Thông báo

Collapse
No announcement yet.

Tôi Làm Tôi Mất Nước (Chương 11 - Chương 14 Kết)

Collapse
X

Tôi Làm Tôi Mất Nước (Chương 11 - Chương 14 Kết)

Collapse
 
  • Filter
  • Giờ
  • Show
Clear All
new posts

  • Tôi Làm Tôi Mất Nước (Chương 11 - Chương 14 Kết)


    Chương 11
    Ấy thế là cuộc đời của tôi gắn liền với cái trạm xăng Amoco có hơn chục vòi bơm, có ga-ra sửa xe và có máy rửa xe hút bụi. Tôi bầu bạn với Mỹ trắng, Mỹ đen với Mễ thuộc đủ tầng lớp xã hội, đủ mọi thành phần già trẻ nam nữ. Quanh quẩn bên mình là cái máy đo bình điện, máy xạc ắc-quy, dầu mỡ, lốp xe, kìm búa, mỏ lết, kích, giây điện, bu-gi... Trang bị bản thân với chiếc quần mầu xanh, cái áo sơ mi trắng cộc tay có nhãn hiệu Amoco, túi sau nhét chiếc khăn lau nhỏ mầu cam toòng teng, tôi chạy qua chạy lại, lạch bạch như con vịt bầu. Thân hình đã thấp bé lại đa mang cái tuổi già tóc ngả muối tiêu, nom mình chả giống ai thì chắc bạn bè có ai trông thấy hẳn cũng động lòng trắc ẩn. Đành rằng ở cái xứ người văn minh tân tiến, một anh trước rửa bát hoặc chăn bò, hoặc đóng phim xi la ma mà sau nhờ ôm chí lớn, gặp thời cơ vẫn có thể thành nguyên thủ quốc gia và lấy làm hãnh diện về cái thuở thiếu thời, hàn vi với những thành tích lẹt đẹt như thế. Nhưng mình là người phương Đông, sau lại học cái học bên Tây cho nên đầu óc bao giờ cũng phân ngôi thứ Sĩ, Nông, Công, Thương, Binh rất là lớp lang rành rẽ. Những giai cấp xã hội đã minh định phân miêng, không thể lộn xộn.

    Ngẫm trước kia dẫu gì mình cũng ngạch ngỗng như ai, mần việc chính phủ đình huỳnh, kẻ đưa người đón, vẫy vùng một cõi biên thùy. Đến nay, qua cuộc bể dâu, những điều trông thấy mà đau đớn lòng, đang thầy xuống thợ, đang ông xuống thằng, đang làm công dân Việt Nam Cộng Hòa bỗng thành kẻ tị nạn ngơ ngơ ngẩn ngẩn. Mọi chuyện đảo lộn tùng phèo. Gia đình ly tán, bè bạn trôi dạt như bèo như mây, như gió thoảng. Dẫu làm thân mất nước vẫn ôm khư khư cái dĩ vãng tô mầu vàng son rực rỡ lung linh, cho nên mới khổ. Và không muốn để ai coi mình hèn mọn nên đã thổi phồng, đánh bóng cái tôi để lừa dối mình, để mong người khác kính nể, tự mãn tự hào trong giây lát.

    Thế nên gặp Mỹ hỏi han ba điều bốn chuyện về Việt nam thì tôi khoa chân múa tay diễn tả thời cuộc chính trị, quân sự như một chính khứa. Mỹ hỏi về nghề nghiệp thì tôi có sẵn cái Rê-su- mê trong đầu, phóng ra nào là PhóÙ Tổng Giám Đốc Ngân Hàng, Giáo Sư Đại Học, Cố Vấn Hội Sư Tử, Chủ Tịch Đoàn thể...Một lô com pa nhi chức tước khiến Mỹ nghe xong cũng phải giây phút ngậm ngùi. Các nhà thờ, trường học, hội 'Li-Ông mời đếùn cơ sở nói chuyện, tất nhiên là tôi lịch sự từ chối. Bởi nếu tôi mà nói chuyên cho Mỹ nghe thì Mỹ sẽ vỡ mộng thiên đường, còn đâu là huyền thoại một anh cu-li bơm xăng đầy mình chữ nghĩa, hiểu biết và danh vọng ở Việt Nam!

    Gặp đồng hương lạ hoắc, tôi vẫn tự nhận là dân nhà binh, cấp bậc Trung Tá cho nó hách xì xằng. Này nhá, cái hồi đi Thủ Đức, sau 3 năm tôi đã đeo hai bông mai vàng. Nếu ở lại ngành cho đến khi mất nước, vị chi sơ sơ 8 năm, thế nào chả lên ít ra là Thiếu Tá. Mấy thằng bạn đồng khóa, chúng nó đeo mai bạc gần hết đấy chứ!

    Nếu không mất nước, ba bốn năm nữa làm chi chả lên Trung Tá, Đại Tá mấy hồi. Tôi cứ trung dung chi đạo, nhận Trung Tá là nhũn nhặn. Chả bù với bà cụ già cùng tỉnh Lakeland, mới gặp cụ ấy đã khoe rằng con rể bà cụ là Mỹ, nó mần việc với ông Tướng có hai ngôi sao, tức là thân cận với xếp, làm lớn lắm. Sau lòi ra hắn là Trung sĩ hầu cận ông Tướng chứ lớn lao cái khỉ mốc gì đâu. Ấy, chỉ hù nhau như thế cho đời mua vui và hy vọng một chút gì. Chưa bằng thằng bạn học cũ của tôi, hồi ở Việt Nam làm sở Mỹ mà khi qua Mỹ gặp nhau nó bảo bay giơ øvẫn làm sở Mỹ lớn lắm, trong hãng có cả ngàn người mà nó đứng hàng thứ tư, thứ năm cơ mà! Tôi nghe quả thực là hãi và phục no ùsát đất. Sau mới biết rằng nó vẫn làm cái chân lèng tèng phiên dịch chứ có làm ông làm cha ai đâu! Mình đã là thằng chuyên môn phóng đại tô mầu, thế mà có bữa đụng ông bạn đồng hương, bà vợ khoe ông hồi ở Việt Nam có mấy cái bin-đinh cho Mỹ thuê, còn gia đình ở vi-la đường Cách Mạng. Ông chồng khoe làm việc sát Tổng Thống, coi ra vẻ trịnh trọng. Bẵng một dạo, tình cờ tôi lại nghe về gia đình ông bà này lộn xộn, thiên hạ bới chuyện kể cho vui mới tiết lộ rằng gia đình này ở thuê trong hẻm Trương tấn Bửu, gần phở gà Nam Xuyên, chồng làm Tống thơ văn Phủ Tổng Thống. Những cảnh hù nhau như thế dã chẳng giữ được bao lâu, cũng chẳng no béo vinh hoa gì mà chỉ làm trò cười cho thiên hạ. Rất may, Mỹ không có khoản thuế nào đánh thuế những đứa nói khoác, chứ không ngân sách Mỹ biết đâu chả nhờ thế mà trang trải hết nợ nần.

    Sau này, sống trên đất Mỹ lâu hơn, tôi hiểu rằng cái thang giá trị của người nó khác ta. Xứ người, có đủ điều kiện, đủ sức khỏe, đủ tiêu chuẩn, đủ khả năng và có thêm chút may mắn là bắt được dóp. Dóp tốt hay xấu, nặng hay nhẹ, lương cao hay thấp tùy nơi, tùy việc, tùy người. Người có việc đều đặn, nhiều crê-đít tốt là người ấy được nhiều nơi chiếu cố mời mua nhà, mua xe, mua đồ đạc, máy móc, mua cả ngàn thứ tiện nghi, tân kỳ tưởng chừng như chỉ có trong thần thoại...

    ***

    Thời gian thấm thoắt như thoi đưa khung cửi, như bóng ngựa phóng qua mành, mới quay đi mà ngoảnh lại đã ba, bốn năm quê người lủi thủi tấm thân. Một tháng đôi ba kỳ tôi vẫn cứ mơ về chốn cũ để nhớ để thương để buồn để tủi. Trong cơn mê, chập chờn bóng dáng của cha già còm cõi hắt hiu, ba mươi năm chưa thấy mặt thằng con bất hiếu. Khi mộng mị, gặp những bóng ma leo đèo lội suối phá rừng thi đua cải tạo. Thấp thoáng đây đó những ánh mắt quen thuộc, hình như ngày xưa cùng đơn vị, cùng nhiệm sở với mình mà nay thân tàn ma dại tù đầy lao tác lầm than. Lúc thoát hồn nhìn rõ những đứa nằm vùng, những tên công an, những thằng đi dò la rình mò bắt bớ giam cầm, những vùng mang tên kinh tế mới của chế độ có tên kinh tế thụt lùi, những khoai sắn bo bo thế chân gạo Nàng Hương, gạo Tám Thơm, gạo nanh chồn, gạo dự. Cuộc sống được bủa vây bằng một bức màn tre đầy chông gai, hầm bẫy và bao trùm bởi một tấm màn đen vĩ đại rợn người.

