đường giữ đèo Dốc Thị
    Ông Trịnh Phong trấn nơi biển Cù
    Ông Nguyễn Khanh lo việc quân nhu
    Ba ông một bụng nghìn thu danh truyền (cd)

    Từ Cam Ranh đi tới Nha Trang về hướng Bắc tuyệt đẹp với miền cát trắng mịn đầy hấp dẫn... là một tiềm năng khá tốt mang tính chất nhiệt đới gió mùa, nên khí hậu Nha Trang ôn hoà trung bình 25/oC & đại dương thông thoáng, thênh thang, bao la, mênh mông, do thế mùa Đông chỉ se lạnh, mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 (thường là ba tháng), mùa hè mát mẻ hơn các vùng khác. Biển dài 7m gần sát thị thành, nên dù mùa khô nhưng khí hậu dễ chịu:
    Anh đứng ở Nha Trang
    Trông sang xóm Bóng
    Ánh trăng lờ mờ, lượn sóng lăn tăn
    Gần nhau chưa kịp nói năng
    Bây giờ sông cách, biển ngăn ngại ngùng!
    Biển sâu con cá vẫy vùng
    Sông sâu không dễ mượn dòng đưa thư
    Anh nguyền cùng em:
    Bao giờ Hòn Chữ bẻ tư
    Biển Nha Trang cạn nước, anh mới từ duyên em. (cd)

    Phố biển thơ mộng của Tỉnh Khánh Hòa đã nở hoa đèn, thì có nhiều cặp tình dìu nhau lượn ven biển: Những SVSQ Hải-quân, & chàng Hải Quân áo xanh áo trắng oai sang, hiên ngang sánh vai cùng nàng thiếu nữ mặt hoa da phấn, họ âu yếm cười vui trên đường thênh thang. Hợp với SVSQ Không-quân & anh Không-Quân hào hùng, áo bay xám áo bay vàng cam với em kiều diễm thủng thỉnh dạo bước dập dìu thuở xuân tình, khiến thành phố biển càng nôn nao xao xuyến ngẩn ngơ thi vị thay:
    Bãi biển Nha Trang mịn màng trắng trẻo
    Nước trong leo lẻo, gió mát trăng thanh
    Đêm đêm thơ thẩn một mình
    Đố sao cho khỏi vương tình nước mây. (cd)
    Hoặc:
    Em một sáng trường tan về trước ngỏ
    Chiều Ba Làng thuyền xa bến nhấp nhô
    Mắt em buồn nhìn vọng hướng Hòn Khô
    Có cô gái nghìn năm nằm xỏa tóc
    Anh tay trắng nhưng vòng tay ngà ngọc
    Em diễm kiều nhưng mơ mộng bình thường
    Ngày gặp nhau nghe thương quá là thương
    Em gái sắc anh trai tài lưu luyến
    Tay trong tay đưa em về trên biển … (2)

    Mưa bụi mù mù bay bay nhạt nhòa trong bóng tối mờ mờ, ngoài xa xa ngư thuyền tấp nập nhấp nhô trên sóng, những chùm đèn câu mực nhỏ li ti long lanh khi tỏ khi mờ. Thuyền lênh đênh trên mặt sóng không hiểu vừa vào bến đỗ, hay đang ra khơi nơi Hòn Tre như bức lũy thành ngăn gió đại dương, bãi cát phẳng lì, tơi mịn dưới làn nước mát rượi. Nào Đồng Muối Hòn Khói, Hòn Hèo, Hòn Son, Hòn Bà, Hòn Yến. Hòn Tằm... Vân vân… Ôi sao có bao nhiêu là "Hòn” dễ thương... ấy nhỉ!?
    Đứng ở Hòn Chồng, trông sang Hòn Yến
    Lên Tháp Bà, về viếng Sinh Trung
    Giang Sơn cẩm tú chập chùng
    Đôi ta gắn bó thủy chung một lòng (cd)

    Phố thị hải dương thơ mộng, nhiều đại lộ khang trang sạch sẽ dẫn qua Xóm Mới ở trong nội thành tới Xóm Bóng, Xóm Cồn. Nhà cửa, ghe thuyền tấp nập dưới ánh mặt trời, đa số cư dân là người Kinh, kế đến là dân tộc Hoa, Raglai, Gietiêng, Eđê, Tày, Chăm, họ sinh sống trên đất cát, cồn cát. Biển xanh thẳm màu ngọc bích lóng lánh, dạt dào sóng vỗ vào mỗi buổi hoàng hôn hay bình minh. Miền cát trắng thơ mộng với đá granit, ven biển đất mặn có phèn, đôi vùng có đất xám bạc màu. Tuy thế ngoài phong thổ thuộc về nơi thắng cảnh hữu tình và du lịch, Nha Trang là nơi sản xuất dồi dào nhiều loại thủy hải sản, tôm giống. Trại nuôi trai trên biển lấy giống, lấy ngọc. Tài nguyên biển rất phong phú cho ta nhiều hải sản quý: sản xuất cả vạn tấn muối, tôm giống, tôm thịt, cá đủ loại, sò, ốc, chim yến, v.v... Rừng Khánh Hòa có nhiều loại gỗ qúy hiếm: lim, hương, pơmu, trầm hương, kỳ nam... Khoáng sản: cát trắng, nước khoáng, than bùn, cao lanh, imenhich, đá granit. Có những trang trại: sản xuất đường mía, bia, nước ngọt. Thủy tinh kính phẳng. Khu công nghiệp Agar, Alginate. Công xưởng đồ sộ đóng tàu, thuyền, ghe:
    Khánh Hoà là cái xứ trầm hương
    Non cao biển rộng người thương đi về
    Yến sào mang nặng tình quê
    Sông sâu đá tạc lời thề nước non (1. cd)

    Hải Học Viện cách xa Nha Trang 6km (Ngư nghiệp Đông Dương năm 1922) là Viện Hải dương học chuyên nghiên cứu về biển & động vật trong biển. Ngoài các trường Tiểu-học, Trung-học, ... có trường Hải Quân (Nha Trang Naval Training Center) tọa lạc tại đường Duy Tân, (cạnh TTHL KQ) nơi đào tạo Hạ Sĩ Quan, Sĩ-quan, thủy thủ Hải quân của Việt Nam Cộng hòa, mệnh danh là Trường Sĩ quan Hải-quân, hoặc Trung tâm huấn luyện Hải-quân Nha Trang gồm có: Trường Sĩ-quan Chỉ-huy và Cơ-khí. Trường Sơ-đẳng chuyên nghiệp. Trường Trung-đẳng chuyên nghiệp. Trường Tân binh Hải-quân. Ngoài ra Nha Trang có: 1/ Trung Tâm Huấn Luyện Lam Sơn… 2/ Trung Tâm Huấn Luyện Dục Mỹ… 3/ Trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế… (Ba trường kể trên đã có ở mục kế tiếp & TTHL SVSQ Không-quân đã có bài viết riêng biệt về phần nầy ở những chương khác, cùng tác giả).

    Đến cửa thành Nha Trang, việc đầu tiên đập vô mắt du khách là pho tượng rất bệ vệ to lớn đồ sộ uy nghi: "Kim Thân Phật Tổ" ngự trên đỉnh Hòn Trại Thủy. Chùa Bửu Phong về hướng Nam, chùa Hải Đức. Trong hơn khoảng hai mươi ngôi chùa ở Nha Trang, thì có chùa Long Sơn kiến trúc độc đáo xây dựng 1940, chùa an ngự ở quốc lộ 1A dưới chân Hòn Trại Thủy trong nội thành Nha Trang, là đề huề to lớn nhứt. Nhà thờ đá xây trên cao tít từ năm 1928 với 10 hạng mục hấp dẫn, công trình xây dựng tuyệt mỹ, ba quả chuông to và đồng hồ cổ lắp trên tháp xưa, nay còn nguyên vẹn.

    Nào Bãi Dâu, Bãi Cát Tiên... Từ cảng Cầu Đá đi thuyền tới Bãi Trũ trên đảo Hòn Tre chừng 15 phút, nơi đây vẫn giữ nguyên vẹn nét đẹp hoang sơ êm đềm mà phóng khoáng, với bãi cát mịn và trắng chẳng có nơi nào mịn màng mượt mà sánh kịp, là một bãi tắm rất lý tưởng, phong cảnh thiên nhiên hữu tình nên thơ. Hồ cá cách Cầu Đá không xa trên đảo Bồng Nguyên (Hòn Miễu) được ngăn lại để chăm cá bằng hệ thống kè đá tinh tế quy mô, ngỏ hầu nuôi sinh vật sống trong biển, giữa hồ xây nhà thủy tạ, bãi cát mịn nước trong và sạch.

    Viện Pasteur (1891) lớn nhứt do chính bác sĩ Yersin thành lập. Ông Yersin sinh tại Pháp, cha ông là người Thụy Sĩ, mẹ người Pháp. Ông Yersin lớn lên thi đậu tiến sĩ, ông viễn du đến Việt Nam, tận tụy cống hiến đời mình cho khoa học, thành công trong việc trị bệnh dịch hạch. Ông là một trong những nhà thám hiếm đầu tiên khám phá ra thành phố Đà Lạt thơ mộng. Theo di chúc mộ ông xây đơn giản, người ta liệm ông nằm sấp, mặt ông gục xuống tay ôm chặt đất Việt Nam vô lòng, đầu quay về hướng biển: Alexandre Yersin (1863 -> 1943), ở khu Suối Dầu. Nơi miền đất Việt Nam thân yêu nầy, là quê hương thứ hai của ông Alexandre Yersin. Bội phần kính trọng & ngưỡng mộ lắm thay!

    Đứng dưới quốc lộ 1A ngoái lên tít trên cao là Tháp Bà đồ sộ nằm ở phía Bắc của thành phố Nha Trang, thuộc Phường Vĩnh Phước, tháp ngự trên ngọn đồi cao, dưới chân đồi là cạnh cửa sông Bóng. Tháp xây bốn tầng, một kiệt tác từ thời vua Chàm Harivácman, xây năm 813 đến 817 mới hoàn tất ngày 20 đến 23 tháng 3 âm lịch. Tại tháp Bà chính từ bốn góc tháp nầy có bốn tháp nhỏ. Mặt ngoài các tháp có nhiều gờ, trụ, đấu trang trí hoa văn, lòng tháp rỗng tới chóp đỉnh có nhiều phù điêu, hình tượng người, hoa, thú... Tháp chính tạc tượng tròn chạm nổi thần Ponagar cao 2m6 bằng đá hoa cương đen, bà ngồi trên bệ đá ở đài sen (vợ của thần Siva), thân tháp có thần Tênexa, tiên nữ, các con thú, v.v...
    Tháp Bà có lễ hội tưng bừng náo nhiệt đông đúc vô cùng, để tưởng nhớ nữ thần Po Ino Nogar, các buổi lễ tiến hành long trọng, tôn nghiêm, họ ca ngợi bà mẹ Ponagar đã duy trì giống nòi, có công tạo dựng ra xứ sở Chăm. Mỗi năm vào mùa hội, họ thay xiêm y cũ của "bà mẹ", rồi chu đáo tắm rửa tượng thần, tẩm nhiều nước hoa thơm, đội mũ vương miện mới cho nữ thần, mặc xiêm y mới. Họ cầu xin an cư lạc nghiệp, thanh bình, ấm no:
    Ai về xóm Bóng quê nhà
    Hỏi thăm điệu múa dâng Bà còn không?

    Sau nghi thức cúng tế, họ trang trọng dâng hương trầm nghi ngút, dâng những điệu múa nhịp nhàng uyển chuyện, dâng hoa, cùng nhau hát bộ, rồi ăn uống linh đình. Chín mười người Chăm da nâu thẫm, mặc toàn đồ trắng, quấn khăn trắng ngồi dưới chân đồi bên mé lộ 1A bán thuốc làm bằng rễ cây. Họ hiền lành chất phác nhẹ nhàng vui tươi cười nói chào mời khách, nhưng trong đôi mắt họ chất chứa một nỗi buồn sâu thẳm, nỗi buồn đau của những kẻ đã bị cướp mất quê hương. Dưới chân tháp Bà là xóm Bóng đầy dẫy ghe thuyền chi chít lênh đênh bềnh bổng trên sóng nước.

    Tại Nha Trang có nhiều lễ hội: truyền thuyết về lễ hội Cá Voi cứu vua Gia Long trên biển. V.v... Nhìn xa chút nữa là Hòn Chồng như một quần thể hải đảo xinh xinh, xếp lớp những khối to lớn nằm chông chênh trên khối nhỏ xiu xíu. Trên một khối đá lớn có in dấu một bàn tay to dị thường. Tương truyền rằng: thuở xưa có một ông khổng lồ ngao du sơn thủy vô tình ghé tạt qua đây, ông ta tình cờ nhìn thấy bầy tiên nữ đang vui vẻ tắm và đùa giỡn nơi sóng nước trong xanh, ông ta say sưa nhìn ngắm họ mãi mê, đến nỗi ông ta bị trợt chân té xuống biển. Ổng liền chụp tay ở tảng đá nầy, mà “bò” lên và trở thành “hòn chồng”. Mấy cô tiên hoảng hốt chui vô hốc đá, hóa ra “hòn vợ” nép mình bên Bãi Dương trải dài thật nên thơ xiết bao. Ha ha ha... Thế thì:
    Bao giờ Hòn Chữ bể tư
    Biển Nha Trang cạn nước anh mới từ nghĩa em
    Trai gái yêu nhau mượn hình ảnh con đèo,
    Cái Hòn để tỏ tình, thề thốt.
    Anh thương em đặng nghĩa vuông tròn
    Mấy sông cũng lội mấy hòn cũng qua (cd)

    Sau một đêm ăn cơm với thức ăn đặc sản miền duyên hải tuyệt ngon và khá rẻ:
    Yến sào hòn Nội
    Vịt lội Ninh Hoà
    Tôm hùm Bình Ba
    Nai khô Diên Khánh
    Cá tràu Võ Cạnh
    Sò huyết Thuỷ Triều
    Đời anh cay đắng đã nhiều
    Về đây ngọt sớm, ngon chiều với em. (cd)
    Khoai lang hòn Chúa
    Đậu phụng hòn Dung
    Chồng đào vợ mót đổ chung một gùi. (cd)

    Hai mẹ con vào ngủ trong khách sạn Hoàng Yến. Suốt ngày ngồi trên xe chật chội, một chân thòng xuống nền xe, một chân co lên ghế, cằm tựa trên đầu gối một cách phiền não, tôi quá mỏi mệt, tê buốt. Mong sớm hết một ngày đi đường xa nhọc nhằn, nên vừa tắm rửa xong, leo lên giường, thì hai má con liền thi nhau ngáy khò khò, tôi ngủ một giấc dài đến năm giờ sáng, không cựa quậy.
    *
    Tình Hoài Hương

    (1) ca dao
    (2) Thơ Lê Chiến
    (*) Từ năm 1960 -> đến năm 1975 - bối cảnh ở thời điểm nầy, hầu như ít thay đổi. (Hoài Hương đã điều chỉnh bài viết trong quyển tập “Soạn Bài Dạy” & trích đăng trong truyện dài "Khi Định Mệnh Cúi Nhìn" cùng tác giả).
    Rất trang trọng và chân thành cảm ơn qúy vị nhạc sĩ & nhiếp ảnh gia đã post hình, nhạc… trên internet, tôi xin mạn phép chuyển tải nhạc & hình, (nếu có copy right) vô bài viết, ngỏ hầu tăng thêm phần phong phú hóa hình ảnh sống động, từ tài nghệ độc đáo của qúy vị; qua quê hương Việt Nam cẩm tú của chúng ta.
    Đa tạ!
    *
    Last edited by Tinh Hoai Huong; 08-26-2020, 09:19 PM.
    Bút trần nào tả được lưu luyến!
    Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
    Tình Hoài Hương

    Comment


    • ĐÀ LẠT Xưa & Nay… Ôi Niềm Đau


      ĐÀ LẠT Xưa & Nay… Ôi Niềm Đau
      Tình Hoài Hương
      *

      Thật khó diễn tả hết nỗi lòng ưu tư & cảm xúc lâng lâng luôn dày vò tâm trí tôi về nỗi bâng khuâng, xao xuyến... khi đứng trên đỉnh đèo nhìn xuống khu vực Krong Pha: nơi phong cảnh hữu tình, ngút ngàn, bát ngát mênh mông thiệt thơ mộng cận đường đèo quanh co uốn khúc gập ghềnh, nhấp nhô điệp trùng núi non hùng vĩ, nơi cao tận lưng trời chót vót, mây trắng ùn ùn bay bay dưới gót chân mình. Đèo Ngoạn Mục thơ mộng của hạ giới xa xa... đã gieo vào lòng tôi bao tình khúc phong trần hoài cảm êm đềm thi vị và tuyệt diệu, chen lẫn niềm bâng khuâng suy tưởng mông lung. Tôi đang đứng trong vừng mây vờn sương muối quyện quanh gót chân “ở bồng lai cao nguyên”, y hệt như trong bức tranh hồ thủy mà mơ màng nghĩ về một cao nguyên năm cũ.

      Nhìn lại ngọn đèo cao ngút ngàn lúc xe đò lừ đừ lò mò hổn hển thở khói phì phò đi qua với sự luyến tiếc vô vàn; vì có lẽ đây là những khoảng lắng phiêu bồng cuối cùng dịu êm nhứt: sau nầy có thể tôi chẳng bao giờ còn cơ may quay trở về chốn nầy, dù là niềm kiêu hãnh vinh quang trong dĩ vãng, dù chỉ thêm một lần im lắng xót xa luyến lưu trong hồi tưởng! Bởi vì sau 30-4 gia đình tôi lê lết ôm nhau chạy về lại thành phố núi, sau ngày mất Đà Lạt thì tôi bị “mất dạy” từ khi đổ̉i đời, không còn làm nghề “gõ đầu trẻ”. Bị thất nghiệp, buộc lòng tôi đưa gia đình đi xuống Thành Ông Năm, Hóc Môn, để rồi trở nên đói khát dài dài...

