Thông báo

Collapse
No announcement yet.

Góc Truyện Tình HOÀI HƯƠNG...

Collapse
X

Góc Truyện Tình HOÀI HƯƠNG...

Collapse
 
  • Filter
  • Giờ
  • Show
Clear All
new posts

  • Từ Tháng Ba & Những Người Đà Lạt Cuối Cùng Vỡ Tổ Tan Hàng

    Từ Tháng Ba & Những Người Đà Lạt Cuối Cùng Vỡ Tổ Tan Hàng
    Tình Hoài Hương


    Con đường dốc bên cạnh khu rừng đầy lá thông khô được sương chiều rửa sạch trơn bóng, láng mướt, đã ve vuốt đôi chân êm ái mát lạnh khi mình dẫm lên. Khiến Luật muốn ngã lưng nằm trên thảm lá màu nâu nâu, mượt mà, anh mơ màng nhìn lên trời cao, xao xuyến nghĩ về… đất nước còn, thì người lính có thể là một phần tử của con cờ thí thân trong chiến tranh. Họ gánh trên vai nhiều trọng trách, nhiệm vụ, và bổn phận nặng nề đầy phức tạp; dù biết bao cơ cực lầm than, nhọc nhằn, khổ sở, chua xót, đắng cay, trăm bề o ép. Trước đám sương dày đặc kia là tương lai xa xăm mù mịt, là con đường tiến thân để giành lại, giữ lại từng tất đất, từng ngôi nhà, từng dòng sông, suối thác... không biết sẽ bắt đầu từ mấu chốt nơi đâu?! Lúc nầy, tình hình chính trị ở miền Nam Việt Nam xoay quanh cơn lốc chính trị dâng cao tột độ lẫn kinh hoàng vô cùng, giống như hai giòng nước ngược đục ngàu xô vào nhau, toé lên thành những cơn triều cường sóng thần dâng cao vút và đảo điên nhứt. Họ chẳng thể chí tình thiết tha yêu thương ôm trọn quê hương ở trong lòng, khi Trọng Luật cùng hầu hết quân nhân đã vâng lời nghe lệnh cấp trên ban ra rành rành: "Quân nhân, cán bộ các ban ngành, thanh niên nòng cốt, tuổi trẻ phải ở lại “tử thủ” tại mỗi đơn vị: từ đầu ngày 18 tháng Ba năm 1975 tới giờ phút cuối cùng, còn ông già bà cả, trẻ con phụ nữ… thì cho di tản ra khỏi Đà Lạt/Tuyên Đức. Gấp".
    Tin như thế loan ra nhiều ngày, nhiều ngày... hầu hết ai ai nghe, cũng cả tin chắp bắp và khá an tâm, "chúng ta" cùng vững chí đồng lòng cương quyết trụ trì ở lại 24/24 giờ nơi những tuyến phòng thủ. Té ra, ôi mà ngờ đâu... có một nhóm người cao cấp đã làm cuộc tình lờ, len lén tình vờ lo cao chạy xa bay chuồn đi từ lâu "dzọt dià" thủ đô Sài Gòn, nguồn tin đáng tín cẩn cho Luật hay, số ít cao cấp ở Sài Gòn cùng vợ con họ đã dọt đi ra nước ngoài (từ khuya rồi anh ơi)! "Bản thân cao cấp và "vợ con cấp cao" cần bảo vệ an toàn, là chắc cú. Còn vợ con lính là "thứ loại" gì nhỉ? Hẳn là lâu lắm rồi khi vừa ra "thượng lệnh"; thì họ chỉ biết rũ bỏ sau lưng sự đau khổ tang thương cùng khó ấy: đành tâm bắt người khác âm thầm ở lại chịu trận, gánh gồnh gian nan, khổ đau. Đám sĩ quan hạ giới nầy nào có hay, thì lính tráng binh nhứt, binh nhì bẹt dem cùi bắp làm sao biết! Bây chừ đạn pháo nổ dậy khung trời vùng núi Lâm Viên! Tưởng chừng như hai phe “quốc nội” giàn quân ngoài mặt trận đánh nhau một phen chí tử. Thật tình phía Việt Nam Cộng Hoà "đã bị" có lệnh rút lui, bỏ ngỏ, chớ nào có thẳng thừng đánh đấm gì cho cam. Nếu đường hoàng sòng phẳng quân tử chính nhân, mà oai dũng chơi nhau một trận quyến liệt trên bàn cờ chiến cuộc, thì chưa chắc ai thắng ai à. Tức giận và uất ức điên người.
    Đài phát thanh Đà Lạt dấu nhẹm chuyện các nơi khác đã lo cho quân đội và dân triệt thoái, đài chỉ phát ra những mục bình thường tẻ lạt vớ vẩn, đài chẳng hề toan báo một tin tức thời sự nóng bỏng nào! lập ra đài phát thanh làm gì mà bi giờ quá vô tích sự, đài cũng chẳng tiếp vận đài phát thanh Sài Gòn như trước, cho người dân Đà Lạt được nghe dù vài giờ rất ngắn ngủi vào phút chót mong manh và hối hả. Từ đó đến nay đã ngót tháng ròng rã rồi, nhưng quân nhân thanh niên tráng niên vùng nầy không hề biết. Vì thế họ đã chưng hửng bàng hoàng, nên trở tay không kịp. Sau đó, Luật và “nhóm tình nghĩa tử thủ bất diệt" quyết giữ gìn quê hương ấy, mới biết tin cho quân nhân ở Đà Lạt triệt thoái chậm chạp, trể tràng; vì bị người ta dấu nhẹm, kín bưng. Chẳng đặng đừng... Luật đến toà Tỉnh Trưởng cùng các đại diện những phái đoàn: quân, cán chính, cảnh sát nổi, cảnh sát chìm, cảnh sát đặc biệt, xâm nhập, tham dự buổi họp đặc biệt thượng khẩn:
    Về việc triệt thoái được ấn định phân chia như sau: Tất cả quân nhân, sĩ quan và sinh viên sĩ quan toàn các khối ở trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam có số lượng người hùng hậu đông đúc, thì họ sẽ chỉ huy ở vòng ngoài, (kẹp đồng bào tuần tự đi ở hàng giữa, dân chúng là đội ngũ xô bồ lộn xộn không có súng ống, họ chỉ gánh gồnh đồ đạc cồng kềnh linh tinh...). Trường sĩ quan Võ Bị Đà Lạt sẽ dàn quân dọc hai bên quốc lộ 20, vừa từ từ rút, vừa giữ an ninh trật tự, bảo vệ tối đa cho đồng bảo tuần tự ra đi, bằng mọi giá họ cẩn thận chăm sóc giúp đỡ đồng bào đi về lối Phan Rang, đi Phan Thiết, v.v... Đồng thời trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt cũng là đoàn quân bọc hậu cuối cùng đành phải rời bỏ thành phố núi thân yêu. Cảnh sát, quân nhân các binh chủng khác sẽ cặp song song với trường Võ Bị vòng ngoài xa xa. Các cửa ngỏ hậu phương, kho lương thực, ngân hàng, ngân khố, quân trang quân cụ, khu nầy, sở nọ, ty kia mở toang hoang, kể cả nhà thường dân vắng chủ đều bị cướp bóc, đốt phá cháy rụi. Một phần do trước khi ra đi, những người có trách nhiệm với công sở của mình phải hủy diệt hồ sơ mật. Một phần do nhóm tự xưng là “cách mạng 75” khích động kẻ gian thừa nước đục thả câu, chúng mặc sức tha hồ thao túng, càn quét vơ vét tung hoành mọi mặt. Đà Lạt như rắn mất đầu, như đàn gà con mất mẹ. Tất cả mọi tầng lớp dân chúng di chuyển từ Đà Lạt xuống đèo Ngoạn Mục cao chất ngất và ngoằn ngoèo tới Sông Pha, rồi tới Phan Rang, dưới sự điều khiển của Đại-tá Quỳnh đều nhịp nhàng, ăn khớp, chu đáo, rất có trật tự lớp lang trước sau đều đặn an toàn.
    Cho đến khi xuống quá Phan Rang qua ngã Phan Thiết, thì an ninh trật tự không còn toàn vẹn như cũ. Bởi do Quân Đoàn II đã triệt thoái về hướng nầy rất đông, đông kinh khủng... dân quân từ trên hướng Pleiku, Bamethuot, Kontum về, và hướng Đà Lạt xuống, đã bất ngờ... "gặp nhau ở tụ điểm son đồng tâm"... nhiều đến nỗi không thể nào tưởng tượng. Tất cả mọi người đụng nhau tại đây. Khi đó thì quốc lộ chính đã tràn ngập người và người đông đúc, nhiều vô số kể! Hiện trạng bấy giờ đã lộn xộn kinh khủng rất bàng hoàng. Thế là "những người Đà Lạt cuối cùng bị vỡ tổ tan hàng" từ đó. Luật coi quân đội là một tổ ấm lý tưởng quan trọng linh thiêng quý giá, vô cùng cần thiết; vì đó là nơi an tựa vững vàng trong đời sống của người trai có lý tưởng, có hoài bão có lập trường trong thời loạn. Tổ quốc uy linh ấy, dường như Luật muốn ví là một tổ ấm mật thiết, quan trọng không kém gì gia đình riêng mình nơi đã có mẹ già thân yêu, có vợ hiền con ngoan. Nhưng hôm nay cái tổ ấm quốc gia linh thiêng ấy sụp đỗ rồi chăng? Nghĩ tới điều đó, Luật đã bật khóc, khiến bạn đi cùng xe ái ngại và sửng sốt đăm đăm ngoái nhìn, họ thì-thầm:
    - Có lẽ anh ta đau buồn chuyện riêng tư tang gia bối rối gì đây.
    Gần tới vòng ngoài ven biên của tỉnh thành Phan Thiết đầy bụi bặm và gió cát thổi vù vù, bỗng có nhiều tràng súng từ đoàn xe sau ria xẹt tới phía hai chiếc xe ngân khố (không biết xe tiền ấy của nơi nào, Tỉnh Kontum, Pleiku, Ba Mê Thuột, hoặc Thị-xã Đà Lạt?). Xe chở những bao bố tiền to khổng lồ, tiền ơi là tiền rơi kín một góc trời, bay tá lã theo gió lồng lộng như đàn bươm bướm chập chờn trên không trung. Khi đó thì... không thể nào diễn tả nỗi cảnh kinh dị lúc mọi người khum xuống lượm tiền dưới cơn mưa chì bão lửa, nơi xe cộ gầm rú. Cảnh thương tật, khóc than, la mắng, chết chóc, lẫn trong tiếng súng đạn gầm rú xa gần, khiến mọi người bị hút vào điệu quay chóng mặt, bàng hoàng đến rợn người. Luật ngồi trên xe thấy những pha cướp giật, hò hét, chưởi rủa, đánh đập nhau dã man trắng trợn ven đường... tùm lum. Luật cảm thấy chua xót đắng cay, nhục là ở chỗ đó, tệ là ở chỗ đó, đau quặn thắt lòng ở chỗ khúc ruột thừa.
    Luật cùng mười anh khác bảo nhau nên thay bộ đồ tác chiến, mặc đồ dân sự vẫn cầm theo trong túi xách mấy hôm nay, để dễ bề đi đứng, anh vất bỏ hết tất cả lon lá mũ mão hành trang rối rắm trên đầu, trên vai. Luật mang đôi giày ba ta cũ, mặc thêm áo lạnh, nhét mấy trăm ngàn vô túi quần jean, một chiếc đồng hồ Omega, chiếc nhẫn cưới, sợi dây chuyền, cái nón lưỡi trai đội đầu, một khẩu súng lục mang kè kè bên nách, để phòng thân. Nhóm Luật là những người lính chiến đấu dũng cảm cuối cùng đau đớn chối bỏ mình là quân nhân, anh cảm thấy dày vò tột độ khi tự tay lột bộ áo quần nhà binh lon lá khi lìa quân ngũ, bỏ đơn vị, xót xa, chua cay, bàng hoàng ngao ngán tự lo cứu chính bản thân trong cơn biến loạn ngặt nghèo lâm nguy, hấp hối.
    Lúc bây giờ không có người chỉ huy, thì nhóm quan cũng như lính có nhiều ý kiến, ý cò, tự vạch ra cho mình con đường sống mới. Mạnh ai nấy dọt, họ luống cuống, hốt hoảng băng đèo vượt đồi cát chạy tan tác. Không còn cảnh tình đồng đội keo sơn như cá với nước, như cây cần đất, cần rễ bám vào đất cho cây liền cành. Mà thân ai nấy lo, hồn ai nấy giữ, mạnh ai nấy chạy thiếu sống bán chết, tự lo thoát thân. Họ đi chuyền từng đoạn xe đò, xe tải, xe GMC hết xăng, họ chạy bộ chen lấn nhau xéo bước, họ thở dồn dập, gò lưng chạy thục mạng từng đoạn ngắn, người chạy đi kẻ chạy lại, người đi lánh cư đông kinh khủng bất ngờ gặp gỡ nhau giữa trùng trùng lớp lớp, trên bước đường chạy loạn những kẻ sống còn mong vượt qua gian nguy khổ ải.
    Rồi nhóm Luật đã bị lạc mất nhau. Ngày chạy bộ với những người dân tay xách tay mang đùm đề vợ con, chân thấp chân cao khổ ải mệt nhoài đến những nơi lạ cái lạ nước chưa bao giờ anh biết tới. Đêm đêm ngủ với người thoi thóp, nằm với những xác chết cứng đơ giữa đồng không mông quạnh. Luật mong tìm làn hơi ấm bên người lân cận, hầu hổ trợ an ủi tinh thần, nương nhờ lẫn nhau. Nào ngờ, khi hoàn hồn, bừng mở mắt ra ngoảnh nhìn lại rờ mó người bên cạnh, anh mới biết đó chỉ là những thây ma. Luật mệt lả người phải bật dậy vội vã ra đi, vì sợ và cảm thấy bơ vơ lạc lõng hơn vì đói, khát. Phải! Giữa cảnh màn trời chiếu đất, trong tay những người dân không có một cây que để phòng thân tự vệ. Mà cuộc sống vẫn vô cùng mong manh và hối hả. Con người phút chốc trở thành da bọc xương, bối rối, ngơ ngơ ngáo ngáo, ngố ngố ngờ nghệch. Nhìn họ, anh không khỏi nghẹn ngào bàng hoàng xúc động và cảm thấy họ rất đáng thương. Nhìn thấy đồng bào di tản đông đúc ngược xuôi bần thần như kẻ mất hồn, Luật luôn bồn chồn lo lắng nghĩ tới mẹ, vợ và các con, chẳng biết bây giờ họ ra sao? lưu lạc phương nào rồi! Ngày đêm Luật vẫn cầu nguyện cho gia đình mình, và cả những người đang chạy loạn được bình an toàn vẹn.
    Anh chưa biết mò mò đi đâu, đầu óc trống rỗng và không tri thức giữa những nấm mồ đắp sơ sài tươi màu đất mới. Màn đêm tiếp nối bóng tối và đồng lỏa với mọi tội ác. Đã thế, đêm đêm từng đàn chó hoang ốm đói, chúng tong teo gầm gừ cắn xé nhau tranh giành xương cốt, thi thể thối nát của người di tản nào đó. Thì chó cũng biết đói như con người, càng đói chúng càng ôm quắp thây người mà nhai ngấu nghiến. Luật nghe tiếng kêu rào rạo từ mấy thây ma cứng đơ thum thủm. Bầy chó nhe răng tru hú lên từng hồi hoang dại, thiệt dã man. Luật cảm thấy rợn tóc gáy nôn oẹ nhớt dãi, khi đối mặt với tận cùng bi thiết thảm sầu, cay cực, chiến tranh tàn ác đã lột da con người vô cùng trần trụi, thô thiển đến tận xương tủy, những vết thương hoác miệng từ dĩ vãng, hiện tại, có thể trong tương lai đã để lại trong lòng Luật những vết thương nóng sốt sôi bỏng, bừng bừng nhói buốt rung lên từng cơn quặn thắt, anh cảm thấy bị đau khủng khiếp, nhưng chẳng biết nó đau mà bắt nguồn đau từ chỗ nào, ở đâu. Luật đang nằm thẳng đơ mất hết ý niệm về không gian lẫn thời gian bên mấy người chết kia, quả thật bây giờ trông mình vô cảm vô hồn thiệt giống xác chết. Giữa lúc khốn đốn đau buồn chán nãn và tuyệt vọng nhứt, Luật nghe có tiếng người ngồi trong bóng tối rù rì gì đó, có lẽ họ ở đâu vừa mới đến đây thôi. Luật uể oải hé mở mắt ra nhìn quanh, thì nghe họ nói với nhau:
    - Mình vô Tiểu Khu, may ra còn có xe chạy về Nha Trang chăng?
    - Ông ơi! biết đâu ở ngoải cũng bị mất rồi.
    - Còn nước còn tát, chưa đi làm sao biết.
    - Nhưng ra Nha Trang... có phải là mình lại đi xa hơn... nữa à?
    - Phải đi ra hướng ấy thôi.
    - Ông điên à? từ Phan Thiết về Sài Gòn gần hơn.
    - Không nghe hồi nãy dân họ nói đường bộ đi Long Khánh gần như tiêu rồi sao!?
    Hai người đó im lặng một lúc, có tiếng nói tiếp:
    - Vậy nên đi Nha Trang, ở đó có tàu, thuyền, hoặc máy bay. Tôi có bà con ở đó.
    Luật vui mừng như đã gặp đồng hương, anh ngồi bật dậy:
    - Anh bạn nói phải.
    Hai người đàn ông kia sửng sốt giật mình, toan đứng lên vùng chạy, vì họ nghĩ Luật là một người lạ, có thể là "dân cướp cạn" cũng nên. Luật bò bò qua bên kia góc tối trong căn nhà hoang, thì ra anh nhận diện được một người quen sơ giao trong lúc đoàn quân Đà Lạt triệt thoát. Thế là ba người đàn ông chạy vô Tiểu khu, cũng may họ xin đi ké xe GMC ra Nha Trang. Tới Nha Trang, trước tiên Luật ghé qua nhà Oanh, thì anh rất vui mừng được biết mẹ, vợ con mình đã an toàn lên máy bay vô Sài Gòn rồi. Luật hỏi tại sao Oanh và gia đình không di tản? Oanh trả lời: "Không thể đi đâu hết, vì ở nhà còn ông bà ngoại già hơn 90t, còn cha mẹ... không biết bỏ nhà cửa mà đi đâu!" Oanh gói cho Luật một bịch xôi đậu xanh to, chai nước lọc. Luật e ngại cầm mà bùi ngùi bỏ trong túi xách nhỏ.
    Hai ông bạn mới quen đứng bên góc đường Hồng Bàng chờ Luật giây lát. Thấy nhau rồi, họ đi từ nhà Oanh ra mé biển chưa đầy năm phút. Thành phố Nha Trang càng đông người kinh khủng. Quan sát khắp nơi, biết tình trạng nầy nếu chờ tàu lớn, hoặc máy bay quân sự hay dân sự gì cũng không xong, bàn tính với nhau hồi lâu, họ quyết định thuê ghe buôn của thường dân đi vô Vũng Tàu, cho chắc ăn. Ba người đi rảo quanh bãi biển Nha Trang tìm thêm người nào có thể chung nhau tiền lộ phí. Thế là lại rủ thêm được mấy người nữa, sau đó họ ra xóm Bóng mướn ghe đánh cá nhỏ đang chuẩn bị chuyển hàng về Bà Rịa hôm nay. Đi Bà Rịa tốt hơn nữa, miễn sao về gần thủ đô là mừng. Mặc cả giá tiền cho tám người đàn ông cũ và mới chung chuyến đi, ai nấy tự động móc tiền túi ra đóng cho chủ ghe xong xuôi, họ mừng rỡ lên ghe. Đúng là may mắn!
    Sợ chủ ghe ra đi bất ngờ, nên không có ai kịp mua gì phòng hờ, may mà có chai nước và bọc xôi đậu xanh chắm muối mè Oanh đưa cho Luật, anh lấy ra chia cho tám người đồng hành, mỗi người chỉ nhón một ít xôi cỡ bằng trái chanh mà e dè ăn ngấu nghiến. Họ còn đói, (nhất là Luật đã chưa có hột cơm nào từ hơn hai ngày qua) và khát kinh khủng, nhưng tám người bó tay chịu trận. Trên ghe bây giờ cộng thêm cha con chủ ghe ba người, thì có tất cả mười một người đàn ông. Khi ghe đã êm ái bình an ra khỏi cửa biển Nha Trang, lướt xuôi về hướng Phan Rí cửa, qua Hàm Thuận Bắc, Bình Lâm rồi tới gần Mũi Né khoảng 20 hải lý, thì chủ ghe dỡ chứng trở quẻ viện cớ:
    - Tui sợ ngoải cũng lộn xộn, chẳng ai mua hàng, tui muốn quay ghe về Nha Trang.
    Mọi người chưng hửng! Đức, người đi trong nhóm nói:
    - Ông giỡn chơi à! Ông muốn gì?... Nói.
    - Tui e không đủ xăng chạy tới bển.
    Tâm cười gằn:
    - Muốn chúng tôi đóng thêm tiền, để ông mua xăng chớ gì?
    - Phải.
    Mấy người đàn ông thuê bao ghe nhìn nhau, rất bực tức giận dữ, nhưng "đã lỡ đò rồi"... họ hí húi móc tiền ra, kẻ nhiều người ít, gom tất cả thêm 254.000 ngàn đồng nữa, nộp cho chủ ghe. Vậy mà tên nầy vẫn không chịu. Bình (là người quen đã đi chung với Luật từ Đà Lạt) định móc tiền ở túi kia, để "dâng" cho tên chủ ghe. Nhưng Luật ngăn lại, thì-thầm bằng tiếng Anh với mấy bạn vừa quen:
    - Anh điên à. Từ đây đến Sài Gòn... còn nhiều đoạn phải có tiền chi trả, chớ vàng thì không ai muốn... vì họ sợ vàng giả. Để đó.
    Luật lột đồng hồ Omega, để xuống sàn, anh lấy lại đống tiền các abh kia vừa để trên sàn ghe, ai nộp bao nhiêu tiền, thì Luật đưa trả lại cho họ xong xuôi. Luật móc củ súng colt 45 đeo ở nách ra, cầm lên:
    - Chúng tôi mặc cả sòng phẳng và rõ ràng với ông, đã chung tiền rồi, còn hào phóng tặng thêm cho ông rất nhiều, hơn số tiền ông định giá. Từng ấy... chưa hài lòng sao? Thế thì, bây giờ chúng tôi cần số tiền ấy làm lộ phí khi rời khỏi ghe ông, ông có muốn nhận thêm chiếc đồng hồ Omega có sợi dây vàng 18K ba lượng, hoặc là ông thích nhận khẩu súng lục có những viên đạn thật nầy, mới hả dạ. Hở?
    Tất nhiên... tên "cướp cạn" kia không thể ngờ là trong người Luật còn có "củ súng chết người" bị cái áo lạnh che phủ bên ngoài. Hắn lại len lén lấm lét nhìn sợi dây chuyền rung rinh lắc lư lủng lẳng trên bờ ngực trần của Luật, mà thèm... ứa nước miếng.
    Thanh nói như hét:
    - Ông là một thằng hèn hạ, không có tình đồng loại, bộ ông muốn chết tiệt vì hám của hả!
    Đức nhếch mép:
    - Hãy cám ơn Trời cứu mạng, khi ông may mắn gặp những quân nhân như chúng tôi nhe.
    Chủ ghe không dám nhìn ai mà cúi cúi liếc liếc, riu ríu len lén run run lượm cái đồng hồ, theo lệnh của Luật:
    - Anh phải cầm lấy chiếc đồng hồ của tôi, giữ làm kỷ niệm, mà nhớ đời. Nha.
    *
    Tình Hoài Hương
    Last edited by Tinh Hoai Huong; 04-14-2020, 04:13 AM.
    Bút trần nào tả được lưu luyến!
    Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
    Tình Hoài Hương

    Comment


    • Những Ngày Loạn Ly Trong Tháng Tư

      Những Ngày Loạn Ly Trong Tháng Tư
      Tình Hoài Hương
      *

      Khổng Tử đã nói:
      "Kẻ sĩ lo trước cái lo của thiên hạ. Vui sau cái vui của thiên hạ”.
      Cũng như cổ nhân Nguyễn Trường Tộ đã nói:
      “Nhất thất túc thành thiên cổ hận.
      Tái hồi đầu thị bách niên thân”.
      (Một bước lỡ để nghìn năm mang hận.
      Ngoảnh đầu trông lại đã trăm năm).

      Quả thực như vậy. Những người lính oằn vai nặng gánh, lưng gồnh mối thù oan nghiệt từ phân chia hai miền Bắc - Nam; buộc họ phải làm viên gạch lót đường cho danh vọng, tham tàn, bạo lực: Nay người lính đem xương máu ra chiến trường đã là, đang là… vẫn là những viên gạch lót đường, dài dài… từ vĩ tuyến 17, nơi con sông Bến Hải có cầu Hiền Lương nghẹn ngào đớn đau phân giới hai miền Nam, Bắc của nước Việt Nam “con rồng cháu tiên”. Họ quyết ở lại miền Nam Việt Nam dựng nước và giữ nước. Một thời gắn bó keo sơn, mặc dù biết mình vô tình làm ván bài mưu lược chính trị sục sôi. Họ vẫn chia nhau ra trấn giữ đất nước, cố duy trì sự tồn-hưng một quốc gia trong thời chiến tranh: Giống như Mã Viện xưa đã nói:
      - “Làm trai, nên chết ở chốn biên thùy, lấy da ngựa bọc thây mà chôn, mới đáng qúy. Chớ chết trong tay lũ trẻ nâng đỡ. Nào có hay gì"!
      Phân chia là thế! Nhưng lòng yêu nước thiết tha, lý tưởng, lập trường và hoài bão mong ước tự do an bình, ấm no cho toàn dân, thì “Quan, Tướng và Lính” đều có ước vọng, lập trường kiên định và hoài bão giống nhau. Hôm nay nếu trải qua chung cuộc ngậm ngùi trong cơn xoáy đục ngầu, tưởng đã chia phần đều nhau: là vậy. Ngày đêm kề cận sự chết, chiến tranh tàn khốc xảy ra trên từng đoạn đường giao tranh, trên những bước ngắn bước dài, bước thấp bước cao. Lòng lính càng quặn từng cơn đau buốt, khi họ đi kè kè hai bên lề đường: để hộ tống từng đoàn dân di tản tất tả chạy dọc theo ven những quốc lộ trên triền dốc quê hương Việt Nam thân yêu. Bỗng dưng tình hình chính trị quyết liệt căng thẳng, vận nước đột biến cuồng loạn từ góc 45/o, chỉ trong vài ba tuần ngắn ngủi, vụt nhảy tọt lên 360/o mau như chớp. Khiến tôi vô cùng hoang mang, bàng hoàng sửng sốt, lo lắng, buồn phiền, bối rối tột cùng, trở lui mắc núi, đi tới mắc sông, xoay quanh mắc vòng lẩn quẩn đủ mọi thủ thuật rối rắm. Sau 21 giờ thì thiết quân luật bắt đầu 100%, màn đêm đã sớm về cho đến khi khuya lắc khuya lơ, chúng tôi vẫn đứng thấp thỏm, thập thò từ trong cửa sổ ở phòng ngủ Hotel Hưng Đạo 2 đã tắt hết đèn đóm, tôi nhìn xuống đại lộ Trần Hưng Đạo, thì thấy lố nhố hàng hàng lớp lớp lính tráng: Tôi âm thầm quan sát “những tình thương và sự hy sinh cao cả bên lề cuộc sống”: Nào là: Thủy-quân Lục-chiến. Nhảy Dù. Biệt Động Quân. Bộ-Binh, vân vân... (không kể đã có ba Lữ đoàn Dù. Ba Liên đoàn Biệt Động Quân đóng tại Hóc Môn. Gò Vấp. Bình Chánh. Nhà Bè. Tân Sơn Nhứt).
      Quân đội đã đặt những ụ súng cối, súng máy, do các chiến hữu Sư-đoàn 5 – 18 – 22 – 25, ngỏ hầu chu tất việc bảo vệ an toàn lãnh thổ Việt Nam, Thủ-đô Sài Gòn, và lương dân vô tội. Cứ một giờ, tốp lính nầy đến gác, là tốp kia lầm lũi âm thầm ra đi... Báng súng dài dựng dưới mặt đường nhựa những mũi súng chụm vô nhau chỉa lên trời. Họ nói rất khẽ hay chỉ lặng lẽ ra hiệu lệnh, những quân nhân Quân-lực Việt Nam Cộng Hòa đã và đang anh dũng quyết chiến đấu, hy sinh đến giờ phút cuối cùng. Súng lại đeo lên vai nòng chĩa xuống đất, họ lặng lẽ và tuyệt đối vâng lời thượng cấp, từ từ rút lui có quy củ, trật tự tôn nghiêm trong hàng quân ngũ. Họ nhìn nhau lặng lẽ nhếch miệng cười qua cái bắt tay giã từ vừa đủ chặt, dường như họ âm thầm nói lên niềm đắng cay trào dâng trên sóng mắt tiếc thương, quặn đau trong lòng họ sự hy sinh vô vụ lợi, không điều kiện nay trở thành vô nghĩa. Từng tốp lính nhiều vô số nằm gối đầu trên vĩa hè, tay gác lên trán tư lự, rải rác đó đây có người đứng hoặc ngồi bên đường. Dù ở trên vĩa hè, quân nhân đều có trật tự, kỷ cương. Họ chia nhau ra canh giữ quê hương trong giờ phút lâm nguy khốn cùng. Những đóm lửa nhỏ lập loè loé lên trên bờ môi khô, những đôi mắt dường như đọng ngấn lệ tủi hận đầy bi ai. Có người mặc áo giáp, đăm chiêu suy tư, bơ phờ, hốc hác. Có người hất ngược mũ sắt ra sau gáy, sợi quai mũ cứa vô cục yết hầu oan gia nhô cao cay đắng chạy lên chạy xuống cuống cổ. Có người đội mũ sụp che xuống gần mí mắt. Có người đội mũ lệch qua một bên. Họ mang giày đinh lấm lem bụi đỏ, lưng đeo ba lô nặng trĩu đường hành quân, râu ria lởm chởm, tóc tai không mấy chỉnh tề. Những bàn tay anh tài vẫn đưa lên ngang tầm mắt, nghiêm nghị đứng thẳng, ngực ưỡn ra oai vệ khi chào thượng cấp.
      Sài Gòn vẫn chóa mắt vì đèn điện thắp sáng rực thâu đêm. Tiết trời quang rạng, gió hiu hiu nhè nhẹ phe phẩy mơn man trên đầu cây ngọn cỏ, không gian se lạnh khi màn sương nhợt nhòa buông lơi. Rồi bình minh ló dạng sau những toà cao ốc tráng lệ, oai sang đứng sừng sững trên các thổ cư luôn rạng danh là “Hòn Ngọc Viễn Đông”. Tôi sống tạm bợ nơi Sài Gòn xa hoa, nhộn nhịp, và lắm xô bồ trong những ngày trung tuần tháng 4 năm 1975 với ngàn lo âu, run sợ hãi hùng đầy cay đắng, băn khoăn lo lắng trăm mối tơ vò. Tin dữ loan ra thì có, tin lành về lại không. Nhìn xuống lòng đại lộ từ khách sạn Hưng Đạo 2, tôi càng run rẩy nghĩ rằng: “Trận chiến nầy, hẳn là sẽ đến hồi quyết liệt để giành thắng. Nay mai sẽ có giao tranh trên cùng khắp các nẽo đường. Chạy đi đâu cho thoát ra khỏi con ngỏ sâu hun hút, đầy đạn bom đây! Hở Trời!? Tôi vô cùng hối hận khi đưa gia đình về đô thành. Chạy đi đâu, cũng không thể thoát khỏi nanh vuốt bạo tàn khi kẻ ác gieo tang thương cùng khắp. Thì thà rằng cứ ở yên lại Đà Lạt, có lẽ gia đình tôi không đến nỗi nào khổ sở đến thế”!
      Trên những con đường lớn nhỏ tại Sài Gòn đều đông nghẹt người đi bộ, người ta đông hơn kiến tràn ra ngoài lòng lề đường, chen lấn nhau đi kẹt cứng. Mặc cho từng hàng xe hơi đủ loại, xe gắn máy, xe đạp, xe xích lô, xe ba gác vân vân… chồng chất đủ mọi thứ lỉnh kỉnh lên xe. Họ ùn ùn hối hả đi đi, về về! Đi đâu?! Về đâu?! Hầu hết các doanh trại ven đô, các công sở mỏ, và nhà thường dân lo đào hầm hố cá nhân. Những đại công ty sở và cao ốc, cũng như ngoài những đại lộ, gần trung tâm Sài Gòn đều ráo riết chuẩn bị. Mặc dù các bạn trong nhóm cuả tôi có nhiều sáng kiến, có nhận thức thời cuộc chính xác và quyết định đúng đắn, nhưng dẫu sao họ ở nơi xứ lạ quê người ồn ào náo nhiệt, tột cùng hổn loạn thế nầy, năm anh ấy giống chú khỉ bị nhốt trong chuồng kín ở hotel Hưng Đạo 2: dù lòng và trí nóng như lò lửa, thì ai có tài giỏi đến mấy cũng không biết đâu mà mò. Tuần trước, họ chờ đợi bầy trẻ nhỏ ngủ yên, liền khều mấy bà qua phòng tôi bàn tính chuyện lủi xuống miền Tây. Vì, nghe nói tại miền Tây bây giờ hoàn toàn bình yên tĩnh mịch. Ngọc đã cho ba của anh đi xuống miền Tây dò đường đi nước bước trước, nếu thấy tình hình bất ổn, thì ông lo tìm đường đi ra Phú Quốc. Ngọc sẽ đưa thê tử, và “hò” bạn bè cùng nhau dứt khoát ra đi, khi thấy Quân-lực Việt Nam Cộng Hòa đã triệt thoái hết về miền Nam, thì ở miền Tây ắt sẽ là nơi vững chắc còn đứng vững như đinh đóng cột.
      Hầu như cánh phụ nữ thức suốt đêm để may những túi vải nhỏ có dây đeo trên vai cho mọi người, trong đó đựng vài bộ áo quần, giấy tờ tuỳ thân. Bốn giờ khuya chị Ngọc và tôi dậy nấu nước sôi, chờ nguội là đổ vô năm chai ni lông to. Tôi nấu ba lít gạo, rang đậu phụng làm muối mè. Chị Ngọc nấu canh mì gói trộn chung với rau muống, và chiên khô cá. Cơm chín, hai chị em lấy khăn ướt mỏng nhồi cơm nóng thành từng nắm cơm vắt, xắt lát vừa vừa, tôi bỏ cơm vô hộp ni lông mang theo cho mọi người ăn ở dọc đường. Tôi gọi bọn trẻ dậy sớm, cho con cháu ăn chút canh mì gói. Các con cháu còn ngái ngủ, nên chúng ăn rất uể oải. Có lẽ do hôm qua đi bộ nguyên ngày giữa trời mưa, rồi trời nắng chang chang nóng như thiêu đốt, nên bọn trẻ thấm mệt, rã rời, lừ đừ thân xác chăng? Sau đó phụ nữ quét dọn, rửa chén bát nồi niêu sạch sẽ, bỏ vô mấy cái bao cói (hôm trước ông bà trùm đã cho quà). Cô Quy và tôi xách mấy giỏ mùng, quần áo linh tinh đem đi gởi nhờ ở nhà bà từ, xin nhờ bà cất dùm. Bà từ nói:
      - Chị cứ để ở bên vĩa hè, không có ai lấy lầm đâu”.
      Chúng tôi ra đi. Luật một tay dắt bé Bi, tay kia anh xách giỏ cơm vắt, muối mè, khô cá. Bà mẹ Luật mang túi vải bỏ thêm hai chai nước. Tôi bế bé Tồ, một khuỷu tay kia móc thêm hai túi xách quần áo (của tôi và bé Tồ). Năm gia đình bạn thân là: gia đình tôi, Ngọc. Quy. Cúc. Anh Bàn (thất lạc vợ con, chỉ đi một mình); cùng nhập với hai gia đình mới quen là Phương, Tâm; tất cả hăng hái nôn nao lên đường. Chúng tôi lặc lè đến trạm xe Sài Gòn, kịp lúc có chừng ba chiếc xe bus từ các hướng đi khác nhau, vừa trờ tới. Các anh mau lẹ lùa đám trẻ, đàn bà, lên xe bus đi ra Xa Cảng. Trên xe bus bây giờ lác đác có bốn người khách. Nhóm chúng tôi ngồi sát gần nhau, người lớn cho trẻ con ngồi trên đùi mình yên ổn xong. Nhìn lui nhìn tới chỉ thoáng chốc thì người và người ở đâu túa lên đông nghẹt, chỉ có người lên xe, không có người bước xuống. Hai hàng ghế kín mít không còn chỗ ngồi, hành khách đứng chật cứng trên lối đi lại. Thật là may, nếu chỉ chậm trể mươi phút nữa, kể như nhóm chúng tôi không bao giờ chen chân lên xe bus nỗi.
      Quang cảnh tại bến Xa Cảng miền Tây lúc tửng bưng sáng vô cùng náo nhiệt, hổn độn kinh khủng. Những trạm bán vé đông nghẹt người chen lấn ồn ào hơn vỡ chợ. Thế là nạn ăn trộm, cướp bóc, giật giỏ xách, móc túi, bấm dây chuyền, giựt bông tai, bốc hốt, mò mẫm bóp vú... loạn xạ. Dưới đất thì bọn du thủ du thực rượt đuổi nhau huyên náo, đánh lộn, chưởi bới inh ỏi cả một góc đường. Đàn bà trẻ con nhóm tôi ngồi chò hỏ xép nép ở một góc kín sát ngoài cửa bến, gần bức tường gạch, (tạo thành một vòng đai tròn sát bên nhau, cho bọn trẻ con ngồi ở giữa), các con cháu đứa ngồi đứa nằm gối đầu lên những túi đồ đạc hèn mang theo. Những người khách đi tới đi lui tò mò đứng lại lỏ mắt nhìn ngó lom lom bầy trẻ bị cái nóng Sài Gòn thiêu đốt, khiến mồ hôi chảy ra như tắm. Mặt mày con trẻ xứ Đà Lạt đa số xinh xắn, hai má đỏ au như dồi phấn, mắt to sáng môi tươi (tuy suốt hai tháng nay bọn chúng sống lăn lóc, cực khổ, cù bơ cù bất, thiếu ăn thiếu ngủ, mà còn xinh như vậy!). Nhìn những đôi mắt phượng long lanh phảng phất mặt hồ thu Đà Lạt mơ màng, hai gò má phinh phính nõn nà màu hồng phấn của các cháu bé, khiến ai cũng thèm cắn một cái ghê! Họ trầm trồ khen bầy nhỏ xinh đẹp là phải! Chúng tôi giữ bọn trẻ chằng chằng, chỉ sợ mình sơ ý, bọn trẻ sẽ bị lạc hoặc bị bắt cóc, thì chết!
      Bà sương phụ bán vé háy một cái thiệt dài, oang oang nói:
      - Đoàn xe chờ đợi lấy tài, bi giờ “hết vé” rồi!!!
      Mới tửng bưng sáng mà “hết vé” sao? Úi Trời! Cả nhóm bàn nhau nên ngủ đêm tại đây. Nếu quay trở về nhà thờ Huyện Sỹ, cả “bầu đoàn thê tử” đùm đề lôi thôi lốc thốc nheo nhóc người già yếu đuối đau ốm, lụ khụ, thì quá bất tiện. E rằng ngày mai chúng tôi không thể đến đây, không thể chen chân với hành khách để leo lên xe bus đi về Xa Cảng, chớ nói gì đi miền Tây!? Quyết định như thế thật đúng. Mấy ông trong nhóm tôi cứ kiên nhẫn đứng xếp hàng chờ đợi mua vé mỏi rã rời chân từ chín giờ sáng, mà mãi tới bảy giờ tối mới mua được vé xe đi Rạch Giá cho ngày mai. Do bao nhiêu vé đều tộn ra ngoài bán giá chợ đen chả sợ bể mánh bể mung giữa chợ đời bát nháo! Mém chút nữa thì chả còn vé để mua. Nhóm phụ nữ yên ổn ngồi trong lòng xe đò cũ kỹ chật như nêm xong, còn đa số đàn ông phải leo lên ngồi trên mui xe, chẳng thể phản đối càu nhàu cằn nhằn la mắng gì! Ai có vé mà không chịu đi chuyến nầy, thì chủ xe lập tức hoàn trả tiền vé lại cho cố chủ. Sẽ có người khác (không ngủ qua đêm ở trạm bán vé) vui vẻ mua vé chợ đen cao gấp năm bảy lần tiền vé chính thức. Sao không ham. Tự mình cần đi đây đó, chớ ai bắt. Thế nên lớp trai tráng ép bụng chịu thiệt thòi ngồi bó gối lắt lẻo phơi đầu ngoài trời mưa tầm tã, hoặc trời nắng chang chang. Cũng đành!
      Ông tài xế bảo tất cả ông bà già và trẻ con thì được ngồi trên xe, còn mọi người khỏe mạnh phải đi bộ xuống phà Bắc Mỹ Thuận. Cô Cúc mua cho nhóm mỗi người một trứng vịt lộn ủ ở rổ trấu nóng hổi. Các con tôi thấy con vịt chết nằm trong quả trứng, thì quá sợ lắc đầu lia lịa không dám ăn. Tôi mua cho cả nhóm bánh mì thịt, trái cây đủ loại, nào là mận, đào, chôm chôm. Bánh trái, kẹo mứt bán nhiều vô số; mà thật rẻ. Thú vị nhất là các em bé bán chim cút lanh lẹ vui vẻ rao hàng:
      . . . Ăn chim em đi anh.
      Nè chim em mập lắm.
      Nè chim em ít lông.
      Chim em vừa mới lớn.
      Anh ăn chim em không.
      Chim em toàn những nạc.
      Chim em chẳng có xương.
      Anh rờ đi: toàn thịt.
      Lại to hơn chim thường.
      Ừ, chim em bự lắm.
      (1)
      Đoàn xe lại bon bon lên đường xuôi về hướng Rạch Giá. Trùng dương sóng vỗ mênh mông, bạt ngàn nước cuồn cuộn nhấp nhô bên mạn phà to tướng, êm êm. Lần đầu tiên xuôi về miền Nam phồn vinh trù phú, tôi cứ tưởng chỉ có phà Bắc Mỹ Thuận là to lớn sầm uất thôi. Nào dè, một lần nữa tài xế gọi mọi người xuống xe, để qua phà, thì tôi càng sửng sốt mở rộng tầm mắt nhìn phà bắc Cần Thơ bao la, bát ngát, mênh mông sông nước rộng kinh khủng! Bờ nầy và bờ kia xa tít mờ xa ngàn trùng. Đúng là:
      “đi cho biết đó biết đây.
      Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn”
      .
      Đặc sản nổi tiếng nhứt vùng nầy là “bưởi Năm Roi” múi to nhiều nước và ngọt lịm. “vú sữa Lò Rèn” vỏ mỏng hột nhỏ, khi trái vú sữa chín thì vỏ giống màu cẩm thạch, ruột trắng sữa. Có “dừa Sáp Cầu Kè” nhiều nước ngọt lịm. Mít ruột đỏ múi dày giòn thơm ngon, cả “dưa Bồn Bồn”. Vân vân… như câu ca dao:
      Bánh tráng Mỹ Lồng. Bánh phồng Sơn Đốc.
      Măng cụt Hàm Luông.
      Vỏ ngoài nâu trong trắng như bông gòn.
      Anh đây nói thiệt sao em còn so đo!
      (2)
      Ôi! Bao nhiêu quà bánh đặc sản tươi rói ngon lành ở miền quê đều tập trung ở hai bến phà đông đúc, vui vẻ nhộn nhịp, tưng bừng nầy. Chị em chúng tôi chọn mỗi người mua một loại trái cây khác nhau, để mọi người trong đoàn ăn nếm, cho biết vị ngon của lạ trên quê hương:
      Bến Tre giàu mía Mỏ Cày.
      Giàu nghiêu Thạnh Phú, giàu xoài Cái Mơn.
      Bến Tre biển cá sông tôm.
      Ba Trì muối mặn Giồng Trôm lúa vàng.
      Biên Hòa có bưởi Thanh Trà.
      Thủ Đức nem nướng Điện Bà Tây Ninh
      . (2)
      Xe vun vút chạy qua bao nhiêu cầu, bao nhiêu phố xá, ruộng lúa vừa gặt xong còn trơ cuống rạ, vô số chim, cò, diệt, le le… bay thẳng cánh ngút ngàn. Vườn tượt kinh rạch làng mạc sông nước hai bên chập chùng. Quê hương mình muôn màu muôn sắc, mỗi nơi có một vẻ đẹp tuyệt vời riêng với mạng lưới kênh rạch chằng chịt. Trên ghe thuyền thương hồ mái chèo tung tăng quẫy nước, vẵng tiếng hò câu ca vọng cổ đó đây, chen lẫn với những cây đàn cò, đàn guitar cùng tiếng trống bập bùng, rộn rịp, bồng bềnh, nhấp nhô trôi theo ghe thuyền sông nước mây trời. Đặt biệt miền Tây có sông chợ nổi lớn và các mặt hàng hóa treo lên một cây sào cao, hoặc bỏ trong nhiều giỏ cần xế to. Nào là Chợ nổi Cái Răng Cần Thơ, chợ nổi Phụng Hiệp bán rùa, chim, sóc, kỳ đà… rắn đủ loại quanh năm, chợ nầy rất lớn là nơi tuyệt vời đầy đủ các thứ nhất, và chợ nổi Cái Bè. Những chợ nổi ở miền Nam... ôi bán mua bạt ngàn đủ loại trái cây, dừa, dưa hấu, gạo củi, rau, tôm cá, áo quần, mùng mền gối chiếu, kể cả các mặt hàng ăn uống nhậu nhẹt như: Bánh cuốn, phở gà, cháo vịt, cơm, bún, vân vân... và vân vân... đều được bán trên sông ròng nước lớn.
      Lòng tôi cảm thấy nao nao cảm xúc ngọt ngào, dịu nhẹ, lâng lâng, dạt dào, ngẩn ngơ. Hạnh phúc lang thang trong lòng tôi rót tơ vàng trôi theo dáng hoàng hôn hây hây, lung linh, huyền ảo với sóng trường giang rộn ràng đập bên mạn thuyền luyến thương bâng khuâng nhiều thao thức. Cảnh vật huyên náo vui nhộn không kém phần đặc biệt thi vị thơ mộng: đã thể hiện vào câu hò, điệu lý, được lưu truyền từ xưa đến nay:
      Dòng sông thì rộng mênh mông.
      Áo em lại thắt lưng ong làm gì?
      Anh từ Xà No đến.
      Em từ Ba Láng sang.
      Sợi tình yêu ai dệt.
      Trên mặt nước mênh mang.
      Bảy sông dồn nước cuồn cuộn nước.
      Phù sa lớp lớp quyện phù sa...
      (2)
      ***
      Chiếc xe đò cà tàng, thổ tả, lọc cọc, rệu rạo lăn bánh trên những cục đá dăm khi hoàng hôn nhè nhẹ quệt đường nắng yếu ớt, sóng sánh trên dòng sông mờ mờ, thì chúng tôi thực sự đặt chân về miền Tây. Bỗng trời mưa thật lớn. Nhóm tôi đã trải qua một đoạn lãng du dài dằng dặc giữa trời đất tĩnh lặng bao la, hoang sơ, lãng mạn trên nẽo đường gió bụi trôi về xứ lạ, nơi vừa cũ vừa mới, vừa họa, vừa phúc, vừa lương thiện, từ bi… lẫn tội ác quyện bện vô nhau, mà tôi không ngờ! Nhưng lòng trí ai nấy đều nôn nao, bồn chồn, lo âu thấp thỏm: vì xứ lạ phương xa mà đa số bạn của tôi và tôi; chỉ biết ngao du qua sách vở, chớ tôi chưa hề được thú vị chứng kiến sông nước ruộng đồng bao la, vườn tượt xanh um bóng mát, như thi sĩ Bùi Giáng đã nói:
      Chào Lục Tỉnh Thu về Xuân nức nở.
      Ở trong cây trong lá ở bên sông.
      Dòng nước chậm chần chờ con sóng chở.
      Còn không em? kỷ niệm ở bên lòng!

      Và:
      Chưa đi chưa biết Bến Tre.
      Đi rồi mới biết toàn tre với dừa.
      Dừa to dừa nhỏ dừa vừa.
      Trèo lên tụt xuống nước dừa đầy tay.
      (2)
      Xuống đến Rạch Giá cảnh vật thôn quê êm đềm tĩnh mịch không kém phần thơ mộng, nhưng đa phần nhà cửa cư dân vắng vẻ, xóm làng quạnh hiu vô cùng, thì nhóm tôi hoàn toàn bị lạc lõng, xa lạ, đơn độc buồn thiu đến độ nào. Chúng tôi líu ríu dắt díu nhau đi tới chỗ lạ cái lạ nước, lạ hoắc, thật lúng túng bất tiện trăm bề. Nhóm người già trẻ lớn bé nầy chẳng hiểu sao lòng cảm thấy bất an, lo lắng sợ hãi, e dè, lấp ló thập thò, kín đáo dè dặt ngó quanh, nhìn trước ngó sau lén lút như kẻ gian, kẻ trộm. Hết cả đám có miệng mà như câm, không ai dám hỏi thăm khi dân địa phương nhìn chúng tôi chằm chằm, xoi mói. Không có bản đồ địa phương, không rành phong thổ cũng như tập quán nơi đây, không thấy xe xích lô, không tìm ra khách sạn hay phòng trọ nào. Thế nên đã nhiều giờ nhóm tôi đi lạc lung tung. Sau đó:
      Hỏi em, em đã đi rồi.
      Hỏi chim, chim chỉ mỉm cười bay đi,
      Hỏi cha, cha chẳng biết gì.
      Hỏi sư, sư bận vội về tụng kinh.
      Hỏi cô hàng xóm làm thinh.
      Hỏi nàng bán bánh cười tình không hay.
      Nhìn trời một đám chim bay...
      (2)
      Mấy anh dò dẫm qua một chiếc cầu gỗ cũ, tới trạm mua vé tàu thủy dự định ngày mai cả nhóm sẽ đi Phú Quốc. Chiều tà ở tại Rạch Giá từ bước chân khách lạ cô đơn trên đường chiều, khiến lòng tôi buồn vô hạn, đứng trên cầu gỗ nhìn về phía góc vườn dừa rợp bóng nhà ai sông nước chập chùng. Có chút tâm hồn đa cảm, nhạy cảm và hơi lãng mạn... khiến tôi cảm thấy nơi đây thật sự kỳ diệu thanh bình êm ả lắm. Lòng tôi càng xúc cảm vấn vương nỗi buồn thê thiết, khi thấy mấy giang thuyền lạnh lẽo lắc lư nằm im ỉm, trơ trọi bên những cầu tàu quạnh vắng, làm thức dậy trong tâm trí tôi hình ảnh dĩ vãng lãng đãng mộng mơ thiết tha thật gần... Nhưng bây giờ đã rời xa... xa mờ xa nơi chân trời mê-hoặc, xao xuyến mông lung bao tiếc nhớ, bâng khuâng lặng lờ nỗi đau sâu thẳm:
      Đâu rồi những anh thủy thủ phong trần trẻ trung vui tính ưa huýt gió, vui vẻ, xinh lịch oai hùng hào hoa trong bộ quân phục Hải Quân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trắng tinh? Họ mặc bộ quân phục với niềm kiêu hãnh vinh quang hào hùng trong dĩ vãng? Mặt nước có còn in bóng chàng trai phong sương đa cảm, đa tình đứng trên bon tàu vu vơ nhìn mây trời quyện bện vào nhau trải dài theo màu xanh bát ngát? Dưới đáy thuyền sóng cả cuồng phong thịnh nộ ngày ngày vỗ nước bồm bộp vô mạn thuyền, đẫy đưa anh lính Hải-quân có cuộc sống hào hoa phong nhã lang bạt bồng bềnh vui tươi đi xây mộng giang hồ tứ xứ!? Ý chí của bạn và tôi bây giờ chỉ còn là ảo ảnh: trăng tròn lắt lẻo giữa dòng sông có giòng chảy trên luống đời điệp trùng bóng tối. Tiềm ẩn trong tâm ta hình ảnh đường chiều nâng ước vọng dâng cao ngút ngàn. Các anh có biết không, hở hoàng hạc ơi! tiếng xưa.
      Đến gần chân cầu sắt dày cui lót gỗ bên kia trạm vé, thì có một khu nhà tôn chen lẫn nhà lá tồi tàn, nhưng đã đem lại lòng tôi sự ấm áp rộn ràng rạo rực niềm vui, chen lẫn sự xót xa chân thật: khi tôi nhìn cư dân địa phương vất vả, thiếu thốn, nghèo nàn. Các anh vào thuê mấy chỗ trọ. Không phải là phòng trọ như ở nơi khác có phòng riêng sạch sẽ tươm tất, mà lán trọ ở đây giống như khu nhà trống, hoàn toàn không có cửa nẽo, chỉ là những hàng ghế bố cũ mèm nối dài, mái lợp lá dừa hơi giống patio bốn bề lộng gió. Nước mưa lộp độp trên mái lá, bùn đen sền sệt dưới chân ghế bố luôn luôn ướt nhẹp, mốc xì, đen thui, ghế bố có nhiều gián, rận, rệp hôi rình, thậm chí có cả chí mén, chí cồ bò lổm ngổm trên gối. Thế nhưng người ra kẻ vô lội nước lủm bủm vẫn tấp nập ồn ào ngược xuôi đông đúc lắm.
      Chị Ngọc, Cúc, tôi vội vàng đi xẹt ra khu chợ xép nhỏ gần xịch một bên, chị em tôi chẳng buồn hỏi khu chợ nầy có tên gọi là chợ gì. Mỗi quầy hàng là một cái chòi bằng tre lợp lá dừa, giống túp lều nho nhỏ luôn kêu kẽo kẹt, nước bùn đen đen đọng dưới chân cột và trên đường nhựa. Quán xá lộn xộn, họ bán đủ thứ: cá, tôm, sò ốc, rùa, ếch... Úi trời! có nhiều con rắn còn sống đang uốn éo thân, cái lưỡi chẽ đôi thò ta thụt vô, cả những chú chuột đồng lông lá lưa thưa có móng nhọn dài to bự sư. Coi thiệt gớm à! Chị em tôi mua nhiều tôm tươi, cá trê vàng, cá sặc bướm, cá sặc rằn. Rồi day qua hàng khô mua gạo, mua một trái thơm, rau sống, cà chua, mua củi. Họ thật thà hào phóng bán trái cây tươi rói, tính một chục là 16 trái xoài bóng láng, mập ú, thơm ngon. Họ không nói thách, không làm hàng màu mè: không chất thứ to bỏ làm hàng mặt ở trên, trái nhỏ chêm ở dưới thúng. Mà có sao họ bán vậy. Dân quê và dân chợ đa số khá hiền lành chất phác, vui vẻ, chăm chỉ, thật thà. Ở đây cái gì cũng tươi rẻ nhứt là: cá, tôm... (nhưng họ khó kiếm ra tiền, vì nhà nhà ai ai cũng có cá, có tôm, thịt ếch, heo, gà, vịt… các loại cá ở miệt nầy càng rẻ rề, thì đem bán cho ai đây, để có tiền xây xài)? Chúng tôi xin bà chủ nhà trọ cho mượn mấy cái nồi, để nấu nhờ bữa cơm tối. Bà chủ nhà vui vẻ dễ dãi nhận lời. Chị em tôi xúm lại người nấu cơm, người làm cá. Lớp kho, lớp nấu, chiên xào... Đây là bữa cơm đặc biệt đầu tiên, có thể cũng là bữa cơm cuối cùng tại Rạch Giá. Nhóm chúng tôi ăn uống no nê, dư dả và rất ngon miệng. Sau đó chị em bưng nồi niêu son chảo ra bờ kè rửa ráy, rồi trả lại cho bà chủ nhà tốt bụng. Chị em cho các con ra sông tắm gội sạch sẽ.
      Khi màn đêm buông xuống, tôi nhìn bên kia kinh lạch tối om vì không có điện, bên nầy ngọn đèn đường tù mù hắt ánh sáng yếu ớt vàng vọt, giống như đèn đêm lốm đốm lập lòe ở khu nghĩa trang. Thiệt cảm thấy quá nãn. Đêm buồn nghe tiếng mưa rơi lộp độp trên lá, gió lồng lộng rít rít từng cơn, thổi bay tấm mùng vải cũ ố vàng đen đen, khiến cái lạnh càng về khuya càng ngấm xuyên qua da thịt tôi thêm dúm dó và rờn rợn. Bầy trẻ suốt ngày đi đường quá vất vả, nên tắm gội xong vừa đặt lưng xuống ghế bố, là chúng đã “phè cánh nhạn” ngủ say. Riêng bọn già nầy thì bồn chồn, băn khoăn, lo lắng, không sao chợp mắt, dù chỉ vài phút.
      ***
      Tình Hoài Hương

      *
      (1) sưu tầm
      (2) ca dao
      Last edited by Tinh Hoai Huong; 05-24-2020, 06:08 AM.
      Bút trần nào tả được lưu luyến!
      Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
      Tình Hoài Hương

      Comment


      • Bách Niên Thương Hải Biến Vi Tang Điền


        Tháng Tư Đen
        Nhạc Trần Lê Việt
        Lời (LT) Lê Xuân
        Giọng ca Việt Long
        Bách Niên Thương Hải Biến Vi Tang Điền
        (45 năm đớn đau buồn thảm)
        Tình Hoài Hương
        *

        Thật tình tôi không thể nào hiểu nỗi tại sao vận nước Việt Nam lại trở nên quá đen tối: sau khi hiệp định Genève 1954 diễn ra kể từ ngày 26 tháng 4 năm 1954 - rồi bản Hiệp Định được ký kết và kết thúc cùng ngày 21 tháng 7 năm 1954. Thành phần tham dự: Anh, Mỹ, Liên Xô, Pháp, Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa, Laos, Cambodia, Quốc Gia Việt Nam và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Phía Quốc Gia Việt Nam ban đầu do ông Nguyễn Quốc Định làm Trưởng Đoàn. Sau, ông Trần Văn Đổ thay thế.
        Đáng chú ý: Ông Trần Văn Đổ, Trưởng Đoàn Quốc Gia Việt Nam đã lên tiếng phản đối sự chia cắt đất nước Việt Nam. Chính phủ Quốc Gia Việt Nam (miền Nam Việt Nam) không ký Hiệp Định. Phía Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (miền Bắc Việt Nam) do Phạm Văn Đồng làm Trưởng Đoàn. Phái đoàn Hoa Kỳ từ chối công nhận Hiệp định Genève.