    Có lần, tôi mơ bị cộng sản lùa vào trại cải tạo hành hạ sỉ nhục không xong, chúng nó lôi tôi ra bãi đất dùng mã tấu chém đầu. Thanh mã tấu vừa giơ cao, tôi vùng vẫy hét lớn và tỉnh mộng. Mồ hôi trên trán nhỏ giọt. Vừa lúc thức dậy đi làm! Có lần tôi mơ được trở lại thăm nơi chôn nhau cắt rốn là tỉnh nhỏ bé Hải Dương, ra bờ sông leo lên con đê đi tới tận Bến Bè,ø Cống Trắng, cầu Phú Lương...Rồi thoắt cái có mặt tại Hải Phòng, lượn qua đường Cát Dài, phi trường Cát Bi, ăn kem Thủy Tinh, ra vườn hoa Con Cóc...

    Theo quốc lộ số 5, tôi ghé Bần Yên Nhân, vượt cầu Long Biên bắc ngang sông Hồng Hàvào thủ đô ngàn năm văn hiến Hà Nội. Cái chợ mà tôi thích nhất là Chợ Đồng Xuân, quà bánh ngon số một. Khu Hàng Đường, Hàng Đào, Hàng Ngang tấp nập bán buôn. Khu Bờ Hồ Hoàn Kiếm có cầu Thê Húc, đền Ngọc Sơn, Tháp Rùa, có xe điện chạy leng keng khắp nẻo đô thành.Vùng Bách Thảo, Hồ Tây có bánh tôm, bơi thuyền, có Đền Quan Thánh. Hà Nội có nhà hát lớn, lâu lâu lại tuyển lựa ca sĩ, lại diễn kịch Bến Nước Ngũ Bồ, Vân Muội, Tiếng Trống Hà Hồi, sau có Ban Thăng Long trình diễn ca nhạc vui như ngày hội lớn. Hà Nội có tới năm cửa ô xưa, có đến ba mươi sáu phố phường, có cả ngàn cô gái đẹp nõn nà, đài các, kiêu sa. Hà Nội có trường Chu Văn An, trường Nguyễn Trãi, trường Trưng Vương, trường Puginier, trường Albert Sarraut...Hà Nội có Tháp Bút, Văn Miếu, Gò Đống Đa oai linh hiển hách.

    Tôi được sống trong mơ với những kỷ niệm học trò bát ngát hương hoa, với những tham lam quấn quít vấn vương của thời trẻ dại. Những hình bóng xa xưa ấy cứ nương náu quẩn quanh trong vô thức để những lúc sắp quên hay những chiều tưởng nhớ thì kỷ niệm lại ồ ạt tuôn ra tựa thác lũ mưa ngàn. Nhất là khi thu tới đông về, khi hoa cúc, hoa đào chúm chím môi chào chờ đón chúa Xuân sang.

    Để diễn tả nỗi nhớ nhung vời vợi ấy, tôi nẩy nòi ra ý định làm thơ. Và căn cứ vào câu nói Mỗi người Việt Nam là một thi sĩ, nên tôi luận lý theo tam đoạn luận rằng Tôi là người Việt Nam. Vậy tôi đích thực y boong là một thi sĩ. Bèn phóng bút moi vần chờ điệu ra cái điều ta đây cũng văn nghệ văn gừng.

    Nhân dịp năm con Ngựa sắp qua, năm con Dê tựu chúc, tức năm 1979, tôi thừa thắng xông lên mần một bài Phú kể lể cà kê dê ngỗng như mang nặng tâm tư chất ngất u hoài, phong kín nỗi buồn ảo não tang thương. Sợ rằng bài Phú không đúng khuôn phép, vi phạm các điều cấm cản, tôi gọi là Phú... tự do để tiện đường vi vút vẽ vời. Lại lựa vận A cho dễ dàng ê a hợp điệu.

    Và đây là bài Phú...tự do của tôi sau bốn năm tỵ nạn, với tựa đề:

    XUÂN VIỄN PHƯƠNG
    Ngựa dọt đấy a?
    Dê sang đó hả?
    Trộm nhớ thuở giang sơn có bốn ngàn năm lịch sử gấm hoa
    Nghe rằng xưa dòng dõi Rồng Tiên, toàn liệt nữ hùng anh chí cả

    Đất nước mến yêu, này đây: Huế, Saigon, Hà-Nội, Thiên Mụ, Lăng Tả Quân,
    Chùa Một Cột, Chùa Hương
    Cơ đồ báu vật, ô kìa: Hương Giang, Trà Khúc, Cửu Long, Đồng Nai, Kinh Cái Sắn,
    Sông Hồng, Sông Mã

    Chả biết tại nàm thao chiến chinh cứ mù mịt rối bời
    Đâu có hiểu thế lào tang thương còn nát tan vất vả
    Đến nỗi đời trai bỏ thây chiến địa
    Để cho má đào tàn một kiếp hoa

    Đàn trẻ nhỏ lạc loài thiếu nơi nương tựa
    Lũ em thơ thui thủi không chỗ vào ra Rồi bỗng một ngày chướng khí âm u,
    quân Cộng tràn về bắn vào thành phố
    Té ngửa ra rằng bọn chúng chính là lũ quỷ hiện hình ôm súng AK

    Tháng Tư Đen, Việt Nam chìm trong ngục tối
    Bốn năm buồn, đoàn người lê gót bôn ba
    Những tưởng qua đây văn dốt vũ dát, ngây ngô như mán xá gà tồ
    Ai ngờ thấm thoắt đã vi vút tiếng Mỹ tiếng Tây ăn đong quá xá!

    Người lớn đi làm thì chủ mến xếp yêu, lương tăng cái rụp
    Trẻ con học hành được thầy nựng cô chiều, chiếm độc hạng A
    Tìm bạn tri âm, đó đây thanh niên thiếu nữ
    Họp bạn lão niên, nọ kia bà cả ông già

    Chợ búa Á-Đông mọc lên còn mau hơn nấm
    Sách báo An-Nam phát hành đẹp tựa muôn hoa
    Các mợ các em nấu nướng đan may thảy đều số dách
    Nhiều bác nhiều bà tứ đức tam tòng liệt phụ khả gia

    Đến nay dân tị nạn ta
    Vẫn nghe nhạc Phạm Duy nỉ non lời ru Việt-Nam ngàn năm bất diệt
    Thường khóc cùng Thái Thanh ngậm ngùi tiếng hát muộn phiền cay đắng thiết tha

    Vẫn ăn cơm nước mắm
    Vẫn rau muống quả cà
    Đau niềm đau ruột thịt
    Xót tình mẹ tình cha

    Ngoài kia Xuân, trời đất cỏ cây đẹp như tranh vẽ
    Trong lòng sầu, gió trăng mây nước buồn tựa sân ga
    Tuy sống ấm no
    Vẫn vọng tưởng quê nhà

    Vẫn tâm tư buồn bã
    Thương mấy chục triệu đồng bào đói rách ốm đau
    Nhớ bao nhiêu vạn con người lầm than tơi tả

    Tìm Tự Do, vẫn có kẻ thuyền mành hát khúc viễn du
    Gọi Nhân Quyền, chả thấy ai, chỉ toàn bóng chim tăm cá
    Nghĩ lắm lúc miệng hộc máu tươi, đầu óc nát như tương
    Lại suy ra tay đứt ruột mềm, lệ đầm rơi lã chã

    Ngán nghỉ!
    Cuộc đời đôi ngả
    Dâu bể phong ba

    Sao không nghĩ trăm năm là mấy, để rắc reo tình thương xóa bỏ hận thù
    Mà cứ hành thân xác ốm o, rồi đấu tố tùm lum hỡi quân Hà Bá?
    Chả có nhẽ mãi tang thương ngẫu lục để khiến cho cả nước căm hờn
    Đã hay rằng dù vật đổi sao dời thì cứ biết toàn dân sẽ khá

    Nay dịp Xuân sang
    Xin gửi nhớ thương chất ngất nghẹn ngào về nơi đất tổ quê cha
    Xin bình yên lặng ru những tấm lòng héo hon tàn tạ

    Xin gửi các chiến sĩ Phục Quốc Quân
    Thêm cảm mến kính yêu vào niềm tin sắt đá
    Bởi chính các anh
    Là những thành trì xây dựng giang sơn đấy ạ!

    Xin khẩn cầu Thượng Đế
    Nam mô Phật Thích Ca
    Ban ân phước độ trì chúng con

    Đám con dân vẫn ước mơ có một ngày về bến cũ cây đa
    Có con đò êm ái triền miên trên dòng sông ơ hờ đầy tôm đầy cá
    Xin đoàn tụ yên vui đến với những người chờ mẹ mong cha
    Xin vợ chồng anh em nâng chén men say bên cạnh ông bà

    Xin vì tình yêu nhân loại đậm đà
    Phổ biến Nhân Quyền như quảng cáo Coca
    Xin cho nhau tình thương, bởi tình thương rộng rãi thiết tha
    Và hai nữa, bởi nó lại còn rẻ hơn nước lã!

