Thông báo

Collapse
No announcement yet.

Truyện ngắn Truơng Kim Báu

Collapse
X

Truyện ngắn Truơng Kim Báu

Collapse
 
  • Filter
  • Giờ
  • Show
Clear All
new posts

  • Truyện ngắn Truơng Kim Báu

    Viết Về Những Người Bạn Thân của Phi Đoàn 524 Thiên Lôi
    Trương kim Báu



    Từ ngày quen các anh trong lễ hội Tổ Quốc và Không Gian do Không Quân tổ chức, những đêm sau chuyến bay hay những lần được biệt phái về, trừ các anh đã có gia đình, còn lại những anh độc thân của phi đoàn 524, phòng khách nhà em luôn ầm vang tiếng cười vui vẻ, không đủ chỗ cho các anh ngồi bên những dĩa trái cây hấp dẫn mà các anh thay phiên nhau mang đến..

    Một lần có phi vụ đặc biệt, bốn người các anh lâm vào không chiến với bọn Tàu hay Liên Xô (dẫn đầu là chiếc số 1 với Bùi Gia Định "biệt hiệu là Định lắc ", chiếc số 2 với Nguyễn Văn Dọng "biệt hiệu là Mộ địa", chiếc thứ 3 với Ngô Đức Cửu "biệt hiệu Cửu chà", chiếc thứ tư với Nguyễn Đình Toàn "biệt hiệu Toàn đờn"). Sáng đó, em lên sân thượng sớm để chờ nghe tiếng động cơ. Bốn chiếc máy bay sắp hàng lướt ngang qua rồi nghiêng mình lượn lại, sau đó mới bay thẳng ra đi. Cả ngày em hồi hợp chờ trông tin tức. Đêm đến, các anh trở về với nét mặt tỉnh bơ không biểu cảm, nhưng chẳng thấy anh Toàn. Phải hai, ba lần em gặng hỏi, các anh mới trả lời: "Toàn đã gãy cánh rồi! Đang tìm xác!" Em đã khóc cho đớn đau lắng đọng, cho sự hụt hẫng tận cùng được các anh giấu kín trong tim. Cũng như em đã từng ràn rụa nước mắt khi biết tin từng Đại Bàng gãy cánh trong Phi đoàn 524, những cánh chim đã từng ngồi la liệt thuở nào trong phòng khách nhà em.

    Mỗi lần Dọng đi biệt phái ở Pleiku, các anh Toàn, Dự, Cứ thay phiên nhau lịch sự an ủi và săn sóc cho em.

    Toàn có tiếng hát rất hay nên gặp em là cất giọng: "Tôi xa Hà Nội năm lên 18 khi vừa biết yêu...". Dự mới yêu người đẹp tên Ái Liên nên nhờ em thêu tên Ái Liên vào ngực áo. Vừa thêu xong tên người đẹp, Dự mặc ngay chiếc áo vào và tay luôn vuốt nhè nhẹ nồng nàn lên tên người yêu dấu. Cứ, vừa làm quen với một nữ sinh Trung Học, hẹn hôm nào sẽ đưa cô ấy đến thăm em. Dọng cũng mang một chiếc áo... rách đến nhờ em thêu dùm. Cầm áo trên tay, em hiểu ngay Dọng cố tình khoét lỗ. Em mua ren có hình quả tim ẩn hiện trong mây cùng hoa lá, rồi luồn vào để lấp đầy lỗ hỏng. Khi trả lại áo cho anh, các bạn cười ầm như vỡ chợ, bởi họ hiểu em đã đọc được ý nghĩ thầm kín trong anh. Anh lầm lì phớt tỉnh, hát nho nhỏ những lời tình tứ: "Tôi yêu em, tôi yêu em từ nghìn thu...." Anh tiếp tục làm hề cho tiếng cười em trong đêm đó ròn rã không ngừng.

    Có một buổi trưa, Định diện thật thanh lịch đến nhà, hối em lên xe anh ấy. Định chở em đi và ngừng trước một căn nhà rất bề thế, kín cổng cao tường, rồi kêu em tiến vào nhà ấy. Căn nhà của Như Ý, của người đẹp mà Định đã yêu thầm. Thấy em lưỡng lự, Định hỏi:

    - Ngày xưa Báu học trường nào?

    - Lê Quý Đôn, em trả lời.

    Định vò đầu:

    - Tại sao không học trường Võ Tánh? Như Ý học trường Võ Tánh mà.

    Đoạn, Định chở em ra Hòn Chồng. Tụi em cùng im lặng ngắm trời mây. Tuy hiện diện nơi này, em vẫn hiểu trái tim Định đang ở một nơi có người con gái mang tên Như ý. Nên em tìm cách cho Như Ý và Định quen nhau. Nhưng cha mẹ của Như ý không bằng lòng, vì đời quân nhân mỗi ngày đối diện cùng mạng sống cheo leo trong đường tơ kẽ tóc, họ sợ con gái mình trở thành góa phụ khi tuổi hãy còn xanh.

    Chủ nhật là ngày em đến Dòng Tu Kín ở Đồng Đế để dâng thuốc men và thực phẩm cho một Soeur đang bệnh nặng. Các nữ tu dù đau đến chết cũng không được ra khỏi bức tường nhà Dòng. Tới lượt Nguyễn Đỗ Toàn (biệt danh " Toàn gật") canh giữ em, nên sau khi xong việc, tụi em dạo chơi trên bờ biển Đồng Đế. Toàn hỏi:

    - Báu thích ăn bưởi không? Bưởi Biên Hòa đó.

    Em reo vui:

    - Bưởi Biên Hòa không chua, ngon lắm! Con gái Biên Hòa trắng, đẹp và hiền hòa nữa.

    Toàn tâm sự:

    - Ba má Toàn giới thiệu cho Toàn một cô gái Biên Hòa, nhà có vườn bưởi. Khi nào ba má gọi Toàn về xem mắt, Toàn mời các bạn, Báu đi luôn nhé!

    Dọng ơi! Nhớ không anh? Có một đêm các anh tề tựu ngay phòng khách nhà em nói cười ròn rã. Thình lình ông anh của em bước vào miệng hơi nồng men rượu, vụt hỏi:

    - Các bạn đông, vui quá! Vậy ai là người yêu của em gái tôi?

    Định đứng lên chào theo kiểu nhà binh:

    - Đại úy Bùi Gia Định, Phi đoàn 524 Thiên Lôi xin trình diện, là người yêu của cô út. (Lúc đó Định chưa lên lon Trung Tá).

    Tiếp theo là Trung úy Nguyễn văn Nhị, Trung úy Nguyễn Đình Toàn, Thiếu úy Đinh Quang Cứ ...vv...vv... Sau cùng là Trung úy Nguyễn văn Dọng. Ông anh em cười ha hả:

    - Chịu thua các anh luôn!

    Ông anh của em liền thân mật mời các anh vào ngày chủ nhật, ra đảo, lên chiếc du thuyền mà anh vừa mới tậu. Anh có tiếng là một bác sĩ chịu chơi nhất Nha Trang.

    Bất cứ sinh hoạt nào của các anh cũng đều có em tham dự, như đá banh em cũng đi xem. Em trang điểm thật kỹ với chiếc áo dài mới may, từ trên lầu bước xuống. Trong phòng khách, Định, Toàn và Dọng đang đứng gần đó, em xoay người một vòng và hỏi xem em có đẹp không? Có tiếng cười to của Đinh Xuân Ninh:

    - Báu hỏi 3 người đó vô ích, hỏi anh đây nè. Bởi thằng Định bao giờ cũng lắc, thằng Toàn bao giờ cũng gật, thằng Dọng là mộ địa nên bao giờ cũng trả lời không.

    Em xịu mặt bởi chẳng có một lời khen. Thấy em giận, Dọng đến gần rót nhẹ vào tai em:

    - Em là thiên thần của các anh, nên lúc nào em cũng dễ thương và đẹp.

    Một buổi sáng đến nhà, Dọng bảo hôm nay là ngày vô cùng đặc biệt, em phải mặc thật gọn gàng để Dọng chở em vô phi trường, lên máy bay đi dạo. Lần này dưới đôi cánh phi cơ không có mang theo đạn rocket và bom. Anh ngồi trong phòng Pilot chánh, lái vòng thành phố Nha Trang. Em đội mũ bay ngồi hàng Pilot phụ nên nghe được tiếng nói của đài kiểm soát. Dọng giảng cho em hiểu ấn nút nào thì nghe được tiếng nói của tất cả máy bay, và ấn nút nào thì chỉ có 2 người nghe thôi.

    Từ trên cao nhìn xuống, em đã vô cùng cảm động! Quê hương mình thành phố với biển xanh đẹp như bức tranh thủy mặc đầy sống động! Bãi biển trắng phau êm đềm lặng lẽ, đang phủ một chiếc áo tinh khôi ấn tượng. Những hải đảo hoang sơ thơ mộng, Tháp bà Ponaga là một điêu khắc kiệt tác Chămpa. Và chiếc Cầu đá là bến cảng, nơi xuất phát những chuyến du lịch kỳ thú cho khách thập phương tham quan biển đảo.

    Thình lình cầm tay em, anh thốt lời cầu hôn, làm em bậc khóc! Em chỉ im lặng gật đầu! Phi cơ vừa đáp, bạn anh túa ra đỡ em bước xuống rồi ôm chúc mừng em được gia nhập người của Phi đoàn 524.

    Sự cầu hôn này là cả một sự sắp đặt của các anh. Với em, đó là một đặc ân hiếm quý, là một bất ngờ mà cả cuộc đời, em không bao giờ quên được. Em đã tự nhủ với lòng mình từ ngày ấy, là khi làm vợ anh, em sẽ chẳng mè nheo, em sẽ yêu anh chung thủy và Phi đoàn 524 là một phần đời trong trái tim em.

    Sau khi đám hỏi, các bạn dành sự riêng tư cho chúng mình. Anh thường nói: "Tình cảm mình thật lạ lùng! Lúc chưa đám hỏi thì bạn bè luôn vây quanh. Nay Thùy Nhiên lại theo sát một bên. Chưa lần nào anh ôm em cho thật chặt, sao mình lại có đứa con 2 tuổi rồi". Đó là đứa cháu gái đầu lòng của gia đình em, rất được quý mến cưng yêu. Chiều nào cháu cũng bắt mẹ tắm rửa thay quần áo đẹp đứng chờ ở cổng, để anh chở em và cháu đi chơi.

    Thuở nhỏ Thùy Nhiên đẹp lắm! Mỗi lần mình hẹn nhau, cháu ngồi yên trên bàn tự vui chơi với đôi bàn tay xinh xắn của mình và không bao giờ đòi hỏi bất cứ điều gì. Thiên hạ qua lại trên đường nhìn xuyên qua khung kính, cháu là con búp bê sống động. Ai hỏi, cháu đều có một câu trả lời trước sau như nhất: "Con của Báu-Dọng". Mình qua Úc, cháu cũng tìm cách qua theo. Anh luôn xem cháu là con gái đầu lòng của mình và rất mực thương yêu.

    Có lần, anh cõng cháu trên vai, giăng hai tay cháu thẳng ra làm phi cơ, rồi anh chạy dưới biển, nghiêng cánh bên này bên kia. Cháu và anh cười vang dội biển xanh trong. Anh sà xuống nơi em đang ngồi, nói máy bay hạ cánh. Anh nằm dài sát bên em, Thùy Nhiên cũng bắt chước kê đầu lên ngực anh. Ôi! Hạnh phúc trần gian thấm sâu trong từng tế bào rộng mở, em hiểu được tại sao nhân thế mãi chìm đắm luân hồi.

    Đám cưới xong, sau tuần trăng mật từ Đà Lạt mình trở về, anh ôm thau áo quần ra giặt giũ cho em. Vì quá mệt nên anh tiến về mái hiên nằm hút thuốc trên chiếc võng đu đưa, mắt hướng về em đang phơi đồ trưa chói chang ánh nắng. Bỗng bạn bè ào tới rũ mình đi ăn. Thấy hoạt cảnh này, một tiếng hét thình lình vang dội:

    - Dọng! Mày muốn tụi tao giết mày, phải không? Sao mày hành hạ con nhỏ như vậy?

    Các bạn anh chạy đến giành làm tất cả, cho em vào bóng mát nghĩ ngơi. Một anh nhanh nhẹn vào nhà rót cho em ly nước lạnh. Dọng nheo mắt nhìn em cười tinh nghịch. Thích lắm phải không em? Được các bạn anh ủng hộ mà, phải không?

    Từ ngày qua Úc, sau khi dùng cơm xong, mỗi thứ bảy gia đình mình ngồi lại cùng nhau trò chuyện. Dọng thường hỏi em:

    - Những ngày anh đi tù, em sống ra sao?

    Em chỉ cười và trả lời:

    - Anh đã dạy em đừng nhớ dĩ vãng, chẳng hướng tương lai. Luôn sống trong hiện tại. Nhưng anh cứ thắc mắc tại sao các con mình không chịu ăn cháo? Bây giờ em kể anh nghe: Sau năm 75, rất nhiều gia đình không có gạo ăn. Với đồng lương quá ít ỏi của em, lương ngân hàng không được vào biên chế vì lý lịch đen. Tiền lãnh được em chu cấp cho cha mẹ, thuê nhà, nuôi con vv...nên thường phải ăn cháo những ngày chưa mua được gạo bằng giá chính thức. Các con sợ cháo vì tối đói bụng không an giấc được. Hôm đó, bé Ly hỏi: "Chiều nay ăn cơm phải không me?" Phong nhìn đôi mắt to đen của bé đang chờ đợi câu trả lời của mẹ, thương quá nên Phong nhanh nhẩu liền: "Ăn cơm bé ơi!". Bé reo cười và khoe cùng Tiến: "Chiều nay mình ăn cơm".
    Gạo chỉ đủ nấu cháo cho cả nhà ăn, nay nấu cơm thì chỉ có 2 con ăn thôi. Chị năm, Phong và em nhịn đói. Chị năm nằm nhà chịu trận. Em và Phong lên xe, đạp đi cho qua cơn hành đói.

    Dọng ơi! Nay anh nằm trong bệnh viện. Các bạn không quân anh Nguyễn Phúc Hưng, anh Bùi văn Đích, anh Vũ văn Bảo, thay phiên nhau chở em mỗi buổi sáng vào nhà thương thăm và cho anh uống thuốc. Các anh ấy nói:

    - Con đường Heatherton dẫn vào bệnh viện đang được sửa chữa, chỉ còn lại một lane thôi. Em đã có tuổi, tâm không an vì lo cho chồng, nên các anh không yên lòng để em tự lái xe.

    Ngày xưa các bạn trong Phi đoàn 524 đã thay phiên nhau canh chừng, giữ em là của riêng anh trong mỗi lần anh đi biệt phái. Bây giờ, các bạn anh cũng giúp em cho chúng ta không bị mất nhau.

    Anh nằm đó, em kề bên, sờ tay lên gương mặt xanh xao vàng vọt của anh. Cảm giác quá khó chịu bên trong làm anh từ chối. Em than thở:

    - Rờ một chút cũng không cho.

    Sợ em giận nên anh nhỏ nhẹ:

    - Thôi thì em cứ rờ đi, chỗ nào cũng được.

    Em thương Dọng quá! Đớn đau như vậy mà vẫn chiều em! Sau đó, anh kêu các con niệm Phật, và bảo: "Chúng mình cùng niệm Phật nha em!" Em nhắm mắt lại niệm liên tục nên không hay tử thần đã cướp anh đi rồi! Thùy Nhiên luôn hướng về anh nên cháu thấy anh mở mắt nhìn mọi người thân yêu lần cuối, môi mấp máy điều gì không rõ rồi ung dung ra đi nhẹ nhàng theo tiến trình sanh diệt vô thường. Thùy Nhiên gọi em 2 lần nhưng em vẫn không nghe, cháu phải kề tai em nói nhỏ: "Chú Dọng đã chết rồi!" Em mở mắt ra nhìn mới hay anh đã nhắm mắt thật rồi! Em không còn đọc được ý nghĩ trong đôi mắt biết nói của anh được nữa!

    Dọng ơi! Em đã không khóc lúc xa anh, cũng như chưa từng chảy nước mắt suốt những ngày sau đó lúc tang lễ ở nhà quàn. Ngay cả buổi đọc điếu văn trước lễ di quan của anh, em cũng an nhiên, vì nước mắt đã chảy ngược vào trong trái tim em tan nát, dù gặp ai em cũng nói: "Không sao! Hãy yên lòng về tôi!"