        * Kể từ ngày 21-7-1954 – khi miền Bắc Việt Nam ký Hiệp-định Genève xé đôi lãnh thổ Việt Nam, lấy vĩ tuyến 17 và cầu Hiền Lương Bến Hải làm ranh giới, để chia lìa tách bạch hai miền Bắc Việt Nam và miền Nam Việt Nam ra đôi ngã phân ly nghẹn ngào, thì:
        - Ngày 11-11-1960 – Đại-tá Nguyễn Chánh Thi cầm đầu cuộc đảo chánh cùng Trung-tá Vương Văn Đông ở Liên-đoàn Dù, và Thiếu Tá Nguyễn Triệu Hồng, Đại-úy Phan Lạc Tuyên: đã đảo chánh nền Đệ-Nhất Cộng-Hoà hụt; thì “chiến tranh nội bộ” bắt đầu manh nha quyết liệt vì cốt nhục tương tàn, nồi da xáo thịt rối rắm bùng nổ liên miên.
        Từ xưa tới nay, sự thôn tính đất đai, tranh giành quyền lực, thế lực, vinh hoa, là mạng lưới quyến rũ dẽo dai và khổng lồ. Nước càng trong thì không có cá, dù lòng người đơn giản, phước thiện, trong sáng và cao cả; ấy thế mà nếu đã du nhập vô hệ thống chính trị, sau khi bị cuốn hút vào cung cầu đó, thì thật khó lòng ít có ai rứt ra được. Tiền tài là vật ngoài thân, đi lại về, về rồi lại đi, nhưng danh dự, địa vị và danh vọng khi đã mất rồi, tất nhiên chẳng thể tìm lại. Cần có uy quyền địa vị và thế lực trong tay, thì không ai có thể chèn ép. Nhưng đôi khi ta có đủ mọi quyền thế, oái uăm thay chính “nó” cũng có thể hại chết mình. Quyền lực dường như giống một toà lâu đài sang trọng rất rộng lớn và quá cao, ta phải biết cách xây dựng có quy mô, kiên cố, bão tồn mà duy trì cho vững bền. Nếu một khi bức tường rạn nứt, thì có ngày không xa toà nhà ấy sẽ sụp đỗ, họ chỉ có thể đứng ở dưới xa xa mà ngước nhìn ở trên cao.
        * Ngày 27-2-1962 - Có 2 chiếc khu trục A1 Skyraider dội bom dinh Độc Lập, do Trung-úy Phạm Phú Quốc và Thiếu-úy Nguyễn văn Cử ném bom bắn cháy dinh Độc Lập. Phi cơ của ông Phạm Phú Quốc bị bắn rớt trên sông Sài Gòn, ổng đã vô tù, tất cả bom đạn còn nguyên, nghĩa là ông Quốc chưa kịp thả trái bom nào. Ông Cử đào thoát bay mút qua hướng Nam Vang, dân chúng bàn tán là ổng bị chính phủ ở bển bắt nhốt vô tù rùi!?
        - Sau biến cố 02-11-1963 – Tổng-thống Ngô Đình Diệm và bào đệ Ngô Đình Nhu bị thảm sát. Trải qua bao thăng trầm chính trị sục sôi… thì nền Đệ II Cộng Hòa có Tổng-thống Việt Nam Cộng Hoà Nguyễn Văn Thiệu lên ngôi.
        * Ngày 8-3-1965 - Kể từ khi có đoàn Thủy-quân Lục-chiến Mỹ tiên khởi, đông đúc khoảng 3.500 người rầm rộ đổ bộ lên đất liền tại Đà Nẵng, Mỹ viện cớ muốn giữ “an ninh cứ địa” do tướng Maxwell Taylor, thỉnh thoảng hút xì gà Schimmelpennick đi làm đại sứ Sài Gòn, ông dẫn đầu một cuộc phô trương cường quốc Mỹ, để thị oai với các nước tụt hậu, chậm tiến, đang có chiến tranh. Rồi…
        * Ngày 16-8-1965 - Chính phủ Nguyễn Khánh chủ trương thành lập Hiến Chương Vũng Tàu. Trong nước loạn xạ bởi nhiều phe phái chính trị phản đối chính quyền đương nhiệm đã hoạt động ráo riết. Sau đó có nhiều bất đồng ý kiến, các đảng phái, sinh viên lục đục nội bộ, nên tan đàn rẽ đám. Hội-đồng Quân-lực Cách-mạng truất phế Nguyễn Khánh, cho ông lưu vong ra ngoại quốc làm đại sứ.
        * Ngày 9-5-1969 - Từ Hạ-sĩ Henry Kissinger đi lính trong Đệ-nhị Thế-chiến, sau lên làm cố-vấn an ninh quốc gia cho Tổng-thống Richard Nixon. Thời gian trôi qua, lên tiến sĩ Henry Kissinger, ông khai mạc hoà đàm Ba Lê (không có chính phủ miền Nam hay Quân-lực miền Nam Việt Nam Cộng Hòa). Suốt thời gian hoà đàm dưới sự giám sát chặt chẽ của Nixon, ngoại trưởng Kissinger “ráo riết đi đêm” với quân Bắc Việt.
        * Người dân luôn dán mắt nhìn vô ti vi trắng đen, theo dõi công ty Pecten Việt Nam (là chi nhánh của Shell) đã sản xuất khoảng 1.500 thùng dầu thô/ngày, trong giếng dầu mang tên Pioncer sâu 4.500 feet dưới lòng biển của miền Nam Việt Nam. Hoan hô đại thắng!
        * Một phái đoàn Mỹ có tên Project Concern, và phái đoàn Thanh-Thương-Hội Việt Nam do ông Lê Bá Công làm hội trưởng, hướng dẫn phái đoàn đi săn sóc y tế cho đồng bào Thượng tại miền Nam Việt Nam. Phái đoàn nầy được đồng bào kính trọng và hoan hô nồng nhiệt.
        * Ngày 27-1-1973 – Trong chương 2 điều 2 tại nhiều năm hội nghị, sau đó Hiệp định Ba Lê đã ký kết đình chiến: Ngưng bắn. Ấy thế mà vào ngày 9 Tháng Ba năm 1974 Việt-cộng câu súng 81ly vô trường Tiểu-học Nhị Quý, Cai-Lậy, Tỉnh Định Tường, giết 32 em học sinh nhỏ, và hơn 50 em học sinh khác đã bị trọng thương la liệt và trầm trọng. Một số trẻ em bị chết oan, thật đau đớn vô cùng thảm thiết.
        * * *
        * Ngày 11 - 3 - 1975 - Mất Ba Mê Thuột. Thiếu-tướng Phạm Văn Phú, Tư-lệnh Quân-đoàn II/Quân-khu 2, ra lệnh quân đội triệt thoái khỏi Pleiku – Kontum (do chỉ thị của TT Nguyễn Văn Thiệu). - Di tản miền Trung: 13 - 3 -1975. & Di tản Cao Nguyên: 14 - 3 - 1975 & 15 - 3-1975: Khánh Dương. - Quân đoàn II triệt thoái: 16 - 3 -1975. * Mất các nơi: Tuy Hoà: 17 - 3 - 1975 *.- Phú Yên: 18 - 3 - 1975.
        * Ngày 19-3-1975 – Một Tiểu-đoàn của Trung-đoàn 43 Bộ-binh đóng chốt phòng ngự tại Định Quán, quanh vùng phụ cận núi Chứa Chan. Gia Rai, Tiểu-đoàn nầy anh dũng đánh trả đối phương rất phi thường. Khi mất Đèo Hải Vân: 21 - 3 -1975 thì ngày N+5, 21-3-1975 là triệt thoái cuối cùng của Lực-lượng Quân-đoàn II khỏi Cao Nguyên, trên tuyến đường Liên-tỉnh lộ B.
        * Ngày 22-3-1975 - Tỉnh Quảng Đức thất thủ. * Ngày 23-3-1975 – Công-binh VNCH làm xong chiếc cầu dã chiến. Lực-lượng Quân-đoàn 2 cuối cùng vượt qua sông Ba, triệt thoái về Phú Yên.
        * Ngày 25-3-1975 – Các đơn vị Quân-đoàn I/Quân-khu 1 (Việt Nam Cộng-Hoà) triệt thoái ra khỏi Huế & * Đà Nẵng: 25 - 3 - 1975. Quảng Nam: 28 -3-1975. *.- * Đêm 28 - 3 - 1975 Lực Lượng hùng hậu của Quân-đoàn I do tướng Ngô Quang Trưởng lãnh đạo, đã triệt thoái khỏi Đà Nẵng. * Bình Định: 27 - 3 -1975 *.- Sau đó là Lâm Đồng: 29 - 3 - 1975 * Quy Nhơn: 30 - 3 - 1975 * Bình Định: 31 - 3 - 1975.
        *
        Hết tháng Ba. Qua đầu tháng Tư: Mất các nơi: * Nha Trang: 2 - 4 - 1975 * Phan Thiết: 3 - 4 - 1975 * Các phi trường Tân Sơn Nhứt. Cần Thơ. Biên Hoà, có nhiều chiến đấu cơ F 5 – oanh tạc cơ A 37. Không một ai mà không nghe đồn ầm lên: từ Lâm Đồng dọc theo rặng trường sơn, sông La Ngà chảy từ khu Tánh Linh, qua phía nam Định Quán, Rừng Sát ra cửa biển Cần Giờ: Đang bị đe doạ trầm trọng. Người ta lại đồn máy bay oanh tạc dinh độc lập hụt hay sao đó? Bây giờ thì chuyện không nói có, chuyện có nói không. Chả ai có thể đi đâu kiểm chứng, vì mọi ngã đường đông nghịt người không thể chen chân. Nhưng than ôi! Đúng thế thật, Trung úy Nguyễn Thành Trung, quê ở Bến Tre, đã bay chiếc F5 cất cánh từ Biên Hoà về thả bom xuống dinh Độc Lập. Phi cơ mang bốn quả bom, Y thả hai quả bom trước bị rơi ra ngoài sân dinh.
        * Việt Nam Cộng Hoà có Sư-đoàn 18 tăng cường Lữ Kỵ-binh: Sư-đoàn 5 Thiết-giáp. Các Liên-đoàn Biệt Động Quân từ Quân-khu I, chuyển về Quân-khu II để bảo vệ Xuân-Lộc, Long Khánh, Dầu Giây; do Chuẩn-tướng Lê Minh Đảo là Sư-đoàn-trưởng Sư-đoàn 18 đảm nhiệm. Từ ngày 8 - 4 đến ngày 19 - 4 ; trận đánh vô cùng ác liệt bắt đầu xảy ra giữa quân lực miền Nam Việt Nam Cộng Hòa, với Quân-đoàn 4 và Sư-đoàn 6 Chủ-lực Quân-khu 7 của Cộng-sản Bắc Việt.
        * Từ ngày 10 - 4 - 1975 – Hai Trung-đoàn 43 và 48 (của Sư-đoàn 18 Việt Nam Cộng Hoà) và một Lữ-đoàn Dù. Lữ-đoàn 3 Kỵ-binh, từ Biên Hoà ra Xuân Lộc tiếp ứng. Giao tranh ác liệt dữ dội mạnh mẽ. Đường 12 bị cắt đứt là: Xuân Lộc > Biên Hoà. & Xuân Lộc > Bà Rịa. Cho đến ngày 20 - 4 - 1975 thì Xuân Lộc triệt thoái: 20 - 4 - 1975 * Long Khánh: 22 - 4 - 1975.
        * Ngày 18-4-1975 - Mất thị xã Phan Thiết và toàn tỉnh Bình Thuận. Thành phần chính phủ do Tổng-thống Nguyễn Văn Thiệu lãnh đạo đã xảy ra đột biến. Mặc dù vậy tổng thống Thiệu họp báo, lên Truyền-thanh, Truyền-hình đọc hiệu triệu vấn an quốc dân đồng bào. Đài phát thanh cho nhai đi nhai lại bản tin nầy suốt cả tuần.
        * Ngày 19-4-1975 – Bình Tuy sống trong sôi động. Giao tranh ở tuyến đường số 1, từ phía Đông và Đông-Bắc Sài Gòn, tới Trà Võ. Bàu Nâu. Gò Dầu Hạ.
        * Ngày 20-4-1975 – Khu Rừng Lá, (cách Xuân Lộc độ 20km) coi như mất liên lạc: Bộ Tổng Tham Mưu. Sân Bay Tân Sơn Nhứt. Bộ Tư-lệnh Biệt-khu Thủ-đô. Tổng Nha Cảnh-sát, vân vân… (Thủ đô Sài Gòn có 12 Quận Nội-thành: Bình Thạnh. Phú Nhuận. Tân Bình. Gò Vấp. 6 quận ngoại thành: Hóc Môn. Củ Chi. Thủ Đức. Bình Chánh. Nhà Bè. Duyên Hải) > Đều báo động đèn đỏ 100%.
        * Bộ Giáo Dục ra lệnh đóng cửa không thời hạn tất cả các trường: Tiểu-học. Trung-học. Đại-học trong toàn lãnh thổ tại miền Nam Việt Nam.
        * Ngày 21-4-1975 - Hằng triệu triệu người già trẻ lớn bé ở miền Nam Việt Nam chồm tới bu quanh nhìn sững vào vô tuyến truyền hình, toàn dân lắng nghe miết mãi. Khoảng nửa giờ sau vị nguyên thủ quốc gia: Tổng-thống Nguyễn Văn Thiệu chính thức tuyên bố từ chức, ông trở về với quân đội Việt Nam Cộng-Hoà. Ôi! Bàng hoàng sững sốt. Vì; hằng triệu trai trẻ lính tráng, quân đội và dân tộc Nam Việt Nam (có bốn nghìn năm văn hiến quyết chiến đấu, hy sinh đến giọt máu cuối cùng trên chiến trường) tin vào chính phủ Nguyễn Văn Thiệu mà. Từ khi nền Đệ Nhứt Cộng Hoà sụp đỗ, thì tất cả mọi thứ trên đời, trật tự xã hội bị đảo lộn tùng phèo sao?
        * Hồi xưa, nhà bác học lẫy lừng Pierre Curie khám phá ra chất phóng xạ radium năm 1900. Và, trước khi ông Mc Robert Namara cho trắc nghiệm khai quang hằng loạt chất độc màu da cam (Agent Orange), để tiêu diệt cỏ, hay tiêu diệt đối phương (?!). Thì ngày nay, Tổng thống Thiệu đã lưu lại danh thiên cổ gì cho núi sông? Khi mà ông Trạng Trình đã nói: “Bắc hữu kim thành tráng. Nam hữu ngọc bích thành”. Cố mà gìn giữ Việt Nam keo sơn gắn bó. Thật ra, Tổng-thống Thiệu lên làm tổng thống hai nhiệm kỳ, đã thành lập đảng Dân Chủ. Nhiều lần Tổng-thống Nguyễn Văn Thiệu lên đài truyền thanh, truyền hình mạnh mẽ đọc diễn văn; trong đó có những câu tuyệt vời bất hủ:
        - Đừng nghe những gì Cộng-sản nói, hãy nhìn kỹ những gì Cộng-sản làm!
        - ... Ăn cơm Quốc gia thờ ma Cộng-sản.
        - Công đức ngàn đời con tố mẹ, tình nghĩa trăm năm vợ tố chồng.
        - Đất nước còn, còn tất cả; Cộng-sản thắng, mất tất cả.
        - Tôi mà tham nhũng, thì cái chính phủ này sẽ sụp đổ chỉ trong ba ngày!
        - Nếu Hoa Kỳ không viện trợ cho chúng tôi nữa, thì không phải là một ngày, một tháng hay một năm, mà chỉ sau 3 giờ, chúng tôi sẽ rời khỏi dinh Độc Lập!
        - Làm kẻ thù của Mỹ thì dễ, làm bạn với Mỹ thì rất khó.
        - Sống không có tự do là đã chết.
        - Mỹ còn viện trợ, thì chúng ta còn chống Cộng-sản.
        * TT Nguyễn Văn Thiệu hùng hồn khẳng định tuyên bố “bốn không” rất chí lý:
        1.- Không thừa nhận Cộng-sản.
        2.- Không lập chính phủ liên-hiệp.
        3.- Không trung-lập-hoá miền Nam Việt Nam.
        4.- Không nhường một tấc đất cho Cộng-sản.
        * - Tin đồn đã rùm beng:
        1.- Việt Nam trung lập.
        2.- Chính phủ Việt Nam có ba thành phần.
        3.- Miền Nam Việt Nam bị miền Bắc “giải phóng” lan mau (chứ chả phải như lời Phó Tổng-thống Nguyễn Cao Kỳ hô hào: “Xung phong > Bắc Tiến”.
        - Tổng thống Thiệu đã ủng hộ chương trình “Người cày có ruộng”, rầm rộ khuyến khích nông dân, củng cố lúa Thần Nông IR 3 và AR 8. Nhờ thế kho vựa miền Nam dư thừa lúa gạo. Việt Nam sản xuất gạo đi các nước. Sau năm 1967 - do sự quậy phá của Cộng-sản Bắc Việt, nên nông dân thuộc các tỉnh miền Nam, miền Trung, số ít ở Cao Nguyên, không thể cày cấy, gieo trồng nhiều. Do đó miền Nam Việt Nam bị khan hiếm lúa. Kinh tế hạn hẹp, Cộng thêm an ninh không an toàn yên ổn. Chính trị, kinh tế, tham nhũng, bè phái, bị đe doạ - khiến miền Nam suy thoái trầm trọng. Bây giờ miền Nam Việt Nam phải nhập cảng gạo và “binh khí”, xin viện trợ tiền bạc vào miền Nam Việt Nam. Là vậy!
        * Tổng-thống Việt Nam Cộng-Hoà Nguyễn Văn Thiệu từ chức. Phó Tổng-thống Trần Văn Hương lên thay thế! Thành phần nội-các do cụ Trần Văn Hương đảm nhận được mấy ngày vắn vỏi.
        - Ngày 22-4-1975 – Đường quốc lộ 4 nối liền Sài Gòn > Cần Thơ. Các hướng Tây Bắc. Đông Đông Bắc. Đông Đông Nam. Tây Tây Nam bị cô lập với Sài Gòn.
        * Thứ Tư, ngày 23-4-1975 - Đô Đốc Noel Gayler Chỉ-huy-trưởng Hạm-đội Thái Bình Dương, đã lập cầu không vận Sài Gòn > Đệ Thất Hạm Đội (trong chương trình di tản người Mỹ và người Việt Nam ra đi), tàu đang đậu ngoài khơi Vũng Tàu, người ta nghe & phao tin sẽ di tản khoảng vài trăm ngàn người Hoa Kỳ và người Việt Nam. (!?)

        Bảy Ngày Đen Tối Nhứt: * Thứ Sáu, ngày 25-4-1975
        * Đêm 24 - 4 - 1975 – Khói lửa bạo tàn đã gây đau khổ quá sức, hằng triệu dân đen lầm than khốn đốn, cơ cực. Miền Nam Việt Nam dỡ sống tức tưởi, dỡ chết không kịp nhắm mắt, không thể há miệng than Trời! Chắc chắn là chính phủ Nguyễn Văn Thiệu & thành phần nội-các đều nghe bùi tai; khi tướng cố vấn Lục-quân Mỹ Weyand gián tiếp khuyên chính phủ Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh cho Quân-đội miền Nam Việt Nam -bằng mọi giá phải tử thủ!- Toàn thể nam nữ thanh niên trai trẻ, Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã vâng lời, họ ở lại giữ gìn từng pháo đài bị vây hãm, họ có trách nhiệm bổn phận giành lại từng tấc đất trên quê hương, quyết phục vụ dân tộc và tử thủ vì Việt Nam!
        Thì, tin đồn chuyện Tổng-thống Thiệu bỏ rơi dân tộc, bỏ quê hương đất nước, chỉ là tin đồn nhảm nhí! Khi chung cuộc kết thúc trong bi thương thế ấy, ai nở ra đi -phản bội dân tộc-, ai lìa bỏ quê hương cẩm tú giàu đẹp sao? Ai đành cao chạy xa bay mưu tìm cho chính mình sự sống riêng, phủi tay trong thau men nước người- cho đành?! Nơi chốn xa lạ đó, ai có dịp lắng nghe tiếng nói của hiền dân vô tội gào than kêu khóc? Ai tận mắt xem đồng bào đau thương bị cấp lãnh đạo bỏ rơi, dân đang sống quằn quại trong cơn lốc chính trị kinh hoàng vỡ vụn? Toàn dân sẽ chết thảm dưới cơn sóng thần cuồng phong bão táp dữ dội nhất lịch sử Việt Nam nầy. Họ làm sao đành đoạn phủi tay bỏ lại quê hương và dân tộc cho đành?!
        * Sáng sớm bạn Tonny Tơh từ Hạ Nghị Viện tất tả chạy về nhà, đã khẳng định với chúng tôi về việc Tổng-thống Thiệu và đoàn tùy tùng thân tín đã "bôn tẩu bỏ nước ra đi"!!! Người ta lại đồn ầm lên là ông Thiệu chở theo mấy chục tấn vàng của quốc gia (?!). Làm sao cõng cho nỗi hỉ?! Chuyện ấy rất khó tin, không bao giờ tin! Bỏ của chạy lấy người, "may ra còn kịp... sống". Chúng tôi dám khẳng định một điều chuyện "chở theo vàng" là láo khoét. [(1), mời xem trích dẫn thêm dưới bài viết nầy)]
        Nhưng... khuya Thứ Sáu, ngày 25-4-1975 đương kim Tổng-thống Trần Văn Hương lên đài Truyền-thanh Truyền-hình chính thức xác nhận, ông tuyên bố: -“Gia đình Tổng-thống Nguyễn Văn Thiệu, và một số thân tín trong chính quyền đương thời đã chính thức rời khỏi Việt Nam, bay đi ngoại quốc ngày 24-4-1975”. Ôi! Sự đau đớn ấy có thật ở phi trường Tân Sơn Nhứt là: Tướng Timmes, Đại-sứ Martin, một số đoàn tùy tùng đông đảo “viên chức lừng danh cao cấp nhứt” của chính phủ miền Nam Việt Nam Cộng Hoà đang làm cuộc “tẩu tướng”. Họ nôn nao lo âu đứng xớ rớ ở đó từ rất lâu, chờ đợi sẵn sàng -để dọt đi. Một chiếc xe Mercedes chở ông Nguyễn Văn Thiệu từ bến Bạch Đằng, chạy mau vô phi trường Tân Sơn Nhứt lúc 21 giờ 30 đêm 24 tháng 4 năm 1975. Chung quanh “các ngài” có đông đúc thân tín nôn nao ra đi, có lính Thủy-quân Lục-chiến Mỹ đứng dàn ngang dàn dọc bu quanh, để bảo vệ phái đoàn “các ngài” mà tống lên chiếc phi cơ C-118 lịch sử của Không-quân Hoa Kỳ. Ông Thiệu, Tướng Khiêm và đoàn tùy tùng lẹ làng tót lên máy bay, không hề ngoảnh lại. Hỡi Ôi! là Trời ơi Đất ơi!!!
        * Thứ Bảy, ngày 26-4-1975 – Ông Khiêu Samphan dẫn một phái đoàn Trung Quốc từ Mimót Nam Vang, đi qua ngả Xa Cam. Tại đó có một Đại-tá Không-quân Pháp, một Thiếu-tá Pháp, {họ trực thuộc Nha An Ninh Tình-báo hải ngoại Pháp (SDECE)}. Họ đưa phái đoàn Trung Quốc nầy vô ở trong toà Đại-sứ Pháp tại Sài Gòn (!?)
        Mất thật rồi các nơi: * Vẫn ngày 26-4-1975 - Bão lửa chiến tranh xâm lược đã ùa vô xâm chiếm các khu sau đây: Long Khánh từ hướng Đông-Bắc đi Sài Gòn xa khoảng 80km. Long Khánh nằm giữa hai quốc lộ: 1 và 20- 105 kinh độ đông- 11 vĩ độ bắc, ở múi giờ 17 GMT – Giáp giới mặt Đông hướng Đông Đông Nam về Sài Gòn. Long Khánh có đỉnh núi Gia Ray cao 916 mét, là tấm bình phong che chắn thuận lợi cho toàn vùng. Muốn đi từ miền Cao Nguyên, hay từ miền Trung vào Sài Gòn xuống miền Tây, tất cả loại xe đều phải đi ngang qua vùng Long Khánh.
        * Sông Ray từ phía Nam của núi Gia Ray có đường đi qua Xuyên Mộc. Trảng Bom. Hố Nai. Biên Hoà. Long Thành. Nước Trong. Đức Thạnh (Bà Rịa). Lang qua vùng Phước Tuy. Xuyên Mộc. Đất Đỏ. Về hướng Tây Tây Nam > Bến Lức. Tân An. Trung Lương. Tân Hiệp. Long Định. Giao lộ 4. Cai Lậy đi An Hữu. Xuống tới Lộc Giang. Vàm Cỏ Đông qua Tây Vĩnh Lộc. Mỹ Hạnh. Hướng Bắc thì các đoạn đường 16 Phú Lợi. Thủ Dầu Một. Tây Bắc về Đồng Dù. Hóc Môn. Bình Dương, Long An: 25 - 4 - 1975 – Bà Rịa: 26 - 4 - 1975.
        * Bắt đầu từ ngày Chủ Nhật 27 - 4 - 1975 đến hết ngày 29 - 4 - 1975, * Tân Cảng – Sài Gòn : người ta rỉ tai nhau lo tìm đường thoát thân "đào tẩu" ra khỏi Sải Gòn. * ngày 27-4-1975 - Bà Rịa. Phước Tuy. Nước Trong. Trảng Bom. Suối Đĩa. Cầu Rạch Chiếc. Rạch Cát. Cầu Bình Phước. Quán Tre lan ra tận xa lộ Đại Hàn. * Vẫn ngày 27-04-1975 – Người ta bịa đặt ra: Caritas. Usaid. Usom. Juspao. Cords. The Asia Foundation. IUS, chỉ là những thành phần ấy là cầm đầu, trá hình vô miền Nam Việt Nam do CIA. Nay họ lo đóng cửa và chuồn bay đi hết rồi! Tất cả mọi liên lạc trong nội thành Sài Gòn với ngoại thành, đi các Tỉnh, hầu như tê liệt, trục giao thông chính dẫn đến phi trường, hải cảng, các bến xe miền Đông, miền Tây, miền Trung, hoàn toàn ứ đọng và “bế quang tắc lộ”. Chao! Lúc đó thì người người tụm trăm tụm ngàn ở các nẽo đường chính, để nghe ngóng thăm dò tin tức. Toàn là những giả thiết, những tin đồn gây hoang mang. Người ta nhốn nháo, ồn cả lên, chèn ép nhau, xô đẩy nhau mong tìm đường chạy thoát thân, mong khỏi bị trụ lại nơi thành phố đông nghẹt người, từ các nơi dồn về Thủ-đô Sài Gòn hối hả, ngột ngạt, nghẹt hơi. Mọi tiếng động đều đinh tai nhức óc nổi hoài thâu đêm suốt sáng, không bao giờ ngưng. Người ta muốn điên vì đủ thứ chuyện thay đổi liên tục xảy ra từng giờ, trên trời dưới đất, trong tivi, tin đã xấu càng xấu thảm xấu tệ biết bao! Toàn là những tin chả lạc quan vui vẻ gì!
        * Thứ Hai, 28-4-1975 – Sân bay Tân Sơn Nhứt to lớn đồ sộ sầm uất nhất miền Nam Việt Nam đến thế, có F5, hoặc A 15, A 37, C 130. Mà nay chỉ còn có một số ít bom Daisy Cutters, và những phi cơ dân sự thường dùng trong nội địa, có phi cơ dân sự cũ từ thời Pháp để lại dùng bay ra ngoại quốc (không kể những phi cơ quân sự hiện có). * Ngày 28-4-1975 Phi công Nguyễn Thành Trung (y thả bom hai lần, lần đầu y thả ở dinh Độc lập bằng F5, y cất cánh từ phi trường Biên Hoà). Lần sau là chiều 28/04/1975: Một tốp phi cơ Dragonfly A 37 (phi đội Quyết Thắng) do phi công Nguyễn Thành Trung & Nguyễn Văn Lục dẫn đường, ép Trần Văn On & Nguyễn Văn Xanh bay cùng mấy tên “giặc lái” Bắc là Từ Đề, Mai Vượng, Hán Văn Quang, họ xuất phát từ phi trường Phan Rang bay về thả bom ở phi trường Tân Sơn Nhứt. Nhiều tiếng nổ long trời lở đất đâu đó vang rền, khói lửa ngùn ngụt bốc cháy, đen nghịt thành phố.
        * Ngày 28-04-1975 – Tổng thống Trần Văn Hương lên nắm chính quyền quốc gia Việt Nam được (7) bảy ngày ; thì tuyên bố rút lui. Theo yêu cầu của Lưỡng-viện Quốc-hội Việt Nam Cộng-Hoà, cụ Trần Văn Hương sữa “hiến pháp, hiến dâng” chức vụ “tổng thống không dân cử” cho Đại-tướng Dương Văn Minh. Chả hiểu sao cụ Hương tụt lẹ xuống vậy mà nhường cho ông tướng Dương Văn Minh trồi lên nắm chính quyền mau như chớp!? Việt Nam như quả bóng tròn, khi thì đá dưới gót chân, khi đội đầu, khi quay giò lái đá qua đá lại rồi “sút” bóng lăn xuống vũng bùn. Một chính phủ sắp đến ngày diệt vong rồi hay sao, mà suy tàn đến độ xót xa thảm thiết tột cùng! Làm gì… thì cần ngồi lại thân thiện bên nhau, và chia sẻ mọi quyền lực. Cần một lòng trung dũng đoàn kết vì nước vì dân. Thì toàn dân và toàn quân sẽ đứng vững như kiềng ba chân. Miền Nam Việt Nam sẽ không bị sụp đỗ toàn diện đâu. Tôi thiển nghĩ như vậy, do lúc nầy Tổng thống Dương Văn Minh nói rất hùng hồn: - “Không bao giờ đưa miền Nam Việt Nam cho Việt-cộng”. Câu nói thiệt là tuyệt vời! "ăn tiền hốt bạc".
        * Thứ Ba, Ngày 29 - 04 - 1975 – Tổng-thống Dương Văn Minh ra lệnh trục xuất những người Mỹ cuối cùng phải đi ra khỏi đất nước Việt Nam. Chính lúc đó mất thật rồi: Nhơn Trạch. Thành Tuy Hạ. Cát Lái. Cầu Sông Buông. Long Bình. Biên Hoà. Phú Lợi. Lai Khê. Bến Cát. Bình Dương. Tân Uyên. Lái Thiêu. Gò Vấp. Hướng Tây Bắc: Đồng Dù. Củ Chi. Hướng Tây Tây Nam: Hậu Nghĩa. Tân Túc. Tân Hoà. Phú Lâm.
        Tin tức mỗi ngày mỗi giờ một xấu hẳn đi. Thế là trong thành phố Sài Gòn vốn dĩ ồn ào náo nhiệt, bon chen sợ hãi, càng tăng thêm nhốn nháo, xôn xao, xớn rớn hãi hùng hơn. Sài Gòn chìm trong biển khói, thì cái tình thêm đau thương mịt mùng. Sài Gòn như rắn mất đầu, người người xớn rớn ồn ào như núi lở, như động đất, như triều cường sóng thần vùi dập. Sài Gòn đã mất vẽ hào nhoáng thanh lịch sang trọng xa hoa của hòn ngọc viễn đông xưa. Thành phố ấy giờ đây ồn ào náo nhiệt hỗn loạn, bụi bặm và rác rưỡi ụ từng đống to tướng. Sài Gòn càng hổn loạn, hoang mang lo sợ bùng lên dữ dội. Nhứt là những gia đình giàu sang quyền qúy ở Sài Gòn, cư dân gốc Trung Hoa đã sinh sống ở Chợ Lớn hãi hùng huyên náo loạn cả lên.
        Lúc xưa hai phi công Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc dội bom đã cháy dinh Độc Lập, (tháng 2 năm l962), làm hư hại dinh. Tổng-Thống Ngô Đình Diệm cho xây lại dinh Độc Lập. Gia đình Ngô Tổng Thống phải dời qua dinh Gia Long an vị, chờ kiến thiết lại. Bản vẽ dinh Độc Lập do đồ án của kiến trúc sư đô thị gia Ngô Viết Thụ (đoạt giải Khôi Nguyên La Mã) đảm nhiệm. Theo thiết đồ của Kiến trúc sư Thụ, có hai Công-binh chính: Đại-tá Nguyễn Văn Quý, Đại-tá Điển điều động một đoàn Công-binh Việt Nam xây dựng. Sau đó hoàn tất tốt đẹp. Tiền đình dinh Độc Lập có quảng trường Pigneau De Béhaine, có đại lộ rộng thênh thang rợp bóng cây, có tượng Đức Mẹ ngự ở trước công viên Hoà Bình làm bằng đá hoa trắc.
        Thuở còn Tây cai trị nước ta, con đường có tên là Norodom chạy từ dinh Độc Lập suốt tới khu Thảo Cầm Viên. Trong đó có Viện Bảo Tàng tên gọi Blanchard de la Bross, do Pháp xây dựng năm 1929. Ấy thế mà… Hết rồi vẽ sạch sẽ bóng loáng thanh lịch cao sang rộng rãi trên những phố Catina, đại lộ sang trọng Norodom xa xưa, nào là đường Công Lý, Phan Thanh Giản, Lê Văn Duyệt. Trần Hưng Đạo. Hai Bà Trưng, Nguyễn Huệ, thậm chí cả đường Duy Tân cây dài bóng mát đang có từng tốp hai ba trăm người tụ tập lo lắng, bồn chồn xôn xao, hốc hác, băn khoăn đứng ngồi không yên, kể từ khi phi trường Tân Sơn Nhứt bị pháo kích.
        * Ngày Thứ Tư hắc ám 30 tháng 4 đen tối năm 1975.
        Sài Gòn nóng như một hoả lò càng ghê rợn hơn, tin từ đài phát thanh Sài Gòn loan báo kể từ giờ phút nầy: Thiết quân luật 24/24. Tình hình thủ đô Sài Gòn từ sáng tinh mơ vắng lặng như tờ, giống một thành phố chết. Cho đến ngày hãi-hùng. Ngày đớn-hèn bi thảm. Ngày tối đen hắc-ám nhứt lịch sử Việt Nam, ngày đánh dấu than trầm-uất, thống-hận:
        *.- 8 giờ:00 ngày 30-4-1975 - Sáng sớm, Tổng-thống Dương Văn Minh lên Truyền-thanh Truyền-hình ra lệnh buộc các tuyến phòng thủ của Lữ-đoàn Liên-binh Phòng-vệ Phủ Tổng-thống không được nổ súng. *.- 9 giờ:00 ngày 30-4-1975 - Ông Dương Văn Minh đọc diễn văn trên đài Truyền-thanh: Yêu cầu toà Đại sứ Mỹ và văn phòng tùy viên DAO Hoa Kỳ, phải rời khỏi Việt Nam ngay lập tức.
        *.- 10 giờ:00 ngày 30-4-1975: Ông Dương Văn Minh leo lên làm "tổng thống" được ba ngày! (3), ông liền “mở cửa khẩu” kêu gọi Quân-lực Việt Nam Cộng Hoà:
        - “Ở đâu, hãy giữ nguyên vị trí ở đó”.
        - “Ngưng chiến".
        - Chờ bàn giao chính quyền miền Nam Việt Nam cho lực lượng Mặt Trận Giải Phóng vào chiếm”.
        “Chuẩn bị giao nạp vũ khí cho đối phương”

        * Ngày 30 tháng 4 năm 1975 - Khi Trịnh Công Sơn hát lui hát tới bài “Nối Vòng Tay Lớn”, không có nhạc đệm trên đài phát thanh Sài Gòn. Không những là ngày uất hận “nối vòng tay tang chế lớn”, mà còn là ngày co giật từng cơn run kinh phong nhăn nhúm rúm ró teo tóp lại. Ôi! Quả đúng là có một phép lạ như điềm dự báo trước kia, khi con chim bồ câu đã đậu trên bàn thờ Đức Mẹ Fatima, ở trên khu vực giáo dân Đà Lạt, nơi thường cung nghinh rước ảnh tượng Đức Mẹ đến từng nóc nhà vào đầu năm 1974. Thì người ta nói: “Con chim bồ câu tượng trưng cho sự hoà bình”. Nay “hoà bình” đã đến thật rồi sao?!
        Dinh Độc Lập, vương cung thánh đường Đức Bà, con đường Norodom độc đáo, ấy vậy mà hôm nay đã do tướng Trần Văn Trà cầm đầu mặt trận Cách-mạng Lâm-thời 75 (!) tại Sài Gòn, cùng đoàn xe molotova rền rú ì ầm chạy tới cổng dinh Độc Lập lúc 11 giờ sáng. Khi ấy đại sứ Pháp tại Việt Nam là Jean Marie Mérilon, còn ở trong toà đại sứ ở trên "con đường có tên Thống Nhứt”; (là thống nhứt! Ui trời! Chao ôi! nên chi sụp đỗ toàn diện một chế độ), bàng hoàng cả một dân tộc Việt Nam & thế giới!
        Chiến tranh -hai miền Nam-Bắc- đưa con người bải hoải lết lết tới đường cùng cuối bờ vực sâu. Khi có những chiếc xe tăng ì ầm chạy trên các đại lộ chính, chở đầy bộ đội đầu đội nón cối, chân mang dép râu, cổ quàng khăn lau mặt, thân hình dắt đầy cành cây. Đoàn xe vượt qua... cán nát- chôn vùi nền Đệ Nhị Cộng Hòa do Tổng-thống Nguyễn Văn Thiệu bôn tẩu lánh cư, do cụ Trần Văn Hương lãnh đạo bảy ngày, cuối cùng trao cho "ông Tổng-thống" (không hề có dân cử) - ông Dương Văn Minh ngồi trên ngai vàng lãnh đạo miền Nam Việt Nam vỏn vẹn chỉ có ba ngày!!!
        - Quân Bắc Việt được sự hổ trợ tối đa của Nga Xô và Tàu-cộng cung cấp đầy đủ đạn dược, súng ống và xe tăng. Trong khi miền Nam Việt Nam bị Mỹ hứa lèo hứa cuội, rồi trở mặt lừa lọc phản bội, lãnh đạm bỏ rơi. Mỹ từ chối hết thảy, kể cả chính phủ miền Nam chỉ xin chi viện 300 triệu đồng. Cũng không! Toàn Quân miền Nam thiếu thốn đủ mọi thứ. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa phải tự anh hùng oai dũng kiên cường chiến đấu, quyết liệt chống trả đến viên đạn cuối cùng, trong sự cô độc, vô cùng đắng cay chua xót và tuyệt vọng dường bao!!! Những Người Lính dũng cảm ấy chưa hề buông súng bỏ cuộc, họ không hề thua cuộc chiến, (hoạ chăng... "sẩy do thua cuộc cờ"...). Họ không bao giờ phản bội dân tộc và cương quyết ở lại giữ gìn quê hương Việt Nam dấu yêu -đến giờ phút cuối cùng- Cho đến ngày Thứ Tư: 30-04-1975: Họ phải cúi gầm đầu -bật khóc- ; vì buộc lòng phải tuân phục thượng-lệnh. Đời sống ấy phơi bày cuốn phim cay nghiệt, có cảnh-tượng kém thanh-lịch, bóc trần những điều quá thật, làm tan nát đời nhau. Chẳng bao giờ xóa nhòa, tàn phai trong ký-ức mọi người. Tan hoang kinh khủng. Đau đớn tột độ!
        “Hạnh phúc Hòa Bình” đến, vội-vã chợt đi... ; giật theo tấm áo đơn bạc, lộ ra quá-khứ trần trụi, hiện tại đọa-đày, tương lai đen tối mịt mù. Vẫn hay, vô cùng nghẹn ngào cay đắng!!! Thiệt đúng là "bách niên thương hải biến vi tang điền"!
        ***
        Tình HOÀI HƯƠNG


        (2) - Nguồn TỪ > Wikipedia, & Tình Hoài Hương sưu tầm đó đây.
        - "Bách niên thương hải biến vi tang điền" là câu gồm 8 chữ, không phải thơ Đường Luật, có thể là loại thơ Cổ Phong, nghĩa là thơ Cổ trước khi có thơ Luật của đời Đường ra đời. Cổ Phong có thể gồm thơ 3 chữ, 5 chữ, 6 và 8, không theo luật Thi. Thơ Đường Luật thường gồm thơ 5 chữ và thơ 7 chữ theo Luật Bằng Trắc và Đối Ngẫu.
        Bốn cuốn sách tham khảo gồm: Tự Điển Truyện Kiều của Đào Duy Anh.
        1. Tự điển Từ, & Ngữ Việt Nam của GS Nguyễn Lân.
        2. Thành Ngữ Điển Tích Danh Nhân Tự Điển của GS Trịnh Văn Thanh.
        3. Nguyễn Du Toàn Tập Quyển 1 Thơ Quốc Âm Truyện Kiều của Nguyễn Thạch Giang.
        4. Theo cuốn Tự Điển Truyện Kiều (trang 68) & cuốn Tự Điển Từ & Ngữ VN (trang 1797) thì đa phần giống nhau trong sự giải thích: "Thương hải biến vi tang điền, mà viết tắt là 'Thương hải tang điền" nghĩa đen là "Biển xanh biến thành ruộng dâu", nghĩa bóng là những cuộc thay đổi lớn lao. Nhưng không ghi xuất xứ điển này từ đâu ra.
        *5.- Theo cuốn Nguyễn Du Toàn Tập Quyển 1 Thơ quốc Âm Truyện Kiều của Nguyễn Thạch Giang thì điển Thương Hải Tang Điền, xuất xứ từ Thần Tiên Truyện vào thời Đông Hán. Tiên nhân Vương Phương Bình xưa đỗ Hiếu Liêm, làm quan chức Trung Tán Đại Phu, rồi bỏ quan đi tu tiên đắc đạo, giáng xuống nhà Thái Kinh (người đời Hậu Hán), cho mời tiên nữ Ma Cô đến. Ma Cô bảo Phương Bình rằng: "Tiếp thị dĩ lai, dĩ kiến Đông Hải tam vi tang điền." Nghĩa là: "Từ khi được tiếp hầu ông đến nay, tôi thấy bể Đông đã ba lần biến thành ruộng dâu."
        6.- Cuốn Thành Ngữ Điển Tích Danh Nhân Tự Điển của Trịnh Văn Thanh nói giống như cuốn Thơ Quốc Âm Truyện Kiều của Nguyễn Thạch Giang, nhưng đơn giản hơn một chút. (*)
        *
        Tình Hoài Hương

        [(1), Mời độc giả xem thêm trích dẫn dưới bài viết nầy)] Trích dẫn nguyên văn từ Facebook Quoc Gia Nguyen - April 5 at 6:08am:

        - Ngu ngốc & hèn hạ - Nguyễn Văn Hảo sinh năm 1942, là người được học hành đến nơi đến chốn từ trường ta cho tới trường Tây. Hắn có bằng cấp Tiến Sĩ Kinh Tế từ thập niên 1960. Với trình độ học vấn như vậy, Tiến Sĩ Nguyễn Văn Hảo đã được Chánh Phủ mời ra nắm giữ những chức vụ quan trọng như Thống Đốc Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam - Tổng Trưởng Bộ Canh Nông và Kỹ Nghệ, cuối cùng đến năm 1974 thì được cử giữ chức Phó Thủ Tướng.
        Thời làm Thống Đốc NHQGVN, hắn biết rõ ngoài ngoại tệ và giấy bạc nội tệ thì thứ có giá trị lớn nhất được cất giữ trong tầng hầm của Ngân Hàng chính là số vàng dự trữ lên tới 16 tấn gồm hơn 1.200 thỏi, mỗi thỏi nặng 13 kg. Đây chính là tài sản quốc gia hay chính xác hơn là tài sản của toàn thể người dân miền Nam đã đổ mồ hôi và cả máu qua nhiều thế hệ mới tích trữ được.
        Ngày 29/4/1975 khi Cộng Sản Bắc Việt đã áp sát Thủ Đô, tàu Việt Nam Thương Tín chuẩn bị rời Bến Bạch Đằng, Dương Văn Minh cho lệnh đem tất cả số vàng này xuống tàu đưa ra ngoại quốc. Hảo biết được chuyện đó, liền chạy đến Ngân Hàng túc trực và cản trở không cho nhân viên thừa hành đụng tới số vàng này với lý do muốn đưa tài sản quốc gia ra khỏi đất nước, thì phải được lưỡng viện Quốc Hội chuẩn thuận. Hắn thừa biết trong tình cảnh rối ren hỗn loạn như vậy thì việc đó là không thể. 12g 30 trưa ngày 30/4/1975, khi Dương Văn Minh và toàn bộ nội các bị giam lỏng trong Dinh Độc Lập thì Hảo đến xưng tên tuổi, chức vụ và xin lính Cộng Sản gác cổng cho hắn vào để "báo một việc quan trọng". Sau khi vào trong, hắn nói với Dương Văn Minh về số vàng còn giữ lại nhưng ông ta tỏ vẻ không quan tâm làm Hảo mất hứng.
        Đến ngày 2/5, Cộng Sản thả tất cả mọi người ra khỏi Dinh thì Hảo nài nỉ xin được ở lại để "gặp lãnh đạo Ủy Ban Quân Quản vì có việc quan trọng cần báo cáo". Khi Trần Văn Trà đồng ý gặp, hắn đã dâng số vàng của quốc gia và người dân Việt Nam Cộng Hòa cho giặc để tâng công. Không được xơ múi gì từ bọn cướp, năm 1982 hắn lủi thủi đi Pháp định cư và suốt bao nhiêu năm, để mặc những lời chửi bới, nghi oan cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Hảo ngậm tăm không dám nói ra sự thật. Thằng Tiến Sĩ - Phó Thủ Tướng khốn nạn!
        *
        Last edited by Tinh Hoai Huong; 05-24-2020, 06:09 AM.
        Bút trần nào tả được lưu luyến!
        Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
        Tình Hoài Hương

        Comment


        • Anh hùng Tử Khí Hùng Bất Tử


          Anh hùng Tử Khí Hùng Bất Tử
          (45 năm… tưởng niệm quý vị anh dũng: Sinh vi tướng, tử vi thần)
          Tình HOÀI HƯƠNG
          *