    Chỉ ước mơ niềm ước mơ nhỏ bé thế thôi
    Tràn vào Việt-Nam từng bao nhiêu năm lầm than vì bị chiếu sao quả tạ
    Để ấm no, đoàn tụ, tình thương về dưới mái nhà

    Và cuối cùng:
    Xin Ơn trên phù hộ chúng ta...
    ____________________________

    Chương 12
    Bốn năm lưu lạc , tôi chưa làm được gì cho ra hồn, ngoại trừ miếng cơm manh áo. Với đại gia đình bên kia đại dương đang sống đọa đầy trong hờn tủi xót sa, tôi cũng không có lấy một cánh thư xuông an ủi.

    Mà thực ra, tôi biết nói gì?

    Nói về gia đình mình ư? Thì phải mô tả nhà có 2,3 phòng, có điện thoại, có nước nóng, có máy lạnh, có TV mầu, có vườn trước sân sau cỏ mọc xanh rờn. Nha ở cạnh hồ lớn có bè rau muống, có thuyền đi câu, có gió mát trăng thanh, hương hoa bưởi hoa cam thơm lừng một vùng trời an lạc.

    Kể về tiện nghi ư? Thì nào là xe hơi Huê Kỳ chạy êm như ru, chợ búa gần gũi, thịt thà, rau đậu, sữa, trái cây ê hề, mùa nào thức đó. Quần áo giầy dép thì đủ kiểu đủ mầu cho hợp thời trang. Phấn son mỹ phẩm tha hồ chọn lựa. Chuyện học hành của con cái ư? Thì có nhà nước lo xe đưa đón hàng ngày, lớp học mát mẻ sáng sủa, lâu lâu lại có nghỉ lễ, nghỉ chơi, nghỉ hè, cứ tuần tự là lên lớp. Còn cái mục học trò Việt Nam chăm chỉ, lễ độ, thông minh, giỏi toán, giỏi cả Anh văn, cuối năm thường đứng đầu lớp thì đó là chuyện thường tình.

    Hay là kèm theo thư, gửi về nhà một vài tấm hình lưu niệm ư? Thì hình là hình mầu, người là người từ tiên giới đầy đủ ấm no... Người ở bên nhà đang chật vật, đói rách với hộ khẩu, với kinh tế mới, đang thất điên bát đảo với hội họp, kiểm thảo, tự khai và bắt bớ rình rập, nay nhận thư nhận ảnh ngoại quốc, bỗng so sánh như địa ngục với thiên đường, ắt kẻ ở lại đau khổ dập vùi thêm, thất vọng hơn chứ nào có xoa dịu được chút nào đâu?

    Thành thử, chỉ có những gói quà lớn nhỏ, tùy khả năng tùy hoàn cảnh mà an ủi gia đình là xem ra cụ thể và có giá trị hơn cả.

    Cũng có người ở nhà bảo rằng chỉ mong thư từ hình ảnh của kẻ ở miền xa mà thôi, chứ đâu có cần quà cáp mà không thấy hồi âm.

    Nhưng sự thực đắng cay là cho dù những người có tư cách nhất, đạo đức nhất, tự ái nhất, một khi đã sống dưới chế độ cộng sản do nhà nước quản trị giám sát cái dạ dầy, kiểm soát thanh tra luôn tư tưởng thì con người đã mất đi tất cả tự do và bị lệ thuộc nhiều vào miếng cơm miếng khoai, củ sắn.

    Nên dẫu quân tử Tầu cách mấy, vẫn mơ ước những giúp đỡ, tiếp tế dù to dù nhỏ từ ngoại quốc gửi về.

    Như kẻ sắp chết đuối vớ được tấm gỗ, thanh củi hay đám bèo, cái gì cũng quý. Bởi đó là sự sống, đó là hy vọng.

    Tôi chưa làm được chuyện gì ngoạn mục với gia đình, lâu lắm mới có tí quà về biếu ông bố già cô độc. Với đàn em , đàn cháu, tôi xa cách chúng nó mấy chục năm lưu lạc giang hồ, cái tình ruột thịt đâm ra cách xa, hầu như đến độ vô tình và tự cảm như vô trách nhiệm.

    Lũ em tôi dẫu sống từ tấm bé dưới chế độ cộng sản, được nhồi sọ khá đủ các giáo điều, vẫn ôm mộng một ngày nào đó vượt biển tìm tự do.

    Tôi chả dám khuyên chúng nó nên ở hay nên đi, chỉ biết qui vào số mạng. Đứa nào thoát được ngục tù thì đứa ấy may mắn. Qua đến đảo là tôi có bổn phận bảo lãnh, lúc đó tôi trách nhiệm đã đành.

    Chuyện vượt biển đã là chuyện có thực xẩy ra hàng ngày tại Việt Nam. Trước năm 1975, chả thấy ai hành trang lên tầu lớn tầu nhỏ ra khơi qua Thái, qua Mã Lai, qua Úc, qua Phi, qua Nhật...

    Mà chỉ từ khi cộng sản chiếm miền Nam mới thấy ào ào thuyền nhân liều lĩnh đi tìm tự do.

    Những con thuyền gỗ mỏng manh chứa mấy chục người già trẻ lớn bé. Người lái tầu chưa từng đọc địa bàn, không hề biết sửa máy móc. Aáy thế mà họ vẫn ra đi, một liều ba bẩy cũng liều. Con thuyền trong đại dương còn nhỏ bé hơn chiếc lá tre trên sông lạch, lại sóng nước bao la dập vùi xô đẩy, lại bão tố ngập trời. Vực sâu, miệng cá vẫn đợi chờ rình rập. Họ vẫn ra đi.

    Trên đại dương, ngoài sóng to gió lớn biển sâu cá dữ, còn có một thứ dữ hơn cả thiên tai, ấy là bọn hải tặc. Bọn chúng đã cướp bóc, hãm hiếp, bắt cóc, thủ tiêu không biết bao nhiêu thuyền nhân.

    Trước thảm trạng đó, lương tâm nhân loại hầu như vẫn ngủ im lìm.

    Tôi thường nghe chuyện thương tâm, đau đớn về thuyền nhân nhưng trong lòng chẳng mảy may xót thương, lo lắng. Bởi những người chịu thảm trạng đó chẳng ai là ruột thịt của mình. Nên bình chân như vại.

    Cả đến những công cuộc lạc quyên giúp đỡ trại tị nạn, tiếp tế cho thuyền nhân, cứu vớt người vượt biển , các công tác xã hội, y tế để an ủi đồng bào kém may mắn, tôi cũng đều không tham gia, không đóng góp đồng nào. Tôi nghĩ rằng nhu cầu thì nhiều, mình có giúp cũng như muối bỏ biển. Hai nữa, nếu tôi giúp thì tiền ấy liệu có đến tận tay nạn nhân hay lại trôi dạt phương nào? Ngoài ra, quanh tôi còn biết bao nhiêu kẻ tiền rừng bạc biển đã thấy nhúc nhích đóng góp gì đâu?

    Với các tôn giáo như Phật Giáo, Công Giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo, tôi ít khi lai vãng tới chốn tôn nghiêm. Thôi thì bên cha cũng kính, bên mẹ cũng vái, mình bận rộn quanh năm, đâu có thời giờ đi lễ.

    Chưa lần nào tôi đóng góp cho chùa để cầu phước cầu an. Còn những hoạt động xã hội, tôi lại càng không mấy quan tâm ủng hộ.

    Những ngày Quốc Hận, cộng đồng tổ chức kỷ niệm ngày bỏ nước ra đi, bầy tỏ niềm nhớ quê hương, xót sa thân phận những người ở lại, những người bị đày ải giam cầm hành hạ nơi các trại cải tạo tập trung, dành một đêm không ngủ, với chương trình văn nghệ đấu tranh để nung nấu ý chí hờn căm phục hận, mong một ngày về thì tôi cũng nhớ đấùy nhưng nghĩ có tham gia thì chưa chắc đã chết thằng cộng sản nào cho nên nằm nhà nghỉ khỏe để còn giữ sức đi cầy.

    Những đám mít tinh, biểu tình lên án chế độ cộng sản đã được nhiều giới tham dự, dù trời gió trời mưa, dù phải lái xe hàng mấy chục dặm đường mới đến nơi, dù phải nghỉ việc một buổi làm, dù có người già vẫn chống gậy lẽo đẽo theo con cháu, dù có kẻ con thơ bế ẵm trên tay cũng cầm thêm được lá cờ quốc gia để bầy tỏ lập trường. Các đài truyền hình địa phương đã quay những cảnh hội họp và chiếu trên ti-vi, tôi vẫn theo dõi đầy đủ cả đấy chứ!