    Làm sao nói hết được cảm giác bơ vơ lạc lõng của em suốt hành trình còn lại của cuộc đời! Ngày anh đi tù, mỗi lần nhớ anh, em vẫn ấm lòng, bởi anh vẫn còn đâu đó của em. Giờ đây, em phải lội ngược dòng bão lũ cuối đời, vì anh là người Thầy dạy em biết sống tùy duyên thuận pháp, đừng hoang phí đời mình trong tử sinh mờ mịt. Anh là tri kỷ nên hiểu và dắt dìu em trong từng bước chân khập khiễng bôn ba tất bật của riêng em. Anh là người bạn thân, biết khôi hài cho em vui mỗi khi em vương trầm thống trong lòng.

    Xin tạ ơn đời vô lượng! Đã cho em một người chồng tuyệt vời như thế! Biết nghiêng vai gánh hết cho em bao đa đoan bếp núc trong nhà. Biết làm cơn gió lộng, thổi tan đi nóng bức đời em. Biết truyền cho em bài học sâu xa về Đạo, học hạnh của đất, để âm thầm lắng nghe Tâm nhẫn, hướng tương lai về cõi vĩnh hằng.

    Xin cảm ơn cái chết của anh, cho em thấu hiểu vô thường, cho Tâm Bồ Đề em thêm kiên cố! Dọng ơi! Tuy em hiểu mình chưa bao giờ mất nhau, ta và thế giới chưa bao giờ rời nhau trong gang tấc, nhưng xin cho em chút thời gian đi anh! Tin em đi Dọng! Sẽ có một ngày mình gặp lại nhau, là cùng hội ngộ trong nguồn cội chân nguyên bao la quang rạng.


    Các bài viết khác của Trương Kim Báu:
    - Lời Hứa
    - Phi Vụ Cuối Cùng
    - Số Mệnh
    - Anh Em
    - Hội Ngộ
    - Xả Tang

  • #2
    LỜI HỨA - Trương kim Báu

    Tôi đang sửa lại bình hoa trong phòng khách, nghe tiếng ồn của các con.
    - Me ơi có kết quả kỳ thi lớp 12 rồi. Kết quả của con mà chị cứ đòi xem trước.
    - Của em thì để em mở, hai mẹ con mình vào đây, me cần nhờ con gái chút việc.
    Tất cả các gia đình tỵ nạn nào cũng đều muốn con mình học hành tử tế để sau này có một tương lai tốt đẹp. Như thế hệ đầu tiên, qua Úc không giám đi học lại dù ngày xưa ở Việt Nam đều là dân trí thức, một phần lo cho gia đình ở đây, một phần lo thêm 2 bên nội, ngoại ở quê nhà. Người ở lại đều hy vọng được sự giúp đỡ tinh thần lẫn vật chất từ người ven trời hải ngoại.
    Gia đình chúng tôi không ngoại lệ, muốn con cố gắng học nên tôi hứa.
    - Con ráng học, thi lớp 12 điểm cao vào được những ngành nghề rồi me sẽ thưởng.
    - Muốn gì me cũng thưởng hết hả ?
    - Đúng vậy, nhưng từ 500 đô trở xuống.
    Đi chùa về, đêm đã xuống nhưng khí hậu vẫn oi nồng nóng bức, hai vợ chồng tôi ra ngồi nơi mái hiên trước nhà hy vọng đón những ngọn gió mát rong chơi về muộn, con trai đến ôm mẹ và nói.
    - Con muốn me mua thưởng cho con một con chó.
    - Tại sao lại một con chó? Sao không mua máy hát, áo quần, giày v.v.
    - Con chỉ muốn nuôi một con chó.
    Tôi ngồi thừ người ra. Ngày còn bé tôi nuôi đủ loại thú, đến lúc thấy chúng phải được hòa đồng cùng thiên nhiên theo bầy, tôi thả cho chúng tự do hết, chỉ còn con chó không biết phải thả đi đâu nên giữ lại.
    Năm 75 tôi sống ở Sài Gòn, chị Hương người đã theo tôi hồi nhỏ, chó phải về quê theo chị, chó bỏ ăn rồi chết.
    Từ đó tôi tự hứa không bao giờ nuôi bất cứ con vật nào nữa. Chồng tôi hạ giọng:
    - Em à, em đã hứa với con thì phải giữ lời. Em không muốn nuôi các con vật là chuyện của em. Đây là việc phải giữ lời hứa, là con trai nuôi chứ không phải em nuôi.
    Con trai chỉ hình con chó cho tôi coi, đó là giống Doberman đẹp, khôn, giữ nhà rất giỏi. Những người nuôi giống đó họ cho rằng cắt tai, cắt đuôi và thiến mới đẹp.
    Tôi ra điều kiện cùng con trai, nếu nuôi chó thì không được cắt tai, cắt đuôi, và không được thiến. Chó cần có tai để nghe, đuôi chó là thứ ngôn ngữ để chúng giao lưu tỏ tình thân ái. Thiến chó là mình làm tổn thương thân xác nó.


    Con trai bằng lòng những điều kiện tôi đưa ra, mua giống chó nguyên gốc không lai nên giá hơi đắt. Ba đứa con tôi rộn ràng chuẩn bị tất cả các thứ cho chó, kể cả đặt tên. Đó là con chó con vừa dứt sửa mẹ, nó mập ú, lông vàng đậm thật dễ thương. Các con tôi chuyền tay nhau bồng ẵm không rời, nhà vui hẳn ra theo tiếng rộn rã cười nói xôn xao.
    Đêm đó Dobi nhớ mẹ la cả đêm chẳng dừng. Có lẻ vì uống sữa tươi lạ bụng nên nó đi cầu, phòng học trở thành bãi chiến trường vào buổi sáng hôm sau. Dĩ nhiên con trai tôi phải lo chuyện quét chùi dọn sạch. Vậy là phải đi mua thuốc rải để Dobi đi cầu ở một nơi nhất định.
    Dobi được gởi học trong trường huấn luyện như phải biết vâng lời người săn sóc, bảo ngồi, đứng, đi hay cho phép ăn thì mới được ăn, khi người lạ đã vào nhà mà không có chủ ở nhà, thì phải biết giữ người ấy lại, không cho ra khỏi nhà nhưng đừng cắn, chỉ hù dọa thôi. Trừ khi nào chủ về ra lệnh cắn, thì nó mới cắn và luôn luôn cắn ở cổ.
    Một hôm, Thầy Thiện Tâm, trụ trì chùa Hoa Nghiêm đến nhà chúng tôi, Dobi vô cùng thân thiện trườn lên mình Thầy, rồi nó thật vui mừng cùng Thầy nằm lăn trên thảm cỏ xanh đùa giởn, làm Thầy cười vang thoải mái, nụ cười hồn nhiên của tình bạn trong veo, không hề có giai cấp giữa đạo trong đời và đời trong đạo.
    Thời công phu sáng của tôi, bao giờ Dobi cũng đòi vào, lúc đầu tôi sợ Dobi làm ồn nên không cho vào. Dobi cào cửa sủa và kêu la, thấy nó làm dữ quá, tôi bèn cho vào và dặn.
    - Me đọc kinh, con phải thật yên lặng.
    Dobi hiểu ý, đến gần nơi tôi ngồi trong im lặng. Xong buổi lễ, tôi đứng dậy và Dobi cũng đứng lên theo.
    Những lúc tôi làm vườn Dobi luôn kề cận một bên, tôi bỏ cỏ vào trong giỏ có quai xách, sai Dobi đem đến đổ ở góc vườn để ủ phân. Ồ! Thật không ngờ! Dobi làm đúng, từ đó nó là phụ tá của tôi.
    Một buổi sáng ra làm vườn, tôi tìm không ra cuốc, cào cỏ nhỏ.
    - Dobi, con có thấy cái cuốc và cào cỏ nhỏ của me không?
    Thật ngạc nhiên, Dobi vào chuồng cắn đem ra.
    Những buổi tối trời nóng, tôi thường nằm võng ở trước hiên nhà, Dobi theo tôi nằm sát bên dưới. Tôi hỏi:
    - Dobi, con là ai mà kiếp này mang thân chó ?
    Tiếng rên rỉ của Dobi làm tôi nghẹn ngào cho vô minh bao phủ cuộc đời! Chúng sanh mãi chập chùng luân hồi sanh tử khôn nguôi trong a tăng kỳ kiếp!
    Một hôm tôi làm vườn ở sau nhà, chồng tôi đi ra phố sẽ về ngay nên không đóng cổng. Có người di dân ở đầu đường mỗi ngày đi qua thấy vợ chồng tôi ông đều chào, hôm nay ông vào tận sau vườn.
    - Tôi muốn gặp chồng bà.
    - Chồng tôi đi vắng.
    - Con trai bà đâu ?
    - Cháu đi làm xa.
    Ông bước đến gần tôi, nhìn vào mắt ông tôi có cảm giác không an toàn, tôi kêu:
    - Dobi! Dobi!
    Lúc đó Dobi đem cỏ đến ở góc vườn, nó cảm được tiếng gọi không bình thường của tôi. Dobi chạy thật nhanh đến đứng sát bên tôi, và gầm gừ nhe răng, người đàn ông kia vội đưa hai tay lên, miệng luôn nói OK, OK và bước thụt lùi dần. Tôi cầm giây trên cổ Dobi lại vì nó làm dữ quá, tôi sợ ông đó té ngã thì phiền lắm. Dobi từ đó theo sát tôi hơn.
    Một hôm Dobi bỏ ăn chúng tôi đưa đi bác sĩ, chi phí trên 3.000 Aud vì phải cần ca phẩu thuật.
    Chiều đó, đi chùa mà lòng tôi buồn lắm! Thường lệ, mỗi khi thời kinh xong, một nhóm phật tử quen thân đều tụ họp xuống nhà bếp, Thầy trò ngồi chuyện trò, bàn tính việc chùa. Đôi khi Thầy mời ăn cháo do Thầy đích thân nấu, thầy nấu cháo ngon lắm, cháo trắng ăn cùng trái olive kho, ngon vô cùng! Thầy nhìn và hỏi tôi:
    - Sao thấy chị buồn quá, có chuyện gì ?
    Tôi nói về bệnh của Dobi và giá tiền phải trả nếu đi mổ. Thầy nói:
    - Tiền hơi đắt so với người Việt mình để chữa bệnh cho con vật, nhưng nó cũng là thành viên trong gia đình, thầy nghĩ anh chị nên chữa cho nó.
    Rồi thầy lấy từ túi áo tràng ra một bì thư.
    - Có người mới cúng dường thầy, chị cho thầy phụ tiền bác sĩ của Dobi.
    Chúng tôi cảm ơn thầy và không giám nhận, nhưng nhờ thái độ bao dung cùng lòng từ thênh thang trải rộng của thầy, chúng tôi mạnh dạn đem Dobi đi chữa trị. Dobi nằm nhà thương một tuần lễ, bị ung thư ruột vào thời kỳ cuối, mỗi ngày chúng tôi đều đến thăm.
    Sáng đó bác sĩ kêu chúng tôi đến liền để từ giã Dobi. Nghe tiếng chúng tôi, Dobi mở mắt và như muốn đến sát chúng tôi mà không thể nào lết gần lại được, bác sĩ phải phụ giúp. Chúng tôi ôm đầu vuốt ve và nói cùng Dobi những lời yêu thương sau cuối rồi đọc kinh cho nó. Bác sĩ mời ra làm thủ tục và ký giấy nhờ ở đó chôn cất Dobi.
    Đã biết có duyên mới trùng ngộ, thế mà tôi đã đem lòng tính toán đối đãi với Dobi khi nó bệnh. Nhờ câu nói của thầy Thiện Tâm, "Nó cũng là một thành viên trong gia đình". Thầy đã cho chúng tôi một bài học tình thương, không so đo trong những bất toàn của thế gian sinh tử, vô thường là bài học giúp tôi nhận chân được đâu là tham sân si vướng mắc trong tôi. Nếu không có lời nói và cử chỉ sẻ chia đạo hạnh hồn nhiên của thầy thì sau này chúng tôi sẽ ân hận vì ngày đó mình đã không hết lòng với chú chó thân yêu.

    Comment


    • #3
      Phi Vụ Cuối Cùng



      Phi Vụ Cuối Cùng
      Trương kim Báu

      Anh Vũ văn Bảo Không Quân email hỏi tôi về tin tức anh Ngô văn Trung, biệt hiệu Trung gà, bay A37, phi đoàn 524, có người nhờ anh tìm. Anh Trung đã ra người thiên cổ, đã nằm sâu trong lòng đất mẹ Việt Nam từ năm 75 rồi, sao bây giờ mới có người tìm anh.
      Như một cuộn phim, đầu óc tôi quay về năm 75.
      Tháng 3 năm 75, tôi đem các con theo ngân hàng Việt Nam Thương Tín di tản vào Sài Gòn. Sau đó, bao gia đình của 524 cũng được lệnh di tản nên lần lượt họ ra đi hết, chỉ còn các anh ở lại Nhatrang và Phanrang.
      Dọng vào Sàigon, trên người chỉ có bộ đồ bay. Dọng ôm tôi:
      - Có lệnh bỏ Nhatrang rồi!
      Trong giọng nói của anh, tôi nghe như có pha nước mắt. Chúng tôi ôm nhau và im lặng để nghe tim mình rướm máu! Mất thật rồi! Còn đâu Nhatrang quê hương yêu dấu! Nơi tôi đã sanh ra rồi khôn lớn. Tất cả đều để lại nơi chôn nhau cắt rốn, Thầy cô, bè bạn, người thân! Tôi nhớ từng con đường, từng hàng cây, từng viên gạch.
      Tối đó, Dọng đưa tôi đến nhà bác gái, mẹ của chị Quý, vợ anh Ngô Đức Cửu cùng phi đoàn, anh chị vào Saigon và ngụ ở đấy.
      Bốn người chúng tôi ngồi bên nhau không nói nên lời. Anh Cửu lên tiếng:
      - Chị Dọng, Nhatrang của chị vẫn còn nguyên.

      Lệnh ban ra chuyến bay này gồm Trung tá Bùi Gia Định (có vợ người Nhatrang là chị Đồng Minh, tiếp viên hàng không), Thiếu tá Đinh Xuân Ninh (có vợ cũng người Nhatrang là chị Chiếu Xuân, con dân biểu Lê Bá Chẩn), Thiếu tá Nguyễn văn Dọng (cũng có vợ Nhatrang là chị), Thiếu tá Ngô Đức Cửu (vợ người Saigon, cưới nhau rồi ra ở Nhatrang từ ngày đó đến nay, nên Nhatrang cũng là quê hương của chúng tôi).
      Anh Cửu nói tiếp, giọng thật trầm buồn:
      - Hôm nay, bay phi vụ cuối cùng trước khi bỏ Nhatrang, lần đầu tiên trong đời phi công, chúng tôi không tuân theo lệnh trên ban xuống. Nhatrang có trung tâm huấn luyện Không Quân, trung tâm huấn luyện Hải Quân, trung tâm huấn luyện Hạ Sĩ Quan ở Đồng Đế. Chúng tôi bay theo quốc lộ số 1, ra Dục Mỹ. Huấn luyện khu Dục Mỹ gồm có 3 trường:
      - Trường Lam Sơn huấn luyện và bổ sung cho các đơn vị Bộ Binh.
      - Trường Biệt Động Quân (bao gồm Nhảy dù và Thủy Quân Lục Chiến) huấn luyện quân nhân là hạ Sĩ quan và Sĩ quan.
      - Trường Pháo Binh huấn luyện Sĩ quan, hạ Sĩ quan thuộc binh chủng Pháo Binh.