          Lòng tôi bỗng nhói buốt lên từng cơn rúng động đau điếng, xót xa, bàng hoàng run rẩy khôn tả xiết. Tôi rụng rời, bi phẩn đến cực điểm, điếng lặng, dại khờ, đắng cay, nghẹn ngào, băn khoăn và bâng khuâng không thể thốt lên tiếng thở dài, hoặc nói câu nào. Chúng tôi: trên bước đường ly tán là những lữ hành đơn độc mệt lã, nay xa lạ từ lãnh thổ của chính quê hương mình, đã ôm mặt khóc ròng, hai hàng nước mắt tôi và các bạn đều tuôn chảy. Tôi khóc vì vong gia thất thổ, khóc thân phận con người đớn hèn bọt bèo trôi nổi. Và; bởi chúng tôi ra đi về miền Tây là: quá hy vọng tuyệt đối tin tưởng vào các vị tướng, tá, sĩ quan, các vị quân nhân binh lính oai dũng: vẫn còn đóng chốt kiên cố ở miền Tây, nơi họ còn giữ vững non sông và dân tộc trong giờ thứ 25.
          Nào ngờ… tôi đã mất đất dung thân trên quê hương, nỗi đau đớn ấy nén dưới chiều sâu tâm hồn đã vọt lên tim, lên óc, lên cổ tôi những cục nấc nghẹn ngào tức tưởi theo dòng thời gian chảy về. Bây chừ chúng tôi quá tuyệt vọng, vì… máu, nước mắt, và tóc của những vị anh hùng đã vắt xỏa lơ lửng ngang lưng trời -mãi hoài không tan biến. Từ đó bầu trời vần vũ mây xám tạo thành những cơn mưa triền miên đẫm ướt sông hồ sơn khê Việt Nam!!! Ngờ đâu nay càng thương sầu nuối tiếc những vị anh hùng tuấn kiệt bất hủ đã oanh liệt tuẫn tiết. Chúng tôi thương họ hơn cả sự đau khổ cơ cực, đọa đày, biệt xứ vào những ngày ly tán trong tháng 4: Chúng tôi sửng sốt, rụng rời, vì nhiều lần trên đường loạn lạc, tai nghe tin khủng khiếp rõ mồn một từ miệng rất nhiều người tất tả xuôi ngược chạy về nơi nầy, chạy đi nơi khác: Tin tức sốt dẽo nhứt là do người dân ngang nhiên xôn xao bàn tán ở hai bến phà: Cần Thơ, và Mỹ Thuận. Người ta nói như một lời khẳng định về vấn nạn miền Nam Việt Nam Cộng Hoà; rằng:
          - Không còn “Tướng, Tá” gì ráo.
          - Đừng hòng mà có ý định “mưu đồ” chiếm lại Sài Gòn. Nghe.
          - Các vị tướng, tá, úy, thậm chí cả hạ sĩ quan, binh lính, đã hy sinh. Họ cương quyết không chịu khuất phục vô tay bọn cướp nước, nên họ đã tuẫn tiết tự sát kìa. Chết thật rồi...
          Khi từ Rạch Giá tìm đường trở lại thủ đô Sài Gòn, chúng tôi lật đật đến thăm những người bạn thân đang làm lớn trong chính phủ miền Nam Sài Gòn. Các anh bạn xác nhận rõ ràng: những vị anh hùng trung liệt bất khuất lừng danh rất đáng kính trọng, đáng ngợi ca ngàn đời, lưu danh thơm thiên cổ ấy, là những vị anh hùng tử khí hùng bất tử. Những vị sinh vi tướng tử vi thần mà sử sách đã vĩnh viễn ghi sau:
          *1 - Thiếu Tướng Phạm Văn Phú (1929) Tư Lệnh Quân Ðoàn 2, Quân Khu 2. Tướng Phạm Văn Phú tuần tự giữ các chức vụ chỉ huy: * 1953 - Ông tốt nghiệp khóa 8 - Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt, sau đó phục vụ trong binh chủng Nhảy Dù. * 1954 - Đại úy Phạm Văn Phú Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù. * 7/5/1954 - Điện Biên Phủ thất thủ, đại úy Phú bị bắt giam. Sau Hiệp định Genève, ông được thả ra; tiếp tục phục vụ trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa. - 1962 Thiếu Tá Liên-Đoàn-Trưởng Liên-Đoàn Quan-Sát 77 Lực-Lượng Đặc Biệt. * 1963 Tư Lệnh Phó Sư Ðoàn 2 Bộ-binh Quảng Ngãi. * 5/1964 Trung Tá Tham Mưu trưởng Lực Lượng Đặc biệt - 1966.- Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 1 Bộ Binh. * 1968 Chuẩn-tướng Biệt Khu 44 Đồng Tháp Mười, miền Tây * 1969 Chuẩn Tướng Tư Lệnh Lực Lượng Đặc biệt. * 1970 Chuẩn Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh - Tư Lệnh Quân Đoàn 4. * 1973- 10/1974 - Chỉ-huy-trưởng Trung-Tâm Huấn-luyện Quang Trung. - 1974- Tư Lệnh Quân Đoàn 2 và Quân Khu 2 - Tư Lệnh Vùng II Chiến Thuật, Bộ Chỉ Huy đóng tại Pleiku, vùng Cao Nguyên miền Trung. - 29/4/1975- Thiếu tướng Trần Văn Phú uống thuốc độc tự tử tại tư gia đường Gia Long. Ông đã tạ thế ngày 30-4-1975.
          *2 - Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam - (23-09-1927) Tư-lệnh Quân Ðoàn 4. Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam tuần tự giữ các chức vụ chỉ huy: * 1953 - ông Nguyễn Khoa Nam nhập ngũ Khóa III Thủ Đức - gia nhập binh chủng Nhảy Dù. - 1965 - Thiếu tá Tiểu-đoàn-trưởng Tiểu đoàn 5 Nhảy dù. * 1967 - Trung Tá Lữ-đoàn-trưởng Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù - 1969 - Tư lệnh Sư Đoàn 7 Bộ-binh kiêm Tư lệnh Khu Chiến thuật Tiền Giang. - 1974 - Th/Tg Nguyễn Khoa Nam Tư lệnh Quân-đoàn IV & Vùng IV Chiến thuật. * Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam dùng súng browning tự sát 01-5-1975.
          * 3 - Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng - (27-3-1933 Hốc Môn) Tư-lệnh-phó Quân-đoàn 4. Ông Lê Văn Hưng: khóa 5 Sĩ quan Trừ bị Thủ Ðức. Tướng Lê Văn Hưng tuần tự giữ các chức vụ chỉ huy: Ra trường sau đó chỉ huy từ cấp Đại-đội. Tiểu-đoàn. Trung-đoàn thuộc Sư-đoàn 21 Bộ-binh. * 1966 - Thiếu-tá Tiểu-đoàn-trưởng Tiểu-đoàn 2/Trung-đoàn 31 Bộ-binh. *1968 - Trung tá Lê Văn Hưng Trung-đoàn-trưởng Trung-đoàn 31 Bộ Binh tại Hậu Giang & thăng Đại-tá Tư-lệnh Sư-đoàn 5 Bộ-binh. * 6/1971 - Tư lệnh Sư đoàn 5. * 1972 - Chuẩn-tướng Tư-lệnh-phó Quân-khu 3. * 1973 - Chuẩn-tướng Tư-lệnh Sư-đoàn 21 Bộ-binh. * 1974 - Tư-lệnh-phó Quân-đoàn 4. Chuẩn-tướng Lê Văn Hưng đã tự sát bằng súng lục vào lúc 20g 45’, ngày 30.04.75.
          * 4 - Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ - (22-8-1933 Sơn Tây). Tư-lệnh Sư- đoàn 5 Bộ-binh. Chuẩn-tướng Lê Nguyên Vỹ tuần tự giữ các chức vụ chỉ huy: * 1951 - Ông học khóa 2 (Lê Lợi) trường Võ Bị Địa phương Huế. Tốt nghiệp Ðại Học Chỉ Huy Cao Cấp & Tham Mưu tại Mỹ. * Đại úy Quận-trưởng Bến Cát (Bình Dương). - Trung Ðoàn Trưởng Trung Ðoàn 8 thuộc Sư Ðoàn 5 * 1965 - Thiếu tá Vỹ tham gia trong chiến trường An Lộc. Thiếu-tá Tư-lệnh-Phó Sư-đoàn 21 Bộ-binh. * 1972 - Đại Tá Lê Nguyên Vỹ, Phó Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh tại An Lộc. * 1973 - Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 21 Bộ-binh. * 1974 - Chuẩn-tướng Tư-lệnh Sư-đoàn 5 Bộ-binh căn cứ Lai Khê (Bình Dương)* 30-4-1975 - Chuẩn-tướng Lê Nguyên Vỹ tự sát tại Bộ Tư Lệnh Lai Khê.
          * 5 - Chuẩn-tướng Trần Văn Hai - (1929 Cần Thơ). Tư-lệnh Sư-đoàn 7 Bộ-binh. Chuẩn-tướng Trần Văn Hai đã tuần tự giữ các chức vụ Chỉ-huy: * 1951 - Sinh viên Sĩ quan Trường Võ Bị Đà Lạt. * 1960 - Thụ Huấn Khóa Chỉ-huy Tham-mưu tại Hoa Kỳ. * 1963 - Thiếu-tá Chỉ-huy-trưởng TT Huấn-luyện Dục-Mỹ. * 1965 - Trung tá Tỉnh Trưởng Kiêm Tiểu Khu Trưởng Tỉnh Phú Yên, Chỉ huy các lực lượng Quân Cán Chính. - Tư-lệnh-phó Quân-đoàn 2; Quân-khu 2. * 1968 - Tổng-giám-đốc Cảnh-sát Quốc-gia. Tết Mậu Thân, đại tá Hai có mặt ở Liên đoàn 5 Biệt Động Quân trong những giờ giao tranh đầu tiên tại Thị Nghè - Hàng Xanh, phụ trách mặt trận Chợ Lớn, Phú Thọ. * 1970 - Chuẩn-tướng Tư-lệnh Biệt Khu 44.
          * 1971 - Chuẩn-tướng Chỉ-huy-trưởng Binh-chủng Biệt-Động-quân. * 1972 - Chuẩn-tướng Tư-lệnh-Phó Quân-đoàn 2 & Quân-khu 2 Đặc Trách Biên-phòng. - Chỉ huy trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Lam-Sơn, kiêm Chỉ huy trưởng Huấn Khu Dục-Mỹ. * 1974 - Tư-lệnh Sư-đoàn 7 Bộ-binh, căn cứ Đồng Tâm Tỉnh Định Tường. Chiều 30.04.1975 - Chuẩn-tướng Hai đã uống thuốc độc tự tử tại văn phòng Tư-lệnh, Ðồng Tâm. Mỹ Tho. Nơi Bộ-tư-lệnh Sư-đoàn 7 Bộ-binh.
          * 6 - Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn - (24-3–1938 Vĩnh Thanh Vân. Rạch Giá). Đại Tá Tỉnh Trưởng Chương Thiện. Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn đã tuần tự giữ các chức vụ Chỉ-huy: * 1947 - Ông gia nhập vào trường Thiếu Sinh Quân. * 1957 - Liên trường Võ Khoa Thủ Đức. Học chuyên môn: CC1 & CC2 Vũ Khí. Sau 9 tháng thụ huấn ưu hạng, ông làm huấn luyện viên tại trường VKTĐ. * 1962 - TSQ Hồ Ngọc Cẩn vào trường sĩ quan hiện dịch, Đồng Đế. & thuyên chuyển về Biệt Động Quân vùng 4 Chiến Thuật: Trung-đội-trưởng Tiểu-đoàn 42 Biệt Động Quân. Ông tuần tự phục vụ tại các binh chủng: Dù. Thủy-quân Lục-chiến. Biệt-động-quân. Quân-báo. An-ninh Quân-đội. Lực-lượng Đặc-biệt: Tại các tỉnh Cần-Thơ (Phong-Dinh). Chương-Thiện. Sóc-Trăng (Ba-Xuyên). Bạc-Liêu. Cà-Mau (An-Xuyên). * Tiểu-đoàn số 42, Tiểu-đoàn Cọp Ba-đầu-Rằn. * Tiểu-đoàn số 44 Cọp Xám U-Minh Hạ). 1973. * Đại Tá Tỉnh trưởng Tỉnh Chương Thiện. * 30-4-1975 - Trong BCH hết đạn dược, ông đã bị bắt tại nơi đồn trú. - 14-8-1975 - Đại tá Hồ Ngọc Cẩn đã bị kết án, xử bắn ở sân vận động tỉnh Cần Thơ, trước sự chứng kiến của đồng bào.
          * 7 - Ðại-tá Ðặng Sĩ Vinh - Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia. Lúc 2 giờ ngày 30.04.75, Ðại-tá Vinh, cùng gia đình gồm: Vợ và Bảy người con, đã tự tử bằng súng lục!!! (chồng+Vợ + 7người con= 9 nhân mạng).
          * 8 - Đại-tá Nguyễn Hữu Thông - Trung-đoàn-trưởng 42 Bộ Binh, Sư Đoàn 22Bộ Binh - Khóa 16 sĩ quan Võ Bị Đà Lạt. 31/3/1975, tự sát tại Quy Nhơn.
          * 9 - Đại-tá Lê Cầu - Trung-đoàn-trưởng 47 Bộ Binh.
          *10 - Trung-tá Vũ Đình Duy, Trưởng Đoàn 66 Đơn Vị 101/QLVNCH, tự sát bằng độc dược ngày 30-4-75.
          * 11 - Trung-tá Nguyễn Văn Hoàn, - Trưởng Đoàn 67 Đơn Vị 101/QLVNCH, tự sát bằng súng lục ngày 30-4-1975.
          *12 - Trung Tá Đường, & Đại úy Bé... Chỉ huy lực lượng Thám-báo, chết ở chân cầu Vị Thanh 30-4-75.
          *13 - Trung-tá Nguyễn Đình Chi - Cục An Ninh Quân-đội. Tự sát 30-4-75.
          *14 - Trung-tá Hà Ngọc Lương - TT Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang. Tự sát 30-4-75 (cùng vợ, 2 con, 1 cháu).
          *15 - Trung-tá Phạm Đức Lợi - Khóa 5, Thủ Đức. Phụ tá Trưởng Khối Không Ảnh P2/ Bộ TTM; là học giả, văn, thơ, soạn kịch… (bút danh: Phạm Việt Châu), cựu giảng viên SNQĐ, trưởng phái đoàn VNCH Hiệp Định Paris tại Hà Nội. Tự sát tại tư gia ngày 5/5/1975.
          *16 - Trung-tá Nguyễn Văn Long - Sanh năm 1919 tại Gia Hội. Huế. Ông đã tuần tự giữ các chức vụ: Chỉ-huy Trưởng Phòng - Chủ Sự. - Ty Cảnh Sát. - Ty Công An. - Khu 1 Đà Nẵng. Chánh Sở Ty Cảnh Sát Quốc Gia Đà Nẵng. - Ngày 28-3-1975 - Trung-Tá Nguyễn Văn Long được lệnh phải rời Đà Nẵng vào Sài Gòn. Tính tình ông trầm lặng, ít nói, cương trực, mẫu mực, tận tụy, thanh liêm; nên gia đình ông sống rất thanh bạch. Trung tá Long có biệt danh là “Long lý”; có nghĩa là không thiên vị ai, cứ công lý minh bạch lẽ phải mà thi hành. Khi nghe "tân tổng thống 3 ngày không dân cử", Dương Văn Minh ra lịnh tất cả quân đội: "ở đâu phải ở đó, buông súng, không được kháng cự", để ông Minh bàn giao chính phủ cho ban tiếp quản miền Nam. (!?). - 30-4-1975 - Trung Tá Nguyễn Văn Long đã rút súng tự bắn vô đầu, tuẩn tiết dưới tượng đài Thủy Quân Lục Chiến, trước trụ sở Quốc Hội. Sài Gòn.
          *17 - Trung Tá Nguyễn Xuân Trân - Khoá 5 Thủ Đức, Ban Ước Tình Báo P2/Bộ TTM. Tự tử ngày 1/5/75.
          *18 - Trung-tá Phạm Thế Phiệt - 30-4-75.
          *19 - Thiếu tá Trịnh Tấn Tiếp - Quận-trưởng Kiến Thiện là một sĩ quan xuất sắc, trí dũng song toàn. Ngày 14-8-1975, ông đã bị VC xử bắn tại sân vận động Cần Thơ.
          * 20 - Thiếu-tá Không-quân Nguyễn Gia Tập - (25-12-1943). Phi-đoàn 514-518, Khu-trục Biên-Hoà. Ông thụ huấn khoá 64D, năm 1964. * Tốt nghiệp T 28 - ở Randolph AFB – TX. Hoa Kỳ. * Tốt nghiệp TopGun – Khóa A 1e - tại Hurburt Field, Florida. * Sĩ quan Liên-lạc trường Huấn-luyện Keesler Hoa Kỳ. * Làm việc tại: Phi-đoàn Khu-trục 514 - 518 – Biên Hoà. * Làm việc tại phòng Đặc-trách Khu-trục, Bộ Tư-lệnh Không-quân. Thiếu tá Nguyễn Gia Tập tự sát bằng súng lục trước sân cờ, trong căn cứ Bộ Tư-lệnh Không-quân. Thân nhân của Th/tá Nguyễn Gia Tập, đã đem thi thể Th/tá Tập về chôn cất tại Long Khánh. Thiếu tá Nguyễn Gia Tập là vị anh hùng phi công Khu-trục A 1 Skyraider.
          * 21 - Thiếu-tá Lương Bông - Phó Ty An Ninh Cần Thơ. Tự sát 30-4-75.
          * 22 - Thiếu-tá Mã Thành Liên (Nghiã) - Tiểu-đoàn-trưởng 411ĐP, TK Bạc Liêu - khoá 10 Đà Lạt. Tự sát cùng vợ ngày 30-4-75.
          * 23 - Thiếu-tá Nguyễn Văn Phúc - Tiểu-đoàn-trưởng, Tiểu Khu Hậu Nghĩa. Tự sát 29/4/1975.
          * 24 - Thiếu-tá Hải Quân Lê Anh Tuấn - (1943 – 1975). Xuất thân Khóa 14 Sĩ Quan Hải Quân.
          Ông là Chỉ Huy Trưởng Giang Ðoàn 43 phục vụ trên chiến hạm của Hạm Ðội. Duyên Ðoàn 27. Duyên Ðoàn 23. Phòng Tâm Lý Chiến Bộ Tư Lệnh Hải Quân. Khi nghe lệnh từ ông Dương Văn Minh bắt buộc quân nhân buông vũ khí, giao đất nước Việt Nam vô tay giặc, thì Thiếu-tá Tuấn đứng trên chiếc soái đỉnh dùng súng colt bắn vào đầu tự sát, ông gục ngay trên tấm bản đồ hành quân.
          * 25 - Thiếu-tá Đỗ văn Phát - Quận Trưởng (kiêm Chi Khu Thạnh Trị Ba Xuyên. Đại Đội Trưởng Đại Đội 1 Tiểu Đoàn 2, Trung Đoàn 33, Sư Đoàn 21 Bộ Binh, đã tuẫn tiết ngày 1/5/1975.
          * 26 - Thiếu-tá Trần Thế Anh - Đơn vị 101. Tự sát ngày 30/4/75
          * 27 - Thiếu tá Trần Đình Tự - Tiểu-đoàn-trưởng Tiểu đoàn 38 Biệt Động Quân. 11 giờ sáng ngày 30 tháng Tư năm 1975 tại trung tâm hành quân của Liên Đoàn 32 BĐQ, Trung-tá Liên Đoàn-trưởng Lê Bảo Toàn nhận được lệnh từ cấp chỉ huy Quân Đoàn: “Hãy ngưng bắn ngay lập tức, ở yên tại chỗ, để đợi phía bên kia đến bàn giao khu vực.”- Lần đầu tiên cũng là lần cuối cùng trong đời Th/t Trần Đình Tự đã cưỡng lệnh cấp chỉ huy. Sau khi nhận lệnh buông súng, ông nói: "Tôi sẽ ở lại đánh nữa, tôi không đầu hàng. Tôi không thể nào để lọt vô tay tụi nó lần nữa"...
          Nhưng anh Tự không còn nữa, đã tử trận. Tên giặc Cộng rút con dao găm của anh Tự đeo bên hông, nó đâm mạnh vô bụng Trần Đình Tự, rọc mạnh xuống phía dưới. Ruột anh Tự lòi tuột ra ngoài. Chưa hả, nó còn ngoáy mạnh mũi dao vô tận trong bụng anh Tự. Anh Tự hét lên rất bi ai nghẹn uất, đổ sụm xuống oằn mình giật từng cơn trong vũng máu đỏ.
          * 28 - Đại-úy Vũ Khắc Cẩn - Ban 3 Tiểu-khu Quảng Ngãi. Tự sát 30-4-75.
          * 29 - Đại-úy Tạ Hữu Di - Tiểu Đoàn Phó 211 Tỉnh Chương Thiện. Tự sát 30-4-75.
          * 30 - Đại Úy Nguyễn Văn Hựu - Trưởng ban văn khố P2/Bộ TTM. Tự sát sáng 30/4/75 tại P2/Bộ TTM.
          * 31 - Đại-úy Nguyễn Hòa Dương - Trường Quân-Cảnh Vũng Tàu. Tự sát 30-4-75 tại trường.
          * 32 - Trung-úy Đặng Trần Vinh - Phòng 2, Bộ TTM. (con của Thiếu-tá Đặng Sĩ Vinh). Tự sát cùng vợ con 30/4/1975.
          * 33 - Trung-úy Nghiêm Viết Thảo - Khóa 1/70 Thủ Đức. An Ninh Quân đội. Tự tử tại Kiến Hòa.
          * 34 - Trung-úy Nguyễn Văn Cảnh - CSQG Trưởng-cuộc Vân Đồn. Quận 8. Tự sát 30-4075.
          * 35 - Thiếu-úy Không-quân Nguyễn Thanh Quan - Khóa 1/70. PĐ 110 Quan-sát. Tự tử 30-4-75 tại Kiến Hòa.
          * 3 - Thiếu-úy Nguyễn Phụng - Cảnh Sát ĐB. Tự sát 30-4-75, tại Thanh Đa.
          * 37 - Thiếu úy Nhảy Dù Hoàng Văn Thái - Khóa 5/69 Thủ Đức. Tại một bùng binh ở ngã 6 Chợ Lớn, Thiếu uý Thái và một nhóm 7 người bạn, mỗi người một quả lựu đạn, họ cùng mở chốt tự kết liễu đời mình ngày 30-4-1975. Họ là một toán Nhảy Dù về bảo vệ Đài-phát-thanh. Đài Truyền-hình Việt Nam.
          * 38 - Chuẩn-úy Đỗ Công Chính - TĐ 12 Nhảy Dù. Tự sát tại cầu Phan Thanh Giản.
          * 39 - Thượng Sĩ Phạm Xuân Thanh - Trường Truyền-tin Vũng Tàu. Tự sát 30-4-75 tại sân trường.
          * 40 - Thượng sĩ Bùi Quang Bộ - Trường Truyền Tin Vũng Tàu. Tự sát ngày 30/4/1975 cùng gia đình 9 người tại Vũng Tàu.
          * 41 - Trung sĩ I Trần Minh - Quân Cảnh, ông gác ở Bộ TTM. Tự sát 30.4-75.
          * 42 - Trung-sĩ Nhứt Vũ Tiến Quang - (10-9-1956 Kiên Hưng, Tỉnh Chương Thiện). 2-9-1969 - Vũ Tiến Quang vào trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam – 1972, ông Vũ Tiến Quang có chứng chỉ 1 Bộ Binh. Phục vụ tại Trung-đội Trinh-sát của Trung-đoàn 31 (Cà Mau). Trung sĩ Vũ Tiến Quang làm thông dịch viên (cho cố vấn thiếu úy Hummer). * 1972- Vũ Tiến Quang có chứng chỉ 1 Bộ Binh. * 1974 - Sau khi có chứng chỉ 2 Bộ Binh, Trung-sĩ Quang về sư đoàn 21 Bộ Binh Tiểu-đoàn Ngạc Thần (tiểu đoàn 2 Trung đoàn 31 Bộ Binh đóng tại Chương Thiện.
          * 43 - Nguyễn Xuân Trân - Khóa 5 Thủ Đức. Tự sát 01-5-75.
          * 44 - Binh Nhì Hồ Chí Tâm - TĐ 490. ĐP. (Mãnh Sư) Tiểu Khu Ba Xuyên. Cà Mau. Dùng súng M 16 tự sát ngày 30-4-75 tại Đầm Cùn, Cà Mau.
          * 45 - Luật sư Trần Chánh Thành - Cựu Bộ-trưởng Thông-tin Đệ Nhất Cộng Hòa- Nguyên Thượng-nghị-sĩ đệ II Cộng Hòa. Tự sát ngày 3/5/75.
          * 46 - 6 toán thám sát của LĐ.81/Biệt Cách Nhảy Dù trong chiến khu D... 6 toán thám sát LĐ.81/Biệt Cách Nhảy Dù được trực thăng thả sâu trong mật khu VC.
          * 47 - Quý chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa: Địa Phương Quân. Nghĩa Quân... & những vị vô danh. Và còn nhiều!... rất nhiều chiến sĩ anh hùng vô danh ẩn tích khác. Họ là những anh hùng vị quốc vong thân. Những bậc anh tài sinh vi tướng, tử vi thần. Là những vị anh hùng tử khí hùng bất tử! Họ là những anh hùng kiện tướng, đầy nhiệt huyết, yêu đồng đội, hy sinh vì dân, vì đất nước quê hương. Nhứt là vì danh dự của một quân nhân Việt Nam Cộng Hoà. Họ rất anh dũng tự quyết định mạng sống mình, họ không chịu khuất phục địch. Giống như chí sĩ Trần Hữu Lực thời xưa đã có câu tuyệt mệnh: “Non sông đã chết. Ta há lại sống thừa. Từ mười năm giũa kiếm, mài dao. Chí mạnh, những mong phò tổ quốc. Lông cánh chưa thành. Việc bỗng đâu hoá hỏng. Dưới chín suối điều binh khiển tướng, hồn nhiên ngầm giúp bọn thiếu niên…”
          Đó là sự trả giá tuyệt vời rất đáng kính trọng của một con người coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, qua nhân cách sống của một quân nhân QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HOÀ - HỌ đặt tổ quốc - trách nhiệm - danh dự - lên hàng đầu. Một sự tuẫn tiết vô cùng quan trọng, rất đắt giá về điều: Vinh quang. Chiến thắng. Bi lụy. Can trường chiến đấu đến hơi thở cuối cùng; cho đến khi thủ đô Sài Gòn hòn ngọc viễn đông hùng tráng bi phẫn đã đớn đau vỡ vụn! Họ không hề đầu hàng không "thua cuộc"! HỌ vì lý tưởng tự do ưu trội thật cao vời. Và, vì sự bất tử cao cả, hiên ngang đầy oanh liệt. Kiên cường. Bất khuất của người lính Việt Nam Cộng Hoà quá dũng khí, oai phong lẫm liệt. Ôi! Họ đã lưu danh thơm lẫy lừng thiên cổ. Qúy ông ấy đã anh dũng, hiên ngang đứng vững giữa non sông gấm vóc trong quê cha đất tổ. Họ vĩnh viễn nằm lại trên dãi đất hình chữ S cong cong. Máu của họ đã chan hòa chảy ra - nhào trộn với đất phù sa đẫm ướt cả lòng quê. Hai tay họ thân ái ôm trọn quê hương ghì siết ở trong lòng. Họ đã bất khuất và vẻ vang sống mãi trong dòng lịch sử dân tộc Việt Nam có bốn ngàn năm văn hiến. Lão Tử đã có câu: “Để thân mình lại sau. Thế mà thân mình đứng trước. Gác thân mình ra ngoài. Thế mà thân mình vẫn còn".
          Trân trọng lắm thay!

          *
          Tình Hoài Hương

          Tôi, (tác giả bài viết) trân trọng cám ơn qúy vị, qua vài chi tiết nhỏ do các anh cho tin: - Đại-Úy KQ Trần Văn Phúc - KQ thanbaokimnguu - Anh KQ Vũ Ngô Khánh Truất - Anh Hoàng Hùng KQ2 - & GĐ81/BCND do anh Tâm1888 - Anh Ó Đen 3 - Anh Phạm Phong Dinh. . . & do Tình Hoài Hương sưu tầm lượm lặt ít chi tiết trên internet.
          Trân trọng
          Tình Hoài Hương
          Last edited by Tinh Hoai Huong; 05-01-2020, 12:07 AM.
          Bút trần nào tả được lưu luyến!
          Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
          Tình Hoài Hương

          Comment


          • Gươm Đàn Gãy Gánh

            Tháng Tư Đen
            Nhạc: Trần Lê Việt.
            Lời: Lê Xuân.
            Giọng ca: Việt Long.
            Gươm Đàn Gãy Gánh
            Tình Hoài Hương
            *


            Thỉnh thoảng có đám tuần tra đi ngoài đường nói cười rổn rảng sát ngay bên ghế bố nơi Luật nằm. Tôi không biết họ oang oang chưởi gì, chưởi ai!? Chưởi số phận nghiệt ngã đã trao cho họ: phải xách súng ngày đêm đi kiểm soát dân -từ buổi giao thời vừa mới có “tự do hạnh phúc”?! Hoặc hắn tự chưởi mình ngoảnh mặt làm lơ nhìn người khác hả hê trả thù dân tộc!? & trợn mắt sung sướng nhìn đồng bạn tuôn trào những lời cay độc, hét to từng tiếng lát gừng thị oai:
            - Tên gì?
            - Ai đó?
            - Đi đâu?
            - Kiểm tra giấy tờ.
            Anh em thằng Tùng (con của Ngọc) giật mình thức giấc vì tiếng quát, nhỏ Thắng xù xì hỏi anh nó:
            - Mấy ông kia có phải là lính mình không anh Hai? Lính Thủy Quân Lục Chiến mặc đồ đen, quàng khăn cổ bằng lá cờ xanh đỏ, cánh tay ổng đeo băng đỏ, đó anh.
            - Tầm bậy tầm bạ! Mầy đoán già đoán non, mà ngu như bò! Thủy-quân Lục-chiến oai lắm, họ mặc đồ xanh rằn ri, đội mũ màu xanh cứt ngựa, mang giày đinh.
            - Vậy à… hay mấy ông kia là người trong đảng ca ca chi đó, phải hông?
            - “Ca ca”… tiếng Tây nôm na là cứt nghen. Còn đảng K K K là là… thời da trắng ám sát da đen, khi Nam Bắc phân tranh bên xứ Mỹ. Không có ở đây! Biết không?
            - Thì… thì em thấy mấy ông du kích nầy có khác chi…
            - Xuỵt! Mầy có câm ngay cái miệng ưa bép xép không!?
            - Em không biết, mới hỏi chút xíu, anh làm gì dữ vậy!
            - Coi chừng cái... bản mặt đó. Thấy thì biết.

            Nghe hai cháu nhỏ “nóng ruột” từ lời nói, còn tôi “lộn ruột ứa gan” từ trong tim! Thành phố khiêm nhường bé nhỏ nầy đã trở nên trơ tráo hơn khi có “quân giải phóng miền Nam” tới với những thứ lạ, thứ mới, có ít thứ tốt và nhiều thứ xấu, lắm thứ dữ: Một ông già chệnh choạng thất thểu bước thấp bước cao, và mấy thanh niên đứng xớ rớ dưới cột đèn mờ mờ. Ông già ấy đã bị móc túi, không còn giấy tờ tùy thân, không có tiền xì ra. Cha con ông cháu kia nói dai, ú ớ van xin lằng nhằng lải nhải gì đó, liền bị một du kích địa phương dùng báng súng đập ông già một phát bể bên mé đầu, vọt máu tươi. Tên du kích ấy bắt ông già ngồi bó gối, hai tay đan vô nhau chấp lên đầu chung với đám thanh niên: Khổ thiệt, ở thời buổi giao thời nầy, sao ông dám mở miệng phân bua, với ai hì! Bị thương ngoài da rồi sẽ có ngày lành, nhưng tổn thương trong lòng tuy không ai trông thấy (dù chuyện không đáng), nhưng đau dài lâu.
            Luật tức giận cành hông, anh dợm đứng lên nhảy ra can thiệp, nhưng Ngọc mau tay lôi giật Luật, ra dấu cho anh im re nằm xuống câm mồm, coi chừng đầu không phải, phải tai. Luật lẩm cẩm không nhớ cho:
            Phong lan, phong chức, phong bì.
            Trong ba thứ ấy, thứ gì quý hơn?
            Phong lan ngắm mãi cũng buồn.
            Phong chức thì phải cúi luồn vào ra.
            Chỉ còn cái phong thứ ba.
            Mở ra thơm nức, cả nhà cùng vui. (1)

            Cổ họng ai nấy đều đắng nghét như ngậm vốc trà khô. Trà đắng có thể không thích nghi với thổ địa bởi tại phong sương, hoặc trà chát, chua, bởi tại tình người? Vã chăng, khi chiều chúng tôi nhìn “mấy tên 30”, hoặc ngó ai ai thì cũng thấy họ tò mò nhìn sững mình không chớp mắt, chả biết đâu là thù, mô là bạn! Nhiều người ra vô ở phòng trọ nầy mặt lạnh như tiền. (Chớ tôi có tật gì mà giật mình)!? Đúng. Một số ít dân cách mạng lâm thời đội mũ tai bèo, mang súng AK trong buổi giao thời, bên cánh tay cột khăn vải đỏ, cổ mang màu cờ nửa xanh nửa đỏ, họ hầm hầm ngó chúng tôi trừng trừng, nhìn muốn nổ con mắt, muốn trợn trừng tráo trưng con ngươi mà ăn tươi nuốt sống.

            Nếu ví như có những điều tự trong thâm tâm qúy vị đang vui tươi, trong sáng, bỗng một sớm một chiều trở nên sụp đỗ, âu sầu, băn khoăn, suy tư, lo lắng, bâng khuâng ray rứt về cái ngày 30-4; ngày lịch sử bất hạnh là: một giòng chảy không bao giờ chảy ngược lại! Hoặc giả qúy vị hay tôi muốn cầm bút viết lại, nói ra, lượt thuật, lượm lặt sưu tầm đó đây, nhã ý là: do ta chỉ ước mong bộc lộ những uẩn khúc quá đau lòng tự thâm tâm {trong đời sống thực. Có lần tôi đã nói: “tôi không hề lên án ai, xúc phạm ai, bới móc ai điều gì! Cho dù con người ấy, xã hội ấy sau 30-4-1975; đã đả thương tôi đớn đau trầm trọng cách mấy chăng nữa! Tôi rộng lượng bỏ qua & tha thứ}

            Vâng! Thì xin qúy vị tha cho tôi, đừng vội thẩm định tôi khuynh tả hay thiên hữu: Do thân tình ghi lại loạt chuyện (mà bạn TtTm hoặc tôi kể) để con cháu ngày ấy chưa thành nhân, thành danh; ngày nay sẽ hiểu rằng: Tình Đời và Tình Người cần thiết, dù có tiền rừng cũng không thể mua được thanh danh. Hũy hoại thanh danh dù một lần, một ngày làm mất danh dự, nhưng đã lưu lại suốt đời. Nếu tôi hoặc bạn tôi cố chấp, thì chẳng khác nào như con chuột, con dơi vắt mình trên cành: Con dơi chỉ thấy một phần nhỏ xíu dưới cành, mà chẳng thể nhìn thấy cả toàn cây. Con chuột chỉ là con vật loắt choắt tẻo teo, chuyên đi phá phách, hại ruộng hại đồng cây cối nhà cửa, dù nó có uống nước trong, hoặc mò mẫm lặn lội húp nước đục, thì chỉ no được cái bụng bé tí teo. Chuột vẫn là giống chuột lủi tanh hôi, có khi truyền đến ta bệnh dịch hạch nguy hiểm đáng sợ. Chuột nhớp nhúa không thể làm điều gì cao sang, ích lợi cho đời. Bây giờ thì nó có hóa thân làm con chuột hét ra tiếng người cốc lốc, lấc xấc mà thị oai, có hét tướng lên trong màn đêm u tịch, càng khiến người ta rất sợ hãi, không dám hó hé dáo dác len lén nhìn quanh, mà phải nằm im ru câm họng trong mùng lim dim hi hí ngó trộm. Con cháu tôi nghe, thấy rõ, đã biết sự hung ác kia... thì bây giờ con nên tôn trọng nhân cách sống, cư xử với nhau hòa ái, bao dung, vị tha; vẫn trân qúy đáng ngưỡng phục, hơn sự thô lỗ bạo tàn rợn người.
            Có miệng không nói lại câm.
            Hai hàng nước mắt chan dầm như mưa.
            Mang danh Dân Chủ Cộng Hòa.
            Đi ra khỏi tỉnh phải qua cửa quyền.
            Xuất trình giấy phép liên miên.
            Chứng từ thị thực ở miền nào qua. (1)

            Khoảng mười hai giờ khuya, có một toán choai choai dé dé xíu xíu bặm trợn khác lại xồng xộc vô nhà trọ, vếu váo tốc ngược mùng của mọi người lên, chúng giựt giọng gọi những khách trọ đêm dậy để kiểm soát giấy tờ tùy thân. Qua nhiều thủ tục khám xét gắt gao, những túi hành trang vải, (mà tôi đã may hôm 28-4-1975). Họ là ông trời con một cõi lừ mắt trợn ngược, hất hàm chĩa súng vô bụng, gặn hỏi khách trọ cộc lốc đủ thứ chuyện không có chủ từ danh từ:
            - Tránh qua bên kia, đứng xếp hàng.
            - Trước ở đâu?
            - Làm gì?
            - Nay đi đâu?
            - Đưa coi giấy tờ.
            - Còn có gì dấu đút ở đâu không?
            - Có lịnh không được đi đâu hết.
            Nhóm tôi nói láo:
            - Hồi trước sinh sống ở Phú Quốc. Nay có tự do, hoà bình, chúng tôi muốn về lại chỗ cũ:
            Trăm năm trong cõi người ta.
            Ở đâu cũng được đi ra đi vào.
            Xa xôi như xứ Bồ Đào.
            Người ta cũng được đi vào đi ra.
            Đen đủi như Ăng Gô La.
            Người ta cũng được đi ra đi vào.
            Chậm tiến như ở nước Lào.
            Người ta cũng được đi vào đi ra.
            Chỉ riêng có ở nước ta.
            Người ta không được đi ra đi vào. (1)

            Người ta nói: Ông Trời có mắt nhưng do ổng ở xa lắm, nên có mắt cũng như mù! Úi Trời đất thánh thần thiên địa ơi! giờ nầy qúy ngài hiền đức thánh nhân ở trên thiên đình: lo đi rong chơi, ngao du nơi biển sâu sông dài núi cao nào rồi!? Sao qúy ngài không cúi xuống nhìn đám dân giả dưới trần gian của qúy ngài đang rét run, sợ té khói ra đít nè! Đã thế mà trời còn mưa giông gió bão! Khi Trời gieo sấm sét đánh chết người, thì thiên hạ nói:
            - Do người ấy ăn ở ác, không có đức, nên bị Trời đánh.
            - Hứ! Vậy chớ ông Trời làm sét đánh chết người, thì không ai nói là ông Trời ác hì!

            Bốn giờ khuya, toán du kích già dặn kinh nghiệm thứ ba mặt mày đằng đằng sát khí, súng ống lăm le chĩa ra đằng trước ngực khách, đạn lên nòng róc róc róc… rắc rắc rắc... réc réc réc..., ngón trỏ hắn đặt trên cò; họ lại dựng đứng khách trọ ra khỏi mùng, để “hỏi cung”. Chúng tôi sợ mấy cha nội không rành về súng ống đạn dược, ưa tháy máy tay chân, thích “bụp” liền, thích “đục” , thích “nẻ” bậy vô dân ngu khu đen, thì chết toi cả đám oan đời. Tôi ngồi co rúm, không dám hó hé, xép re im thin thít trong một góc nhà trọ, lẩm bẩm đọc kinh cầu nguyện mà run như cầy sấy. Vậy thì tôi chẳng biết “ai” ác hơn ai hở Trời!
            Hãy đến bất cứ nhà nào.
            Chị em không việc cũng vào cũng ra.
            Thật là ngứa mắt chúng ta.
            Nhưng thôi cứ để họ ra họ vào.
            Không thì “cửa sắt” họ rào.
            Anh em đố có dám “vào” dám “ra”. (1)
            Một đêm có tới ba lần bị kiểm soát! Tửng bưng gần năm giờ sáng thì tốp dân ở Phú Quốc cặp tàu vô đất liền. Sau đó, cả lán trọ được biết là tù-phạm sau ngày 30-4 ở ngoài Phú Quốc đã phá ngục, có lớp người vượt ngục ra tù về đất liền, họ cầm súng giương oai đi quậy tưng trời, phá phách cướp bóc nhiều nơi. Đám di tản chúng tôi đứng xớ rớ bên góc cầu, may mắn Ngọc gặp ông ba của anh trên chiếc cầu gỗ lắt lẽo: Ông ba mừng rỡ ôm con trai khóc vừa nói:
            - Phú Quốc đã có nhiều trại tù nổi loạn. Cướp bóc tràn lan. Có những cuộc chém, giết, chạm súng gắt gao. Bọn mình phải quay trở về Đà Lạt ngay thôi.

            Chúng tôi tứ cố vô thân ở xứ lạ quê người, nghe thế lại càng tăng lòng sợ hãi lên cao độ, phân vân băn khoăn hết sức. Nếu chúng tôi đi ra Phú Quốc, biết đâu: Ngoài đảo đang lộn xộn kinh khủng, thì tai ách giữa đàng lại mang vào cổ. Thế là chuyện hy vọng đi Phú Quốc, từ nơi đó sẽ “đào tẩu” ra nước ngoài, nhưng... “em ơi nếu mộng đã không thành thì sao? Non cao đất rộng biết đâu mà... tìm!”. Tất cả anh em chúng tôi như con ngố, rù rì to nhỏ xầm xì với nhau nửa tiếng Anh, nửa tiếng Pháp, pha tiếng lóng chêm tiếng Ba Chệt, tiếp theo ngôn ngữ Việt mà bàn tính: nên trở về Sài Gòn thôi. Dù sao ở thủ đô vẫn còn có bộ mặt thị thành văn minh, còn có tai mắt quốc tế dòm ngỏ hầu vô cứu nhân độ thế!

            Chuyến đi Rạch Giá mong ước lẽn ra Phú Quốc nơi ấy còn vùng vẫy trong tự do độc lập. Nhưng thật vô duyên hết chỗ nói. Háo hức hân hoan hy vọng ra đi. Đến nơi Rạch Giá chứng kiến cảnh mắt thấy tai nghe bọn oắt con nhỏ bằng con cháu mình hung hăng, thô thiển, xấc xược “lên mặt” đánh đấm răn dạy cha chú. Tôi chong mắt trông trời mau sáng, để quày quả trở về nơi vừa mới bỏ đi. Có phải chúng tôi sẵn tiền, hay đã trở thành kẻ du mục dị ứng thời cuộc đã bị tẩu hỏa nhập ma điên khùng, “lắc lư con tàu đi”... tìm tự do hạnh phúc!? Giá mà hôm qua chúng tôi không gặp mấy tên du kích có đôi mắt trắng dã, có cái nhìn dữ dằn, hành động hung ác đánh người già như ông nội hắn, ăn nói cộc cằn, thô lỗ. Thì chắc chắn sáng tửng bưng nầy cả nhóm tôi đã lên tàu thủy dong ra Phú Quốc lánh nạn rồi. Cũng có lẽ định mệnh an bài cho chúng tôi nên ở lại Sài Gòn đông vui, thì đời không cô độc, sẽ là nơi an tựa vững vàng cho tương lai cuộc sống của chúng tôi chăng?!
            Khách ngoảnh mặt nghẹn ngào trông nắng đổ.
            Nghe gió thổi như trùng dương sóng vỗ.
            Lá rừng cao vàng rụng lá rừng bay...
            Giờ khách đi. Tha La nhắn câu này:
            - Khi hết giặc, khách hãy về thăm nhé!
            Hãy về thăm xóm đạo.
            Có trái ngọt cây lành.
            Tha La dâng ngàn hoa gạo.
            Và suối mát rừng xanh.
            Xem đám chiên hiền thương áo trắng.
            Nghe trời đổi gió nhớ quanh quanh... (2)
            *
            Duy có điều quan trọng là dù chúng tôi ngu ngơ ngố ngáo nơi quê hương thân yêu, rồi cũng phải cương quyết rứt áo ra đi, phải rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn. Đang ngơ ngác, bồn chồn, lo lắng khi trời đã về chiều, mà chân chồn gối mỏi, đúng lúc đó chúng tôi văng vẵng nghe:
            “Đạt là” chàng trai yêu xứ “Đà Lạt”.
            Anh “Plê Mê” đi lính ở “Plei-me”.
            “Cầu ma” bà xã tui đi “Cà Mâu”.
            “Cây còn” xa quê mình nhớ con cầy
            “Lợn sang” đồng lo chạy rông Lạng Sơn.
            “Hiền ta” ra hiên tà thấy Hà Tiên.
            “Chúng ta” hoan hỉ “tá chung” chiếc thuyền.
            Ngày mai anh “Viễn định” xuống Vĩnh Điện.
            “Cao Bằng” đau bụng tại tao “căng bào”.
            Trai “Hà Giang” chỉ cơm hỏi “hàng gia”?
            Đi “Lai Châu” gót chân mình “lâu chai”. (*)

            Chúng tôi tần ngần do dự đứng khựng lại trầm lặng hồi lâu, lắng nghe bọn trẻ choai choai, dé dé, xíu xíu khoảng độ tuổi mười lăm mười sáu, có lẽ là nam nữ sinh học trường Trung–học gần đấy đang ngồi trên sân đình, các em vui vẻ trao những câu “thơ thẩn tiếu lâm dám xướng ngôn vô loại” lên, cười ha hả mà không sợ bị bọn du kích 30 tống giam. Thì, trong dạ tôi vui mừng như mở cờ, ruột hớn hở đánh lô tô tưng bừng và nghĩ rằng: “có lẽ các cháu là “con cháu ông bà nhớn 30”, hoặc ít ra ở đây có lẽ còn dễ chịu, chắc còn thoải mái yên bình ca hát, ngâm thơ, hát câu vọng cổ... bên sông nước mơ màng, có thể làm cho người lạ xích lại gần kề, thân ái gợi chuyện làm quen, làm thân dễ dàng, cởi mở. Anh Bàn liều đi tới hỏi thăm đám trẻ, các em trai lanh lẹ vui vẻ chỉ lối đưa đường cho nhóm tôi biết: nên đi về hướng chợ nhỏ ở xa xa.

            Từ Rạch Giá trầm lắng u hoài, chúng tôi kéo lê đôi chân mệt mỏi rã rời leo lên xe đò phiêu lãng bơ phờ suốt trên đoạn đường dài ngót 248 cây số ngút ngàn phiêu lãng! Xe đò vẫn chật như nêm, tôi buồn bã nhìn trên đầu nhiều người lớn bé đang chít khăn sô, họ hớt hải vội vàng chen lấn nhau đi đâu? trở về đâu? mà tất tả lũ lượt thế nầy!? Tôi quá chán nãn nghe lòng mình phủ chụp xuống bao tơ rung suy nghĩ dập dồn. Mệt mỏi lắm! Tôi chẳng cần hé mắt nhìn lại quang cảnh hai bên đường (mà hôm qua lúc bồn chồn ra đi, tôi háo hức nhìn ngang ngó dọc lung tung ấy sao)! Chúng tôi và các con cháu không thèm ăn uống gì, chỉ cúi đầu trên chiếc xe đò cà xịch cà đụi lắc lư mà ngủ gà ngủ gật. Cười ra nước mắt cũng đành.

            Có nghĩa là chúng tôi thực sự quay trở về thủ đô Sài Gòn dấu yêu tại quê hương mình. Ôi! Quê hương Việt Nam cẩm tú giàu đẹp hùng vĩ, là hòn ngọc của ta ơi! Cảm giác ấm nồng xôn xao nở lăn tăn trên làn môi nóng bỏng khát khao cơn thèm âu yếm gọi lên hai chữ: “Quê Hương”! Tôi xin cúi đầu lui gót quay về, từng bước chập choạng bấp bênh mà chấp nhận số phận nổi trôi bồng bềnh, cho dù đắng cay, sô tang, bùi ngùi, khổ đau có; ngọt ngào vui vẻ hân hoan không. Tôi đã quyết định dừng chân “phiêu bạt giang hồ”, để trở về thành đô, nhưng sao trong lòng cảm thấy quá buồn đau tê tái hụt hẫng khôn cùng? Tôi có cảm tưởng mình đã thực sự mất đi một báu vật thân yêu. Dường như tôi không còn mê những giọt sương mai đọng trên cánh hồng nhung tươi thắm vừa hé nở, từng giọt sương mòng mọng tí tách rơi trên phiến lá giao mùa. Mất rồi chiếc lá vàng xinh lịch ép trong trang sách cũ. Mất ơi đàn én chiêm chiếp líu lo vun vút lượn bay trong không gian chói sáng ánh bình minh. Mất hết những con đường đất đỏ ngoằn ngoèo, lượn quanh sườn đồi rì rào tiếng thông reo vi vu. Hết rồi thảm cỏ sân Cù mịn nhẹ êm như nhung, nơi ấy khi xưa tôi ưa ngả mình trên triền đồi quạnh vắng, mắt lim dim mơ màng, tai lắng nghe tiếng thông reo, gió núi xôn xao thì thầm gọi nhau về ngủ trên đỉnh Lâm Viên hữu tình.

            Ôi! Có thể nay tôi đã mất hẳn những bước chân lãng du trùng lặp bao kỷ niệm tìm về chốn cũ. Mất rồi! Thật sự mất đi không gian, thời gian, và kỷ niệm vàng son một thuở trìu mến xa xưa. Nay lòng tôi bừng bừng rung giật từng cơn sốt tiếc thương, môi co siết những giọt mật vừa chát, vừa đắng trào dâng lên khoé mi tôi giọt sầu quắt quay niềm tiếc thương vô hạn, ẩn dấu nơi hố mắt nhìn tư lự, lăn tăn nét chân chim trên khoé lệ đọng ưu buồn trước thời gian, nơi đôi má hoen màu, nơi đôi môi khô nhạt, nơi mái tóc phiêu bồng sớm ngả bụi đường lãng tử, nơi áo quần xốc xếch trong dáng vẽ tiều tụy hao mòn. Làm gợn sóng trong lòng mình biết bao sầu đắng chua cay và tê tái:
            Anh bỏ đi rồi, tôi ở lại.
            Chờ bao oan nghiệt trút lên đầu.
            Tôi vẫn đứng giữa một trời ly loạn.
            Tàn chiến chinh mùa nắng lửa mưa dầu.
            Chiều hun hút giữa rừng thiêng nước độc.
            Đêm uy linh nhờn nhợn tiếng ma Hời.
            Từng giọt máu căng phồng bầy muỗi đói.
            Tôi bỗng sờn da, bỗng rợn người (4)
            *
            Tình Hoài Hương

            Vinh = ngoài Bắc / Vả = Các anh ấy, hoặc Vả lại, vả chăng / Vũng* Tàu. / Vịnh = Vịnh Hạ Long. / vích* - loại rùa / Vù = sưng vù vai / Vang vọng = vịt kêu quang quác /
            (1) Sưu tầm lượm lặt
            (2) Thơ Tha La Xóm Đạo – Vũ Anh Khanh.
            (3) Thơ Bút Tre
            (4) Xuân Du)
            (*) Thơ tiếu lâm Tình Hoài Hương
            Last edited by Tinh Hoai Huong; 06-20-2020, 05:21 PM.
            Bút trần nào tả được lưu luyến!
            Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
            Tình Hoài Hương

            Comment


            • MẸ Dấu Yêu & Chiếc Áo Gấm


              MẸ Dấu Yêu & Chiếc Áo Gấm
              Chúng con đau đớn kính gởi ba mẹ đóa hoa hồng trắng.
              Tình Hoài Hương