    Lớp người trẻ sang đây rất dễ hội nhập với cuộc sống Aâu Mỹ mà có cái lạ là làm sao họ vẫn thiết tha với Việt Nam. Bằng cớ là chính lớp trẻ thường đứng ra tổ chức Giỗ Tổ Hùng Vương, kỷ niệm các bậc anh hùng hào kiệt, đảm trách chợ tết, lo văn nghệ liên trường, mở các lớp dậy Việt ngữ cho thanh thiếu nhi, làm báo, sinh hoạt tập thể.

    Họ làm việc rất hăng say dù ít được người lớn làm cố vấn, yểm trợ. Họ làm việc với tinh thần tuổi trẻ, với trách nhiệm tự đề ra, với lòng nhiệt thành và tình yêu mến quê hương đã tiềm tàng trong dòng máu.

    Những khi đi dự lễ, đi coi chương trình văn nghệ do sinh viên tổ chức, nhiều lúc tôi cũng xúc động đến tràn nước mắt vì được nhìn lại hình bóng cố hương qua các màn ca nhạc kịch vui tươi, được nghe những âm điệu qua tiếng hát câu hò quen thuộc, được gặp gỡ đồng hương, được sống lại một mảnh đất quê hương trên đất nước người.

    Những giây phút ấy, thực tình là tôi quyến luyến Việt Nam, vui cùng tập thể.

    Rồi khi chia tay, cuộc sống thực tế lại kéo tôi về với bổn phận. Rồi mọi chuyện lại chìm sâu vào quên lãng.

    Đôi lúc nghĩ quẩn nghĩ quanh, tôi không biết mình là Việt Nam hay là Mỹ nữa.

    ***
    Đời sống bên những vòi xăng, lốp xe, kìm búa, dầu nhớt tuy không quá nặng nề nhưng tuổi đời chồng chât mỗi năm một tuổi như đuổi xuân đi, nó làm cho tóc ngả muối tiêu, mắt mờ chân chậm, còn hai cánh tay lực sĩ kiến càng ngày nào nay chỉ là hai que củi tong teo, bê cái lốp xe thấy như bê cái cối đá, dù cái lốp vẫn nặng có bay nhiêu thôi!

    Thế là tôi biết tôi đi xuống, tinh thần thể xác yếu nhiều. Nếu không mau tìm đường thoát hiểm thì chắc chắn có ngày xụm bà chè, tôi sẽ quỵ luôn ở cái tỉnh nhỏ đêm buồn này lúc nào không biết.

    Nhân một chuyến ngao du dịp hè qua tiểu bang Tếch Xịt, tá túc nhà bạn Nguyễn Hữu Hoán ở Houston (có mỹ danh là Hoán Tầu vì nom vóc dáng và phong cách, ai cũng tưởng hắn ta là người Việt gốc Chợ Lớn), hắn nghe tôi tả oán cuộc sống lam lũ vất vưởng nên động tâm bồ đề ra tay cứu vớt. Lại được bà vợ hắn rất dễ chịu dễ thương đồng ý sẵn lòng cưu mang bao bọc cho nên tôi quyết định bỏ nghề bơm xăng ở Florida để đi Texas làm nghề quét chợ!

    Quyết định mau lẹ đến nỗi lúc đi chào bạn bè, ai cũng cười tình cho là tôi rỡn chơi. Tôi phải làm ra bộ nghiêm nghị, thề thốt lúc đó họ mới tin là có thực.

    Về Houston, sau mấy tuần lễ ở nhà Hoán Tầu, hắn giới thiệu tôi với xếp lớn UTOTEM là mông sừ Lê Phú thịnh. Dăm bữa sau, xếp Thịnh thu xếp cho gia đình tôi quản trị một một tiệm U-Totem nho nhỏ.

    Thế là tôi lại có chân đứng khá vững vàng, có nghề ngỗng kiếm ăn. Bỏ nghề bơm xăng qua nghề chạp phô, tưởng giã từ xăng nhớt, ai ngờ nó vẫn cứ lẽo đẽo theo đuôi. Tiệm chạp phô này bán hầm bà làng đồ ăn thức uống, vật dụng linh tinh, có bán cả xăng nữa. Tôi lại phải kiêm nhiệm luôn vụ đo xăng, bấm máy, báo cáo xăng hàng ngày. Chỉ có điều là không phải giãi nắng dầm mưa, đứng tựa cây xăng nhìn trời mây non nước, còn thì trách nhiệm vẫn cứ như thường.

    Ba năm ròng rã làm mỗi ngày 18 tiếng liên miên, gia đình từng năm bẩy lần bị Mỹ trắng, Mỹ đen, Mễ cầm súng ngắn súng dài vào tiệm giơ súng bắt nạp tiền, có đứa lúc rút lui còn bắng pàng pàng lên trần nhà thị uy, giống như kiểu cao bồi miền Tây vậy.

    Vợ con xanh máu mặt, khóc ròng vì những cú Hít cốc lạnh người. Nhân lúc nhận định tình hình chạp phô người khôn của khó, lắm chuyện phiền hà, gia đình tôi lại thêm một phen giã từ vòi xăng, máy tính chạp phô để xoay nghề khác. Bỏ thì thương mà vương thì...hãi!

    Dãu gì cũng xin cám ơn thành phố có chạp phô đã nuôi mình no đủ.

    Làm nghề chạp phô cốt sao nhận hàng cho đủ, bán hàng đúng giá, bầy hàng cho đầy cho đep, giữ gìn cửa tiệm ngăn nắp sạch sẽ, tiếp khách niềm nở ân cần, thi hành chu đáo các chỉ thị của hãng, kiểm hàng không thiếu hụt quá mức ấn định, thế là tà tà kéo dài ngày giờ lao động dễ thương.

    Điều quan trọng nhất là giữ sao trong ấm ngoài êm, chớ có nổi nóng gây lộn, súng đạn đì đùng gây án mạng thương tích. Mọi chuyện cứ là thân trọng thiên kim chịu đựng, bình tĩnh để tránh nguy hiểm khi bị cướp đến viếng tiệm.

    Lúc nào rảnh tay buồn chân thì ta vận động thể dục thẩm mỹ bằng cách cầm cái chổi chà, cái hốt rác ra sân trước chợ, quét dăm ba cái rác rưởi, chai lọ, giấy gói sao cho tươm tất.

    Cho nên gọi nghề chạp phô là nghề quét chợ là vậy.

    Bỗng dưng bỏ tiệm, không mau tay là thất nghiệp như chơi. Tôi xoay đi làm công cho một tiệm bách hóa Mỹ. Lại cũng phải nhờ đến tay ông bạn cũ là Hoán Tầu một keo nữa, bởi hắn có mấy năm thâm niên mần việc tại nơi này.

    Cuộc đời tị nạn 7 năm, nghĩ cũng cám cảnh thiên địa phong trần, thấm thía cái buồn hải ngoại thương ca, tôi lại nổi hứng mần một bài thơ tức cảnh sinh tình, tự vịnh như sau:

    Chẳng phải là ông, chẳng phải thằng
    Khôn khôn dại dại, múa lăng nhăng
    Ba mùa Hạ héo đi lau chợ
    Bốn độ Thu tàn đứng đổ xăng

    Chữ nghĩa phất phơ sinh loạc choạc
    Học hành lẩm cẩm hóa lai căng
    Kèm nhèm mắt mũi đầu thêm bạc
    Lẩn thẩn ra vào hết tháng năm...


    ***
    Lâu lắm không có tin tức gia đình, một bữa tôi nhận được thư của chú em nói bóng nói gió rằng vợ chồng nó cùng thằng em thể nào cũng sang thăm các cháu bên này. Nghĩa là chúng nó tính đường vượt biển tìm tự do. Qua được đảo, có ông anh bảo trợ vào Mỹ thì yên chí rồi.

    Chú em tôi tốt nghiệp kỹ sư, vợ nó giáo sư, lấy nhau mới được 1,2 năm chưa có con cái gì. Cậu em kế độc thân, có bằng dược sĩ. Dẫu là sĩ hay sư thì dưới chế độ cộng sản, bằng cấp cũng như tờ giấy lộn. Đời sống luôn luôn bị đe dọa cả vật chất lẫn tinh thần, nói chi đến tương lai mù mịt. Chúng nó quyết tâm đi tìm tự do và biết rằng chuyện ra khơi nào cũng nayhiểm nguy, bất trắc.

    Từ khi nghe tin nhà, tôi đâm ra lo lắng không biết chúng nó đi đứng ra làm sao. Đồng thời tôi cũng phải chuẩn bị chỗ ăn chỗ ở cho chúng nó sang nữa chứ!

    Thế là mấy cha con tôi nhân cơ hội sắp tiếp đón cô chú tị nạn, bèn ra tay sửa sang lại cái ga-ra cho sạch sẽ, nối ống dẫn hơi lạnh, đổ thêm bông cách nhiệt trên trần nhà, gắn thêm đèn, kê thêm giường, bàn ghế cứ y như các cô chú ấy đã đến đảo, chỉ vài ngày nữa là qua Mỹ vậy.

    Tôi theo dõi tin tức Việt Nam, theo dõi tình hình đi biển, tình trạng thuyền nhân bên đảo Mã, đảo Thái, bám sát các hoạt động cứu trợ quốc tế.