      Đà Lạt cuốn hút tôi ngàn đời nhung nhớ hoài vọng ước ao, nơi trái tim mình bỏ ngỏ dại khờ ấp ủ mộng ngày xanh vui tươi nhí nhảnh mà lại đa tình. Đà Lạt xưa khoan dung dịu dàng mở rộng vòng tay trìu mến, từng ôm trọn tôi vô vũng sương mù lả lướt, buông thả, dạt dào nỗi nhớ niềm yêu trong mỗi phím loan. Tôi nhớ da diết những cánh hoa muôn màu chen chân khoe sắc thắm trong nhiều ngôi nhà ấm áp xinh xinh, nhà nhà trên triền đồi, hoặc dưới ven dốc chập chùng ẩn hiện nép mình bên vườn cây ăn quả trĩu trái, cây bưởi hoa trắng muốt toả mùi thơm ngào ngạt, cây hồng mơn mởn trái trĩu cành, cây chanh mọng nước. Cây quả mượt-mà ngày ấy cho tôi cảm giác vui vui, lâng lâng êm đềm, thi vị ngọt ngào ấm áp tình quê quá chừng!

      Trên đường phố quê hương Đà Lạt thân yêu nầy, ngày xưa tôi vẫn đi lại tung tăng, hồn nhiên, vui vẻ nhởn nhơ như cánh bướm buổi sáng mai gặp nắng tươi. Tôi ươm nhiều mộng đẹp như thời son trẻ mới chớm lớn, lòng dạt dào nung nấu sự hoài mong tưởng nhớ: xin cho tôi được một lần tìm về cội nguồn, nơi đó mẹ dấu yêu đã à ơi ru con lớn khôn trong chiếc nôi đời đơn sơ hồng hoang mà trữ tình dịu êm thân thiết trìu mến dường bao! Tôi nhớ lắm thầy Cao Cự Phúc phổ bản nhạc: "Ngày nào dừng chân phiêu lãng. Khách tới đây khi hoa đào vương lối đi Màu hoa in dáng trời, tình hoa lưu luyến người. Bồi hồi lòng lữ khách thấy chơi vơi... Ngày nào đường xuân phơi phới, khách ngất ngây thấy hoa nở trên má ai. Rồi yêu hoa trên má, mà ghi câu luyến nhớ thành bài thơ … Nhưng rồi mùa hoa tàn. Người hoa sao vắng mãi. Bao chiều lòng mong chờ. Đường hoa sao hững hờ. Để lòng lữ khách tê tái. Cất bước đi nhớ hoa đào trên má ai. Màu hoa in trên má Làm khách lưu luyến mãi Đà Lạt ơi"!

      Khi đã thực sự đứng ở thành phố quê hương Đà Lạt ngàn đời dấu yêu nầy, thì tôi không thể nào ngờ! Đà Lạt trong không gian bảng lảng dáng Thu bàng bạc trên thành phố buốt giá bây giờ (sau 75 – 85) quá lạnh lẽo. Buồn thiu. Ôi! bao năm qua, nay lần đầu tiên tôi nôn nao trông ngóng xôn xao trở về quê cũ, thì... những âm thanh đơn điệu, buồn tênh dội lại lòng mình niềm tiếc thương như thác lũ. Gợi lên biết bao điều đau xót, tôi ưu phiền, chán ngán, bơ vơ, bàng hoàng khôn xiết nơi biển cả đã hoá thành nương dâu. Nước mắt bỗng dưng chảy hoài khi tôi trở thành một người xa lạ, lạc lõng, cô độc với chính mình. Bước chân lao xao rộn rã tìm về lối cũ đường xưa, mà một thị dân chôn nhau cắt rốn như tôi, từng đi đi về về trong thành phố thơ mộng ấy, giờ đây cảm thấy quê tôi lạ hoắc, lạnh lùng. Tôi lạc bước trên con đường cũ, lòng trống rỗng buồn bã vô cùng và cô độc kinh khủng. Thành phố dấu yêu xưa sao bây giờ trở thành xa lạ với tôi đến thế? Hoài phí đi những mơ tưởng đâu đâu không sát thực tế chút nào:
      Ngày nhạt thếch, bóng chiều vàng vọt tắt
      Mới đầu Thu, chiếc lá đã vàng khô.
      Hàng bằng lăng, góc phố buồn hiu hắt
      Đêm bơ vơ... Mưa lất phất mặt hồ. (1)

      Quang cảnh thành phố Đà Lạt bây giờ như thành phố chết ngoài nghĩa điạ! Không giống những bộ mặt thân quen xiết đỗi mà ngày xưa tôi thân mật vẫn đi về. Đà Lạt không còn sống động, không nên thơ, chả quyến rũ... vì không có những anh SVSQ Võ Bị oai phong. Những anh Chiến Tranh Chính Trị kiêu hùng. Không thấy sinh viên Viện Đại-học lịch lãm văn nhã! Không có những nam sinh choai choai, dé dé vui vẻ hân hoan vô tư lự huýt gió lúc đến trường Trung Học. Còn đâu nữ sinh hồn nhiên xinh lịch tung tăng với những tà áo dài tha thướt lượn bay, cặp ôm ngang ngực thong thả đi trên con đường mòn đất đỏ ngoằn ngoèo uốn lên uốn xuống ở đồi thông im mát.

      Đà Lạt thuở ấy có những công tư chức ngày xưa cao sang chuyên mặc áo da, áo len đan bằng tay đắt tiền, hoặc mặc bộ veston đen tối tân, sơ mi trắng nõn lủng lẳng cà vạt màu, chiếc quần tây thẳng nếp li và đôi giày thời trang... Đâu rồi những anh lính Nhảy Dù mũ đỏ, những anh Hải-quân với bộ quần áo trắng cao sang. Những anh Biệt Động-quân mũ nâu, Thiết giáp, Thủy-quân Lục chiến, Pháo-binh, Bộ-binh oai dũng... trong những lần nghỉ phép, họ đã ghé tạt về thăm Đà Lạt? Những anh phi công bay bướm lả lướt phong trần ung dung lượn trên bầu trời Lâm Viên bãng lãng dáng chiều thênh thang. Họ đi đâu mất hết rồi trên thành phố huyền thoại ngày nào!?

      Không gian Đà Thành phai dáng Thu bàng bạc bây giờ lạnh tanh và ủ rũ. Họ hàng thân quyến, những bạn thời học sinh sinh viên, bạn cùng dạy học giờ đây họ lưu lạc phương nao xa hun hút, tôi đã mất tầm nhìn, có thể chúng ta biền biệt kẻ góc biển người chân trời xa thẳm, xa mất đất rồi chăng?! Thiệt quá hay từ bản nhạc: “Lối cũ ta về dường như nhỏ lại. Trời xanh xanh mãi một màu ấu thơ. Lối cũ ta về, vườn xưa có còn hoàng hôn buông xuống thoảng hương ngọc lan. Dù gió có trút lá úa xuống vườn chiều. Bước chân ai đem lang thang về cô liêu. Chốn xa xôi kia mang bao kỷ niệm cũ. Em đã quên hay là vẫn mang theo. Dù cho bên anh nay em không còn nữa. Biết chăng trong con tim anh luôn hằng nhớ. Người yêu ơi nay em đã bỏ anh đi. Sao em nỡ bỏ anh đi mãi…"

      Ngày nay đa số đàn ông Đà Thành thay đổi bộ cánh khác để đổ xô ra đường kiếm sống, chụp giựt bằng “lao động là vinh quang” một nghề mới toanh thoạt nghe thiệt “kêu, và lạ” : “làm người thồ”, nghề đi vá xe đạp, gánh thuê, vác mướn: Áo quần họ mặc hầu hết tơi tả, cũ mèm, ố vàng, nhàu nát: mỗi người bạn trai đồng môn của tôi đều có một cây đòn gánh, hai chùm dây dừa cột chặt ở hai đầu gánh. Hành khách chưa kịp xuống xe đò chật như nêm, là lập tức những người đàn ông gánh thuê bu đông đen nơi thành cửa xe, họ kêu mời khách lạ. Mặc cả kỳ kèo giá tiền thuê vác xong, hành khách đi bộ về nhà, người gánh thuê kẽo kẹt quang gánh nặng gồnh mình gánh trên vai gầy, họ im lặng chịu đựng cúi đầu rảo bước. Tôi kéo chiếc nón lá sụp xuống tận mũi, cúi gầm đầu không dám liếc nhìn Lập, không dám chào hỏi bạn, chẳng phải là mình cao sang gì, nhưng tôi không muốn khơi dậy trong lòng anh nỗi đau tột cùng trong cảnh bần hàn quá đỗi xót xa. Điều gì khiến một Lập thuở xưa đi xe hơi ở nhà lầu, nay quần xăn áo rách, anh phải lăn ra đường gò lưng khuân vác bao su su quá trọng lượng trên tấm lưng nho nhã ấy, vậy mà anh vẫn bị mấy bà khách hàng xô đẫy la hét: "xích ra, ông làm gì chậm như rùa vậy?". Thấy cảnh đau lòng như mình, tôi chỉ muốn khóc.

      Toàn người đi bộ là đi bộ. Cả thành phố lác đác chỉ có một vài chiếc xe đò cọc cạch, xe chạy giới hạn từ Thị-xã Đà Lạt đi các nơi. Ở Đà Lạt nhiều đèo núi, nên ít người mua sắm xe đạp, chỉ có lèo tèo mấy “tay cua-rơ” có chiếc xe đạp thường dùng tập dượt, hầu tranh tài trong các chương trình thi đua thể thao toàn quốc trước kia. Thuở ấy ai có xe đạp thì chỉ có nước “làm tôi mọi” cho vật, người ta cỡi lên xe đạp thì ít, mà vác nó trên lưng leo dốc cao thì nhiều. Thế nên hồi trước đa số công tư chức ai có tiền chỉ mua xe hơi, nhưng xe honda được thông dụng nhứt. Bây giờ xe đạp lại hữu dụng giúp mọi người kiếm sống khá ra trò, người ta không cỡi trên xe đạp, mà dùng nó làm xe thồ. Ngược lại xe honda cho nó "an dưỡng" xó góc, vì các cây xăng không có một giọt.

      Khu phố Hoà Bình ngày xưa nhộn nhịp, đông vui, sang trọng là thế! Nay tiệm nào cũng cửa đóng then cài im lìm. Hàng hoá đồ đạc thu dọn đâu sạch bách. Trơ lại những nhúm người ngồi trên vĩa hè, mặt mày lơ láo, họ rù rì to nhỏ, dáo dác nhìn ngược ngó xuôi, mắt mất thần. Họ tụm năm tụm ba ở góc nầy góc kia, dáo dác len lén bày bán những món đồ cũ, đơn sơ và khiêm nhường thấy tội. Đàn bà con gái... theo thơ Lệ Khánh: "Gái Đà Lạt trời sinh đều đẹp cả”, nay một số qúy bà mặc quần áo lôi thôi lốc thốc, nghèo nàn, họ xuống đường tần tảo bán bưng thúng mẹc bên lề. Họ ngồi bệt trên những bậc tam cấp bán bòn những củ cà rốt, khoai lang, rau rợ bầm dập. Vài ba bà la lối om tỏi, chỉ vì những con cá ươn sình vương vãi ra trên vệt nức bên vệ đường.
      Ngẩn ngơ ngồi xuống mé đường lựa những trái su hào trong mẹt. Tôi nghe bạn hàng xầm xì với nhau:
      Bà con toàn thể xã ta
      Ðồng tâm phấn khởi trồng cà dái dê
      Dái dê to mập dài ghê
      Năm sau ta cứ dái dê ta trồng (*)
      - Mèn ơi! Con tao bệnh, không có tiền mua thuốc uống. Ở đó mà mua phân, mua giống trồng cà dái dê. Rồi nuôi heo, nuôi gà, tăng gia sản xuất cái nỗi gì! Nhà nước bắt mẹ con tao bưng máy đan của mình, dô trong hợp tác xã đan áo len xong, gởi đi Liên Xô ráo trọi. Cái gì của mình là của “liên bang Xô Viết” mà mầy. Nếu mầy không có máy đan, thì tới đó dùng hai que tre, que gỗ mà đan. Rồi mầy coi, cái tập thể ni lọt dô túi bọn đó mất tiêu. Bọn mình chẳng còn con khỉ khô gì ráo trọi á. Chỉ còn trợn trắng con mắt, cúi đầu và hai bàn tay cầm que đan đan, đâm đâm, thọt thọt... Nghe.
      - Thỉnh thoảng trên hợp tác xã đan móc may mặc có phân phối chút thịt heo bụng, ba chỉ, hoặc cẵng chân, đầu cánh gà mà?
      - Xời. Đi gánh phân heo để tưới rau ăn, thì có. Bởi vậy nên người ta thèm thịt, nhỏ từng cục nước miếng, thì phải đi ăn trộm, ăn cắp biết nhiêu mà kể xiết, mất cắp ở trong mấy cửa hàng bách hoá như rươi. Của chung mà mầy. Ở nhà dân cũng bị cắp, trộm.
      - Mầy hổng thấy sao ke! Con chó nhà tao năm nào ú nù, ú nần, tướng mập mạp đi hổng nỗi. Nay nó ốm tong ốm teo, lông lá rụng xơ xác, đầy ghẻ chóc, rụng hết răng, cũng bị bọn trộm rinh dìa làm thịt mất toi rồi. Mất chó giữ nhà, riết rồi cả xóm không còn chó sủa, nên ai có chút của cải, cũng bay mất toi theo thằng ăn trộm hết. Đảng có mù, đảng cũng thấy chớ.
      - Coi chừng nghe mầy. Nói tào lao, tai vách mạch rừng á.
      - Bởi dậy... mới có chiện cán bộ lùng bắt người và chó. Người trộm cắp thì cho dô tù. Chó thì cho dô nồi bự. Trời quơi! Nước non chi lạ, dưới dân mất chó, mất heo gà. Trên nhiễu sinh ra đủ thứ "chiện" cướp cạn tham nhũng, hổng biết sao ta? Suỵt!
      - Đừng chọc quê, tao không phải là đứa “cần câu nhân dân”. Mầy đừng lo.
      - Ha ha! không có tội mà trở thành có tội, do có loại công an nhân dân làm cần câu, đó nghe.
      - Trời! Nói cái gì tầm bậy tầm bạ dị hợm vậy. Mầy! Dân cũng nghèo rớt mồng tơi như công an công yết. Chắc có lẽ ai làm “công an nhân dân” thì có đặc biệt nhiều tiền hơn hỉ?!
      - Mẹ ui! Nếu nhiều tiền thì công an nhân dân đâu mặc quần áo có mấy miếng ti vi to tổ chảng hỉ!
      - "Kiểu tân thời" á mầy.

      Nghe thêm mệt, tôi phải đứng lên đi khỏi cho rồi. Nhóm chân len lén nhìn qua khu vườn cũ, hồi ấy tôi đã trồng nhiều hàng hoa hồng rực rỡ màu sắc thành hàng lối thẳng tưng, sau vườn toàn những vòm cây ăn quả thắm đẵm sương đêm mọng hạt nước lung linh trên ngọn lá rung rinh. Ngôi nhà thân yêu nầy do tự sức cần lao của ba mẹ làm lụng vất vã, và chính anh chị, cùng tôi khi chưa lập gia đình đã bán phổi dạy học, dành dụm mà có ngôi biệt thự Mimosa tươm tất. Qua hàng rào gạch thưa, cổng sắt đóng kín cửa có tấm bảng đề “coi chừng chó dữ” vẫn còn nguyên, nhưng cũ mèm hoen rĩ sét. Đang ngơ ngáo len lén nhìn quanh, thì tôi giật nẩy người khi con chó Bìm Bìm tru hú từng tiếng, rít từng cơn trong cổ. Nó đã già nhưng mừng như điên cong đuôi chạy lui chạy tới ngoắt lia lịa. Nó chạy mấy vòng trong sân, bỗng chốc chồm hẳn hai chân trước lên ngực tôi, nó quay quắt mừng rỡ, cuống quít khi gặp lại chủ cũ. Nó thò mỏ qua khe rào gạch, cố tìm cách liếm liếm bàn tay tôi. Ngày di tản, tôi không thể đem con chó bé tí theo, nên tôi đã cho bác Tân hàng xóm nuôi, (nhà ba má tôi chung một hàng rào xây bằng gạch song thưa, tuy nhiên hai khu đất và nhà mỗi gia đình cách xa nhau ba chục mét).
      Tôi lòn tay qua song cửa cổng sắt xoa đầu nó hoài. Lúc đó, nó mới chịu đứng yên giây lát, nó rên ư ử đuôi vẫn ngoắt lia lịa. Bác Tân nghe tiếng chó sủa vang, đã đi ra sân. Bác càng mừng rỡ chạy tới mở cửa cổng, bác đon đả rối rít chào hỏi tôi. Con Bìm Bìm lanh lẹ chui qua khe hở giữa hai người, tôi vô nhà bác, nó vẫn chạy lăng quăng sau đó cuộn tròn dưới thềm gạch, mỏ gác lên chân tôi. Mắt nó liếc qua liếc lại, hai tai vểnh lên nghe ngóng. Con chó mà thật có tình nghĩa! Ngoài những đau đớn, hụt hẫng, ngậm ngùi đáng hổ thẹn, nay tôi không còn gì! Thật chẳng còn gì để cho con vật, dù chỉ là một lát bánh mì tẻo teo!