              ***

              Tôi cố gắng giằng co, níu kéo, quyết giành lại chiếc áo gấm sờn nhàu nát cũ mèm với định mệnh. Dù thời gian dài dằng dặc lặng lẽ đơn điệu dần dần trôi qua, đã khiến chiếc áo hư hao, phai mòn, sờn úa mục nát ít nhiều. Và không gian trôi dần, trôi dần về phía tương lai mù xa tách bạch ra đôi bờ cuộc sống. Tôi không có cách gì ngăn chận tuổi già héo hắt đến trước thời gian. Vâng! Có lẽ nay tinh thần lẫn thể chất tôi đã già cỗi! Và, chiếc áo gấm năm xưa còn đây, mà ngón tay gầy run run tôi gài hoài mấy nút áo cũ, vẫn chưa xong. Thời gian đã cướp dần đi tất cả. Vẫn biết thế, nhưng tôi mong muốn níu kéo, âu yếm dùng-dằng ngắm nhìn lại chiếc áo gấm, nếu tôi được nhìn nhiều lần càng tốt.
              Ngày ấy, chúng tôi vui vẻ dừng chân trên con đường mòn vòng vo gãy khúc uốn lên uốn xuống, quanh co ven đồi thông rì rào ru tình tại Đà Lạt. Chúng tôi chỉ nhìn vài con chim lí lí lắc lắc, rù rì, bay qua bay lại trên những cành cây mảnh dẻ, là cảm thấy hay hay, vui vui. Lần đó, tôi liếc liếc, lí lắc ghé ghé nghiêng nghiêng đầu thẹn thùng e ấp cười, tôi dùng hai ngón tay quệt nhè nhẹ vô một bên má, mà lêu lêu Luật, để trêu chọc anh, rồi gài hộ Luật mấy nút áo, cho anh bớt bị gió lạnh lùa vào cơ thể. Giờ nầy, Luật cùng muôn ngàn người trai trẻ khác đã bị tập trung đi “cải tạo” trong tù rồi! Chồng đã ra đi. Nhưng Luật không ra khỏi đời tôi. Còn mỗi mình tôi đứng lại bơ vơ, lạc lõng, muộn phiền giữa chợ đời sóng sánh muôn mặt, với sợi tơ hồng quá mong manh cứ rung lên bần bật giữa lưng trời. Tôi lặng lẽ chua chát đối mặt với cuộc sống, ấp ủ kỷ niệm thời chớm lớn, những tủi hổ tiếc xót vô vàn, những đắng cay thăng trầm tột độ trào lên bờ mi mọng từng chuỗi giọt sầu.
              Ngày bị vô tù “cải tạo”, Luật đã bỏ chiếc áo vét (veston) nầy lại, trên chiếc áo vét đã dính hai ba sợi tóc đen mướt khá dài cuả tôi, và một hai sợi tóc ngắn cuả anh, cùng với những lá thư tình đầy ắp yêu thương do anh viết dày cui, còn trang trọng cất trong túi áo đó. Thư của Luật viết có văn phong gợi cảm, là những bức tranh phác thảo duyên dáng về câu chuyện gia đình, tình yêu, phúng dụ, vỗ về, hứa hẹn, an ủi, mang tính cách gia đình đầm ấm yêu thương, hạnh phúc bền lâu. Đó cũng là chiếc áo gấm lý tưởng thiêng liêng tinh tuyền muôn thuở, có dấu vết đậm đà khắc sâu vào tim rất thân yêu, quen thuộc duy nhất từ buổi thiếu thời. Dù qua phong sương sáng khuya trưa chiều mưa gió… chiếc áo của anh đã cũ. Thư tình Luật viết ngả màu vàng úa đọng bụi phấn thời gian, cùng năm ba sợi tóc cuả hai chúng tôi bóng mướt đen tuyền vẫn duyên tình mãi đến tận bây giờ. Tôi nâng niu giữ gìn những sợi tóc, phong thư, cùng tấm áo từ hồi chưa cưới nhau.
              Ngày còn trẻ, tôi chưa lo nghĩ đến tuổi xế chiều phôi pha rồi sẽ ra sao. Bởi tình yêu chúng tôi đó, giống dòng sông chảy qua bao dãi đất: phù sa phì nhiêu có, cằn cỗi có, tươi tốt có, băng giá hoang tàn lẫn đau khổ buồn xo cũng có. Rồi dòng sông xô sóng sau dồn sóng trước, cuồng nộ đập vô gờ đá, hay lặng lờ êm ả, thong dong xuôi chảy ra biển cả. Mỗi khi chạm trán với thực tế bẽ bàng đắng cay, trong lòng ngút ngàn đau thương, lúc đó tôi lặng lẽ vuốt từng nếp nhăn trên tấm áo, trang trọng nâng mấy sợi tóc trên hai bàn tay khẽ khàng khum khum bụm lại. Tôi sợ gió từ đâu vô tình lướt qua, tóc sẽ cuốn theo chiều gió bay mất hút, thì biết đâu mà tìm?
              Đó là những kỷ vật ưu ái đã theo tôi trên muôn dặm đường đời cay cực, để xoa dịu nỗi hãi hùng và bàng hoàng rất kinh ngạc trong cuộc đời phù du. Tôi ấp ủ tình luyến nhớ, thút thít, bùi ngùi khi soi bóng mình trong gương, cảm thấy lòng nao nao nỗi buồn da diết. Vì đến nay tôi chẳng thể giữ lại kỷ niệm nào thân thiết nhất về anh, khi mái tóc mình thấp thoáng có sợi tóc bạc quyện-bện cùng bao sợi tóc chẳng còn đen mướt? ngoài mấy di vật bé tí ti như đã kể. Thế nhưng, ngọn nguồn óng ả tình trần hiện nay có mất đi chăng? Khi thời gian khẳng định ngàn mối lo âu, đói khát cơ cực run rẩy dâng tràn!? Không thể chối quanh từ sau ngày mất nước, thì lòng trí tôi luôn ray rứt, thương-xót hồi tưởng về quá khứ buồn vui lao xao, dẫu đời xáo trộn, trái tim tôi vẫn đập thình thịch và chao đảo.
              Nay tôi đang mặc chiếc áo cũ của chồng, mà lẽ loi đơn côi ghê gớm, tôi âm thầm đi một mình buồn bã trên con đường xám ngắt thuở xa xưa. Hai bàn tay lạnh giá run rẩy, run lẩy bẩy, tôi không làm sao gài nỗi nút áo bạc phếch thời gian và cũ mèm nầy. Thì ra… giờ đây tôi quá yếu kém và đã già! Kỷ niệm bây giờ chả là gì! Không quan trọng! Chỉ là những chương đã viết trong pho sách tình xếp lớp lớp trên kệ sách, ít khi được mở ra xem, nó phủ lăn tăn bụi vàng. Pho sách cuộc đời từ đây phải đóng lại. Trang giấy đã lật qua tờ mới, thì hồi tưởng nhớ nhung kỷ niệm; chỉ như chiếc lá úa lắc lẽo đong đưa trên cành cao, chờ cơn gió lay để chao đi như những áng mây xám lưng đồi lững lờ bay qua bầu trời mùa Thu, như côn trùng biến dạng vào lòng đất mà thôi.
              Tôi thấy rõ tính chất phù phiếm của quá khứ mang đầy kỷ niệm lãng mạn rồi. Sau ngày “đổi đời”, tôi muốn sống một cuộc sống khác hẳn: Thực tế sung mãn hơn. Nhưng, chả hiểu có thực hiện nỗi không, là còn tùy thuộc ở hoàn cảnh và ý chí: Trước tiên, tôi muốn cho đàn con phải nên người hữu dụng, kiên cường, dù bụng đói cồn cào, để vượt qua mọi chông gai thử thách “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Chỉ bấy nhiêu thôi, cũng đủ ngất ngư mà. Ý nghĩ nầy như viên sỏi ném xuống mặt hồ phẳng lặng, tạo thành những vòng tròn đồng tâm, ám ảnh tâm thức tôi bồn chồn, băn khoăn, co siết mãi trong lồng ngực quắt quay.
              ***
              Tôi vô cùng nhớ Mẹ thân yêu, dù đa đoan với công việc bề bộn, không hiểu sao hôm ấy tôi quá bần thần bâng khuâng lo lắng kỳ lạ! Nhưng rồi vỡ lẽ ra "máu chảy ruột mềm", do ngày mồng 5 tháng 5 năm 1980 âm lịch, anh Chín Dzoãn báo tin sét đánh: Mẹ tôi đã chết ở trong Ta In (khu đất thuộc Tỉnh Tuyên Đức Đà Lạt). Ta In là cuối địa đầu quận Đức Trọng, giáp ranh giới vùng Di Linh. Nơi tít tót đèo heo hút gió, thâm u cùng cốc lạnh lẽo, vô cùng hiểm trở, có đi mà ít có ai về nguyên vẹn. Nơi chó ăn đá gà ăn muối, nơi khốn cùng của vùng “kinh tế mới” khô cằn toàn sỏi đá, chỉ nhiều rắn, rết; vô số muỗi, vắt, đỉa, ruồi trâu, bò cạp rừng to và độc kinh khủng. Chúng chuyên bu bám vô người ốm để hút máu. Nơi có nhiều mụt măng le, tre rừng, ta ăn cho đỡ đói, thì sẽ bị sốt rét ngã nước, mà lăn ra chết toi.
              Cầm tờ điện tín, tôi lặng người rất lâu, không thể khóc thành tiếng. Nước mắt u uẩn tự động tuôn chảy từng dòng, rồi dội ngược vô tim mình quằn quại đau điếng. Hình như tôi nghẹt thở, chết dần chết mòn, không còn cảm giác nào khác, ngoài sự dày vò, ân hận, đớn đau dâng lên tột đỉnh. Vì, giá như trước ngày 30-4-1975, nếu có chiến tranh, có đánh nhau dữ dội, tôi cũng còn chiếc xe hơi riêng mới toanh mang hiệu Peugeot 404 chạy đi... Hay là tôi có thể mua vé máy bay khứ hồi cấp tốc bay về với mẹ, tôi qùy xuống bên mép giường, cầm tay mẹ, ôm chặt mẹ lúc mẹ hấp hối. Ôi! Giờ đây tôi không thể đến bên xác mẹ già yêu dấu, để nhìn mẹ một lần chót trong giờ phút mẹ lâm chung. Tôi không thể nào xin tấm giấy phép đi đường. Tôi cũng không thể chen lấn ra bến xe đông nghẹt người có giấy phép ưu tiên. Vì, tôi là kẻ “ưu tiên u đầu” thì có. Tôi không thể đứng ngày nầy qua đêm khác ngoài bến xe, nhịn đói nhịn khát, mà chẳng dễ dàng gì chờ mua vé xe từ Sài Gòn đi Đà Lạt. Biết tin mẹ chết, cũng đành chịu! Dù từ Hốc Môn đi Ta In, chỉ gần 300 cây số.
              Thế là hết thật rồi! Một thân xác héo hon đã thực sự trở về với cát bụi phù dung. Tôi không lẽo đẽo đi sau quan tài mẹ, vật vã khóc than mà tiễn đưa mẹ về nơi an nghỉ nghìn thu. Má con chúng tôi không biết làm gì hơn, ngoài việc quây quần bên nhau, gùy dưới nền đất, bồn chồn lo âu, sụt sùi, băn khoăn, suy niệm lời Chúa, lâm râm dâng lời cầu nguyện. Tôi ứa nước mắt nhìn mẹ trong hồi tưởng: Mẹ tôi sanh tại làng Thuận Nhơn. Nhà ông bà ngoại ở quê (tức ông bà cố ngoại của con tôi). Làng mẹ ở bên con sông rợp bóng hai hàng dừa và lũy tre xanh um bóng mát, thuộc Tổng Cù Hoan, Phủ Hải Lăng, Tỉnh Quảng Trị. Mẹ lớn lên trong một gia đình bế thế, phong lưu giàu có, ruộng vườn của ông bà ngoại cò bay thẳng cánh, lúa gạo trâu bò nhiều nhất trong vùng thời bấy giờ. Ông cố ngoại là một võ quan rất giỏi ở triều đình vua Khải Định, Huế).
              Mẹ có dáng dấp thon thả, làn da bánh mật, răng hạt huyền nho nhỏ đều đặn, miệng cười chúm chím, mắt phượng mày ngài, mũi cao, mái tóc dài láy đen bối thành một búi to sau gáy. Áo quần mẹ luôn trang nhã, sạch sẽ và tươm tất. Mẹ đi ra ngoài đường, ở trong nhà, hay đi ngủ, mẹ đều thay đổi quần áo đâu ra đó hẳn hoi. Dù đi khỏi xóm, đi chợ, hay đi bán, mẹ luôn mặc áo dài đoan trang kín đáo che thân. Đặc biệt mẹ sống cuộc đời bình dị đạo đức, chất phác lương thiện, dịu hiền phúc hậu. Mẹ siêng năng tần tảo đầu tắt mặt tối, long đong bán buôn xuôi ngược. Mẹ nhẫn nhục lao khó giúp chồng, nuôi đàn con mười mạng nên người. Vất vã vì chồng vì con nheo nhóc, nhưng mẹ không hề tỏ lộ bất bình, hay nặng lời to tiếng. Trời mưa tháng gió ở nhà rảnh rỗi, mẹ siêng năng cần mẫn khéo tay tự chằm nón lá. Mẹ may áo quần cho chồng, con, đôi khi mẹ cũng may biếu cho bạn, và người thân. Đó là việc vặt trong nhiều hy sinh to lớn khác. Phải nói hầu như suốt cuộc đời mẹ chưa có lúc nào an nhàn thảnh thơi ngưng nghỉ tay chân. Số mẹ cực thân đến thế mà! Đồng thời mẹ xứng hợp với đức tính bác ái khoan dung của chồng, dễ dãi cả tin khi ai nói điều gì xuôi tai “nịnh” mẹ, thì có bao nhiêu tiền của mẹ nhẹ dạ trút cho người ấy hết. Dù sau đó biết mình bị lừa, nhưng mẹ không giận lâu, mẹ “hờn mát” một chút, rồi quên ngay.
              Mẹ chân chất hiền lương đến độ thật thà như đếm, mẹ tính tiền cũ từ thời vua Bảo Đại ra tiền cụ Ngô, đến thời đổi tiền ở chế độ Sài Gòn, ra tiền mới sau 75, thì mẹ giống thầy bói mù rờ con voi. Mẹ luôn bị kẻ chợ ăn lường. Thế nên, dẫu bị mất hết tất cả tiền bạc, nhà cửa villa, biệt thự tan hoang, mẹ không thèm tiếc. Mà mẹ chỉ ôm khư khư bình vôi đồng đen là của hồi môn nhỏ như cái chén kiểu, nhưng rất nặng, có giá trị, chiếc bình vôi nầy có mấy tiệm vàng như Kim Khánh hoặc Kim Ngọc trả giá 5 cây vàng bốn số 9, nhưng mẹ chẳng chịu bán! Thân bình vôi tròn vo, đít vôi bằng phẳng, có quai xách xinh xinh bên tai vôi. Mỗi lần ăn trầu, mẹ khéo léo lấy cây chìa vôi têm vô mấy lá trầu xong, còn dư vôi trên cây que chìa, mẹ quệt quệt lên trên miệng bình, cho “bình vôi hưởng tí xái”. Thế là miệng “bình vôi vui vẻ” nhô cao chù vù, lỗ miệng bình vôi teo tóp dần dà nhỏ xíu; trông nó hô, loe, vẩu ra, hơi giống miệng con heo nái, coi ngộ nghĩnh sao đâu. Hồi ấy tôi nói với mẹ:
              - Tại mẹ ưa mời bình vôi ăn trầu, nên cái miệng nó loe ra dị hợm kinh khủng nè.
              Mẹ cười vui vẻ. Mẹ rất thích bình vôi đồng đen nầy, nó đã theo mẹ suốt từ thời mẹ về nhà chồng, đến tận ngày nay. Ấy vậy mà bây giờ mẹ cũng buông thỏng từ bỏ hết của cải vật chất vinh sang xưa, kể cả chồng, con, cháu, chắt, dấu yêu. Một mình mẹ lặng lẽ chết đói ra đi âm thầm về bên kia cuộc sống mới. Bà chị dâu của tôi đã kể lại rằng:
              - Hôm mẹ vĩnh viễn từ bỏ con, cháu, ấy là một buổi sáng trời ốm nắng, lất phất từng đợt mưa phùn, trong nhà ai ai cũng lo đi rẫy, đi rừng rất xa, xa ghê lắm; để kiếm sống. Tửng bưng sáng, anh Dzoãn đi bộ từ trong Ta In ra Tùng Nghĩa (xa xôi khoảng hơn hai mươi cây số); anh chạy đi vay tiền, để mua thuốc cảm về cho mẹ. Ở nhà chỉ có một mình chị loay hoay dọn dẹp nhà cửa. Mẹ nằm im trên giường không động đậy nhúc nhích. Chị (chị dâu) thấy mẹ không dậy ăn trưa như mọi ngày, nên chị bước qua gian liếp bên cạnh, chị đến bên giường tre lạnh lẽo, không nệm ấm chăn êm.
              Nhà anh chị quá nghèo, sau 30/4 anh đi tù 5 năm, vừa được tha về, khi cả nhà bị đi kinh tế mới. Họ chỉ có mấy nhúm quần áo tẻo teo, vài bao bố: son nồi chén bát, guốc, dép, linh tinh… Ít mùng mền đơn bạc, và những bàn tay trắng. Con dâu dắt díu mẹ già tám mươi tuổi lom khom leo núi chùng chập, vượt đồi trùng điệp. Chồng tủ "cải tạo" về đau bao tử cùng bầy nhỏ lút chút tám chín đứa con, đứa lớn nhất mười ba tuổi trở xuống đứa non tháng tuổi, thì lấy đâu ra những thứ xa xỉ ấy trong thời buổi gạo châu củi quế. Mẹ trùm chiếc khăn màu nâu, mặc áo dài nỉ dạ đen, quần đen, áo len nâu khoát bên ngoài, mang đôi tất đen. Mẹ nằm nghiêng, quay mặt vô phía ván vách bìa gỗ. Mẹ chập chờn thiêm thiếp trong giấc ngủ muộn phiền. Chị e dè hỏi thăm:
              - Mệ ơi! Mệ có khoẻ không?
              Không thấy mẹ trả lời, chị cúi sát xuống bên mẹ, nhè nhẹ lay lay đập đập vô cánh tay mẹ:
              - Mệ ơi! Con nấu cháo cho mệ ăn nghen.
              Mẹ tôi lừ đừ mở đôi mắt nhiều ánh đục, (dường như đã bất thần), mẹ cố gắng quay ngoái cần cổ yếu ớt về phía con dâu, thều thào:
              - Hôm ni có… cháo ăn… hả con.
              - Dạ. Mệ đau, không ăn măng luộc hầm mềm như mọi ngày đâu. Để con chạy ra chợ xép, mua chút gạo về nấu xí cháo.
              - Có gạo... là mừng hì.
              - Mệ ráng chờ nghe. Chợ hơi xa. Con sẽ về nấu mau lắm.
              - Thôi con. Để dành gạo nấu… cho thằng Cu Nâu… có chút nước hồ mà uống, thay sữa mẹ không có…
              - Thằng bé con không đến nỗi nào đâu. Mệ.
              Thế rồi, mẹ tôi ư hữ… ú ớ… rên khe khẽ, mẹ lại lừ đừ, khó khăn mệt nhọc khi quay mặt vô trong vách. Hơn giờ sau, khi chị dâu bưng chén cháo tới gần giường mẹ. Mỉm nụ cười méo mó, mẹ từ từ nhắm mắt, dần dần lịm thiếp vào giấc ngủ nghìn thu êm đềm. Chị không hề nghe tiếng mẹ thở, tiếng nấc, chị cứ ngỡ là mẹ mệt muốn ngủ chút xíu như mọi ngày, rồi dậy ăn. Mẹ đã đói khát thiếu thốn năm năm rồi, mà trước khi lìa đời, mẹ vẫn nhịn đói. Mẹ không đành lòng ăn chén cháo trắng lỏng bỏng với tí muối hột. Mẹ không nói một lời từ giã, không một lời trăn trối. Mẹ muốn im lìm sớm ra đi, ngỏ hầu trút bỏ gánh nợ đời, khỏi làm phiền con cháu khó nghèo đông đúc. Con cháu không phải cưu mang “nuôi người vô dụng” thêm một miệng ăn. Mẹ muốn rũ bỏ từ trên vai anh chị tôi, và các cháu nhỏ nỗi âu lo phiền muộn vì bổn phận và trách nhiệm nặng nề. Ôi Mẹ! Mẹ muốn nhịn phần ăn hiếm hoi ít ỏi qúy báu cuối cùng, để chia sẻ cho đứa cháu nhỏ tí xíu chưa tròn hai tháng. Mẹ đã chết đói. Mẹ âm thầm lặng lẽ êm ái ra đi đúng ngày Tết Đoan Ngọ.
              Lẽ ra, như Tết Đoan Ngọ từ những năm xa xưa, thì mẹ tôi ưa đi chợ mua đầy thức ăn, hoa quả bánh trái. Mẹ làm bánh tro, bánh nếp, bánh bèo, bánh ít, bánh nậm, vân vân... Mẹ làm cả cơm rượu nếp cẩm, nếp than. Mẹ nấu cơm gạo thơm với nhiều thức ăn thịnh soạn, nóng hổi, linh đình, để cho con cháu từ xa trở về nhà thăm cha mẹ. Đại gia đình cha mẹ con cháu hân hoan sum họp vui vẻ ăn uống. Mẹ nói:
              - Con, cháu, ăn bánh tro, ăn, uống chút cơm rượu, thì sẽ diệt giun sán trong bụng. Hì.
              Hầu như cả xóm Trong xóm Ngoài ở Ta In đều thương cảm mẹ của chúng tôi, họ cùng nhau đến nhà anh chị Dzoãn, tận tình lo cho mẹ chúng tôi chu đáo. Mỗi người một việc tươm tất từ đầu đến cuối gọn gàng. Trước khi đậy nắp áo quan, họ vẫn để nguyên bộ quần áo cũ, khăn, tất, lúc mẹ chưa đành-đoạn bỏ đi. Và họ mặc lồng thêm cho mẹ chiếc áo gấm, nền áo màu nâu non điểm rải rác những bông hoa cúc đại đóa vàng nghệ. Chiếc áo gấm xưa kia mẹ tôi đã mặc trong ngày trọng đại nhất đời, khi họ nhà trai hân hoan tưng bừng đến rước dâu. Nay thì những người khác đã thay ba tôi mặc chiếc áo gấm (áo của ba đã ưu ái trao tặng mẹ). Họ đặt xâu tràng hạt vô bàn tay mẹ lạnh giá, họ nhớ để bình vôi đồng đen bên cạnh mẹ. Sau rốt, họ choàng thêm cổ áo quan dày cui thô sơ thơm mủ ngo ra bên ngoài toàn thân mẹ.
              Mọi người tiễn đưa mẹ về an nghỉ nơi nghĩa trang quạnh quẽ. Không một vòng hoa cườm đen cườm tím cùng lời thành kính phân ưu. Không có cỗ áo quan sang trọng đắt tiền, mà chỉ là sáu tấm ván thông đơn sơ hèn mọn thơm lựng mùi nhựa mới. Không hề có bát nhang đèn nến, rườm rà nghi lễ. Không có gì, không còn gì tất cả ngoài nỗi đớn đau kinh hoàng phủ chụp xuống đời lặng lẽ. Ấy thế mà người dân cùng đinh đến thăm viếng mẹ đứng lố nhố đông đúc, từ ngoài ngỏ đầy kín người cho đến trong nhà tranh lụp xụp đìu hiu chật chội nầy. Họ chia buồn, ân cần giúp đỡ gia đình anh chị tôi nhiệt tình, không hề làm cho tang gia nghĩ ngợi vì chuyện họ đến phụ giúp, là bận rộn lo thêm chuyện ăn, uống gì. Họ nghỉ đi rừng, không đi rẫy, ngày hôm ấy họ nghỉ đi làm, dù ai nghỉ một ngày là gia đình họ nhịn đói nhịn khát, có thể thêm đau ốm xanh xao.
              Họ thay các anh, chị, con cháu (trong đại gia đình chúng tôi cả thảy hơn bốn năm chục người) vì hoàn cảnh ở xa, khó khăn xe cộ, phép tắc đi lại, hoặc bị lao tù... "cải tạo". Bà con quanh xóm cùng nhau lặng lẽ khiêng quan tài mẹ tôi băng rừng, leo qua một triền núi thấp, vượt đốc, qua bãi đầm, đi trong thung lũng sình lầy. Rồi họ leo lên ngọn đồi toàn đá ong lởm chởm, họ đi lên núi cao chót vót và đơn điệu, nơi đây chỉ toàn sỏi đá và gió lồng lộng hú rít, thổi đám bông lau xoay xoay trắng cả lòng quê, từng cơn gió kéo dài lê thê lạnh thấu xương. Mẹ tôi nằm xuống, vĩnh viễn ở lại nơi rừng núi bạt ngàn hoang vu lạnh lẽo, đơn điệu chơ vơ với cây thánh giá gỗ lắc lư theo gió rì rào. Tấm bia mộ gỗ đơn sơ ghi khắc nơi an giấc nghìn thu đạm bạc và đớn hèn: Mattha Ngô thị Cúc, sanh năm: 1895 >> 1980. Thọ 85t. Thật đông nghẹt người đói khát nghèo nàn đắp mộ xong, lại lủi thủi buồn xo trở về lối cũ trên con đường đất đỏ gồ ghề, anh chị Dzoãn và các cháu đã nhờ người sống thút thít ngáp ngáp khiêng mẹ đi qua.
              ***
              Khi tôi có thể đến với mẹ… thì nấm mồ mẹ đã lút cỏ xanh. Tôi luôn đau đớn, tủi hổ, dày vò và khóc sưng mắt khi nghĩ về mẹ. Thời gian lật đật buồn bã chán chường qua đi, tôi tất bật, bồn chồn, âu lo với công việc cơm áo khốn đốn mỗi ngày, nhưng gia đình mình vẫn không đủ sống, nghĩa là thường xuyên đói khát cơ cực. Ngoảnh nhìn lại, mới đó mà đến ngày giỗ đầu của mẹ. Tôi bươn bả đi mót khoai lang, sắn mì, dưa leo và đậu đũa ngoài ruộng Nhị Tân (Hốc Môn). Tôi hớn hở đem mấy thứ ấy về nhà, làm sạch, chu đáo xào nấu xong. Tôi bày thức ăn lên chiếc bàn cũ kỹ xiêu vẹo, nói là "bàn" cho oai, thật ra bàn là tấm ván cũ có ba chân rung rinh như răng rụng, còn một góc kia kê tấm táp lô sứt mẻ, để thay thế một chân què. Bà Nga hàng xóm là người thân cận nhất bây giờ đã nói:
              - Xời! Việc gì cô phải nhọc lòng! Chứ cô không thấy giờ nầy trời đang mưa xối xả, nhà dột và rách nát như ổ chuột. Ơ! cô bắt mẹ mặc áo gấm lội nước lụt trong nhà y như cái ao. Cô cho mẹ ngồi chò hỏ chơi, xơi cơm độn với nước lụt. Mẹ cô chưa kịp về ăn chút xí, thì bầy ruồi ốm đói trốn mưa trúng mánh, bu lên mấy dĩa thức ăn tám lớp, và o o o… xơi tuốt rồi. Giỗ mí chạp cho mệt! Khéo vẽ!
              Bà Nga chẳng ngại mất lòng, líu lo nói huyên thuyên mà cười sảng khoái. Tôi lắng nghe mãi, mới hiểu được thâm ý bà. Thiệt dễ ghét quá đi. Tôi ngẩn ngơ nhìn bà Nga. Những giọt nước mắt nóng hổi lăn dài dài xuống má. Giọt khóc quê hương. Giọt hờn tủi khóc ông bà vãi cha mẹ khuất mặt khuất mày. Giọt khóc chồng sống đoạ đày ở trong tù “cải tạo”. Giọt khóc bầy con lút chút vất vưỡng long đong cơ cực ở vòng ngoài, (tù trong và tù ngoài xêm xêm như nhau, có khác chi, như cá mè một lứa). Giọt đắng cay khóc cho chính bản thân tôi lù đù lầm than khốn cùng. Khổ đến nỗi tôi không thể đào đâu ra tiền, chẳng có cắt bạc để mua cặp nến đỏ, bình hoa tươi, không hương nhang cắm trên bàn. Tôi không thể mua bột về làm bánh cúng mẹ dĩa bánh bèo, bánh ít, bánh nậm: thứ bánh mà mẹ thích ăn lúc sinh tiền! Tôi không thể kéo mẹ về trong hương khói, để má con chúng tôi quỳ dưới đất, sì sụp lạy tạ lỗi cùng mẹ, cùng bà ngoại! Sợi dây tơ quá mong manh nhẹ tênh thiêng liêng kia đang run bần bật giữa lưng trời mưa trắng. Niềm ước mong nối liền tình yêu thương ngút ngàn giữa mẹ -với má con chúng tôi- đã đứt lìa trong khói hương.
              Tôi nghe anh chị lớn kể chuyện về Mẹ lúc tôi chưa chào đời: Một lần kia, mẹ kêu chủ thầu trong địa phương đến nhà bán mão bầy heo thịt. Mẹ và các con cháu dẫn bà đầm, cùng phu cai xuống chuồng nuôi heo, cách xa nhà ba mươi mét. Ngả giá xong xuôi, phu cai trói bầy heo cho vô rọ, họ khiêng những rọ heo lên trên đường cái, vất vào ba chiếc xe ngựa. Bà đầm cầm cái áo veste của bà (đã máng ở càng xe ngựa đậu trên đường cái), bà ta móc túi lấy tiền, thì đồng tiền không cánh mà bay?! Bà đầm tri hô mất ba trăm sáu chục đồng Đông Dương. Bà ta quyết một quyết hai bảo: “Người trong nhà nầy đã ăn cắp”. (!!?) Bà ta làm hung dữ, kêu lính hộ tống chạy đi gọi hiến binh, phú lít tới. Hiến binh không cần biết luật lệ phải trái, không cần biết bà ta có mất tiền thật trong túi áo, máng bên sườn xe kéo, mà lại để bên lề đường cái; hay không?! Họ còng tay mẹ xô dụi mẹ lên chiếc xe ngựa. Mẹ nằm với mấy chục con heo kêu la rần trời. Mặc kệ gia đình tôi kêu khóc, phản đối inh ỏi. Chúng hăm doạ:
              - Nếu lộn xộn làm mất an ninh, sẽ bị bắt - nhốt hết cả đám.
              Quân cướp cạn hùng hổ, quất ngựa phóng nước đại chạy như bay. Họ tống giam mẹ vô nhà lao. Hơn nửa tháng bặt tin, sau đó chúng thả mẹ ra. Mẹ về như cái xác không hồn, trông mẹ quá tiều tụy thảm thương. Ba tôi, con cháu xúm xít ngồi chung quanh mẹ lo lắng hỏi thăm. Mẹ im lặng rấm rức khóc sưng húp mắt. Mãi lâu mẹ hổn hển kể: Suốt bao ngày bị nhốt, chúng cho mẹ ăn ngày một bữa nửa chén cơm khô, với ít muối hột. Đêm đêm bọn lính Tây lôi mẹ ra tra điện, chúng độc ác tra khảo, chích điện vô người bắt mẹ phải nhận tội, dù mẹ không hề làm. Mỗi lần mẹ bị bọn tà lọt gian ác tra điện, thì mẹ sợ hãi kinh khủng, dòng nước ấm chảy ra ướt dầm thân thể mẹ. Mẹ không thể nén mồ hôi hột lạnh toát, không thể nín lại cơn buồn đái. Mẹ không đủ sức chịu đựng cơn đau, mẹ đau đến ngất xỉu, thì chúng lôi chân mẹ kéo xềnh xệt về phòng giam trống lạnh lẽo không giường chiếu. Chúng tạt nước lạnh cho mẹ tỉnh lại, mẹ bị chảy máu mũi, chảy máu đầu. Mẹ run rẩy, mặt mày sưng húp, bầm tím.
              Mẹ chịu oan ức tột cùng, mà tiền mất tật mang. Suốt từ đó đến nay mẹ luôn luôn sợ hãi và yếu hẳn người. Mẹ bị đau tim và thường xâm xoàng, ngất xỉu vì quá hãi hùng. Bọn Tây thời đó đầy quyền uy, hống hách, ác độc hơn loài hổ sói, người dân thấp cổ hé họng chỉ câm miệng cúi đầu, điếng lặng cắn cỏ ngậm vành, không dám hó hé than van với ai. Vậy đó, mẹ quá đau khổ và chịu oang ức tột cùng. Một lần kia, sau thời gian bị tra khảo đánh đập tù đày oan uổng đó khá xa, mẹ vẫn cần cù kiên nhẫn lặn lội đi gánh nước cơm về nhà,
              Một kỷ niệm bất ngờ từ những cơn mưa không sao giải thích nỗi, tâm trí tôi vụt quay về dĩ vãng xa lắc xa lơ: một thuở nào hình như xa xôi, xa xa lắm… gia đình ba mẹ tôi đang từ trên đỉnh cao sung túc, phù vinh, giàu sang… bỗng rớt tụt xuống vực thẳm, vì ba tôi làm chủ nhà máy cưa cây, bị nó hại cho khánh tận, đã khuynh gia bại sản. "Của rừng, rưng rưng nước mắt thật" mà! Bao nhiêu tiền ba làm thầy thuốc đỗ vô cây cối, cũng như nước đỗ lá khoai. Hồi ấy có màn mưa xám đục buông suốt ngày đêm, rất bé thơ tôi đứng trong khung cửa sổ, nhón chân xem mưa đập lộp bộp vô cửa kính, những dòng nước nhỏ ngoằn ngoèo chảy xuống tấm kính mờ đục, tôi háo hức chờ đợi mẹ về nhà, ngỏ hầu nghe mẹ hò câu ca dao: “Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa. Miệng nhai cơm búng, lưỡi lừa cá xương”.
              Mẹ đi chân đất, đầu đội nón lá cũ ướt nhẹp, toàn thân mẹ dầm dề nước mưa, chiếc đòn gánh uốn cong đang kẽo kẹt trên vai mẹ, còng xuống hai thùng nước cơm trĩu nặng. Mẹ đã đấu thầu được cơm thừa canh cặn từ ngoài mấy đồn lính, tự mẹ đến gánh về: Một thùng rất sạch đậy kín đựng cơm nóng, có ba ngăn cào mên đựng thức ăn còn nguyên trong chảo, (mà chú quản đội do biết gia cảnh mẹ, nên chú múc để riêng ra cho mẹ, để mẹ đem về nhà ăn buổi tối). Thùng kia đựng đủ thứ hỗn tạp nuôi bầy heo vài chục con. Mỗi buổi nhọc nhằn trở về nhà, mẹ thường dúi cho tôi khi thì vài cái bánh ngọt, khi miếng chocolate, hay trái chuối, trái bắp. Tôi thèm ăn nhứt là lát bánh mì hấp trong nồi nước sôi, bánh mì nóng chắm với nước mắm ớt, nước cá hoặc nước thịt, tôi ngấu nghiến ăn, cảm thấy ngon hết sẫy. Mẹ “thương con tần tảo sớm hôm. Cơm đùm chéo áo, cháo đùm lá môn”, là thiệt! Mẹ đã thay bộ áo quần ướt sủng nước mưa. Mẹ ngồi bên bếp lò giơ đôi bàn tay nhăn nheo sạm nắng chai cứng, tóp teo vì thấm lạnh ra, để sưởi ấm. Mẹ âu yếm nhìn tôi ngồi kế bên bỏm bẻm ngấu nghiến nhai bánh mì. Bỗng mẹ nhìn tôi sửng sốt, lạnh lùng hỏi:
              - Đôi guốc mới, con mang đó. Mô rứa?
              - Dạ... Của con... con... l..a...
              - Mẹ đã nói rồi, đợi bán heo, mẹ sẽ mua cho con quần áo, dép guốc cho con đi học. Mẹ biết con mau lớn, giày dép cũ con mang không vừa, mà đi chân không thì lạnh lắm. Mẹ lo sợ con đau. Ngặt nỗi, bi chừ chưa có tiền. Mà răn con dám cả gan đi ăn cắp, của ai rứa?
              Tôi cúi gầm đầu, một tay túm mái tóc bum bê, nhìn đôi guốc mới mang vừa vặn ở chân mình, đôi guốc màu đỏ đầy hấp dẫn, có hai quai cánh cam in đủ màu sắc hoa lá. Tôi thấy nó quyến rũ, ước ao vô vàn từ lâu. Khi chị Tư sai tôi vào quán chị Thế mua trứng vịt, tôm khô. Thừa lúc quán xá bận rộn người mua kẻ bán, tôi lấm lét ngó trước nhìn sau, rồi vội thò tay chộp đôi guốc kẹp chặt vô nách, (đã che kín bằng chiếc áo mưa lụng thụng). Trống ngực tôi đánh rất mạnh, mặt mày tái mét, tôi run như cầy sấy, tôi liền lẽn ra khỏi tiệm và co giò chạy. Vừa chạy tôi vừa ngoái cổ lại nhìn chị Thế, (là bà chị dâu của tôi), chị ấy không biết gì hơn, ngoài việc chị thu nhiều tiền đầy nhóc vào tủ sắt.
              Mẹ già nua trước tháng năm đang gục đầu trên hai đầu gối ướt lạnh, run rẩy, mệt nhọc - và khóc. Mẹ khóc vì tội lỗi của con thơ. Mẹ khóc vì cảnh thăng trầm không thể ngờ, vì mẹ chưa mua nỗi đôi guốc cho con, (chỉ đáng vài xu trong khi tiền ba tôi làm chủ trại cưa cây, thì bạc trăm, bạc ngàn, kể như ba đỗ xuống biển. Và, tiền bán hai chục con heo, mẹ bị bọn chúng trấn lột hết). Trong đêm trường thanh vắng, khuya lắc khuya lơ, tôi nghe rất khẽ nhưng rõ ràng tiếng mẹ đọc kinh cầu nguyện đều đều. Thỉnh thoảng kèm theo vài tiếng thở dài nho nhỏ, lời mẹ nguyện xin cho con cháu bình an, mạnh khỏe.
              Tối hôm đó mẹ thức rất khuya, ngồi một mình dưới gian bếp đèn dầu leo lét, mẹ đã cắt khúc vải nhung màu vỏ măng cụt, để may áo cho tôi mặc ấm. Chiếc áo ấm gồm ba lớp: lớp nhung ở ngoài, mẹ bọc thêm một lớp gòn rất mịn ở giữa, và may chằn thêm một lớp lụa sa tanh mới lót ở bên trong. Tôi leo lên giường từ lâu, trằn trọc mãi không làm sao ngủ được, tôi rất sợ và lo âu, không dám nhúc nhích. Tôi cứ mở mắt nhìn mẹ chăm chú làm việc. Khá khuya, mẹ lê đôi dép lẹp xẹp lần mò từng bước, mẹ nhẹ nhàng đi trong bóng tối mờ mờ. Mẹ vặn ngọn đèn dầu hột vịt thật lu, mẹ cố không khua động giấc ngủ của mọi người. Trong bóng tối, tôi hé mắt nhìn mẹ ngồi đọc kinh, sau đó mẹ ngả lưng xuống đệm theo tiếng thở dài. Tôi nằm im giả vờ ngủ say. Bàn tay mẹ lạnh ngắt run run sờ soạn tìm con. Mẹ đặt đầu tôi nằm ngay ngắn trên gối mỏng. Mẹ kéo hai chân tôi thẳng ra, và đắp mềm lên tận cổ tôi. Mẹ ôm tôi vô lòng và hôn lên mái tóc tôi khét nắng. Nước mắt mẹ thấm lạnh da đầu tôi. Thật là: “Nuôi con chẳng quản chi thân. Bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn”. (cd)
              Thì ra mẹ đã khóc âm thầm lặng lẽ trong bóng tối. Mẹ giống người chèo đò đơn độc ra tay chống chèo trên dòng nước ngược đầy sóng gió, khi đàn con nhỏ sợ sệt, la khóc, run rẩy bám chặt vào mạn thuyền. Mẹ cố sức chịu đựng giông bão, gian truân âm thầm và câm lặng dai dẵng; miễn sao cho con, cháu, bình yên, no ấm. Mẹ là một trong vạn triệu người Mẹ Việt Nam tần tảo, phúc hậu, ôn hoà cao cả, hy sinh xiết bao suốt đời mình. Sáu tuần sau, mẹ bán bầy heo thịt khác. Ba tôi vượt núi băng rừng khổ cực trăm bề làm cúp cây, nay đã hoàn toàn ổn định. Gia đình chúng tôi lại bắt đầu khá giả, vinh sang hơn năm cũ. Nhờ mẹ tôi quáng xuyến, đảm đang, siêng năng, tháo vát. Ba tôi giàu kinh nghiệm và liêm chính đàng hoàng trong việc làm chủ trại cưa, nên ít lâu sau gia đình tôi thoát khỏi cảnh bần hàn.
              Nhưng dẫu có sung túc giàu có hơn xưa nhiều, rất nhiều, thì vết thương đầu tiên về bài học giáo dục đạo đức trong lòng mẹ và con, hẳn không có cách gì lấp đầy, phôi pha được. Kể từ ngày xa xưa đó, mỗi khi tôi có ý muốn lấy cắp cái gì của ai, thì hình ảnh mẹ tôi ngồi bó gối bên bếp than hồng; nước mắt mẹ chảy ướt thấm vô da đầu tôi, vẫn hiện lên rõ nét. Khiến tôi quắt quay và lặng người, vì hối hận không hề dám tái phạm. Đó là nốt “nghịch phách” đầu tiên trong đời vào chiều mưa giông giá lạnh năm xưa. Ước gì nay tôi được chìm trong dòng sông đã chảy qua thời ấu thơ, nơi mái gia đình êm ấm của tôi ở buổi thiếu thời kia, để tôi có thể nói thật nhỏ:
              - Mẹ ơi! Cho con xin lỗi.
              ***
              Và một lần nữa có kỷ niệm về Mẹ tôi thế nầy: bầu trời lợt lạt sau khi tráng nước mưa thì trở nên trong suốt như pha lê, lưng trời sáng bạc ngất ngây đầy lâng lâng rung cảm điểm vài hoa mây phớt hồng thấp thoáng bay bay, trôi nhè nhẹ như bong bóng mây lơ lửng giữa bầu trời rộng thênh thang. Các mái nhà như kỳ cọ gội rửa sạch bon. Những con đường, cành cây ngọn cỏ đều loáng nước và trở nên xanh tươi hơn.
              Tôi rất mừng khi mẹ ở Tùng Nghĩa đến thăm, có mẹ ở lại giúp con, phụ chăm nom các cháu, là tôi rất an tâm. Mỗi lần đến thăm con cháu, mẹ mang rất nhiều quà bánh, mẹ khệ nệ bưng hết giỏ nầy đến giỏ khác, thậm chí cả gạo, rau, cá, thịt, tôm, vân vân… Có bao nhiêu tiền dành dụm, mẹ đã trút hết cho con cháu. Nhất là bà cưng các cháu ngoại hết sức; mặc dù chúng rất quậy, khiến ngoại mệt phờ người.
              Mẹ cầm cái quạt giấy quạt cho mình và quạt cho con, cháu. Mùi dầu thoang thoảng bay, mẹ rất thích xức dầu Nhị Thiên Đường. Trời Đà Lạt khá mát mà mẹ dùng quạt, đủ biết mẹ mệt đến thế nào. Tôi muốn khóc hết sức khi ngồi cạnh mẹ. “Lên non, mới biết non cao. Nuôi con, mới biết công lao mẹ hiền” là thế. Tôi nhìn vẽ già nua hiện lên từng đường nét rõ ràng trên khuôn mặt mẹ già mỏi mệt, mái tóc mẹ điểm muối tiêu, vành miệng móm mém, mẹ ưa nhai trầu dập từ cối đồng nhỏ xíu cầm lọt trong lòng bàn tay. Đôi mắt mẹ thoáng màu nâu, hấp háy sau làn mi dài lưa thưa, mẹ có cái nhìn ấm áp chuyển thành niềm vui dạt dào, bộc phát mừng rỡ khi mẹ thấy tôi thấp thoáng trên thềm nhà:
              - Cháu đói lắm hử? Mẹ cháu về rồi. Ù ơ... Cháu tham ăn y như con mẹ của cháu từ hồi nhỏ hè. Hì hì… Cháu biết không!?
              Ơ! Tôi đây có phải là đứa con gái út (trong gia đình có mười anh chị), út lên mười vẫn còn rúc vú mẹ, vòi vĩnh mọi thứ khi thích? Út sau giờ học, tối ngày thui thủi một mình, vì thế tôi luôn quanh quẩn bên mẹ đó ư? Ngày ấy mẹ pha nước nóng, và ngồi trên chiếc đòn nhỏ bên hiên lát gạch hoa, mẹ bế tôi vô lòng, tôi thòng cái cổ đeo hai ba sợi dây chuyền bằng đất, tôi ngửa mặt lên trời cười sằng sặc lúc cảm thấy nhột. Mẹ gội đầu cho tôi bằng nước bồ kết nấu với lá sả, lá cam, lá chanh, lá bưởi. Tắm cho con bằng xà bong thơm hiệu "cô Ba đeo kiềng vàng". Tôi có tính hư nết xấu ưa làm nũng, dậm chân dậm cẳng không chịu tắm, khóc nhè hoài; dù mẹ đã dỗ ngọt, hun hít và gói cho tôi đòn bánh tét nhỏ xíu bằng gan tay, có dây lạt làm quai xách cột từ đầu nầy qua đầu kia.
              Có ngày tôi say sưa nhìn: mẹ đeo đôi mục kính trắng, khéo léo may từng bộ áo quần đẹp nhất đầu Xuân. “Con bé tôi” năm sáu tuổi ngồi bên thềm gạch hoa trong tòa nhà cao và rộng, tôi la lết bên mẹ, quá phục mẹ thoăng thoắt may áo quần mới. Tay thoăng thoắt may áo, mẹ vui vẻ kể chuyện cổ tích Trầu Cau. Tấm Cám. Mẹ kể chuyện hay đến nỗi đôi khi tôi đòi cái gì đó, mà mẹ không có cho con, thì mẹ mỉm cười nói: "Ngày xưa... có một người tiều phu vô rừng..." là mọi thứ hấp dẫn trên đời, đều không bằng câu chuyện cổ tích của mẹ. Ngày ấy, gia đình ba mẹ tôi sống tại ngôi biệt thự số 5 La Rose ở đường Quang Trung, gần nhà Ga xe lửa Đà Lạt. Tôi đeo đôi hoa tai vàng tòn ten đong đưa theo mỗi cử động, cổ đeo kiềng vàng chạm trổ thẫm mỹ. Tôi diện quần sa tanh trắng, xúng xính trong chiếc áo nhung đỏ do mẹ tự cắt may, chân tôi mang hài cườm cùng màu với áo. Đầu tôi đội nón lá mười hai vành do mẹ chằm. Vai tôi đeo chiếc bóp đầm đỏ. Hai mẹ con ngồi xe kéo đi chợ Đà Lạt mua sắm đồ Tết suốt ngày.
              Trước khi mua sắm, mẹ cho tôi ăn bánh bèo xong, tôi lại lết qua hàng mì quảng ăn no nê. Sau đó hai mẹ con chen lấn vô chợ vải mua quần áo, giày dép, vân vân… Tôi bị người lớn chen lấn, nên tụt lại đằng sau, kẹt giữa làn sóng người đông như kiến. Hốt hoảng, tôi vừa khóc vừa kêu "Mẹ ơi! Mẹ". Tay tôi nắm chặt lấy đuôi áo dài của mẹ rị kéo mạnh lại. Dù rách toạt mất một thân áo, mẹ tôi không hề la rầy, hay giận dữ. Mẹ đằm thắm bế con lên, cùng với hai giỏ xách đầy vật dụng mua sắm đang móc ở khuỷu tay. Lúc ra về, mẹ lại mua cho tôi mấy bịch bánh thuẩn, nải chuối cau. Ngồi trên xe ngựa, tôi sung sướng có những món đồ chơi xinh đẹp. Nhưng, về nhà đồ chơi cũng không quyến rũ con bé mập tròn ú nù giống hột mít như tôi (vì háu ăn), tôi quanh quẩn bên chân mẹ, líu lo hỏi chuyện:
              - Mẹ nấu phở cho cả nhà ăn ha mẹ?
              - Ừ. Ra ngoài sân chơi đi con. Ây. Coi chừng bị phỏng lửa.
              - Chín chưa mẹ?
              - Chưa được. Coi chừng phỏng nước sôi.
              - Được chưa mẹ?
              Sốt ruột, do cái tật mê ăn của con, nên mẹ đã làm trước cho tôi một tô phở. Tôi cứ bu bên mẹ rồi nhón chân lên bốc một nhúm hành ngò trong dĩa ở trên bàn. Tôi chạy theo mẹ đến bên góc đi văng, bỏ đầy hành ngò vô tô. Tay cầm đủa tay cầm muỗng, tôi cúi xuống thổi phù phù vào tô phở nóng. Nước miếng ứa ra miệng, bụng sôi lọc ọc, tôi cảm thấy đói cồn cào vì mùi thơm ngào ngạt:
              - Mẹ cho con ăn thiệt no. Nghen. Con đói.
              - Để nguội đã. Ăn từ từ thôi. Ngán tới con mắt chừ. Không tham ăn rứa hì.
              - Con ăn từ từ cho đến khi nào no tới con mắt, thì thôi. Mẹ ui.
              Mẹ tôi phì cười nguýt yêu con gái tham ăn. Qua nửa tô phở, tôi buông đũa, hét to:
              - Chết con rồi! Ơ hơ! Cay quá! Mẹ ơi. Mẹ.
              Cay thật. Cay đến nỗi mặt tôi đỏ rần, hai lổ tai ù ù, lùng bùng, đầu lưỡi nhứt nhối, rát bỏng, môi miệng đỏ chót phồng rộp lên. Tôi thọc tay vô miệng cào cào lưỡi, xít xà, phun nước miếng phì phì. Mắt thấy sao bay trong màng lệ, tôi hoảng hốt chạy quanh nhà, vừa kêu vừa khóc. Tôi bức tóc bức tai, rồi chui tọt xuống gầm bàn, nằm lăn lộn trên nền gạch hoa. Tôi lại bò ra, chui lòn mấy vòng qua hai chân của mẹ. Hai tay tôi quệt nước mắt! Khổ nỗi ớt dính ở mấy đầu ngón tay, nên càng bị cay mắt hơn. Mồ hôi vã ra trên trán như tắm, mặc dù trời khá lạnh. Khiếp quá. Cay kinh khủng. Tôi kêu khóc inh ỏi, mũi dãi lòng thòng (chỉ vì mắt nhắm mắt mở, và tham ăn, tôi không thấy trái ớt xiêm xanh lẫn trong nhúm hành ngò, dù mẹ tôi có ý để ớt qua một bên mép dĩa to).
              Mẹ vội lấy nước lạnh khuấy chanh đường, bế con vào lòng cho con súc miệng nhiều lần, nhổ ra. Mẹ xổ mái tóc dài, lấy đuôi tóc lau trên đôi mắt con, lấy khăn ướt lau mặt mũi con, mẹ vạch vú da cho con mút, (mặc dù con khá lớn khôn). Có bầu vú mẹ, tôi dịu cơn đau, mà vẫn thút thít khóc và nấc lên từng cơn. Ôi! Lần ăn phở muôn đời ghi nhớ ấy, nó ớn lên tới con mắt thật. Mà mẹ yêu dấu là người họa sĩ tài ba đầu tiên đã âm thầm vẽ nét ngây thơ, hồn nhiên duyên dáng vào tâm hồn con tươi trẻ. Hình ảnh mẹ bất diệt, nên thơ, trong sáng, thân thương từng ấp ủ nơi con đây một thời xuân trẻ luôn khát khao niềm tin yêu, chưa hề phai lạt, và làm quặn thắt lòng con. Một tình mẫu tử bất diệt, bao la co xiết thành khối mật, vừa dịu êm ngọt ngào, vừa nồng nàn lâng lâng men tình say say, trào dâng lên bờ môi con ngọt lịm từ bầu sữa mẹ tinh tuyền, ngát hương yêu trong chiếc nôi đời lắc lư đong đưa theo tháng năm qua. Trái tim con thèm khát nhịp đập cuồng quay trong lồng ngực phập phồng, bồng bềnh chơi vơi trên sóng biển rong chơi đầy dáng vẻ yêu thương.
              Tôi cảm thấy thương mẹ không làm sao tả xiết. Tình yêu thương nồng thắm của người mẹ, giờ đây tôi mới hiểu thấm thía, thâm thúy, tình mẹ bao la như trời biển, êm đềm ngọt ngào, nồng nàn xiết bao trong từng giờ, từng tháng, từng năm. Mẹ tôi tận tụy cần cù hy sinh lo cho chồng, con, cháu; là hạnh phúc duy nhất của mẹ; là lẽ sống thầm lặng, mẹ đầy tình thương yêu và thủy chung hết mực. Tôi yêu kính mẹ vô vàn, mẹ âm thầm chịu đựng, hy sinh gắn bó, nhẫn nại, dốc hết sức cạn hơi mòn, hầu chu toàn cho con, cháu, có sức khoẻ bình an, hạnh phúc. Dù con khá lớn khôn, có gia đình con cái, dù các con đã vững vàng lập thân, từng trải. Mẹ thân yêu! Mẹ nâng niu giữ gìn cho con bao kỷ niệm yêu thương, đậm sâu, dạt dào ân tình mặn-mà thuở thiếu thời. Đôi mắt con lẫn vô lòng mắt mẹ êm ái, ẩn chứa tất cả niềm vui tột cùng, tuổi thơ con trong sáng từng ấp ủ tình thương thầm lặng đến tận bây giờ. Nó vừa hiền, vừa lành, vừa vui, và trọng lượng tình yêu trong lòng mắt mẹ đã dành cho con, muốn vỡ vụn ra thành muôn hạt nước mòng mọng, tròn trịa, li ti lăn tăn long lanh rung rinh trĩu nặng bờ mi rưng rưng, trôi đến tận cùng tơ rung suy nghĩ, làm gợn sóng lăn tăn lung linh chơi vơi trong từng tế bào con run rẩy.
              Hạnh phúc vô ngần khi con trở về trên dáng xưa yêu kiều, đầy hoa mộng đó. Chao! Dòng đời xuôi ngược nhiều ước mơ, hoài bão, hy vọng dạt dào, tràn đầy mộng đẹp vụt tan biến quá đỗi là mau. Và, hôm nay con không khỏi ngỡ ngàng, bâng khuâng xao xuyến và kinh ngạc; khi nhớ ra mẹ nhắc khéo chuyện: “Con tham ăn” đã lẫn vào lòng thời gian lúc nào; chẳng rõ! Hẳn là lúc đó mẹ đang nghĩ đến câu:
              - "Mẹ cho con ăn tô phở, khi nào con no, no lên tới con mắt thì thôi"!
              Lúc ấy vui tột độ khiến tôi dại người trong giây lát, bỗng quay qua nhìn mẹ hiền đăm đăm, và toét miệng cười ngất. Mẹ nhìn con gái lắc đầu mỉm miệng cười đôn hậu, hòa ái. Thật đáng yêu xiết đỗi từ đôi mắt đầy bao dung, thông cảm và thấu hiểu của mẹ biết ngần nào! Đó là cái gốc rễ tình yêu nơi chiếc nôi đời hồng hoang trinh nguyên, nơi chôn nhau cắt rốn, nơi quê hương dấu yêu nầy tôi đã bập bẹ tiếng: "Mẹ... Mẹ" đầu tiên. Mẹ là sợi dây vàng rắc đầy kim cương lóng lánh, nối liền con cháu với niềm vui buồn quá khứ, dạt dào hạnh phúc ân tình trân qúy. Mẹ hiền mẫu sung sướng mỉm cười từ ái hằng cầu nguyện cho các con suốt bao năm trường được hạnh phúc, bình an. Phải không mẹ? “Gió thúc cội thung nhánh tùng khua rúc rắc. Nhớ cha mẹ già ruột thắt gan teo” .
              Bây giờ, thời gian vút qua... “Chiều chiều lại nhớ chiều chiều. Nhớ cha, nhớ mẹ chín chiều ruột đau”. Ôi! Chỉ cần trở về ngày ấy và biết nói câu "Mẹ ơi, cho con xin lỗi", thì tôi sẽ sống lại và chỗi dậy trong tâm tư tôi cả quá khứ ngọt ngào, say đắm, êm đềm, nồng nàn, sung sướng xiết bao! Và, bây giờ tôi biết đằm thắm, khôn ngoan gấp bội lần. Tôi, người đàn bà còn quá trẻ bỗng co nhói lên từng cơn đau tim nghẹt ứ, xót xa đắng cay khôn tả xiết. Vốn bị nghị lực mài dũa, cọ liếc mỏng tanh, tôi nghẹn ngào, đắng cay hơn sự cơ cực đọa đày chịu đựng dài lâu. Sự trầm uất nén dưới chiều sâu tâm hồn đã vọt lên tim, lên óc, lên cổ tôi những cục nấc nghẹn ngào tức tưởi. Tôi đứng giữa trời mà khóc, mà cười. Cười khẩy. Tôi không sao hiểu nỗi “đời”! Tâm hồn tôi hằn lên vết rạn, xếp lớp lăn tăn theo sóng đời cơ cực. Gia đình nhỏ chúng tôi lầm than khốn cùng đã rớt dưới tận đáy xã hội phù phiếm. Nay, các con bé bỏng của mẹ đã lớn khôn, đã có gia đình, đã làm cha, làm mẹ.
              Dù vậy con đây vẫn còn nhõng nhẽo, quấy rầy mẹ và thút thít khóc hu hu hu hụ hụ hụ như thuở nào! … “Thương mẹ nhớ cha như kim châm vào dạ. Nghĩ đến chừng nào, lụy hạ tuôn rơi. Nước chảy ra thương cha nhớ mẹ. Nước chảy vào thương mẹ nhớ cha...” khi cha mẹ đã vĩnh viễn lìa bỏ chúng con. Cha mẹ ôi! Nơi con đường cũ mà cha mẹ tôi xưa kia rất vinh sang đã từng đi qua đó, và chính gia đình nhỏ cuả tôi từng lả lướt, rộn ràng líu lo ca hát trên đại lộ mỗi độ hoàng hôn… Ngày nay mẹ con chúng tôi dắt díu nhau lọt tọt, líu ríu bước thấp bước cao, lần mò đi từ ngày nầy qua tháng nọ. Đi từ hừng đông đến hoàng hôn không ngơi nghỉ. Những đôi môi khô nứt nẻ run run nếm đủ cay đắng, ngọt bùi xính vính tình đời còn mấp máy và thút thít, như nghiến chặt hai hàm răng, nghiền nát hiện-tại rát bỏng phừng phựt cháy trong lòng.
              Sau đám sương mù dày đặc ngoài trời kia, là tương lai tối thui và con đường gồ ghề, lởm chởn sỏi đá lẫn lộn bùn tro bầy nhầy. Con đường tiến thân của mẹ con chúng tôi đó, hình như có tiếng âm vọng não nề. Chúng tôi không biết nên bắt đầu từ hướng nào cho phải! Đôi bàn tay tôi khô cứng, chai sạn sần sùi nứt nẻ, hợp lực với những bàn tay các con thơ yếu gầy tong teo bé tí xíu, vẫn quơ quơ về phía trước. Cùng lòng can đảm, tận tụy, chịu đựng gian lao, nghèo khổ siết chặt, thì không có cách gì lay chuyển. Trời bao la xanh xanh trong trong, không có một vắt mây trắng, nhưng sao đôi mắt tôi mù mây xám giăng mắc!? Giống như những sợi tơ tóc ngày xưa đen tuyền óng ả quyện cùng chùm tóc bạc trước thời gian đã phủ khắp nẽo đi lối về? Tôi đang mặc chiếc áo gấm của Lụât để lại, tôi tưởng tượng chiếc áo dù cũ, nhưng có phần nào che gió chắn mưa. Thì hy vọng là tôi bớt cảm thấy cô độc, ấm áp và ít lạnh. Ngỏ hầu tôi sẽ đương đầu, chạm trán, chơi những canh bạc đen đỏ với định mệnh. Đành phải như thế thôi. Nếu định mệnh không thách đố gạt gẫm chúng tôi: Xỏ lá sát phạt, chơi khăm chúng tôi trắng tay –và đểu giả lật ngửa quân bài ra– Khi trận đấu chưa bất phân thắng bại. Thưa ông!
              *
              Tình Hoài Hương
              Tháng Năm 1980
              Last edited by Tinh Hoai Huong; 05-11-2020, 02:56 AM.
              Bút trần nào tả được lưu luyến!
              Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
              Tình Hoài Hương

              Comment


              • Các Trại "Tù CẢI TẠO"


                Ngày Anh Đi
                Nhạc & lời: Trần Thiện Thanh
                Giọng hát: anh Trần Đình Phước
                Các Trại "Tù CẢI TẠO"
                Tình Hoài Hương
                *

                Chuyện thứ nhứt:
                Khi "gươm đàn gãy gánh", thì có: các trại "tù- CẢI TẠO" & Tiếc thương.
                Lý Thục Kỳ Tân, người đã giúp Lưu Bang dựng lại Đại Hán đã từng nói:
                “Nước lấy dân làm gốc, còn dân coi sự ăn mặc (trong đời sống) giống như Trời”.