    Rồi tôi nhận được một điện tín từ Việt Nam, nói ý rằng hai em trai và em dâu đã lên thuyền. Tôi bồn chồn xúc động, nửa mừng nửa lo, tối nào cũng thắp nhang chắp tay niệm Phật.

    Qua ba tuần lễ tôi không thấy tin tức gì. Đợi đến hơn một tháng, vẫn tuyệt vô âm tín. Một bữa đi làm về buổi chiều, tôi nhận được lá thư từ đảo gửi sang, hồi hộp như muốn vỡ tim. Đúng là thư của chú em tôi rồi mà sao bì thư lại đề tên người khác. Tôi xé vội thư, đọc vài hàng xong choáng váng mặt mày té xỉu. Vợ con giựt tóc, đổ thuốc, khóc lóc, gọi ầm ĩ làng xóm mãi mới tỉnh.

    Người viết thư là một thuyền nhân cùng đi chuyến vượt biển với chú em tôi, sống sót trên đảo, nhờ có địa chỉ em tôi dặn dò trước nên báo cho hay rằng cả ba đứa đều chết trên đảo san hô như báo chí có lần đăng tải. Chiếc thuyền trôi dạt vào đảo, không thức ăn không nước uống, rồi phải ăn thịt người để sống. Các em tôi là những nạn nhân cuối cùng, trước khi có tầu lớn phát giác tiếp cứu mấy người sống sót.

    Coi xong thư, tôi như kẻ mất hồn, như điên dại. Bỗng chốc mất đi ba kẻ thân yêu. Các em tôi dư biết về hải tặc cướp bóc, hãm hiếp, chém giết, vậy mà chúng vẫn chấp nhận để mong vượt thoát. Nhưng các em tôi không bao giờ lại có thể ngờ rằng sẽ bị phơi xương trên đảo san hô cả. Và không có đứa nào thoát nạn để ít ra còn được một nguời đến bến tự do.

    Từ khi chịu cái tang đau đớn đó, tôi bắt đầu suy nghĩ về nhân quả, nghiệp chướng, luân hồi, sắc sắc không không. Tôi thấy mình có trách nhiệm về cái chết của các em.

    Nếu tôi không làm tôi mất nước, thì đâu đến nỗi các em tôi phải vượt biển để chết thảm thương trên đảo san hô định mệnh.

    Cũng từ đó, tôi cảm thông được với những đớn đau của tử biệt sinh ly, biết thế nào là đùm bọc thương yêu, hiểu thế nào là tình đồng bào một nước.

    Và ngày rằm, mùng một lên chùa lễ Phật nghe kinh, tôi cảm thấy tâm hồn như được vỗ về an ủi, vơi đi nhiều khổ não u sầu của tục lụy trần gian...
    _____________________________________________

    Chương 13
    Dẫu được nghe kinh và chiêm bái hình ảnh từ bi bác ái của đức Phật tỏa ánh đạo vàng như thế, nhưng qua làn khói hương nghi ngút chốn tôn nghiêm, tôi vẫn thấy ẩn hiện những đôi mắt nhìn mình không chớp. Những đôi mắt mòn mỏi đợi chờ của mẹ của cha, những đôi mắt căm hờn của bạn bè trong trại cải tạo, những đôi mắt ngơ ngác của bầy em thơ dại, những đôi mắt khiếp đảm của thuyền nhân, những đôi mắt tuyệt vọng của nạn nhân bị bắt cóc, hãm hiếp, những đôi mắt cầu cứu của người ở đảo... Những đôi mắt ấy nhìn tôi hình như trách móc, khinh rẻ, oán hờn, kết tội, như có ý bảo rằng nếu không có những kẻ tồi tệ, ươn hèn, đốn mạt như tôi thì đâu có đến nỗi nước mất nhà tan, sẻ đàn tan gánh, đâu đến nỗi đau thương uất hận ngút trời. Những đôi mắt ấy theo tôi cả trong lúc ăn lúc ngủ, rong lúc tôi khiêu vũ, đánh bài. Những đôi mắt ấy ám ảnh tôi ray rứt, triền miên như các chứng nhân theo sát một tội đồ.

    Rồi đến một hôm, nhân đọc cuốn sách Cõi Tự Do của Giao Chỉ, tôi mới biết đích thực trăm phần trăm không còn chút gì ngờ vực nữa:

    Rằng chính tôi là một trong những thủ phạm làm mất nước!

    Giao Chỉ với tôi khác nhau một trời một vực. Lẽ tất nhiên, tôi là kẻ ở dưới vực. Cứ xét hồ sơ quân ngũ thì rõ: Ông này đi lính xuất thân từ quân trường Dalat nên tự nhận là lính trận và có bút hiệu là Lính chiến. Còn tôi, sinh viên sĩ quan Thủ Đức hùng anh - như lời bản nhạc của quân trường - nhưng về binh sở nên gọi là Lính văn phòng. Giá trị của lính chiến nghe vẫn oai hơn lính văn phòng rồi nhá!

    Ông này ở nhà binh, đóng tới lon Đại Tá là làm lớn lắm, ba bông mai bạc chớ bộ! Còn tôi lèo tèo hai bông mai vàng bé xíu xìu xiu.

    Tôi có mỗi cái tên cúng cơm đem ra làm chuẩn một mục đề, còn như ông này nào Hồng Hà, Lính Chiến xong lại lấy bút hiệu Giao Chỉ - đại diện cho dân An Nam ta thời xưa - thế là bao quát vấn đề lắm. Cứ xét hồ sơ quân bạ như rứa, hai bên khó lòng ngồi chung với nhau. Hơn nữa, ông này lại viết báo viết văn lừng lững một cây xanh rờn, tôi rất hãi và khép nép tránh xa.

    Đùng một cái, trên bàn giấy của tôi có cuốn Cõi Tự Do do tác giả gửi tặng. Lòng ưu ái ấy kèm theo cái chỉ thị là hãy nghiên cứu tình hình địa phương để tẩu tán dùm ít sách. Tôi chưa phúc trình thượng cấp vụ bán sách, vì mải mê đọc cuốn sách mới ra lò xem nó ra sao.

    Cuốn sách được giới thiệu là tác phẩm tiêu biểu cho 8 năm sinh hoạt cộng đồng, khi người lính giá súng để chiến đấu bằng cây bút có lửa, thiên hùng ca tặng QLVNCH và còn nhiều nhiều nữa. Tác giả viết về cuộc sống phiêu bạt giang hồ của một nhóm gia đình đi từ miền Đông qua miền Tây để tìm chút nắng ấm quê hương qua mái tóc đen, qua mớ rau muống, cọng giá sống, lá rau dấp cá, để đứng bên này đại dương vời trông cố hương xa cách muôn trùng, để tìm về kỷ niệm.

    Giao Chỉ phê bình một cuốn sách của tác giả Nguyễn Cao Kỳ, và theo thứ tự thời gian kể những chuyện về quê hương, chiến tranh, đời sống tị nạn với khá nhiều vấn đề phức tạp. Báo chí đã có những bài điểm sách, ca ngợi nhiệt tình. Lại có các nhà văn nhà thơ nhà giáo phát biểu cảm tưởng.

    Tất cả những bài trong cuốn sách tôi đều yêu. Yêu vì sự chân thực, nhiệt tình và phong cách. Nhưng điều mà tôi yêu nhất, khoái nhất là bài Ngôi Trường Cũ. Tác giả nhớ về Khóa Cương Quyết Đà Lạt 1954, những ngày thụ huấn gian lao, những kỷ niệm vui buồn quân ngũ, những kẻ còn người khuất, những kẻ lạc loài... Ngày họp mặt Hội Aùi Hữu Cựu SVSQ Đà Lạt với các đàn em tại xứ người, niên trưởng Giao Chỉ cùng anh em ôn lại chuyện cũ tích xưa, có nói:
    - Chả hiểu đàn anh ra trường làm ăn ấm ớ thế nào mà nước non cùng quân lực tan tành trong khoảnh khắc.

    Rồi đoạn chót, Giao Chỉ nhắc anh em cố giữ lấy chút tình cốt nhục để làm sao mà gắn thành một khối. Giao Chỉ nói tiếp: Và nếu sau này có ai tổ chức Hội Những Người Làm Mất Nước cũng xin vui lòng kết nạp tôi làm hội viên, bởi vì khi ta đã từng học ở ngôi trường cao cả ấy thì chắc chắn hôm nay phải chia sẻ nỗi nhục nhằn dù là với tư cách của kẻ thất phu.

    Mấy hàng chữ chót của trang 132 đã khiến tôi nhẩy tưng tưng lên như vừa khám phá ra cái gì mới lạ.

    Đây rồi, ông này nói rằng thì là ai lập Hội Những Người Làm Mất Nước thì cho ông ấy vào một chân.