      Có gì đâu, còn gì đâu nữa! Từ trên đỉnh bình yên an vui ngày hai buổi đi dạy học, nay tôi đã hụp xuống vực thẳm giữa cơn xoáy đục ngầu, buồn tủi và đen bạc. Hy vọng vỡ tan trong mối thất vọng chua cay, tổn thất dập dồn do thương tổn tình đời để lại. Tôi lặng lẽ ưu phiền ngồi điếng lặng hằng giờ trong góc tối cô đơn, suy nghĩ hết cách mong tìm kế sinh nhai. Tôi giống con chó hoang trốn vào hang hốc, mệt mỏi liếm vết thương mình. Kể từ ngày “đổi đời”, sự sống của gia đình tôi kể như "vong gia thất thổ, nổi trôi theo dòng đời chảy xiết". Cuộc cách mạng 75 đã đẩy bật chúng tôi ra khỏi thành phố Đà Lạt. Xa những núi đồi thân yêu, vắng những thác nước suối nguồn mộng mơ. Tôi không còn thấy những hàng hoa anh đào thắm sắc ôm bóng dưới mặt hồ loáng bạc như tráng men:
      Cũng từ dạo ấy, tôi làm người thua thiệt
      Dĩ vãng buồn là chiếc võng đong đưa
      Chiều tan hoang dấu binh lửa tàn chưa?
      Đời hiện nét những lọc lừa căm hận.
      Nay còn gì đâu để tôi dấn thân vào thế trận?
      Một mối hận thù, một mối thương đau. (2)

      Nhứt là chẳng thể lặng yên vui vẻ nhìn những cụm mây hồng thắm bồng bềnh bay bay. Mỗi độ hoàng hôn mây óng vàng mịn mượt e ấp rủ nhau về quỳ gối bên ao hồ soi bóng. Chao! Gia đình tôi lâm vào ngỏ cụt không lối thoát, mà số phận tàn nhẫn nghiệt ngã vẫn bám riết lấy. Dù bằng sự can đảm phi thường mẹ trẻ con thơ dắt díu nhau chạy về Sài Gòn, cố gắng "tái thiết cuộc đời” sống lây lất thấp hèn đến độ thê thảm trong trại gia binh bỏ hoang. Danh dự vẫn còn, tôi sống thanh liêm và dùng hai bàn tay không cầm ngòi viết, mà dùng làm “cây chĩa ngũ đoản thập toàn”, để tự bới móc tìm cái ăn ngoài xó xỉnh ruộng đồng! Tôi nâng mình lên cao hơn mặt đất xí xi, hầu hòa đồng cùng những người cùng khổ không manh áo cơ hàn khác. Chúng tôi rất nghèo, đói rách tả tơi thấy thảm thiết lắm. Chính những tháng ngày âm thầm đi trong vũng tối, từ những con đường đất đen đen lên nông trường Lê Minh Xuân không đèn soi, không trăng tỏ, tôi mới có đủ thời gian suy tư, kiểm nghiệm những thăng trầm chồng chất muôn vàn đắng cay đời mình dâng cao ngút. Chồng bị đi tù “cải tạo”. Do:
      Uổng đời trai súng gãy giữa sa trường.
      Họ chưa đến mà tan hàng bỏ chạy.
      Đừng trách anh, bởi cuộc đời oan trái.
      Trước lệnh hèn tàn nhẫn với ba quân.
      Tổ quốc cần, “lãnh đạo” chỉ lo thân.
      Bên vợ đẹp con ngoan và tiền bạc.
      Thì đừng trách… khi quân đoàn tan nát. (3)

      Các con lây lất lang thang tả tơi áo quần ngắn củn sờn rách, co ro trên vĩa hè phố Sài Gòn. Những đứa con của tôi và tuổi thơ vô tội tự bươn bả moi móc mọi thứ để kiếm sống, con đói khát ngủ chập chờn bên hóc tối (để cho bầy con kẻ khác mặc nhiên tới chiếm ngự ngôi nhà đồ sộ của mình, họ thô thiển vui đùa dưới hàng hiên ở nhà của chúng tôi đây). Tôi không còn đủ sức để mà hận, không nghe thấy gì, chẳng còn chút sinh khí ngoài nỗi điếng lặng lo sợ cồn cào đói khát, đau ốm đang dày vò ruột gan tôi và các con. Nỗi lo sợ bà nội các cháu, mẹ con bị bệnh đau, ghẻ chóc, truyền nhiễm dâng đầy ắp, mà không có tiền thuốc men- Hơn là tôi sợ hãi bất cứ thứ mất mác vật chất gì. Lòng tôi chao đảo vì chiến tranh tương tàn, vì những mất mác vô cớ, mà các con thơ mẹ già vợ yếu bỗng dưng vô tình cúi đầu gánh chịu, như tai ách mạch đời ở đâu trút ào ào xuống đầu mình. Trách nhiệm từ ai? Tại sao? Bởi vì đâu? Vì những “dày vò” của ông bà cố tổ mẹ cha chú bác? của những người có trọng trách giữ nước, giữ quê? hay là do trầm thống điêu linh tổ quốc suy tàn chẳng còn, nên con cháu họ đã ra nông nỗi, làm bàng hoàng sụp đổ cả một chính phủ VNCH trong tích tắc thời gian khi thành phố cũ -nay còn đâu:
      Trở về Đà Lạt… buồn ơi
      Sương mù chẳng toả ra hơi, ngậm ngùi!
      Một bóng trên đồi lủi thủi. {Da diết...
      Đà Lạt xưa duyên dáng lặng lờ (mà) tha thiết
      Bao rung cảm nhớ miết… lẫn đợi chờ
      Huyền thoại đấy -hạnh phúc đến như mơ-}
      Giờ bỏ ngỏ lang bạt tìm kiếm
      Đà Lạt chừ mọc nhiều tửu điếm
      Tôi về quê ngơ ngác kiếm mãi con đường
      Đâu? dũng khí quân trường cùng đi lên đi xuống
      Đầm ấm thi vị gieo vào đời nhiều ước muốn
      Trả tôi bước chân luống cuống niềm thương
      Mưa dầm gội sạch phong sương
      [“Lâm Viên hào nhoáng” chẳng còn tình ta
      “Tham sinh úy tử”] chỉ là… (4)

      Tôi cúi đầu uất nghẹn! Đà Lạt diễm kiều quyến rũ một thuở nên thơ tràn lan thi vị ấy, nay không còn là thành phố duyên dáng, hữu tình nữa rồi. Tuy tai tôi vẫn nghe tiếng thông reo vi vu thì thầm cùng gió, sương rung rinh nhè nhẹ thở hơi mát, phả vào không gian bảng lảng dáng Thu bàng bạc trên thành phố lạnh lẽo! Tôi đi giữa hai hàng cây anh đào trơ trụi, vài chiếc lá úa lững lờ chao lượn dưới làn sương mỏng là là bay, cuốn theo những hạt mưa bóng mây ẩm lạnh trong không gian ngút ngàn buốt tê. Dường như tôi cảm thấy ngu ngơ, lơ láo nhìn ngó, băn khoăn, thổn thức đớn đau dày vò và cảm thấy thất vọng kỳ lạ. Không tài nào nhấc bước chân lên khỏi mặt đường lồi lõm, tôi cứ đứng lì ở một góc phố như trời trồng, mà mất hồn mất vía. Tôi cảm thấy mình bị lún dần, lún dần vô cõi lạ. Dường như có ai ở dưới vũng bùn sình đang giơ tay kéo lôi, giật tôi hụp xuống cùng:
      Đời người lúc thịnh, lúc suy
      Lúc khỏe, lúc yếu, lúc đi, lúc dừng.
      Bên nhau chua ngọt đã từng
      Gừng cay, muối mặn, xin đừng quên nhau.
      Ở đời nhân nghĩa làm đầu
      Thủy chung sau trước, tình sâu, nghĩa bền.
      Ai ơi nhớ lấy đừng quên! (5)

      Thi sĩ ơi, ông thiệt có tình và nhân đạo! Đôi mắt tôi có hai ngấn nước lặng lờ hơi sương, mờ nhoà, mờ hẳn... giọt sương lăn tăn li ti hòa quyện cùng giọt nước mắt xót xa đã chảy xuống hai gò má. Thành phố của tôi ngày xưa ôi là xinh lịch vui tươi, truyền cảm, quyến rũ, luyến lưu thơ mộng là thế. Giờ đây sao quá ngao ngán buồn!? Trước mắt tôi, hiện tại với khoảng trống băng giá, cùng gánh nặng gia đình quầng siết lấy đôi vai gầy đang còng xuống những cố gắng vĩ đại, tôi chới với quơ bàn tay gầy cố vươn lên, thấp thỏm giành lại cho mình một tí, dù một tí thôi những gì đã mất. Tôi ngồi bên lề phố Hoà Bình ngửa mặt lên trời mà khóc, mà cười, cười khẩy, vì không sao hiểu nỗi “đời”! Tâm hồn tôi hằn lên vết rạn nứt đau xót khôn tả xiết, xếp lớp lăn tăn bềnh bồng lâng lâng giữa trạng thái nửa tỉnh nửa mê theo sóng đời cơ cực. Gia đình tôi đã lầm than khốn cùng tụt xuống dưới tận đáy xã hội phù phiếm mất rồi. Đà Lạt xa xưa tự thuở hồng hoang xinh lịch thơ mộng êm mơ là thế, rồi... có một “thời gian vật vã” nên quê tôi đã nghèo nàn, ê chề cũng kinh khiếp đến thế. Háo hức đi thăm Đà Lạt làm chi, để rồi:
      Chưa đi chưa biết Lâm Đồng,
      Nếu đi sẽ thấy đau lòng tổ tiên.
      Giang sơn một giải Cao Nguyên,
      Để Tàu khai thác nát nghiền quê hương. (6)
      ***
      Nhưng rồi… thảng thốt thay khi Đà Lạt của tôi hôm nay (2017) đã biến mất các rừng thông xanh thẳm, những con suối uốn lượn quanh co dọc triền núi, thác nguồn ngày xưa hoang dã tự nhiên thơ mộng êm đềm, thì nay “sinh chứng dị hình xây dựng” những kiểu cách “gán ghép bắt râu ông nọ cắm cằm bà kia”. Những cao ốc chen chúc, chi chít cùng những nhà bần nông lụp xụp (vì các "dịch vụ, nhu cầu sinh kế khẩn thiết" cần "triệt để khai thác" cho ngành du lịch phồn thịnh!!!); nên đâu đâu cũng "tự chế" ra phòng trọ, "mô teo, hô teo..." nườm nượp mọc lên "lâu đài" trên đồi trọc không còn tiếng thông reo vi vu triền miên (vì chẳng còn cây cối nào có thể sống), người ta "tự phát, tự chế" không theo quy trình kiến thiết đô thị, thì Đà Lạt bây giờ vụng về thô thiển và nóng ơi là nóng! Đà Lạt lộn xộn trơ trẽn như bộ mặt của con mèo bông vá chằn vá đụp. Thế thì:
      Đừng khoe tôi những con phố “bưng biền”,
      Những quảng cáo, những mặt tiền nham nhở,
      Những khách sạn ánh đèn màu rực rỡ,
      Trơ trẽn bày, dụ dỗ khách phương xa.
      Đừng khoe tôi chốn thờ phượng nguy nga,
      Những dinh thự xa hoa nằm choán ngõ,
      Những màu sắc lam, vàng, đen, tím, đỏ,
      Đang uốn mình theo gió đón hương bay.
      … Bạn thân ơi, sao không chụp giùm tôi,
      Nỗi thống khổ của triệu người dân Việt,
      Nửa thế kỷ trong ngục tù rên xiết,
      Oán hờn kia dẫu chết chẳng hề tan.

      Ôi Đà Lạt của tôi… chẳng còn sinh khí hồn nhiên của mạch rừng hoang dại, dường như Đà Lạt nghẹt thở do những nét chấm phá từ bao ngôi nhà giống “nấm rơm nấm chó nấm mèo” trên bức tranh thiên nhiên đã tự nó đã loang lổ, thì quê tôi chìm mất nét hấp dẫn trữ tình, thi vị đầy thiết tha rung cảm, trìu mến và trữ tình trong tim mình! Thế nên tôi đành bùi ngùi và nghẹn ngào ngoảnh mặt quay bước không thể trở về lối cũ đường xưa…
      Đừng khoe tôi, hỡi người bạn tài hoa,
      Những tấm ảnh mang ra từ địa ngục,
      Nơi bạn mới về rong chơi hạnh phúc,
      Dù bao người vẫn tủi nhục xót xa.
      Đừng khoe tôi hình ảnh một quê nhà,
      Mà bạn nghĩ đang trên đà “đổi mới”,
      Những thành thị xưa hiền như bông bưởi,
      Nay bỗng dưng rã rượi nét giang hồ.
      Đừng khoe tôi những cảnh tượng xô bồ,
      Những trụy lạc giờ vô phương cứu chữa.
      Đất nước đã từ lâu không khói lửa,
      Sao rạc rài hơn cả thuở chiến chinh. (*)
      * * *
      Tình Hoài Hương

      (1) Thanh Cảnh
      (2) Nguyên Thạch
      (3) Phạm Hồng Thước
      (4) Tình Hoài Hương
      (5) Bùi Giáng
      (6) Bùi Phạm Thành
      (*) Sưu tầm (xin lỗi, do HH quên tên tác giả bài thơ rất hay)
      *
      Last edited by Tinh Hoai Huong; 08-16-2020, 02:59 AM.
      Bút trần nào tả được lưu luyến!
      Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
      Tình Hoài Hương

      Comment


      • Từ Đồng Đế đến Bồng Sơn

        Photo by Hoài Hương

        Đồng Đế Những Tháng Ngày
        Tác giả: Thi Quân
        Tiếng hát: Pia Nguyễn


        Từ Đồng Đế đến Bồng Sơn
        Tình Hoài Hương
        *

        Đoàn xe Renault của hãng Phi Long Tiến Lực gồm sáu chiếc từ giã Nha Trang chạy bon bon trên quốc lộ 1A lúc 5 giờ 30 phút sáng. Xe xuôi về hướng đèo Rù Rì xa Nha Trang độ 12km, đèo quanh co hiểm trở u ám, có ngôi miếu nhỏ nằm giữa lưng chừng đèo, xe khách qua lại luôn luôn ngừng nghỉ năm ba phút để tài xế đến miếu thắp nhang khấn vái. Ngoại biên Nha Trang còn có các trung tâm huấn luyện như:

        1/ Trường Hạ Sĩ-quan QLVNCH Đồng Đế. Từ hướng Tây quốc lộ 1A cách Nha Trang 4km, ra bờ biển ở dưới chân núi Hòn Ngang là trường Hạ-sĩ-quan QLVNCH Đồng Đế (The School of the Non-commissioned officers of the Vietnam Military Forces). Đồng Đế tọa lạc tại Xã Vĩnh Hải, Quận Vĩnh Xương, Tỉnh Khánh Hòa. Ban huấn luyện chuyên biệt về Biệt Động Quân là trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế, nơi đào tạo các hạ sĩ quan, thời gian học là 6 tháng. [Nhưng hồi trước trường cũng có tổ chức các khóa sĩ quan đặc biệt, (ví dụ khoá của Đại tá Hồ Ngọc Cẩn)].
        a.- Sau này vì quân trường Thủ Đức rất đông, nên có những khóa sinh viên sĩ quan phải học ở Đồng Đế. Nếu khóa học nào chứa đủ nhân số SVSQ (1600) thì học ở Thủ Đức.
        b.- Cũng có lúc các khóa học khác vì SVSQ đông quá, nên quân trường (TTHL SVSQ Thủ Đức) phải chia sinh viên sĩ quan ra làm hai nơi: ai là cư dân sinh sống ở miền Trung, thì học ở Đồng Đế; ai là cư dân sinh sống miền Tây, phụ cận Vũng Tàu, Sài Gòn, v.v… thì học ở Thủ Đức.
        c.- SVSQ trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt trước khi ra trường ai chọn ngành Hải quân, hoặc Không quân, thì được trường gởi đi Nha Trang để học về ngành chuyên môn. Sau khi học xong, họ trở về trường cũ tiếp tục học cho đến lúc mãn khóa.

        Từ trại cùi Bàu Phong nhìn chéo xa xa thấy núi Hòn Khô. Đồng Đế ở gần đèo Rù Rì, trên đỉnh Hòn Khô thuộc núi Cô Tiên, gió lùa lá vàng & sương phủ đầy vai bức tượng đã sạm màu với thời gian. Nơi đó tạt hình ảnh chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa khá cao, chiến sĩ ấy đứng trong tư thế thao diễn nghỉ, do bộ chỉ huy trường Đồng Đế xây vào đầu năm 1960, ghi câu thơ:
        Anh đứng ngàn năm thao diễn nghỉ,
        Em nằm xõa tóc đợi chờ anh.
        Hai câu thơ trên đã có từ lâu, chẳng thể nhớ tác giả là ai, mãi về sau nầy mới có các thi sĩ nối tiếp thêm thành bài thơ dài thiệt hay, nơi đây tác giả chỉ ghi ít trích đoạn:
        “Anh đứng ngàn năm thao diễn nghỉ,
        Em nằm xõa tóc đợi chờ anh”.
        Người yêu ơi câu ước hẹn chưa thành
        Mà chinh chiến ngăn đôi mình đôi ngã
        Đà Nẵng - Nha trang cách nhau xa quá
        Em ở phố phường còn nhớ anh không
        Đây Nha Trang sóng vỗ cạnh Hòn Chồng
        Trường Đồng Đế những chiều êm nắng đổ
        Đêm di hành nghe trùng dương sóng vỗ
        Lẫn tiếng buồn vang từ rặng thùy dương … (1)

        Hoặc có thi sĩ khác viết:
        … Ðường Ba Làng lâu nay đã tắt lịm
        Vắng tiếng ca vang theo nhịp bước đều
        “Tàn trong bóng chiều…” sao thấy quạnh hiu!
        Chàng chiến sĩ phương nào anh có biết?
        Ðường Bãi Tiên non cao nước biếc
        Núi hòn Khô da diết nhớ mong anh
        Em vẫn nằm xõa tóc ngắm biển xanh
        Nghe sóng vỗ tưởng như lời anh nhắn
        Chàng chiến sĩ năm xưa... anh tắm nắng
        Gội sương sa Ðồng Ðế đậm màu da
        Anh ở đâu để ngăn cách tình ta?
        Em vẫn đợi, vẫn nằm đây xõa tóc (2)

        2/ Trung tâm huấn luyện Dục Mỹ (cách xa Tỉnh Khánh Hòa 10km), TTHL toạ lạc tại Xã Ninh Sim, Thị-trấn Dục Mỹ, Quận Ninh Hòa: TTHL Dục Mỹ ở gần quốc lộ 21, gần núi Đeo.
        a.- Dục Mỹ có khóa huấn luyện "Rừng núi sình lầy" (thời gian học khoảng 42, 43 ngày),
        b.- Dục Mỹ là nơi huấn luyện sĩ quan của các binh chủng (không chỉ dành riêng cho BĐQ). Khóa học rất gian khổ. Những ai đã từng đến nơi nầy học, họ rất tự hào, được cấp bằng tương đương với bằng Đại-đội-trưởng.
        c.- Dục Mỹ đào tạo huấn luyện căn bản tân binh Biệt động quân.
        d.- Các khóa chiến thuật hành quân biệt động như: Chiến thuật "hành quân viễn thám".
        e.- Bổ túc chiến thuật hành quân đơn vị cấp Đại-đội, Tiểu-đoàn.