                Nếu một người muốn từ bỏ cuộc sống cá nhân, dốc lòng bảo vệ quê hương, hy sinh cho đất nước, quyết giữ gìn quê hương được an thịnh sinh tồn, họ coi nỗi đau của dân như chính nỗi đau của mình, mà ra sức bảo vệ gìn giữ đất nước an toàn đến giờ phút cuối. Quả thật rất đáng trân trọng và ngợi khen. Còn những kẻ đã có quyền lực, lại chối bỏ đất nước, ngoảnh mặt làm ngơ, nhởn nhơ lượn lờ đó đây, hoặc bỏ chạy trối chết ra khỏi nơi gian nguy khốn cùng, bình yên tận hưởng vinh thân phì da riêng cá nhân và gia đình, chẳng hề ngoái nhìn (dù chỉ một lần) khi chiến sự khốc liệt đang tàn phá tất cả, đã mang đến cho dân tộc sự nguy khốn tột độ, khiến đất nước nầy phải gánh chịu muôn vàn chua xót đắng cay cùng cực

                Lẽ ra, những người đầu đàng phải trả giá gấp bội, do không làm tròn trách nhiệm trước lịch sử về bao thiếu sót, sai lầm trầm trọng của người thiếu trách nhiệm & bổn phận công dân. Họ phải trả giá cho hành động ấy như tội ác, (ví như lìa bỏ nguồn gốc, hay vô tình diệt chủng… là gì) về các việc đó trước lịch sử, làm cho một đất nước tươi đẹp trù phú hùng mạnh, trở thành một lãnh thổ suy tàn, sụp đổ cả một chính thể quốc gia. Họ phải bị trừng trị thích đáng mới phải. Chiến tranh tương tàn bây giờ quá bất hạnh, không chiến đấu cho lẽ phải, hoặc công bằng chi cả. Thật là bất công và phi lý khi một người lính chính trực liêm minh có năng lực và tài ba, nhưng vì lý do nào đó không thể thi hành trách nhiệm & bổn phận làm trai, mà sau rốt bị đì vô rọ tù “cải tạo”.

                Định nghĩa tổng quát về chữ TÙ: (danh từ, hoặc động ngữ).
                * Bị Tù – (theo nghĩa đơn thuần): một tội danh dân sự nào đó -vấp phạm sai lầm-, là sẽ bị hình phạt, bị giam giữ bó buộc một nơi ấn định ở một xó góc bên trong cánh cửa sắt, chịu mọi hình phạt, khổ cực. Do người ấy vi phạm pháp luật -giữa người ấy với luật pháp của quốc gia mình-. Họ (chính quyền sở tại) cần sửa trị, phải uốn nắn người vi phạm, trở thành một công dân tốt, hữu ích cho xã hội. Cốt lỏi của hành pháp là sự trừng phạt, răn đe và hướng thiện cho người vấp phạm sai lầm ăn năn hối cải. Nhưng, quốc pháp được thiết lập không ngoài mục đích lấy tình trị pháp, lấy pháp trị quốc: Đó là ý nghĩa thật sự của quốc pháp, công bằng phân định rõ ràng ai có tội nặng, tội nhẹ; mà buộc người tù thụ pháp, ngỏ hầu huấn luyện cho người ấy trở nên tốt hơn, hoàn thiện & có tình người, người tù đã chừa bỏ thói hư tật xấu, để trở thành công dân hữu ích chính mình, nói riêng, và cho xã hội, nói chung.

                * Bị tù học tập “cải tạo” trái ngược lại: đó là hình phạt giữa con người ở "chế độ mới" đang thẳng tay hành xử, chà đạp, dày vò, chưởi bới, đay nghiến, dã man đánh đập trả thù người ở "chế độ trước" (chế độ cũ). Người mới nổi lên luôn hãnh diện, vỗ ngực tự hào ta là kẻ chiến thắng, họ tự thay mặt chế độ (mới) vừa đắc thắng cái quyền “tiếm đoạt” mà độc ác hành xử con người cũ ra sao, tùy thích. Họ không hề cảm thấy "thương xót", ray rứt, dày vò, áy náy lương tâm. Tùy theo mức độ tên tù cũ nào đó cao giá đến đâu -mà hành xử-. Nôm na là “con người mới” vừa chân ướt chán ráo đứng lên, liền trả thù một chính sách, một chế độ, một nhân phẩm...

                Vậy thì, tù “cải tạo” là gì? Hừ! Có phải chữ cải tạo không ở trong hai ngoặt kép? (“…”). Cái dấu "..." nầy có tác dụng làm ranh giới cho một câu văn, câu nói được thuật lại, hoặc giả ghi một từ ngữ khi muốn dí dỏm diễn tả về mức độ thân thiện nào đó, và cuối cùng tùy theo câu văn cần diễn đạt: có thể là hóm hỉnh, hoặc miả mai). Chữ "cải tạo" ở đây nôm na được định nghĩa là:
                - Làm cho “chất lượng” thay đổi -(chưa chắc thay đổi căn bản, theo chiều hướng tốt hơn).
                - Muốn “lao động là vinh quang" -để cải tạo con người!?
                - Muốn “giáo dục” làm lột xác, thay đổi con người cũ (từ nhân cách, bộ dạng, tập tục gia phong, quần áo tươm tất…) để khoát lên mình bộ đồ tù mà trở thành con người mới.
                - Muốn “cải tạo tư tưởng” xóa bỏ những tập tục cổ xưa, -để thay thế tư tưởng “tiến bộ”?
                - “Cải tạo xã hội chủ nghĩa” ở trong “quan hệ cải tạo”, sản xuất không xã hội chủ nghĩa, hầu trở thành - “quan hệ sản xuất” xã hội chủ nghĩa; tạo điều kiện cho “lực lượng sản xuất phát triển”? Và, cuối cùng “cải tà quy chánh”:
                - Tù nhân 75 “cải tạo” là: từ bỏ con đường đã đi, để đến “con đường chính nghĩa” vẫn là: tù nhân chính trị - cái gọi “học tập cải tạo” là: tù nhân quanh năm suốt tháng nhịn đói rã ruột, khát khô cổ họng, thất thểu vác cuốc ra đồng, cúi đầu cuốc cuốc, cày cày, bừa bừa, (cày bừa do chính thân thể con người vác cày kéo bừa... làm quần quật -thay thế con trâu) trong nghĩa "lao động là vinh quang, lang thang là chết đói" mà trồng trồng... trọt trọt...
                * Khi tù nhân “cải tạo” đi trước tên cán bộ coi tù, thì người tù “cải tạo” bị cán bộ dùng báng súng đập mạnh vô lưng tù, quát mắng:
                - Muốn chạy trốn hở, dám đi trước cán bộ hử?
                * Tù nhân “cải tạo” đi ngang hàng với cán bộ, thì bị cán bộ quát nạt:
                - Muốn đi gần ông giật súng hở?
                * Tù nhân “cải tạo” đi sau lưng cán bộ coi tù, bị cán bộ quay lại, giơ súng chiã vô trán tù, đạn lên nòng:
                - Đi sau lưng cán bộ, muốn ám sát hay sao thế?
                *… "Tù cải tạo” một ngày trong tù, bằng thiên thu tại ngoại cơ mà! (nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại). Tù có làm cái gì… dù nhũn nhặn chịu đựng, kiên cường, đầy thiện chí, có tình mến, có lòng bác ái vị tha, dung hòa, trung thực, ôn tồn, tốt lành, cam chịu ẩn nhẫn, thì tù "cải tạo" cũng bị cán bộ, công an bắt bẻ chụp mũ… Thế nên thời buổi nầy người tù nếu có bị công an ác ôn đánh đập, cán bộ cay nghiệt đối xử thậm tệ như con vật, vẫn hơn làm “con người”. Trong trại tù “cải tạo” Z 30 A, tên cán bộ răng đen mã tấu thao thao lên lớp:
                - "Nịch xử lước" ta toàn "nà" anh hùng cả đấy nhá. Bắt đầu "nà" vua "Nạc Nong" Quân "nấy" bà Triệu Ẩu, đẻ "da" một bọc 100 trứng…
                Cả hội trường cười ồ. Mất hứng, hắn quắc mắt, hất hàm hỏi:
                - Cười cái quái gì thế?
                Một sĩ quan “ngụy” giơ tay lên, lịch sự trả lời thay tất cả tù ngồi:
                - Thưa cán bộ, Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ, chớ không phải bà Triệu Ẩu.
                Hắn khó chịu, im lặng vài giây, quay sang thì thầm hỏi tên phụ tá, rồi dõng dạc nói:
                - Nạc Nong Quân "nà" vua, ông ấy muốn "nấy" gái "lào" mà chả được. Bà Âu Cơ hay "nà" bà Triệu Ẩu, đều "nà" đàn bà nốt. Thì… chúng ta chả phải "nà ròng rõi" cá mè một "nứa" mí Triệu “ẩu tả, nà rì"!
                Tại hội trường ở trại tù “cải tạo” khác, một cán bộ nọ lên giọng:
                - Các anh biết không, đất nước ta giàu có cực kỳ, tiền rừng bạc bể. Nhiều nơi trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa, chỉ cần cắm ống nứa xuống đất, là dầu hỏa phụt lên. Thế là ta cứ việc mang thùng ra hứng, đem về nhà tha hồ đốt thỏa thích nhá.
                Cả lớp tù ngồi khúc khích "cừi cừi". Hắn hứng chí tiếp:
                - Ngoài mỏ dầu, miền Bắc còn nhiều mỏ, nào mỏ than, mỏ vàng, mỏ xăng, mỏ nhớt.
                - Thưa cán bộ, có thứ mỏ nầy không biết miền Bắc có không, nhưng miền Nam "nghèo đói" chắc chắn có, đó là mỏ Dốc Mơ, và "mỏ Dốc Lết".
                Hắn bỉu môi:
                - Ồ, cái anh nầy rõ là mang dòng họ Triệu Ẩu nha. Mỏ dốc lết hả? Cái gì chứ mỏ dốc lết thì miền Bắc thiếu giống gì, có hàng tá mỏ mà đảng và nhà nước đang có kế hoạch đào bới khai thác đấy.
                Đó đó..., đó chính là cái giá rất đắt cho tù nhân “cải tạo” tri thức & có lương tâm là thế đấy ạ. Vậy thì, người tù đã được “học tập” điều sâu sắc bổ ích gì? Ai “cải tạo” ai? - "học tập cải tạo” những thứ tinh nhuệ hữu ích gì!? (loạt chữ nầy phải ghi trong hai dấu mang đầy ý nghĩa của cái “ngoặt kép”. Tù thấu hiểu được điều gì cao cả trong xã hội chủ nghĩa thế nầy!? Ngoài việc anh ấy không thể “bồi dưỡng văn hóa”, cho dù một chữ bẻ đôi cũng không. Duy có điều anh tù phải “học tập cải tạo tốt” là: cuốc đất trồng khoai mỗi ngày, mỗi tháng, mỗi năm, trong sự bịp bợm của từ “học tập” và "cải tạo”, để rồi ngày qua ngày, tháng trôi theo từng năm, anh trở thành thân tàn ma dại chỉ có da bọc xương?! do phần lớn trại tù học tập “cải tạo” mọc lên như nấm mà ra.

                * Trại TÙ! Trại tù nhiều vô số... hơn cả chuyện nhà nước đi khắp hang cùng ngõ hẹp quyên góp “cứu trợ” nạn nhân thiên tai, hoả hoạn, lụt lội. Nhà nước không xây dựng kiến thiết quốc gia, không xây trường học, không làm đường sá, không làm những công trình kiến tạo khác. Mà, trên toàn lãnh thổ Việt Nam đâu đâu cũng có “trại tù” khổng lồ! Trại tù đã giết chết bao người trai trẻ, hủy hoại rất nhiều tiềm năng, xeo nạy nạo vét sạch hết tinh tuý những khối óc thông minh tuyệt vời, tiêu diệt sĩ khí, oai dũng quật cường biết bao người yêu nước, yêu quê hương và thiết tha với dân tộc. Đa số anh em quân nhân công cán chính Việt Nam Cộng Hoà chân thật cả tin, đã bị trắng trợn phản bội lời hứa, bị mắc lừa, bị lọt lưới, họ xô nhau tới đường cùng & trở thành những người tù tội "cải tạo" bị nhánh tình đoạ đày lưu vong trên chính quê hương. Mặc dù quê hương không bao giờ phản bội con người, mà chỉ có con người ngoảnh mặt quay lưng nơi chôn nhau cắt rún.

                Lớp lớp thanh niên trai tráng bị nhà nước đánh cắp không chỉ gia sản, tài năng, trí dũng, sức khoẻ, thân phận… tình bạn, tình thân giữa đồng loại. Ý niệm về không gian và thời gian từ sự bình thường tiềm ẩn trong những tâm hồn và khối óc phi thường đã qua. Trơ tráo trắng trợn hơn là tù “cải tạo” bị ăn cắp tuổi xuân-thì, bị lột trần về tình yêu – (tình yêu nhìn qua nhiều lãnh vực và lăng kính: tự tin, dung hòa, đức độ, nhân ái, khoan dung tha thứ... trên mọi phương diện).

                Cuối cùng, cuộc chiến không phải do hơn thua vì chiến tranh. Ta cần tin & trọng con người có nhân phẩm, nhân tài, có năng lực; chớ chẳng phải thân phận giàu sang và thứ cấp, trước hết phải xét người có năng lực, rồi sau đó mới tính đến thứ cấp. Việc giữ lại người có tài có cái tâm, là điều quan trọng lắm. Nếu thuộc cấp của "chế độ cũ" là người có tài, và chính trực, mà bị "chế độ mới" ngược đãi, đàn áp và trắng trợn bôi nhọ, trả thù, thì các cấp lãnh đạo và đất nước ấy sẽ không gìn giữ được trường tồn vĩnh thịnh, chẳng chóng thì chày sẽ có ngày con người và đất nước ấy bị lọt vô tay kẻ thù, ngoại bang tha hồ tung hoành lấn chiếm mà bành trướng.
                Họ (tù "cải tạo") đã bị nhà nước xã hội chủ nghiã láo khoét tuyên bố:
                - “đi học tập 14 ngày cho thông, rồi về”.
                Thế nhưng… quá khứ ngục tù canh cánh bên lòng trỗi dậy; hy vọng mong manh, tự do bị vùi dập, lãng quên, một sự thiếu tình thương và chẳng hề thông cảm từ “phía nội thù” nằm ngay trước mặt. Yêu thương, thấu hiểu, chia sẻ, đồng cảm... thì ở chân trời xa tít tắp. Để rồi hắt lại trong đời tù "cải tạo" sự buồn phiền, đố kỵ, lạnh lùng, câm nín dày vò... vì nghe theo lời khuyến dụ của "cách mạng thành công" mà chọn lầm chỗ, người tù sa cơ thất thế đã nằm gọn trên đe dưới búa, trong tay không có một khúc cây, ngỏ hầu tự vệ.
                Hóa ra, “chinh nhân chọn lầm một đất nước mới” mà “cấp lãnh đạo cao qúy” ấy chỉ biết dẫm đạp lên mọi người tù, để trả thù! Gợi lại trong lòng mỗi người bao hoài niệm bi hận về một giai đoạn lịch sử quá đau thương, nghiệt ngã, cay đắng xót xa ngậm ngùi của miền Nam Việt Nam khốn cùng, điêu linh khổ ải, tang thương và bất hạnh sụp đỗ: Họ bị lọt vô cái bẫy sập tinh vi, độc ác, kinh dị nhứt thế giới.

                Hàng hàng lớp lớp thanh niên trai tráng đã thừa kế tinh hoa dân tộc: khỏe mạnh, được tinh luyện trí thức tinh túy, cường tráng, ngày nay họ trở thành tù “cải tạo”, vùi dập đời trai đầy dũng khí và tráng kiện, như món hàng béo bở đồ sộ -đã ngã giá trong thương vụ quốc tế-. Ngược lại, qua những túm quà thăm nuôi eo xèo bé xíu đựng trong giỏ tre: mắm muối, đường thẻ, tôm khô, cá khô, bánh thuốc lào, nửa ký đường cát trắng, trăm gram cà phê… Tuy quà cáp rất đơn sơ ít ỏi, nhưng đôi khi sơ ý ngủ gục, vợ con của tù cũng bị cướp sạch trơn. Ai vô phước đeo bông vàng, đều bị giật đứt lìa tai, máu chảy ròng ròng. Thậm chí áo quần mặc trong người, nếu vô tình “lọt mắt xanh kẻ cướp” coi “bộ đồ gió, bộ đồ vía” polyester mới xỏ vô lần thứ nhứt, cũng bị bọn ấy trấn lột trắng trợn. Bạn tôi thế mà linh:

                - Tao đi thăm nuôi tù chính trị, chớ có phải đi coi ca nhạc, hay đi ăn tiệc tùng gì, mà tao xum xoe diện áo quần bảnh bao. Hử? Khi trời tối canh ba, cướp ùa ra trấn lột hết, chỉ còn bộ đồ lót. Có may, thì nó quăng cho bộ đồ rách cụt ngủn, vợ tù khóc hu hu, đi chân đất tới thăm chồng. Khi đó thì mi tha hồ mè nheo nè:
                Ngày xưa ăn nói dễ nghe,
                Bây giờ cẳn nhẳn chua lè khó ưa.
                Ngày xưa thích được mây mưa,
                Bây giờ hạn hán hết ưa tù tì
                Ngày xưa thường sánh vai đi,
                Bây giờ chỉ thích năm ì xem phim.
                Ngày xưa nhớ nhau đi tìm,
                Bây giờ mặc kệ... con chim mất dzồi. (*)

                * Chuyện thứ hai:
                Anh Trần Công Thái (là con trai bác Cửu Trí quê làng Hưng Nhơn, Tổng An Thơ, Hải Lăng), anh tốt nghiệp trường Tây, rồi dạy học, sau đó anh động viên đi lính, trở về Tiểu Khu Tuyên Đức. Nhà anh ở Nam Thiên, khi đất nước vừa ngấp nghé phong phanh có danh nghĩa hòa bình, thì tối ngày 24 tháng Tư năm 75, anh ngủ ở nhà. Nửa đêm có nhiều người mặc đồ đen đội nón tai bèo, quàng khăn xanh đỏ tới nhà anh đập rầm rầm vô vách, gọi cửa tới tấp. Chị Thái hoảng hốt mắt nhắm mắt mở, bàng hoàng khi thấy súng ống lên nòng rốp rốp, lăm le chỉa trước ngực dân, họ xông vô nhà, chẳng thèm nói một câu phải trái, họ bịt mắt, lấy báng súng dụi sau lưng, trói thúc kéo anh xềnh xệt lôi đi.
                Chờ bọn kia đi khuất xa vô rừng, chị Thái chạy qua bên nhà láng giềng gần nhứt báo hung tin. Ai nấy đều lo sợ hãi hùng, chẳng biết khi nào đến phiên ta!? Mọi người bàng hoàng lo sợ hoang mang, vì cách mạng thành công giải phóng Đà Lạt trước Sài Gòn rồi đó! Sau ngày 30-4, một tốp người đi kiếm củi trong rừng sâu trở về phố, họ len lén hấp tấp tạt qua nhà báo chị Thái biết:
                - Bà chị, ở miệt suối Cát Tiên có sáu nấm mồ mới đắp cạn chưa mọc cỏ, đã xông mùi thum thủm thúi, trên một nấm mồ kia có tấm áo đẫm máu đề tên: “Trần Công Thái”.
                Chị vợ vốn dĩ là một người đàn bà tra trắn, lanh lẹ, lảy chảy, nghe tin chồng đã chết, ấy mà chị không dám vô nơi quỷ cốc thâm u, để xác minh tin chấn động? Sao họ giết anh Thái đẹp trai, nghèo, nghèo lắm, trên răng dưới đế giày. Anh hiền lành vui vẻ, bao dung và độ lượng. Anh chưa bao giờ làm mất lòng một đứa trẻ, anh không thiết gì ngoài việc thích dạy học, đam mê hội hoạ. Anh vẽ phong cảnh & chân dung sống động tài tình.

                Người ta tụm năm tụm ba, xôn xao to nhỏ thì thầm bàn tán đủ thứ chuyện. Không ai giải được con số bí ẩn!? Sự về thiên đàng hay sa hỏa ngục, không ai tránh khỏi, chẳng ai biết trước sớm hay muộn. Duy có điều cái chết đến với anh Thái, đối với họ hàng thân quyến quá đột ngột, đầy kinh hãi không ai có thể tin “cách mạng” lại làm như thế! Khi đám con dại chín mười đứa nheo nhóc, rất cần cha chăm sóc, dìu dắt đến nơi đến chốn. Người thân, ngậm ngùi thương tiếc, bàng hoàng khi vĩnh viễn mất một người đáng yêu, đáng kính dường bao! Nhưng không ai dám hé môi than thở một lời nào. Vì, điều ấy... do cách mạng đã thành công rồi, thì trả thù dân tộc từ đó!?

                * Chuyện thứ ba
                Một hôm, đang bới móc đống rác ở cuối chùa Hoàng Pháp (thuộc Huyện Hóc Môn), tôi nghe một tràng súng nổ dòn, thật diếc con ráy, khiến tôi giật mình lo sợ kinh khủng. Bộ đội, công an súng chĩa tới trước, chạy rần rần. Họ quát tháo kêu gọi nhau ầm ĩ báo tin:
                - Thành Ông Năm có tù “sĩ quan Ngụy” trốn trại.
                Tôi cùng năm bảy người dân đen ngơ ngác phút giây, rồi ùn ùn chạy đến bờ rào kẽm gai sát thành Ông Năm, ngóng cổ lên nhìn xem cảnh tượng rùng rợn xảy ra: Có một anh tù bị trói thúc ké, quần áo tù binh bê bết máu, tay anh ấy ôm bụng, khúc ruột trắng lòng thòng lòi qua kẽ tay. Anh ấy gò thân chậm bước, hình như không thể bước mà rệu xuống. Thì một công an trở báng súng giáng mạnh vô lưng anh ấy kêu "cái hự".

                Một anh khác bị cột bởi sợi lòi tói cả hai tay chân và xỏ dưới cán tre. Không phải họ gánh anh ấy đi, mà họ lôi kéo anh ấy đi lệt xệt, lê theo vệt máu đỏ từ bả vai chảy tong tong xuống đất. Anh ấy giống con heo mọi bị đồ tể cột bốn chân gánh đi làm thịt. Bàn chân bầy nhầy, giơ bắp đùi mở toang hoang, lòi khúc xương nhọn trắng phếu. Toàn thân anh ấy nẩy lên, đập xuống tưng tưng. Đau đớn nhất có lẽ là chiếc đầu trí thức va cồm cộp vô những cục đá lởm chởm trên đường, đầu anh ấy luôn lắc qua lắc lại, kêu lộp độp. Mặt anh ấy tái méc, nhưng đôi mắt sáng quắc trợn lên, lông mày nhướng cao, quai hàm bành ra, môi nghiến chặt. Anh ấy không hề hé một tiếng kêu, dù chỉ tiếng than rít qua kẽ răng!

                Lẽ ra bọn dân quèn chúng tôi còn được dòm xem "những pha tình cờ kinh hồn quái đãng" khác, nhưng có một tên cán bộ ngồi xổm đi “tè re tháo tỏng” ở lùm cây hồng tiên, gần chỗ đám dân ngu khu đen đứng, hắn đã phát hiện ra chúng tôi lấp ló bên mé rào thành Ông Năm, sợ dân thấy việc kinh khủng bị lộ, nên vụt đứng dậy, hắn la bai bãi, tay khoát lia lịa đuổi dân đi ra khỏi vùng ấy. Bọn tôi liền dzọt đi, vừa chạy vừa la ơi ới:
                - Công an bạn dân đánh tù, bà con ơi.
                - Bọn đó giết tù "cải tạo" coi ghê lắm...
                Hai tên công an khác rượt theo chúng tôi, cho đến khi bị hàng kẽm gai chận lại, họ mới bắn phát súng chỉ thiên. Ban đầu nghe tiếng súng, tôi sợ hãi nằm úp mặt xuống đất, rất sợ bọn ấy hăng tiết vịt ria ẩu, mình sẽ lạc đạn. Nhưng sau khi ngước lên nhìn, tôi thấy chúng chỉ đứng lại bên trong hàng rào dây kẽm gai mà hù doạ, nên tôi kêu mấy bà kia đứng lên. Rồi chúng tôi trêu chọc bọn công an: người thì vỗ bụng dưới bồm bộp, người quay về phía họ tụt chút xíu quần đen ra, bà ấy chỉ chỉ vô mông, quẹt quẹt vô đít mình mấy cái, rồi vất tay về phía bọn công an, mà cười ha hả. Người thì lấy nắm tay bụm lại thoi thoi vô không khí. Còn tôi nhăn răng le lưỡi và giơ hai bàn tay ngược lại, làm cái kèn để lên miệng, lắc lắc mấy ngón tay nhúc nhích, chọc quê họ. Nghĩ lại tức cười... chúng mình già trên dưới "hai ba bó củi" cả rùi, nhưng đôi khi còn có những hành động "ngây thơ" như trẻ nhỏ, cũng quá vui vẻ và ngộ thiệt!

                Ít lâu sau, toàn Huyện Hóc Môn biết tin mấy anh ấy bị trọng cấm biệt giam, bị tra tấn hành hạ dã man, tay chân mang gông cùm, gỗ dằm cứa vô da, thối rữa thịt, dòi bọ lúc nhúc ở hai cườm tay và mắc cá chân. Hai anh ấy bị nhịn đói, không hề được cho ăn uống, chẳng thuốc men, không hề có thứ gì... cho đến chết. Họ bị bắn, chỉ vì các anh đi hái rau “cải thiện” ở ngay trong những vòng kẽm gai trại tù, hầu ăn cho đỡ đói lòng. Do: Năm đồng đổi lấy một xu. Thằng khôn 'đi học', thằng ngu làm thầy. (1)

                * Chuyện thứ tư

                Thuở ấy tôi đã có trí khôn, nhưng ưa thích hái hoa bắt bướm ngoài vườn rau, nghe ba tôi gọi con gái út vô nhà chào anh họ mới tới thăm. Tôi vô phòng khách, thấy chị Ấm (chị ở Huế và chồng chị đổi lên Đà Lạt. Thời gian hơn một năm đầu, anh chị Ấm tá túc ở nhà ba mẹ tôi, chị Ấm là con ông bác ruột, chồng chị là Trung tá Phạm văn Minh, An-ninh Quân-đội). Trong phòng khách còn có anh Xích ở dòng tu về nhà nghỉ hè, và một người đàn bà lạ. Do sự giới thiệu của chị Ấm, nên anh Xích mới quen biết với bà ta có đồn điền của Tây ở Xuân Lộc. Họ lên Đà Lạt đã ghé thăm ba má tôi. Hình ảnh đầu tiên khi tôi gặp mặt người anh họ: Anh trắng trẻo, cao ráo, trẻ trung, khá đẹp trai, mái tóc cắt cao bồng bềnh sóng gợn, anh ăn nói hóm hỉnh, hoạt bát, linh động, vui vẻ, lúc nào trên môi anh cũng nở nụ cười tươi, anh kể nhiều chuyện dí dỏm. Khiến tôi có cảm tình ngay với ông anh họ nầy.

                Ngược lại bà bạn của anh Xích quá bình thường, có nghĩa là chị không đẹp, trông không sang, nét mặt chị già và xấu, thô thiển hơn anh tôi nhiều. Tuy rằng sau nầy bao lần dùng cơm chung trong gia đình, thì chị làm ra vẻ ngây thơ cụ... ưa nhõng nhẽo vòi vĩnh anh tôi đủ thứ, dù trước mặt người lạ hay thân, chị thích “bắt nạt anh một xí cho vui” mà coi vô duyên chi lạ. Anh thường hướng dẫn anh chị em chúng tôi nhiều điều hữu ích. Anh thấy tôi sớn sác lóc chóc, lại dốt toán và chữ Việt quá, anh thân thiện cóc đầu tôi cốp cốp. Nhưng tôi lì lợm không xoa đầu, không khóc, còn bu bám theo anh, ngụ ý lêu lêu anh "giống bà chằn kia”:
                - Tại sao anh đi tu sắp ra cha, mà bỏ về?
                - . . .
                - Anh bị bà chằn kia bỏ bùa quyến rũ hả?
                Anh cười vui vẻ xỉ ngón tay trên trán tôi, mà bảo:
                - Ha ha... con nít biết gì, em đừng có lém lỉnh nha.
                Sở dĩ ngày nay tôi biết làm thơ và viết văn, âu cũng nhờ một phần anh góp ý:
                - Khi nào tới lớp Đệ Tam, Đệ Nhị, thì em nên bỏ trường Tây, ra trường Việt mà học "cho thông chữ quốc ngữ", anh khuyến khích vậy. Bài thơ "Tình Ươm Nắng" vu vơ đầu tiên, có anh dạy tôi biết cách gieo vần:
                Mộng tương phùng ngời sáng
                Cành cây rớt giọt sương
                Nhớ ai tình mới nở
                Bên thềm thơm nhánh hương.
                Bầu trời xanh sắc biếc
                Gió mát thoảng bên tường
                Hàng phượng chim tìm bạn
                Trước song gió thoảng hương.
                Cúc đơm hoa mấy đóa
                Rực rỡ đón mùa sang
                Nhịp cầu thương mới bắc
                Ngồi đây nhớ ngút ngàn.
                Bên hè tình ươm nắng
                Nhớ màu áo anh mang
                Cành hương thơm mùi tóc
                Hừng đông thấy rộn ràng. (2)
                Có mấy lần gia đình tôi đi Ba Mê Thuột thăm họ hàng và đồn điền cà phê bạt ngàn của bác Hường (cạnh phi trường, chợ, và nhà thờ). Lúc tôi từ lớp Nhứt lên Trung-học ở Couvent, thì anh Xích có bằng cử nhân lâu rồi. Bỏ dòng tu, anh đi Sĩ-quan Trừ-bị Thủ Đức, tốt nghiệp khóa 2. Tôi lớn khôn có gia đình, thì anh Xích lần lượt thăng lên Thiếu tá, Trung tá trong Quân-lực Việt Nam Cộng Hòa. Ngày anh làm Tỉnh Trưởng Tỉnh Gia Định, sau đó làm bên Giám Sát Viện, thì anh em chúng tôi người chân trời kẻ góc biển. Kể từ đó thân nhân thực sự xa cách nhau dài lâu. Tuy thế, thông qua đại gia đình thân tộc, chúng tôi đều biết tin về nhau cả. Đến ngày mất miền Nam, anh Xích vượt biên ở Rạch Giá, chẳng may bị bắt, họ đưa anh lên trại tù quân khu, canh giữ anh rất chặt chẽ từ năm 1977. Sau 1978 trại tù dời về vườn Đào thuộc Xã Mỹ Phước Tây, Huyện Cai Lậy, Tỉnh Mỹ Tho. Tôi đi thăm nuôi chồng. Bất ngờ nghe tin anh Xích bị biệt giam cay nghiệt nơi đây, lòng tôi cảm thấy đau buồn và thương anh biết bao! Tôi nghe chồng nói lại:
                - Anh Xích "khả sĩ tử bất khả nhục" ở tù, do anh có lập trường kiên định, cứng rắn, anh không chịu cúi đầu khuất phục bọn ngu dốt lên làm vua, cỡi đầu cỡi cổ, vì anh có tấm ảnh đã chụp chung với Tổng Thống Diệm, nên anh bị cán bộ đánh đập tàn nhẫn, dã man, anh bị nhốt trong cornex thường xuyên. Tối hôm đó có hai bạn tù đi lên trạm xá xin bác sĩ cấp cứu một người ở trong lán trại bị đau nặng. Họ nhìn thấy tên cán bộ cẩn thận mở ba lớp khóa ở cornex hừng hực nóng, hắn nói:
                - Tôi tha cho anh, hãy đi đi.
                Tưởng thật, anh Xích bước đi trước độ chừng năm mét, thì hắn nổ một tràng súng bắn từ phía sau lưng anh. Hắn tri hô lên:
                - Tên nầy trốn trại! Tôi bắn đấy.
                Trong trại tù ai nấy đều rụng rời nghe hung tin, nhưng không một ai tin về điều cán bộ nói. Vì tù "cải tạo" đều biết anh Xích hiện đã bị nhốt "trọng cấm" ở trong xà lim, nơi cornex có nhiều lớp khoá kín bưng, con ruồi bay không lọt vô trong, huống hồ gì anh là một người cao to dường ấy, nếu anh có được thả ra khỏi xà lim, chắc chắn anh thất thểu rệu rạo chập choạng bước đi không vững, vì anh đã bị cùm hai chân, lâu ngày, có thể bại xuội, làm sao anh thoát ra ngoài với từng ấy ổ khoá ngược, mà chạy trốn trại?

                * Chuyện thứ năm:
                Những buổi chiều gần cuối tháng Sáu năm 1976 tại đảo Phú Quốc, theo lịnh của cán bộ thì mỗi người tù đều phải gò một chiếc xô nhôm, có nắp đậy kín, chiều cao độ 30cm, đường kính độ 18cm, để mỗi cá nhân ngồi, và tiêu, tiểu, tại chỗ trên tàu thủy. Luật nghĩ: "Có lẽ chúng lại cho dời tù đi đâu đây". Trời mưa tầm tả không lúc nào dứt hạt, thế nhưng trên đoạn đường dài khoảng chừng hơn ba cây số từ trại Bốn; đoàn tù trong các lán trại tù lũ lượt đi ra cảng Phú Quốc, đông đúc di chuyển về đất liền. Bởi vì Luật đã bị sốt rét da vàng rất nặng, rét run lập cập, nên anh không thể dễ dàng di chuyển. Luật đứng lại gò lưng thở dốc, phải nhờ anh Đinh Văn Sinh mang vác dùm ít đồ đạc cá nhân. Đoàn tù lội bì bõm trong sình lầy, Luật đi không nỗi, bị té chúi nhũi vô một anh tù khác. Chính đó là anh tù Kha Tư Giáo. Hai người mỉm cười gật đầu chào nhau.

                Luật gượng đứng lên cùng anh Giáo khập khễnh đi ngang hàng, sát cánh dìu nhau chập choạng bước. Luật nhìn thấy hai tay anh Giáo đã bị bẻ quặp ra sau lưng, khóa chặt bởi hai cây thanh gỗ to hình chữ nhật, chiều ngang 20cm, chiều dài 40cm. Hai thanh gỗ đục thành một cái lỗ hình tròn, chỉ vừa xỏ hai cánh tay anh Giáo vào đấy, và đóng kín bằng một ổ khoá bự sư. Thanh gỗ dài mới rất nhám không bào, còn lởm chởm những dằm nhọn cứng tua tủa cứa vô da thịt, mỗi khi anh Giáo dợm bước đi, thì máu và những cục mủ lầy lụa tươm ra. Mùi hôi thối quanh hai cánh tay anh Giáo xông lên nồng nặc, hôi thối kinh khủng, không thể nào tả nỗi.
                Nhưng, điều mà Luật quá sức rợn người, cảm thấy như chính mình đau đớn tột độ, (chứ dường như không phải là anh Giáo đang gánh chịu nhục hình khốn khổ kia): Đó là những con ruồi xanh u u u vẫn bay lượn, những con dòi lớn có, nhỏ có, dòi trắng hếu lúc nhúc rúc rỉa bu quanh hai cánh tay anh Giáo. Cũng có con dòi bò lên vai, lên cổ, hoặc nó lả tả rớt xuống mặt đường. Thế mà Luật chỉ thấy anh Giáo nghiến chặt hai hàm răng, anh lặng lẽ cất bước, không hề hé miệng than thở một lời nào. Luật rất khâm phục, vô cùng quý mến và kính trọng về cung cách và bản lãnh của anh Kha Tư Giáo.

                Lúc đoàn tù chui xuống hầm của chiếc tàu thủy to tướng tối đen lềnh bềnh nước, lòng tàu rất chật chội, do nhốt khoảng vài ngàn người dưới đáy, nên gần như ngợp thở, thì Luật không biết anh Giáo đứng ngồi, hoặc nằm ở xó nào. Cán bộ bắt tù gò một cái bô, là để tự mình ngồi suốt ngày đêm trên đó, và đái ỉa tại chỗ, là vậy! Đi lênh đênh trên biển như thế chẳng biết mấy ngày. Khi đoàn tù lên bờ di chuyển bằng xe Molotova bít bùng về tới Long Giao, thì chẳng hiểu sao anh Giáo lại nằm sát cạnh bên Luật.

                Đoàn tù đến ở trại tù Long Giao quá đông, nên tất cả tù phải nằm sắp lớp sát rạt như cá mòi, họ đều nằm nghiêng mình về một phía như nhau suốt cả đêm, thì mới có đủ chỗ nằm. Tù nằm im một chỗ chừng vài giờ như thế, thì cùng bảo nhau trở xoay qua một chiều khác, cho đỡ nhức mỏi. Lúc đó anh Giáo nằm ở phía ngoài cùng cạnh Luật, vì anh Giáo vẫn bị cùm ở hai cánh tay, khó cử động, xoay trở, nên anh Giáo đã ôn tồn bảo Luật:
                - Làm phiền bạn đỡ dùm tôi trở dậy, cho tôi xoay qua bên kia chút nào.
                Luật mỉm cười ngồi dậy lặng lẽ làm y lời anh Giáo yêu cầu, sau đó đa số anh em không thể nào chợp mắt. Họ nằm bên nhau thì thầm chuyện trò to nhỏ. Anh Giáo đã kể rõ cho mấy bạn nằm gần gần chung quanh lán trại nghe:
                - Khởi đầu tôi bị biệt giam khốn khổ tra tấn dã man vô cùng, là thế nầy: Ban đầu có một “thằng cần câu” nào đó trong đám tù chúng ta, đi méc với cán bộ : "tên Kha Tư Giáo đã hát nhạc vàng".
                - Thì tôi cười mà nói:
                - Hát là hát ca cho vui xí, chứ nhạc vàng, nhạc đỏ gì đâu!
                - Thế là từ đó trở đi... họ nói tôi có tài hùng biện, giỏi lý luận, tiếp sau tôi bị “đì” tới bến; mới sinh ra đủ thứ chuyện oan khiên! Cán bộ đưa cho tôi một gram giấy pelure dày cui, bắt tôi ngồi tại chỗ viết ra, phân tích, so sánh về lý thuyết Karl Marx. Tôi đã phân tích tỉ mỹ hai chế độ: miền Nam & miền Bắc, bên đúng, bên sai. Rồi đến chuyện tôi thẳng thắng đốp chát, hùng hồn tranh luận về lý thuyế́t cộng sản trực tiếp với Võ Đông Giang. Xong xuôi sau đó... a lê hấp tôi bị cùm mục gân!

                Anh Giáo dõng dạc từ tốn kể rất tỉ mỹ chuyện anh đã tranh luận, phân tích mọi khía cạnh của từng vấn đề ra sao! Hầu như những anh tù nằm gần bên đều im lặng lắng nghe như thế, không ai ngủ ngáy gì được! Ngoài hai cánh tay bị dòi rúc, máu mủ lầy lụa, trơ lòi ra khúc xương trắng thành một vòng tròn theo cái "cùm" (còng) gỗ ra, Luật nhận thấy anh Giáo vẫn khỏe mạnh, trí óc anh minh mẫn, anh ăn nói lưu loát, đàng hoàng chững chạc, trí thức, từ tâm và độ lượng. Nhưng anh Giáo rất trực tính, anh không hề có dấu hiệu nào là người “khùng” hay điên dại đau ốm gì.

                Khoảng hơn bốn giờ sáng (của một buổi đầu tiên khi vừa đặt chân lên đất liền, vô ở lán trại Long Giao một đêm nầy thôi), thì có một tốp bộ đội tới ngay lán trại, họ kêu anh Kha Tư Giáo đi. Ngoài trời vẫn còn tối mịt, Luật không biết họ dẫn anh Giáo đi đâu! Độ chừng bảy giờ sáng ngày hôm đó, thì cả trại bàng hoàng, rụng rời, băn khoăn, lo lắng khi nghe tin anh Giáo đã chết!? Nhiều nghi vấn cho rằng anh Kha Tư Giáo đã bị chích thuốc độc. Một người bạn cùng tù ở đội 2 của trại 4 Long Giao với Luật tên Ẩn luôn nhắc nhở anh em bạn:
                - Sau nầy, chúng ta sẽ cố gắng lập một nhóm bạn, đến ngày 30 tháng 6 mỗi năm là làm giỗ: để tưởng nhớ anh Kha Tư Giáo. Đồng thời anh tù Phong đã làm bài thơ lưu truyền rất nổi tiếng trong giới tù ca Xuân Lộc:
                Chúa Nhật của người tù. Chúa sao không đến thăm!
                Người tù ngồi đập đá giữa cơn rét căm căm.
                Chủa Nhật của người tù có bao giờ được yên.
                Ngày làm không kịp thở dưới họng súng vây quanh.
                Chúa nhật của người tù Chúa sao không đến coi.
                Áo quần tơi tả, bước như những bóng ma trơi.
                Chúa Nhật của người tù có bao giờ được nghe.
                Hồi chuông nhà thờ đỗ, thay tiếng quát liên hồi!
                Chúa Nhật mùa Xuân thay trâu kéo cày
                Chúa Nhật mùa Hạ vào rừng lấy mây.
                Chúa Nhật mùa Thu lên núi kéo gỗ
                Chúa Nhật mùa Đông lên cơn rét rừng.
                Chúa Nhật người tù Chúa sao không đến cho
                Người tù ôm bụng đói ước một bữa cơm no.
                Chúa Nhật của người tù muốn đêm về thật mau.
                Nằm lịm trong mộng cũ mơ những Chúa Nhật nào...

                * Chuyện thứ sáu Trại Tù “cải tạo” Đại Lợi.
                Bác Hồ chết phải giờ trùng.
                Nên bầy con cháu dở khùng dở điên.
                Thằng tỉnh thì đã vượt biên.
                Những thằng ở lại nửa điên nửa khùng. (*)
                Chỉ là thế thôi. Anh ra đi “cải tạo” tù tội mút chỉ cà tha, anh đã vất lại gánh hành trang quá nặng trên vầng trán nhăn nheo già nua cuả mẹ, trên đôi vai gầy khô đét cuả vợ, trên bờ môi héo hon cuả con trẻ dại khờ. Ngày ngày mặt trời bừng lên soi dọi mọi xó xỉnh, nung đỏ mặt đất, đè nặng hoàng hôn với bóng đêm buông về hừng hực hơi nóng muốn lột da! Bao năm sống trong quá khứ ngục tù “cải tạo”, hy vọng và tự do vẫn nằm ở chân trời xa xăm, có thể còn đầy gian truân thử thách đã bị lãng quên, nay bùng trỗi dậy. Một thời lừng danh rạng rỡ huy hoàng đã hết, nay anh phải dùng những viên thuốc ngủ bé tí xíu, để xoa dịu cơn đau tâm hồn & thể xác. Vì thực tế "người nuốt những hờn căm"...:
                Vàng phai trên thanh gươm.
                Người mái tóc điểm sương.
                Ngựa tung vó trong mưa buồn trên quê hương sầu thương.
                Đường mây vỡ tan thành mộng trong cô đơn còn mơ sa trường.
                Bóng xô nghiêng hoàng hôn.
                Mài gươm trong cô đơn.
                Người nuốt những hờn căm.
                Ngựa nuôi móng non thay bờm trên quê hương cuồng giông.
                Đường xa dẫu xa muôn trùng trong đêm nay ngựa phi sa trường.
                Bóng dõi bóng quê hương.
                Chiến mã đã đến sát dòng sông đêm quê hương mênh mông.
                Sao chưa hừng đông?!
                Chiến mã rất khát miếng nước trong trên quê hương tang thương
                Ai qua trường giang...!? (Trần Lê Việt)
                Chao ôi! Làm thế nào được khi chiến mã đến sát giòng trường giang trên quê hương nầy, chỉ còn là dòng sông cạn và đục ngầu. Dẫu qua bao mùa giông bão, chiến mã vẫn khát miếng nước trong! Không còn cảnh "đem đại nghĩa thắng hung tàn. Lấy chí nhân thay cường bạo"*. (*Nguyễn Trãi). Có câu sau mà ai đó đã nói rất chí lý: “Phẩm giá con người được tôn trọng trong sự hoàn thiện và cao trọng”. Thế nhưng ở thời buổi mất hết tất cả nầy, nay chỉ ùn ùn mọc lên: Một trong muôn vàn trại tù khủng khiếp nhứt tại đất nước đã mang danh hiệu “thống nhất, hoà bình và tự do”, thì quả thật đã có trại tù Đại Lợi (một cao ốc của Mỹ bỏ lại) nằm chình ình ngay ở thành phố Sài Gòn, sát nách bên khu chợ ông Tạ. Con đường ấy ngày nay đã đổi tên lại: Phạm Văn Hai.

                Nơi trại tù Đại Lợi có quá nhiều phòng giam nhỏ trên một cao ốc năm từng lầu. Mỗi phòng giam làm bằng vật liệu nặng kiên cố bê tông cốt sắt, mỗi phòng có chu 3 x 4 mét, mỗi phòng có một cái xô nhựa lớn, có nắp đậy, dùng để cho tù đi tiêu, đi tiểu sau năm giờ chiều. Mười người hoặc mười bốn người tù bị nhốt trong một phòng kín như bưng, có song sắt to chắc chắn, và dĩ nhiên có sợi xích sắt to bằng nửa cùm tay chạy vòng quanh những song cửa sắt, cuối cùng còn chấn thêm ổ khóa bự sư. Một tù đã bó gối buồn bã ngâm nga:
                Tang bồng hồ thỉ nam nhi trái;
                Cái công danh là cái nợ nần.
                Nặng nề thay hai chữ quân thân,
                Đạo vi tử, vi thần đâu có nhẹ!
                Cũng rắp điền viên vui thú vị;
                Trót đem thân thế hẹn tang bồng.
                Xếp bút nghiên theo việc kiếm cung,
                Hết bốn chữ "tinh trung báo quốc".
                Một mình để vì dân, vì nước,
                Túi kinh luân từ trước đến nghìn sau,
                Hơn nhau một tiếng công hầu. (Nguyễn Công Trứ)
                Ngay sau đó mươi lăm phút, tên quản giáo chẳng thể hiểu thơ văn trứ danh của thi sĩ, đã phán cho anh tù tội “có mưu đồ dùng thơ lôi kéo tù phản động”. Anh tù chưa kịp há hốc miệng, chẳng hề cự nự, liền bị bốn công an súng ống nai nịt điệu đi lên tít tóp trên trần thượng, nơi cao chênh vênh tha hồ bọn họ đánh đấm hành hạ dã man…Tù sưng húp mặt mũi, máu me lênh láng, tù bị còng tay cùm chân, tự chui vô trong cornex bịt bùng, mấy ổ khoá bự sư siết bên ngoài cánh cửa ti hí, nóng hầm hập suốt ngày đêm, và dĩ nhiên anh tù đói khát triền miên đó là Quốc, Trung Úy Thủy Quân Lục Chiến, cháu cuả tôi. Úi chao! ở thời buổi nầy cháu có điên không, mà ca với ngâm làm gì cho đau đớn khổ vậy cháu ôi!

                Mùa hè tù nhân ở trần, họ chỉ mặc mỗi cái quần xà lỏn, ấy thế mà trong phòng vẫn nóng như nằm trên cái chảo nung đỏ lửa. Mỗi buổi sáng, sau khi một anh tù (đến phiên trực ban), có bổn phận khệ nệ xách cái xô nhôm, lò dò đi xuống những dãy lầu Đại Lợi, tù đem xô nước cứt đái ra đổ trong bồn chứa to ơi là to, để tưới rau xanh. Cũng từ cái xô tráng rửa qua loa đó, (vì khan hiếm chả có xà bong, không sẵn có nước máy, giếng khô cạn). Họ rửa cái xô nầy đựng nước tắm, đôi khi thiếu vật dụng, cán bộ sai tạp dịch dùng xô ấy, xách nửa xô canh rau lều bều lỏng bỏng lên lán trại, cho tù chan vô chén bo bo ăn cầm hơi cả ngày. Tù thì thầm bảo:
                Ở với Hồ Chí Minh.
                Cây đinh phải đăng ký.
                Trái bí cũng sắp hàng.
                Khoai lang cần tem phiếu.
                Thuốc điếu phải mua bông.
                Lấy chồng nên cai đẻ.
                Bán lẻ chạy công an.
                Lang thang đi cải tạo.
                Hết gạo ăn bo bo.
                Học trò không có tập.
                Độc lập với tự do.
                Nằm co mà hạnh phúc! (*)
                Nếu công an bắt ai, thì ít khi lầm. Mà, lỡ có lầm, thì cứ nhốt ít nhứt vài ba năm, để “lao động là vinh quang”, và theo dõi. Thậm chí nếu người ấy chưa biết “giác ngộ”, chưa “phấn đấu tốt”, chưa “học tập tốt”, không “thành thật khai báo”, chưa “đả thông tư tưởng”, chưa sửa đổi bản thân, hay không làm “cần câu” điềm chỉ, a lê hấp cho vô tù mút mùa lệ thuỷ, không về nữa. Nghe ra chữa?

                * Chuyện thứ bảy
                Mỗi lần có dịp đi ngang qua tiền đồn Xà Bang nằm cạnh Liên Tỉnh Lộ số 2 (LTL2), nối liền từ Ngã 3 Tân Phong, Quận Xuân Lộc, Tỉnh Long Khánh đến Thị Trấn Bà Rịa, Tỉnh Phước Tuy. Xà Bang cách Bà Rịa 28Km về hướng Bắc Đông Bắc và cách Xã Cẩm Mỹ 6Km về hướng Nam, vùng Long Khánh, để thăm chồng ở trong trại tù nầy, tôi không thể không hồi tưởng và tiếc nhớ những vị anh hùng khả kính tận tụy vì dân vì nước, đã hy sinh cho tổ quốc sống còn. Cho đến phút chót, khi vĩnh biệt cõi đời ô trọc, chiến sĩ ấy cũng âm thầm về trong khuya muôn trùng lạnh lẽo. Có thể họ âm thầm phù giúp bạn đồng-cam chịu khổ chút tình tri ngộ chăng? Huyền thoại về bức tượng “Tiếc Thương” của điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu (sĩ quan trừ bị Thủ Đức, khóa 13) há chẳng phải là một bằng chứng cụ thể hay sao?! Cư dân địa phương gần quanh vùng nghĩa trang Quân-Đội Biên-Hoà, há chẳng luôn luôn đồn đãi về chuyện anh hạ sĩ Võ Văn Hai đi lính Nhảy Dù. Dường như anh muốn nhắc nhở chúng ta tưởng nhớ đến các chiến sĩ trận vong, nghĩa tử là nghĩa tận mà! Cư dân địa phương thường rù rì kháo nhau rằng:
                - Dưới ánh trăng ngà khuya khoắt, có người chiến sĩ mặc quần áo trận, đầu đội nón sắt, mang giày đinh, lưng đeo la lô, từ trong bức tượng "Tiếc thương" anh lính ấy đỉnh đạt bước từng bước trên bệ đá đủng đỉnh xuống đồi, băng qua đại lộ, anh ấy chỉ đến gõ cửa nhà của một bà cụ. Khi cụ bà mở cửa ra, chiến sĩ ấy cúi đầu chào, lặng lẽ cầm bi đông trên bàn tay trái, anh ấy giơ bi đông ra, xin bà cụ nước uống. Ban đầu cụ bà hoảng sợ, ngập ngừng toan lùi bước. Nhưng sau nhiều lần, cụ bà vẫn thấy chiến sĩ ấy xuất hiện, cúi đầu im lặng, trầm buồn, âm thầm không hại ai. Cụ bà xúc động, vội vàng trở vô nhà, cụ niềm nở ân cần rót nước, đem ra cho người lính đơn độc. Thương lắm thay! Cụ bà ngẩn ngơ đứng nhìn anh từ từ quay trở lên trên đồi hoang vắng.

                Giòng tình cảm đã, đang, còn ùa về chảy qua trong đời tôi, mình cảm thấy luôn hổ thẹn, dày vò, băn khoăn, bâng khuâng bao bất nhẫn về quá nhiều hình ảnh sống động không thể gội rửa, xóa sạch... Lúc nầy đôi chân tôi không còn sủng ái tin tưởng lẫn nhau, nên một trong hai bàn chân kia đã giận dữ, tự nhô lên hụp xuống, nếu chân nầy chấm, thì chân kia phản nghịch lại phết, làm tôi mệt nhoài run rẩy, chới với nghiêng ngả hoài. Cứ như thế mà hai đầu gối lập cập bò lết trong cõi đời ô trọc. Chính “xéc” là “hai thằng chân” đã “phẻn” đối cái bản thân tôi nặng quá tải đang nhún lên nhún xuống trong đời sống bốc lửa.
                ***
                Tình Hoài Hương

                Thơ Tình Hoài Hương
                Lượm lặt sưu tầm đó đây trên Net
                Thơ và nhạc: Trần Ng Phong.
                Lời & nhạc: Trần Lê Việt
                Last edited by Tinh Hoai Huong; 06-28-2020, 04:22 PM.
                Bút trần nào tả được lưu luyến!
                Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                Tình Hoài Hương

                Comment


                • “NƯỚC” Cạn, thì “Đổi Đời"


                  Tháng Tư Đen
                  Nhạc Trần Lê Việt
                  Lời: Lê Xuân.
                  Giọng hát: Việt Long
                  “NƯỚC” Cạn, thì “Đổi Đời"
                  Tình Hoài Hương
                  *

                  Lòng tôi trào dâng lên nỗi ngậm-ngùi, đắng cay, chua chát dường bao! Những tiếng nấc uất hận, giọt lệ vô cớ trào lên bờ mi tôi lăn hoài xuống má. Bởi vì tôi làm lụng quá vất vả đủ thứ chuyện, không ngơi nghỉ: Tôi thoăng thoắt đan áo lạnh để bán, (phụ nữ sinh sống tại Đà Lạt thì hầu như 85% tự biết đan áo len khá đẹp, thành thạo). Tôi may quần áo bằng kim tay cho con, bàn tay tôi lướt mau trên những đường chỉ thật đều, không thưa không vụng.

                  Khi có các vụ mùa thì tất cả bà, cháu, mẹ con tôi bươn bả đi các nơi, nào là: làm ruộng, nhổ cỏ, cấy mạ, đi mót đậu, mót khoai, mót rau, mót nhặt bao ni lông... Rồi nâng niu mang về: đậu, rau, khoai… lớp rửa sạch, nhín nhút để dành từ từ ăn ngấu nghiến, lớp phân ra độn với ít gạo tẻ, hoặc chia đậu que, đậu phụng kho mặn. Tôi nấu thứ rau chóng héo để ăn trước. Lượm giấy carton khắp các mọi nẽo đường, tôi khiên về nhà ngồi bệt xuống vĩa hè, vuốt thẳng ra, xếp gọn để vô một góc, bọc ni lông thì ôi thôi: ở bên trong đựng đủ thứ tanh hôi, bẩn thỉu dơ dáy vô cùng. Tôi xăn quần lên tận háng, đứng trong thau nhôm đạp bọc ni lông giặt giũ cẩn thận, đem ra cánh đồng đầy nắng phơi khô. Hôm sau mẹ con đội đến hãng ve chai bán, lấy tiền về đong từng lít gạo.