    Cái ý tưởng viết về một bài tố khổ, tả oán chính mình làm cho đất nước đi đoong thì tôi đã có trong đầu từ mấy năm nay mà chưa dám nói ra đấy thôi! Nay được lời như cởi tấm lòng, đã có Giao Chỉ nổ pháo lệnh rồi thì mình a-la-xô xung phong làm mau đi chứ, kẻo có người khác lẹ mồm nhận là kẻ làm mất nước thì mình còn cái chi chi để nói nữa bi giờ?

    Cho nên như một mớ lửa rơm nổi cháy phừng phừng, tôi viết Tôi làm tôi mất nước. Đó là lý do tại sao có loạt bài này.

    Lai nói về đọc Cõi Tự Do, tôi là thứ lửa rơm nên chỉ cháy một chút là tịt ngúm. Cuộc đời trước mặt vẫn chỉ là áo cơm, cơm áo nhọc nhằn nên ngày nghỉ, thay vì tham gia công tác xã hội, cộng đồng thì tôi lại tìm niềm vui bên cạnh cái cần câu, ra ngoài biển thả hồn về Vũng Tàu, Cam Ranh, Phú Quốc, Nha Trang, Đà Nẵng... Và lại mần thơ tựa một nhà thơ hải ngoại thương ca vọng về cố quốc mà ruột rối tơ tằm, não nề tâm sự đầy vơi:

    Sương Khuya
    Một mình bên ghềnh đá
    hững hờ buông giây câu
    mênh mang trời biển cả
    xôn sao sóng bạc đầu

    nhấp nhô thuyền mấy lá
    trôi dạt biết về đâu?
    trời chiều đùn mây tỏa
    chập chờn cánh hải âu

    lạc loài trên xứ lạ
    nhìn nước cuộn lòng đau
    nước dập vùi tàn phá
    nước chia cách địa cầu

    nước ngăn tình đôi ngả
    nước khơi mối thảm sầu
    cố hương vời vợi quá
    nhớ thương gửi về đâu?

    quê nghèo xưa vất vả
    nắng mưa phận dãi dầu
    đất cầy thơm lúa mạ
    nhọc nhằn tấm áo nâu

    gái quê hồng đôi má
    xinh xinh giấc mộng đầu
    giọng hò ru lơi lả
    đong đưa mấy hàng cau

    bờ tre xanh bóng lá
    nong tầm thương cánh dâu
    sáo diều nhà ai thả
    trẻ đùa bên lũ trâu

    chim hót ngoài mái rạ
    đàn cò lội trắng phau
    khói lam chiều nhẹ tỏa
    lối mòn vương ánh sao

    đã xa rồi tất cả
    thân ga kiếp con tầu
    cánh bèo trôi nghiệt ngã
    nước vẫn chẩy qua cầu

    gió lạnh hồn băng giá
    sương khuya tóc ngả mầu
    ta nhìn ta khác lạ
    người cũ tìm nơi đâu

    những mảnh đời tơi tả
    bao giờ còn thấy nhau?

    Thế là không như tôi tưởng, rằng Giao Chỉ Vũ Văn Lộc và tôi xa cách nhau muôn trùng cả về cấp bậc lẫn uy danh lại có thể ngồi chung được với nhau, thì hôm nay đây, hai quân trường Dalat-Thủ Đức đã thành liên trường, hai cấp tá-úy đã là huynh đệ chi binh vì mình cùng chung đời lính, thương nhau khác chi nhân tình! Hai kẻ viết lách, một là nhà văn một là chòi văn đã cùng chung lối về xóm nhỏ. Và nhất là cả hai đều có tư tưởng hùng vĩ trùng hợp y chang, tự nhận mình là kẻ đã làm mất nước, dám nói khơi khơi bằng văn tự thì kể như anh em nhà binh chúng tôi từ nay trở thành những kẻ khác hội cùng thuyền.

    Từ đó suy ra, chúng tôi cùng chung chiến tuyến. Đại tá Giao chĩ đã tiếp tế cho tôi một chút xăng vào ngòi bút để khi viết họa may có chút lửa. Nếu không có lửa, ít ra cũng bay lên tí khói.

    Nhòm vào sinh hoạt văn học nghệ thuật hải ngoại, từ khi mất nước đến nay, giới văn nghệ sĩ đã đóng góp tuy chưa nhiều nhưng cũng khá bộn. Bộ môn nào cũng hướng chủ đề về quê hương đất nước mến yêu, về hình ảnh ba miền Huế-Saigon-Hà Nội, về người chiến sĩ Cộng Hòa dũng cảm, về những trại cải tạo tù đầy, về những chờ đợi của người ở quê nhà mong ngày giải phóng Việt Nam.

    Như Bùi Văn Bảo, Nguyễn Xuân Vinh, Cao Thế Dung, Vũ Thụy Hoàng qua nghị luận, biên khảo sử liệu, sách truyện. Như Hà Huyền Chi, Thanh Nam, Cao Tần, Du Tử Lê, Bắc Phong với những vần thơ chất chứa thành sầu tha thiết với quê hương. Như Việt Dũng, Nguyệt Aùnh, Nguyễn Đức Quang với những nhạc phẩm nung đúc ý chí đấu tranh để có một ngày về. Như một Trần Cao Lĩnh đi khắp bốn phương trời, hành trang chỉ với chiếc máy hình đã ghi lại được biết bao nét đẹp của ba miền đất nước. Đó là tình tự dân tộc, là quê hương ta, hãy nhớ quay về.

    Và còn biết bao hoạt động khác của hội đoàn, sinh viên, cựu quân nhân, phụ nữ, lão niên, của giới truyền thông...vẫn ngày đêm ấp ủ tình đoàn kết, cố gắng vun bồi cho gốc nhà Nam được vững vàng, dẫu rằng nay sống trên đất tạm dung.

    Nhìn vào các hình ảnh tập thể, sinh hoạt mạnh mẽ và đầy tin tưởng như thế, tôi tự nhận thấy rằng ngay cả lúc bỏ quê hương đi tị nạn, tôi cũng không đóng góp được gì cho đại cuộc. Trái lại, tôi vẫn còn cái đầu óc nhỏ nhen tự ái, khoe khoang, chỉ trích, tiếp tục làm những điều lăng nhăng cà chớn.

    Đã một lần mất nước, nay không hối hận ăn năn chuộc tội mà còn kéo cho dài thêm ngày về thì quả là tội tôi lớn lắm.

    Khi nhìn rõ chính mình, thời gian đã vùn vụt hơn chín năm quê người lưu lạc. Dẫu muộn còn hơn không, tôi cần phải tham gia một hội như Giao Chỉ đã khơi mào để làm một cái gì chuộc tội.

    Hội đó có tên: Hội Những Người Làm Mất Nước!

    Mỗi khi lập hội, những người chủ trương thường nhắm vào các mục đích cao ca,û lý tưởng hoặc tương thân tương ái, xã hội hay liên quan đến tôn giáo, nghề nghiệp, họ hàng, đồng hương đồng tỉnh.

    Như hội kín là hội bàn đến các chuyện bí mật, hành tung nguy hiểm, nguyên tắc là lúc nào cũng phải kín như bưng. Để cho hội bị hở là mạt lộ. Như hội ái hữu tự nó có nghĩa là liên lạc tương trợ, họp bạn định kỳ. Chẳng hạn như hội ái hữu cựu học sinh, hội ái hữu các khóa quân trường, hội La-Vang, hội Phủ Giầy, hội Thánh Mẫu, hội đồng hương Nam Định, hội tương tế Quảng Đà, hội Lê tộc, hội ái hữu nghệ sĩ cải lương, hội văn nghệ sĩ, hội nhiếp ảnh, hội Chèo Cổ Bắc Phần... Cứ phác họa sơ sơ như thế thì chỗ nào có người sinh sống là chỗ ấy có hội.

    Duy có cái hội với tên nghe lạ hoắc là Hội Những Người Làm Mất Nước thì chưa có ai cầu chứng tại tòa, cho nên bây giờ tuy sinh sau đẻ muộn nhưng muộn còn hơn không, hơn để cho nó chìm xuồng.

    Hội có tuyên cáo trước quốc dân đồng hồ như vầy:
    - Nhận định chắc chắn rằng: Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách. Nay nước mất, không trách chi ai mà kẻ thất phu phải cúi đầu chịu tội trước mới phải đạo làm dân.

    - Nhận định rõ ràng rằng: Dù mất nước nhưng thực tế và thực thể thì nước vẫn còn đó hình cong chữ S chứ đâu có suy xuyển chút nào.

    - Nhận định thẳng thừng rằng: Tuy không nhìn thấy rõ bàn cờ quốc tế nhưng thân phận nhược tiểu luôn luôn là quân cờ đổi tốt thay xe bất cứ lúc nào đại cường quốc cần quân bình cán cân lực lượng.

    - Nhận định nghiêm chỉnh rằng: Từ ngày bỏ nước ra đi, thân phận lưu vong dù ấm no rủng rỉnh, vẫn cứ mơ về chốn cũ người xưa, nhớ nhung chất ngất.