      Còn Sình lầy và Mưu Sinh huấn luyện ròng rã 42 ngày cho các binh chủng khác. Những quân trường này cung cấp Sĩ quan và hạ Sĩ quan chuyên môn cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

      Nhatrang là thành phố với bãi biển đẹp và thơ mộng. Đó cũng là nơi có nhiều trung tâm đào tạo nhân tài ưu tú của Việt Nam, những trái tim nóng bỏng vì lòng yêu nước vô biên, họ bảo vệ từng tấc đất, từng hải lý của quê hương, họ chỉ muốn hoàn thành trách nhiệm trong thời ly loạn . Bay từ Nhatrang ra Ninh Hòa, Dục Mỹ, Khánh Dương, những tỉnh miền Trung mà Cộng sản chưa vào chiếm đóng, nhìn xuống thấy đồng bào mình bồng bế nhau đi. Chị có biết không, họ di chuyển bằng mọi phương tiện. Lính và dân cùng ngồi trên những chiếc xe nhà binh, người ta cũng ngồi xếp đống nhau trên mui những chiếc xe chở chuyên hành khách, xe Honda cũng chất người lên mà chạy. Chúng tôi bay thật thấp, thấy đồng bào mình vẫy tay vui mừng, họ đâu biết rằng chúng tôi được lệnh phải thả bom sập cầu. Đồng bào sợ chế độ cộng sản tìm về cùng một giới tuyến với Việt Nam Cộng Hoà, nên họ đang di tản. Làm sao chúng tôi có thể đang tâm phá sập cầu! Họ đã quá khốn khó rồi! Không thể làm cho họ khổ hơn. Đó là đồng bào ruột thịt của mình mà. Phi công chúng tôi mỗi ngày ra đi là để bảo vệ quê hương chứ không thể hủy hoại quê hương. Từ trên cao nhìn xuống, quê hương mình đẹp quá!
      Cầu Xóm Bóng Nhatrang trong bình minh thật đẹp, tháp Bà Ponagar một nền văn hóa của Champa di tích oai nghiêm, bãi biển trải dài sóng biếc mộng mơ, Cầu Đá râm ran nụ cười của ngư dân chất chứa sự ân cần thân thiết. Nơi nào cũng đáng yêu và tràn đầy kỹ niệm. Bay qua các trung tâm huấn luyện, lòng dâng lên niềm thương nhớ những ngày từ giã ghế nhà trường để bước vào đời lính. Nơi đó đào tạo nghề chuyên môn cho chúng tôi song song với tác phong của người lính trong tình yêu thương đồng bào và đất nước. Ngày ra trường, tất cả các trung tâm đều có điểm giống nhau là những khóa sinh phải quỳ xuống thệ nguyền, không màng tánh mạng, đem thân mình chở che cho Tổ Quốc thiêng liêng.
      Cuối cùng, 4 chiếc chúng tôi đều trút bỏ tất cả những trái bom xuống biển cả xa khơi. Tôi biết các chị sẽ khóc nhiều, kể cả vợ tôi, và sẽ giận hờn nghiêm trọng nếu chúng tôi làm Nhatrang của các chị bị tổn hao.

      Những giọt nước mắt đã chảy dài thay lời cảm ơn sâu sắc. Các anh đã giữ gìn Nhatrang không sứt mẻ trước khi được lệnh rời bỏ Nhatrang. Hôm sau Bùi Gia Định đến nhà chúng tôi, vì có lệnh đưa vợ con của những người trong phi đoàn di tản.
      - Chị Dọng, hỏi anh của chị xem tình hình hiện giờ ra sao?
      Tôi có ông anh họ làm phụ tá đặc biệt cho thủ tướng, anh ấy cũng yêu nước, cả gia đình đều ở lại và anh cũng đi tù miền Bắc.
      Anh Định nói nếu nước nhà không phải về tay cộng sản thì những phi công đều muốn ở lại để đem tài sức mình xây dựng quê hương, vì đào tạo một phi công vô cùng tốn kém.
      Những người bạn của tôi, những chàng trai hào hùng, những trái tim đầy nhiệt huyết và một tấm lòng yêu quê hương tha thiết, mỗi ngày các anh cất cánh ra đi, tung bay bốn phương trời hầu bảo vệ từng tấc đất, tôi hiểu và kính trọng các anh.
      Chúng tôi đều ở cư xá không quân. Nhà anh chị Cửu và anh chị Định gần nhau, nhà chúng tôi thì ở phía trong. Tối nào các anh cũng đến nhà chúng tôi tề tựu, mỗi người cầm trong tay một tờ báo để xem và không nói với nhau một tiếng nào. Riêng bọn đàn bà chúng tôi tâm sự với nhau đủ chuyện. Sau này anh chị Ninh dọn về villa của cha mẹ ở đường Yersin, bây giờ đã biến thành khách sạn 5 sao của nhà nước cộng sản.
      Thời thế đã đổi thay, những chàng trai có trái tim một lòng vì nước thương dân đã vào tù nơi miền Bắc. Cộng sản không dùng những nhân tài, các anh không còn cơ hội đem sức mình để dựng xây đất nước.
      Vì các anh muốn góp tài góp sức để làm lợi ích quê hương nên các anh ở lại. Chúng tôi, những người vợ cũng là dân Việt, chúng tôi cũng muốn góp một bàn tay nên chúng tôi cùng ở lại.
      Ôi Bùi Gia Định! Một thiên tài! Lúc còn ở ghế nhà trường anh là một sinh viên y khoa, nhưng anh xếp bút nghiêng theo việc đao binh. Anh nhỏ tuổi nhất trong 4 người mà cấp bậc anh cao nhất. Anh bay giỏi và thả bom chính xác, anh đã diệt không biết bao nhiêu chiếc xe tăng của địch. Trên áo bay vẽ một ngôi sao là anh hạ một xe tăng. Anh bay giỏi đến nỗi Bộ Tư Lệnh Không Quân bắt anh phải nghĩ bay đi dưỡng sức ở Đalat vì sợ anh hăng quá sẽ gãy cánh . Gần mười năm anh mới được ra trại tù, vậy mà khi qua đến đất nước tự do anh học lại và lấy được mảnh bằng Tiến sĩ. Những năm lao tù miền Bắc, các anh đã hiểu người cộng sản và các đối xử giữa người với người ra sao rồi.
      Đàn bà chúng tôi ở lại quê nhà sau năm 75 tuy không ở nhà tù nhỏ như các anh, mà ở nhà tù lớn hơn một chút, đến giờ này vẫn không trách giận các anh mà còn yêu kính các anh hơn.
      Dọng và Định đã ra đi rời cõi điêu linh hay trở về một nơi an bình thật sự, chẳng còn gì toan tính cho cuộc đời này. Quê hương đó là cả thế giới bao la đại đồng, chỉ còn sự hài hòa ung dung trong tình thương hồn nhiên thanh tịnh.
      Ninh và Cửu vẫn còn đây, các anh vẫn liên lạc hỏi thăm nhau. Tấm lòng các anh vẫn rộng như bầu trời các anh đã bay qua, chữ Tổ Quốc và Không Gian nay không còn trên áo các anh mà đã khắc sâu vào trái tim, đã in dấu ấn đậm đà trong tiềm thức. Một thời qua, các anh từng quên luôn bản thân mình, quên cả thân bằng quyến thuộc như vợ con để đem hết khả năng làm tròn nghĩa vụ, bổn phận của quân nhân trong thời chiến.
      Thời thế đã đổi thay nhưng mấy chị em vợ của những chàng phi công ngày nào vẫn liên lạc, hỏi thăm lo lắng giúp đỡ nhau trong mọi tình huống, để rồi nhìn nhau với những nụ cười trên khóe mắt của tuổi xế chiều, trong ánh bình minh đầy màu sắc trên bãi cát trắng phau đượm mùi hương của sóng gió. Mọi việc không còn gì cả, nhưng NhaTrang vẫn là của chúng mình. NhaTrang vẫn mãi ở trong lòng chúng mình phải không các bạn thương mến của tôi.

      Comment


      • #4
        SỐ MỆNH - Trương kim Báu

        Thấm thoát đã gần sáu mươi mùa lá đổ, Tuyết Mai và tôi từng là đôi bạn thân thời trung học. Giờ đây kẻ còn người mất, tôi xin kể một hồi ức thương yêu với bạn, Đặng Tuyết Mai, người của công chúng, một thời là đệ nhất phu nhân của Việt Nam Cộng Hòa.


        Chúng tôi chuẩn bị ăn tối chợt có bà chủ của xưởng gỗ ở quốc lộ số 1 Nha Trang xuất hiện. Chồng bà là đảng viên của Quốc Dân Đảng đã bị Việt Minh ám sát, nên bà đưa Tuyết Mai và con trai tên Tri vào Nam, một mình lo dựng nghiệp. Bà vô cùng đài các sang trọng, nét dịu dàng đằm thắm và quý phái làm tôi hơi choáng trước chiếc áo dài nhung đen thanh lịch với mái tóc quấn quanh đầu, vẻ cổ kính của miền Bắc Việt Nam. Bà xin anh tôi giấy chứng nhận Tuyết Mai bị bệnh không thể đến trường nhập học đúng ngày. Tuy đã biết nhau trước đây, nhưng Mai và tôi thân hơn từ hôm ấy.

        Tuyết Mai học trường Convent des Oiseaux ở Đalat, mỗi dịp tết hay nghĩ hè Mai đều về Nha Trang tìm tôi, hai đứa bàn chuyện gió mây trên trời dưới đất rồi đi ăn quà vặt, rồi cùng nhau đạp xe thư giản dọc theo bờ biển để nghe tiếng sóng vỗ về thơ mộng.

        Trước khi chia tay, Tuyết Mai dặn tôi:
        - Nhớ viết thư cho Mai, nếu ăn món gì ngon thì nhớ quẹt vào trong thư và tả cho Mai nghe, ở nội trú không được ăn các món mình thích đâu.

        Tình bạn cứ diễn ra đều đều như vậy. Vào năm chúng tôi cùng học đệ tứ (lớp 10), Tuyết Mai đạp xe đến tìm trong lúc tôi đang học bài thi.
        - Mai muốn đi xem bói coi kỳ thi này mình đậu không? Mai biết chỗ, 2 đứa mình cùng đạp xe đi nhé.

        Chỗ Mai chỉ là ông thầy mù ở Cây Dầu Đôi cách Nhatrang 3 km. Vừa đến nơi, thầy kêu chúng tôi ngồi nghĩ mệt, uống nước. Mai nhường cho tôi xem trước. Thầy bỏ 4 đồng xu vào cái mu rùa nhỏ, hỏi tuổi tôi và nói muốn coi gì? Thầy lắc mu rùa vài lần rồi đổ ra dĩa, lấy tay mò trên mỗi đồng xu, đoán chuyện thi cử cho tôi.

        Đến phiên Mai ông cũng làm như vậy, nhưng ông lắc đổ ra nhiều lần và ông nói thật kỳ lạ quá, cháu này mạng quý, sẽ có chồng danh tiếng nhất Việt Nam, cháu rất nổi tiếng, đừng bao giờ sửa sắc đẹp trên mặt, sẽ phá đi quý tướng.

        Vừa bước ra khỏi cửa nhà thầy mù, tôi cười rộ lên vì người nổi tiếng nhất nước Việt nam lúc ấy là tổng thống Ngô Đình Diệm, chẳng lẽ Mai kết hôn với tổng thống Diệm. Tôi thích thú ghẹo Mai rồi đạp xe thật nhanh, vì phía sau Mai đang rượt theo phản đối, nhờ thế đường về Nhatrang ngắn lại.

        Cả hai đứa cùng bàn về vụ coi bói, ông mù thật vì cặp mắt sụp mí xuống thì làm sao thấy Mai đẹp mà nói có tướng quý và kết hôn với người nổi tiếng nhất Việt Nam, chúng tôi càng không tin dù Tuyết Mai thật duyên dáng mỹ miều, nhất là miệng cười thật tươi với bản tánh hồn nhiên phúc hậu.

        Năm sau Mai chuyển về học trường Peter Lycer Nhatrang gần bãi biển. Mỗi chiều tan học từ trường Lê Quí Đôn chúng tôi đạp xe đến trường Pháp, Mai đứng đấy chờ rồi hai đứa chạy xe dọc theo bãi biển, có khi cùng uống một ly nước mía hay ăn chè v...v... rồi mạnh ai nấy về nhà.

        Thi tú tài xong, Mai vào chiêu đãi viên hàng không, chúng tôi ít có dịp gặp nhau. Thỉnh thoảng bận việc xuống phi trường, tôi đều gặp mẹ của Mai, bà đem thức ăn tẩm bổ cho con gái, lúc đó tôi mới thấy được Mai. Mỗi lần được nghỉ phép, Mai về Nhatrang thăm nhà rồi tìm tôi hay nhắn tôi xuống nhà Mai chơi.

        Rồi Mai kết hôn với ông Nguyễn Cao Kỳ và bắt đầu nổi tiếng thật. Lần đó, Mai đi Nhật về có ghé thăm và tặng tôi một con búp bê Nhật thật đẹp.

        Một lần tình cờ gặp nhau trên đường phố Lê Lợi Sài Gòn, Mai nhất định mời tôi đến thăm tổ ấm của Mai ở Tân Sơn Nhất, và lần sau, Mai đem đứa con gái là Kỳ Duyên đến khoe.

        Rồi tôi có gia đình, chồng tôi là phi công phản lực. Những lần ông Kỳ ra Nha Trang đều mời người các phi đoàn ra ăn sáng ở bãi biển và tối đến tổ chức những buổi dạ vũ chung vui. Chồng tôi biết Mai và tôi quen nhau từ nhỏ nhưng anh không muốn tôi tham dự ăn uống hay hòa vào những buổi dạ vũ, vì lúc đó chung quanh Mai rất đông bạn bè quan khách. Vã lại, vợ chồng tôi trân quí từng ngày bên nhau, thời chinh chiến mạng sống anh quá đỗi mong manh! Mỗi sáng chúng tôi luôn ôm nhau thật chặt trước khi anh rời nhà, bởi chúng tôi đều hiểu rằng biết đâu buổi chiều anh sẽ không về nữa, có thể anh sẽ gãy cánh bất cứ lúc nào, nên tôi tôn trọng ý kiến của chồng.
        Có lần vợ chồng tôi đang ăn ở tiệm phở Chutt Cầu Đá Nhatrang, là tiệm phở gà nổi tiếng nằm trong lòng chợ, khi chợ chiều tan quán mới mở cửa tới khuya, thì Vợ chồng Mai bước vào. Lúc đó ông Kỳ là phó Tổng Thống mà cũng là tư lệnh Không Quân. Chúng tôi tay bắt mặt mừng, ông rất thương binh chủng Không Quân và sống rất có tình với bạn bè lẫn cấp dưới, cũng như Mai đối với bạn bè trước sau như nhất, Mai thường nhắn lời hỏi thăm tôi và đôi khi gởi tí quà.

        Năm 75, ông Kỳ hẹn các anh phi công phản lực đến bến Bạch Đằng để cùng nhau di tản.
        Ngày ông Kỳ mất chồng tôi ngồi im lặng thật lâu, nét mặt anh buồn vời vợi cũng như tôi khi nghe tin Tuyết Mai đã ra đi, tôi đã cảm nhận sự mất mát quá chân tình và nhớ lại những kỷ niệm ấm áp ngày xưa, dù sau này chúng tôi ít liên lạc với nhau.

        Ông thầy bói đã nói với chúng tôi rằng mọi người sanh ra đều có số mệnh định sẵn. Bên đạo Phật thì người sanh ra thế nào là do duyên nghiệp, giàu nghèo đẹp xấu là do nghiệp do túc duyên mỗi người đã tạo ra từ đời trước để đúng lúc đúng thời là trổ quả. Cũng có biết bao nghiệp do mình mới tạo ra kiếp này và quả trổ liền. Số mệnh có thể chuyển do trí tuệ nhận thức ra rằng nghiệp chỉ là bài học cho mình thấy ra nhân quả, từ đó mới có sự tiến bộ cho bản thân phát triển lòng từ, vì chỉ có lòng từ mới vĩnh tồn giữa trời đất bao la vi diệu.