        3/ Trung tâm huấn luyện Lam Sơn: về hướng Tây, muốn đến trường nầy phải đi ngang qua trường Dục Mỹ. Đây là quân trường đào tạo binh sĩ cấp bậc thấp nhứt cho Bộ binh, Địa phương quân… thời gian học là 3 tháng.

        Đèo Rọ Tượng do xưa vùng này có nhiều voi, thế nên họ kiêng cử chữ “voi” chúa tể to lớn nhứt của muôn loài vật & linh thiêng, thành thử đổi là “tượng” thật hay, chân đèo Rọ Tượng về phía Ninh Hòa là làng chài Tân Thủy nằm cách trung tâm thị trấn Ninh Hòa 11 km, Rọ Tượng cách đèo Rù Rì 17km. Giữa khu đất và hai đảo nhỏ là vịnh Văn Phong về phiá Bắc có những cồn cát trắng phau và hàng thùy dương rũ bóng chạy dài ven bãi biển xanh khá đẹp. Nhưng nước thường rất lạnh đó là Dốc Lết xa Nha Trang 49km & ở phía Nam gần gần Dốc Lết 6 km là Hòn Hèo. Phía đầu nguồn của đỉnh Hòn Sơn cao 660m, nước chảy giữa hai triền núi đá, thì có ba tầng hồ ở ba ngọn đồi khác nhau rất đẹp trên lưng núi, từ hồ cao nước suối tuôn xuống hồ thấp, tạo thành dòng chảy qua làng mạc quanh co tới xã Ninh Ích, suối đổ ra đầm Nha Phu, ấy là suối Ba Hồ về phiá Bắc chừng 25km, thuộc điạ phận Ninh Hòa. Từ hướng Dốc Lết đi Đại Lãnh bên tay phải là biển cả xanh ngắt một màu ngọc bích bao la ngút ngàn mênh mông tới chân trời.

        Nha Trang xa Đại Lãnh 80km ở phiá Bắc là đèo Cả dài 12km, cao 333m. Có hầm Đèo Cả dành cho tàu lửa chạy dài hơn 4 km. Đèo Cả trùng điệp ngút ngàn, núi non cheo leo uốn lượn quanh co. Mưa tầm tã, gió lồng lộng suốt đến Tu Bông. Phong cảnh nơi đây thật hữu tình, bên trái là dốc đá núi đèo cheo leo hiểm trở, bên phải là đại dương mênh mông bát ngát biếc xanh lấp lánh dưới ánh bình minh rạng rỡ, hay hoàng hôn đều tuyệt diễm như trong ca dao:
        Trèo lên Đèo Cả
        Trông xuống Vạn Giã Tu Bông
        Biết rằng phụ mẫu đành không
        Anh chờ em đợi uổng công hai đàng
        Chiều chiều vượn hú đầu non
        Đường qua đèo Cả lối mòn dặm quanh
        Non xanh xanh, nước xanh xanh
        Nước non trông cảnh hữu tình xiết bao

        Ấy là gần vùng Vũng Rô & đèo Cổ Mã ở hướng Nam. Nước biển Đại Lãnh xanh biếc, lấp loáng ánh mặt trời phong cảnh đẹp tuyệt vời. Xa xa, những chiếc thuyền đánh cá đậu san sát, những hình ảnh đẹp như một tấm thảm lụa, làng mạc nên thơ. Nhà cửa bao bọc bởi hàng thùy dương, những hàng dừa, hàng cau chen cánh ven bờ. Cồn cát trắng tưới nắng vàng hanh phơi đầy loại lưới cá, trông xa như những mạng nhện khổng lồ: Lưới Đăng, lưới Rút, lưới Rồng, lưới Rê, lưới Văng, lưới Rẽo. Làng nầy chuyên về nghề: "Chồng chài. Vợ lưới. Con câu" trên những cánh buồm trắng, nhỏ li ti như hạt đậu phụng, bồng bềnh trôi đi trôi về. Ngư thuyền có thân hình vạm vỡ, cánh tay họ lực lưỡng hầu tung vó bắt cá; giống như vị thủy thần lão luyện từng trải giang hồ trên biển cả.

        Xe tạm dừng chân ở dưới đèo M'Drack Vạn Giã xa Nha Trang khoảng 60 km, cách Tuy Hòa cách 58 km. Phiá tay trái là núi tiếp núi rừng đan rừng trùng điệp trùng điệp xanh ngắt màu lá cây, phiá bên phải là mặt biển bao la màu ngọc biếc, dãi cát dài trắng phau hình vòng cung chạy ven chân đèo Cổ Mã đến mũi Hòn Gion, có bán đảo Sơn Đừng, vách đá ở Hòn Đỏ v.v… nơi khu đất liền phía cực Đông là làng chài Khải Lương, Đầm Môn, phía bắc là Vũng Rô, Lương Sơn, Phong Thạnh, Hoà Huỳnh. Quanh vùng nầy tập trung rất nhiều loại cây dó Bầu, dó Lưỡi Trâu, dó Cam, rất nhiều trầm tích tụ chất nhựa dầu thơm đặc biệt, trầm có màu xanh cổ vịt, màu trắng vân lóng lánh, đó là lúc trầm đã biến thân thành Kỳ Nam. Người chuyên nghề đi tìm trầm ưa nói: "Nhất bạch, nhì thanh, tam huỳnh, tứ hắc"... "Trầm nơi Vạn Giã, hương tỏa sơn lâm". Tôi nghe: Có người ngậm ngãi đi tìm trầm, trầm ở trong rừng sâu xa tít tắp. Nhưng đi quá lâu ngày, họ bị lạc nhau và mất hút trong rừng. Người ấy không tìm thấy lối ra, lâu ngày lâu năm… thì móng tay móng chân dài ngoẵng, râu tóc mọc xồm xoàm, họ ngơ ngơ ngáo ngáo… và những người ấy bỗng hóa thành cọp. Ui! sao hoang đường, huyền thoại lạ lùng, ớn lạnh thế không biết?!

        Đúng là phong cảnh tuyệt tác, hữu tình. Bầu trời vần vũ mây xám đục, bàng bạc, hơi nước đan trong sương giá mờ mờ. Núi rừng trùng trùng điệp điệp, khí trời toả lạnh mát rượi, man mác, phơn phớt vàng, đó đây thoang thoảng mùi thơm thơm thật dễ chịu. Xe chạy chậm quanh co trên con đường hẹp, trơn trượt như bôi mỡ. Má tựa đầu vào hông xe chật như nêm, chân tay co quắp má ngủ gà ngủ gật. Nhìn mẹ già thiêm thiếp mệt nhọc, lòng con trào dâng nỗi buồn phiền cùng sự ân hận dày vò, khiến tôi ứa nước mắt.

        Phú Sơn, *Phú Hiệp, *Đông Tác. Tuy Hoà xa Đại Lãnh 30km là một Tỉnh miền Nam Trung bộ, trên tọa độ 12 độ 53’ - 13 độ14’ vĩ độ bắc, l08 độ37’ - 109 độ l3’ kinh độ đông, trực thuộc tỉnh Phú Yên. Nhạn Tháp cao khoảng 20m xây bên bờ bắc sông Đà Rằng, tháp Nhạn có hình tứ giác bốn tầng. Chân tháp bệ vệ nhưng khi càng lên cao, thì chóp tháp càng thu nhọn nhỏ giống hình chóp nón. Cửa hình vòm cung nhọn, có tượng hình Linga, hơi giống tượng Pônagar, đầu quái vật ở trên đỉnh, như một phế tích u trầm. Dọc chiều dài phương tây có dãy núi thấp, nhiều đồi xen kẽ ruộng đồng, cây cỏ xanh um, nhiều cồn cát trắng.

        Tuy Hòa có ba sông chính: Sông Ba. Sông Kỳ Lô. Sông Bàn Thạch. Trong đó sông Đà Rằng rất dài và đẹp, nước bắt nguồn từ đỉnh Ngọc Sơn chảy qua các lưu vực cao nguyên Komtum, Đắc Lắc, Sơn Hòa... lượn quanh các vùng sau đó đổ ra cửa biển Đà Rằng. Sông rộng mênh mông có cầu gỗ Đà Rằng (sông Ba) dài nhứt trong các cầu, cầu dài ngót cây số, có 21 nhịp, luôn tấp nập người qua lại, xe cộ đông đúc. Cầu nối các vùng *Hoà Đa, *Chí Thạnh, *La Hai, *Phước Lãnh, *Vân Canh. Lưu lượng thủy triều không đều, lúc mạnh lúc yếu, theo khí hậu miền đại dương vùng nhiệt sáng và nắng ấm dồi dào độ 2000/2700 h/năm, tổng số lượng bức xạ 230 kcal/ cm3/năm. Gió mùa nóng, mưa ẩm quanh năm nơi vùng sông Cái, sông Bàn Thạch.

        Lại có các: Hòn Lao mái nhà. Hòn đảo Cô, hòn Dứa, hòn Than, hòn Chùa. “Hòn” ơi sao lại lắm hòn thế! Có tảng đá khổng lồ là Hòn Vọng Phu trên cao độ 2.064m, đơn độc, đá Vọng Phu đứng chênh vênh lắc lẽo nhô một phần chân ra biển, sừng sững trên đỉnh núi cô tịch điệp trùng, chập chùng núi tiếp núi cao chót vót. Tục truyền rằng thuở xưa khách chinh phu vì "xã tắc lâm nguy, thất phu hữu trách". Vì nợ nước quên tình nhà, chàng đi chinh chiến ngoài biên ải, quyết giữ gìn bờ cõi sơn hà gấm vóc. Chinh nhân hẹn sẽ trở về khi giặc hết nhà yên:
        Cái cò lặn lội bờ sông.
        Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non.
        Nàng về nuôi cái cùng con.
        Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng.
        Chân đi đá lại dùng dằng.
        Nửa nhớ Cao Bằng nửa nhớ vợ con. (3)

        Chinh phụ tháng tháng năm năm ôm con lên núi, mòn mõi khát khao, đơn điệu ngóng trông chồng dãi dầu phong sương vẫn biền biệt. Nước mắt chinh phụ tuôn trào suốt ngày đêm thấm đẫm toàn thân. Nàng luôn dặn dò chồng:
        Anh đi em ở lại nhà.
        Vườn rau em tưới mẹ già em trông.
        Anh đi em ở lại nhà.
        Hai vai gánh vác mẹ già con thơ.
        Lầm than bao quản muối dưa.
        Anh đi anh liệu chen đua với đời.
        Chim có đôi có bạn.
        Hãy xem cặp nhạn làm gương.
        Đứng làm người trong đạo tao khương
        Thuỷ chung như nhứt giữ đường ngãi nhân. (3)

        Thời gian dài đằng đẵng xô sóng trên luống tóc sầu bạc phơ, nàng sương phụ đã hoá thân thành đá. Ôi! Lòng người vợ hiền Việt Nam thủy chung, bạc phơ mái tóc vẫn sắt son suốt kiếp trông chờ, đấy là tấm gương sáng chói qúy giá vô ngần:
        Bác mẹ già phơ phơ đầu bạc.
        Con chàng còn trứng nước thơ ngây.
        Có hay chàng ở đâu đây?
        Thiếp xin mượn cánh chắp bay theo chàng. (3)

        Đại thi nhân Nguyễn Du có lời thơ trĩu tình người với nàng Tô Thị:
        Thạch da, nhân da, bỉ hà nhân.
        Độc lập sơn đầu thiên bách xuân.
        Vạn kiếp điều vô vân vũ mộng.
        Nhật trinh lư đắc cổ kim thân.
        (Đá chăng? Người chăng? Đó là ai?
        Đứng sững đầu non nghìn năm rồi.
        Muôn kiếp mây mưa không vướng mộng.
        Lòng son nay trước trọn bao đời).

        Đèo Cù Mông quanh co dài hơn 6,6 km luôn hoang vu, trầm mặc, cô liêu và u ám, là ranh giới Tỉnh Bình Định & Phú Yên, chân đèo phía Nam ở huyện Sông Cầu cũng gọi là vũng Mồi, đầm, hầm Cù Mông, nơi đây du khách đi đường bộ ngồi trên xe có thể thấy đoàn tàu lửa thấp thoáng len lỏi trong rừng, hoặc chui vô hầm tàu nơi dành cho tàu lửa chạy dài ngoẵng gần 3 km. Đoàn xe dẫn đến Tháp Đôi ở Xã Đống Đa. Gồm có hai tháp: Tháp Một cao 18m; tháp Hai cao 22m đều là hình chóp nón.

        *Qui Nhơn thuộc Tỉnh Bình Định có biển xanh trời rộng và thành Chà Bàn xa khoảng 26 km, về hướng Tây Bắc, nơi kinh đô vương quốc Chàm xưa, với vua Yangpuku Vijaya ngự trị giữa các tượng voi, rắn, cùng nhiều tượng dị hình khác. Thành Chà Bàn xây bằng đá ong, đường đi lát đá hoa cương. Vào thời triều cuối cùng vua Yangpuku Vijaya (Chàm) còn gọi tên là Thập Tháp, tháp Cánh Tiên có nhiều hình quái vật, tượng rắn đá trắng, voi đá. Địa hình nghiêng nghiêng, hàm lượng đất phù sa thấp bạc màu, gần chân núi, quanh đầm, vịnh, đất trôi dần ra bờ biển Đông. Thành Quy Nhơn lại bị đổi tên thành Bình Định, ấp Tây Sơn bị đốt phá san bằng, chỉ sót lại một cây me con nay đã trở thành cổ thụ. Biển Quy Nhơn khá đẹp cát mịn.

        *Bình Định nằm trên trục đường bộ & đường sắt xuyên Việt & đường giao thông quốc lộ 1A quan trọng, phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp Tỉnh Gia Ray, Nam giáp Tỉnh Phú Yên, phía Bắc giáp Tỉnh Quảng Ngãi. Bình Định có nhiều tài nguyên thủy sản: rong câu chỉ vàng, các loại cá nổi & cá đáy, cá ngựa, tôm, tôm hùm, yến sào, cua Huỳnh Đế qúy. Không những Bình Định phong phú về cá tôm mà cũng là nơi có: nước suối khoáng, cao lanh, đất sét, đá Granosinite đỏ, Biotite vàng, quặn Titan ở Quy Nhơn, Phù Cát, Phù Mỹ...

        Bình Định có thắng cảnh Ghềnh Ráng đẹp là nơi an nghỉ cuối cùng của Hàn Mặc Tử. Bãi tắm Hoàng Hậu toàn đá xanh nhỏ to xếp từng lớp, nhìn xa như bãi trứng chim khổng lồ. Suối Tiên. Bán đảo Phương Mai, Thị Nại. Thuở xưa, Vua Bảo Đại đã cho đã xây nhà nghỉ hữu tình trên khu đất cao, trông ngôi nhà giống con tàu nhấp nhô lướt sóng đại dương. Tại làng Thị Tứ có lò rèn nổi tiếng. Nam nữ Bình Định thích múa điệu trống truyền thống Tây Sơn. Con nhà vỏ nổi danh với câu thơ lưu truyền:
        Ai về Bình Định mà coi
        Con gái Bình Định cầm roi đi quyền.

        Sông Kôn lớn nhứt Tỉnh Bình Định chảy qua kinh thành Đồ Bàn, cách đây trên 500 năm (1471) đã bị vua Lê Thánh Tôn cho quân lính san bằng, để lại ba mươi vạn thủ cấp, bắt đem đi hai mươi vạn nô lệ. Đã không còn là Chà Bàn của Chế Bồng Nga mà là Quy Nhơn biên trấn xa xôi của dòng họ nhà Lê, rồi của chúa Trịnh. Tháp Bánh Ít ở trước mặt, như hai búp măng non mọc lên từ lòng đất. Tháp Cánh Tiên rực vàng trong nắng sớm và đỏ thắm trong những buổi chiều tà. Bên kia sông có cái bóng đồ sộ của một ngọn tháp ở xã Nhơn Thành lại in xuống nước rực rỡ như một khối ngọc khổng lồ. Đặc sản ngon:
        Gỏi chính Châu Trúc
        Bánh tráng Tam Quan
        Nón lá Gò Găng
        Nem chua chợ Huyện
        Công đâu công uổng công thừa
        Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan
        Muốn ăn bánh ít lá gai
        Lấy chồng Bình Định sợ dài đường đi... (3)

        *Phú Tài. Cánh đồng *Phù Mỹ bao la, đầm *Trà Ô. Mười thấy ngọn Chóp Chài cheo leo, hòn Cao quay ra biển vô cùng đơn điệu trước biển cả mênh mông. Những nơi nầy nằm trên vị trí giao thông khá thuận lợi về hai mặt: đường biển và đường bộ. Núi đồi ngút ngàn, chen lấn đồng ruộng ven núi. Nơi nổi danh ba vị anh tài áo vải cờ đào Lam Sơn Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ. Họ sinh ở làng Kiên Mỹ. Hoàng Đế Nguyễn Huệ lấy hiệu là Quang Trung tài ba, đầy mưu lược, ông đã cởi voi vào cửa Bắc đại thắng quân Thanh ở Phú Xuyên, Hà Hồi, Đống Đa, khiến Tôn Sĩ Nghị chạy bán sống bán chết vào mùa Xuân 1789 đại thắng lẫy lừng. Ngọc Hân công chúa mười sáu tuổi, con gái thứ hai mốt của vua Lê Hiến Tông, vâng lệnh vua cha kết duyên cùng Nguyễn Huệ vương quyền. Thế mà Nguyễn Huệ lẫy lừng như vậy… sau nầy vua Gia Long cho khai quật mồ vua Quang Trung mà phơi nắm xương khô, để trả mối hận thù rối rắm thuở xa xưa. Thù chi mà thù dai. Thù ghê gớm. Thù dễ sợ hỉ!