    - Nhận định đứng đắn rằng: Vận nước qua cơn bĩ cực ắt tới thuở thịnh trị thanh bình và hạnh phúc.

    - Nhận định chủ quan rằng: Gia bần tri hiếu tử, quốc loạn kiến trung thần, tổ quốc có lâm nguy mới rõ mặt quân tử anh hùng, mới tỏ tường tiểu nhân phản phúc.

    - Nhận định khách quan rằng: Luật tạo hóa cũng như luật nhân quả, có vay có trả, đứa nào gây tội thì phải đền tội, không thể lấp liếm, đổ thừa đổ vạ cho ai.

    - Nhận định lạc quan rằng: Căn cứ vào các nhận định trên, tất nhiên sẽ có một ngày về trên quê hương ta tự do, no ấm.

    Nay tuyên cáo:

    Thành lập HỘI NHỮNG NGƯỜI LÀM MẤT NƯỚC.
    Tuy hội có cái tên lạ hoắc như rứa nhưng cơ cấu tổ chức, điều hành, nội quy, ngoại vụ lại thi hành theo lề lối rất ư là quen thuộc, hoàn toàn mang tính cách tồn cổ, hoài cổ và vọng cổ, đầy dân tộc tính.

    - Hội không có các chức vụ nghe lớn lao, xôm trò như Chủ Tịch, Phó Chủ Tịch, Thống đốc, Tổng Thư Ký, Uûy Viên.
    - Hội không họp mũ cao áo dài cổ cồn cà vạt quanh bàn tiệc sâm banh, khiêu vũ.-- Hội không có nhiệm kỳ, không bầu bán chức tước.- Hội không tổ chức thành liên danh, thành khối, thành nhóm.
    - Hội không tuyên dương thành tích công trạng, không ai là cá nhân xuất sắc.
    - Hội được tổ chức theo chế độ cổ xưa, kêu bằng Xã thôn tự trị. Chế độ này lấy đơn vị Làng làm chuẩn, tự cai quản hành chánh thuế khóa, có thẩm quyền rộng rãi mà ngay cả đến nhà vua cũng không thể xía vào. Phép vua thua lệ làng là vậy.

    Theo qui tắc trên, mỗi địa phương tổ chức một hội độc lập, không bị thống thuộc mà chỉ liên lạc hàng ngang với hội bạn mà thôi.

    Những ai tự nhận mình có tội với tiền nhân, với đồng bào, đồng đội, đồng ngũ thì tự mình định tội, tội nặng ngồi vào chiếu trên, tội nhẹ ngồi lui chiếu dưới. Hội còn có một Hội Đồng Cố Vấn gồm đại diện các quốc gia đã gởi quân tham chiến tại Việt Nam, đóng góp kỹ thuật, tài chánh, y tế như Mỹ, Uùc, Phi, Đại Hàn, Thái Lan... Cạnh Hội Đồng Cố Vấn lại có Hội Đồng Tiểu Liên Hiệp Quốc gồm đại diện các cường quốc từng góp công làm cho Việt Nam ba chìm bẩy nổi, vô tình hay hữu ý, trực tiếp hay gián tiếp giúp cộng sản để làm mất miền Nam, như: Nga Sô, Trung Cộng, Hoa Kỳ, Pháp, Ăng Lê, Nhựt Bổn...

    Hội không có vấn đề bầu cử, đề cử, độc cử, tái cử. Ai tự nhận thấy mình ở chiếu nào thì xà vào chiếu ấy.

    Hiện nay, hội chưa có ai xuất hiện vào cái thuở ban đầu. Duy có sáng lập viên Giao Chỉ và Cai tôi là hai kẻ trình diện sớm nhất. Giao Chỉ vốn làm lớn, tội nhiều chắc sẽ can đảm lên ngồi chiếu cạp điều hoặc chiếu hoa chịu trận. Phần Cai tôi, nhận thấy hội còn khuyết chân Mõ Làng nên xung phong đảm trách. Cái chức này tuy thấp hèn nhưng tiếng lại rất kêu. Mỗi khi có hội họp là Cai tôi đi quanh làng, gõ mõ hô chiềng làng nước lắng tai nghe lời hiệu triệu. Cai tôi theo lệ làng, được một mình một cỗ thảnh thơi đớp hít. Như vậy là công bình và hợp lý.

    Đại khái cái sườn của hội là thế, các địa phương cứ tùy nghi như thế thi hành.
    ____________________________________________


    Chương 14 - Thay lời kết
    Đã gần mười năm tôi làm tôi mất nước, ngẫm lại mới như vừa bỏ nước hôm qua. Thời gian trôi mau biền biệt, không giống nhau, không ngừng lại. Cuộc sống lưu vong mà Giao Chỉ gọi đó là nơi sống không bị cùm kẹp, bố ráp tinh thần, mang tên Cõi Tự Do.

    Cõi đó đúng là cõi tự do 100% của nhân loại văn minh nhưng cõi đó cũng còn mang nhiều cái tên tùy theo từng tâm trạng.

    Cõi đó còn là Cõi mơ hồ, cái ta có ta không, ta là ai, ai là ta và chẳng ai giống ta cả. Cõi đó như là Cõi buồn vây kín chung quanh, chỉ đủ cho ta thở ta ăn, ta đi làm kéo cầy trả nợ. Cõi đó là Cõi tiên cõi thiên đàng cho những ai chấp nhận nơi này làm quê hương và quên khuấy đi cái dĩ vãng một thời sinh mạng mình gắn liền với sinh mạng Việt Nam.

    Cõi đó là Cõi ưu phiền của tuổi già quạnh quẽ, lạnh lùng dẫu đây bốn mùa xuân hạ thu đông, mùa nào cũng đẹp như tranh vẽ. Cõi đó là Cõi mộng với những ai ước ao được đặt chân tới miền đất thừa thãi vật chất ấm no. Cõi đó là Cõi nhớ chập chùng về những kỷ niệm xa xôi diễm ảo. Cõi đó là Cõi tương tư ta ở đây mà tâm hồn lúc ở Saigon, khi Cần Thơ, khi Dalat.

    Với Cai tôi, ví mình cũng như thân phận Thúy Kiều, mà còn khổ hơn nàng Thúy ở cái điểm là không hồng nhan cũng nhuốm nhiều gian truân. Gian truân từ khi định cư đất lạ đi làm cu-li của đời mưa gió bơm xăng vá lốp lau nhà. Gánh nặng gia đình đè trĩu trên vai, mới biết thế nào là trách nhiệm cụ thể, thế nào là chịu đựng hy sinh cho đàn con khôn lớn. Rồi lại chuyển bến xoay vần cuốn theo chiều gió, một xe trong cõi hồng trần đi làm ăn phương khác vì nghĩ câu đâu cũng là nhà. Qua dăm bẩy tám chín thứ nghề, từ văn phòng bàn giấy, com-lê cà vạt đến chân bấm giá hàng, dọn kho, lau chợ, còng lưng vẫn gánh nặng đôi vai, vẫn khối buồn đeo đẳng, vẫn canh cánh bên lòng cái tội cái nợ làm mất nước.

    Đời sống xứ người càng đầy đủ ấm no bao nhiêu, phong cảnh càng xinh đẹp mỹ miều bao nhiêu, Cai tôi lại càng cảm thấy chán ngán, dập vùi lạc lõng bấy nhiêu.

    Nên Cõi tự do này tôi gọi nó bằng một cái tên khác, ít ra đúng với tôi. Là Cõi lêu bêu! Nó vừa lênh đênh bất trắc với tôi, vừa làm cho tôi cứ nhớ cứ thương về quê hương bản quán.

    Chốn đó là nơi Cai tôi sinh ra, lớn lên, nửa đời được ăn rau muống với cà, được ê a đánh vần hai tiếng Mẹ, Cha, được nghe tiếng đại bác ru đêm chập chờn hỏa châu soi sáng tiền đồn, được nằm lều vải cá nhân ôm súng bên đồi sim tím, được ngắm suối reo thác đổ miền Cao Nguyên trùng điệp, được về miền Tây sóng nước bao la cuộc sống hiền hòa, được nghe dân ca vọng cổ hát chèo những ngày mở hội, được đọc dòng lịch sử liệt oanh lẫy lừng của dân tộc Việt Nam, được chứng kiến những thăng trầm của vận nước điêu linh tang tóc.

    Thất phu hữu trách, nên Cai tôi cũng trách nhiệm như ai. Nay xin làm thân mất nước ráng làm một cái gì trong cõi lêu bêu, cõi tự do này để chuộc tội. Nếu chuộc tội kiếp này chưa xong thì kiếp sau còn dịp tái sinh duyên, xin lại được làm người. Và làm người Việt Nam để vẫn còn tiếp tục chuộc tội với lương tâm, với gia đình, với bạn bè, với tổ quốc.

    Được vậy, khi hai tay buông xuôi nghỉ nơi nghĩa trang quân đội, Cai tôi sẽ yên tâm nhắm mắt mà cười khì khì, coi như đã thi hành xong nghĩa vụ quân dịch, trang trải nợ nần, rũ sạch bụi đời, thoát nợ trần gian và khò khò vùi sâu giấc cuối...