        Comment


        • #5
          Anh Em - Trương kim Báu


          Trời mưa từ sáng đến giờ không dứt, dường như có bão tố ở đâu. Tôi hết đọc truyện lại đi lên đi xuống thang lầu. Anh tôi bận việc nên phải ra đi, có lẽ hiện giờ anh đang ở phi trường.
          Chú Lan và chú Thái là hai người làm vườn trong nhà, hôm nay đến dọn sạch khu đất đã trồng bắp thời gian qua, và bón phân để trồng loại khác, nhưng mưa dai dẳng nên hai chú cứ ngồi chơi cờ.
          - Hai chú đánh cờ mãi không chán sao? Con muốn tắm mưa.
          - Không được đâu cô! Cô lớn rồi! Chạy ra đường tắm mưa kỳ lắm!
          - Không phải vậy. Con muốn nhờ hai chú lên sân thượng, lấp kín dùm con mấy chỗ để nước không chảy ra, thành cái hồ cho con bơi trong đó.
          - Ô! Được! Được! Chúng tôi đi liền.
          - Con thay áo tắm rồi lên phụ 2 chú nha!
          Trời bắt đầu mưa lớn nhưng nước vẫn chưa lên được đầu gối. Tôi vẫn tắm, có lúc nằm dài trên mặt nước như nàng tiên cá, cất cao giọng hát hòa cùng tiếng mưa rơi làm nhạc đệm.
          Cánh cửa sân thượng bật ra. Anh tôi đang đứng đó mĩm cười. Nước có lối thoát nên ào xuống thang lầu như một dòng thác nhỏ, ướt hết giày và hai ống quần của anh.
          Anh nghiêm mặt lại, giọng ra lệnh:
          - Em đi tắm, gội đầu, thay quần áo và sưởi ấm người lại.
          Anh rầy hai chú.
          - Nếu máy bay không đình chỉ, tôi không về kịp thì nhà này sẽ hư hại nặng, vì không thể chứa lượng nước nhiều như vậy trên sân thượng. Hai chú hiểu không? Tại sao hai chú lớn lại đi nghe lời con bé?
          Tôi hối hận vì làm hai chú bị la, nhưng không ai giận tôi cả. Tôi bước ra vườn, phụ hai chú săn sóc những cụm hoa và thu hoạch mấy luống khoai lang, loại khoai đặc biệt này mẹ rất thích, tuy củ nhỏ nhưng vô cùng ngọt.
          - Nhà chỉ có hai anh em, tôi bỏ em ở nhà hoài, thấy ngại quá!
          Đó là lời anh nói với người bạn, vô tình tôi nghe được. Nên để anh yên lòng đi chơi, gần cuối tuần tôi xin phép anh về quê của Bích, hay xem ciné cùng Yến ... v...v...
          Hôm ấy, anh rất vui khi thấy tôi có ý đi ciné cùng Yến. Thật ra Yến đang có hẹn riêng, nên tôi cũng đi ciné nhưng lại đi một mình. Từ rạp bước ra, tôi uống ly nước mía, Sơn (học cùng lớp) cũng đang ở đó, chúng tôi cùng nhau đi về.
          Nhà Sơn ở khuất bên trong con đường. Còn nhà tôi nằm trên góc ngã ba, anh tôi đang đứng trên lầu nhìn xuống, sẽ thấy rõ tôi cùng Sơn song bước trở về, trong khi tôi đã xin phép cùng đi với Yến.
          Lúc đó, có chiếc xe hàng to đậu ven đường. Tôi kêu Sơn cùng trốn sau chiếc xe cho anh tôi không nhìn thấy. Hai đứa ngồi chồm hổm núp sau xe, tôi nhắm mắt lại. Hồi lâu mở mắt ra, chiếc xe đã chạy đâu mất, hai đứa vẫn còn ngồi dưới đường lánh mặt anh tôi. Mắc cở quá! Quay qua tôi nhằn Sơn.
          - Sao bạn không kêu tôi? Xe chạy rồi! Ngồi kỳ quá hà!
          - Thấy bạn ngồi và nhắm mắt, tôi cũng làm như bạn, đâu biết xe chạy lúc nào.
          - Thôi bây giờ mạnh ai đi về nhà nấy.
          Băng qua đường là đến trước nhà. Vừa lên lầu thấy anh ngồi đó đọc báo, tôi hỏi như muốn khóc.
          - Hồi nảy anh thấy gì không?
          - Thấy gì?
          - Thật anh không thấy gì?
          - Anh đọc báo. Chờ em về, rủ đi biển. Em vào thay áo, anh em mình đi chơi.
          Anh đưa tôi đi biển. Hai anh em dạo gần bờ nước, anh cầm giày và ví cho tôi. Anh bảo:
          - Có đi chơi cùng bạn trai, khi dạo trên biển phải đi phía trong, để người con trai dẫn đầu, đưa họ cầm giày và ví cho mình. Còn đi phố, lúc nào cũng phải đi phía bên tay mặt của bạn. Vì họ phải có bổn phận bảo vệ phái nữ. Hôm đó, anh đưa tôi đi ăn nhà hàng sang trọng, dạy tôi cách ngồi, cầm dao, nĩa, muỗng, cách ăn uống và xắt từng miếng thịt thế nào.
          Một hôm, anh vào phòng, thấy tôi và chị Hương đang chơi búng dây thun.
          - Em sửa soạn, anh chở em đi dự tiệc. Tiệc này do nhóm con nuôi của ba tổ chức, lâu lắm tất cả mới họp mặt được một lần.
          Anh quay lại.
          - Nhớ ăn mặc thật đẹp.
          Tôi cười.
          - Em mới may áo dài xanh, để em đưa anh coi, đẹp lắm!
          - Còn áo nào nữa không?
          - Ồ, áo này không đẹp hở anh?
          - Đẹp! Đẹp! Em nhớ trang điểm.
          - Em đâu có gì để trang điểm.
          - Chờ anh một chút!
          Một lúc quay về, anh đổ ra đầy bàn son phấn, nước hoa, rất nhiều viết kẻ mắt, môi.
          - Anh mua nhiều quá! Toàn là tiếng Anh! Em không biết cách dùng!
          - Không sao! Anh giúp em.
          - Chị Hương ngồi làm mẫu cho cô nghe.
          Chị Hương rất sợ anh. Nếu tôi kêu chị không chịu đâu.
          Anh bắt đầu đọc. Thứ này bôi lên mặt trước, sau, thứ này nữa, bôi lên mắt, phía trong, phía ngoài, lên môi, vẽ màu này phía ngoài, màu kia ở trong, vẽ vành môi, đánh son, thêm màu bóng.
          - Ồ! Đã xong! Còn thử các loại nước hoa thôi.
          Xong rồi! Nhìn chị Hương và tự nhiên anh thụt lùi lại. Thấy vậy tôi vội nhìn chị và bật cười ha...ha...ha...
          Chị Hương cầm chiếc gương lên soi mặt mình và Chị cũng cười ...ha...ha... Hai đứa không cách nào nín cười được. Tôi trang điểm cho chị không đẹp thêm, mà là để nhát ma con nít.
          - Thôi! Em khỏi trang điểm gì hết! Thay quần áo, anh đưa đi.
          Đó là một ngôi nhà 2 tầng rất lớn, nằm ngay đường biển.
          Anh đại tá Lam Sơn và anh đại tá Trần văn Hai đứng chờ bên ngoài, thời ấy hai anh chưa lên tướng. Anh Lam Sơn coi bên lực lượng đặc biệt. Năm 75 anh không di tản, anh bị đi cải tạo, trở về cũng không chịu đi theo diện HO, anh mất ở Saigon.
          Anh Trần văn Hai đang coi trung tâm huấn luyện Dục Mỹ. Năm 75 anh không di tản, không đi cải tạo mà anh chọn cái chết.

          Hai anh thường đến nhà tôi chơi, và vào ngày giỗ ba, lúc nào cũng có mặt, các anh là con nuôi của ba tôi.
          Anh Lam Sơn ăn nói rất khéo. Nhìn tôi.
          - Út ơi, em trong sáng, giản dị nhưng rất đẹp!
          Rồi anh Lam Sơn quay qua anh tôi có ý trách thầm.
          - Mày để con bé ăn mặc thường quá!
          Anh Hai chỉ cười và nắm tay tôi dẫn vào nhà.
          Đông thật! Có mấy người chạy đến. Anh Lam Sơn giới thiệu nhưng tôi không nhớ rõ, chỉ nhớ anh Đỗ Cao Trí lúc đó là đại tá, sau này lên tướng và mất trước năm 75.

          Hôm sau anh Lam Sơn ra nhà tôi, anh đưa tôi 2 giỏ đầy quần áo mới, những bộ dạ hội thật sang trọng của các mệnh phụ phu nhân. Thấy không hạp với mình nên tôi đem trả lại, mắt anh tôi ánh lên niềm vui. Sau đó, hai anh nói chuyện với nhau bằng tiếng Pháp.
          Đi học về tôi ghé vào phòng mạch, để anh nhờ vợ của bạn đưa tôi đi phố, may và sắm quần áo, vì cách ăn mặc của chị tuy đơn giản nhưng đẹp và sang trọng.
          Lúc ra về, khi lấy xe, anh đứng lại bên người đàn bà chất phát quê mùa, tay bế một đứa con gái nhỏ, anh chăm sóc và nói chuyện vô cùng thân mật.
          Thấy tôi ngạc nhiên, anh kể người đàn bà đó nghèo lắm, phải nhịn ăn mới có tiền đi xe lên chữa bệnh cho con. Nên anh lo chỗ ăn ở cho họ và chữa bệnh không lấy tiền, lúc nào bé đó lành bệnh thì về.
          - Tại sao lại nhịn đói? Em còn biết nấu cơm, sao bà ấy không lấy gạo nấu cơm ăn mà nhịn đói?
          - Em không hiểu đâu, lớn thêm chút nữa em sẽ hiểu.
          Rồi anh bắt qua chuyện khác.
          Anh lập gia đình, di chuyển vào Sài Gòn được bốn năm. Hôm đó, mẹ vào thăm tôi và ở lại suốt một tuần. Mẹ dọn dẹp nhà cửa, nhất là phòng của anh. Từ lúc anh đi, mẹ cứ giữ lại phòng anh như cũ, thỉnh thoảng chị Hương hay vú vào lau bụi thôi, nay chính tay mẹ làm tất cả từ trong phòng tắm đến tấm trải giường, đến cả bình hoa trên bàn viết của anh.
          Chiều tôi về, thấy nhà sáng và đẹp ra, bàn tiệc đã bày sẵn, Vú nói con đi tắm rồi ra ăn cơm.
          Tắm xong, bước tới cửa thì Vú nắm tay tôi lại, nhìn ra thấy mẹ và anh đang ôm nhau, tôi chỉ nhìn phía sau, đôi vai anh run lên, dường như anh đang khóc, mẹ vuốt tóc anh.

          Say men đời rong ruổi khắp trần gian
          Quên bóng mẹ đang chờ con từng phút.
          Con vấp ngã mới nhận ra điều duy nhất
          Trên đời này không ai bằng mẹ được đâu
          Hàn Long Ẩn

          Vú kéo tôi vào phòng. Tôi hỏi vú chuyện gì vậy? Vú chỉ nói anh không được hạnh phúc trong hôn nhân.
          Có tiếng mẹ kêu ra ăn cơm. Hôm đó anh vui vẻ và ăn thật nhiều. Anh nói món này do mẹ làm, món kia là vú làm, chị bếp làm, tôi phục tánh sâu sắc của anh.
          - Con bé này tệ quá! Không phân biệt được ai nấu. Vú nói.
          - Đến bây giờ vẫn không có bạn trai. Vú không yên lòng về em con. Không biết lúc nào mới trưởng thành.
          Mẹ cười, vì mẹ biết, tôi đã kể cho mẹ nghe chuyện tình cảm của tôi rồi.
          - Vú đừng lo! Hãy để em con tự nhiên.

          Hãy là hoa, xin hãy khoan là trái
          Hoa nồng hương và trái lắm khi chua.

          Về lại nhà, anh thường tổ chức đi chơi ngoài trời. Anh tập tôi cỡi ngựa. Tập đoàn bác sĩ Nha Trang tổ chức đến mộ bác sĩ Yersin thắp nén nhang, dâng bó hoa vào ngày sinh nhật hay ngày giỗ của ông, vì ông là người sáng lập ra viện Pasteur Nha Trang năm 1898. Có tuần ra đảo, anh và các bạn lặng người dưới nước để bắn cá, cuộc đi nào anh cũng cho tôi tham dự và còn được rủ bạn theo.
          Chị dâu (vợ anh) thường gởi thư cho anh và mỗi tháng anh đều nhờ tôi đi gởi tiền cho chị. Vú nói anh chị vẫn thương nhau nhưng ở gần thì không hạp.
          Đến ngày lễ cưới của chúng tôi, anh lo các thứ từ chọn nhà hàng, quần áo cô dâu, chú rễ (vì chồng tôi đang ở xa, khi về đến Việt Nam là đám cưới liền nên anh phải lo dùm tất cả). Vậy mà khi rước dâu và tối đãi tiệc, anh lại bận bệnh nhân không dự được.

          Ngày tôi dọn ra ở riêng, anh cứ năn nỉ vợ chồng tôi mỗi ngày về ăn cơm, anh quá cô đơn mà tôi không hiểu. Chồng tôi muốn hai đứa có đời sống riêng, nên điều đình một tuần chúng tôi về ăn cơm với anh 2 lần và anh đến nhà chúng tôi ăn cơm 1 lần, anh vui lắm!
          Đến ngày tôi sanh đứa con đầu lòng, hôm ấy là ngày mà những phi đoàn phản lực đều ra Đà Nẵng, dưới sự chỉ huy của tướng Nguyễn Cao Kỳ để Bắc phạt (thả bôm miền Bắc).
          Chồng tôi chở tôi ra nhà hộ sanh từ sáng sớm, có mẹ, anh, Vú và thuê thêm 1 người nữa để nuôi tôi sanh, tất cả đều vui vẻ. Trong người bắt đầu khó chịu, chồng tôi đi bay lần này không biết có còn về để nhìn được mặt con không, tôi vừa đau trong tim, vừa đau ở bụng, nhưng ngoài mặt vẫn giữ nét bình thản như chẳng có gì lo.

          Tối đó tôi sanh một bé gái. Anh, mẹ và vú lúc nào cũng bên tôi. Hôm sau, chồng tôi về cùng 3 người bạn thân, các anh vẫn còn mặc áo bay trên người làm tôi cảm động.
          - Các bác đến thăm em bé đây. Vì không đến trình diện thì mẹ bé sẽ lo, sợ đại bàng gãy cánh, mà không dám hỏi ... Ha ...Ha ...
          Anh mời chồng tôi và các bạn đi ăn, gọi là khao quân.

          Từ nhà hộ sanh về, mẹ nhất định đưa mẹ con tôi về ở nhà anh để mẹ săn sóc dễ. Hôm cúng đầy tháng, anh đề nghị vợ chồng tôi ở luôn đừng về lại cư xá không quân, vì nghe tiếng khóc của em bé sẽ làm không khí trong nhà vui hẳn lên.
          Lúc đó, tôi vẫn chưa hiểu được nỗi cô đơn của anh nên chúng tôi lại dọn về tổ ấm nhỏ của mình.

          Đến tháng 3 năm 75, tôi phải theo ngân hàng di tản vào Sài Gòn, gặp anh để gởi lại chị Hương, người theo tôi từ lúc nhỏ và một con chó cũng theo tôi từ thời con gái. Anh vui vẻ nhận hết và còn dặn chồng tôi đi bay về ghé nhà ăn cơm.
          Rồi 30 tháng 4 năm 75 mất nước, chồng tôi đi tù miền Bắc, mẹ tôi bị ghép tội tư sản dân tộc và cấm không được ra khỏi làng. Chị Hương viết thư kêu tôi về gấp vì chính quyền đến bắt anh, đuổi chị và chị bếp ra để họ niêm phong nhà. Chị ôm con chó nhỏ của tôi về nhà mẹ.
          Tôi gởi con lại Sài Gòn, nhờ chị chồng trông coi và tìm mua vé xe chợ đen (sau 75 việc di chuyển thật khó khăn. Từ tỉnh nàyqua tỉnh khác muốn mua vé xe rẻ phải có giấy giới thiệu của cơ quan).
          Xe chạy suốt đêm, sáng đến Nha Trang. Tôi vội đến nhà người bạn thân, hoàn cảnh cũng như tôi, muốn thăm anh nhưng không có giấy phép. Chị hỏi tôi có tiền không? Tôi móc hết tiền ra. Chị đếm rồi nói sẽ mua cho tôi một vé xe giá chính thức về lại Sài Gòn. Còn đi thăm anh và về quê thăm mẹ thì có người chở dùm tôi đi, số tiền này chỉ đủ lo lót để vào thăm anh thôi.
          Tôi gặp anh ngay ngày hôm đó chỉ được 30 phút, tôi không có một món quà nào cho anh cả. Câu đầu tiên tôi nói cùng anh:
          - Em biết tại sao người đàn bà nhà quê đó nhịn đói rồi.
          - Tội nghiệp em tôi quá!
          Rồi anh dặn tôi đủ điều và bắt tôi phải hứa. Phải chung thủy cùng chồng. Phải thương người ngã ngựa.
          Đó là lần cuối cùng tôi gặp lại anh. Sau này nghe tin anh chết trong tù. Mẹ xin đem xác anh về chôn cất. Mãi đến mấy năm sau tôi mới trở về.