        Đường đi càng khúc khuỷu gập ghềnh, xe rung lên từng hồi vì xe xóc mạnh qua ổ gà, gò mô, đất đá sụt lở. Xe đến gần vùng đảo Cù Lao Chàm, Hòn Ông, Hòn Dài, Hòn Tai nơi có nhiều khỉ (ui, lại có một lô một lốc các "hòn"!). Dọc quốc lộ, vô số hàng dừa chen cánh những hàng dừa ngã nghiêng theo chiều gió đại dương rì rào sóng vỗ. Trời trở cơn gió bão mịt mù, bóng tối sớm bao trùm vạn vật, suốt ngày không chút ánh sáng mặt trời. Hai bên đường, cư dân bán đầy hàng quà bánh trái, hàng nước, hàng cơm, người ra vào đông đúc dưới cơn mưa như trút, gió rét căm căm. Nào là ngũ gia bì, sa nhân, thiên niên kiện, thổ phục linh, phong kỷ, đều có sản xuất tại xứ nầy.
        Chạy thêm một khúc thì xe bị bể bánh, phải ngừng lại hơn nửa ngày, để thay bánh xe, sửa chữa vài thứ, và vô dầu nhớt, không hy vọng xong ngay. Nhân đó, vài cụ già ở địa phương, tuổi già không sao đếm nỗi thắng năm trên những lằn nhăn lún sâu vầng trán hói. Họ đến đề nghị với hành khách trên xe:
        - Ai muốn đi thăm di tích Hận Đồ Bàn, nơi kinh đô Dân Tộc Chàm. Thì bớt xén vài đồng, thuê hướng dẫn viên đưa lối dẫn đường.

        Nghe thế, khoảng mười người trẻ ngồi chung xe góp tiền, đưa lão trượng, họ cùng tôi leo lên ba chiếc xe ngựa cà rịch cà tang đi du hí. Muốn vào thành Đồ Bàn, phải đi qua cửa chánh, tức cửa Vệ. Vã lại xe khách bị hư chỉ cách thành nầy độ non cây số. Thành có ba cửa nữa là: Cửa Tả, cửa Hữu, cửa Bắc ở hậu cung. Thành có ba lớp: Thành ngoài, thành trong, tử cấm thành. Thành và tháp đắp toàn gạch tàu nung đỏ, đất sét, đá ong, đá phiến, thỉnh thoảng điểm thêm ít đá tai mèo, dưới chân cột kê toàn đá tảng. Tháp Cánh Tiên nằm trong thành Đồ Bàn, xưa gọi là tháp Vijaya. Quanh vùng nầy còn sót lại ít di tích tháp Bạc, tháp Bình Lâm, chùa Nhạn Sơn. Tứ bề cây đan cây, cỏ lướt cỏ, cổ thụ to sù sì chằn chịt, rậm rạp um tùm. Cảnh vật điêu tàn hoang phế in trên từng bậc thềm loang lổ, mốc meo. Cạnh bức tường thành ngôi tháp hư hại đổ nát mấy nơi chưa được trùng tu, trông càng tiêu điều hoang vu, hết sức đơn điệu buồn bã.
        Hận Đồ Bàn và người đẹp hong mái tóc huyền, giặt lụa bên ven sông vang bóng một thời thuở ấy, gợi nhớ ngày xưa quan hành khiển Trần Khắc Chung vẻ tranh công chúa Huyền Trân. Ông được triều đình trao bức tranh cho Chế Bồ Đào mang về Chàm. Có lẽ Huyền Trân và Khắc Chung: Một già một trẻ chưa hẳn nảy sinh tình cảm yêu đương tâm đầu (như đồn đãi) nhưng họ kính trọng nhau qua phong cách. Khi Chiêm cắt hai châu Ô, Lý dâng Vua xứ Việt, để làm sính lễ, (do quan hành khiển Đoàn Nhữ Hài trấn giữ). Thì bờ cõi, dân tộc, được mang ra giao hảo cho hôn ước Chăm Pa và người đẹp nghiêng nước nghiêng thành đất Việt. Rồi Chế Mân chết. Theo phong tục Chiêm, thì hoàng hậu phải hoả táng theo thi hài Vua. Nhà Việt liền sai ông Khắc Chung tức tốc sang Chiêm, dùng tài trí và mưu lược để cướp Huyền Trân trở về kinh thành Thăng Long an toàn vào năm 1308.

        Người Maoris khi chết, họ cho người phối ngẫu cùng thủy táng xuống "thủy mộ quan", mong thân xác tắm mát, trôi về phương tây, thuộc quần đảo Hawaiki an nghỉ. Người chết rồi, thôi cũng cho ùm tủm xuống nước "mát mẻ" đi, cũng đành. Đằng nầy, bên Chăm bắt người sống sờ sờ, sống nhăn răng mà phải trợn trừng mắt bị hoả táng theo, thì "nóng hổi và khủng khiếp", chịu sao thấu! Vương quốc Chế tan rã từ năm 1470. Tôi đã học lịch sử nầy, nỗi sợ hãi như in vào trí. Xứ dừa *Tam Quan và Chế Bồng Nga, ngày ngày cùng đoàn tỳ nữ ca múa thuở nào bên bờ sông nay còn đâu, chỉ nghe:
        Xoài Đá Trắng
        Sắn Phương Lụa
        Tiếng đồn chợ xổm nhiều khoai
        Đất Đỏ nhiều bắp, La Hai nhiều đường. (3)

        *Phú Yên. *Trà Ổ có núi Lồi, Eo Gió, Kỳ Co, Hàm Hô… dân cư sung túc. *Phù Cát có yến sào, cua huỳnh đế, có đá granosinite đỏ, có mỏ cao lanh, đất sét. Người ta ưa bày bán các vật lưu niệm bằng đất nung khá xinh. *Khánh Phước, *Phù Mỹ, *Văn Phú, *Bồng Sơn, đèo Nhông xa thị trấn Phù Mỹ 8,5 km về phía Bắc, đèo Phù Cư. Phía Đông là núi Chóp Chài, nhiều rừng dừa to cao, hàng hàng lớp lớp tre nứa nghiêng mình ra giữa lộ, như đón chào khách lữ hành. Hàng quán gọn gàng sạch sẽ, cơm Bồng Sơn nổi tiếng ngon, nóng, đậm đà hương vị quê hương, và rẻ nhứt, con tôm to tươi rói, con cá no tròn đang bơi lội trong hồ, gà vịt luộc nóng hổi vừa thổi vừa ăn, ngon ơi là ngon tuyệt! Chủ quán niềm nở vui vẻ, chào đón khách với khăn nóng, khăn lạnh, thay đổi mỗi mùa, câu mời chào đon đả, ân cần lịch sự, người nghe dù không đói bụng, ngại trời mưa to gió lớn, họ vẫn thích làm vui lòng chủ quán mua giúp các món quà đặc sản.
        *
        Tình Hoài Hương


        (1) Lê Chiến
        (2) Phạm Hùng
        (3) Ca dao
        (*) Từ năm 1960 -> đến năm 1975 - bối cảnh ở thời điểm nầy, hầu như ít thay đổi. (Hoài Hương đã điều chỉnh bài viết trong quyển tập “Soạn Bài Dạy” & trích đăng trong truyện dài "Khi Định Mệnh Cúi Nhìn" cùng tác giả).
        Rất trang trọng và chân thành cảm ơn qúy vị nhạc sĩ & nhiếp ảnh gia đã post hình, nhạc… trên internet, tôi xin mạn phép chuyển tải nhạc & hình, (nếu có copy right) vô bài viết, ngỏ hầu tăng thêm phần phong phú hóa hình ảnh sống động, từ tài nghệ độc đáo của qúy vị; qua quê hương Việt Nam cẩm tú của chúng ta.
        Đa tạ!
        Tình Hoài Hương
        *
        Last edited by Tinh Hoai Huong; 09-01-2020, 10:15 PM.
        Bút trần nào tả được lưu luyến!
        Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
        Tình Hoài Hương

        Comment


        • MẸ Dấu Yêu & Chiếc Áo Gấm


          MẸ Dấu Yêu & Chiếc Áo Gấm
          Mùa Vu Lan, chúng con đau đớn kính gởi ba mẹ đóa hoa hồng trắng.
          Tình Hoài Hương

          ***

          Tôi cố gắng giằng co, níu kéo, quyết giành lại chiếc áo gấm sờn, nhàu nát, cũ mèm với định mệnh. Dù thời gian dài dằng dặc lặng lẽ đơn điệu dần dần trôi qua, đã khiến chiếc áo hư hao, phai mòn, sờn úa mục nát ít nhiều. Và không gian trôi dần, trôi dần về phía tương lai mù xa tách bạch ra đôi bờ cuộc sống. Tôi không có cách gì ngăn chận tuổi già héo hắt đến trước thời gian. Vâng! Có lẽ nay tinh thần lẫn thể chất tôi đã già cỗi! Và, chiếc áo gấm năm xưa còn đây, mà ngón tay gầy run run tôi gài hoài mấy nút áo cũ, vẫn chưa xong. Thời gian đã cướp dần đi tất cả. Vẫn biết thế, nhưng tôi mong muốn níu kéo, âu yếm dùng-dằng ngắm nhìn lại chiếc áo gấm, nếu tôi được nhìn nhiều lần càng tốt.

          Ngày ấy, chúng tôi vui vẻ dừng chân trên con đường mòn vòng vo gãy khúc uốn lên uốn xuống, quanh co ven đồi thông rì rào ru tình tại Đà Lạt. Chúng tôi chỉ nhìn vài con chim lí lí lắc lắc, rù rì, bay qua bay lại trên những cành cây mảnh dẻ, là cảm thấy hay hay, vui vui. Lần đó, tôi liếc liếc, lí lắc ghé ghé nghiêng nghiêng đầu thẹn thùng e ấp cười, tôi dùng hai ngón tay quệt nhè nhẹ vô một bên má, mà lêu lêu Luật, để trêu chọc anh, rồi gài hộ Luật mấy nút áo, cho anh bớt bị gió lạnh lùa vô cơ thể. Giờ nầy, Luật cùng muôn ngàn người trai trẻ khác đã bị tập trung đi “cải tạo” trong tù rồi! Chồng đã ra đi. Nhưng Luật không ra khỏi đời tôi. Còn mỗi mình tôi đứng lại bơ vơ, lạc lõng, muộn phiền giữa chợ đời sóng sánh muôn mặt, với sợi tơ hồng quá mong manh cứ rung lên bần bật giữa lưng trời. Tôi lặng lẽ chua chát đối mặt với cuộc sống, ấp ủ kỷ niệm thời chớm lớn, những tủi hổ tiếc xót vô vàn, & những đắng cay thăng trầm tột độ trào lên bờ mi mọng từng chuỗi giọt sầu.

          Bị vô tù “cải tạo”, Luật đã bỏ chiếc áo vét (veston) nầy lại, trên chiếc áo vét đã dính hai ba sợi tóc đen mướt khá dài cuả tôi, và một hai sợi tóc ngắn cuả anh, cùng với những lá thư tình đầy ắp yêu thương do anh viết dày cui, còn trang trọng cất trong túi áo đó. Thư của Luật viết có văn phong gợi cảm, là những bức tranh phác thảo duyên dáng về câu chuyện gia đình, tình yêu, phúng dụ, vỗ về, hứa hẹn, an ủi, mang tính cách gia đình đầm ấm yêu thương, hạnh phúc bền lâu. Đó cũng là chiếc áo gấm lý tưởng thiêng liêng tinh tuyền muôn thuở, có dấu vết đậm đà khắc sâu vô tim thân yêu, quen thuộc duy nhứt từ buổi thiếu thời. Dù qua phong sương sáng khuya trưa chiều mưa gió… chiếc áo của anh đã cũ. Thư tình Luật viết ngả màu vàng úa đọng bụi phấn thời gian, năm ba sợi tóc cuả hai chúng tôi bóng mướt đen tuyền vẫn duyên tình mãi đến tận bây giờ. Tôi nâng niu giữ gìn những sợi tóc, phong thư, cùng tấm áo từ hồi chưa cưới nhau.

          Ngày còn trẻ, tôi chưa lo nghĩ đến tuổi xế chiều phôi pha rồi sẽ ra sao. Bởi tình yêu chúng tôi giống dòng sông chảy qua bao dãi đất: phù sa phì nhiêu có, cằn cỗi có, tươi tốt có, băng giá hoang tàn lẫn đau khổ buồn xo cũng có. Rồi dòng sông xô sóng sau dồn sóng trước, cuồng nộ đập vô gờ đá, hay lặng lờ êm ả, thong dong xuôi chảy ra biển cả. Mỗi khi chạm trán với thực tế bẽ bàng đắng cay, trong lòng ngút ngàn đau thương, lúc đó tôi lặng lẽ vuốt từng nếp nhăn trên tấm áo, trang trọng nâng mấy sợi tóc trên hai bàn tay khẽ khàng khum khum bụm lại. Tôi sợ gió từ đâu vô tình lướt qua, tóc sẽ cuốn theo chiều gió bay mất hút, thì biết đâu mà tìm?

          Đó là những kỷ vật ưu ái đã theo tôi trên muôn dặm đường đời cay cực, để xoa dịu nỗi hãi hùng và bàng hoàng rất kinh ngạc trong cuộc đời phù du. Tôi ấp ủ tình luyến nhớ, thút thít, bùi ngùi khi soi bóng mình trong gương, cảm thấy lòng nao nao nỗi buồn da diết. Vì đến nay tôi chẳng thể giữ lại kỷ niệm nào thân thiết nhứt về anh, khi đầu mình thấp thoáng có sợi tóc bạc quyện-bện cùng bao sợi tóc chẳng còn đen mướt? ngoài mấy di vật bé tí ti như đã kể. Thế nhưng, ngọn nguồn óng ả tình trần hiện nay có mất đi chăng? Khi thời gian khẳng định ngàn mối lo âu, đói khát cơ cực run rẩy dâng tràn!? Không thể chối quanh từ sau ngày mất nước, thì lòng trí tôi luôn ray rứt, thương-xót hồi tưởng về quá khứ buồn vui lao xao, dẫu đời xáo trộn, trái tim tôi vẫn đập thình thịch và chao đảo.

          Nay tôi đang mặc chiếc áo cũ của chồng, mà lẽ loi đơn côi ghê gớm, tôi âm thầm đi một mình buồn bã trên con đường xám ngắt thuở xa xưa. Hai bàn tay lạnh giá run rẩy, run lẩy bẩy, tôi không làm sao gài nỗi nút áo bạc phếch thời gian và cũ mèm nầy. Thì ra… giờ đây tôi quá yếu kém và đã già! Kỷ niệm bây giờ chả là gì! Không quan trọng! Chỉ là những chương đã viết trong pho sách tình xếp lớp lớp trên kệ sách, phủ lăn tăn bụi vàng ít khi được mở ra xem. Pho sách cuộc đời từ đây phải đóng lại. Trang giấy đã lật qua tờ mới, thì hồi tưởng nhớ nhung kỷ niệm; chỉ như chiếc lá úa lắc lẽo đong đưa trên cành cao, chờ cơn gió lay để chao đi như những áng mây xám lưng đồi lững lờ bay qua bầu trời mùa Thu, như côn trùng biến dạng vô lòng đất mà thôi.

          Tôi thấy rõ tính chất phù phiếm của quá khứ mang đầy kỷ niệm lãng mạn rồi. Sau ngày “đổi đời”, tôi muốn sống một cuộc sống khác hẳn: Thực tế sung mãn hơn. Nhưng, chả hiểu có thực hiện nỗi không, là còn tùy thuộc ở hoàn cảnh và ý chí: Trước tiên, tôi muốn cho đàn con phải nên người hữu dụng, kiên cường, dù bụng đói cồn cào, để vượt qua mọi chông gai thử thách “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Chỉ bấy nhiêu thôi, cũng đủ ngất ngư mà. Ý nghĩ nầy như viên sỏi ném xuống mặt hồ phẳng lặng, tạo thành những vòng tròn đồng tâm, ám ảnh tâm thức tôi bồn chồn, băn khoăn, co siết mãi trong lồng ngực quắt quay.
          ***
          Tôi vô cùng nhớ Mẹ thân yêu, dù đa đoan với công việc bề bộn, không hiểu sao hôm ấy tôi quá bần thần bâng khuâng lo lắng kỳ lạ! Nhưng rồi vỡ lẽ ra "máu chảy ruột mềm", do ngày mồng 5 tháng 5 năm 1980 âm lịch, anh Chín Dzoãn báo tin sét đánh: Mẹ tôi đã chết ở trong Ta In (khu đất thuộc Tỉnh Tuyên Đức Đà Lạt). Ta In là cuối địa đầu quận Đức Trọng, giáp ranh giới vùng Di Linh. Nơi tít tót đèo heo hút gió, thâm u cùng cốc lạnh lẽo, vô cùng hiểm trở, có đi mà ít có ai về nguyên vẹn. Nơi chó ăn đá gà ăn muối, nơi khốn cùng của vùng “kinh tế mới” khô cằn toàn sỏi đá, chỉ nhiều rắn, rết; vô số muỗi, vắt, đỉa, ruồi trâu, bò cạp rừng to và độc kinh khủng. Chúng chuyên bu bám vô người ốm để hút máu. Nơi có nhiều mụt măng le, tre rừng, ta ăn cho đỡ đói, thì sẽ bị sốt rét ngã nước, mà lăn ra chết toi.