    Lê Văn Phúc
    (Houston, Texas/1984)

    Phụ Lục
    Sau đây là cảm tưởng của người đọc trong nhiều giới. Xin trích đăng một phần để độc giả hiểu thêm dư luận nghĩ thế nào về cuốn sách và tác giả:

    "Ngay khi đọc xong loạt bài, tôi đã bàn với anh rằng cuốn sách phải ra bằng được để phá cái không khí khó thở, không ai dám nói ra, không ai dám mổ sẻ, không ai dám nhận mình có lỗi. Riêng gia đình tôi, cả nhà tán tụng và khen nức nở thầy Cai".
    (Cao thế Dung, Maryland)

    "Là tác phẩm đầu tay , dù sinh hoạt báo chí lặng lẽ 30 năm mới trình làng, Lê-văn-Phúc với giọng văn chân thành tự nhiên, can đảm nhìn vào vấn đề mà ít ai dám nói".
    (Chu vương Miện, California)

    "Giọng văn vui nhẹ của Phúc hợp với vụ tự trách. Trách mình luôn thể trách người, đâu phải chỉ để làm vui mà thôi!"
    (Mặc Đỗ, Texas)

    "Một bản tự thuật chân thành mà hết thẩy những người tị nạn cộng sản biết suy nghĩ, trách người và trách mình đều lấy làm thích thú. Đọc Lê văn Phúc, ai cũng phải công nhận ông có một ngòi bút viết thực dí dỏm đáng yêu".
    (Phạm cao Củng, Florida)

    "Chắc thiên hạ mê 'Tôi làm tôi mất nước' lắm"!
    (Linh Mục Nguyễn văn Thư, California)

    "Đọc xong 'Tôi làm tôi mất nươc', có một điều chắc chắn thấy ngay Lê văn Phúc không phải chỉ muốn chọc cười như người ta tưởng. Phải chăng tác giả muốn mọi người cùng soi chung cái gương quá khứ để tự kiểm".
    (Trọng Kim, Texas)

    "Lối viết châm biếm dí dỏm của anh làm người đọc thoải mái, thích thú và dễ có cảm tình".
    (Vũ thụy Hoàng,Virginia)

    "Đọc bài, không biết Phúc nhưng nhìn ảnh là nhận ngay ra người bạn Dalat năm xưa. Lối văn của anh đọc dễ thích lắm, nhất là những đoạn về Dalat gợi tôi nhớ đến những ngày Ngự Lâm Quân"!
    (Nguyễn đạt Thịnh, Hawaii)

    "Tôi đã say mê đọc trước đây tập truyện ký của hiền hữu đăng rải rác trên nhiều tờ báo, vẫn ước mong một ngày nào đó có nguyên một bộ, nay được toại nguyện để vào tủ sách văn học của gia đình".
    (Đào hữu Dương, California)

    "Tuy đã đọc trên báo, tôi vẫn hứng khởi đọc lại 'Tôi làm tôi mất nươc' và thích thú vô cùng. Cám ơn anh đã tặng sách quý".
    (Túy Hồng, Washington)

    "Tôi đang mê ông, xin gửi cho tôi một cuốn với chữ ký để lưu tủ sách gia đình".
    (Họa sĩ Phạm Thăng, Canada)

    "Cuốn sách độc đáo mà tối nào nhà tôi cũng đọc mấy chục trang lại cho tôi nằm nghe và nhà tôi cứ khen là chú giỏi và lém quá! Mong rằng cuốn sách này sẽ được độc giả hoan nghênh nhiệt liệt".
    (Bảo Vân Bùi văn Bảo, Canada)

    "Đọc tác phẩm để tìm hiểu một chút nữa về chính mình cũng như về những nguyên nhân khác đưa đến sự mất quê hương".
    (Lê văn Xê, Nhật Bản)

    "Sống ở xứ người mà có một cuốn sách hay để đọc, thật quý vô cùng. Xin cám ơn anh thật nhiều".
    (Thái Thanh, California)

    "Sách anh tặng, Hoàng Oanh lật vội vài trang đọc thấy buồn cười quá! Văn anh viết rất dí dỏm, dản dị làm ai đọc cũng thấy thoải mái như đang khát nước mà uống được một ly đá chanh đường vậy".
    (Hoàng Oanh,New Jersey)

    "Trong sách ông có nhiều chỗ cảm khái, dù ông viết thẳng băng như ruột ngựa. Tôi đọc thì thấy cái tựa đề phải đề là Ông làm tôi mất nước ông Cai Phúc ạ! Tội tôi còn có vẻ nặng hơn ông nữa"!
    (Nhất Tuấn, Washington)

    "Cuốn sách của anh đã là câu trả lời chính đáng nhất về thân phận mình và hai chữ Tại sao? Tuy là tự trào nhưng mỉa mai châm biếm một cách chua chát ngấm ngầm, tưởng rằng người Việt Nam nào đọc xong cũng phải có chút tự vấn".
    (Bác sĩ Nguyễn ngọc Bảy, Utah)

    "Đây không phải là một tác phẩm văn chương mà chúng ta thưởng thức trong lúc nhàn rỗi. Đây là một tấm gương rất trong, rất sáng mà chúng ta soi vào để mỗi người nhận thấy một phần của mình. Đã có người đọc xong cuốn này rồi khóc nức nở. Khóc vì hối hận hay khóc vì thương nước nhớ nòi? Điều đó chỉ riêng người ấy biết"!
    (Lã huy Quý, Texas)

    "Xin thành thật khen bút pháp của ông. Bằng chứng hùng hồn nhất là tôi đặt mua ngay quyển sách này khi ông vừa loan tin trên báo. Ông có lối tếu trào lộng, bình dân mà lại bóng bẩy, khả ái có thể thọt lét rất nhiều giới..."
    (Kim Anh, Maryland)

    "Sách thật tuyệt vời, đáng gọi là sách hay nên tôi đã đọc đến hai lần tước khi viết lời cảm tạ".
    (Thái Đình, California)

    "Lê văn Phúc mà Lan thường hay gặp trong Văn Nghệ Tiền Phong khác hẳn với Lê văn Phúc của Tôi làm tôi mất nước. Khác như thế nào thì Lan không diễn tả nổi. Lan lại ước được làm nhà văn".
    (Ca sĩ Uyên Lan, Texas)

    "Anh viết thông minh, ý nhị. Nguyên đề tài anh chọn lựa, cái nhan đề cuốn sách đã là một ý kiến độc đáo, nghịch ngợm rồi. Tôi chắc tác phẩm sẽ được độc giả hoan nghênh".
    (Võ Phiến, California)

    "Cuốn sách đã mở lại cho tôi cả một trời hoài niệm, trong đó vui buồn lẫn lộn, vừa tủi hờn vừa hối tiếc, bấy nhiêu thứ đã nhờ ngọn bút tài tình ngào nặn trong khía cạnh trào lộng và tan ra trong nụ cười chẳng đặng đừng. Cám ơn ông đã cho những phút giây khoái cảm đó".
    (Phùng tất Đắc, Anh quốc)

    "Được đọc lại liên tục với một hình thức đẹp, thật là khoái tỉ. Viết văn loại này, khó ai theo kịp Cai Phúc".
    (Bội Điệp, Florida)

    "Cuốn sách được viết một cách duyên dáng, hấp dẫn khiến người đọc không biết chán. Viết về cái tôi rất khó mà văn hữu lại gây cho người đọc có cảm tình với tác giả, thật là điểm son rất quý".
    (Đông Ngàn ,Texas)

    "Với lối viết thoải mái, phóng đạt kèm theo một trí nhớ siêu đẳng, Lê văn Phúc dẫn chúng ta trở về bơi lội thỏa thuê trong những dòng sông hồi tưởng thật rõ nét".
    (Hồ An, Washington)

    "Tôi đã đọc rất thú vị, đặc sắc với bài phú Xuân viễn phương đầy đủ tình người, tình quê hương và ngòi bút có lửa trên tuyến chống cộng sản".
    (Đỗ Quốc Anh Thư, California)

    "Từ mười năm nay, thiên hạ viết về sự sụp đổ của miền Nam đã nhiều, chưa có ai viết dễ thương như ông Lê văn Phúc.
    Sách có thứ hay, thứ dở, thứ cao, thứ thấp v.v...nhưng thứ sách dễ thương mới là hiếm là quý.
    Đọc xong sách của Cai Phúc, mỗi độc giả chắc chắn đều giật mình, đỏ mặt, tự đấm ngực thú tội: Mình vừa có cảm tình với một kẻ làm mất nước. Sao mà nhảm thế"!
    (Ngô đình Sở, Văn học nghệ thuật, California)
    Last edited by KiwiTeTua; 12-08-2020, 12:15 AM.


Hội Quán Phi Dũng
Diễn Đàn Chiến Hữu & Thân Hữu Không Quân VNCH




website hit counter

Working...
X