          Đứng trước mộ anh, tôi thắp một nén nhang và ngồi đó suốt buổi chiều trong ánh nắng tàn tro. Em đã mất anh rồi!!!

          Phải bước qua bao nhiêu dâu bể cuộc đời, em mới hiểu được nỗi cô đơn cùng cực của người anh chung máu mủ, mới hiểu được tấm lòng của anh dành cho đứa em gái dại khờ này.

          Thiên đàng rộng mở thênh thang, như trái tim anh luôn mở rộng cùng tha nhân trong cảnh khốn khó cơ hàn của họ. Em tin chắc anh của em sẽ đến được cõi yên bình vĩnh cửu.

          Comment


          • #6
            Hội ngộ

            Hội ngộ
            Trương kim Báu


            Taxi đang chờ, các con cháu vẫn mãi dặn dò, mỗi người một tiếng.
            Tôi phì cười: "Làm gì mà lo quá vậy, đây là Việt Nam quê hương của mẹ mà, taxi cũng là người quen, mẹ sẽ về đúng giờ, yên lòng nhé!"
            Tôi vội lên xe, sở dĩ ai cũng lo lắng vì tôi đã già và cách đây mấy tháng, tôi đã trải qua một sự mất mát lớn lao, người bạn đời vừa ra đi.
            Mấy chục năm trời xa nơi chôn nhau cắt rún, nay các con cháu đưa tôi về thăm lại quê hương, hy vọng cho tôi còn chút kỹ niệm thuở xưa, vơi đi nỗi buồn hiện hữu.
            Xuống xe, tôi đi bộ. Đây rồi cổng trường ngày ấy, nơi đã đánh dấu những ngày đẹp nhất của tuổi học trò. Tôi đứng bên rào nhìn vào sân cỏ.

            Ngày nhập học lớp bảy, bà vú bắt tôi phải mặc chiếc áo đầm trắng, tóc cột lên cài 2 cái nơ: "Con đã lớn, lên trung học rồi, hôm nay phải mặc áo dài trắng, đội nón lá và mang đôi guốc mộc".
            Tôi nói gì thì nói, vú vẫn làm theo ý mình. Hình như trên đời này, tánh các bà vú đều như vậy và những bà vú đều .... mập. Ngày còn trẻ các bà phải khỏe mạnh mới được thuê làm vú nuôi trẻ, thời gian qua, các trẻ đã lớn thì các bà vú càng ...... mập ...... hơn.
            Sáng nay vú nhất định đưa tôi tới trường, rồi vú còn hiên ngang đưa tôi vào tận lớp. Từ đó tôi có biệt danh là "thực dân". Trên bảng đen, không biết bàn tay tài hoa nào đã vẽ một chiếc xích lô, có một bà thật mập ngồi, bên cạnh là một cô bé mặc đầm, áo phấp phới tung bay. Vừa thấy hình ảnh này, vú định xuống văn phòng thưa, nhưng thấy đôi mắt tôi long lanh ngấn lệ, vú đã bỏ qua. Và vú không đưa tôi đến trường nữa. Tôi đi chung với cô bạn ở cùng đường. Cô này người tuy nhỏ nhắn nhưng rất xinh. Thế là trên bảng, lại vẽ hình chiếc xích lô, một người mặc đầm kế bên một người nhỏ xíu, bên dưới có mấy hàng ghi chú (thực dân và chuột lắc đi học).
            Trong trường, các bạn không kêu tên chúng tôi mà chỉ kêu bằng biệt danh. Sau này, chúng tôi mới biết tên tác giả của những hình vẽ là anh chàng học cùng lớp, ngồi sau 2 bàn chéo bên tay mặt tôi. Mỗi khi tôi quay đầu nhìn phía sau, là anh chàng đưa 2 tay lên làm dấu, ý nói mắt tôi to như hai con ốc bươu Các bạn ưa chọc, tôi thì mau nước mắt, vì vậy tôi có nhiều biệt danh như: thực dân, ốc bươu và mít ướt. Nhưng anh chàng này, cũng bị các bạn cho biệt danh là "nôn". Chúng tôi không biết sao lại có tên đó nhưng nghe mọi người gọi thì mình cứ gọi theo.
            Nghĩ đến chuyện xưa, tôi bật lên cười và tự nhiên miệng vọt ra tiếng: "Anh chàng nôn này!"
            Tôi giật mình, khi bên tôi có tiếng "dạ" thật to. Tôi quay lại, có một cặp nam nữ đang đứng gần tôi từ lúc nào, tôi không hay.
            Tôi mở to đôi mắt để nhìn, có tiếng la lên: "Thực dân! Thực dân! Đúng là thực dân rồi! Tôi, "nôn" đây, vợ tôi nè!"
            Thì ra chàng "nôn" ngày xưa, bây giờ là một ông già tóc đã muối tiêu.
            Sự vui mừng ập tràn đến, tôi bật cười ha hả và vẫn giọng điệu của cô học trò nhỏ ngày xưa: "Ôm chặc như vậy, không phải vợ, chẳng lẽ bà hàng xóm hay sao?"
            Giọng nôn hấp tấp" "Nhìn đi! Nhìn kỹ đi! Vợ nôn là ai?"
            Tôi chưa kịp nhìn thì người đàn bà đã gỡ tay ôm của chồng, lao thẳng vào người tôi. Giọng la lên như có nước mắt: "Chuột lắc đây, thực dân, chuột lắc đây!"
            Chúng tôi ôm nhau, rồi thả ra để nhìn nhau cho kỹ, rồi lại ôm nhau. Trên đôi má chuột lắc đã đầm đìa nước mắt. Tôi ôm vai cô bạn và chuột lắc ôm cánh tay tôi như ngày xưa. Nôn cười thật to, nhìn chuột lắc: "Kìa, gặp thực dân là quên cả chồng".
            - Sao hai người gặp nhau? Ngày xưa chúng tôi ghét nôn, vì nôn ưa chọc phá mọi người mà.
            - Tụi mình vào quán nước kia đi! Nôn nói tiếp: "Hai người ngồi yên để tôi bấm vài bô hình đã".
            Rồi nôn kể: "Bạn bè ai cũng biết tôi là lính biển mà, nên năm 75 lính biển phải theo tàu ra khơi. Trên tàu lúc đó dân chúng ngồi ở tầng dưới và ngồi cả trên boang tàu. Chúng tôi phải lo phát thức ăn và giúp đỡ những người bị say sóng. Tàu chạy được 3 ngày. Lúc đó tôi đang đi, thì có vật gì cản dưới chân, tí nữa là té rồi! Thì là cái chân của ai cố ý để ra, nhìn kỹ mặt thì là chuột lắc".
            Tôi lên tiếng: "Sao dám cản chân người ta, lỡ lầm thì sao, hở chuột lắc?" Lúc này bạn tôi mới liếng thoắc lên tiếng: "Sao lầm được, cái bảng tên trên ngực áo, rồi nhìn cái mặt chắc chắn mới dám chứ bộ".
            - Tôi đi một mình, chuột lắc cũng một mình, gặp lại bạn học cũ trong hoàn cảnh này, chúng tôi mừng như bắt được vàng. Ngày lên đảo, đám cưới chỉ có 2 đứa trước mặt là biển, trên đầu là trời, dưới chân là đất.
            Chuột lắc không có áo mới, không có nhẫn cưới.
            - Ô, cần gì, hai bạn có những kỷ niệm của một thời trung học, có mái trường chung, có thầy cô giáo, có bạn bè, là các bạn giàu quá rồi!
            Cả ba đều cười vui vẻ. Nôn khoe: "Chuột lắc học lại cũng làm nghề cũ". - Vẫn y tá hả?
            - Ừ, còn sanh cho 5 đứa con cho tôi nữa, trai gái đều có.
            Thật bái phục cô bạn của tôi.
            - Những năm sau này, chúng tôi đều về hưu, ở nhà phụ đưa đón các cháu đi học, và dạy tiếng Việt cho chúng. Nôn lại nói tiếp: "Mỗi năm chúng tôi cũng có đi đây đó. Năm nay, chuột lắc cứ đòi về Việt nam, tôi rất ngại, mình đi quá lâu. Chúng tôi mới về hôm qua.
            - Tôi cũng mới về hôm qua.
            Chuột lắc reo lên: "Thật là kỳ diệu! Vậy mà sáng nay chúng mình lại gặp nhau ở trước cổng trường xưa". Giọng chuột lắc lại có nước mắt hoà vào. Nôn lên tiếng: "Bây giờ chuột lắc có thêm một biệt hiệu nữa giống với thực dân rồi!"
            - Biệt hiệu gì? Mít ướt, tại sao?
            - Vì cô nàng hay khóc, nhớ nước, nhớ nhà, nhớ làng xóm, nhớ cha mẹ, nhớ trường, nhớ bạn bè ...v...v...
            Tôi choàng tay ôm cô bạn thật chặt thông cảm cùng bạn. Chuột nhắc lên tiếng: "Lúc ở đảo, chúng tôi có hỏi thăm về thực dân. Tại sao không đi ngày ấy? Cánh chim và gia đình ưu tiên 1 mà. Sau này lại qua Úc?"
            Thấy mắt chuột vẫn còn ướt, tôi cười to và nói: "Thực dân ăn bo sửa nhiều quá, ở lại ăn khoai mì cho biết với người ta. Còn cánh chim, Anh đã bay về tổ ấm rồi, nơi đó có một sự bình yên tuyệt đối. À, tại sao đi Úc hả, vì mê con kangaroos và con koala. Hai con vật lúc nào cũng đem con theo bên mình, giống người đàn bà Việt Nam" .
            Tôi choàng tay xoay người chuột lại, mặt đối mặt, tôi cụng đầu 2 đứa vào nhau .
            - Chuột nghĩ coi, lấy năm của 3 đứa cộng lại những ngày xa quê hương hơn cả 100 năm, ấy mà vừa về lại quê nhà, ngày trước, ngày sau mình gặp nhau, có phải là kỳ duyên không? Tại sao phải chảy nước mắt hoài?
            Nôn lên tiếng: "Phải đó, mình nhắc đến kỹ niệm xưa đi! Tôi đố tại sao lớp mình có tấm màn đen kéo qua tấm bảng đen?"
            Tôi đưa tay lên: "Tôi nhớ. Đó là ngày thầy Võ Hồng kêu tôi lên trả bài vạn vật. Tôi nghĩ mình mới được kêu trả bài tuần rồi, chắc tuần này thầy không kêu, nên không học bài. Thầy bắt vẽ cái hoa chẻ đôi rồi phải ghi chú chỗ nào là nhụy, phấn, noãn, hạt v...v... Các bạn ở dưới nhắc, mỗi người một tiếng, tôi quýnh lên ghi lung tung, thầy lắc đầu khi nhìn trên bảng. Lần sau đến giờ thầy Đào dạy anh văn, Thầy kêu chị Thúy ngồi cuối lớp lên bảng viết trả bài, chị một tay cầm phấn, tay kia để trên bảng đen, chắc chị thừa biết tay mình quá đẹp, tay chị thật trắng với các ngón thon dài, móng tay lại sơn màu hồng nhạt. Có nhiều tiếng hít hà vang lên từ bàn con trai. Không biết anh chàng nào quên đang là giờ học, hút gió 1 tiếng. Thầy Đào giận đập giày trên bệ gỗ và miệng luôn la: "Everybody, please be quiet! Quiet!"
            Sau buổi hợp giáo sư, là lớp mình có cái màn đen ở trên bảng. Nôn lên tiếng: "Chính nhờ có cái màn đen, nên khi lên bảng thì kéo lại, không còn được nhắc bài nữa, bọn con trai tụi này sợ quê, nên thi nhau học bài, nhờ vậy mà đứa nào cũng nên người".
            Đến phiên chuột lên tiếng: "Thực dân, nhớ bạn và Yến dành một anh chàng không?"
            - Nhớ, nhớ. Chuột kể đi!
            - Ngày nào vào lớp bọn mình cũng thấy một miếng giấy để chính giữa 2 bạn. Vừa nhìn thấy, em bịt 2 tai lại, và nhảy la khi có viên pháo nổ gần: "Anh rất thích em!"
            Chuột nói tiếp: "Thực dân nè, cứ dành anh chàng thích mình". Chuột nhái giọng tôi.
            - Chắc chắn là anh chàng thích mình, vì con trai thích con gái tóc dài, mà mình tóc dài nè.
            - Yến nói bạn đâu phải con gái. Ra chơi là bạn và chuột lắc chuyên môn chơi trốn bắt, chạy tùm lum, con nít chứ con gái gì. Ta mới là con gái.
            Nhớ không? Hai bạn viết giấy để ở bàn muốn thấy mặt người trong mộng, có giấy trả lời: "ngày mai anh sẽ đứng ở cửa sổ mặc áo trắng, trên túi áo có cài một bông hoa cẩm chướng đỏ".
            Hôm đó 3 đứa học mà trông mau hết giờ, để nhìn ra cửa sổ.
            - Thực dân nè, bạn lén nhìn trước, rồi xây vào nói: "Chắc anh chàng thích Yến thật, mình nhìn ra mà anh chàng không thèm nhìn mình, cứ nhìn chỗ khác.
            Yến vội nhìn ra và cũng xây vào nói: "Tao cũng vậy, anh chàng cũng không nhìn tao".
            Chuột vừa cười vừa nói: "Đến khi mình nhìn ra, thì mới biết mắt anh chàng lé, nhìn tức là không nhìn, không nhìn tức là nhìn".
            - Là sao không hiểu. Chuột lắc giảng tiếp: "Thì nhìn cây cà mà thấy cây ớt , thực dân hiểu chưa?"
            Chuột tiếp: "Vậy mà mấy tháng sau thấy anh chàng đi cùng cô bên tứ A. Anh chàng học giỏi có tiếng đó nha".
            Nôn lại cười to, tụi con trai lớp mình, cũng đi để giấy các lớp khác vậy.
            Không hẹn mà tôi cùng chuột lắc à lên một tiếng thật to .
            Nhìn đồng hồ thấy gần giờ hẹn cùng các con. Tôi nói: "Mình hẹn nhau sẽ gặp lại một lần nữa trước khi chúng ta rời Việt Nam trở về quê huong thứ hai, nơi đó đã cưu mang chúng ta. Ai liên lạc được cùng các bạn cũ thì hẹn giùm luôn".

            Comment


            • #7
              Xả tang

              XẢ TANG
              (cho thiếu tá Nguyễn văn Dọng, Pháp danh Minh Liên)
              (Phi đoàn 524)
              Trương kim Báu (Vợ)



              Thiếu tá Nguyễn văn Dọng (hình do gia đình gởi)

              Nghe tiếng nói từ đầu giây bên kia nửa vòng trái đất của người chị chồng gọi:
              - Gần đến ngày xả tang của chồng em rồi đó. Xuống nhờ Thầy ở chùa làm lễ em nhé.
              - Thưa chị mới 2 năm. Phải để đúng 3 năm mà.
              - Nói 3 năm nhưng thật ra chỉ đúng 2 năm tròn là 3 năm méo, do tục lệ từ xưa của ông bà để lại.
              - Dạ, em sẽ làm theo lời chị.
              Đó là người chị chồng thương yêu tôi như ruột thịt. Ở chung lo cho mẹ con tôi lúc giàu sang, cũng như lúc khổ nghèo chị không bỏ tôi, luôn cận kề an ủi, thương yêu, lo lắng cho chúng tôi mọi thứ.