          Cầm tờ điện tín, tôi lặng người rất lâu, không thể khóc thành tiếng. Nước mắt u uẩn tự động tuôn chảy từng dòng, rồi dội ngược vô tim mình khiến nó quằn quại đau điếng. Hình như tôi nghẹt thở, chết dần chết mòn, không còn cảm giác nào khác, ngoài sự dày vò, ân hận, đớn đau dâng lên tột đỉnh. Vì, giá như trước ngày 30-4-1975, nếu có chiến tranh, có đánh nhau dữ dội, tôi cũng còn chiếc xe hơi riêng mới toanh mang hiệu Peugeot 404 chạy đi... Hay là tôi có thể mua vé máy bay khứ hồi cấp tốc bay về với mẹ, tôi qùy xuống bên mép giường, cầm tay mẹ, ôm chặt mẹ lúc mẹ hấp hối.
          Ôi! Giờ đây tôi không thể đến bên xác mẹ già yêu dấu, để nhìn mẹ một lần chót trong giờ phút mẹ lâm chung. Tôi không thể nào xin tấm giấy phép đi đường. Tôi cũng không thể chen lấn ra bến xe đông nghẹt người có giấy phép ưu tiên. Vì, tôi là kẻ “ưu tiên u đầu” thì có. Tôi không thể đứng ngày nầy qua đêm khác ngoài bến xe, nhịn đói nhịn khát, mà chẳng dễ dàng gì chờ mua vé xe từ Sài Gòn đi Đà Lạt. Biết tin mẹ chết, cũng đành chịu! Dù từ Hốc Môn đi Ta In, chỉ gần 300 cây số.

          Thế là hết thật rồi! Một thân xác héo hon đã thực sự trở về với cát bụi phù dung. Tôi không lẽo đẽo đi sau quan tài mẹ, vật vã khóc than mà tiễn đưa mẹ về nơi an nghỉ nghìn thu. Má con chúng tôi không biết làm gì hơn, ngoài việc quây quần bên nhau, gùy dưới nền đất, bồn chồn lo âu, sụt sùi, băn khoăn, suy niệm lời Chúa, lâm râm dâng lời cầu nguyện. Tôi ứa nước mắt nhìn mẹ trong hồi tưởng: Mẹ tôi sanh tại làng Thuận Nhơn. Nhà ông bà ngoại ở quê (tức ông bà cố ngoại của con tôi). Làng mẹ ở bên con sông rợp bóng hai hàng dừa và lũy tre xanh um bóng mát, thuộc Tổng Cù Hoan, Phủ Hải Lăng, Tỉnh Quảng Trị. Mẹ lớn lên trong một gia đình bế thế, phong lưu giàu có, ruộng vườn của ông bà ngoại cò bay thẳng cánh, lúa gạo trâu bò nhiều nhứt trong vùng thời bấy giờ. Ông cố ngoại là một võ quan rất giỏi ở triều đình vua Khải Định, Huế).

          Mẹ có dáng dấp thon thả, làn da bánh mật, răng hạt huyền nho nhỏ đều đặn, miệng cười chúm chím, mắt phượng mày ngài, mũi cao, mái tóc dài láy đen bối thành một búi to sau gáy. Áo quần mẹ luôn trang nhã, sạch sẽ và tươm tất. Mẹ đi ra ngoài đường, ở trong nhà, hay đi ngủ, mẹ đều thay đổi quần áo đâu ra đó hẳn hoi. Dù đi khỏi xóm, đi chợ, hay đi bán, mẹ luôn mặc áo dài đoan trang kín đáo che thân. Đặc biệt mẹ sống cuộc đời bình dị đạo đức, chất phác lương thiện, dịu hiền phúc hậu. Mẹ siêng năng tần tảo đầu tắt mặt tối, long đong bán buôn xuôi ngược. Mẹ nhẫn nhục lao khó giúp chồng, nuôi đàn con mười mạng nên người. Vất vã vì chồng vì con nheo nhóc, nhưng mẹ không hề tỏ lộ bất bình, hay nặng lời to tiếng. Trời mưa tháng gió ở nhà rảnh rỗi, mẹ siêng năng cần mẫn khéo tay tự chằm nón lá. Mẹ may áo quần cho chồng, con, đôi khi mẹ cũng may biếu cho bạn, và người thân. Đó là việc vặt trong nhiều hy sinh to lớn khác. Phải nói hầu như suốt cuộc đời mẹ chưa có lúc nào an nhàn thảnh thơi ngưng nghỉ tay chân. Số mẹ cực thân đến thế mà! Đồng thời mẹ xứng hợp với đức tính bác ái khoan dung của chồng, dễ dãi cả tin khi ai nói điều gì xuôi tai “nịnh” mẹ, thì có bao nhiêu tiền của, mẹ nhẹ dạ trút cho người ấy hết. Dù sau đó biết mình bị lừa, nhưng mẹ không giận lâu, mẹ “hờn mát” một chút, rồi quên ngay.

          Mẹ chân chất hiền lương đến độ thật thà như đếm, mẹ tính tiền cũ từ thời vua Bảo Đại ra tiền cụ Ngô, đến thời đổi tiền ở chế độ Sài Gòn ra tiền mới sau 75, thì mẹ giống thầy bói mù rờ con voi. Mẹ luôn bị kẻ chợ ăn lường. Thế nên, dẫu bị mất hết tất cả tiền bạc, nhà cửa villa, biệt thự tan hoang, mẹ không thèm tiếc. Mà mẹ chỉ ôm khư khư bình vôi đồng đen, là của hồi môn nhỏ như cái chén kiểu, nhưng rất nặng, có giá trị, chiếc bình vôi nầy có mấy tiệm vàng như Kim Khánh hoặc Kim Ngọc trả giá 5 cây vàng bốn số 9, nhưng mẹ chẳng chịu bán! Thân bình vôi tròn vo, đít vôi bằng phẳng, có quai xách xinh xinh bên tai vôi. Mỗi lần ăn trầu, mẹ khéo léo lấy cây chìa vôi têm vô lá trầu xong, dư vôi trên cây que chìa, mẹ quệt quệt lên trên miệng cho “bình vôi hưởng tí xái”. Thế là miệng “bình vôi vui vẻ” nhô cao chù vù, lỗ miệng bình vôi teo tóp dần dà nhỏ xíu; trông nó hô, loe, vẩu ra, hơi giống miệng con heo nái, coi ngộ nghĩnh sao đâu. Hồi ấy tôi nói với mẹ:
          - Tại mẹ ưa mời bình vôi ăn trầu, nên cái miệng nó loe ra dị hợm kinh khủng nè.

          Mẹ cười vui vẻ. Mẹ rất thích bình vôi đồng đen nầy, nó đã theo mẹ suốt từ thời mẹ về nhà chồng, đến tận ngày nay. Ấy vậy mà bây giờ mẹ cũng buông thỏng từ bỏ hết của cải vật chất vinh sang xưa, kể cả chồng, con, cháu, chắt... dấu yêu. Một mình mẹ lặng lẽ chết đói ra đi âm thầm về bên kia cuộc sống mới. Chị dâu Xuân của tôi kể lại rằng:
          - Hôm mẹ vĩnh viễn từ bỏ con, cháu, ấy là một buổi sáng trời ốm nắng, lất phất từng đợt mưa phùn, trong nhà ai ai cũng lo đi rẫy, đi rừng xa ghê lắm; để kiếm sống. Tửng bưng sáng, anh Dzoãn đi bộ từ trong Ta In ra Tùng Nghĩa (xa xôi khoảng hơn hai mươi cây số), anh chạy đi vay tiền, để mua thuốc cảm về cho mẹ. Ở nhà chỉ có một mình chị loay hoay dọn dẹp nhà cửa. Mẹ nằm im trên giường không động đậy nhúc nhích. Chị dâu thấy mẹ không dậy ăn trưa như mọi ngày, nên chị bước qua gian liếp bên cạnh, chị đến bên giường tre lạnh lẽo, không nệm ấm chăn êm. Nhà anh chị quá nghèo, sau 30/4 anh đi tù 5 năm, vừa được tha về, khi cả nhà bị đi kinh tế mới. Họ chỉ có mấy nhúm quần áo tẻo teo, vài bao bố: son nồi chén bát, guốc, dép, linh tinh… Ít mùng mền đơn bạc, và những bàn tay trắng.

          Con dâu dắt díu mẹ già tám mươi tuổi lom khom leo núi chùng chập, vượt đồi trùng điệp. Chồng tủ "cải tạo" về đau bao tử cùng bầy nhỏ lút chút tám chín đứa con, đứa lớn nhứt mười ba tuổi: Châu Ngọc Bích, Châu Ngọc Diệp, Châu Ngọc Ánh, Công Danh, Công Tiến, Châu Ngọc Lành, Châu Ngọc Dung, Thành Đạt là đứa non tháng tuổi, thì lấy đâu ra những thứ xa xỉ ấy trong thời buổi gạo châu củi quế. Mẹ trùm chiếc khăn màu nâu, mặc áo dài nỉ dạ đen, quần đen, áo len nâu khoát bên ngoài, mang đôi tất đen. Mẹ nằm nghiêng, quay mặt vô phía ván vách bìa gỗ. Mẹ chập chờn thiêm thiếp trong giấc ngủ muộn phiền. Chị e dè hỏi thăm:
          - Mệ ơi! Mệ có khoẻ không?
          Không thấy mẹ trả lời, chị cúi sát xuống bên mẹ, nhè nhẹ lay lay đập đập vô cánh tay mẹ:
          - Mệ ơi! Con nấu cháo cho mệ ăn nghen.
          Mẹ tôi lừ đừ mở đôi mắt nhiều ánh đục, (dường như đã bất thần), mẹ cố gắng quay ngoái cần cổ yếu ớt về phía con dâu, thều thào:
          - Hôm ni có… cháo ăn… hả con.
          - Dạ. Mệ đau, không ăn măng luộc hầm mềm như mọi ngày đâu. Để con chạy ra chợ xép, mua chút gạo về nấu xí cháo.
          - Có gạo... là mừng hì.
          - Mệ ráng chờ nghe. Chợ hơi xa. Con sẽ về, mau lắm.
          - Thôi con. Để dành gạo nấu cho thằng Cu Nâu… có chút nước hồ mà uống, thay sữa mẹ không có…
          - Thằng bé con không đến nỗi nào đâu. Mệ.

          Thế rồi, mẹ tôi ư hữ… ú ớ… rên khe khẽ, mẹ lại lừ đừ, khó khăn mệt nhọc khi quay mặt vô trong vách. Hơn giờ sau, khi chị dâu bưng chén cháo tới gần giường mẹ. Mỉm nụ cười méo mó, mẹ từ từ nhắm mắt, dần dần lịm thiếp vào giấc ngủ nghìn thu êm đềm. Chị không hề nghe tiếng mẹ thở, tiếng nấc, chị ngỡ là mẹ mệt muốn ngủ chút xíu như mọi ngày, rồi dậy ăn. Mẹ đã đói khát thiếu thốn năm năm rồi, mà trước khi lìa đời, mẹ vẫn nhịn đói, mẹ không đành lòng ăn chén cháo trắng lỏng bỏng với tí muối hột. Mẹ không nói một lời từ giã, không một lời trăn trối. Mẹ muốn im lìm sớm ra đi, ngỏ hầu trút bỏ gánh nợ đời, khỏi làm phiền con cháu khó nghèo đông đúc. Con cháu không phải cưu mang “nuôi người vô dụng” thêm một miệng ăn. Mẹ muốn rũ bỏ từ trên vai anh chị tôi, và các cháu nhỏ nỗi âu lo phiền muộn vì bổn phận và trách nhiệm nặng nề. Ôi Mẹ! Mẹ muốn nhịn phần ăn hiếm hoi ít ỏi qúy báu cuối cùng, để chia sẻ cho đứa cháu trai nhỏ tí xíu chưa tròn hai tháng. Mẹ đã chết đói. Mẹ âm thầm lặng lẽ êm ái ra đi đúng ngày Tết Đoan Ngọ.

          Lẽ ra, như Tết Đoan Ngọ từ những năm xa xưa, thì mẹ tôi ưa đi chợ mua đầy thức ăn, hoa quả bánh trái. Mẹ làm bánh tro, bánh nếp, bánh bèo, bánh ít, bánh nậm, vân vân... Mẹ làm cả cơm rượu nếp cẩm, nếp than. Mẹ nấu cơm gạo thơm với nhiều thức ăn thịnh soạn, nóng hổi, linh đình, để cho con cháu từ xa trở về nhà thăm cha mẹ. Đại gia đình cha mẹ con cháu hân hoan sum họp vui vẻ ăn uống. Mẹ nói:
          - Con, cháu, ăn bánh tro, uống chút cơm rượu, thì sẽ diệt giun sán trong bụng. Hì.
          Hầu như cả xóm Trong xóm Ngoài ở Ta In đều thương cảm mẹ của chúng tôi, họ cùng nhau đến nhà anh chị Dzoãn, tận tình lo cho mẹ chúng tôi chu đáo. Mỗi người một việc tươm tất từ đầu đến cuối gọn gàng. Trước khi đậy nắp áo quan, họ vẫn để nguyên bộ quần áo cũ, khăn, tất... lúc mẹ chưa đành-đoạn bỏ đi. Và họ mặc lồng thêm cho mẹ chiếc áo gấm, nền áo màu nâu non điểm rải rác những bông hoa cúc đại đóa vàng nghệ. Chiếc áo gấm xưa kia mẹ tôi đã mặc trong ngày trọng đại nhứt đời, khi họ nhà trai hân hoan tưng bừng đến rước dâu. Nay thì những người khác đã thay ba tôi mặc chiếc áo gấm (áo của ba đã ưu ái trao tặng mẹ). Họ đặt xâu tràng hạt vô bàn tay mẹ lạnh giá, họ nhớ để bình vôi đồng đen bên cạnh mẹ. Sau rốt, họ choàng thêm cổ áo quan dày cui thô sơ thơm mủ ngo ra bên ngoài toàn thân mẹ.

          Mọi người tiễn đưa mẹ về an nghỉ nơi nghĩa trang quạnh quẽ. Không một vòng hoa cườm đen cườm tím cùng ghi lời thành kính phân ưu. Không có cỗ áo quan sang trọng đắt tiền, mà chỉ là sáu tấm ván thông đơn sơ hèn mọn thơm lựng mùi nhựa mới. Không hề có bát nhang đèn nến, rườm rà nghi lễ. Không có gì, không còn gì tất cả ngoài nỗi đớn đau kinh hoàng phủ chụp xuống đời mỗi con người lặng lẽ. Ấy thế mà dân cư cùng đinh đến thăm viếng mẹ đứng lố nhố đông đúc, từ ngoài ngỏ đầy kín người cho đến trong nhà tranh lụp xụp đìu hiu chật chội nầy. Họ chia buồn, ân cần giúp đỡ gia đình anh chị tôi nhiệt tình, họ không hề khiến tang gia nghĩ ngợi vì chuyện họ đến phụ giúp, là bận rộn lo thêm chuyện ăn, uống gì. Họ nghỉ đi rừng, không đi rẫy, nghỉ đi làm, dù ai nghỉ một ngày là gia đình họ nhịn đói nhịn khát, có thể thêm đau ốm xanh xao.

          Họ thay các anh, chị, con cháu (trong đại gia đình chúng tôi cả thảy hơn năm bảy chục người) vì hoàn cảnh ở xa, khó khăn xe cộ, phép tắc đi lại, hoặc còn bị lao tù "cải tạo". Bà con quanh xóm cùng nhau lặng lẽ khiêng quan tài mẹ tôi băng rừng, leo qua một triền núi thấp, vượt đốc, qua bãi đầm, đi trong thung lũng sình lầy. Rồi họ leo lên ngọn đồi toàn đá ong lởm chởm, họ đi lên núi cao chót vót và đơn điệu, nơi đây chỉ toàn sỏi đá, gió lồng lộng hú rít thổi đám bông lau xoay xoay trắng cả lòng quê, từng cơn gió kéo dài lê thê lạnh thấu xương. Mẹ tôi nằm xuống, vĩnh viễn ở lại nơi rừng núi bạt ngàn hoang vu lạnh lẽo, đơn điệu chơ vơ với cây thánh giá gỗ lắc lư theo gió rì rào. Tấm bia mộ gỗ đơn sơ ghi khắc nơi an giấc nghìn thu đạm bạc và đớn hèn:
          Mattha Ngô thị Cúc, sanh năm: 1895 >> 1980. Thọ 85t.