                  Ở Việt Nam là thế, nhưng ở bên Moskva vào những năm 1970 khi mùa đông giá rét, có tin đồn là ngày hôm sau cửa hàng số 1 sẽ có thịt. Ngay hôm đó trước cửa hàng đã có hàng chục ngàn người với áo khoác ấm, giày cao cổ, đứng thành hàng dài. Lúc 3 giờ chiều một người bán thịt đi ra, nói:
                  - “Thưa các đồng chí, ban chấp hành trung ương vừa gọi xuống, thông báo rằng không đủ thịt bán cho tất cả mọi người, vì vậy mà dân Do Thái nên về nhà”.
                  Dân Do Thái nhẫn nhục bước ra khỏi hàng. Những người khác tiếp tục đợi. Lúc 7 giờ tối người bán thịt lại bước ra và nói:
                  - “Thưa các đồng chí, ban chấp hành trung ương vừa gọi xuống, thông báo rằng: hóa ra là không có thịt, vì vậy mọi người nên về nhà”.
                  Đám đông tản ra, vừa đi họ vừa lầm bầm:
                  - “Bọn Do Thái lúc nào cũng gặp may!”. (2)
                  *
                  Thường khi đi làm ruộng ngang qua khu vực có chiếc phi cơ rơi ngay sau ruộng lúa, tôi tần ngần bâng khuâng dừng lại nhìn chiếc trực thăng nầy bị bắn rớt sáng sớm ngày 29/4/75 ở sát ruộng làng Nhị Tân. Có điều lạ lùng là hồi ấy nhiều người dân, và chị tôi chính mắt trông thấy trực thăng bốc khói và rơi xuống đất.
                  Có một xe tăng bọc sắt hết xăng còn nguyên vẹn hình dáng nằm ngay trước hẽm nhà thờ Châu Nam, Hóc Môn, gần dãy nhà trại gia cư. Sau ngày "mất nước", bọn trẻ con trong các Xã: Châu Nam, Lục Nam, Tân Thới Nhì, các con em ưa leo trèo vào ngồi lắc lẽo trên khung sườn phi cơ, hoặc chiếc xe tăng, chơi trốn tìm, nô đùa. Thỉnh thoảng cũng có mấy ông lớn tuổi bu quanh phi cơ, thì xe tăng đã mất hết những đồ đạc bên trong, kể cả cánh quạt, ghế lái, v.v... Chiếc phi cơ chỉ còn trơ lại cái khung sườn. Người ta đập phá, tháo gỡ phi cơ ra lấy nhôm, sắt vụn... nghĩa là có cái gì có thể gỡ được, họ gỡ ra hết cái đó, đem đi bán ở hãng ve chai. Mặc dù họ vẫn e sợ phi cơ hoặc xe tăng phát nổ thình lình.

                  Sau nầy tôi cùng một nhóm người đi mót lúa, đi làm công, thì có cậu con trai, (con của ông bà chủ ruộng), vào giờ nghỉ trưa tôi dùng cơm nắm mang theo ăn. Cậu ấy ưa lê la đến ngồi nói chuyện với tôi cạnh bên chiếc trực thăng khác chỉ còn trơ bộ sườn, cậu ta ngửa cổ ực một hớp rượu đế, khoái trá “khà”:
                  - Cô không phải là dân làm ruộng chính cống, ha.
                  - Sao anh nghĩ vậy?
                  - Thấy cô mãnh mai, trắng trẻo và đẹp.
                  - . . .
                  - Hay là… cô sa cơ thất thế!?
                  - . . .
                  Cậu ta chỉ cho tôi một ngôi mộ vô danh, cậu ấy nói: người chết là một quân nhân sĩ quan Việt Nam Cộng Hoà, sĩ quan ấy chết trong khu vực ruộng nhà cuả cậu ta. Do ba cậu đã vội vàng lén lút tẫn liệm và chôn cất người lính bên lề đường, vì sợ oan hồn không ai hương khói, sẽ lởn vởn quanh họ quậy phá, cậu ta là con ông bà chủ già khá giả, hiền hậu, chân tình, rất tốt với tôi. Tôi là vợ tù “cải tạo” khi nghe cậu ta nói thế, cũng lấm lét, len lén dáo dác… nhìn thấy có một ngôi mộ đất mới đắp đơn sơ, không tên không tuổi. Nhưng tôi im re, ngu sao mà bép xép thèo lẽo, ấm ớ hỏi nầy hỏi nọ, cho lôi thôi ra, tôi không dám có ý kiến. Tôi rất sợ cậu ta làm gián điệp, chờ tôi hở môi, là a lê hấp bắt đi tù, tôi bỏ con thơ ngoài đời bơ vơ đói khát. Nên tôi chỉ gật gù ừ hử trong khu Bà Điểm mười tám thôn vườn trầu nổi tiếng… có nhiều Vẹm. Vài ngày sau, tôi “lo thăng, lo lặn" mút mùa luôn. Tôi mất cơ hội có một việc làm ở nhà chủ ruộng, khi nhan nhãn đó đây:
                  Đầu đường Đại-tá vá xe.
                  Cuối đường Trung-tá bán chè đậu đen.
                  Giữa đường Thiếu-tá rao kem. (2)

                  Tôi già khú, các con tôi là thứ con nít hỉ mũi chưa sạch, thì có sá chi chuyện lượm lon, nhặt bọc dơ, để có tấm bằng khen trong lớp mà vô bổ cho dạ dày! Điều may mắn là thân thể tôi ốm o, nhỏ thó, nên tôi tự ý ngồi rị mọ may bằng kim tay một cái quần đen cùn cụt trên mắc cá, nhưng đáy quần dài xệ xệ và rộng thùng thình, (dễ độn đồ lậu, dễ chạy khi bị rượt bắt) lưng dây rút, (cột chặt vô bụng, không phải lưng dây thun lỏng lẻo). Tôi may một áo ngắn màu nâu khá rộng. Về áo ngực thì tôi tự may cái cọc-xê vải mỏng to, (có thể nhét mỗi bên ngực ít ra cũng được non 1/2 ký đường cát, đường thẻ, tiêu hột, hột điều. Hoặc thường xuyên cho hai núm vú tí nị của tôi tha hồ hút lố thuốc lá đã đời, ha ha ha...).

                  Tôi rất đắc ý, sung sướng, và khoái về sản phẩm “quần áo” tự mình phát minh và sản xuất. Bảo đảm tôi dấu nghề kinh khủng, ngu sao mà hở môi cho răng lạnh! Nên tôi không hề hé lộ tí xíu nào cho đồng bọn “con buôn đầu nậu” biết. Thiệt tình là tôi không tự hào vỗ ngực xưng “bá”, nhưng phải công nhận là tôi tự khen tôi giỏi, có óc sáng tạo thiệt đa, ít ai ranh ma, có tay nghề chuyên môn, sành điệu như tôi. Khi diện “bộ đồ vía” vô người, bỗng nhiên tôi tủm tỉm cười, nghĩ đến bài thơ rất hay:
                  . . . Em cứ mặc nhưng xin đừng quá ngắn
                  Hở phần lưng, ôi đã khó coi sao!
                  Lần đầu tiên mình tập tành mặc áo chíp
                  Huống chi đưa cái lõm rốn ra chào
                  Vô duyên thế làm sao ai coi được!
                  Mông má có đầy, mắt môi có ướt
                  Cũng không làm "tha thướt" được gì đâu
                  Lỡ quen nhau, giao ước buổi sơ đầu
                  Đừng đòi học, kiểu khoe khoang, mốt, chảnh...
                  Van em cứ hồn nhiên, đừng đỏng đảnh
                  Quần sa tanh và áo lụa Hà Đông
                  Giản dị thôi mà duyên dáng vô cùng
                  Em nên nhớ, còn cho mình ngắm nữa
                  Em cứ mặc van em đừng... thả cửa
                  Xin hãy là cô Tấm của ngày xưa
                  Mộc mạc, đơn sơ, giản dị, quê mùa...!!! ( BPT)

                  Vậy thì, thưa thi sĩ BPT yên chí nhé, thời buổi nầy đã có mấy ai dám ăn diện đỏm đáng “model xịn” như tôi nào! Thế là tôi khoan khoái hí hửng tất tả leo lên xe đò chạy đi Trảng Bàng, Gò Dầu, Tây Ninh, có nhiều lần xe qua tít bên khu chợ trời biên giới Việt-Miên: Tôi mua đường, mua vải, mua thịt, vân vân... Những thứ đó đã bó chặt trong người tôi, có bộ quần áo “sáng tác chiều tác” tinh xảo để che mắt công an giao thông & cán bộ dọc nhiều trạm gác đang lùng sục lục soát tịch thu. Thân thể tôi trở thành tròn vo, mập ú nần ú nù, phì lũ, coi tôi giống mấy mummy Mỹ. Mấy thứ vải vóc, đường cát hoặc thuốc lá thì nó khô, tôi dễ dàng bó trong bụng, làm bà trẻ có cái bụng bầu. Bụng “bầu tân thời” trong xã hội chủ nghĩa coi ngộ lắm: gồ ghề, lồi lõm, nhô lên sụp xuống, như thung lũng tình yêu núi đèo Đà Lạt.

                  Duy về chuyện thịt heo, thịt bò, thịt trâu, thịt dê... ở các chợ miền Nam như Sài Gòn, Chợ Lớn… Đa Kao, Bà Chiểu, Tân Định… hầu như khan hiếm thịt, thế nên bạn hàng như tôi ai ai cũng lo chạy đi về miền quê mua thịt cuả dân làng làm lậu lúc ba giờ sáng. Tôi thu dú bó thịt trong đùi gần sát tới háng, mà qua mắt công an cán bộ. Bó thịt vô gần bên háng, thật là một cực hình, ngứa ngáy, khó chịu, sột soạt, bực bội vô cùng! Tôi đi đứng cấn cái vì “cục đùm” cứ lắc la lắc lẽo, dềnh dàng như kẻ mắc bệnh lậu, bệnh tiêm la, sa bọng đái… chi chi đó. Có nhiều lần vào buổi trưa trời nắng chang chang, mà tôi bó hai miếng thịt heo, thịt ba chỉ, mỗi miếng độ chừng một kí lô, để rón rén qua trạm gác, tôi lum khum cúi cúi liếc liếc coi thiệt là gian, “lưng ong” đi lòm khòm, làm bộ rên rĩ như bà già đau quặng bụng muốn mắc ị.
                  Nhưng trong ruột tôi sôi lọc ọc, rổn rảng... có thể tên cán bộ đứng xớ rớ gần bên nghe bụng tôi đánh lô tô rột rột, thì ông ta nghĩ rằng: "thứ dân đen đói rách nên sôi ruột, thèm ăn í mà". Thời buổi nầy đói khát là chuyện thường, chuyện nhỏ, ông có nghĩ như thế cũng đúng thôi. Mồ hôi cha mồ hôi con chảy ròng ròng, tôi chỉ sợ hai cục thịt quấng ni lông ở hai bên đùi không chặt, dù tôi đã lấy sợi lòi tói cột siết vô đùi rồi. Do nóng và mồ hôi hột vã ra như tắm, (vì run sợ đủ thứ chuyện) thì thịt thà và sức nóng Trời ban, cộng với sức nóng từ thân thể tôi tỏa nhiệt ra, thịt trong bọc ni lông sẽ lầy lụa, trơn tuột, mà rớt tỏm xuống đất trước mặt “công an bạn nhân dân”. Thì thịt mất, tiền không có, thêm tội: mang đồ quốc cấm “lên làng lén lút, lừa lũ lục lâm làm lợn lậu”, thì a lê hấp tôi vô tù mút mùa. Ôi! nghĩ đến điều ấy khiến mình quá sợ hãi.

                  Nhưng tám tháng qua, sau những chuyến đi buôn ấy tạm suông sẻ, thì họ đã phát hiện ra “bọn bà bầu” cái tội lừa. Vì ngồi trên xe đò có chừng mười lăm phụ nữ, thì đã có tới tám chín chị có cái “bầu tâm sự to bự sư”. Những thứ mánh mung gian trá đó, tôi đã học được ở xã hội chủ nghĩa từ ngày bắt đầu có cách mạng thành công. Ngỏ hầu tôi có thể qua mắt họ, đem lên Chợ Lớn, chợ Bến Thành, chợ Tân Định… bán, ở những nơi nầy nhiều nhà giàu dư dật tiền bạc, mà thiếu thịt thà, tôm cá; thì mình bán có lời gấp bốn năm lần tiền vốn. Con buôn ai không ham! Người dân ở thành phố còn giàu, có sẵn tiền thu dú, họ thèm và ưa ăn thịt, ăn tôm tươi, cá tươi.
                  Nói đến chuyện buôn tôm cá tươi, cũng có lần tôi làm cái "mánh" bó tôm cua trong người, ui trời quơi! Tôi bị con cua kẹp cho đứt thịt đau điếng, chảy máu. Nước mắt tuôn như mưa, mà tôi chỉ nghiến răng trèo trẹo không dám khóc hụ hụ, (do tôi đã cột mấy sợi thun ở "hai càng và tay chân" nó rồi, nhưng chả biết tại sao sợi thun đứt, nên “hai con cua sổ lồng” ngọ ngoạy tay chân quơ cào, thế là tôi bị nó kẹp). Lại nữa nó tanh và hôi đến nôn mửa! Sau đó tôi "bỏ cuộc chơi", đành trở lại nghề cũ tiếp tục "bó hàng hoá" vô trong người mà đi buôn lậu)! Nhưng hàng hóa luôn thiếu thốn, thịt thà nào thấm vào đâu giữa thời buổi gạo quế củi châu. Cơ khổ thân tôi làm không thiếu thứ gì, (trừ chuyện “ăn nằm”) miễn là có tiền đem về nuôi gia đình. Tôi phải tận lực vắt cạn kiệt sức lực:
                  Thứ Hai em phải đi làm.
                  Thứ Ba em cũng vì làm phải đi.
                  Thứ Tư làm việc nên đi.
                  Thứ Năm càng phải vội đi để làm.
                  Thứ Sáu em cũng phải tham.
                  Thứ Bảy bận quá vì làm phải đi.
                  Chủ Nhật thủng thẳng nghĩ suy.
                  Ở nhà buồn quá có khi... đi làm. (1)
                  Thời gian khá lâu sau… chúng tôi chia phiên nhau đi thăm nuôi chồng bị tù tội vì bốn chữ... “học tập cải tạo”. Thật ra, chúng tôi mừng rỡ đùm túm gói ghém những gói quà tẻo teo khiêm nhường, dỡ tệ đến mắc cỡ, do cả nhà nhịn ăn nhịn mặc, vất vả nhọc nhằn đến thế, mà khó có tiền dư để thăm nuôi tù thường xuyên và xứng đáng. Xin lỗi chồng.
                  ***
                  Hội. Họp. Hành liên miên… Sau ngày đất nước "đổi đời" 30 tháng Tư... thì họp liên tục tại thôn Ấp, (nơi gia đình tôi đang trú ngụ), một tháng có ít nhất bốn năm lần buộc dân phải đi họp Tổ, nếu không họp Tổ, thì đi họp Ấp: suốt từ năm 75 đến năm 95. Không đi thì lãnh thẹo. Nhà nước không cấp phát phiếu mua dầu hôi, mua gạo, mỡ, đầu cá, đầu tôm ươn sình, đã đành. Mà dân còn bị phạt đi làm “công tác chùa" ở điạ phương không tiền công! Ai ai cũng sợ, ban ngày cùi cụi đi làm nông, làm vườn vất vả khó nhọc, ban đêm phải đi họp ở thôn ấp mình, mỗi người mang theo một cái đòn, chiếc chẹ, hay đoạn chiếu cũ! Ai không có, rút dép mòn kê dưới mông, hay ngồi bệt xuống đất.

                  Phần tôi, do họ biết tôi có chút xíu "trí thức", nên mỗi lần bà Trưởng Ấp đi họp trên thành phố nhà Hồ, hoặc tới các miền "giao lưu văn hoá" khác, thì tôi phải lẽo đẽo đi theo bà, ngỏ hầu ghi chép khi họ "bá cáo", đi làm “công chùa” mút chỉ cà tha. Nói là đi họp để báo cáo về thực phẩm, vải vóc, nhưng thật ra đó là một cách kiểm soát chặt chẽ mỗi nhà, mỗi người. Họ vắt cạn kiệt sức lao động con người như vắt miếng chanh hết nước.
                  Hôm nay có "bàn hội nghị", trước khi họp, cán bộ chính trị trịnh trọng dõng dạc hô:
                  - Toàn thể "rân" chúng đứng "nên" tôn vinh tưởng "liệm" Bác:
                  Bác Hồ ta thật vẻ vang
                  Đang từ khỏe mạnh chuyển sang… từ trần (2)

                  Sau đó từ từ chuyển tông sang:
                  Cùng vào lăng bác đi cầu
                  nguyện cho thân quyến vừa giàu vừa sang. (2)
                  Sau đó nữa, cán bộ quơ tay ra dấu dân chúng ngồi xuống, giải thích về việc bầu bán:
                  Ta đi bầu cử tự "ro"
                  Chọn người xứng đáng mà cho vào hòm (2)
                  Cán bộ chính trị trên thành phố xuống chủ trì (ngoài Bắc vô Nam) ông đứng dậy hân hoan vui vẻ trịnh trọng chống nạnh, nói:
                  - Hôm "lay" nhà "lước" ta nhiệt "niệt" chào mừng các đoàn đại biểu từ khắp "lơi", đến tham "rự" hội thảo: Trước hết tôi "rới" thiệu:

                  1. Đoàn Việt "Lam" (Nam) có “rân” tộc Thiểu số trên Cao Nguyên vùng sâu vùng xa về:
                  Lò Văn Tôn.
                  Cú Có Đeo.
                  Lừa Song Phắn
                  Nông Đức Đai
                  Bạc Cầm Cu

                  2.- Đại biểu Cộng Hoà "Rân" Chủ nhân “rân Nào” (Lào):
                  Tay Xỏ Mông Thum Thủm
                  Vay Vay Hẳn Xin Xin Hẳn.
                  Hắc Lào Mông Chi Chít.
                  Xăm Thủng Kêu Van Hỏng.
                  Teo Hẳn Mông Bên Phải.
                  Ngồi Xổm To Hơn Hẳn.
                  Đang ị Lăn Ra Ngủ.
                  Lông Chim Xoăn Xoăn Tít.
                  Say Xỉn Xông Dzô Hãm.
                  Ôm Phản Lao Ra Biển.
                  Cu Dẻo Thôi Xong Hẳn.
                  Cai Hẳn Thôi Không Đẻ.
                  Xà lỏn dây thun giãn.
                  Xà Lỏn Dây Thun Lỏng
                  Y Hẳn Tay Xin Đểu.
                  Leo Tủ Ăn Đu Đủ
                  Ăn Tỏi Xong Bum Bủm

                  3.- Đại Hàn “Rân Cuốc” (Xẻng):
                  Chim Sưng U.
                  Nâng Su Chieng.
                  Kim Đâm Chim.
                  Pắt Song Híp.
                  Chơi Xong Dông.
                  Eo Chang Hy (y chang heo).

                  4.- Nhật Bản:
                  Xa Ku Ta ra.
                  Ta Cho Ku Ra.
                  Cu ta ta xoa.

                  5.- "Niên" Bang Xô Viết:
                  Cu Nhét Xốp.
                  Cu Dơ Nhét xốp.
                  Nicolai Nhai Quai Dep.
                  Ivan Cu To Nhu Phich.
                  Trai Cop Xờ Ti.
                  Mooc Cu Ra Đốp.
                  Ivan Xach Xô Vôi.

                  6.- Ncraina:
                  Nâng Cu Lên Cô.

                  7.- Rumany:
                  Lo Nhet Cu.
                  Lôi Cu Ra Đốp.

                  8.- Trung Quốc:
                  Bành Tử Cung.
                  Quách Vô Hòm
                  Đại Cường Dương.

                  9.- Đài “Noan” (Loan):
                  Kim Xuyên Quần.
                  Hà Ra Kinh.
                  . . .

                  Một lần khác tôi và bà Mừng đi họp tại huyện Củ Chi: sinh hoạt, bầu bán, “đả thông tư tưởng, quán triệt đường lối, thi đua, nâng cao sản xuất”. Đảng lãnh đạo. Nhà nước quản lý. Nhân dân làm chủ... Kho Bạc thì... "nhà lước ta phải quản ný" mệt nghỉ! Chỉ có trưởng, phó, thư ký, an ninh, công an khu vực, thì được ngồi chung quanh một cái bàn và ghế dài cũ. Hầu như hôm nào cũng có vài ba cán bộ ngồi kiểu nước lụt, chò hỏ như con khỉ đánh đu, họ co một chân trên ghế, thờ ơ bỏ báng súng xuống bàn, tôi tưởng hắn đang chiả súng tới đám đông làm một phát “đùng”... mà lạnh cả gáy! Có “vị” vừa nói vừa ngồm ngoàm nhai bánh mì nhồi thịt, uống nước ừng ực, cũng bàn tay ấy giơ lên hỉ mũi rột rột, rồi lau vô vạt áo. Coi “vô tư”, “nịch xự” và "bình rân ráo rục" sao đâu á!

                  Bỗng nhiên, chẳng hiểu có ông bô bà lão, cô bác già nua bệnh tật nào mà "mất lết", mất na, mất danh, hoặc mất trí; vị ấy đã bị lỏng ruột già, yếu ruột non chi chi đó, nên vị ấy đau bụng đau bão, cố ôm bụng nhịn cơn xì té khói, mà không nỗi. Ui! không thể chống chọi với “cơn bão lòng”, đã “tịt ti xit…” ra một tràng rõ dài rõ to: bũm bũm bũm... xịt xịt xì... dài dài dài… (nghe như củ cà nông đại pháo, thời mấy ông Tây bà đầm xí xô dắt nhau ỏng ẹo tràn qua nước ta). Tiếng bũm... xịt... bay theo gió nồm rõ to, và trời quơi! ren mờ thối um! Khiến cả hội trường bịt mũi, phải “tốc hành” xô nhau giạt qua một bên, né sang hướng không “cuốn theo chiều gió”. Dân ngồi bệt dưới đất xôn xao náo loạn bưng mồm, bịt miệng ôm bụng cười bò lăn bò càng. Mặc ông trên bàn chủ toạ rống tên các “vĩ nhân”. Cán bộ chính trị đang thao thao bất tuyệt, đã dừng lại, im phắc, lỏ mắt, tức giận giơ nắm đấm đập mấy phát xuống bàn, quát:
                  - Ai đã “đánh rắm”, nghe hãi thế hở???
                  Hội trường nín khe im re, cũng có sợ bị cán bộ quở, hoặc bắt phạt đi lao động đó chớ. Cán bộ chính trị mặt đỏ gay, hắn là một cây sừng sỏ có nhiều tham vọng, tuy cà lơ phất phơ, nhưng hắn cần đánh bóng cuộc đời, bất chấp tất cả để đạt đến mục đích. Đầu trên thôn dưới ai mà chả biết hắn chỉ là thùng rỗng kêu to, mặt mũi sĩ diện nào ngồi chung với chúng tôi, như thế chẳng khác chi lòi cái đuôi ngu dốt, làm sao mà trị dân! Nói trắng ra là con đường tiến thân của hắn bước dần vào ngỏ cụt đang cố trườn lên. Hắn xỉ xỉ ngón tay vô đám đông:
                  - Tôi hỏi "nại": Tôi đang "riảng" về "ný" thuyết ưu việt của Bác và Đảng. Thế tại sao... ai đã "rùng" thủ thuật đấy để phản đối, hử! Cút xéo khỏi đây ngay!
                  Nhiều tiếng xì xầm to nhỏ bàn tán vang lên đó đây. Cuối cùng có một bà chính cống là “nhà giáo, nhà nhạc, nhà văn, nhà buôn, nhà cái, nhà đá, nhà giam, nhà hát, nhà giao lưu dzăn hoá” Toàn là thứ NHÀ, nghe oai và thứ dữ không hà. Bà ta ngoại tuần khoảng năm "mưi" mấy bó… bà xiả cục thuốc, chà qua chà lại lia lịa trên hai hàm răng, rồi bà nhéc bên kẽ môi trên. Khi bà ta nói thì cục thuốc to nhấp nhô, coi hay hay và ngộ ghê:
                  - Tui hỏi chút xi: cán bộ giảng về bài học cách mạng, và hỏi: ai đã “đánh rắm”... là cái điều luật thứ mấy của đảng dzậy?
                  - . . .
                  - Chị kia bảo "rì" đấy nhỉ!
                  - Bởi vì: Thiệt tình là ngôn ngữ hai miền khác nhau, tui không hiểu gì á cán bộ. Giống như những ví dụ sau đây nè:
                  Nam rờ bông Bụp. Bắc vuốt “Tường Vy”
                  Nam nói: “mày đi”! Bắc hô: cút xéo.
                  Bắc bảo: cứ véo! Nam: “ngắt” nó đi.
                  Bắc gởi phong bì. “Bao thơ” Nam gói
                  Nam kêu: muốn ói. Bắc bảo: “buồn nôn”!
                  Bắc gọi tiền đồn. Nam kêu “chòi gác”
                  Bắc hay khoác lác. Nam bảo “xạo ke”
                  Mưa đến Nam “che”. Gió ngang Bắc chắn
                  Bắc khen giỏi mắng. Nam nói “chưởi hay”.
                  Bắc nấu thịt cầy. Nam thui “thịt chó”.
                  Bắc vén búi tó. Nam “bới tóc” lên
                  Anh Cả Bắc quên. Anh “Hai” Nam “lú” (3)

                  Cán bộ chính trị ớ ra một lúc, ngẩn ngơ nhìn trời hiu quạnh, rồi la:
                  - Chị kia, cố tình trêu ngươi tôi đấy phỏng?
                  - Ông ui. Tui không hiểu nữa rùi, ông nói: “đánh rắm" dzà "trêu ngươi” là gì?
                  Cán bộ mặt đỏ tía tai hầm hầm tức giận đến cực... điểm, hai bàn tay xoắn xuýt lấy nhau, hắn vụt đứng bật dậy đi lui đi tới. Trong khi đó có một cán bộ khác ngồi chò hỏ kiểu nước lụt, ông ta chống hai tay lên cằm, ngó bạn cười ha ha:
                  - Dân miền Nam như tụi tui không hiểu chữ “đánh dắm” của đồng chí đâu. Nếu đồng chí nói là: “địt”, thì họ hiểu biết liền.
                  - Có "rì" mà chả đả thông tư tưởng hở: “Đánh dắm” hay "nà đánh rắm”... có nghĩa: muốn khỏi uất sình hơi trong ruột, trong bụng, ta cứ để cho nó tự "ro", cho hơi trong ruột hân hoan thoát ra "nỗ" đít, bay ra ngoài trời “thái mái”. Có thế mà không hiểu. Dốt thật!
                  Một ông lão “lao động là vinh quang” nông dân bấy giờ ngà ngà say, cóc sợ ai, ông ngồi bệt dưới đất, bèn thong thả lên tiếng:
                  - Dzậy chớ còn chữ “trêu ngươi” là gì, cán bộ nói đi, cho tui học nữa, cho dzui.
                  - Trêu ngươi tức "nà": cố ý chọc tức, không kiêng nể "rì", khi tôi "rảng" bài, và “đả thông tư tưởng” đấy. Hiểu ra chưa. Cố tình chưa hiểu, "nà" chống đối cách mạng đấy. Ông bảo cho mà "niệu" thân nhá.

                  Bà già xồn xồn giáo sư Văn kia trở thế ngồi ngay ngắn, bây giờ bà lại khúc khích "cừi cừi":
                  - Bởi “dzì” cán bộ nói không “gõ gàng”, nên tui có thắc mắc xi. Chèn quơi, chừ hiểu rùi, đồng chí!
                  - Ai là đồng chí với bà, mà "nải" nhải.
                  - Ồ... xin lỗi cán bộ, tui già cả ưa “guên”! Dzậy ra tui là đồng rận! thì:
                  . . . Bắc nói trổng thế thôi. Nam bâng quơ “dzậy đó”
                  Bắc đan cái rọ. Nam làm “giỏ tre”.
                  Nam không nghe “nói dai”. Bắc chẳng mê lải nhải
                  Nam “cãi bai bải”. Bắc lý sự ào ào
                  Bắc vào Ô tô. Nam vô “xế hộp”
                  Hồi hộp Bắc hãm phanh, trợn tròng Nam “đạp thắng” (1)

                  Một cán bộ miền Nam ghé tai qua cán bộ chính trị miền Bắc “cừi cừi”:
                  - Bà kia là “giáo sư dzăn-chương”, bả đi dạy trên Sè Gòn, nên xổ cả chùm nho, chùm thơ, bả dám đấu hót "dzới" cán bộ, chẳng “goa” có chồng làm khá lớn, con thuộc "dzề" tầng lớp liệt sĩ trong Nam, bả rất có công "dzới" cách mạng đó.
                  Cán bộ chính trị dịu giọng, liền lãng qua chuyện vẩn vơ khác cái rụp. Thế là vô tình buổi họp biến thành buổi đối đáp thơ tiếu lâm, vui ơi là vui, “hả hê” nhứt từ xưa tới nay. Ai ai cũng nhen nhúm chút xí hân hoan khoan khoái cởi mở tấc lòng. Tôi ngồi bệt dưới đất gục mặt lên hai đầu gối nhô cao mà nực cười, nhìn một cánh tay liệt của cán bộ Mưu luôn đong đưa, lúc lắc, thân hình y nghiêng nghiêng qua một bên, ông ta lê từng bước cứng cỏi, nặng nề đi lui đi tới, ổng mang không vừa đôi dép râu nhỏ hơn khổ chân, nên ngón út ương bướng chìa ra ngoài, cọ quẹt xuống đất, trông dễ gai hết sức.
                  Tôi nhìn lom lom ngón chân út “giao liên” xuống đất của ổng, ngón chân chìa ra chả khác nào lưỡi cày bấm sâu xuống nông trường Nhị Xuân, nơi vắt cạn kiệt sức lực người dân đen đến giọt mồ hôi cuối cùng. Trong tranh tối tranh sáng, khi tiếng ếch nhái, ễnh ương tưng bừng kêu ộp oạp, uồm uộm… tiếng dế gáy ré ré, tiếng ve sầu rã rích than van, tiếng muỗi vo ve đốt sưng đít, dân mất của mất công, mất tất cả mọi thứ trên cuộc đời ô trọc, mà phải ngồi xổm xép de dưới đất tới hơn 12 giờ khuya, nhìn lên:
                  Hội trường yên ắng ngủ say
                  Thuyết trình vừa dứt, vỗ tay ra về. (2)
                  * * *
                  ***
                  Tình Hoài Hương

                  (1) = Thơ Bút Tre
                  (2) Sưu tầm lượm lặt.

                  THH xin cống hiến quý độc giả thân mến của HQPD câu chuyện thật, để cùng nhau chia sẻ mà "cười ra nước mắt"... Đồng thời THH xin phép cám ơn quý vị nhiếp ảnh gia: đã post những tấm hình đầy nhân bản lên internet, cho tôi có thể copy vô bài viết, ngỏ hầu phong phú hoá hình ảnh sống động, và tài đức & nghệ thuật của quý vị.
                  * * *
                  Last edited by Tinh Hoai Huong; 06-28-2020, 04:08 PM.
                  Bút trần nào tả được lưu luyến!
                  Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                  Tình Hoài Hương

                  Comment


                  • Mây Xám Vắt Ngang Đời

                    Mây Xám Vắt Ngang Đời
                    Tình Hoài Hương
                    *

                    Đàn bươm bướm trắng xanh vàng nâu lí lí lắc lắc, chập chờn, nhởn nhơ, trêu trêu, ghẹo ghẹo mấy đài hoa dã qùy e lệ nép mình dọc con sông um tùm lau sậy lô nhô. Cỏ lau bông trắng bay đầy bãi ruộng lúa chỉ còn trơ gốc rạ vàng lởm chởm. Trên chiếc cầu gỗ cũ được mang tên Cầu Bông ở Nhị Tân thuộc Huyện Hốc Môn lấp loáng nhiều giọt nắng lung linh, long lanh từ mặt nước trong vắt, phản chiếu muôn tia nắng rạo rực luôn lấp lánh đổi màu. Bầu trời lơ lửng năm ba đám mây trắng dài lê thê, dài ngoẵng như sợi tơ len. Mây kéo từ thôn nầy vắt qua thôn khác, in xuống lòng sông biếc xanh. Phút chốc bóng mây trăng trắng dài lướt thướt lang tỏa ra trùm kín bầu trời, mây đổi thành màu xám đen nặng trĩu đang lững thững trôi về nơi vô định. Tôi lặng nhìn đám mây trắng và xam xám im sửng trên trời, dường như mây trông giống một dải màn sô tang trắng viền chỉ màu lam xám, đã và đang vắt ngang kiếp đời gia đình tôi cơ cực. Rồi bỗng đâu mây đen ùn ùn kéo cơn mưa ào ạt trút xuống đời suốt mấy ngày đêm, làm nặng nề thêm bầu trời u ám của:
                    “Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý.
                    Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do”. (1)

                    Chúng tôi đã rớt xuống vực thẳm sâu hun hút, úp mặt xuống tận đáy xã-hội chủ-nghĩa. Dẫu vậy, các con trai tôi học hành ưu tú, xuất sắc. Hai con lớn dưới mười tuổi, nhưng ba giờ sáng các con đã thức dậy, lo chạy bộ đến lò bánh bò, lò cà rem, xa khoảng bốn cây số. Các con ngồi co ro cúm rúm ngoài vỉa hè, để chầu chực chủ mở cửa, hy vọng con có hàng bán chạy rong mời khách. Tháng nắng ngày mưa các con đều khổ cực lầm than như nhau. Ngày ế-ẩm, bánh bò bị thiu, cà rem chảy nước. Chúng tôi lặng-lẽ ngồi ở góc nhà, nhịn khát, nhịn đói, khóc thầm. Vì chồng, cha, là lính “ngụy” bị ở tù “cải tạo” (tôi dùng chữ "cải tạo" phải có hai ngoặt kép). Ai dám giúp! Nhưng, thiệt khổ là hầu như đa số dân lành cũng không có ăn, không có mặc, thì lấy gì mà ai giúp ai!?

                    Ba bốn năm sau, thì con trai đầu và con trai kế mỗi buổi sáng các con nhịn đói đi học, trưa ăn qua loa tí khoai sắn cầm hơi, rồi hai con đi bán bánh bò, cà rem, tối tối con trai trưởng theo chủ ra tận Long Khánh, Hàm Tân, Phan Thiết… con cùi cụi vác trấu thuê, vác bó mía thuê. Con leo lên nóc nhà dỡ tôn, dỡ nhà, (do chủ mua) chủ & tớ đem đi bán. Con làm bất cứ việc gì dù nặng nhọc, khổ sở, miễn sao con có tiền đem về cho mẹ mua gạo để nuôi nhau sống lây lất qua ngày. Ngày hè không đi học, các con nhịn đói phải đi nông trường Nhị Xuân lo trồng thơm, trồng mía. Hoặc con làm dân công thủy lợi đi đào kênh rạch trên Lê Minh Xuân. Tối về, Đảng phát cho một tờ phiếu, dân tự vét tiền túi ra mua gạo, mua mắm (dĩ nhiên!).
                    Rồi năm sau con trai thứ ba vác thùng cà rem theo anh đi bán, khi thùng mút đựng cà rem cao tới ngực con. Các con đi học luôn luôn đứng đầu lớp, nhưng con vẫn đi bán cà rem phụ mẹ lo cho gia đình mình, Mẹ cảm động và thương các con yếu ốm biết ngần nào! "Cả nhà anh em ta" đều là "dân chuyên nghiệp bán cà rem" nhưng trong Huyện nầy chẳng có ai bì kịp việc học và việc làm của các con, vì các con kiếm sống bằng một nghề lương thiện và trong sạch, chính đáng ở chỗ các con dù đã khôn lớn, nhưng các con đi bán khi gặp bạn "đồng môn" vẫn vui tươi, hiền hoà, thân thiện, các con chẳng hề cảm thấy xấu hổ, vì nghề "bán cà rem" thấp hèn. Mẹ chân thành cám ơn và ghi ơn các con, mẹ rất hãnh diện vì từ thuở nhỏ các con đã nên người hữu ích. Mẹ mong rằng:
                    Phượng hoàng ở chốn cheo leo.
                    Sa cơ lỡ vận phải theo đàn gà.
                    Bao giờ gió thuận mưa hòa.
                    Thay lông đổi cánh lại ra phượng hoàng. (1)
                    ***
                    Con mẹ Thân là vợ của một sĩ quan Dù tên Bảo ở “chế độ cũ”, miếng thịt Thân còn nhét trong kẽ răng, ấy thế mà mụ ta đã toa rập với bọn cán bộ làm trong Xã phản bội chồng, lừa thầy phản bạn, mụ toa rập với bọn bát nháo cắt xén, bòn rút lương thực của dân đen biết bao nhiêu mà kể cho hết. Dân chết đói mà con mẹ ấy sống nhăn răng, phè phỡn, đú đa đú đởn với bọn công an cán bộ kia. Thật xấu hổ vì con đàn bà trắc nết người chẳng giống người mà giống ngợm!
                    Sau giờ lao động nhọc nhằn, bà con lối xóm hò nhau xách tụng chạy đi, chen lấn vô cửa hàng, mắng nhiết nhau inh ỏi, vì sợ hết giờ không có bo bo đổ vô nồi. Bà Muôn, bà Cát, bà Liêm ơi ới gọi tôi:
                    - Cô giáo đi mua gạo “liên xô”. Mau lên kẽo hết. Nhịn đói thì chết.
                    - Vâng.
                    Tôi lo ba chân bốn cẵng chạy theo mấy bà hàng xóm. Tôi rù rì nói nhỏ vô tai bà Cát, bà ta là người đàn bà đanh đá, chì chiết, hai hàm răng luôn nghiến lại, bà nói chuyện không hở môi. Bà luôn mồm nhắc tôi “giữ bí mật”. Ấ́y thế mà chính miệng bà ta bi bô không giữ được, và “bật mí” phun xì ra. Í dà da! Bà ta thèo lẽo, tò mò tọc mạch như con ma xó! Tôi trách chi bà.
                    - Sao chị dám nói là gạo Liên Xô hử?
                    - Chứ có bao giờ mình được mua gạo đàng hoàng, từ tốn đâu. Không “liên” tục chen lấn, giành giật, “xô” nhau mua tí gạo mốc, cứ đẩy nhau mà rách toạt cả quần ra, là gì!
                    Chị Dung cười toe:
                    - Ồ! Thì để cho… ông trùm sò dê Bảy De thèm một xí.
                    Tôi thật thà hỏi:
                    - Dê Bảy De là ai, hở chị Muôn?
                    - Là cái thằng cha mặt ngựa mỗi ngày rả rả trên “loa” phóng thanh, hắn ưa nói dóc, nói dai, nói dở, nói dổm, nói dối, nói dốt… í mà.
                    - Ai vậy cà?
                    - Bộ thích ổng rồi hay sao, mà cô cứ hỏi tới dữ dậy he?!
                    - Hổng dám đâu.
                    - Bà Liêm, bà Muôn nhìn nhau nháy mắt, trêu tôi:
                    - À, cô giỏi văn, vậy tui nhờ ổng “nhất ngoặc, nhì thân, tam thần, tứ chế”. Ổng có thần thế, sẽ giới thiệu cô vô ngành giáo dục he.
                    - Hừ! Em mà giỏi cái nỗi gì.
                    - Cô nói láo một cây xanh dờn hén.
                    - Em hỏi chị chớ: Thầy cô đi dạy, ít ra cũng phải có ba bốn bộ đồ, để thay đổi. Còn em, chỉ có hai bộ dính da. Trời mưa em giặt đồ phơi không kịp khô. Thì làm ăn cái nỗi gì!
                    - Tại vì: “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà.
                    Áo quần bán trước, cửa nhà bán sau.
                    Bác Hồ khuyên ăn cơm rau.
                    Đừng ăn thịt cá, mà đau dạ dày” (1). Nghe ra chưa?
                    - Ui Trời! Chị dám rên la he. Em… hổng dám à nha.
                    Bà Liêm háy nguýt một cái dài lê thê, chanh chua:
                    - Cô nghe cho rõ nè:
                    Một năm hai thước vải thô.
                    Nếu đem may áo, cụ Hồ ló ra.
                    May quần thì hở lá đa.
                    Chị em thiếu vải, hóa ra lõa lồ.
                    Vội đem cất ảnh bác Hồ.
                    Sợ rằng bác thấy tô hô, bác thèm.
                    Có áo mà chẳng có quần.
                    Lấy gì hạnh phúc hỡi dân cụ Hồ?
                    Có đói mà chẳng có no.
                    Lấy gì độc lập, tự do hỡi người? (1)
                    Bà Cát:
                    - Mắc mớ gì mà rên la. Tui có làm nên chế độ chế đá chi. Cô hổng thấy bên Tây, người ta có thịt, cá, ê hề, đầy nhóc, nhưng mà họ chỉ thèm ăn rau toàn là rau thôi, dù rau mắc hơn thịt gà thịt heo, thịt bò... rau mắc gấp hai ba lần mấy thứ thịt thà đó sao.
                    - Thôi. Đừng nói nữa, không khéo nói lung tung beng, mang tội chống báng chế độ, thì bị tù mọt gông đa, mấy chị ui.
                    - Tui có hai cái cùi chỏ. Sức mấy dám “chống” đối ai. Chống gậy đi thủy lợi, thì có. Ai không đi thủy lợi, thì không có phiếu lương thực đã đành. Còn phải lên Ấp, lên Huyện “học tập cải tạo tư tưởng”. Hứ! Học tập cái ngữ gì hổng biết, một chữ bẻ đôi không rành, không biết, dốt còn hơn con bò tót, mà đòi đi dạy dỗ những tay trí thức đi học tập “cải tạo” toàn tướng tá, bác sĩ kỹ sư không hà, cải tạo ai hử!? Đừng nên dùng chữ cải tạo nếu không có dấu ngoặt kép à nha.
                    - Đúng thế!
                    * * *
                    Có lần tôi bị đau nặng không đi làm thủy lợi được, thì họ bắt bà mẹ già cuả Luật đi làm việc “bù” không công. Mẹ chồng hơn bảy mươi tuổi lặn lội mót lúa, mót sắn, mót khoai… Vì “lao động là vinh quang”, mẹ đi bắt ốc mò cua, tửng bưng sáng mẹ mò mẫm ra đi khi trời còn đầy bóng tối. Rồi, tối mịt mù mẹ lò mò đội lúa trên đầu, mệt mỏi trở về. Mẹ làm việc nặng nhọc, cực khổ, nhưng mẹ luôn ăn cháo, không đủ sức “lao động phấn-đấu”. Nên đặc biệt ở trong nhà, chỉ một mình mẹ già được ăn tí cơm tấm pha ít cám chấm muối mè gói trong tàu mo cau!

                    Hôm sau, hai đứa con nhỏ bé nhứt của tôi có bổn phận phơi lúa, trở lúa, cào quét lúa đem vô nhà, không để mất sót hạt ngọc Trời ban. Chiều chiều, mấy mẹ con tôi lo giả gạo trong cái nón cối sắt (quý phẩm độc đáo cuả “tàn dư đế quốc Mỹ & Nguỵ” ấy là “mũ sắt nhà binh”). Dù quân nhân khả kính chế độ cũ nay không còn, nhưng mỗi lần xử dụng chiếc nón sắt của anh quân nhân nào đó vất lại, khi người lính lột bỏ chiếc mũ sắt trên đầu xuống, có giả thiết thứ nhứt là do người ấy không còn sống trên cõi đời nầy, thứ nhì do anh bi lụy lúc “tàn chiến cuộc”. Ôi “loại giả thiết nào” thì tôi cũng cảm thấy chua cay, đắng xót bùi ngùi, và nghẹn ngào âm thầm trào nước mắt.

                    Tuy lúa tươi phơi chưa khô, nhưng vì nhiều ngày không có tí gì ở trong bụng, nên chúng tôi tốn nhiều thì giờ phải giả lúa mót được ra thành gạo. Con trai và tôi dùng cây cột bờ rào của một nhà bỏ hoang, đem về rửa sạch, dùng cây cột nhỏ nầy chế ra làm thành cái chày, mà giả bằng tay trong "chiếc nón sắt tuyệt chiêu". Nói là “gạo” cho nó sang, chứ lúa tươi sàng sảy mỏi rã cánh tay thế nào, vẫn bị trấu, cám, bám chặt vô hột tấm, vì lúa còn tươi mầm sữa, thì hạt gạo đã vỡ nát.
                    Đói quá, chúng tôi đành nấu nồi cháo tấm cám nham nhám độn củ mì rau dền, rau lang, rau đắng mọc hoang. Chúng tôi luôn luôn ăn nồi cháo độn, bữa ăn quá sức tệ; thua bầy heo mập ú của nhà “con mẹ xu thời xu thế Thân”. Mỗi khi húp chén cháo nham nhám lẫn lộn vỏ trấu và hột tấm cám nầy, ai nấy trong gia đình tôi đều nghẹn ngào cúi mặt não nùng mà không thể khóc, nước mắt lưng tròng nhưng không trào ra khoé mi, mà dội ngược vô trong lòng. Hay là giòng nước mắt trẻ già đều ráo hoảnh, khô cạn hết!

                    “Nhà tôi” là một căn gia binh của ai đó bỏ hoang, không có cửa lớn cửa sổ, trống-trơn từ trước ra sau, nhà nhỏ xiú tối om và dài như cái hộp hình chữ nhật, mặt trước và mặt sau không có cánh cửa lớn, cửa sổ bị ai đó chôm chỉa tháo gỡ hết từ bao giờ, chẳng rõ! Có thể do những ngày qua “khởi nghĩa cách mạng thành công”, thì phường trộm cắp cũng "khởi hứng" trổ nghề “chôm chỉa” lia chia tháo gỡ mọi thứ đem về làm của riêng, hoặc đem các thứ trộm cắp ra chợ bán lấy tiền mua gạo mắm. Thiệt là: "Mèo hoang lại gặp chó hoang. Anh đi ăn trộm gặp nàng bứt khoai".
                    “Nhà” hoàn toàn trống trơn từ trước ra sau, không bàn, chẳng ghế, thì làm sao có tủ giường. Tôi chỉ có: một thau giặt, một thau rửa chén, một cái rổ, hai cái nồi đem theo từ ngày ở nhà thờ Huyện Sỹ: Nồi lớn chuyên dùng để nấu cháo, họa huần lắm mới có một bữa cơm tấm pha xí cám và khoai sắn độn. Một cái nồi nhỏ dùng luộc rau, hoặc kho tí muối quẹt. Một bình nhôm to để nấu nước sôi. Đôi thùng thiếc gánh nước. Sáu tô nhựa lớn, sáu muỗng, sáu đôi đũa, vài cái dĩa sứt vành. Một bao quần áo mặc thường ngày. Một bao cói đựng đồ vặt, một bao cói đựng hai chiếc mùng đôi màu xanh, cái mền làm bằng bao cát Mỹ.

                    Tôi còn một vali Samsonite da sang trọng đem theo từ ngày ở Đà Lạt di tản về đây (vì hồi xưa gia đình tôi ngồi trên nhung lụa giàu sang, với nhà lợp ngói ba tầng lầu đúc gạch bông dài 45m x 5m rộng phủ bì, có xe hơi Peugeot 404 mới toanh. Nhưng "nhờ bác" và "đảng ưu việt giải phóng”, nên tôi đã vất bỏ lại hết, để... ra đi là chết trong lòng một ít! (Partir, c' est mourir un peu!). Bây giờ mấy túm cói đó là tất cả gia tài quý giá của gia đình tôi trong XHCN. Tôi phải giữ bo bo chằng chằng bên người những đồ vật cũ mèm ấy bất ly thân, vì hở ra một xí là bị mất trộm, nhứt là nếu mất "chiếc nón sắt tuyệt phẩm cao qúy", thì lấy chi mà giã gạo đây hở Bác Hồ ui! Bác có linh thiêng đừng “trù dập” tui, cho kẻ cắp như rươi vờn quanh xóm nghèo nè!

                    Nằm dưới manh chiếu cũ nát láng đen và thô thiển, ngửa mặt nhìn trên nóc nhà, tôi thấy ngàn ánh sao xuyên qua lỗ tôn xi măng thủng vì bom đạn. Ngày nắng chói chang thì mặt trời soi rọi xuống vạt chiếu, khiến chiếc chiếu càng dòn, đã bể nát vài chỗ, chiếu và nền xi măng hầm hập nóng muốn lột da lưng. Mùa mưa ở trong nhà nước lụt ngập lên gần bắp chân. Nước trên mái tôn lủng trút xuống ào ào như thác Preen, nước ngoài sân cao hơn nền nhà ở tứ phía tràn vô. Mẹ, con, bà, cháu lội lủm bủm, bì bõm, cùng thi nhau cúi cúi tát tát nước trong nhà ra ngoài sân, như tát ao, tát đìa.
                    Đó cũng là môn "thể… dục với dịch tân thời" trong XHCN. Chúng tôi cố gắng làm tận sức, vã mồ hôi hột trong mưa, vẫn không thể ngăn nỗi cơn lũ ào ạt tràn vô căn nhà bị thấp hơn mặt đường, đã trở thành một cái ao. Nhiều lần đành chịu thua, bà cháu mẹ con vịn nhau, đứng dựa lưng vô tường, ngâm chân trong nước bùn hôi thối, mệt lử mà ngủ gà ngủ gục. "Một mình vừa chống vừa chèo. Không ai tát nước đỡ nghèo một khi" (cd). Thế là từ đó cho tới nay cả nhà tôi bị bệnh thấp khớp "phát sinh từ khi có bác Hồ"! Sự thật quá bi đát và não nùng luôn phơi bày không thể che dấu sự nghèo nàn thảm thiết! Bác ôi là Bác!

                    Mãi về sau này biết khôn hơn, năm mẹ con tôi đi tìm các nhà gia binh bỏ hoang, con trai lớn mượn cái “búa tạ tày xồi” của ông Hùng, con dùng búa đập tường. Mẹ con khệ nệ ì ạch bưng từng viên táp lô về nhà, kê lên cao cao để làm thành “cái giường”, hầu tránh nước lụt. Khổ nỗi, khi đã có cái giường “siêu tổ chức xã hội chủ nghiã” nầy, thì rệp, rận, gián, và muỗi núp dưới các khe hở nhiều vô số kể, chúng luôn bòn rút máu con người. Thiệt là một đại cực hình mới "phát sinh" nữa. Đó là “nhà của chúng tôi” về mùa Hè luôn nóng hầm hập như lò lửa. Mùa mưa ngập thành một cái ao bùn đầy nước bẩn. Mùa Đông không có cái lạnh giá nào bằng nằm trên những cục táp lô bể. Đó là nơi nương thân của những kẻ không có tương lai, không có cuộc đời tươi sáng, không có ngày mai hứa hẹn hạnh phúc, tốt đẹp hơn trong xã hội đương thời 1975 > 1995.

                    Trở về chuyện năm 80, một hôm tửng bưng sáng mẹ chồng tần tảo (là con dâu, nhưng tôi sống với mẹ rất nhiều năm, nhiều hơn tôi sống với ba má mình. Mẹ chồng con dâu ôn hòa vui vẻ đầm ấm, không hề to tiếng chia xa ngày nào). Mẹ đi ruộng mò bắt được mấy con ốc, năm ba con cua, và một con cá lóc nhỏ bằng ngón chân cái. Về ngang bờ kinh, mẹ hái thêm chục dọc môn dại. Hôm đó, khi tôi đi làm "vá dù" về nhà, (vá dù là một "nghề mới toanh mọc lên của tôi" sau khi "đổi đời", tôi sẽ xin hầu chuyện cùng quý vị ở một chương sau). Mẹ chồng bảo tôi:
                    - Con nấu nồi cháo thật đặc nhá, chứ nhà ta luôn ăn cháo lỏng bỏng, ruột mẹ cồn cào, xót xa thế nào ấy.

                    Vâng lời mẹ, tôi cẩn thận nấu nồi cháo độn một bó rau muống, ba phần củ sắn mì, hai phần dáu môn, và một phần gạo tẻ (gạo là do đi lượm mót lúa ngoài đồng), rất chu đáo và công phu. Các con ra giếng công cộng tắm rửa xong, các con gánh về hai thùng nước. Tôi múc ra sáu tô cháo, để xuống nền xi măng loang-lỗ vết đạn cày xới. Sau khi mời bà nội, mời mẹ, anh em vui vẻ mời nhau ăn cháo, hí-hửng cười reo dưới ánh trăng tròn, (chúng tôi sống ở “trong bóng tối”, chỉ nhờ trăng soi sáng, thì dùng đèn dầu làm chi, cho hoài phí của đi! Nếu ngày nào không có trăng tỏ, thì chúng tôi lo ăn cơm sớm). Cứ thế, các con của tôi sung sướng bưng tô cháo, hân hoan đưa lên miệng, húp rột rột, (vì hôm nay đặc biệt có thêm mùi vị của con cá lóc) coi thật ngon lành.
                    Bỗng, các con đồng thanh hét to. Đứa quăng tô xuống nền nhà. Đứa nằm lăn lộn trên nền nhà lỗ chỗ. Đứa dùng hai bàn tay cào móc cổ họng. Các con vật vã rên siết, la làng, khóc lóc tru tréo inh ỏi. Mẹ già kêu rú lên quá to, bà dựa lưng vô tường, trợn trắng mắt, thở dốc và ho sặc sụa. Tôi đã húp ba bốn muỗng cháo, tự dưng cổ họng rát bỏng, ngứa cồn cào, ngứa điên cuồng, tôi cào móc khạc nhổ thế nào, cũng không bớt. Mặt, môi, lưỡi, họng, cả nhà chúng tôi đã phồng rộp, sưng vù, đỏ choét. Thì ra, chúng tôi bị dị ứng hay suýt bị ngộ độc, vì ăn phải mấy dọc môn dại hay sao!?

                    Tôi vội chạy ra thùng thiết, dật dờ múc gáo nước, khuấy muối, vắt mấy trái chanh đưa cho mẹ già. Tôi kéo các con chạy đến gần thùng nước thứ nhì, cứ như thế, tôi bắt các con móc họng ói ra, súc miệng, nhổ đi nhổ lại nhiều lần. Bà cháu, mẹ con tôi đều bị đau nhức cổ họng, ngứa rần rần cuống cổ, môi miệng sưng vù, đỏ hoét kinh khủng ghê lắm. Thân thể chúng tôi đều bần thần, bụng cồn cào vì ói ra mật xanh mật vàng, và nhịn đói nên càng mệt rã rời, hầu như nghẹt thở, bại xuội, rị mọ vất vưỡng lọt tọt dìu nhau đi ra giếng tắm giặt. Lòng buồn xo như xé tâm tư.