              Chồng tôi mất vào một ngày mùa xuân của xứ Úc. Đến nay mùa xuân nữa lại về. Trời Melbourne của tiểu bang Victoria ấm áp, đủ loại hoa thi nhau đua nở, những chùm màu tím nhạt của loài hoa Tử Đăng do chồng tôi trồng đang ngược đầu xuống nở rộ trong hai chậu to trước sân nhà. Màu hoa giống màu chiếc khăn quàng cổ mà ngày xưa khi người mặc áo bay đồng phục màu cam. Những chàng phi công của Phi đoàn 524 bắt buộc phải choàng khăn màu tím có in hình chiếc phản lực cơ A37.

              Xả tang hay để tang với tôi cũng đều như nhau, vì sự nhớ thương vẫn tròn đầy. Ngày chồng tôi mất, tất cả mọi người đều dặn tôi không được khóc để anh ấy ra đi nhẹ nhàng. Tôi tuân theo tất cả, ngay khi lên đọc bài tiễn đưa anh lần cuối mặt tôi vẫn trơ ra với mắt khô ráo, trong khi mọi người và cả các con tôi đều ràn rụa. Chỉ riêng mình tôi không khóc, ai cũng khen tôi giỏi vì nước mắt đã chảy ngược vào tim tôi hết rồi. Sự kềm chế đã làm tôi khô héo.
              Căn nhà trở nên rộng và lạnh lẽo thênh thang! Đêm đêm tôi không ngủ được. Phải đọc kinh. Lấy tiếng kinh để kềm chế những giọt nước mắt. Đến khi mệt quá thì thiếp đi. Mở cửa nhìn vào phòng anh, chiếc giường mênh mông vắng bóng! Trở lại phòng mình và nằm xuống, kỷ niệm lại hiện về!

              Mỗi đêm vào giờ này anh bước thật nhẹ vào phòng tôi tắt niệm điện, hôn lên trán rồi kéo mền đắp cho tôi. Lúc nào tôi cũng giả bộ ngủ say để anh được yên lòng. Bây giờ lại hối hận sao lúc đó tôi không ôm và hôn lại anh, tựa đầu vào vai anh. Để bây giờ tôi thèm một nụ hôn, thèm cầm bàn tay ấm áp của anh, thèm nghe những lời nói ngọt ngào hay hờn mát cũng được. Nhưng không còn dịp nữa rồi!
              Nay nhìn thấy anh cười nhưng không ra tiếng. Tay anh vẫn để trên vai tôi nhưng không còn tìm được hơi ấm. Mắt vẫn nhìn nhưng không hiện ra được những gì muốn nói. Vì anh nói bằng mắt nhiều hơn lời. Đó chỉ là những tấm hình chụp chung. Những kỷ niệm đã qua!
              Anh ra đi để lại trong tôi sự cô đơn nhớ thương tủi hờn, cho tôi sống như một cái bóng lẻ loi sầu tủi.
              Để tự lừa dối mình, tôi để gối và phủ mền lại như có anh đang ngủ mỗi lần nhìn vào phòng anh. Tôi nói thầm với chính mình, anh đang ngủ đừng lay anh dậy. Tôi khờ khạo chơi trò trẻ con, tưởng rằng tự đánh lừa được mình. Nhưng càng cố quên thì lại càng nhớ nhiều. Muốn chữa lành mụt ghẻ phải rửa thật sạch vết thương và bôi thuốc vào mới được.
              Tôi qua phòng anh, kê đầu nằm trên gối anh, đắp mền của anh mà ngủ để thấy sự cô đơn tột cùng và tự nhìn thấy nỗi đau của chính mình, không né tránh hay tự lừa dối mình nữa.
              Gặp ai tôi cũng vui vẻ để không ai nhìn thấy vết thương đang đau nhói trong tôi. Phải tự chữa lành và một mình tự đứng dậy. Tôi nghĩ ở nơi nào đó anh đang nhìn tôi và khuyến khích.

              Hôm nay là ngày xả tang anh trong chánh điện của chùa Hoa Nghiêm. Người tham dự rất đông ngồi dưới bồ đoàn và trên những dãy ghế, một số phải đứng vì không còn chỗ ngồi. Với sự hiện diện của quý thầy, quý sư cô và các con, bạn không quân, bạn trong ban trị sự, bạn ngày xưa, bạn đạo cùng bà con thân thuộc ...v...v...

              Ai cũng nhớ đến anh. Mọi người tự tay làm hay mua những thức ăn anh thích đem đến chùa, trước cúng Phật và sau là cúng anh. Mọi người đều mừng rỡ ôm nhau vì lâu ngày có dịp đến chùa lễ Phật và đọc cho anh một thời kinh.
              Các con quỳ trước bàn thờ dâng cơm và nước theo lời chỉ dẫn của từng câu kinh. Các con tủi thân nhớ lại những ngày được cha chăm sóc cho nên đều khóc. Giờ này những giọt nước mắt của tôi mới rơi trước mặt các con. Hai năm rồi không thể chảy vì sợ các con buồn, sợ anh quyến luyến mà không siêu thoát.

              Đám xả tang diễn ra một cách thành kính trang nghiêm trong từng câu kinh được mọi người đem hết lòng thành mà tụng. Tiếng chuông mỏ nhịp nhàng hòa vào những lời kinh làm không khí thêm long trọng nhiệm mầu.
              Sau buổi lễ, kính mời quý thầy quý sư cô và tất cả mọi người xuống hall. Ai cũng tự chọn người quen để ngồi gần, ăn tối bên nhau, nói cười chuyện trò vui vẻ, nhắc đến những đức hạnh của anh cũng như những điều anh đối xử với từng người, không khí vô cùng thân mật.
              Với Thầy trụ trì, Cha tâm linh của đại gia đình chúng con, con biết nói sao để diễn tả niềm xúc động thẳm sâu tận đáy tim của mỗi thành viên trong đại gia đình chúng con, khi Thầy đã đại diện cho Minh Liên, Pháp danh của anh, ân cần hỏi thăm từng người có mặt dưới Hall đêm ấy. Thầy ơi, biết bao kỷ niệm xa xôi thắm thiết ngày xưa giữa Thầy và đại gia đình chúng con đã trôi đi theo định luật vô thường, nhưng với gia đình chúng con, Thầy mãi là Người đầu tiên dẫn dắt chúng con biết sống thế nào là đạo giữa đời thường, cho chúng con bước đi vững chắc giữa trường học ta-bà này.

              Cô Thảo ngồi gần tôi, cô nói về Minh Liên, nhắc lại việc tu hành và nhiều kỷ niệm với anh.
              Cô nói anh là người biết sống, dùng tuổi trẻ để phụng sự đất nước, lo bảo vệ quê hương tổ quốc. Thời thế đổi thay, anh vào tù nhìn ra sự vô thường rồi biết chọn con đường cho tuổi già. Dành hết thời gian tu hành và giúp chùa, dịch kinh. Sống mà biết mình đang sống và biết phải làm gì.


              Minh Liên một đóa sắc son.

              Ngày xưa giang cánh phiêu bồng
              Người con đất Việt Lạc Hồng tung bay.
              Rồi ngày trang sử đổi thay.
              Anh về chuyển bánh Pháp thay cuộc đời.
              Nhất tâm Kinh chép, dịch lời.
              Truyền rao hành đạo, không rời phút giây.
              Xuôi tay viên mãn trọn đầy.
              Nương thuyền Bát Nhã quy vầy thiền môn.
              Minh Liên một đóa sắc son...
              (Tác giả Thảo Phạm)


              Ngày xả tang đã được các thầy làm lễ hoàn tất, tình yêu thương không hề vơi đi mà càng tràn đầy thêm vì tôi đã trải nghiệm được cuộc sống này trong những ngày không còn anh ở tuổi xế chiều, và hiểu được tình yêu anh đã dành cho tôi. Anh đã chuẩn bị cho tôi một hành trang để ngày về cùng đất mẹ không bị bỡ ngỡ lo sợ vì biết sống trong tỉnh thức. Sống là tu, tôi phải như anh cùng theo bước chân Phật tự nghìn xưa.
              Tôi đã nhìn thấy được mùa xuân hiện đang trên đất Úc, vẻ đẹp của từng bông hoa rực rỡ khoe màu. Nghe được tiếng gió thì thào, ánh nắng chiếu sáng rạng ngời giữa đất trời bao la như đang bao bọc che chở cho tôi, tôi không còn cô đơn, tôi đã hòa nhập được với chung quanh, anh và tôi không hề xa cách hay mất nhau bao giờ. Niềm tin lại trở lại trên nụ cười, trên đôi môi tôi như ngày thơ bé.


              Người Ở Lại

              Dìm trong dòng lệ phôi pha
              Dìm trong ký ức nhạt nhòa tìm quên
              Thôi thì một kiếp nhân duyên
              Mấy ai khôn định giữa triền, triều xô
              Tình anh lịm kín tim cô
              Mang theo tôi hẹn…. ước, bờ hư vô
              Viễn miên cõi mộng, ơ thờ
              Nhà hoang đêm vắng….. huyễn chờ, đan… mong
              Chắc anh đã hiểu nỗi lòng
              Ngại se sợi rối, thương đong trao người
              Gối chăn anh… thắm châu rơi
              Buộc tim xô trắng… quấn lời tình câm
              Cô liêu… nay sống âm thầm
              Chôn bên đời lặng, nuốt đầm… lệ vay
              đường trần ta… ngã… chia hai
              Niết bàn nơi ấy mong ai… nguyện cầu
              hai năm tang xả qua mau
              khóc anh lần cuối tạ nhau…ân tình…
              Tử đằng hoa tím lung linh
              nhắc khăn quàng cũ, mắt nhìn cười… tôi…
              (Tác giả Thảo Phạm)
              Last edited by Phòng Trực; 10-28-2017, 11:50 AM.

              Comment


              • #8
                Một Thời Để Nhớ - Trương kim Báu

                Đọc qua ba nhân cách lớn của cụ Trần văn Hương, vị tổng thống cuối cùng của niềm nam nước Việt lòng tôi cảm kích vô cùng. Nhớ lại những ngày sau khi miền nam đổi thay chế độ, biết bao gia đình đi vào con đường huyệt tận, thân nổi trôi như cánh bèo dạt về vùng khô cháy, sống chết chỉ là trò chơi của ách nước tai trời. Chúng tôi, những nhân viên ngân hàng vô cùng may mắn, được giữ lại làm việc tại trung ương 79 Hàm Nghi Sài Gòn, là trụ sở chính, nhờ vậy chúng tôi ít bươn chải hơn và có dịp tiếp xúc với những nhân vật tên tuổi lớn trong chính phủ miền nam, hoặc đối diện trước những người nổi tiếng mà ngày trước chúng tôi chỉ được thấy qua báo chí ảnh hình.
                Ngày đó, tôi không biết nhiều về giáo lý của Đức Thế Tôn, không hiểu gì luật nhân quả trong kiếp nhân sinh, không biết khi giúp người thì được gọi là gieo trồng ruộng phước. Tôi làm những điều tốt vì mình bị quá nhiều khổ sở khó khăn, thấy họ cũng cùng hoàn cảnh thiếu thốn trăm bề, cùng là dân miền nam như mình và cũng bị gian truân mất hết, nên dẫu chân tiếp tục bước trên đường dài mõi mệt, tôi giúp gì được cho ai thì kể như đã đem đến cho họ ít nhiều an ổn. Chính vì thế mà những bạn bè cùng làm việc chung 10 tầng lầu của Việt Nam Thương Tín rất thương và tin tưởng tôi .