          Thật đông nghẹt người đói khát nghèo nàn đắp mộ mẹ xong, họ lại lủi thủi buồn xo trở về lối cũ trên con đường đất đỏ gồ ghề, con đường mà anh chị Dzoãn và các cháu nhỏ rớt nước mắt đã nhờ người sống thút thít ngáp ngáp khiêng mẹ đi qua.
          ***
          Khi tôi có thể đến với mẹ… thì nấm mồ mẹ đã lút cỏ xanh. Tôi luôn đau đớn, tủi hổ, dày vò và khóc sưng mắt khi nghĩ về mẹ. Thời gian lật đật buồn bã chán chường qua đi, tôi tất bật, bồn chồn, âu lo với công việc cơm áo khốn đốn mỗi ngày, nhưng gia đình mình vẫn không đủ sống, nghĩa là thường xuyên đói khát cơ cực. Ngoảnh nhìn lại, mới đó mà đến ngày giỗ đầu của mẹ. Tôi bươn bả đi mót khoai lang, sắn mì, dưa leo, đậu đũa ngoài ruộng Nhị Tân (Hốc Môn). Tôi hớn hở đem mấy thứ ấy về nhà, làm sạch, chu đáo xào nấu xong. Tôi bày thức ăn lên chiếc bàn cũ kỹ xiêu vẹo, nói là "bàn" cho oai, thật ra bàn là tấm ván cũ có ba chân rung rinh như răng rụng, còn một góc kia kê tấm táp lô sứt mẻ, để thay thế một chân què.

          Bà Nga hàng xóm là người thân cận nhứt bây giờ đã nói:
          - Xời! Việc gì cô phải nhọc lòng! Chứ cô không thấy giờ nầy trời đang mưa xối xả, nhà dột và rách nát như ổ chuột. Ơ! cô bắt mẹ mặc áo gấm lội nước lụt trong nhà y như cái ao. Cô cho mẹ ngồi chò hỏ chơi, xơi cơm độn với nước lụt. Mẹ cô chưa kịp về ăn chút xí, thì bầy ruồi ốm đói trốn mưa trúng mánh, bu lên mấy dĩa thức ăn tám lớp, và o o o… xơi tuốt rồi. Giỗ mí chạp cho mệt! Khéo vẽ!

          Bà Nga chẳng ngại mất lòng, líu lo nói huyên thuyên mà cười sảng khoái. Tôi lắng nghe mãi, mới hiểu được thâm ý bà. Thiệt dễ ghét quá đi. Tôi ngẩn ngơ nhìn bà Nga. Những giọt nước mắt nóng hổi lăn dài dài xuống má. Giọt khóc quê hương. Giọt hờn tủi khóc ông bà vãi cha mẹ khuất mặt khuất mày. Giọt khóc chồng sống đoạ đày ở trong tù “cải tạo”. Giọt khóc bầy con lút chút vất vưỡng long đong cơ cực ở vòng ngoài, (tù trong và tù ngoài xêm xêm như nhau, có khác chi, như cá mè một lứa). Giọt đắng cay khóc cho chính bản thân tôi lù đù lầm than khốn cùng.
          Khổ đến nỗi tôi không thể đào đâu ra tiền, chẳng có cắt bạc để mua cặp nến đỏ, bình hoa tươi, không hương nhang cắm trên bàn. Tôi không thể mua bột về làm bánh cúng mẹ dĩa bánh bèo, bánh ít, bánh nậm: thứ bánh mà mẹ thích ăn lúc sinh tiền! Tôi không thể kéo mẹ về trong hương khói, để má con chúng tôi quỳ dưới đất, sì sụp lạy tạ lỗi cùng mẹ, cùng bà ngoại! Sợi dây tơ quá mong manh nhẹ tênh thiêng liêng kia đang run bần bật giữa lưng trời mưa trắng. Niềm ước mong nối liền tình yêu thương ngút ngàn giữa mẹ -với má con chúng tôi- đã đứt lìa trong khói hương.

          Tôi nghe anh chị lớn kể chuyện về Mẹ lúc tôi chưa chào đời: Một lần kia, mẹ kêu chủ thầu trong địa phương đến nhà bán mão bầy heo thịt. Mẹ và các con cháu dẫn bà đầm, cùng phu cai xuống chuồng nuôi heo, cách xa nhà ba mươi mét. Ngả giá xong xuôi, phu cai trói bầy heo cho vô rọ, họ khiêng những rọ heo lên trên đường cái, vất vô ba chiếc xe ngựa. Bà đầm cầm cái áo veste của bà (đã máng ở càng xe ngựa đậu trên đường cái), bà ta móc túi lấy tiền, thì đồng tiền không cánh mà bay?! Bà đầm tri hô mất ba trăm sáu chục đồng Đông Dương. Bà ta quyết một quyết hai bảo: “Người trong nhà nầy đã ăn cắp”. (!!?) Bà ta làm hung dữ, kêu lính hộ tống chạy đi gọi hiến binh, phú lít tới. Hiến binh không cần biết luật lệ phải trái, không cần biết bà ta có mất tiền thật trong túi áo, máng bên sườn xe kéo, mà lại để bên lề đường cái; hay không?! Họ còng tay mẹ xô dụi mẹ lên chiếc xe ngựa. Mẹ nằm với mấy chục con heo kêu la rần trời. Mặc kệ gia đình tôi than khóc, phản đối inh ỏi. Chúng hăm doạ:
          - Nếu lộn xộn làm mất an ninh, sẽ bị bắt - nhốt hết cả đám.

          Quân cướp cạn hùng hổ, quất ngựa phóng nước đại chạy như bay. Họ tống giam mẹ vô nhà lao. Hơn nửa tháng bặt tin, sau đó chúng thả mẹ ra. Mẹ về như cái xác không hồn, trông mẹ quá tiều tụy thảm thương. Ba tôi, con cháu xúm xít ngồi chung quanh mẹ lo lắng hỏi thăm. Mẹ im lặng rấm rức khóc sưng húp mắt. Mãi lâu mẹ hổn hển kể: Suốt bao ngày bị nhốt, chúng cho mẹ ăn ngày một bữa nửa chén cơm khô, với ít muối hột.

          Đêm đêm bọn lính Tây lôi mẹ ra tra điện, chúng độc ác tra khảo, chích điện vô người bắt mẹ phải nhận tội, dù mẹ không hề làm. Mỗi lần mẹ bị bọn tà lọt gian ác tra điện, thì mẹ sợ hãi kinh khủng, dòng nước ấm chảy ra ướt dầm thân thể mẹ. Mẹ không thể nén mồ hôi hột lạnh toát, không thể nín lại cơn buồn đái. Mẹ không đủ sức chịu đựng cơn đau, mẹ đau đến ngất xỉu, thì chúng lôi chân mẹ kéo xềnh xệt về phòng giam trống lạnh lẽo không giường chiếu. Chúng tạt nước lạnh cho mẹ tỉnh lại, mẹ bị chảy máu mũi, chảy máu đầu. Mẹ run rẩy, mặt mày sưng húp, bầm tím.

          Mẹ chịu oan ức tột cùng, mà tiền mất tật mang. Suốt từ đó đến nay mẹ luôn luôn sợ hãi và yếu hẳn người. Mẹ bị đau tim và thường xâm xoàng, ngất xỉu vì quá hãi hùng. Bọn Tây thời đó đầy quyền uy, hống hách, ác độc hơn loài hổ sói, người dân thấp cổ hé họng chỉ câm miệng cúi đầu, điếng lặng cắn cỏ ngậm vành, không dám hó hé than van với ai. Vậy đó, mẹ quá đau khổ và chịu oan ức tột cùng. Một lần kia, sau thời gian bị tra khảo đánh đập tù đày oan uổng đó khá xa, mẹ vẫn cần cù kiên nhẫn lặn lội đi gánh nước cơm về nhà,

          Một kỷ niệm bất ngờ từ những cơn mưa không sao giải thích nỗi, tâm trí tôi vụt quay về dĩ vãng xa lắc xa lơ: một thuở nào hình như xa xôi, xa xa lắm… gia đình ba mẹ tôi đang từ trên đỉnh cao sung túc, phù vinh, giàu sang… bỗng rớt tụt xuống vực thẳm, vì ba tôi làm chủ nhà máy cưa cây, bị nó hại cho khánh tận, đã khuynh gia bại sản. "Của rừng, rưng rưng nước mắt thật" mà! Bao nhiêu tiền ba làm thầy thuốc đỗ vô cây cối, cũng như nước đỗ lá khoai. Hồi ấy có màn mưa xám đục buông suốt ngày đêm, rất bé thơ tôi đứng trong khung cửa sổ, nhón chân xem mưa đập lộp bộp vô cửa kính, những dòng nước nhỏ ngoằn ngoèo chảy xuống tấm kính mờ đục, tôi háo hức chờ đợi mẹ về nhà, ngỏ hầu nghe mẹ hò câu ca dao: “Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa. Miệng nhai cơm búng, lưỡi lừa cá xương”.

          Mẹ đi chân đất, đầu đội nón lá cũ ướt nhẹp, toàn thân mẹ dầm dề nước mưa, chiếc đòn gánh uốn cong đang kẽo kẹt trên vai mẹ, còng xuống hai thùng nước cơm trĩu nặng. Mẹ đã đấu thầu được cơm thừa canh cặn từ ngoài mấy đồn lính, tự mẹ đến gánh về: Một thùng rất sạch đậy kín đựng cơm nóng, có ba ngăn cào mên đựng thức ăn còn nguyên trong chảo, (mà chú quản đội do biết gia cảnh mẹ, nên chú múc để riêng ra cho mẹ, để mẹ đem về cho các con ăn buổi tối). Thùng kia đựng đủ thứ hỗn tạp nuôi bầy heo vài chục con. Mỗi buổi nhọc nhằn trở về nhà, mẹ thường dúi cho tôi khi thì vài cái bánh ngọt, khi miếng chocolate, hay trái chuối, trái bắp. Tôi thèm ăn nhứt là lát bánh mì hấp trong nồi nước sôi, bánh mì nóng chắm với nước mắm ớt, nước cá hoặc nước thịt, tôi ngấu nghiến ăn, cảm thấy ngon hết sẫy. Mẹ “thương con tần tảo sớm hôm. Cơm đùm chéo áo, cháo đùm lá môn”, là thiệt! Mẹ đã thay bộ áo quần ướt sủng nước mưa. Mẹ ngồi bên bếp lò giơ đôi bàn tay nhăn nheo sạm nắng chai cứng, tóp teo vì thấm lạnh ra, để sưởi ấm. Mẹ âu yếm nhìn tôi ngồi kế bên bỏm bẻm ngấu nghiến nhai bánh mì. Bỗng mẹ nhìn tôi sửng sốt, lạnh lùng hỏi:
          - Đôi guốc mới, con mang đó. Mô rứa?
          - Dạ... Của con... con... l..a...
          - Mẹ đã nói rồi, đợi bán heo, mẹ sẽ mua cho con quần áo, dép guốc cho con đi học. Mẹ biết con mau lớn, giày dép cũ con mang không vừa, mà đi chân không thì lạnh lắm. Mẹ lo sợ con đau. Ngặt nỗi, bi chừ chưa có tiền. Mà răn con dám cả gan đi ăn cắp, của ai rứa?

          Tôi cúi gầm đầu, một tay túm mái tóc bum bê, nhìn đôi guốc mới mang vừa vặn ở chân mình, đôi guốc màu đỏ đầy hấp dẫn, có hai quai cánh cam in đủ màu sắc hoa lá. Tôi thấy nó quyến rũ, ước ao vô vàn từ lâu. Khi chị Tư sai tôi tới quán chị Thế mua trứng vịt, tôm khô. Thừa lúc quán xá bận rộn người mua kẻ bán, tôi lấm lét ngó trước nhìn sau, rồi vội thò tay chộp đôi guốc kẹp chặt vô nách, (đã che kín bằng chiếc áo mưa lụng thụng). Trống ngực tôi đánh rất mạnh, mặt mày tái mét, tôi run như cầy sấy, tôi liền lẽn ra khỏi tiệm và co giò chạy. Vừa chạy tôi vừa ngoái cổ lại nhìn chị Thế, (là bà chị dâu cả của tôi), chị ấy không biết gì hơn, ngoài việc chị thu nhiều tiền đầy nhóc vào tủ sắt.

          Mẹ già nua trước tháng năm đang gục đầu trên hai đầu gối ướt lạnh, run rẩy, mệt nhọc - và khóc. Mẹ khóc vì tội lỗi của con thơ. Mẹ khóc vì cảnh thăng trầm không thể ngờ, vì mẹ chưa mua nỗi đôi guốc cho con, (chỉ đáng vài xu trong khi tiền ba tôi làm chủ trại cưa cây, thì bạc trăm, bạc ngàn, kể như đỗ xuống biển. Và, tiền bán hai chục con heo, mẹ bị bọn chúng trấn lột hết). Trong đêm trường thanh vắng, khuya lắc khuya lơ, tôi nghe rất khẽ nhưng rõ ràng tiếng mẹ đọc kinh cầu nguyện đều đều. Thỉnh thoảng kèm theo vài tiếng thở dài nho nhỏ, lời mẹ nguyện xin cho con cháu bình an, mạnh khỏe. Tối hôm đó mẹ thức rất khuya, ngồi một mình dưới gian bếp đèn dầu leo lét, mẹ đã cắt khúc vải nhung màu vỏ măng cụt để may áo cho tôi mặc ấm. Chiếc áo ấm gồm ba lớp: lớp nhung ở ngoài, mẹ bọc thêm một lớp gòn rất mịn ở giữa, và may chằn thêm một lớp lụa sa tanh mới lót ở bên trong.

          Tôi leo lên giường từ lâu, trằn trọc mãi không làm sao ngủ được, tôi rất sợ và lo âu không dám nhúc nhích. Tôi cứ mở mắt nhìn mẹ chăm chú làm việc. Khá khuya, mẹ lê đôi dép lẹp xẹp lần mò từng bước, mẹ nhẹ nhàng đi trong bóng tối mờ mờ. Mẹ vặn ngọn đèn dầu hột vịt thật lu, mẹ cố không khua động giấc ngủ của mọi người. Trong bóng tối tôi hé mắt nhìn mẹ ngồi đọc kinh, sau đó mẹ ngả lưng xuống đệm theo tiếng thở dài. Tôi nằm im giả vờ ngủ say. Bàn tay mẹ lạnh ngắt run run sờ soạn tìm con. Mẹ đặt đầu tôi nằm ngay ngắn trên gối mỏng. Mẹ kéo hai chân tôi thẳng ra, và đắp mềm lên tận cổ tôi. Mẹ ôm tôi vô lòng và hôn lên mái tóc tôi khét nắng. Nước mắt mẹ thấm lạnh da đầu tôi. Thật là: “Nuôi con chẳng quản chi thân. Bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn”. (cd)

          Thì ra mẹ đã khóc âm thầm lặng lẽ trong bóng tối. Mẹ giống người chèo đò đơn độc ra tay chống chèo trên dòng nước ngược đầy sóng gió khi đàn con nhỏ sợ sệt, la khóc, run rẩy bám chặt vô mạn thuyền. Mẹ cố sức chịu đựng giông bão, gian truân âm thầm và câm lặng dai dẵng; miễn sao cho con, cháu, bình yên, no ấm. Mẹ là một trong vạn triệu người Mẹ Việt Nam tần tảo, phúc hậu, ôn hoà cao cả, hy sinh xiết bao suốt đời mình. Sáu tuần sau, mẹ bán bầy heo thịt khác. Ba tôi vượt núi băng rừng khổ cực trăm bề làm cúp cây, nay đã hoàn toàn ổn định, cùng việc ba làm thầy thuốc có nhiều khách. Gia đình chúng tôi lại bắt đầu khá giả, vinh sang hơn năm cũ. Nhờ mẹ tôi quáng xuyến, đảm đang, siêng năng, tháo vát. Ba tôi giàu kinh nghiệm và liêm chính đàng hoàng trong việc làm chủ trại cưa, & thầy thuốc giỏi, nên ít lâu sau gia đình tôi thoát khỏi cảnh bần hàn.

          Nhưng dẫu có sung túc giàu có hơn xưa nhiều, rất nhiều, thì vết thương đầu tiên về bài học giáo dục đạo đức trong lòng mẹ và con, hẳn không có cách gì lấp đầy, phôi pha được. Kể từ ngày xa xưa đó, mỗi khi tôi có ý muốn lấy cắp cái gì của ai, thì hình ảnh mẹ tôi ngồi bó gối bên bếp than hồng; nước mắt mẹ chảy ướt thấm vô da đầu tôi, vẫn hiện lên rõ nét. Khiến tôi quắt quay và lặng người, vì hối hận không hề dám tái phạm. Đó là nốt “nghịch phách” đầu tiên trong đời vào chiều mưa giông giá lạnh năm xưa. Ước gì nay tôi được chìm trong dòng sông đã chảy qua thời ấu thơ, nơi mái gia đình êm ấm của tôi ở buổi thiếu thời kia, để tôi có thể nói thật nhỏ:
          - Mẹ ơi! Cho con xin lỗi.
          ***
          Và một lần nữa có kỷ niệm về Mẹ tôi thế nầy: bầu trời lợt lạt sau khi tráng nước mưa thì trở nên trong suốt như pha lê, lưng trời sáng bạc ngất ngây đầy lâng lâng rung cảm điểm vài hoa mây phớt hồng thấp thoáng bay bay, trôi nhè nhẹ như bong bóng mây lơ lửng giữa bầu trời rộng thênh thang. Các mái nhà như kỳ cọ gội rửa sạch bon. Những con đường, cành cây ngọn cỏ đều loáng nước và trở nên xanh tươi hơn.

          Tôi rất mừng khi mẹ ở Tùng Nghĩa đến thăm, có mẹ ở lại giúp con, phụ chăm nom các cháu, là tôi rất an tâm. Mỗi lần đến thăm con cháu, mẹ mang rất nhiều quà bánh, mẹ khệ nệ bưng hết giỏ nầy đến giỏ khác, thậm chí cả gạo, rau, cá, thịt, tôm, vân vân… Có bao nhiêu tiền dành dụm, mẹ đã trút hết cho con cháu. Nhứt là bà cưng các cháu ngoại hết sức; mặc dù chúng rất quậy, khiến ngoại mệt phờ người. Mẹ cầm cái quạt giấy quạt cho mình và quạt cho con, cháu. Mùi dầu thoang thoảng bay, mẹ rất thích xức dầu Nhị Thiên Đường. Trời Đà Lạt khá mát mà mẹ dùng quạt, đủ biết mẹ mệt lắm. Tôi muốn khóc hết sức khi ngồi cạnh mẹ. “Lên non, mới biết non cao. Nuôi con, mới biết công lao mẹ hiền” là thế.