                    Ôi! khổ nỗi một miếng ăn độn tồi tàn hơn nồi cám cho heo ăn, (của con mẹ Thân) thế mà cả nhà tôi không thể nuốt trôi vô khỏi cuống họng! Ngày Tết Nguyên Đán, cũng như ngày thường suốt mười năm dài đằng đẵng, gia đình tôi nằm co ro trên cái giường táp lô, chúng tôi bị đau đớn quá độ, không tiền thuốc thang, đành vật vã ôm bụng nhịn đói. Chúng tôi không thể ăn nồi cháo đặc mà rị mọ làm thân trâu ngựa. Ôi! Bài học ăn cháo đặc ở tận đáy xã hội, khiến tôi ghi nhớ suốt đời. Ấy là lúc xuân xanh của tôi vừa tròn:
                    “Trai ba mươi tuổi còn xoan.
                    Gái ba mươi tuổi đã toan về già”
                    Bác Hồ chết phải giờ trùng
                    Mẹ con chúng tớ nay khùng mai điên... (1)
                    ***

                    Tôi xin "thật thà khai báo" và bảo đảm rằng: ở trong "xã hội chủ nghĩa đổi mới tư duy" nầy, thì hầu như "đốt đuốc đi khắp miền Nam Việt Nam, sẽ không có "người vợ tù cải tạo" nào quá sức khổ cực đi mót bịch ny lông hôi thối, cam chịu sống cuộc đời đắng cay nghiệt ngã nghèo khổ, hèn mọn, cùng mẹ chồng, cùng con ngược xuôi cực nhọc trăm bề suốt bao nhiêu năm qua, như tôi. Chúng tôi vẫn "thuỷ chung" cùng nhau vượt qua trở ngại căm go để vươn lên.
                    Vậy thì... kính gởi quý anh chị... & xin thông cảm về nỗi đau đớn của người vợ tù “cải tạo” ngày ấy. Anh thương ơi! Bây giờ (1985) anh ở tù “cải tạo” nơi nao!? Hẳn là anh thấu hiểu cho hoàn cảnh đau thương, bi đát, khốn cùng của bà cháu mẹ con em bây giờ rồi, anh sẽ thông cảm tại sao mẹ con bà cháu ít đi thăm nuôi anh rồi nhỉ!? Ôi! Mùa Xuân qua ngày Hạ lết tới tàn Thu qua cuối Đông gió táp mưa gào suốt từ năm 75 đến 85!!! thật ngàn nỗi âu lo gian nan điêu đứng chua xót khổ cực biết ngần nào. Hoặc là anh cũng đang giống:
                    Như một người già ngồi nuối tiếc dĩ vãng xa xưa...
                    Như một danh tướng ôn lại những chiến tích oai hùng!
                    Như chim trong lồng ai oán nhìn bầu trời bao la.
                    Tôi mất Sài Gòn, nhưng thành phố vẫn sống mãi trong tim tôi.
                    Nhưng tôi không là người già, thì vẫn còn tương lai.
                    Tôi không là danh tướng, nên chẳng chiến công nhiều.
                    Tôi không là chim trời mãi mãi mất tự do.
                    Tôi chỉ là con bệnh trong cơn đau chung nầy.
                    Rồi sẽ hết, rồi sẽ hết những tháng năm đau thương trong cuộc đời!
                    Rồi sẽ khỏi, rồi sẽ khỏi. Hãy uống chén thuốc đắng nầy.
                    Rồi sẽ thấy, rồi sẽ thấy những tháng năm đau thương trong cuộc đời.
                    Rồi sẽ khỏi, rồi sẽ khỏi. Hãy uống chén thuốc đắng nầy. (2)
                    ***
                    Tình Hoài Hương


                    (1) Lượm lặt sưu tầm
                    (2) “Uống chén đắng” Lời và nhạc: Cung Mi (TLV)
                    *
                    Last edited by Tinh Hoai Huong; 06-17-2020, 08:23 AM.
                    Bút trần nào tả được lưu luyến!
                    Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                    Tình Hoài Hương

                    Comment


                    • Cục Đất Quê Hương


                      Bên Bờ Đại Dương
                      Nhạc: Hoàng Trọng
                      Lời: Hồ Đình Phương
                      Giọng hát: anh Trần Đình Phước
                      Cục Đất Quê Hương
                      Tình Hoài Hương
                      *

                      Dù không muốn cào bới dĩ vãng vùi trong đất, trong bùn, trong tro… mà mỗi lần chỉ cần khơi lại lò bếp tàn, lòng tôi cảm thấy quằn quại, đau đớn, xót xa hơn bị dao mài liếc, bào mòn, ghim siết, chọt thủng từng mọi chỗ trên da thịt. Tóc tôi sớm bạc trước thời gian theo luống tháng năm chất chồng. Tôi không biết mình đã trải qua bao đau thương thảm khốc, lòng dẫy đầy nỗi ưu phiền sầu đắng nặng trĩu! Kể từ ngày gia đình tôi bỏ tất cả mọi vinh sang sung túc phù dung ở Đà Lạt, để di tản lưu lạc chạy có cờ xuống Nha Trang, rồi mới bước chân tới Sài Gòn chẳng được bao ngày, lại tất tả lủi về miền Tây, đến ngày mất hẳn “Nước”, bây giờ tôi lủi thủi xuống phía Thành Ông Năm, thì gia đình tôi chẳng có ít ngày được an thân, mà hầu như luôn khổ sở, điêu linh, chết đứng như bị trái bom Napalm dội vô cuộc đời điêu linh khốn đốn, đầy gian truân, ngậm ngùi khổ đau cho một kiếp làm người!

                      Từ đời tam cố đại xa xưa, dòng họ tôi giàu sang danh giá ra phết! và “nhân chi sơ tính bổn thiện” thiệt là hiền lành. Nhưng sau 1975, thì tôi “mất giá, mất dạy và mất danh”, cũng ra phết nốt. Tôi là nữ nhi hèn mọn, mà thuộc loại lì lợm, chân thật và bướng ngầm. Chuyện gì nghe trái tai gai mắt, trái với sự công bằng và lẽ đoan chính, là tôi cố gân cổ trợn mắt lên cãi lại. Tôi cũng như đa số người khác: trong lòng ôm ấp bao lý tưởng hoài mong, kỳ vọng muốn những người đã may mắn ra đi, xin hãy quay về cứu mọi người ở lại. Nhưng trong cái phẳng lặng nội tâm... nào hay tôi đã âm ỉ ẩn chứa nhiều đợt sóng ngầm.
                      Có những sự kiện mình không thể khắng định là “trắng” hoặc “đen”, đúng hay sai. Nếu trắng ở ngoài sáng thì tất nhiên thấy là trắng, trắng ở trong bóng đêm có thể trông thấy trắng dù không rõ ràng mấy. Nhưng nếu “đen” mà ở trong bóng tối thì... vẫn hoàn đen thùi lùi! Thì hà tất điều gì cũng đạt đến thành công mỹ mãn! Trên đầu tôi và mỗi người đều có một khoảng trời riêng biệt, trời rộng trời hẹp đều do suy tưởng, do từng hoàn cảnh và ở trong lòng mỗi nhân sinh quan. Cho dù:
                      Con nhà tông không giống lông, đỡ giống khỉ.
                      Mình vì mọi người, mọi người coi mình như "mọi". (1)

                      Tôi, bẩm sinh là tuổi “cọp cái sư tử Hà Đông” mà! Như thầy bói đã vui vẻ chúc Tết:
                      Chúc cho tuổi Cọp... các bà.
                      Đừng quá lớn tiếng cửa nhà nổ tung.
                      Nhẹ nhàng một chút mới khôn.
                      Chắc chắn sẽ thấy tâm-hồn thảnh-thơi. (1)

                      Nói đùa cho vui tí vậy, chứ chả phải tôi tuổi Dần cao số đâu nà! Hổng dám đâu. Tuy thế, sau bao năm đói khát cơ cùng gậm nhấm bào mòn cơ thể, nay tôi nghiệm ra một điều: tập kiên nhẫn, chịu đựng, cúi đầu, cố gắng nhịn nhục, nhoẽn cười duyên ti tí với thế nhân. Vì, nếu ông Trời có cho tôi mọc thêm ba đầu sáu tay trên sợi gân cổ, thì “cái thế xã hội chủ nghĩa” tạp nham nầy, vẫn không chịu mở mắt khai hoa chia sẻ tình thương cho con người cùng khổ như tôi, (bớt phần nào cơ cực đắng cay rất chi là đau khổ tột cùng)! Và, vì tôi bắt buộc phải ngửa mặt lên nhìn Trời cao lồng lộng, cúi xuống đất dày cui khô cằn, nhìn hai bên giá vai tả hữu có hai thánh & thần linh soi xét, ghi chép: "chứ tôi nào có tội tình chi, mà mười ngón tay già run run, tôi luôn cúi xuống đất túm chặt bụi bờ để nhổ cỏ cú, vọc đất, vọc bùn, đã đời như ri rứa, hả"?

                      Thoạt nhìn phớt qua, tôi cũng như ai ai, thấy mình đang nâng niu trên tay cục đất quê hương thơm lừng mùi đất bùn: mặn nồng xương thịt tổ tiên ông bà thân nhân quá cố, ai nấy đã có từng dòng mồ hôi muối cuả người đang sống nhỏ tong tong xuống đất, hoà trộn chung với giọt mồ hôi bao người chết, xương cốt ấy trở về tro bụi... đã tạo thành đất trên những luống cày tại các nông trường, trên những công trình xây dựng kinh rạch, thủy lợi dẫn thủy nhập điền.

                      Cái ngữ thân thiện “ngây thơ cụ” nơi đất cát, gò mối ao bùn, kinh rạch kia… ai nấy đều có tí hy vọng là người với người cùng chung ý niệm lý tưởng tin yêu, luyến mến thân tình, lãng mạn và đoàn kết nông dân sao đâu! Thế nên, bây chừ chẳng còn ông bà cha mẹ cuả bạn (hoặc của tôi) đứng dậy bước ra khỏi mồ, đội đất chun lên, để họ rầy la quở trách “con gái già” ưa dùng tay chân và gò lưng "chơi đất", vọc bùn bê bết dơ bẩn! Biết bao người có bàn tay sần sùi, gót chân nức nẻ, bờ ngực khô héo, cuộc sống gian khổ đắng cay đầy tái tê? Chúng tôi cứ bắt chước Adam và Eva, hoặc ông bà thủy tổ loài người cổ đại tiền sử, ví von mình “giống loại” khỉ đột hoang sơ, là xong ngay một đời xã hội chủ nghĩa. Chúng tôi ở trong nhà hoang phế dưới tận đáy xã hội rồi, không thèm mặc gì hết. Thôi cũng đành! Vã lại… cơ khổ thân tôi:
                      Ngày xưa yểu điệu như tiên
                      Bây giờ lẹt đẹt như con vịt bầu.
                      Ngày xưa chum chúm núm cau,
                      Bây giờ lỏng thỏng như bầu trên cây.
                      Ngày xưa nhựa sống căng đầy,
                      Bây giờ vắt mãi bảy ngày cũng không.
                      Ngày xưa thắt đáy lưng ong,
                      Bây giờ to bụng còn mông phẳng lờ. (1)

                      Vấn đề tự-trọng. Danh dự. Sự hổ thẹn hay liêm-sỉ –ở thời buổi 1975 * 1995 nầy– là cái quái gì! Âu chỉ là lớp sơn đỏ phù dung mỏng dính, được bọc hào nhoáng phết phủ bên ngoài, để che đậy lớp rỉ sét, khô mục thối um ở bên trong. Lòng tôi chùng xuống, hội nhập với bao phiền não chua xót đắng cay. Lo âu. Khắc-khoải. Hãi hùng về vấn đề gạo cơm, tạm trú tạm vắng, ăn đói ở lỗ; hơn là chuyện "danh với dự". Hơi sức đâu mà còn nhớ đến sĩ diện nữa không biết! “Thấp thỏm nhúc nhích” chi mà nhớ chuyện “ruồi rượn bu bên đít” í hỉ!

                      Tuy nhiên, cái bực tức nhứt của tôi bây giờ là: suốt ngày chúng tôi rất vất vả nhọc nhằn vô cùng, vẫn bị những cơn đói và khát hành hạ; tối về lo cơm canh cho gia đình con cái chưa xong, lúc nào được nghỉ cũng tới nửa đêm, có khi "đi họp đi hành" thì ôi thôi kể như tôi thức trắng. Nằm đặt lưng trên “giường đá” trằn trọc lo âu tìm kế sinh nhai hoài, không sao chợp mắt. Mãi đến canh ba, canh tư đang thiu thiu; bỗng làng xóm ai nấy đều giật mình bật người dựng đứng dậy, nghe loa phóng thanh ra rã rống to, bắt mọi người dậy... lảy đảy đi tập thể dục. Hứ, tập tành cho ai ”nghể” đây!?:
                      Phong trào thể dục phường ta
                      Có ông bà lão thở ra hít vào
                      Dù cho mệt nhọc thế nào
                      Ông bà cũng cố hít vào thở ra . . .
                      . . . Khi nào vĩnh biệt đi xa
                      Người ta mới hết thở ra hít vào
                      Bây giờ tôi cũng xin chào
                      Để tôi còn phải hít vào thở ra. (Bút Tre)

                      Hồi xưa còn trẻ trung, cái thời huy hoàng sung túc đầy đủ, họa may tôi còn có thì giờ thanh nhàn tập thể dục thể thao, tự do thoải mái hít thở không khí trong lành cho buồng ngực thêm no tròn. Nay tay cầm cuốc vai vác bừa, chân trần lết đi rã gối, phờ người để chạy ăn từng bữa một… Chưa đủ mỏi mệt rã rời xương cốt tiêu hao sức lực sao, mà phè phỡn “dửng mỡ thèm khát dục với dịch!”:
                      Trước đây con tưởng gặp thời
                      Chúa ban con được tìm người con yêu
                      Giờ đây thân xác tiêu điều
                      Đời con phải chịu rất nhiều đắng cay
                      Thân con chẳng khác trâu cày
                      Nợ nần con trả đời đời chưa xong
                      Con giờ như cá lòng tong
                      Sụt ba chục ký ốm nhom rã rời (1)

                      Điều duy nhứt tôi phải ghi nhớ trong đầu mỗi đêm chắp tay cầu xin:
                      Người đâu gặp gỡ làm chi
                      Để cho khổ thế còn gì tuổi Xuân?
                      Chúa ơi! Con khổ vô ngần
                      Chúa mà không giúp, là thân con tàn (1)
                      Tôi chả dám khùng điên như ai kia, (vì tôi phải lo nhín nhút chút mắm muối cho chồng tù tội “cải tạo”, lo cho mẹ già, con dại bơ vơ cùng khổ). Ngày hôm qua tôi đi làm nông trường, nghe đồng bào rỉ tai nhau: đã có một thanh niên "Ngụy" đứng trước cửa chợ Bến Thành chưởi đổng:
                      - Tiên sư cha nó! Chỉ vì một thằng già khốn nạn, mà cả nước khổ sở, lầm than.
                      Anh ta bị công an điệu ngay về đồn. Cán bộ chấp pháp thẩm vấn:
                      - Anh chưởi ai là thằng già khốn nạn?
                      - Thưa cán bộ, tôi chưởi... Dương văn Minh!
                      - Ý anh bảo vì Dương văn Minh đầu hàng, nên cả nước mới khổ, phải không?
                      Anh chàng thanh niên "Ngụy" thuộc loại lỳ đòn, nên bai bãi:
                      - Không phải. Tôi chưởi vì thằng chả giết Ngô Đình Diệm, nên cả nước khổ.
                      - Anh cho rằng Ngô Đình Diệm với giải pháp Ấp Chiến Lược đủ sức trấn áp lực lượng giải phóng chứ gì? Hay anh cho rằng Ngô Đình Nhu với chính sách Bắc tiến, có thể đánh thắng miền Bắc?
                      - Không phải vậy. Vì Dương văn Minh giết Ngô Đình Diệm, khiến Mỹ đổ quân vào, làm cả nước khổ sở.
                      - Nghe tạm được! Cả nước tuy gian khổ, nhưng rồi cũng chiến thắng vinh quang. Thôi tha cho anh về. Đừng làm ồn chỗ công cộng nữa. Tôi biết nhiều người cũng ghét Dương văn Minh, nhưng chả cần phải làm náo loạn như thế. Vả lại muốn chưởi ai, phải nêu rõ tên người ấy ra mà chưởi, kẽo lại có chuyện hiểu lầm lôi thôi. Anh nghe rõ chưa?
                      Anh thanh niên lễ phép đứng lên:
                      - Dạ tôi xin nghe lời cán bộ từ nay tôi sẽ chưởi rõ tên "thằng già Minh khốn nạn làm cho dân khổ"
                      Cán bộ chấp pháp vỗ bàn:
                      - Anh kia anh chưởi ai thế?
                      - Thằng già Minh. Dương văn Minh!
                      Cán bộ bực quá, gầm lên:
                      - Anh mang cái thằng già Minh khốn nạn xéo ngay! Xéo mau! (st = Cadman)
                      *
                      Ngày kia bà cháu mẹ con tôi lặn lội từ Hốc Môn ngồi xe chuyền từng đoạn suốt ba ngày mới có thể đi thăm nuôi cha, chồng. Con: ở trong tù “cải tạo” Z 30B Gia Rai, Xuân Lộc. Gặp nhau mừng mừng tủi tủi, chúng tôi hàn huyên tâm sự bao nỗi đắng cay nghẹn ngào tức tưởi. Luật đã hai phổ bản nhạc: “Bài Hát Chiều Thứ Bảy” :
                      Ta viết bài ca chiều Thứ Bảy
                      Trong ngục tù buồn chán chất ngất
                      Bao gian khó khổ đau ta đối mặt
                      Mắt nhạt nhoà dòng mực chua cay.
                      Ta mất đời ta chiều Thứ Bảy
                      Khi cuộc đời đầy dẫy mất mát
                      Nhưng ta biết ngày mai ngày Chủ Nhật
                      Cánh chim bằng soãi gió tung bay…
                      Người ơi lắng nghe chiều nay
                      Quả tim bốc cháy đốt cơn mê nầy
                      Trái tim hồng người ơi giữ lấy
                      Cho quê hương rồi sẽ đổi thay! –[*nhạc & lời… còn dài, (2)]

                      Và “Bông Hoa Tím”. Tôi trang trọng mang hai bản nhạc về nhà, con trai đánh đàn, chúng tôi chụm đầu vô líu lo ca hát, để quên đói khát:
                      Thấy bông hoa màu tím.
                      Nhớ em đang buồn phiền.
                      Nghe tin đời khốn khó.
                      Thấy lòng mình không yên.
                      Đứng bên trong rào kín.
                      Nhớ quê hương từng miền.
                      Quê hương còn khốn khó.
                      Giấc ngủ nào cho yên!
                      Chút gió cho cỏ mềm.
                      Chút nắng cho chiều êm.
                      Đốm sáng nầy cho đêm.
                      Tiếng hát nầy ru êm.
                      Thấy bông hoa còn thắm.
                      Khắc ghi sâu lời nguyền.
                      Ngay trong tù khốn khó.
                      Giữ một lòng trung kiên... (2)

                      Mẹ con tôi đang vui vẻ véo von ca hát, bỗng thấy tên "tay tổ" trông coi khu vực ấp láo liên dòm vô nhà, ông ta đi lung tung quanh xóm, để lom lom dòm ngó, ngầm ngầm điều tra gia cảnh dân tình làm ăn sinh sống, rồi về làm "bá cáo" lập công. Cuối cùng ổng đến trước sân nhà tôi, sớn sác dáo dác nhìn lung tung, rồi lân la ghé hỏi:
                      - Tui tưởng hôm ni lờ ngày Thứ Bưa, thì chị đi Đè Nẽng, Quảng Nôm, hay Quảng Ngỡi, hay Phủ Côm (Phủ Cam), Huế chi rùi?
                      - Tôi xin giấy phép rồi, nhưng chưa có tiền mua vé xe.
                      - Chị cồm rồm (càm ràm) chi cho mệt. Không có tiền đi xe hơi, thì đi xe lôm (lam), xe độp (đạp)... rồi cũng tới nơi.
                      - Phải.
                      - Chị đeng (đang) lồm cới (cái) chi rứa!?
                      - Ông khôn chộ (không thấy) răn? Tôi ngồi coi chừng ló (lúa) ngoài cươi (sân).
                      - Chẻng (chẳng) có ai thôm lôm (tham lam) mô. Méc (mắc) chi mờ phải coi hì!?
                      - Ông không biết, chớ hở ra một xí, là kẻ cắp như rươi. Có ai dám duã, dám đục, dám dần bọn hắn mô! Ông nghe hỉ:
                      Cái xứ gì đâu lạ lắm đây
                      Sát nhân, trộm cướp cả một bầy
                      Thế mà lại gọi là lãnh đạo
                      Ăn trên, ngồi trước khoẻ phây phây (3)

                      - Úi xà... tui tưởng mình để cả cái bâu (bao) lúa, thì hén (hắn) mới dớt (vác) đi chớ. Chị noái rứa, tui mứi hỉu (mới hiểu)! Thì ra lờ dư rứa hì.
                      - ...
                      - Bữa trước tui toạ đồm (đàm) ở trên thènh (thành) phố, mới biết... chị tên thặc (thật) là chi?
                      - Tên trên giấy tờ thì ông biết rồi, còn gì mà thật với giả.
                      - Tôi đìu (điều) tra ra, chị còn một tên khớc (khác) nữa.
                      - Sao, thưa ông?

                      Mỗi lần nói chuyện với ông an ninh nầy, tôi phải nhìn vào một đường rãnh sâu hoắm từ cửa môi trên, ăn thông xéo lên tới lỗ mũi. Nhứt là khi ông ta ho, hoặc hách xì, thì nước dãi nhớt chảy ra từ hốc mũi, trào xuống miệng, giọng nói ông ta càng ngọng nhịu, khó nghe. Tôi có cảm tưởng ông ta nói với tôi, mà cố dùng mồi giả, để nhữ cá cắn câu, cá cắn vô sâu biết đâu mà gỡ, chỉ có nước cá nằm trên thớt dãy đành đạch, ngáp ngáp chờ chết thôi. Tôi thấy ớn ông, hơn là sợ “danh phận cao qúy” của ông:
                      - Noái thặc đi.
                      - . . .
                      - Cả tên thèng dôn (thằng chồng) của chị nữa?
                      - Tên ta hay tên tân thời!?
                      - Lợi có cới chiện nớ hử? Tui phải noái reng (nói răng) thì chị mứi hỉu (hiểu) ý tui nà!?
                      - Tại tôi ngu dốt quá.
                      - Nếu chị và thèng dôn của chị có hơi ba cới (hai ba cái) tên chi đó, thì chính xéc (xác) nghĩa lờ (là) vợ chồng chị đã lồm en phi phốp, (làm ăn phi pháp) có âm mu (mưu) dấu đút cới chiện (cái chuyện) chi rùi hì!
                      - Ông nói lạ! Tôi không hiểu.
                      - Khôn phải reng? bòa con lối xóm đã ngầm bấu cấu (báo cáo) với tui rùi: vì khi say rựu (rượu), thì họ luôn luôn noái thặc.
                      - Họ nói thật với ông về chuyện gì?
                      - Thì... thèng dôn của chị ít khi en cum, (cơm) mờ hén (hắn)... hén ưa kiu bợn (bạn) bè tới dà dậu dẹt, nấu thịt rén en, lồm thịt chó en, en tơm cá tưng bừng. Rùi khi bợn nớ say rựu, lờ cả bợn nớ tụ tập, dém (dám) tính tới cới chiện đi lồm phẻn động (làm phản động).
                      - Chồng tôi nhóc tì bằng trái ớt hỉm, ảnh mới về vùng nầy chưa quen biết ai, thì bị đi học tập “cải tạo”, ảnh có biết ất giáp chi, mờ dám uống rượu, làm thịt rắn, rồi bày đặt toan tính làm phản động, thưa ông, đừng chụp mũ, tội lắm.
                      - Không có tịt thì thôi, chớ seo chị lợi théc méc, mờ rục rịch dúc dích. Bi chừ tui hỏi lợi nà: tên thặc của chị lờ chi. Hử?
                      - Tên cúng cơm hồi tôi chưa có chồng là: “Ệp”. Còn tên tân thời bi chừ của tôi là: “Mít Đót”, tức là đi... "mót đít" người ta.
                      - Còn thèng dôn chị?
                      - Phần chồng tôi thì… ngày xưa ảnh có song tịch, nghĩa là ảnh có “quốc tịt” Pháp, thì ảnh phát sinh ra thêm một tên tân thời.
                      - Tên chi? Tôi hỏi cả hơi thứ.
                      - Tên cúng cơm ảnh là: Phạm Trọng Luật. Tên tân thời là: Phăng Xoa Bẹt Xon. Tiếng Tây gọi ảnh là: Francois Bergson đấy. Nick name Tây cuả ảnh là: “Ca Ca Cun”, tiếng Việt có nghĩa là: “cứt cún” đó, ông à.
                      - Phẹm Trọng Lựt!?
                      - Vâng! Bố mẹ anh ấy đặt cho anh Luật cái tên chết tiệt! Thảo nào ảnh bị đi tù “cải tạo” mút chỉ cà tha.
                      - Chị đừng ngoan cố như rứa. Chị phải hỉu (hiểu), lồm seo mờ thèng dôn chị bị đi hặc (học) tập cởi tậu (cải tạo) chớ.
                      - ?!
                      - Hừ! Đểu thặc. Lồm en cới chi (làm ăn cái chi), mờ đi cởi tậu lâu dư rứa hỉ!?
                      - Vâng! Xin lỗi ông, người miền Bắc thì nói “đểu thật”. Còn người miền Nam tui thì nói “đểu giả” nà.
                      - Chị lụm mót ở mô ra... mờ dém (dám) chơi chữ với tui, hứ?
                      Tôi tủm tỉm cười:
                      - Xời! Tôi là bần nông, có ra môn ra khoai gì mà dám chơi chữ, mí chơi hành tỏi. Ông nói y như thần y phong thấp! Tôi phục. Còn việc chồng con thì tôi nói thật, chúng tôi ví như đôi chân, nếu không tin yêu nhau, thì một trong hai bàn chân giận dữ tự nhô lên hụp xuống. Chân nầy chấm, thì chân kia phết, đi đứng lộn xộn, cứ như thế mà bò lết trong cõi đời ô trọc như bi giờ mỗi người một nẽo.
                      - Ừ, “chính xéc” là hai thèng chưn đã “phẻn đối” trái ớt hỉm rùi!
                      Tôi ngẫm nghĩ lời ông ta nói, mà cười thầm. Ổng ta "ỏn ẻn" thay đổi chiến lược:
                      - … Chị có ngừi thân ở Mỹ, chị có thuốc đau gơn không? Cho tôi mươi viên, hì.
                      - Cậu tôi ở Mỹ gởi về mấy hộp thuốc. Vị thuốc nầy rất đắng, đắng bao nhiêu ở xã hội nầy cũng phải uống, nếu uống vô thì trong lòng càng đắng hơn.
                      - Đéng bâu nhiêu mà hết bệnh, cũng phải uống chớ seo.
                      - Vậy ông chờ, tôi soạn thuốc đau gan ra cho.
                      Ông ấy chẳng hiểu ý ngầm của tôi, nên tươi rói nét mặt, xoa hai bàn tay vui vẻ giả lả:
                      - Thuốc Mỹ không tốt.
                      - Sao lạ vậy!?
                      - Chị théc méc lồm chi, chớ không nghe ngừi ta noái: mua thuốc ngoại là “thuốc Tây” tốt. Chớ chẻng có ai nóai mình mua thuốc ngoại, lờ thuốc Phốp, thuốc Mỹ, hay lờ thuốc Ngơ tốt cả, hè!?
                      - Chính ra thuốc men bên Mỹ là tốt nhứt, vì họ sàng lọc tinh hoa ở nước ngoài, tỷ mỹ nghiên cứu, rồi họ mới điều chế ra sau rốt, ông à.
                      - Tôi cần thuốc Tây.
                      - Vậy thì tôi không có thứ thuốc ông cần.
                      - ... Điêu hì! Ôi xà! Mỹ, Ngơ, với Phốp hay Tây… lờ mấy thứ. Uống tờm tợm cũng tốt.
                      - Ông đến đây xin thuốc, thì tôi cho. Nhưng lỡ ông có bề gì, tôi không chịu trách nhiệm à nghen. Bà con ba bên bốn bề làm chứng cho tôi. Vì ông biết đó: hàng hoá thuốc men chưng bày lơ thơ trong quầy, khi dân hỏi tới, cô bán hàng bảo: “Hàng mẫu, không bán".
                      - Chị nỏ khun (khôn) hơn tui mô nờ! Tui cho chị mắc lửa nà. Vì reng! Vì… chị cho tui thuốc, coi như lần ni huề. Hí!
                      - Dạ… dạ không dám mô! Khi họ đến hỏi tôi:
                      - Chồng chị đâu? Đi hoạt động hả?” Thì chỉ có nước tôi chết treo ở cửa Bắc. Hay gia đình tôi bị tập trung đi kinh tế mới mất thôi. Xin kiếu từ ông.
                      ***
                      “Kinh tế mới”, thoạt nghe qua thì đầy ắp ân tình, hứa hẹn no đầy "hứng khởi" nơi vùng đất mới. Rồi thì “già sinh tật, đất sinh cỏ”... e tôi sẽ điên mà sinh ra chứng:
                      Quanh năm hút chích ở mom sông,
                      Hít đủ năm phân chích một liều
                      Lặn lội thân cò khi quãng vắng
                      Ỉu xìu bủng bẻo buổi tuần tra,
                      Một duyên hai nợ âu đành phận.
                      Năm nắng mười mưa chẳng bỏ chơi,
                      Cha mẹ thói đời ăn ở bạc
                      Có tiền hổng chích cũng như không... (1)
                      *
                      Tình Hoài Hương


                      1- st = sưu tầm, lượm lặt.
                      2- Bài Ca Chiều Thứ Bảy & “Bông Hoa Tím”:
                      Nhạc & Lời: Phạm Thiên Tứ.
                      3. Thơ Bùi Phạm Thành
                      ***
                      Last edited by Tinh Hoai Huong; 06-24-2020, 11:12 PM.
                      Bút trần nào tả được lưu luyến!
                      Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                      Tình Hoài Hương

                      Comment


                      • Mẹ Đi Thăm Con Ở Chốn Lưu Đày.


                        Chiều Hoàng Liên Sơn
                        Nhạc & Lời: Phạm Thiên Tứ
                        Tiếng hát: Việt Long
                        Mẹ Đi Thăm Con Ở Chốn Lưu Đày


                        Từng giòng lịch sử và giòng thời gian dài lê thê vùn vụt trôi qua, theo tiếng còi tàu tốc hành hú từng hồi lát gừng giống như tiếng nấc cụt, con tàu lửa từ từ xục xịch ục ịch rên siết, hì hục, lết lết, rọt rẹt chuyển bánh. Con tàu dường như nhão mục, rền rĩ rung chuyển, rung rinh, lắc lư thụt lui thụt tới, cạ quẹt, nghiến trên hai thanh tà vẹt hoen màu rỉ sét. Tôi nghe thật nhức óc và điếc con ráy quá chừng! Than khói đen đen xám xám kéo theo đoàn va-gông cũ kỹ, xập xệ lắc lư, khói toả thành một lằn dài ngoẵng bay mù mịt cả một góc trời.

                        Vẫn những toa tàu chật như nêm chở đầy nhóc hàng hoá cồng kềnh ngổn ngang. Hành khách hỗn độn từ ga Sài Gòn đi về miền Nha Trang, họ lố nhố bu đầy trên bậc cấp, trên mui trần, bên những ô cửa. Họ la hét, xô đẩy, giành giựt chỗ ngồi náo loạn. Tất cả những toa xe đều huyên náo, ồn ào kinh khủng. Nhân đó nạn sờ mó, móc túi, cướp bóc tràn lan trong toa tàu. Dù có tên công an Tiểu-đoàn đường sắt chống trộm cướp thủ củ súng và cây dùi cui lăm le trong tay, ông ta đập cây dùi cui chan chát trên ô cửa, ổng lớn tiếng oang oang la hét không ngớt, tay chỉ chỏ ra lệnh đóng hết cửa tàu. Cuối cùng ổng đứng áng ngữ ở bậc thang cửa lên xuống tàu, ổng cũng không thể ra oai; mà đành lắc đầu ngao ngán giương mắt trơ ra nhìn.

                        Bà mẹ chồng, các con trai, & tôi ngồi trên tàu lửa chật như nêm, họ nhét chúng tôi ngồi chung với bầy súc vật ngổn ngang: gà, vịt, ngỗng, ngan, nhảy lên đầu lên cổ chúng tôi kêu quang quác, heo trợn mắt đỏ, mõ kêu eng éc, chó tru từng hồi; chúng đồng loạt kêu la rần trời, nghe quá đinh tai nhức óc. Không những thế, mà áo quần chúng tôi bị trét đầy phân heo, phân chó hôi thối khủng khiếp. Khổ nhứt là khi chúng tôi đáp tàu chuyến, tàu chợ, xuống tàu để lên xe vô Xà Bang cách Bà Rịa 28Km về hướng Bắc Đông Bắc, xa Xã Cẩm Mỹ 6Km về hướng Nam. Xà Bang nằm cạnh Liên Tỉnh Lộ số 2, (từ ngã ba Tân Phong, Quận Xuân Lộc, thuộc Tỉnh Long Khánh) thăm Luật, nơi mà:
                        Ngọn gió chướng, hồn tôi nghe buốt lạnh.
                        Cơn mưa chiều tí tách chạnh lòng thêm.
                        Chuỗi ngày xưa trong cuộc sống êm đềm.
                        Còn đâu nữa nghĩ càng thêm đau xót.
                        Dòng thời gian đã trôi đi mai một.
                        Hơn nữa đời người đã trót đeo mang.
                        Đã ngắt đi tiếng dạo của cung đàn.
                        Cung lỡ nhịp với muôn vàn cay đắng.
                        Tâm hồn tôi đã chìm vào sâu lắng.
                        Đôi vai này gánh nặng nỗi niềm đau.
                        Rồi dòng đời cứ trôi chảy qua mau.
                        Tôi lần bước bao niềm đau uẩn khúc (1)

                        Về sau nầy Luật bị chuyển trại ở Long Giao, vô Z 30, không có tiền, nên nhiều lần mẹ con bà cháu trụt xuống tàu lửa, hay xuống xe đò tại ngả ba Ông Đồn, Xuân Lộc, rồi đi bộ ngang qua trại “tù cải tạo” Z 30 C, Gia Rai ở đồi Phượng Vỹ. Hồi xưa nơi ngọn đồi nầy là Trung-đoàn 48, thuộc Sư-đoàn 18 Việt Nam Cộng Hoà trấn giữ. Muốn đi vô trại tù Z 30 A – hay Z 30 B - xa rất xa đường đi khó khăn và nguy hiểm, nhứt là lúc mưa ào ạt đổ xuống khu rừng rậm, thế nhưng ai nấy cũng mừng vì thiên nhiên được kỳ cọ rửa sạch cây cối, và những lán trại tù, nóc nhà tôn, nhà lá... có những anh tù “cải tạo” ở đó cũng bớt khổ, vì họ không bị những cơn nóng nung muốn lột da, lúc rừng cây trở nên dịu dàng vừa qua trận mưa to, đã tắm mát núi rừng thì chớ, lại nữa những anh tù ở ngoài rừng được “tắm” thoải mái trong nước mưa, họ không bị khan hiếm nước khi “cải tạo” phải lau mình chỉ ở một ly nước nhỏ.

                        Mẹ con tôi vội vàng lẽo đẽo theo sau những chị vợ tù, họ từng đi thăm nuôi chồng, cha, con... nên biết rõ có một con đường đi tắt xuyên qua những đồi nương, sẽ mau đốt giai đoạn sớm vô lán trại tù mau hơn trước khi trời sập tối. Mẹ con bà cháu tôi cố rảo bước, chỉ sợ chậm lại, bị lạc mất những người ấy, thì không thể tìm thấy họ, vì rừng núi rậm rịt, con đường đất lại ngoằn ngoèo khuất lấp bở những lùm cỏ mọc cao tới ngực, thiệt khó vạch lối đi, cỏ tranh cao lút đầu bọn trẻ đã cào xướt vô da con những lằn dài đỏ tươm máu rát bỏng, hoa mắc cỡ, cỏ may rậm cao gần đến bụng con, bông cỏ xâu vô hai ống quần, chích vào chân chúng tôi ngứa ngáy, khó chịu dường bao. Ve chó, ve đất, châu chấu, cào cào, ruồi trâu, muỗi cứ bay ào ào lên từng đoạn, mỗi khi chúng tôi bước qua khu đường tắt.

                        Trại tù Z 30 là một trong muôn vàn trại tù mọc lên đông đen nhiều vô số trên toàn cõi Việt Nam, đấy là những thành trì cốt cán, chặt chẽ, nơi độc ác, tróc khảo, lột da con người đau đớn kinh khủng, do đảng và nhà nước dựng lên, để cai trị tù “cải tạo”. Tù nhân "chính kiến" bị dời đổi đi luôn luôn, xáo trộn lung tung tùng phèo lên như thế, vì đảng, nhà nước, cán bộ rất sợ! họ không muốn người tù ở lâu một nơi, cùng ở chung một chỗ, thì tù nhân dễ dàng kết thân với nhau, sẽ bí mật “tạo phản, phục hồi danh dự, mà phục quốc, phục quê”. Chả phải trai tráng đi “học tập cải tạo” (Reeducation Camp) nghe "rất kêu" như voi rống hổ gầm trong rừng sâu nước độc là gì! trăm ngàn tốp tù chuyên môn đi khổ sai “lao động là vinh quang”. Do: có những vị trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa từng oai hùng hiên ngang chiến đấu phi thường vì lý tưởng, vì trách nhiệm bổn phận làm trai, họ chưa bao giờ thất bại trên chiến trường. Nhưng bây giờ họ phải tuân lệnh cấp trên, ngậm ngùi thổn thức buông súng bỏ tàu, như một người lỗi hẹn, luồng hào khí uất nghẹn tuôn trào, khi đất nước suy tàn trong bi lụy, vì chiến sử ác nghiệt từ định mệnh bi tráng, thăng trầm, họ đành làm người bồi hồi đắng cay chua chát, dày vò bởi từ ngữ “thua cuộc", họ uất hận mang theo vô vàn xót xa cay đắng khôn lường mãi đay nghiến dày vò khi lịch sử chưa bạch hoá:
                        Có phải Đảng đã trả thù ác độc
                        dân miền Nam, sau khi cướp miền Nam
                        Nhãn "cải tạo", mác "khoan hồng, học tập"
                        Thực chất giết người quỷ quyệt, dã man? (2)

                        Tốp tù kia ở trong vòng rào quần quật lo đào ao, đào hầm hố, tốp khác phải đi gánh phân, múc nước đái tưới rau tươi gieo trồng. Trong lều bên góc trại có dựng lên một lò rèn thô sơ, tù nhân vô đó làm bằng tay chế ra loại thủ công thành dao rựa, liềm, cưa… Tù phải tự làm thợ rèn cuốc, xẻng, cào; để đi cuốc đất, trồng ngô khoai đem cho đảng và cán bộ ăn “ngập mặt”, còn người làm những công việc nặng nhọc thì chúng bắt “nhịn ăn khát uống”. Tù vác xẻng đi đào mương khai cống rãnh. Tốp tù được đi rừng, nghĩa là có chút “tự ro thái mái” đi ra ngoài vùng có người dân sinh sống, thì thong thả và tự do hơn chút chút, (so với những anh tù bị kềm kẹp ở trong lán trại). Họ có thể đi ra ngoài rừng chặt cây, lấy củi, chặt tre đốn gỗ, để làm nhà tù. Công việc nầy quá nặng nhọc, khổ cực vất vả trăm bề, dĩ nhiên có mấy tên công an kè kè súng theo sau. Ai đời khiêng vác những vật dụng quá nặng nề trên đôi vai về lán trại tù, khi họ làm thành nhà tù xong, thì tự nhốt mình trong những lán trại xa xôi hẽo lánh: mùa nóng thì nóng lột da, mùa lạnh thì lạnh thấu xương. Thật dã man độc ác vô cùng, chẳng khác gì hồi trị vì của thời bạo chúa Tần Thủy Hoàng:
                        Chúng ta là người chứ đâu là chó!
                        Để nghịch cảnh khốn khó… nó bó cái khôn!
                        Sao ép thân trong tù ngục gò bó, để bị giam hãm tâm hồn?
                        Sao không đứng dậy, để đào mồ chôn toàn trị?
                        Dân chủ- Tự Do- Độc lập- Nhân quyền… há chẳng phải là những điều trân quí?
                        Vì tương lai của thế hệ ngàn sau, sao không hy sinh, không nung chí đấu tranh? (3)

                        Nơi tiếp tân của trại tù: trên bàn quản giáo có chiếc hộp để “Góp ý”. Thật ra, đấy là nơi dùng làm “cần câu”, theo dõi, đấu tố nhau, điềm chỉ “cho chắc cú thấu triệt” hơn. Muốn thăm tù, tại đấy có nhiều thủ tục đơn từ khai báo lỉnh kỉnh, lẩm cẩm, rườm rà, linh tinh và mỏi mòn chờ đợi. Tôi bồn chồn nôn nóng lo âu chờ đợi vài giờ, nhón gót dáo dác nhìn quanh, mẹ con cứ đi ra lại đi vô. Trong hàng rào phân định làm thành mô hình chữ U, là bảy dãy nhà tù lợp tôn, lợp lá đối diện nhau. Phân đôi giữa những dãy tù là khoảng sân vừa đủ rộng. Đi xuống dãy nhà bếp và bốn dãy nhà tù biệt giam. Nơi đây tù nhân bị mang gông cùm lởm chởm, cornex ở tít sau mé xa cuối cùng trong vòng kẽm gai, nơi đó các anh bị đọa đày khổ cực, khốn cùng đắng cay, đau đớn thân xác, khổ sở vô vọng hết biết. Tù nhân bị tù không bao giờ biết ngày tuyên án, chẳng hiểu lúc nào mới ra khỏi nơi qủy khóc thần sầu!

                        Đến giờ được phép thăm nuôi, tôi đặt những túm quà lên bàn, thì cán bộ lấy cây que tăm xe đạp thọc moi móc tỷ mỷ mấy lọ mắm ruốc, rất lâu. Chả biết họ nghĩ sao mà lấy mũi dao cạy cả cây kem đánh răng còn đóng kín trên miệng ống típ vậy? Nhưng, thành thật mà nói, mẹ con tôi sợ tên quản giáo (mà mẹ con tôi rỉ tai nhau: "hắn có bộ mặt Lucifer”, tất nhiên hắn có biết chữ tiếng Việt "lu xi phe" là gì, chứ đừng nói tiếng ngoại quốc) coi ở phòng khách, ai nấy đểu sợ gấp trăm lần sợ người mang bệnh cùi lở loét. Chỉ sơ suất một điều gì, kể như chúng tôi không được hắn cho phép thăm viếng, không thể chuyện trò với chồng, con, cha, gì sớt. Nhưng nói cho cùng, không phải cán bộ trông coi trại giam, là ai ai cũng "ác ôn côn đồ độc ác" cả đâu. Bằng chứng là có duy nhứt một cán bộ tên Nhượng biết điều, ông ta đối đãi với tù khá tôn trọng, từ-tâm, dễ dãi, có tình người hơn nhiều người cán bộ công an cộng-sản khác.

                        Nhìn qua khe hở hàng rào gỗ cao lút đầu mình, tôi thấy đoàn tù khoảng mười lăm người lần lượt nối gót nhau ra nhà khách. Trên mặt họ chảy dài những giọt mồ hôi hột, sau lưng và trước ngực áo ướt đẫm mồ hôi, những vệt mồ hôi trên áo qua bao năm tháng cũ, bện chung với những đám hô hôi mới rịn ra hôm nay đã bạc phơ từng đám, đang kêu sột soạt như mo cau. Trong cơn bấn loạn, sợ hãi, và băn khoăn tột độ, mẹ con tôi dáo dác nhìn quanh, cố tìm khuôn mặt người thân. Tôi lặng người nhìn những khuôn mặt vàng bũng, nhận ra nét cằn cỗi, già nua, hốc hác, bơ phờ và ốm đói, mỏi mệt, từ những lằn nhăn bên khóe miệng người tù, trên đuôi mắt hằn lún đường rãnh trên vầng trán phong sương cao cao sạm nắng gió khuya chiều, mà bỗng dưng tôi cảm thấy mình chới với bủn rủn.
                        Chỉ tiếc qua đi cái tuổi xuân thì
                        Cái tuổi "tao mày" đang hăng nhuệ khí
                        Theo nghiệp binh cùng quyết chí làm trai
                        Cái thời mà đất nước vẫn chia hai
                        Mình diệt Cộng để cứu dân cứu nước (4)

                        Nhà khách im phăng phắc nghe cán bộ đọc tên tù "cải tạo" , ông ta ấn định cho tù ngồi đúng chỗ xong, những anh tù vừa ngồi xuống dãy ghế gỗ, thì mọi nơi, mọi chỗ, mọi người đồng loạt rộ lên tiếng nói rộn ràng lao xao, ríu rít như bầy ong vỡ tổ. Người người bùi ngùi, thân thiết mừng rỡ trong nghẹn ngào, nức nở xúc động bồi hồi chào mừng nhau, rưng rưng nghẹn ngào hỏi thăm, an ủi, vỗ về. Tay me con tôi luôn quệt nước mắt, trào tuôn hai hàng lệ. Những anh tù "cải tạo" ngậm ngùi uất nghẹn cúi đầu mà không thể khóc, miệng họ cố mỉm cười méo mó, che dấu nỗi chua cay xót xa, đầy đắng chát tủi nhục vô trong lòng.

                        Tôi và Luật có khác gì nhau, chúng tôi đều ở giữa hai vòng ngục tù quê hương, gia đình tôi nói riêng và đa số gia đình bạn tù nói chung, cùng đồng bào thì ở tại vòng ngục tù bao la ngoài chấn song vô hình, khổng lồ đồ sộ mà vô cùng kiên cố. Tù "cải tạo" từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, lan ra tận Phú Quốc, Côn Sơn, đều giống nhau. Trước kia Luật đã ở các trại tù: Suối Máu - Ra Phú Quốc - Về trại Long Giao, vân vân… Sau đó chuyển tới trại Z 30 A. Rồi chuyển qua Z 30 B. Gia Rai – Xuân Lộc.
                        Chồng tôi ở vòng tù trong địa ngục, đôi khi anh bị cùm trong vòng tù thứ ba là nơi chuyên giam nhốt ai có “trọng tội”, bị xiềng xích hai tay hai chân, khi bọn cán bộ hành hạ tra tấn "tù" xong, thì bị nhốt vô nơi cùm gông dành riêng cho "thứ dữ". Quả thực, hồi nhỏ chồng tôi có tên cúng cơm rất ư là dễ sợ, do bố mẹ đã đặt cho ảnh cái tên: “Phạm Trọng Luật”, khi lớn lên, Luật đi học đến lớp Nhứt, thầy giáo vui tính gọi bố mẹ lên, thầy ôn tồn nói:
                        - Tên gì cụ không đặt, lại đặt cho con cụ có cái tên kinh khủng đến thế. Nếu cậu ấy không có "tội", thì cũng vì "phạm trọng…" mà vô tù, nghiã là đi tù ây.
                        Thầy giáo “làm phụ thầy bói" nói như thế mà linh! Nay ảnh bị “phạm trọng luật” (!, ?) đi tù ngót 10 năm, bị học tập "cải tạo" sao ta!? Có lần chồng tôi cười cười trêu đùa:
                        - Em ơi! Anh có muốn đổi tên thật phí, vẫn bị lừa như thường.
                        - Mắc mớ gì đổi tên, mà bị… ai lừa nào!
                        - Không đổi tên họ, không phạm trọng luật, anh bị tù xong béng đời trai, là gì đây!

                        Tôi hết sức lo lắng về tình trạng bệnh sốt rét của Luật, nhứt là đôi bàn tay anh đã lở loét, bàn chân anh làm độc dạo trước, do bị cán bộ y tế trại kêu anh làm thí nghiệm, ông ta lấy con dao bầu cắt rau trong nhà bếp, cứa cứa vô chỗ đau, xịt máu mủ ra. Chẳng có sát trùng, sát triết, không có thuốc tê, thuốc bại gì ráo. Luật đau đến ngất thì thôi. Mặc dù Luật đã ở tù mươi năm rồi, mỗi tháng anh đều được giấy cho đi thăm nuôi, nhưng gia đình tôi quá nghèo. Một năm chúng tôi chỉ chia nhau đi thăm nuôi Luật khoảng năm ba lần. Có năm chúng tôi không đi nỗi hai lần.

                        Cho đi thăm nuôi tù, nghe thì "có vẻ như" nhân đạo, thật ra nhà nước chẳng ưu ái khoan hồng, tử tế hay tốt lành gì. Cho phép người ở vòng tù ngoài đi thăm nuôi vòng tù trong, chẳng qua là đảng muốn tù ngoài gánh vác đỡ bớt gánh nặng "nuôi miệng ăn ở tù trong". Mặc dù tù “cải tạo” ăn ngày non bữa, bỏm bẻm chỉ có một muỗng cơm lạt độn bo bo hoặc sắn khoai với vài hột muối. Do số lượng tù quá sức đông, nếu chiết tính sơ sơ, đảng cũng nát óc điên đầu, nhà nước khó khăn, nan giải trong vấn đề gạo thóc mắm muối của đảng, thì dù tí cơm gạo tẻo teo cho tù nhân; cũng là chuyện không thể.
                        Luật thấy rõ hai túm quà bé tí nị, mà gia đình mang vô cho anh, nhưng quý giá gấp mười lần cá, thịt: Đó là tất cả sức cần lao, đói khát, gian khổ, từ mẹ già răng long tóc bạc. Từ những bàn tay các con gầy bé tí xíu, từ người vợ mảnh mai. Họ đã nhịn đói, nhịn khát, thiếu thốn trăm bề ngỏ hầu góp nhặt từng xu, từng đồng, họ cố gắng dành dụm, cúp nũm mang vào trại tù, cho anh chua xót ăn tạm qua cơn đói rã ruột.

                        Dĩ vãng vinh sang xưa, anh: xe pháo rủng rỉnh, nhà cửa đình huỳnh sung túc an vui, thình lình ồ ạt chảy về trong hiện tại đầy ứ quá khứ phản bội, khiến anh xốn xang chóng mặt cuồng quay đến hụt hơi. Vì, chuỗi lao tù cay cực kéo dài trước hàng chữ: “Không có gì quí hơn độc lập tự do”. Mỗi lần gặp mẹ ruột, vợ, con: mệt mỏi vất vả đến thăm, Luật chỉ ôm chúng tôi khóc ròng. Anh khóc, không vì cảnh “nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại”. Mà bởi anh rõ hơn ai hết, khi nhìn mẹ gầy trơ xương, nhìn vợ ốm yếu, nhìn đàn con nheo nhóc khẳng khiu, yếu xìu, xanh lướt kia đang rưng rưng giọt lệ mừng vui cuống quýt. Luật lặng người nhận ra nét già khú đế trên khuôn mặt mẹ xếp lớp lăn tăn. Anh đau đớn nhìn những hố mắt con thơ còn quá nhỏ trũng sâu. Và, nơi khuôn mặt cô vợ hoa hậu diễm kiều mặt hoa da phấn năm nao, bàn tay búp măng nõn nà thuở xưa quá xinh. Nay “em tôi” có từng đường gân xanh nổi cồn bên thái dương, nơi bàn chân nứt nẻ, tróc lở, ở bàn tay sần sùi của “nàng”! Ấy vậy mà... Luật mủi lòng chẳng sợ ai cười chê, anh đã úp mặt vô hai bàn tay nứt nẻ mà khóc tướng lên, như trẻ thơ.
                        "Tao với mày" đâu phải dân khiếp nhược
                        Đã bao lần đối mặt trước quân thù
                        Đã bao lần đánh vào tận chiến khu
                        Đụng biển người nhưng mình đâu có ngán
                        Mình là dân bạn bè cùng súng đạn
                        Thì sá gì lúc hoạn nạn khổ đau
                        Mình đã thề cùng sống chết có nhau (4)
                        ***
                        Lui cui dọn dẹp mấy bọc ni lông đựng túm xôi đậu xanh, tôi nhồi thêm ít đậu phụng rang vô thau xôi, để lát nữa sau khi hết giờ thăm nuôi, Luật sẽ xách vô trại, cùng anh em bạn tù chia nhau tí quà, (thay vì mẹ anh, Luật và mẹ con tôi ngồi ở đây, vừa ăn vừa nói chuyện, sẽ mất thì giờ, mà không nói được chuyện gì), thì tôi sửng sốt chợt thấy một đoàn hai chiếc xe hơi, từ ngoài con đường đất đỏ từ từ lăn bánh vào trại tù, và dừng lại ngay bên ngoài cổng trại Z 30. Trên xe lố nhố kẻ đứng người ngồi, đa số là người mặc áo tang, tôi nghe họ khóc than thảm thiết lắm. Tên cán bộ trại liền ra lệnh cho những người đang thăm nuôi dồn lại ở một cái bàn dài trong cùng. Tôi còn ngơ ngác lo lắng nhìn quanh, Luật thì thầm:

                        - Anh Trung-úy Long, tù ở trại Z 30 B, hiện làm tại tổ than của trại tù. Anh Long được tin mẹ ở Khánh Hội đã chết. Dù có giấy báo tử, anh Long tức tốc xin phép trại trưởng, cho anh về nhà một ngày, để phục tang. Nhưng họ kiên quyết không cho. Nên hôm nay, thân nhân của anh Long đưa mẹ về quê an táng tại Phan Thiết. Trên đường đi, xe tang ghé qua trước cổng trại, họ xin phép trại trưởng cho anh Long ra đứng bên trong cổng, ngay dưới hàng chữ: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, để lạy chào mẹ lần cuối cùng.

                        Bần thần chua xót và vô cùng cay đắng, uất nghẹn đến nghẹt thở, khi tôi tận mắt chứng kiến cảnh anh Long xanh lướt, thân thể anh héo hon thất thểu ra cổng trại tù. Anh chập choạng ủ rủ như người mất trí, như người say, anh như thân cây sắp ngã. Anh Long lê từng bước thấp bước cao ra tới bàn quản giáo. Anh run run ký tên vào sổ thăm nuôi. Đôi mắt anh Long sưng chù vù, mọng đỏ. Lúc ấy người nhà quấng lên đầu anh mảnh khăn tang, anh buông thỏng hai tay, đứng bất động như trời trồng. Anh Long để mặc họ xỏ áo thả gấu xỏ quần trắng cho mình như cậu bé con. Hai người thân kè xốc anh Long ở hai bên cánh tay, dìu anh bước thấp bước cao ra cỗ áo quan mẹ lạnh giá. Như cái xác không hồn, anh Long run rẩy cầm ba cây nhang quỳ xuống mặt đường đất đỏ gồ ghề. Bỗng anh Long khóc rống tướng lên, nghe thảm thiết lắm. Anh Long sì sụp lạy mẹ và bất thần rệu xuống. Chuyện nầy ai ai trong trại tù Z 30 cũng biết, có thật 100%.