                Tôi gặp được cụ Trần văn Hương khi cụ vào ngân hàng nộp giấy tờ xin rút ít tiền trong trương mục của cụ để chi dùng. Có lần người cháu của cụ là nhân viên làm việc nơi đây, nhờ tôi bán dùm cặp ngà voi từ xưa còn lưu lại, cụ đã từng trưng bày mỹ thuật vật ấy nơi phòng khách của mình. Ôm cặp ngà voi được bọc trong bao vải cẩn thận, lòng tôi xót xa vô hạn. Tôi không muốn trao cặp ngà voi ấy cho lái buôn hay những người có tiền mà thiếu lòng nhân hậu, ít ra họ cũng phải biết trân trọng đồ cổ, nhất là món đồ của một vị tổng thống vừa mất nước sa cơ.
                Lúc đó tôi muốn giữ lại cặp ngà nhưng hoàn cảnh không cho phép, vì tôi cũng xác xơ túng thiếu. Ngại làm trầy hoặc hư hao nên tôi ngồi xích lô đến gặp người bạn cũng từng làm việc trong ngân hàng ngày xưa. Nay anh đã mở một văn phòng kiến trúc, nơi đó quy tựu những bàn tay tài hoa trước năm 75 cũng như tất cả những họa viên tài giỏi, những người mà chế độ mới không dùng vì họ không hiểu được giá trị của nhân tài. Tôi ôm bộ ngà voi đi vào mà nước mắt trào tuôn vì tư cách lịch sự tao nhã của người mua và sự nâng niu trân quý của anh với món đồ kỹ niệm. Nét mặt cảm động của anh đã nói lên phút nao lòng quay quắt của đời người rồi cũng nhòa nhạt tàn phai, nhưng tim anh đang có một cụ Trần văn Hương tiết tháo chính nhân quân tử, xứng đáng là vị tổng thống cuối cùng của niềm nam nước Việt. Cảm ơn anh thật nhiều! Anh Cao Hữu Tùng kiến trúc sư Việt Nam Thương Tín! Sau này khi rời Việt Nam anh cũng đem theo cặp ngà voi đó, là một kỷ niệm vô giá với cụ Hương.
                Hôm sau tôi gặp cụ và được cho một hộp kẹo chocolate, đó là lộc quá lớn với tôi nên muốn chia cho mỗi người một viên kẹo để cùng nhau thưởng thức. Ngậm vị ngọt trong miệng như tình thương mà cụ luôn dành cho quê hương và dân tộc. Tôi đem hộp kẹo đến văn phòng kiến trúc, một căn biệt thự nguy nga trên dưới lầu đều có bàn làm việc. Đến giờ nghĩ bạn bè thường họp lại bên nhau, ai cũng có chữ sư hay sĩ đi kèm theo tên họ. Đàn bà chúng tôi cũng thân thiện bên nhau, chỉ có 4 người: vợ của anh Tùng, vợ của cậu anh Tùng (chồng bà là phi công phản lực cùng phi đoàn với chồng tôi, hiện ở tù), một chị làm ngân hàng cùng tôi (chồng thuộc binh chủng nhảy dù đã tử nạn trong trận mùa hè đỏ lửa) và tôi, chồng cũng đi tù. Anh Tùng từng nói với tôi:
                - Thưa chị, bây giờ cuộc sống khó khăn quá, phần đông các bà vợ ngụy đều không thể trọn vẹn chờ chồng, xin chị hãy sống như một người đàn bà xưa trọn vẹn chờ chồng và một lòng chung thủy, để sau này tôi có thể theo gương đó mà dạy dỗ các con tôi. Và ai đó nếu có nói các bà vợ ngụy đều hư hết thì tôi sẽ nói còn một người vẫn một dạ thờ chồng là chị.
                Tôi đã hứa với người bạn tốt đó. Bạn nào có biết lòng tôi chỉ một dạ sắc son, thề nguyện trọn đời chỉ duy nhất chờ chồng, đâu cần phải nói ra.
                Trên lầu của phòng vẽ họa đồ hôm nay đầy đủ tất cả những khuôn mặt thân quen. Anh Tùng bước vào cùng với một người đàn ông lạ, anh giới thiệu đây là thương gia đã bị đánh tư sản mấy lần, bây giờ không còn gì hết. Tan sở trên đường đi ra đón xe bus, âm vang từ sau lưng tôi:
                - Thưa bà.
                Tôi quay lại và vô cùng ngạc nhiên khi nhận ra đó là người đàn ông hôm qua đã gặp ở văn phòng của anh Tùng. Lúc tôi trao viên kẹo, người này nâng niu và giữ mãi trên tay.
                - Anh cần gì ?
                - Tôi đói bụng quá!
                - Anh muốn ăn gì ?
                - Tôi thèm một tô phở ở đường Pasteur.
                Một nơi xa xôi rừng thiêng nước độc, biền biệt trong trại tù cải tạo, chồng tôi cũng hay sớt chia phần ăn cho những người đói khổ ngoài rào, dù anh vẫn lao động vất vả với tấm thân gầy hao đầy vơi và luôn thương nhớ vợ con. Ý nghĩ về chồng bất ngờ nổi dậy làm đau nhói con tim, tôi bước lên xe bus và bảo người đó đi theo. Đến nơi tôi không ăn mà chỉ ngồi đợi ông dùng cho xong tô phở, vì thật ra tôi không có nhiều tiền. Lương tôi phải nuôi một người chị chồng (thấy tôi nghèo quá chị không nỡ bỏ rơi tôi) và 2 con còn nhỏ. Tôi là người lớn tuổi nhất và nghèo nhất trong 4 người đàn bà đến văn phòng anh Tùng hôm đó. Tại sao ông này không chọn ai mà lại chọn tôi nhỉ. Cứ mỗi chiều ông đều đón tôi với thái độ lễ phép, thật ít nói và lúc nào cũng đói. Ông không trả nổi tiền một vé xe bus và đòi ăn thứ này rồi thèm ăn thêm thứ khác. Tôi nhịn phần ăn sáng của mình để dành tiền bao ông. Tôi nghĩ đàn bà là phải hy sinh cho chồng con, nhưng nay người bạn này nghèo đói quá nên giúp được thì tôi cứ giúp, đến khi nào chẳng giúp được nữa thì đành nói tiếng không. Có hôm ông muốn tôi đưa ông đi xem lá số tử vi và tướng số, là nơi mà mọi người trong nhóm khen hay và ai cũng đều đến đó rồi. Tôi than thầm trong lòng, ông có biết là đắt tiền lắm không. Nhưng rồi tôi cũng đưa đi và vui vẻ ra ngồi một chỗ riêng, tôi không muốn dính vào đời tư của ông nên để ông được tự nhiên. Mỗi khi đến văn phòng kiến trúc, tôi và ông cùng đi, chẳng ai thắc mắc hay bàn tán gì về chúng tôi cả.
                Một chiều tan sở mọi người cùng đến văn phòng kiến trúc trên lầu đã được dọn thật sạch sẽ gọn gàng ngăn nấp, tất cả đều an tọa dưới sàng. Anh Tùng dắt 2 em nhỏ một gái một trai khoảng 16 tuổi vào. Trước kia các em học trường quốc gia âm nhạc nhưng nay không còn được tiếp tục học. Anh muốn giúp đỡ các em, vì tế nhị không muốn cho 2 em biết nên anh mang hai em tới hát và đàn cho cả nhóm nghe. Lâu lắm rồi mới nghe lại những bản nhạc rúng động hồn tôi, các em đàn hát chơi vơi đưa chúng tôi ngụp lặn về khoảng trời xưa cũ, một thời sum vầy huyên náo với tình bằng hữu chấp cánh bay cao. Bốn người đàn bà chúng tôi đều cảm động, ngăn không được lệ trào nên len lén đưa khăn lên lau những giọt nước mắt muộn màng. Chiều nay người đàn ông đó cũng đón tôi, trong tay là một bọc lớn:
                - Thưa bà, mình ghé qua chợ trời được không?
                - Ông muốn bán gì ?
                - Áo lạnh.
                Chợ quần áo nằm ở con đường sau lưng ngân hàng. Chúng tôi cùng đến đó, và ông đã bán xong chiếc áo.
                - Hôm nay tôi bao bà. Tôi muốn ăn một bữa cơm Việt Nam.
                Chúng tôi đến quán cơm bà Cả Doai, nơi đó nổi tiếng những món ăn thuần túy Việt Nam. Ăn xong ông mua một con vịt quay và bánh mì gởi về cho các con tôi. Ông đưa cho tôi một miếng giấy nhỏ có ghi địa chỉ.
                - Đây là địa chỉ của tôi ở Đài Loan. Sáng mai tôi và gia đình sẽ rời Việt Nam bằng máy bay, bà nhớ cất thật kỹ, bất cứ lúc nào thoát ra khỏi VN là phải liên lạc cùng tôi liền, nhớ nha.
                Tôi kể cho anh Tùng nghe và đưa anh xem tờ địa chỉ.
                - Chị cất đi. Anh đó là người Tàu bị đánh tư sản mấy lần. Anh ấy có 2 bà vợ. Anh giàu lắm! Vẫn còn của, ở Đài Loan cũng có cơ sở nhưng để qua mặt công an theo dõi nên anh bám theo chị xin ăn. Tôi không dám nói vì sợ chị biết thì chị sẽ không giúp.
                Rồi dùng đủ mọi phương tiện trong nhóm chúng tôi lần lượt ra đi. Kỳ này người đón tôi là Đinh Xuân Ninh, cậu của anh Tùng, người phi công phản lực cùng phi đoàn với chồng tôi. Chúng tôi ra nhà hàng Mỹ Cảnh ở bến Bạch Đằng ngồi uống nước, tôi nói với anh vài hôm nữa tôi sẽ đưa các con tôi vượt biên, đây là người quen tổ chức có tính cách gia đình. Vừa khi đó một chiếc máy bay lướt ngang đầu, anh nhìn lên với ánh mắt buồn rười rượi! Lòng tôi chùng xuống trong nỗi niềm thông cảm bời bời của một loài chim đã gãy cánh đường mây. Đôi mắt đó làm tôi mất ngủ cả đêm. Sáng hôm sau, đến gặp vợ chồng anh Ninh và tôi nhường chuyến vượt biên cho họ. Trong tay là điện tín báo gia đình anh Ninh đã đến bờ bến tự do, tôi đi tìm anh Tùng cho hay. Anh mừng lắm và nói với tôi:
                - Chị cũng nên tìm chỗ nào chắc chắn mà đem hai cháu vượt biên, tôi cũng sẽ đi. Bây giờ trong nhóm chỉ còn chị và tôi thôi.
                Biết trước người bạn cuối cùng trong nhóm cũng sẽ ra đi. Hôm đến văn phòng kiến trúc, nhân viên thân tín của anh Tùng trao cho tôi lá thư anh Tùng để lại với một số tiền. Lá thư nắm chặt trong tay nhưng tôi không dám đọc vì tôi biết chắc mình sẽ khóc dọc đường. Tôi muốn về nhà ngay, tôi muốn ôm hai con, muốn ôm người chị chồng, người đã luôn bên cạnh tôi, lúc tôi giàu sang cũng như lúc tôi thật cơ hàn nghèo khổ. Với tôi, chị không phải là chị chồng mà là người thân ruột thịt máu mủ của tôi. Chị tin tôi, hiểu tôi và những người bạn của tôi chị đều thân thiện cả. Bạn bè đã ra đi tìm tự do hết rồi! Tôi tự bảo lòng nhất định phải kiên cường trong thời gian chờ đợi. Quả thật những khó khăn đã hun đúc rèn luyện tôi phải trực diện với vai trò người vợ, người mẹ cho được chu toàn. Đôi khi lủi thủi lẻ loi trong vạn biến hóa của đời thường, tôi hay tự an ủi mình rằng đó mới là một đoạn đời thi vị chứa đầy đủ cung bậc của tình cảm bi thương buồn tủi, để sau này tuổi già bóng xế, ít ra mình cũng còn chút gì gọi là một thời để nhớ.
                Last edited by Phòng Trực; 11-13-2017, 08:44 PM.

                Comment


                • #9
                  Cư xá không quân nha trang



                  Chiếc taxi thả tôi xuống cách xa cư xá, người tài xế hẹn 1 giờ sau đến đón tôi. Trước khi cho xe chạy anh còn dặn tôi nên cẩn thận, nếu ai có hỏi nhất định đừng nhận là Việt kiều.
                  Đầu đội nón lá, tôi ăn mặc như người dân quê, tay cầm một cái bao, một que dài để lượm lon và giấy.
                  Buổi sáng mặt trời vừa lên, những tia nắng rạng rỡ nhuộm cả đại dương, từng đợt sóng long lanh và những đám mây viền màu vàng óng ánh. Lòng thương biển cũng tròn đầy như ngày còn thơ ấu khi mỗi sáng thức dậy, biển trời vàng rực một màu.
                  Gió mát quá! Mấy chục năm rồi, hôm nay tôi trở về tìm lại chút kỷ niệm của một thời hạnh phúc để thêm sức mạnh cho những ngày xế chiều lẽ bóng.
                  Tôi băng qua đường nhìn lối vào Phi Trường, thấy tấm bảng đề Khu Quân Sự, có gắn chiếc máy bay nhỏ một bên.
                  Đi ngang dãy nhà sát bên đường, trong đó có nhà bác sĩ An, lòng tôi reo vui khi đến hàng rào của cư xá. Chân bước thật chậm nhè nhẹ thương yêu dâng tràn, xin mắt đừng nhỏ lệ, hãy bình tỉnh nhìn và nhớ lại từng căn nhà của bạn bè một thời cùng quay quần nơi đấy.
                  * Đúng là căn nhà này của anh Vũ Liễn 524. Tối hôm đó các anh trong phi đoàn đến nhà tôi chơi và nhắc đến anh Liễn, nói chị Liễn còn nhỏ lắm nay lại có em bé, hiện cháu đang bị sốt, ở đây không có người thân.
                  Tôi đem chuyện đó nói cùng anh tôi, hai anh em sống với nhau từ nhỏ nên có chuyện gì tôi đều kể với anh. Không ngờ sáng sớm anh đưa một số thuốc, kêu tôi đem xuống cho cháu bé và nói bác sĩ dặn cách dùng.
                  Anh Liễn vào xem chị và cháu bé dậy chưa để đưa tôi vào nhà chơi. Nhưng họ còn ngủ, tôi xin đi về thì anh kêu tôi chờ một chút, anh trở ra tay cầm 2 củ cà rốt, anh ăn một, đưa tôi một.
                  - Báu làm con thỏ đi, nhà không còn gì ăn hết.
                  Vị ngọt của cà rốt năm xưa nay như còn trong tôi, cảm ơn anh Liễn đã cho tôi một chút kỷ niệm thân thương để nhớ.
                  * Nhà anh chị Triển. Trước 75 chị Triển đi dạy ở dưới Cầu Đá, tôi đi làm trên phố. Chúng tôi ít gặp nhau nhưng sau ngày mất nước, chúng tôi thường liên lạc cùng nhau. Anh Triển và anh Dọng đã đi vào trại tù rồi, chị từ giả tôi trở về Nhatrang để trình diện Ty Giáo Dục. Ba mẹ con chị bơ vơ, không bà con, không nhà cửa, chính quyền lại đổi chị đi dạy thật xa. Sáng đi sớm bằng xe lửa chiều tối mới về, hai đứa con thơ ở nhà trọ, tôi đau cùng nỗi đau của chị.
                  Sau những năm ở tù về, anh Triển và anh Nhị thường viết thư cho tôi. Anh Triển kể những chịu đựng tủi buồn cực khổ khi đạp xe đi làm ở Hàm Tân, Anh Nhị về quê tận trên Thành. Khi nhà có trái mít chín, anh Triển đạp xe lên Thành để anh em gặp nhau, cùng thưởng thức những múi mít ngọt lịm cho đời vơi cay đắng và chia xẻ muôn ngàn khó khăn buồn tủi khi những cánh chim đã bị cắt đi đôi cánh.
                  Anh Nhị hỏi tôi:
                  - Báu có biết gió vào nhà trống là nghĩa gì không ?
                  Anh Nhị ơi! Nay tôi cũng đã trải qua những thăng trầm của cuộc đời, không còn ngơ ngác như ngày còn bé. Nét thật thà của anh, người miền quê Nhatrang, tôi làm sao quên được. Tôi đã là con dâu của 524, tôi hiểu và thương các anh nhiều, mình đã là đại gia đình.
                  Ngày anh đi tù, nhìn chị thương thật nhiều nhưng tôi không dám nói. Chị xơ xác, không nơi nương tựa. May mà chị đưa các cháu về lại quê nhà, vụ tạm trú và hộ khẩu làm chúng tôi, những người đàn bà ở lại Sài Gòn, điên đảo.
                  * Đây rồi căn này của Bùi Gia Định. Tôi và Định có chút liên hệ mà cành nông bắn hoài không tới. Nguyên ba dượng của Định là tướng Lam Sơn, anh Lam Sơn lại là con nuôi của ba tôi.
                  Vợ Định là Đồng Minh, mà Đồng Minh với tôi lúc nhỏ ở cùng phố Phan Bội Châu Nhatrang, hai nhà sát vách nhau, chúng tôi từ bé có nhiều kỷ niệm nên những ngày ở cư xá thường chạy qua lại với nhau.

                  Các anh Thiên Lôi 524 mỗi đêm đều tụ ở phòng khách nhà tôi nói cười vui vẻ để quên đi những nguy hiểm mà mỗi ngày các anh phải đương đầu. Ngày tết, anh Định ra nhà tôi, lúc đó tôi và vài cô bạn sắp đi chùa, anh xin theo. Nhìn bộ đồ bay anh mặc, chúng tôi kêu anh về thay quần áo khác, anh giận nên không thèm đi. Ngày đó còn khờ quá, tôi không hiểu được nỗi buồn cô đơn xa nhà vào dịp lễ hay tết của những người lính, mà chỉ biết đi chùa phải ăn mặc đẹp thôi. Ra tù là Định liên lạc cùng tôi, các anh sống có lý tưởng nên muốn ở lại phụng sự đất nước. Cao quý thay cho tấm lòng những người con của mẹ Việt Nam, nhưng được đổi lại bằng tù đày, khổ sai, đói và đói.
                  Đồng Minh về Nhatrang cũng không ở yên cùng phường khóm, bị kêu đi lao động kinh tế mới và cũng chịu bao nhiêu cay đắng của người vợ lính tàu bay. Có dịp vào Sài Gòn, Đồng Minh đều đến thăm tôi, chị em tâm sự.
                  * Kìa là nhà anh chị Bùi văn Đích, anh bên Trung Tâm Huấn Luyện. Anh dạy bay L19, sau này qua Úc chúng tôi rất thân nhau, gặp ở chùa và cùng làm công quả.
                  * Nhà anh chị Cần, tôi gặp chị Cần ở chợ trời, chúng tôi tay cầm tay nước mắt tuôn trào. Chị vất vả từ phiên chợ lúc nào cũng sẵn sàng gom hàng mà chạy nếu không thì công an tịch thu, hàng mất vốn cũng không còn.
                  * Kế là nhà anh Võ Ý. Gặp anh ở nhà anh chị Trí (nhà thơ Duy Năng). Chào nhau nhưng chưa bao giờ nói chuyện cùng anh.