          Tôi nhìn vẽ già nua hiện lên từng đường nét rõ ràng trên khuôn mặt mẹ già mỏi mệt, mái tóc mẹ điểm muối tiêu, vành miệng móm mém, mẹ ưa nhai trầu dập từ cối đồng nhỏ xíu cầm lọt trong lòng bàn tay. Đôi mắt mẹ thoáng màu nâu, hấp háy sau làn mi dài lưa thưa, mẹ có cái nhìn ấm áp chuyển thành niềm vui dạt dào, bộc phát mừng rỡ khi mẹ thấy tôi thấp thoáng trên thềm nhà:
          - Cháu đói lắm hử? Mẹ cháu về rồi. Ù ơ... Cháu tham ăn y như con mẹ của cháu từ hồi nhỏ hè. Hì hì… Cháu biết không!?

          Ơ! Tôi đây có phải là đứa con gái út (trong gia đình có mười anh chị), út lên mười vẫn còn rúc vú mẹ, vòi vĩnh mọi thứ khi thích? Út sau giờ học tối ngày thui thủi một mình, anh chị lớn không thèm chơi với "con nít", vì thế tôi luôn quanh quẩn bên mẹ. Ngày ấy pha nước nóng, mẹ ngồi trên chiếc đòn nhỏ bên hiên lát gạch hoa, mẹ bế tôi vô lòng, tôi thòng cái cổ đeo hai ba sợi dây chuyền bằng đất, tôi ngửa mặt lên trời cười sằng sặc lúc cảm thấy nhột. Mẹ gội đầu cho tôi bằng nước bồ kết nấu với lá sả, lá cam, lá chanh, lá bưởi. Con tắm xà bong thơm hiệu "cô Ba đeo kiềng vàng". Tôi có tính hư nết xấu ưa làm nũng, dậm chân dậm cẳng không chịu tắm, khóc nhè hoài; dù mẹ đã dỗ ngọt, hun hít và gói cho tôi đòn bánh tét nhỏ xíu bằng gan tay, có dây lạt làm quai xách cột từ đầu nầy qua đầu kia.

          Có ngày tôi say sưa nhìn: mẹ đeo đôi mục kính trắng, khéo léo may từng bộ áo quần đẹp nhứt đầu Xuân. “Con bé tôi” năm sáu tuổi ngồi bên thềm gạch hoa trong tòa nhà cao và rộng, tôi la lết bên mẹ, quá phục mẹ thoăng thoắt may áo quần mới, mẹ may rất mau. Tay thoăng thoắt may áo, mẹ vui vẻ kể chuyện cổ tích Trầu Cau. Tấm Cám. Mẹ kể chuyện hay đến nỗi đôi khi tôi đòi cái gì đó, mà mẹ không có cho con, thì mẹ mỉm cười nói: "Ngày xưa... có một người tiều phu vô rừng..." là mọi thứ hấp dẫn trên đời đều không bằng câu chuyện cổ tích của mẹ. Ngày ấy, gia đình ba mẹ tôi sống tại ngôi biệt thự số 5 La Rose ở đường Quang Trung, gần nhà Ga xe lửa Đà Lạt. (sau bán cho ông bác sĩ). Tôi đeo đôi hoa tai vàng tòn ten đong đưa theo mỗi cử động, cổ đeo kiềng vàng chạm trổ thẫm mỹ. Tôi diện quần sa tanh trắng, xúng xính trong chiếc áo nhung đỏ do mẹ tự cắt may, chân tôi mang hài cườm cùng màu với áo. Đầu tôi đội nón lá mười hai vành do mẹ chằm. Vai tôi đeo chiếc bóp đầm đỏ. Hai mẹ con ngồi xe kéo đi chợ Đà Lạt mua sắm đồ Tết suốt ngày.

          Trước khi mua sắm, mẹ cho tôi ăn bánh bèo xong, tôi lại lết qua hàng mì quảng ăn no nê. Sau đó hai mẹ con chen lấn vô chợ vải mua quần áo, giày dép, vân vân… Tôi bị người lớn chen lấn, nên tụt lại đằng sau, kẹt giữa làn sóng người đông như kiến. Hốt hoảng, tôi vừa khóc vừa kêu "Mẹ ơi! Mẹ". Tay tôi nắm chặt lấy đuôi áo dài của mẹ rị kéo lại. Dù rách toạt mất một thân áo, mẹ tôi không hề la rầy, hay giận dữ. Mẹ đằm thắm bế con lên, cùng với hai giỏ xách đầy vật dụng mua sắm móc ở khuỷu tay. Lúc ra về, mẹ mua cho tôi mấy bịch bánh thuẩn, nải chuối cau. Ngồi trên xe ngựa, tôi sung sướng có những món đồ chơi xinh đẹp. Nhưng, về nhà đồ chơi cũng không quyến rũ con bé mập tròn ú nù giống hột mít như tôi (vì háu ăn), tôi quanh quẩn bên chân mẹ, líu lo hỏi chuyện:
          - Mẹ nấu phở cho cả nhà ăn ha mẹ?
          - Ừ. Ra ngoài sân chơi đi con. Ây. Coi chừng bị phỏng lửa.
          - Chín chưa mẹ?
          - Chưa được. Coi chừng phỏng nước sôi.
          - Được chưa mẹ?

          Sốt ruột, do cái tật mê ăn của con, mẹ làm trước cho tôi một tô phở. Tôi cứ bu bên mẹ rồi nhón chân lên bốc một nhúm hành ngò trong dĩa ở trên bàn. Tôi chạy theo mẹ đến bên góc đi văng, bỏ đầy hành ngò vô tô. Tay cầm đủa tay cầm muỗng, tôi cúi xuống thổi phù phù tô phở nóng. Nước miếng ứa ra miệng, bụng sôi lọc ọc, tôi cảm thấy đói cồn cào vì mùi thơm ngào ngạt:
          - Mẹ cho con ăn thiệt no. Nghen. Con đói.
          - Để nguội đã. Ăn từ từ thôi. Ngán tới con mắt chừ. Không tham ăn rứa hì.
          - Con ăn từ từ cho đến khi nào no tới con mắt, thì thôi. Mẹ ui.
          Mẹ tôi phì cười nguýt yêu con gái tham ăn. Qua nửa tô phở, tôi buông đũa, hét to:
          - Chết con rồi! Ơ hơ! Cay quá! Mẹ ơi. Mẹ.

          Cay thật. Cay đến nỗi mặt tôi đỏ rần, hai lổ tai ù ù, lùng bùng, đầu lưỡi nhứt nhối, rát bỏng, môi miệng đỏ chót phồng rộp lên. Tôi thọc tay vô miệng cào cào lưỡi, xít xà, phun nước miếng phì phì. Mắt thấy sao bay trong màng lệ, tôi hoảng hốt chạy quanh nhà, vừa kêu vừa khóc. Tôi bức tóc bức tai, rồi chui tọt xuống gầm bàn, nằm lăn lộn trên nền gạch hoa. Tôi lại bò ra, chui lòn mấy vòng qua hai chân của mẹ. Hai tay tôi quệt nước mắt! Khổ nỗi ớt dính ở mấy đầu ngón tay, càng bị cay mắt hơn. Mồ hôi vã ra trên trán như tắm, mặc dù trời khá lạnh. Khiếp quá. Cay kinh khủng. Tôi kêu khóc inh ỏi, mũi dãi lòng thòng (chỉ vì mắt nhắm mắt mở, và tham ăn, tôi không thấy trái ớt xiêm xanh lẫn trong nhúm hành ngò, dù mẹ tôi có ý để ớt qua một bên mép dĩa to).

          Mẹ vội lấy nước lạnh khuấy chanh đường, bế con vô lòng cho con súc miệng nhiều lần, nhổ ra. Mẹ xổ mái tóc dài, lấy đuôi tóc lau trên đôi mắt con, lấy khăn ướt lau mặt mũi con, mẹ vạch vú da cho con mút, (mặc dù con khá lớn khôn). Có bầu vú mẹ, tôi dịu cơn đau, mà vẫn thút thít khóc và nấc lên từng cơn. Ôi! Lần ăn phở muôn đời ghi nhớ ấy, nó ớn lên tới con mắt thiệt. Mà mẹ yêu dấu là người họa sĩ tài ba đầu tiên đã âm thầm vẽ nét ngây thơ, hồn nhiên duyên dáng vào tâm hồn con tươi trẻ. Hình ảnh mẹ bất diệt, nên thơ, trong sáng, thân ái từng ấp ủ nơi con đây một thời xuân trẻ luôn khát khao niềm tin yêu, chưa hề phai lạt làm quặn thắt lòng con.

          Một tình mẫu tử bất diệt, bao la co xiết thành khối mật, vừa dịu êm ngọt ngào, vừa nồng nàn lâng lâng men tình say say, trào dâng lên bờ môi con ngọt lịm từ bầu sữa mẹ, ngát hương yêu trong chiếc nôi đời lắc lư đong đưa theo tháng năm qua. Trái tim con thèm khát nhịp đập cuồng quay trong lồng ngực phập phồng, bồng bềnh chơi vơi trên sóng biển rong chơi đầy dáng vẻ yêu thương. Tôi cảm thấy thương mẹ không làm sao tả xiết. Tình yêu thương nồng thắm của người mẹ, giờ đây tôi mới hiểu thấm thía, thâm thúy, tình mẹ bao la như trời biển, êm đềm ngọt ngào, nồng nàn xiết bao trong từng giờ, từng tháng, từng năm. Mẹ tôi tận tụy cần cù hy sinh lo cho chồng, con, cháu; là hạnh phúc duy nhất của mẹ; là lẽ sống thầm lặng, mẹ đầy tình thương yêu và thủy chung hết mực. Tôi yêu kính mẹ vô vàn, mẹ âm thầm chịu đựng, hy sinh gắn bó, nhẫn nại, dốc hết sức cạn hơi mòn, hầu chu toàn cho con, cháu, có sức hoẻ bình an, hạnh phúc.

          Dù con khá lớn khôn, có gia đình con cái, dù các con đã vững vàng lập thân, từng trải. Mẹ thân yêu! Mẹ nâng niu giữ gìn cho con bao kỷ niệm yêu thương, đậm sâu, dạt dào ân tình mặn-mà thuở thiếu thời. Đôi mắt con lẫn vô lòng mắt mẹ êm ái, ẩn chứa tất cả niềm vui tột cùng, tuổi thơ con trong sáng từng ấp ủ tình thương thầm lặng đến tận bây giờ. Nó vừa hiền, vừa lành, vừa vui, và trọng lượng tình yêu trong lòng mắt mẹ đã dành cho con, muốn vỡ vụn ra thành muôn hạt nước mòng mọng, tròn trịa, li ti long lanh rung rinh trĩu nặng bờ mi rưng rưng, trôi đến tận cùng tơ rung suy nghĩ, làm gợn sóng lăn tăn lung linh chơi vơi trong từng tế bào con run rẩy.

          Hạnh phúc vô ngần khi con trở về trên dáng xưa yêu kiều, đầy hoa mộng đó. Chao! Dòng đời xuôi ngược nhiều ước mơ, hoài bão, hy vọng dạt dào, tràn đầy mộng đẹp vụt tan biến quá đỗi là mau. Và, hôm nay con không khỏi ngỡ ngàng, bâng khuâng xao xuyến và kinh ngạc; khi nhớ ra mẹ nhắc khéo chuyện: “Con tham ăn” đã lẫn vào lòng thời gian lúc nào; chẳng rõ! Hẳn là lúc đó mẹ đang nghĩ đến câu:
          - "Mẹ cho con ăn tô phở, khi nào con no, no lên tới con mắt thì thôi"!
          Lúc ấy vui tột độ khiến tôi dại người trong giây lát, bỗng quay qua nhìn mẹ hiền đăm đăm, và toét miệng cười ngất. Mẹ nhìn con gái lắc đầu mỉm miệng cười đôn hậu, hòa ái. Thật đáng yêu xiết đỗi từ đôi mắt đầy bao dung, thông cảm và thấu hiểu của mẹ biết ngần nào! Đó là cái gốc rễ tình yêu nơi chiếc nôi đời hồng hoang trinh nguyên, nơi chôn nhau cắt rốn, nơi quê hương dấu yêu nầy tôi đã bập bẹ tiếng: "Mẹ... Mẹ" đầu tiên. Mẹ là sợi dây vàng rắc đầy kim cương lóng lánh, nối liền con cháu với niềm vui buồn quá khứ, dạt dào hạnh phúc ân tình trân qúy. Mẹ hiền sung sướng mỉm cười từ ái hằng cầu nguyện cho các con suốt bao năm trường được hạnh phúc, bình an. Phải không mẹ? “Gió thúc cội thung nhánh tùng khua rúc rắc. Nhớ cha mẹ già ruột thắt gan teo”.

          Bây giờ, thời gian vút qua... “Chiều chiều lại nhớ chiều chiều. Nhớ cha, nhớ mẹ chín chiều ruột đau”. Ôi! Chỉ cần trở về ngày ấy và biết nói câu "Mẹ ơi, cho con xin lỗi", thì tôi sẽ sống lại và chỗi dậy trong tâm tư tôi cả quá khứ ngọt ngào, say đắm, êm đềm, nồng nàn, sung sướng xiết bao! Và, bây giờ tôi biết đằm thắm, khôn ngoan gấp bội lần. Tôi, người đàn bà còn quá trẻ bỗng co nhói lên từng cơn đau tim nghẹt ứ, xót xa đắng cay khôn tả xiết. Vốn bị nghị lực mài dũa, cọ liếc mỏng tanh, tôi nghẹn ngào, đắng cay hơn sự cơ cực đọa đày chịu đựng dài lâu. Sự trầm uất nén dưới chiều sâu tâm hồn đã vọt lên tim, lên óc, lên cổ tôi những cục nấc nghẹn ngào tức tưởi. Tôi đứng giữa trời mà khóc, mà cười. Cười khẩy. Tôi không sao hiểu nỗi “đời”! Tâm hồn tôi hằn lên vết rạn, xếp lớp lăn tăn theo sóng đời cơ cực. Gia đình nhỏ chúng tôi lầm than khốn cùng đã rớt dưới tận đáy xã hội phù phiếm.

          Nay, các con bé bỏng của mẹ đã lớn khôn, đã có gia đình, đã làm cha, làm mẹ. Dù vậy con còn nhõng nhẽo, quấy rầy mẹ và thút thít khóc hu hu hụ hụ như thuở nào! … “
          Thương mẹ nhớ cha như kim châm vào dạ.
          Nghĩ đến chừng nào, lụy hạ tuôn rơi.
          Nước chảy ra thương cha nhớ mẹ.
          Nước chảy vào thương mẹ nhớ cha...” khi cha mẹ đã vĩnh viễn lìa bỏ chúng con.

          Cha mẹ ôi! Nơi con đường cũ mà cha mẹ tôi xưa kia rất vinh sang đã từng đi qua đó, và chính gia đình nhỏ cuả tôi từng lả lướt, rộn ràng líu lo ca hát trên đại lộ mỗi độ hoàng hôn… Ngày nay mẹ con chúng tôi dắt díu nhau lọt tọt, líu ríu bước thấp bước cao, lần mò đi từ ngày nầy qua tháng nọ. Đi từ hừng đông đến hoàng hôn không ngơi nghỉ. Những đôi môi khô nứt nẻ run run nếm đủ cay đắng, ngọt bùi xính vính tình đời còn mấp máy và thút thít, như nghiến chặt hai hàm răng, nghiền nát hiện-tại rát bỏng phừng phựt cháy trong lòng.

          Sau đám sương mù dày đặc ngoài trời kia là tương lai tối thui và con đường gồ ghề, lởm chởn sỏi đá lẫn lộn bùn tro bầy nhầy. Con đường tiến thân của mẹ con chúng tôi đó, hình như có tiếng âm vọng não nề. Chúng tôi không biết nên bắt đầu từ hướng nào cho phải! Đôi bàn tay tôi khô cứng, chai sạn sần sùi nứt nẻ, hợp lực với những bàn tay các con thơ yếu gầy tong teo bé tí xíu, vẫn quơ quơ về phía trước. Cùng lòng can đảm, tận tụy, chịu đựng gian lao, nghèo khổ siết chặt, thì không có cách gì lay chuyển. Trời bao la xanh xanh trong trong, không có một vắt mây trắng, nhưng sao đôi mắt tôi mù mây xám giăng mắc!? Giống như những sợi tơ tóc ngày xưa đen tuyền óng ả quyện cùng chùm tóc bạc trước thời gian đã phủ khắp nẽo đi lối về?

          Tôi đang mặc chiếc áo gấm của Lụât để lại, tôi tưởng tượng chiếc áo dù cũ, nhưng có phần nào che gió chắn mưa. Thì hy vọng là tôi bớt cảm thấy cô độc, ấm áp và ít lạnh. Ngỏ hầu tôi sẽ đương đầu, chạm trán, chơi những canh bạc đen đỏ với định mệnh. Đành phải như thế thôi. Nếu định mệnh không thách đố gạt gẫm chúng tôi: Xỏ lá sát phạt, chơi khăm chúng tôi trắng tay –và đểu giả lật ngửa quân bài ra– Khi trận đấu chưa bất phân thắng bại. Thưa ông!
          *
          Tháng Năm 1980
          Tình Hoài Hương
          Last edited by Tinh Hoai Huong; 09-01-2020, 10:34 PM.
          Bút trần nào tả được lưu luyến!
          Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
          Tình Hoài Hương

          Comment

          Hội Quán Phi Dũng
          Diễn Đàn Chiến Hữu & Thân Hữu Không Quân VNCH




          website hit counter

          Working...
          X