                        Bỗng dưng, từ thinh không rót vào tim tôi cảm giác rờn rợn, đau đau, phiền phiền uất ức, nghẹn ngào đau buốt rất vớ vẩn. Tôi để tiếng lòng ngân trong chiều Thu vẫn hầm hập nóng rần, dù gió heo may hái lá so đũa rụng đầy sân tù. Ôi! Vô vàn đau xót, chua cay và đắng chát nghẹn ngào, thương tâm dường bao! Những người đi thăm tù đang chứng kiến cảnh não nùng vĩnh biệt ly tan nầy, đều bưng mặt khóc. Nhìn mây trắng bồng bềnh trôi, như từng lọn bông gòn xôm xốp thao thức giữa hoàng hôn đượm buồn, tôi òa vỡ hàng nước mắt chảy ròng ròng xuống má.
                        Cổng đập đã mở toang hoang, mọi nỗi niềm đau đớn được dịp tuôn trào. Tôi khóc vì quê hương lầm than, khóc vì chồng đoạ đày khốn khổ trong ngục tù cộng sản, khóc vì anh Long tuy xa lạ, mà có phần gần gũi do đồng cảnh ngộ, nên vô vàn thân thiết, khóc vì mọi nhánh tình lưu vong bi lụy, người tù đoạ đày trên chính quê hương Việt Nam dấu yêu, khóc mẹ chồng già nua khổ sở, khóc các con thơ ốm yếu cơ cực đói khát; khóc chính thân tôi rục rả ủ rủ tàn úa trước thời gian. Khóc ròng! Chuyện mẹ đến thăm con trong tù “cải tạo” cuả anh Long, đã có thật qua lời thơ của một anh tù “cải tạo” ghi:
                        Xưa mẹ đến thăm con giữa chốn lưu đày,
                        Thời gian leo lét cháy trên tóc bạc như mây.
                        Tình mẹ thiên thu. Nhưng đời mẹ chỉ còn tháng ngày.
                        Mẹ thường đến thăn con như mưa xuống cỏ cây.
                        Trưa hôm nay nắng nhiều hơn cả gió!
                        Có chiếc xe tang phủ đầy bụi đỏ
                        Trong chiếc quan tài, mẹ lại đến đây,
                        Mẹ lại đến đây giữa chốn lưu đày
                        Dù môi mẹ không còn hơi thở!
                        Gió trong con nhiều hơn giông tố.
                        Dù tim mẹ không còn nhịp thở.
                        Đất lung lay, trời cũng xoay xoay.
                        Mắt con lệ mờ, hay sương khói xa bay? (5)
                        ***
                        Thạch sùng tróc lưỡi lỏ mắt nhìn gia đình tù dở sống dở chết khi đất nước đổi đời. Số phận dân đen vùi dập trong bùn sau ngày 30 tháng 4 "mất nước". Đồng bào ngoài tù đói khổ lầm than. Luật ở tù trong một chế độ phi nhân, tàn bạo, dã man đáng nguyền rủa suốt kiếp. Suốt kiếp! Gây cuồng nộ triệu triệu con tim, làm kinh hoàng thế giới! Chúng tôi phải sống thầm lặng, đói nghèo, cơ cực suốt mười tám năm tẻ nhạt, hèn mọn, dưới tận đáy xã hội, giữa sự lạnh lùng, độc ác, phân biệt đối xử đầy bất công. Một sự thiếu thông cảm, không đức độ, hèn hạ trả thù dân tộc trắng trợn, chẳng vị tha và hoàn toàn không có sự đồng cảm, tương thân tương trợ trong lúc khốn cùng.

                        Chao! Trời cao đất dày ơi! Xin Trời ở trên cao ngó xuống. Đất ở dưới ngóng lên. Hai bên giá vai có hai thánh linh biên chép, soi xét: Chứ, chúng tôi nào làm gì nên tội, sao phải gánh chịu cảnh đoạ đày, tù tội oan nghiệt, ô nhục đến thế nầy? Quá khứ chồng chất lên dĩ vãng quá đầy, quá nặng, quá đau. Tôi không thể tom góp ít chuyện đau buồn vào từng ấy nét phác họa sơ sơ, ghi vỏn vẹn trên năm bảy trang giấy, kể hầu quý vị nghe hết nỗi cùng cực, cay đắng, khiếp đảm xiết đỗi trên chính quê hương tôi. Dạ thưa! Không thể!

                        Vã chăng, giờ nầy tôi ghi lại giòng “lịch sử đổi đời”, không mục đích để bôi nhọ làm xấu xí thêm trang giấy. Câu chuyện TÙ “cải tạo” sự thật rành rành phơi bày ra đấy, làm sao chối cải, tôi cũng chả cần phải trách móc "chế diễu chế độ, chế đá" gì. Tuyệt nhiên tôi không muốn lên án một cá nhân. Tôi chỉ xấu hổ khóc thầm vì mình vô phúc đã sống với "đời" & số phận hẩm hiu, bẽ bàng quá đỗi đau xót. Thế thôi!
                        ***
                        Tình Hoài Hương


                        (1) Phong Vũ Thiên
                        (2) Ngô Minh Hằng
                        (3) Nguyên Thạch
                        (4) Trương Trọng Kiên
                        (5) Lê Xuân
                        Last edited by Tinh Hoai Huong; 07-08-2020, 02:13 PM.
                        Bút trần nào tả được lưu luyến!
                        Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                        Tình Hoài Hương

                        Comment


                        • Thế giới Google (Google Earth) đã công nhận Hoàng Sa của Việt Nam!

                          Nguyên văn bởi khongquan2 View Post
                          Thế giới Google (Google Earth) đã công nhận Hoàng Sa của Việt Nam!


                          Google Earth đã thể hiện Quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam



                          Sau nhiều cố gắng của các nhà khoa học Thế giới trong đó có cả chính những nhà khoa học chân chính Trung Quốc, và đặc biệt công sức lớn lao của các nhà khoa học Việt Nam tại Hải Ngoại cung cấp bằng chứng khoa học, sát thực cùng với sự đấu tranh không mệt mỏi đến nay trên Google Earth đã thể hiện rõ quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam chúng ta!

                          Phầm mềm Google earth đã thể hiện rõ quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam (Paracel islands belong to Vietnam)

                          TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA THUỘC CHỦ QUYỀN VIỆT NAM
                          PARACEL ISLANDS & SPRATLY ISLANDS BELONG TO VIETNAM ...


                          Điều này cho thấy chân lý Hoàng Sa là của chúng ta đã được Thế Giới Google (Google Earth) công nhận.

                          Nhân dân Việt Nam, bạn bè Năm châu bốn biển hãy cùng nắm tay nhau quảng bá vào xem để đưa rating lên cao, giúp bất cứ ai khi vào google sẽ hiện ra ngay hình ảnh này!

                          Tình Hoài Hương đã "Sưu tầm về việc nầy trên internet"



                          Hãy Trả Lại TA: Địa Danh VIỆT NAM


                          VIỆT NAM cẩm tú sơn hà.
                          Địa danh giới phận nước Ta với Tàu.
                          Nghìn năm có trước ghi sau.
                          Bảng vàng lưu Sử ấy câu tựa là:

                          Từ NAM QUAN Ải mình qua
                          Trường Sơn chữ S mặn mà VIỆT quê.
                          HÀ NỘI - NGHỆ AN phố Huế.
                          QUẢNG ĐÀ - BÌNH ĐỊNH ta về NHA TRANG.

                          GIA LAI - PHAN THIẾT - PHAN RANG.
                          VŨNG TÀU - ĐÀ LẠT - TRÃNG BÀNG - TÂY NINH.
                          SÀI GÒN - ĐỒNG THÁP - LONG BÌNH.
                          KIÊN GIANG - HỒNG NGỰ - TRÀ VINH - NHÀ BÈ.

                          CẦN THƠ - CHÂU ĐỐC - BẾN TRE.
                          GÒ QUAU - nghìn dặm AN KHÊ chập chùng.
                          BẠC LIÊU nhớ miệt TÚC TRƯNG.
                          LONG AN - BẾN LỨC thương hung KIẾN TƯỜNG.

                          Ô MÔN - CAO LÃNH - CẦU NGANG.
                          U MINH - RẠCH GIÁ - VĨNH LONG một nhà.
                          HÀ TIÊN - QUẢNG TRỊ - TRƯỜNG SA.
                          CÀ MAU - PHÚ QUỐC vẫn là của Ta:
                          ***
                          Trả lại đây núi non xa…
                          VIỆT NAM vang bóng sử ca nghìn đời.
                          Từ ngày “người lạ” đổi thời.
                          "HOÀNG SA độn thổ" biến đời quắt quay.

                          Bên ngoài thế giới có hay?
                          NAM QUAN ẢI mất; đọa đày lắm thay!
                          Xế chiều tuổi đã vàng bay...
                          Núi sông ngậm đắng nuốt cay ai đòi?!

                          Nghìn thu nỗi hận đầy vơi.
                          Ước mơ sông núi cuối đời về TA.
                          Đồng Bào hỡi! Khắp gần xa.
                          Đứng lên giành lại sơn hà VIỆT NAM.
                          *
                          Tình Hoài Hương
                          Bút trần nào tả được lưu luyến!
                          Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                          Tình Hoài Hương

                          Comment


                          • Từ Cổ THÀNH đến NHA TRANG tuyệt diễm


                            Từ Cổ THÀNH đến NHA TRANG tuyệt diễm


                            Trời xám xịt, ảm đạm với từng cuộn mây đen phủ chụp lấy Cây Cẩy, xe chạy càng chậm như rùa bò khi đến *Cổ Thành, là một quần thể lục giác, có lối kiến trúc quân sự độc đáo, quy mô theo phương pháp Vauban, {do ông kỹ sư Công-binh quân sự nổi tiếng của Pháp: tên Vauban (1633-1707) tên thật của ông là Sébastien Le Prestre} Cổ Thành có hào sâu chắn bờ thành cao 3 mét rưỡi, bên trong thành đắp làm hai bậc cấp rộng và cao. Muốn về Nha Trang phải qua miền Cổ Thành nầy. Từ trong ca dao xa xưa Việt Nam đã có:
                            Khánh Hoà biển rộng non cao
                            Trầm hương Vạn Giã yến sào Nha Trang
                            Tỉnh Khánh Hoà đậm đà mưa nắng
                            Non chồng nghĩa nặng nước chứa tình thâm
                            Ngọn gió bay phảng phất hơi trầm
                            Mây xây tháp bút trăng dầm bến ngân

                            Thời xa rất xưa khoảng thế kỷ 17 đã thấy có tên “cửa Nha Trang” do ông Đỗ Bá biên soạn. Một bản đồ ở niên đại cuối thế kỷ 17 năm Giáp Ngọ Niên Bình Nam Đồ của Đoan Quận công Bùi Thế Đạt cũng thấy ghi tên "Nha Trang Hải môn" trong thư tịch cổ Việt Nam có những tài liệu đề cập đến địa danh này. Thời Pháp thuộc Nha Trang chỉ là một “chef lieu”, sau 7 tháng Năm 1937, toàn quyền đông dương nâng Nha Trang lên hàng “commune”, cho đến 27 tháng Giêng 1958 nghị quyết số 18-BNV bãi bỏ chức “thị xã”, do vùng Nha Trang bao la mênh mông từ đất liền, hải đảo, đảo biển chằn chịt, nên miền đất nầy được chia thành Nha Trang Đông & Nha Trang Tây, do Tổng-thống Ngô Đình Diệm ấn ký.

                            Nha Trang xa Sài Gòn (441km, tính trên đường bộ, & đi đến Cam Ranh xa 45km). Thành phố Nha Trang duyên dáng thơ mộng nằm trên một đồng bằng khá rộng đã phân hoá và được bồi đắp phù sa bên cạnh sông Cái và sông Quán Tường rồi nước chảy ra biển cả:
                            Suối Tiên nước chảy lững lờ
                            Tiên đi đâu, để bàn cờ rêu phong
                            Nước mây vắng vẻ tăm mòng
                            Bền gan nay vẫn rày mong mai chờ (cd)

                            Ven biển Nam Trung Bộ thuộc Tỉnh KHÁNH HOÀ (& thành phố Nha Trang) phía Bắc giáp Tỉnh Phú Yên, gần sát nách là Ninh Hoà. Nam giáp Tỉnh Ninh Thuận. Tây là sườn Đông của dãy trường sơn giáp Đắc Lắc & Lâm Đồng. Đông giáp biển Đông. Biển Khánh Hòa trong đó bao gồm cả quần đảo Trường Sa nằm ở điểm cực Đông Việt Nam. Tóm lại Nha Trang là một thành phố rất thuận tiện về mọi mặt, là vị trí địa lý tiện nghi trên đường thủy, đường hàng không, & trục giao thông đường bộ qua quốc lộ 1C, quốc lộ 1 A quan trọng xuyên qua mọi miền đất nước Việt Nam khá thuận lợi. Quốc lộ 26 nối Khánh Hòa Đắc Lắc và các tỉnh Cao Nguyên Trung Phần. Ngoài ra có hệ thống xe lửa nối dài từ Phan Rang chạy xuyên qua các miền tới Cà Mau & đồng thời ra tới Bến Hải. Khánh Hòa có nhiều hải cảng và phi cảng náo nhiệt, đông đúc, đồ sộ, thì đã có:
                            Ông Trần Đường giữ đèo Dốc Thị
                            Ông Trịnh Phong trấn nơi biển Cù
                            Ông Nguyễn Khanh lo việc quân nhu
                            Ba ông một bụng nghìn thu danh truyền (cd)

                            Từ Cam Ranh đi tới NHA TRANG về hướng Bắc tuyệt đẹp với miền cát trắng mịn đầy hấp dẫn... là một tiềm năng khá tốt mang tính chất nhiệt đới gió mùa nên khí hậu ôn hoà trung bình 25/oC & đại dương thông thoáng, thênh thang, bao la, mênh mông do thế mùa Đông chỉ se lạnh, mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 (thường là ba tháng), mùa hè mát mẻ hơn các vùng khác. Biển gần sát thị thành, nên dù mùa khô nhưng khí hậu dễ chịu.
                            Anh đứng ở Nha Trang
                            Trông sang xóm Bóng
                            Ánh trăng lờ mờ, lượn sóng lăn tăn
                            Gần nhau chưa kịp nói năng
                            Bây giờ sông cách, biển ngăn ngại ngùng!
                            Biển sâu con cá vẫy vùng
                            Sông sâu không dễ mượn dòng đưa thư
                            Anh nguyền cùng em:
                            Bao giờ Hòn Chữ bẻ tư
                            Biển Nha Trang cạn nước, anh mới từ duyên em. (cd)

                            Phố biển thơ mộng của Tỉnh Khánh Hòa đã nở hoa đèn thì có nhiều cặp tình dìu nhau lượn ven biển: chàng Hải Quân áo xanh áo trắng hiên ngang, cùng nàng thiếu nữ mặt hoa da phấn, tay trong tay họ âu yếm cười vui trên đường thênh thang. Hợp với anh Không-Quân hào hùng, áo bay xám áo bay vàng cam cùng với em kiều diễm thủng thỉnh dạo bước dập dìu thuở xuân tình, khiến thành phố biển càng nôn nao xao xuyến ngẩn ngơ thi vị thay:
                            Bãi biển Nha Trang mịn màng trắng trẻo
                            Nước trong leo lẻo, gió mát trăng thanh
                            Đêm đêm thơ thẩn một mình
                            Đố sao cho khỏi vương tình nước mây. (cd)

                            Mưa bụi mù mù bay bay nhạt nhòa trong bóng tối mờ mờ. Ngoài xa xa ngư thuyền tấp nập nhấp nhô trên sóng, những chùm đèn câu mực nhỏ li ti long lanh khi tỏ khi mờ. Thuyền lênh đênh trên mặt sóng, không hiểu vừa vào bến đỗ, hay đang ra khơi nơi Hòn Tre như bức lũy thành ngăn gió đại dương, bãi cát phẳng lì, tơi mịn dưới làn nước mát rượi. Nào Đồng Muối Hòn Khói, Hòn Hèo, Hòn Son, Hòn Bà… Hòn Yến. Hòn Tằm... Vân vân… Ôi sao có bao nhiêu là "Hòn”... nhỉ!?
                            Đứng ở Hòn Chồng, trông sang Hòn Yến
                            Lên Tháp Bà, về viếng Sinh Trung
                            Giang Sơn cẩm tú chập chùng
                            Đôi ta gắn bó thủy chung một lòng (cd)

                            Phố thị hải dương thơ mộng, nhiều đại lộ khang trang sạch sẽ dẫn ra Xóm Cồn, Xóm Bóng, Xóm Mới. Nhà cửa, ghe thuyền tấp nập dưới ánh mặt trời. Biển xanh thẳm màu ngọc bích lóng lánh, dạt dào sóng vỗ vào mỗi buổi hoàng hôn hay bình minh. Miền cát trắng thơ mộng với đá granit, đa số cư dân là người Kinh, kế đến là dân tộc Hoa, Raglai, Gietiêng, Eđê, Tày, Chăm. Họ sinh sống trên đất cát, cồn cát.

                            Ven biển đất mặn có phèn, đôi vùng có đất xám bạc màu. Tuy thế tài nguyên biển rất phong phú cho ta nhiều hải sản quý: sản xuất cả vạn tấn muối. Tôm giống, tôm thịt. Chim yến. Rừng Khánh Hòa có nhiều loại gỗ qúy hiếm: lim, hương, pơmu, trầm hương, kỳ nam... Khoáng sản: cát trắng, nước khoáng, than bùn, cao lanh, imenhich, đá granit. Ngoài phong thổ thuộc về nơi thắng cảnh hữu tình và du lịch, Nha Trang còn là nơi sản xuất dồi dào nhiều loại thủy hải sản, tôm giống. Trại nuôi trai trên biển lấy giống, lấy ngọc. Có những trang trại: sản xuất đường mía, bia, nước ngọt. Thủy tinh kính phẳng. Khu công nghiệp Agar, Alginate. Công xưởng đồ sộ đóng tàu, thuyền, ghe:
                            Khánh Hoà là cái xứ trầm hương
                            Non cao biển rộng người thương đi về
                            Yến sào mang nặng tình quê
                            Sông sâu đá tạc lời thề nước non

                            Nha Trang có Tháp Bà, Hải Học Viện (Ngư nghiệp Đông Dương năm 1922) là Viện Hải dương học Nha Trang chuyên nghiên cứu về biển & động vật trong biển. Trường SVSQ Hải Quân. Trường SVSQ Không-quân. Bãi Dâu, Bãi Cát Tiên. Viện Pasteur (1891) lớn nhất do chính bác sĩ Yersin thành lập. Ông Yersin sinh tại Pháp, cha ông là người Thụy Sĩ, mẹ người Pháp. Ông Yersin lớn lên thi đậu tiến sĩ, ông viễn du đến Việt Nam, tận tụy cống hiến đời mình cho khoa học, thành công trong việc trị bệnh dịch hạch. Ông là một trong những nhà thám hiếm đầu tiên khám phá ra thành phố Đà Lạt thơ mộng. Theo di chúc mộ ông xây đơn giản, người ta liệm ông nằm sấp, mặt ông gục xuống ôm chặt đất Việt Nam vô lòng, đầu quay về hướng biển: Alexandre Yersin – 1863 -> 1943, ở khu Suối Dầu. Nơi miền đất Việt Nam thân yêu nầy, là quê hương thứ hai của ông Alexandre Yersin. Kính trọng & ngưỡng mộ lắm thay!

                            Tháp Bà đồ sộ xây bốn tầng, là một kiệt tác từ thời vua Chàm Harivácman, xây năm 813 đến 817 mới hoàn tất vào ngày 20 đến 23 tháng 3 âm lịch, tại Tháp Bà đây có lễ hội tưng bừng náo nhiệt đông đúc vô cùng để tưởng nhớ nữ thần Po Ino Nogar, ca ngợi mẹ tạo dựng ra xứ sở Chăm. Họ cầu xin an cư lạc nghiệp:
                            Ai về xóm Bóng quê nhà
                            Hỏi thăm điệu múa Dâng Bà còn không?

                            Dưới chân tháp Bà là xóm Bóng đầy dẫy ghe thuyền chi chít lênh đênh bềnh bổng trên sóng nước. Hòn Chồng như một quần thể hải đảo xinh xinh, xếp lớp những khối to lớn nằm chông chênh trên khối nhỏ xiu xíu. Trên một khối đá lớn có in dấu một bàn tay to dị thường. Tương truyền rằng: thuở xưa có một ông khổng lồ ngao du sơn thủy vô tình ghé tạt qua đây, ông ta tình cờ nhìn thấy bầy tiên nữ đang vui vẻ tắm và đùa giỡn nơi sóng nước trong xanh, ông ta say sưa nhìn ngắm họ mãi mê, đến nỗi ông ta bị trợt chân té xuống biển. Ổng liền chụp tay ở tảng đá nầy, mà “bò” lên và trở thành “hòn chồng”. Mấy cô tiên hoảng hốt chui vô hốc đá, hóa ra “hòn vợ” nép mình bên Bãi Dương trải dài thật nên thơ xiết bao. Ha ha! Thế thì:
                            Bao giờ Hòn Chữ bể tư
                            Biển Nha Trang cạn nước anh mới từ nghĩa em
                            Trai gái yêu nhau mượn hình ảnh con đèo,
                            cái hòn để tỏ tình, thề thốt.
                            Anh thương em đặng nghĩa vuông tròn
                            Mấy sông cũng lội mấy hòn cũng qua (cd)

                            Sau một đêm ăn cơm với thức ăn đặc sản, miền duyên hải tuyệt ngon và rẻ:
                            Yến sào hòn Nội
                            Vịt lội Ninh Hoà
                            Tôm hùm Bình Ba
                            Nai khô Diên Khánh

                            Cá tràu Võ Cạnh
                            Sò huyết Thuỷ triều
                            Đời anh cay đắng đã nhiều
                            Về đây ngọt sớm, ngon chiều với em. (cd)

                            Khoai lang hòn Chúa
                            Đậu phụng hòn Dung
                            Chồng đào vợ mót đổ chung một gùi. (cd)

                            Hai mẹ con vào ngủ trong khách sạn Hoàng Yến. Suốt ngày ngồi trên xe chật chội, một chân thòng xuống nền xe, một chân co lên ghế, cằm tựa trên đầu gối một cách phiền não, tôi quá mỏi mệt, tê buốt. Mong sớm hết một ngày đi đường xa nhọc nhằn, nên vừa tắm rửa xong, leo lên giường, thì hai má con liền thi nhau ngáy khò khò, ngủ một giấc dài đến năm giờ sáng, không cựa quậy.
                            *
                            Tình Hoài Hương

                            (* cd= ca dao)

                            (*) Từ năm 1960 -> đến năm 1975 - bối cảnh ở thời điểm nầy hầu như ít thay đổi. (Hoài Hương đã điều chỉnh bài viết từ "Soạn Bài Dạy", & trích đăng trong truyện dài "Khi Định Mệnh Cúi Nhìn" cùng tác giả).
                            Rất trang trọng và chân thành cảm ơn qúy vị nhạc sĩ & nhiếp ảnh gia đã post hình trên internet, tôi xin mạn phép chuyển tải nhạc & hình, (nếu có copy right) vô bài viết, ngỏ hầu tăng thêm phần phong phú hóa nhạc & hình ảnh sống động từ tài nghệ độc đáo của qúy vị; qua quê hương Việt Nam cẩm tú của chúng ta. Đa tạ!
                            Tình Hoài Hương
                            Last edited by Tinh Hoai Huong; 07-16-2020, 03:52 PM.
                            Bút trần nào tả được lưu luyến!
                            Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                            Tình Hoài Hương

                            Comment


                            • Sự Hổ Thẹn của “Mít Đót”


                              Tháng Tư Đen
                              Nhạc: Trần Lê Việt
                              Lời: (LT) Lê Xuân
                              Tiếng hát: Việt Long
                              Sự Hổ Thẹn của “Mít Đót”


                              Như đã có lần tôi hầu chuyện cùng quý vị rồi; nay tôi xin thưa tiếp: Từ đời tam cố đại xa xôi… thuở trăng sao hoa lá lao xao đong đưa còn tươi rói trên cành, thì dòng họ tôi giàu sang danh giá tri thức ra phết! Thế nên tôi danh chính ngôn thuận là một “công tằng mỹ nữ” cao sang, qúy phái và đài cát, được yểu điệu vác cặp, ung dung tự do tự tại theo thầy học... nào là: Tam cương (vua và tôi, cha và con, vợ và chồng). Ngũ thường, gồm: Nhân: (lòng thương người). Lễ: (những phép tắc). Nghĩa: (có tình nghĩa, lẽ phải đạo con người). Trí: (sự hiểu biết, khôn ngoan). Tín: (không gian dối, giữ đúng lời, có uy tín). Do đời sống ở trong đại gia đình mình quá đầy đủ, nên tôi không thích bất cứ thứ gì. Vậy mà mấy tay anh chị ngoài Bắc các bác, mới vô Nam lại mê tít thò lò:
                              Đeo đồng hồ hai cửa sổ không người lái,
                              Mở truyền hình kênh phát sóng thông tin.
                              Ông cán bộ đang “quy hoạch” quy trình,
                              Đang báo cáo tình hình năm nay tốt.
                              Chị “quán triệt phương án” từng chút,
                              Rồi xuống nhà, “hồ hởi” uống cà phê,
                              Kiểu cái nồi ngồi trên cái cốc chị mê,
                              Xong đâu đó, chị chiên con sâu mỡ. (1)

                              Nguyên do:
                              Tuy thất thoát thật to, lại được coi là cái lỗi rất nhỏ.
                              Vì thế VIỆT NAM ta, từ từ biến thành một đất nước nho nhỏ.
                              Trong cái đất nước nho nhỏ, lại có những ông lãnh đạo thật to.
                              Trong những ông lãnh đạo thật to, lại có những cái đầu quá nhỏ.
                              Những cái đầu quá nhỏ, lại có những túi tham thật to.
                              Những túi tham thật to, lại có những hiểu biết rất nhỏ.
                              Và những hiểu biết rất nhỏ, lại gây hại cho đất nước thật to. (2)

                              Bây chừ, trước tiên: gia đình tôi sau ngày 30-4 đã vô phúc rơi vô… “hang ổ gốc mít đót” (bà con lối xóm ám chỉ cả nhà tôi thấp hèn, chuyên môn nghề đi “mót… đít”). Cũng phát sinh nguyên thuỷ từ chữ: “Phú Lăng Sa A Na Mít” mà ra đấy! Số phận tôi quá vô duyên, vô phước, bạc bẽo bị lọt… vào khu 18 thôn vườn trầu làm chi, mà nay rơi tủm xuống tận đáy xã hội khốn cùng, nơi toàn thứ dữ… có cán bộ nồng cốt:
                              Cái xứ gì đâu chán gớm ghê
                              Thịt thà lãnh đạo đớp ê hề
                              Thằng dân rau cỏ và khoai sắn
                              Ăn để mà sống, chẳng dám chê (*)

                              Bằng hai bàn tay búp măng xưa, nay thô cứng, tôi trở thành dân ruộng đi vét rạch, đào kinh dẫn thủy nhập điền: Trồng thơm, trồng mía, trồng ngô, khoai, trồng dưa leo, trồng bí bầu… Ôi! đủ thứ trồng trồng, trọt trọt, trỉa trỉa... hầm bà làng xí cấu, tùm lum tà la; vẫn không xong: mặc dù vất vả khó nhọc trăm bề, tôi luôn nuôi hy vọng, ước ao xây mộng: "mình sẽ trở về với thời huy hoàng xa xưa chút xíu". Dù chỉ là mơ mộng thế thôi, vẫn không thể. Vì:
                              Người con gái hôm nay mặc quần đỏ
                              Vì hôm qua đã mặc chiếc quần đen
                              Đen và đỏ là hai màu rồi đó
                              Cũng như đời, đường hai nẻo xuống lên
                              Người con gái hôm nay mặc quần trắng
                              Vì hôm qua đã mặc chiếc quần hồng
                              Hồng và trắng là hai màu bẽn lẽn
                              Cũng như núi và rừng đều rất mực chênh vênh.
                              Người con gái hôm nay mặc quần tím
                              Vì hôm qua đã mặc chiếc quần vàng
                              Vàng và tím là hai màu mỉm miệng
                              Mím môi cười và chúm chím nhe răng
                              Người con gái hôm nay mặc quần rách
                              Vì hôm qua đã mặc chiếc quần lành
                              Lành và rách đều vô cùng trong sạch
                              Bởi vì là lành rách cũng long lanh (Bùi Giáng)

                              Tôi mới mấp mí kề tuổi "hâm" mà tưởng chừng như mình đã già khọm tới tuổi “sáu bảy mưi” ; nên tôi chỉ muốn bước xề tới hố tử thần! Khi người ta tới tuổi 40 thấy chết còn xa, 50 thấy chết từng năm, qua 60 thấy chết từng tháng. 70 thấy chết từng ngày. Ai thọ tới 80 nói: "chết là hết". Vậy mà tôi đếm cái chết từng ngày, từng tháng; khi tôi mới tới tuổi "hâm đi hâm lại"?! Tôi cứ bắt chước Adam và Eva trong vườn “địa... ngục tân thời”, hoặc giống ông bà thuỷ tổ loài người cổ đại tiền sử, thiệt giống lũ khỉ đột, là xong ngay một đời thê nữ trong căn nhà hoang phế, dưới tận đáy xã hội chủ nghĩa, không thèm muốn ước ao gì hết. Thôi cũng đành!

                              Vấn đề: tự-trọng. Danh dự. Sự hổ thẹn hay liêm-sỉ -ở thời buổi 1975 - 1995 nầy- là cái quái gì! Âu chỉ là lớp sơn đỏ mỏng dính, hào nhoáng phết phủ bên ngoài, để che đậy lớp rỉ sét khô mục thối um ở bên trong. Lòng tôi chùng xuống, hội nhập với bao phiền não đắng cay. Lo âu. Khắc-khoải. Hãi hùng về vấn đề gạo cơm, tạm trú tạm vắng. Hơn là chuyện... không có ăn mà ở lỗ. Thật ra, ở nơi nầy hầu như ai ai cũng chả có “tấm mền lá” như ông "Trần Minh khố chuối" thời tiền sử đã dùng lá che bụm chim. Thì; ngày nay hơi sức đâu tôi còn nhớ đến sĩ diện nữa không biết! “Thấp thỏm” chi, mà mình nhớ tới chuyện “ruồi bu bên đít” í hỉ! Sau khi Việt Nam đã mang "ranh rự" bởi danh ngữ hoà bình, tự do, thống nhất, độc lập rồi, thì thế giới tự do dân chủ của người Việt Nam mỗi ngày một gò bó, teo tóp co rút lại. Việt Nam biến thành một nhà tù bao la khổng lồ, dài lê thê, dài ngoẵng. Sự tù đày trong ngục tù "cải tạo" vô cùng trắng trợn dã man, gông cùm, đói khát, chết chóc từ Ải Nam Quan xuôi miền Bắc, chạy dọc xuống miền Trung, lan tràn đến miền Nam, chạy ra tới biển cả trùng dương trên các đảo Phú Quốc. Côn Sơn… Đâu đâu cũng có muôn trại tù “học tập cải tạo” nườm nượp mọc lên như nấm.

                              Ai chết mặc ai! Đảng và nhà nước có công “giải phóng dân miền Nam thoát khỏi nanh vuốt Mỹ”, thì hoà bình, thống nhứt từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau... rồi đất nước sẽ có tự do, là “nhức nhĩ”. Kế đến, đảng uốn nắn con người trong chế độ tư sản mại bản phải “đổi mới tư duy”, “cải tạo tư tưởng”, “cách mạng toàn diện” một con người mới, không phải chỉ một sớm một tối; là xong đâu nhá. Mà phải kiên trì huấn luyện trường kỳ, dẽo dai dài hạn: “mười năm trồng cây, trăm năm trồng người” đấy là gì! Người dân ở vòng tù ngoài chẳng hơn gì trai tráng trí thức ở tù “cải tạo” bên trong. Ở vòng ngoài nôn na gọi là “tù ngoài địa bàn xã hội chủ nghĩa", nhiều người được "mở mắt ra" liền kiếm đủ cách đi vượt biên bằng đường bộ, đường biển, tìm tự do trước cái chết, vẫn hơn sống thấp thỏm trong quê hương xiết đổi kinh hoàng:
                              Chung quy chỉ tại vua Hùng
                              Sinh ra một lũ dở khùng dở điên.
                              Đứa khôn thì đã vượt biên.
                              Những thằng ở lại chả điên cũng khùng.
                              Bác Hồ chết phải giờ trùng
                              Nên bầy con cháu dỡ khùng dỡ điên.
                              Thằng tỉnh thì đã vượt biên.
                              Những thằng ở lại nửa điên nửa khùng.
                              … Trung kỳ có những thằng khôn,
                              Nó đi cửa trước nó luồn cửa sau.
                              Suốt ngày cứ nghĩ làm giàu
                              Nó đi đúng chỗ, nó thâu đúng người
                              Nghị quyết nó thuộc mười mươi
                              Nhưng chỉ xử dụng những nơi nó cần. (1)
                              ***
                              Chúng tôi đã rớt xuống vực thẳm sâu hun hút, úp mặt xuống tận đáy xã-hội chủ-nghĩa. Dẫu vậy, các con trai tôi học hành ưu tú, xuất sắc. Hai con lớn dưới mười tuổi, nhưng ba giờ sáng các con đã thức dậy, lo chạy bộ đến lò bánh bò, lò cà rem, xa khoảng bốn cây số. Các con ngồi co ro cúm rúm ngoài vỉa hè, để chầu chực khi chủ mở cửa, con hy vọng có hàng bán chạy rong mời khách. Tháng nắng ngày mưa các con đều khổ cực lầm than như nhau. Ngày ế-ẩm, bánh bò bị thiu, cà rem chảy nước, chúng tôi lặng-lẽ ngồi ở góc nhà, nhịn khát, nhịn đói, khóc thầm. Vì chồng, cha, là lính “ngụy” bị ở tù “cải tạo” (tôi dùng chữ "cải tạo" phải có hai ngoặt kép). Ai dám giúp! Nhưng, thiệt khổ là hầu như đa số dân lành cũng không có ăn, không có mặc, thì lấy gì mà ai giúp ai!?

                              Ba năm sau, thì con trai đầu Dzũng và con trai kế Tuấn mỗi buổi sáng các con nhịn đói đi học, trưa ăn qua loa tí khoai sắn cầm hơi, rồi hai con đi bán bánh bò, cà rem, tối tối con trai trưởng theo chủ ra tận Long Khánh, Hàm Tân, Phan Thiết… con cùi cụi vác trấu thuê, vác bó mía thuê. Con leo lên nóc nhà dỡ tôn, dỡ nhà, do chủ là bạn của Luật mua, chủ & tớ dù chẳng phải là mua thứ đồ lậu quốc cấm gì, đã nộp thuế ở các trạm thu ngân, mà vẫn lén lút đem đi Sài Gòn bán. Con làm bất cứ việc gì dù nặng nhọc, khổ sở, miễn sao con có tiền đem về cho mẹ mua gạo, để nuôi nhau sống lây lất qua ngày. Ngày hè không đi học, các con nhịn đói phải đi nông trường Nhị Xuân lo trồng thơm, trồng mía không công cho nhà nước. Hoặc con làm dân công thủy lợi đi đào kênh rạch trên Lê Minh Xuân. Tối về, đảng phát cho một tờ phiếu, dân tự vét tiền túi ra mua gạo, mua mắm (dĩ nhiên!). Rồi năm sau con trai thứ ba Huy vác thùng cà rem theo hai anh đi bán, khi thùng mút đựng cà rem cao tới ngực con. Bán cà rem ngày càng ế-ẩm hơn, vì chỉ có mấy bộ đội thích ăn cà rem bỏ trên cái dĩa cho chảy nước ra. Người dân “thắt lưng buộc bụng” không dám ăn thứ “cà lem xa xí phẩm” ấy. Các con tôi luôn đem bánh bò bị thiu, cà rem chảy về, ăn trừ cháo. Riết rồi cụt vốn, hết sạch trơn tiền vốn, dù một thùng cà rem tiền vốn vỏn vẹn chỉ có năm đồng. Năm đồng (tiền Hồ) rất khiêm nhường eo hẹp vẫn không có, thì nói gì gia đình tôi có tiền lời nhỏ nhoi, để độ nhật qua ngày! Thế là đói rã ruột:
                              Từ khi ta có bác Hồ.
                              Nhân dân chẳng được ăn no ngày nào.
                              Lương chồng, lương vợ, lương con.
                              Đi ba buổi chợ chỉ còn lương tâm.
                              Lương tâm đem chặt ra hầm.
                              Với rau muống luộc khen thầm là ngon. (2)

                              Các con đi học luôn luôn đứng đầu lớp, nhưng con vẫn đi bán cà rem phụ mẹ lo cho gia đình mình, mẹ cảm động và thương các con yếu ốm biết ngần nào! "cả nhà ta" đều là "dân chuyên nghiệp bán cà rem" nhưng trong Huyện nầy chẳng có ai bì kịp việc học, việc làm của các con, vì các con kiếm sống bằng một nghề lương thiện và trong sạch, chính đáng ở chỗ các con dù đã khôn lớn, nhưng các con đi bán khi gặp bạn "đồng môn" vẫn vui tươi, hiền hoà, thân thiện, các con chẳng hề cảm thấy xấu hổ, vì nghề "bán cà rem" thấp hèn. Mẹ chân thành cám ơn và trân trọng biết ơn, ghi ơn các con, mẹ rất hãnh diện vì từ thuở nhỏ các con đã nên người hữu ích. Mẹ mong rằng:
                              Phượng hoàng ở chốn cheo leo.
                              Sa cơ lỡ vận phải theo đàn gà.
                              Bao giờ gió thuận mưa hòa.
                              Thay lông đổi cánh lại ra phượng hoàng. (1)
                              ***
                              Mót nhặt những bọc ni lông đựng tạp uế thì ôi thôi: ở bên trong đựng đủ thứ tanh hôi lúc nhúc dòi bọ, bẩn thỉu dơ dáy vô cùng, chỉ nghĩ lại vẫn muốn ói ra mật xanh mật vàng. Nhiều lần mấy mẹ con phơi bọc ni lông ngoài cánh đồng khô trời nắng chang chang, bị cơn gió lốc xoáy cuốn thốc mọi thứ lên trời, bọc ny lông bay tứ tán tản mác khắp nơi. Chúng tôi đứng dưới đất, dậm chân, bứt tóc, vò đầu, ngửa mặt nhìn lên mà khóc rống giữa bầu trời bao la. Tôi hận trời hận đất quá “ác”: Trời sáng và trời tối không phải là đối địch nhau, mà để toả sức sống cho nhau. Dù thế nhưng tại sao đối với cảnh khốn cùng nầy, tôi đau khổ thế nầy, nên hậm hực nói: "Trời ác làm vậy"! Ông không chừa cho tôi một lối thoát! khi ông làm mưa giông sấm sét, vô tình đánh chết ai đó, thì không ai mở miệng nói:
                              - “Trời ác”. Trái lại người ta chỉ đổ tội: do “người ấy ác”, mới bị Trời đánh, Trời hành. Bi giờ thì sao đây?

                              Người khôn của khó, vì miếng cơm manh áo, dần dần nơi ruộng lúa có đầy người chết đói trong khu xóm C, cũng bắt chước mẹ già con thơ chúng tôi, họ kéo nhau ùn ùn nườm nượp lẽo đẽo đi theo bà cụ “mót” đủ thứ. Thế nên ruộng đồng ngày càng khan hiếm, không còn con cá lòng tong, chả có con cua, con cáy, con ếch, con nhái, con dế, cào cào… nào sống yên. Hạt lúa rơi, rau, củ, v.v… đều sạch trơn, chẳng còn chi, chớ nói “hạt ngọc lúa” Trời ban, mà buồn. Ngậm nhúm cháo trong miệng, ít khi tôi nuốt trôi, hai hàng nước mắt tuôn trào!

                              Hồi xa xưa lúc cha mẹ tôi phú qúy, vinh sang, có nhiều lần tôi theo ba tôi đi qua Lào, Miên, đi cả Thái Lan. Ba tôi là danh y thuở ấy, ba đi ra ngoại quốc học hỏi thêm về y học nước ngoài, chính ba tôi đã trị bệnh cho vua Lào, vua Cao Mên nơi xứ người. Tuy còn quá nhỏ nhưng có trí khôn, tôi đã có dịp nếm thử: Nhứt điểu. Nhì ngư. Tam xà. Tứ tượng, ui chà ngon hết sẫy, ngon nhức nhĩ. Bi chừ nhớ lại tôi vẫn thèm. Ngày nay thì tôi đã già kinh nghiệm: “Nhứt sĩ, nhì nông, hết gạo chạy rông. Nhứt nông nhì sĩ”! Vì:
                              Ai sinh ra cái củ mì?
                              Hỏi: Để làm gì? Đáp: Để mà ăn!
                              Nước nhà mãi mãi khó khăn.
                              Dân mình mãi mãi phải ăn củ mì.
                              . . . Đảng béo mà dân thì gầy.
                              Độn bắp, độn sắn biết ngày nào thôi?
                              Nhân dân thì chẳng cần lo.
                              Nhà nước lo sẵn bo bo mỗi ngày.
                              Hãy chăm tay cấy tay cầy.
                              Nhịn ăn nhịn mặc chờ ngày vinh quang. (2)

                              "Mẹ già con côi" làm việc bần cùng tệ mạt đến thế, đôi bàn tay, bàn chân cả nhà tôi bắt đầu ngứa rần rần, sưng húp, phù to, chảy máu đỏ loét, vì mót nhặt bọc ni lông dơ bẩn! Sự dơ bẩn tầm thường nhứt ở tận đáy "xã hội chủ nghĩa Việt Nam": đã ăn sâu vô da thịt, tổn thương trầm trọng đến đời sống tôi quá rùng rợn. Đôi bàn tay, bàn chân của tôi sần sùi, tê nhức, bại xuội, càng cảm thấy đau đớn; đau đớn vì tuyệt vọng, hơn vì thê thiết khốn đốn, hoặc ruột gan cồn cào đói khát. Mất hết rồi thuở “trăng sao hoa lá thơ thẩn ngự trong hồn". Có chăng là còn những đêm không đèn nến ngồi ngoài trời: hai bàn tay quơ đập lia lịa mà muỗi vẫn vo ve từng đàn bu quanh vô người đốt thỏa thích, rồi mấy nơi bị ngứa rần, mình phải gãi cho đã, lại sưng u to, biến dạng ra ung mủ dày cui. Thú thật là do:
                              Đôi dép râu dẵm nát đời son trẻ.
                              Nón tai bèo che khuất nẽo tương lai. (2)

                              Nơi vùng đất phì nhiêu màu mở xưa kia trù phú là thế, nay nghèo nàn cằn khô nóng bức; lại là nơi có quá nhiều ruồi, gián, muỗi, rệp, rận chí... bu quanh bòn rút hút máu người khô đét ốm tong ốm teo, chả ai có chất dinh dưỡng. Nhà nào cũng chứa nước trong cái chum đen đen không nắp đậy, những con lăng quăng lặn xuống đáy chum nhiều vô số. Bọn trẻ nghèo thường làm cái vợt vải mùng, để vớt lăng quăng cho mấy con cá bảy màu, cá ba đuôi ăn, (chúng bòn nhặt nhịn ăn dành dụm từng xu, để mua ít con cá sống, mà làm trò giải trí nhỏ nhoi). Trong chum có loại côn trùng màu đỏ huyết mình nhỏ như sợi chỉ, một đầu nó bám chặt vô chum, một đầu kia ngúc ngoắc theo nước lượn sóng nhấp nhô, thấy mà sợ! Tôi không dám xài cái chum đựng nước dự trữ lâu ngày. Muỗi lại truyền cả xóm bệnh sốt rét, mà thuốc ký ninh không có. Ai đau bệnh gì, khi đi khám bệnh cũng chỉ dùng: lá sống đời, xuyên tâm liên, hoàng bá, cắt cánh, hay cam thảo, là đại sang rùi.

                              Đa số dân hầm bo bo mất cả buổi lại tốn nhiều củi, bo bo ăn cứng thay cơm, vì nhà nước không bán gạo, nên ta đành làm "dân niên xô" (Liên Bang Xô Viết) ban đầu trên loa phóng thanh kêu cả Ấp đi mua bo bo, ai nấy đều cảm thấy hí hửng mừng rỡ như vớt được của lạ! Bởi lẽ là chưa có ai từng thấy bo bo bao giờ! không ai biết cách xử dụng, nấu nướng quá mất thì giờ. Về sau người nầy truyền khẩu, truyền tai cho người kia biết, phải xay bo bo mà nấu nướng pha chế đủ thứ kiểu, nếu chê bo bo thì đói rã rời, chịu sao nỗi! Nhưng phải là "dân thứ xịn" cơ! nghĩa là "ta lao động tốt" mới có tem phiếu mua bo bo à nha. Thế là món bo bo hầm nguyên hột với muối, ăn chán & chê, vì khó nuốt và không hợp khẩu vị với dân Việt Nam. Bo bo đem đi ra máy xay lúa xay nhuyễn thành bột, về nhà nhồi nước sôi cán bột thành từng lá mỏng, xắt thành sợi nấu cháo bánh canh + muối. Khi tôi khuấy bột bo bo làm bánh xèo ăn với rau chắm nước muối, sang tí thì có nước mắm ớt tỏi đường. Có nhiều lần tôi vo viên bột bo bo, giả làm bánh bao, xíu mại là những hột đậu phụng và ít củ sắn (củ đậu). Ăn bo bo không ngờ nó lại bị nóng kinh khủng, không như gạo nấu thành cơm, hoặc bột gạo. Vì thế ai nấy đều sinh ra ghẻ lở tùm lum, ai ai cũng bị nóng ruột nóng gan cồn cào, rôm sảy, ghẻ ngứa, lở loét, da thịt mủ nhớt nhờn chảy ra rít rít lầy lụa, hôi tanh khắp thân thể. Nhứt là ở mấy đầu kẽ tay, kẽ chân mông háng thì… bầy nhầy máu mủ, kinh khủng lắm.
                              Thuốc điếu phải mua bông.
                              . . . Hết gạo ăn bo bo.
                              Học trò không có tập.
                              Độc Lập với Tự Do .
                              Nằm co mà hạnh phúc! (2)

                              Kể cả “cán bộ bạn dân” cũng ngứa ngáy, khó chịu nhức nhối, họ đứng ngồi nhúc nhích không yên khi "họp hành bầu bán"! Nay tôi mới hiểu tại sao trước khi tôi "bị"... thì "mấy ổng mấy bả" đã được đảng "ưu tiên" phát bo bo cho ăn trước dân, nên bi giờ họ càng "lậm", như chó thiến bị nhét mãnh chai, như đứng trên tổ kiến lửa, họ ngồi họp hành, thì hai tay bận móc móc, gãi gãi ở chỗ ngứa lia lịa, quỉ tha ma bắt thiệt! Càng gãi càng ngứa rần! Hai tay liên tục đánh đờn… bùm búm bum… tằng tắng tăng... từng tứng tưng... và vỗ muỗi như vỗ cái trống cơm bộp bộp bộp riết… Từng đám da sần sùi đỏ ửng, từng cục máu mủ lầy nhầy, sưng húp. Bầy ruồi o o o… bu quanh người có ghẻ chóc tha hồ hút máu mủ, rồi chúng lang thang bay đi khắp bốn phương trời, tha bệnh truyền nhiễm sốt rét lây qua cho kẻ khác càng mau ác liệt hơn.

                              Ngao ngán nhìn nhau lợm giọng muốn ói và muốn nổ con mắt. Kinh tởm quá! Hầu hết mọi người trong xóm nghèo của tôi đều bị ghẻ chóc. Nạn chuột, gián, ruồi, muỗi, rệp, chí, rận: thì ôi thôi sinh sôi nẩy nở lúc nhúc, tràn lan! Chẳng có cách gì tiêu diệt chúng! Ai cũng như ai “cùi” rồi không sợ “hủi”; nên “ta” hết co ro cú rú, hết biết mắc cỡ, xấu hổ, e thẹn làm gì cho mệt! Chẳng ai sợ lây căn bệnh gớm ghiết nầy, họ rủ nhau ra bờ sông tắm gội, rửa ráy, kỳ cọ. Họ ngâm mình trong nước cả giờ, vẫn không thấy “đã ngứa”. Rồi họ leo lên ngồi trên bờ kè phơi nắng, kỳ cọ. Họ tự nhiên lột quần dài áo cánh ra phơi trên bụi cây. Đàn ông có phần dễ chịu "thái mái" khi ở trần, mặc quần đùi lỏng dây thun xề xệ. Đàn bà cũng "thổn thển" ở trần, chỉ mặc xì líp cũ mèm! Họ hong khô người dưới trời nắng như thiu đốt, ai nấy lo cúi xuống lột từng lớp vảy trên các mụt nhọt ửng đỏ. Tiện thể một công hai ba chuyện: họ tắm, giặt giũ, không có xà bong, tiêu tiểu cũng trong dòng sông đó. Chính từ nơi vừa tắm rửa, ngâm mình, họ gánh hai thùng nước về nhà, để dành uống nước mát. (!?)

                              Tôi hình dung họ giống những con khỉ đột trọc lóc đầu, mặt đỏ đít chai ưa gãi sột sột trong sở thú. Tôi không dám nhìn họ, phải lờ ngó lơ đi chỗ khác và lắc đầu muốn gãy cần cổ, mà ngao ngán, nhưng với trí tưởng tượng phong phú của mình, nếu tôi phì cười... thì họ tính sao đây, có lẽ họ... rượt tôi chạy có cờ về nhà buông gàu xuống cái giếng nước do tự mấy đứa con mới đào lên chăng? Dù cả đời tôi trọng danh dự và tình, còn cả đời “các bác ấy” không trọng chi ngoài lo âu về tiền! Vốn dĩ quá nghèo hèn, nhưng tôi muốn bình lặng, an ổn khi đổi đời đi lượm lặt móc moi mọi thứ. Kể từ đó trong làng trên thôn dưới đã "thân thương" đặt cho tôi cái biệt danh thiệt bình dân giáo dục: "mít đót”:
                              Ở với Hồ Chí Minh.
                              Cây đinh phải đăng ký.
                              Trái bí cũng sắp hàng.
                              Khoai lang cần tem phiếu. (2)
                              ***
                              Khi mấy cán bộ “mượn tạm” (của dân đã trốn ra nước ngoài), họ để lại biết bao của nổi: nào nhà lầu xe hơi, xe honda, đất đai và của chìm còn chôn dấu kỹ trong nhà, chưa kịp đào bới moi móc lên. Công an, bộ đội, cán bộ có cần câu tà lọt điềm chỉ, rủ nhau đến nhà dân làm biên bản tịch thu gia sản. Rồi ít lâu sau nhà nước lại làm biên bản chia chác nhau bốc thăm: nhà cửa, xe cộ, ti vi, tủ lạnh, máy móc điện tử, bàn ghế, giường nệm, thậm chí cả cái quần xà lỏn cũng bị bốc thăm, hầu hưởng xái thừa của “tàn dư đế quốc” để lại. Người thân ruột thịt của tôi (và chính tôi) ở trong những ngôi nhà đồ sộ, có chút máu mặt, thì coi chừng bị chụp mũ, gài là: ở lại để phản động liên lạc làm “ăng-ten” móc nối với tư sản. Bị "đôi mắt cú vọ bạn dân" dòm ngó, lưu ý, “hỏi thăm sức khỏe”, thì dân ngu khu đen phải chìa hai tay ra, cúi đầu biếu không, cho không, dâng hiến nhà nước.

                              Như trường hợp ông bà Tư Cóc (chị tôi) có năm người con trai đều có vợ con đùm đề, gia đình họ chả có ai đi Tây, đi Mỹ, đi Đức gì cả, anh chị Tư có ba cái nhà đồ sộ, một nhà họ đang ở. Một nhà cho con ở, một nhà cho thuê. Nhưng công an phường khóm buộc anh Tư Cóc phải lên “Thành” làm giấy “dâng hiến” nhà nước... cho “đi đứt” hai cái nhà. Thì, ít lâu sau có vợ chồng người Tàu (chủ đồn điền cà phê giàu nổi tiếng, gồm mười sáu người: vợ chồng con cháu), do nhà nước cần trưng dụng ngôi biệt thự của họ, nên gia đình ông ta “được” nhà nước đẫy họ về ở chung đụng chui rúc đông đen trong khu đất nhà anh chị Tư. Nếu khán chỉ, cán bộ công an không ngại ngần tống khứ họ ra đường, hay “nhân đạo” cho xuống ở bên xó chuồng trại gia súc sau hông nhà.

                              Anh Tư Cóc được thành ủy phát tấm giấy khen, ưu tiên hộ trong nhà họ được mua duy nhứt một lần: nửa ký thịt ba chỉ, một ký ruột heo, một ký gạo nếp, ký thèo lèo cứt chuột, hai mét vải nội hoá màu mè hoa lá cành. Cũng ưu tiên lắm, nên chị Tư Cóc được mua hai (2) mét vải dù đen. Trong khi đó cán bộ Ấp ưu tiên gấp 10 thường dân Nam-bộ. Cán bộ cấp Huyện ưu tiên gấp 20 lần Ấp. Cán bộ cấp Thành thì ôi thôi… ưu đãi gấp 20 lần cán bộ Huyện. Cứ thế, mà làm tính nhân lên (tôi phải ghi rõ con số: 1, 10, 20 cho chính xác mà nhân, mà cộng, thay vì viết thành chữ: một, mười, hai mươi, không thể nhân cộng nhập nhằng).
                              * * *
                              Tình Hoài Hương


                              (1) Hp-TnT
                              (2) Thơ sưu tầm lượm lặt đó đây
                              Last edited by Tinh Hoai Huong; 08-01-2020, 06:13 AM.
                              Bút trần nào tả được lưu luyến!
                              Thơ trần đành cam chịu vô duyên...
                              Tình Hoài Hương

                              Comment


                              • Chị Tình Hoài Hương,
                                Góp ý về thành phố Nha Trang, còn có quân trường Đồng Đế, trên đỉnh Hòn Khô của núi Cô Tiên có bức tượng trắng mà không biết ai sáng tác ra hai câu thơ: "anh đứng ngàn năm thao diễn nghỉ, em nằm xõa tóc đợi chờ anh ". Sau 75 thì chỉ còn lại câu sau, vì tượng anh đứng ngàn năm thao diễn nghỉ đã bị đập bỏ, dãy núi Cô Tiên nhìn từ xa như một thiếu nữ nằm xõa tóc, không biết giờ ra sao?
                                Last edited by hoang yen; 08-02-2020, 11:27 AM.

                                Comment

                                Hội Quán Phi Dũng
                                Diễn Đàn Chiến Hữu & Thân Hữu Không Quân VNCH




                                website hit counter

                                Working...
                                X