                  Một buổi trưa theo thường lệ, những người có liên hệ với Không Quân, chúng tôi đem phần ăn của mình cùng nhau ngồi ăn trưa ở lầu 4 Ngân hàng Việt Nam Thương Tín Trung Ương, cùng nhắc đến người thân. Trưa nay có thêm 2 cô bé ngày trước tốt nghiệp Kinh tế Đalat đã thực tập ở VNTT Nha Trang, nay đến xin việc. Một cô nhắc thật nhiều về anh Võ Ý và một cô nhắc về anh Võ Quang Thẩm. Đặc biệt là 2 cô này có 1 quyển sách (chỉ được nhìn không được cầm đến quyển sách nên tôi không biết tên sách) trong đó có hình anh Võ Ý mặc đồ bay cười rất tươi, dưới có ghi lý lịch và hình anh Võ quang Thẩm mặc đồ lễ đội nón xanh Không Quân có ghi lý lịch. Thật là vui một cô bé mê tiếng hát và một cô bé mê lời văn.Tôi xin mượn quyển sách nhưng hai cô bé không cho, tôi dọa đem theo bên người coi chừng gặp công an là nguy. Hai cô cho tôi xem giỏ xách đã được mướn may một chỗ an toàn cho quyển sách, đó là bảo vật của hai cô bé.
                  Hôm sau chúng tôi được xem quyển Thế Giới Tự Do chưa kịp phát hành. Trong đó có hình anh Dọng rất nhiều, cũng như các anh trong 524 đều có mặt. Chúng tôi trân quí chuyền tay nhau, đó là niềm vui, một động lực giúp chúng tôi vượt qua những khó khăn buồn tủi. Thời gian ấy sách báo và ca nhạc không có, sống rất khô khan, thèm đọc một tờ báo hay nghe một bài hát cho cuộc sống bớt nặng nề khó thở.
                  Chúng tôi được chị Yến, chị của anh Nguyễn Ngọc Yên 524, cho biết chị Ngà vợ anh Bông hẹn ngày giờ xuống Phú Lâm gặp chị để đưa đi nghe hát chui, nhưng cả nhóm xuống họp mặt rồi cuối cùng không nghe được vì bị bể.
                  * Cổng chính vào cư xá đây rồi, bây giờ có nhiều lớp kẽm gai che lối vào, vọng gác vẫn còn chỉ vắng bóng người lính gác. Vài bước nữa là thấy nhà anh chị Nguyện. Hôm anh Nguyện rớt máy bay, nhiều ngày ở trong rừng dù bị thương nặng nhưng anh cố bò ra quốc lộ và được cứu. Anh Dọng có đưa tôi đến nhà thăm anh chị, sau này mấy lần gặp chị Nguyện ở SàiGon, chị có nói về việc làm ở sở chị và lo lắng nhiều.
                  * Kể bên là nhà anh chị Nghĩa, chị Nghĩa là Thu Cúc làm cùng Ngân hàng với tôi. Hôm đó không biết ai gọi điện mà chị Cúc biết có một chiếc A37 cất cánh và bị cháy, người phi công không biết là ai, sống chết ra sao? Chị Cúc xin phép giám đốc rồi hối tôi ra xe chị lái nhanh vào phi trường, trên đường đi chị nói:
                  - Hai đứa mình cùng cầu nguyện cho người phi Công đừng chết.
                  Dọc đường chúng tôi chỉ biết cầu nguyện, không nói với nhau lời nào.
                  Xuống xe, chị Cúc nắm tay tôi cùng đến phòng hành quân của 524, nhưng chưa vào tới thì có anh nào đó (giờ không nhớ) ra: - Người bị thương là Vĩnh Thọ đã đưa đi nhà thương rồi, hai chị yên lòng về làm việc.
                  Trên đường về chị Cúc lại nói.
                  - Anh Vĩnh Thọ không chết, mừng quá! Anh chưa có gia đình.
                  Những ngày ngân hàng kết toán sổ sách đều đóng cửa, tôi luôn nghe chị Cúc hát chỉ một câu lập đi lập lại "Cái trâm em cài là do tình nhân em biểu đó".
                  * Nhà anh chị Ngô Đức Cửu. Anh Cửu và anh Dọng mỗi đêm đều đến nhà nhau, mỗi người 1 tờ báo và rất ít nói chuyện. Tôi và chị Quý, vợ anh Cửu thì nói đủ đề tài. Chủ nhật, chị thường lái xe đưa tôi đi ăn ở chợ Đầm Nhatrang, có khi 2 gia đình rủ nhau ra ngay bãi biển trước cư xá tắm. Con gái nhỏ của 2 nhà đi học cùng trường, ngày nào anh Dọng đi biệt phái thì chị Quý đưa tôi đi làm, các con tôi kêu anh chị là ba má Cửu.
                  * Kế là nhà anh chị Đạt, tôi gặp anh Đạt ở cư xá lần nào anh cũng chê.
                  - Sao mà Báu mập quá vậy?
                  - Tôi đang có em bé trong bụng.
                  Sanh xong gặp lại anh.
                  - Báu sanh rồi vẫn còn mập.
                  Một hôm anh chở vợ, chị Giang ra khám bệnh, anh gởi chị cho tôi để về đi bay.
                  Anh tôi khám bệnh cho chị Giang rồi bảo tôi kêu người làm đi mua một tô phở, bắt chị Giang phải ăn hết, uống thêm một ly nước cam tươi, ngủ một giấc chờ anh Đạt ra chở về.

                  Dãy nhà độc thân đây rồi. Ngày đó vào một chiều thứ sáu, các cô ở ngân hàng 5 người chất lên một xe vì anh Dọng đi biệt phái, các cô bắt tôi bao ăn phở Chutt rồi mới cho tôi về. Khi chạy ngang nhìn thấy các anh độc thân của 524 leo lên mái nhà ngồi hóng gió mát. Các cô thích quá, rủ các anh đi ăn phở luôn.
                  Tôi la lên:
                  - 5 người đầy xe rồi, ngồi chỗ nào nữa ?
                  - Ngồi hai tầng.
                  - Trời đất, chị có 2 con rồi đó.
                  Một cô quay kính xuống và hét lên:
                  - Có vợ Mộ Địa ngồi trên xe, chút nữa trả chị về, tụi em đến đón các anh. Cô lái xe nói.
                  - Mỗi ngày em đều đem tiền ngân hàng gởi vào ngân khố, em đang tìm một anh không quân nào có máu ăn cướp như em, để hai đứa ôm tiền đi xây hạnh phúc.
                  - Đừng nói đùa kiểu đó.
                  - Ha ha bà chị ơi nhát quá! Đùa một chút cho vui mà.
                  Một đêm, công an đập cửa nhà tôi vào xét nhà để tìm cô lái xe ngày xưa. Sau 75, ai không được giữ lại làm việc ở Sài Gòn đều bị đưa về chi nhánh tỉnh, cô lái xe vẫn còn độc thân một mình ở tỉnh lẻ, đã lấy một số tiền lớn của Ngân hàng để lo cho người vượt biên thoát hoàn cảnh khổ đau. Khi nhận được tin cô đến bờ bến tự do rồi, tôi mới thở phào nhẹ nhõm vì sợ cô bị bắt lại thì không biết hậu quả ra sao?
                  Buổi sáng thật đẹp, những đám mây ửng màu vàng trôi trôi, tự nhiên tôi nhớ đến Chiếu Xuân, vợ của anh Đinh Xuân Ninh trong 524. Ngày trước gia đình ông dân biểu Lê Bá Chẵn danh giá, các cô con gái đều nổi tiếng là người đẹp.
                  Anh Thông, chi nhánh Qui Nhơn, đến thăm tôi chào trước khi phải về trình diện chi nhánh cũ.
                  - Sao chị cũng có chồng đi cải tạo mà còn cười?
                  - Tôi ở trọ nhà anh Kiến Trúc Sư của Ngân hàng. Có một bà nghe đâu chồng cũng đi cải tạo, ông đó cũng bay A37 Nhatrang, tối tôi đi về bất cứ giờ nào cũng thấy bà đó ngồi nơi hành lang trên lầu mà khóc. Anh có biết tên chồng bà không ?
                  - Không biết, tôi không dám đến gần bà, tôi cảm tưởng bà ấy gần điên rồi.
                  Tôi vội lấy giấy viết vài chữ nhờ anh trao dùm, ghi tên, địa chỉ và nơi tôi làm, hẹn gặp nhau sau giờ làm việc.
                  Tôi nghĩ cho dù người đó là vợ của bất cứ anh nào trong 524, tôi đều muốn gặp. Vì là đại gia đình rồi, an ủi nhau để cùng vượt qua những nỗi khổ khi nước mất nhà tan.
                  Sáng sớm mai trong giờ làm việc, Chiếu Xuân đến tìm tôi, em không nói gì, nước mắt và cách em ôm tôi đã nói lên tất cả, em là người đàn bà chới với, đó là cách diễn tả mà tôi thường chọc đùa em sau này. Từ đó mỗi đêm em đều đưa cháu Chouchou lên nhà tôi ngủ. Những đêm đầu gần như em không ngủ, tôi ra ngồi cùng em, cầm tay em thương yêu dỗ dành như một em gái nhỏ của mình. Từ hôm đó tôi tự ra lệnh cho chính mình, phải thật khỏe, giờ này trên vai tôi không phải chỉ có 2 con và 1 chị chồng mà thêm 1 em gái và 1 đứa cháu.
                  Chúng tôi luôn sát bên nhau, em còn trẻ và đẹp quá. Tôi phải bảo vệ em, vì có chiến dịch cám dỗ những người đàn bà có chồng đi cải tạo. Chính quyền mới biết rằng sự khổ sai, bỏ đói không giết các anh chết được, chỉ chết khi người đầu ấp tay gối phản bội mình trong khi mình ngã ngựa. Tôi nói cho em biết nhiều việc và khuyên em phải thật khỏe mạnh về thân cũng như tâm để cùng tôi vượt qua cái hoạn nạn của những người đàn bà như chúng tôi.
                  Bị tách xa lìa tất cả, cha mẹ, anh chị em và cả chồng, người đã từng chia xẻ buồn, vui, sướng, khổ cùng mình, nay phải một mình đối phó mọi việc ở ngay chính trên quê hương, mà những kẻ muốn giết hại tương lai và hạnh phúc của mình lại là chính quyền đương thời, tôi hứa không bao giờ bỏ em và người chị này sẽ là bờ vai cho em nương tựa khi sóng gió cuộc đời.
                  Tôi đi vòng trở lại cư xá, đứng nhìn vào hy vọng thấy được nóc nhà hay cây trứng cá ở phía sau vườn nhà tôi, có lẽ bây giờ các cành đã vươn cao.
                  Nhà chúng tôi ở tận phía trong, từ cổng đi thẳng vào quẹo mặt ở cuối đường sát hàng rào Phi Trường. Đó là một villa được cấp cho 3 gia đình sĩ quan. Nhà chúng tôi 2 phòng rộng và dài, chồng tôi xin ván ép và nước sơn về ngăn phòng phía trước làm hai phòng khách và phòng ngủ, phía sau có sẵn phòng tắm nên để thêm bếp gaz, phòng ăn. Kê thêm cái cái giường cho chị Hương, người theo hầu tôi từ nhỏ, về ở, vì chị không muốn xa tôi.
                  Chúng tôi cùng thêu 2 chiếc máy bay A1 Skyraider và A37 trên khung cửa lưới để ngăn 2 phòng ra riêng biệt. Nhà trở nên đẹp sáng sủa, đó là tổ ấm của chúng tôi. Như 2 con chim cùng nhau tha những bông hoa đẹp về làm tổ của mình. Chồng tôi mắc thêm một cái võng bên hiên nhà, thật tuyệt vời vào những buổi chiều nằm du đưa nhìn lên mây trời.
                  Má tôi vào thăm, bà năn nỉ chúng tôi ra phố ở, nhưng tôi hiểu chồng tôi, nên để mẹ và chồng cùng vui, tôi nói:
                  - Anh ấy là loài chim, mà chim phải sống quay quần cùng đoàn. Má đừng lo, rồi có một ngày chúng con sẽ nhờ má về nhà cửa, tiền bạc v.v...
                  Nhà chúng tôi nhìn qua bên mặt là nhà ông bà Phạm.
                  Đứng nhìn vào phía trong lâu quá, tôi sợ lỡ có ai đến hỏi thì phiền.
                  Biển, biển đang ở trước mặt cũng cần ghé thăm vì nơi đó rất nhiều kỷ niệm. Đôi chân trần đi trên cát, hai chân tôi lún sâu trong cát ấm như được cát âu yếm vuốt ve. Phải lội nước như ngày xưa, nước cũng ấm tràn vào đẫm hai chân, vóc một bụm nước vào hai tay. Bất chợt gió ào đến hất tung cái nón lá ngụy trang ra khỏi tôi, tôi hoảng hốt chạy đuổi theo.
                  Dường như gió nhìn ra đứa con của Nhatrang ngày nào, đã từng nằm lăn trên cát, nhảy đùa cùng sóng biển, hét cười ầm vang một góc trời, gió đùa giỡn, nón lá bay rồi ngừng, tôi mấy lần bắt hụt. Gió thì thầm thương yêu an ủi, cát thở dưới chân tôi, tôi quỳ xuống ôm lấy cát, biển cất tiếng hát, ôi tiếng hát ru tôi ngủ ngày thơ bé, mây như đứng lại che trên đầu, tất cả đến cùng với tôi.
                  Tôi quên hẳn tuổi già, quên thân phận mình, hai tay dang rộng chạy trên cát, cất tiếng cười dòn tan. Một mình vui cười đùa giỡn, tôi nghe được những lời thương yêu từ biển, biển tạt những giọt vào người tôi, gió thỉnh thoảng lại hôn trên mặt mũi tôi, cát ôm hai chân tôi không muốn rời, bầu trời đẹp hắn ra những đám mây vàng trôi lửng lờ, tôi đã trở về và có tất cả.
                  Xin cảm những người bạn đã làm nên kỷ niệm. Xin cảm ơn tất cả những người cùng ở cư xá Không Quân ngày xưa.
                  Last edited by Phòng Trực; 12-03-2017, 11:47 PM.

                  Comment


                  • #10
                    Tình Người Phi Công - Trương kim Báu

                    Đây là lần đầu tiên bốn người chúng tôi được phép gia đình cho đi Đalat chơi 2 tuần trong dịp nghỉ hè. Còn đến mấy hôm nữa lên máy bay mà chiều nào 3 bạn cũng đến nhà tôi dự định đủ thứ chuyện.
                    Minh Châu lên tiếng:
                    - Mẫu Đơn ơi, kỳ này đi chơi bạn không được mặc áo dài trắng nữa nha.
                    Hải Yến:
                    - Đúng đó, áo dài trắng chỉ để đi học thôi. Đi chơi phải mặc quần tây, áo đầm.
                    Tú Anh:
                    - Tại sao bạn không được mặc áo dài trắng Mẫu Đơn biết không?
                    - Mẫu Đơn đâu có biết.

                    Bốn chúng tôi học cùng lớp 11 nhưng Mẫu Đơn nhỏ tuổi nhất, hiền nhất và cũng đẹp nhất. Mọi nét trên gương mặt không có gì đặc biệt nhưng mắt, mũi, miệng đó hài hòa vào nước da trắng nuột thì lại là một mỹ nhân phúc hậu tuyệt vời tinh khiết, ngơ ngác và thật ngây thơ với chiếc áo dài trắng tha thướt cao gầy nên có biệt danh là Búp Sen Trắng.
                    Xe vào phi trường Nhatrang hơi sớm, chúng tôi lên nhà hàng ở tầng lầu một uống nước chờ máy bay Air Việt Nam. Ngày trước nơi đó là chỗ của người Pháp trú ngụ thường có những buổi dạ vũ thâu đêm vịnh nguyệt thưởng hoa.
                    Đang tìm bàn trống bỗng một người đứng dậy nhường chỗ cho chúng tôi, anh mặc thường phục nhưng kiểu cách nói chuyện với những chàng phi công ngồi gần đó, biết anh tên Khải, bay khu trục cơ A1 Skyraider. Hôm nay anh được nghĩ dưỡng sức 2 tuần ở Đalat.
                    Chúng tôi đến Đalat ngụ trong ngôi biệt thự của anh tôi, do vợ chồng người bà con làm quản gia săn sóc nhà cửa, nhà có sẵn xe hơi nhưng chú quản gia và 4 chúng tôi đều không biết lái.


                    Sáng nay cả bốn chúng tôi ra chợ Hòa Bình mua trái cây, lại gặp anh chàng Khải phi công đến làm quen.
                    - Nghỉ phép lần này chúng tôi gồm 3 người, nhưng hai bạn kia có mục đích riêng rồi.
                    Minh Châu hỏi:
                    - Anh biết lái xe không ?
                    - Biết. Các anh lái máy bay được thì xe nào cũng lái được hết. Mướn anh làm tài xế đi! Năm nào anh cũng được lên đây nghĩ dưỡng sức 2 lần, anh biết nhiều thắng cảnh ở đây lắm!

                    Bắt đầu từ hôm đó anh vừa là tài xế vừa là hướng dẫn viên cho chúng tôi. Sáng anh chạy vespa đến nhà rồi lấy xe đưa chúng tôi đi thăm hồ than thở, đồi thông hai mộ, thác cam ly, suối vàng, vườn mận, vườn hoa hồng, sân đánh gù, cưỡi ngựa... Có đêm đưa chúng tôi đi uống cà phê nghe nhạc, đứng sắp hàng mua bánh mì pagette nóng dòn trong tiết trời lạnh băng thật hấp dẫn khẩu vị. Hôm nào dì năm, vợ chú quản gia, làm món ăn ngon đặc biệt chúng tôi liền mời anh ở lại dùng cơm. Anh bày cách để vào lò sưởi những củ khoai lang hay đậu phộng mà không bị cháy, anh kể cho chúng tôi nghe về đời lính và những chuyến bay đại bàng vẫy vùng xé mây cỡi gió nơi lưng chừng trái đất. Học sinh chúng tôi thời đó nam hay nữ đều đọc qua quyển Đời Phi Công của Toàn Phong nên nam sinh có mộng ước sau này sẽ theo nghề phi công, những chàng trai thiên thanh khí phách hiên ngang ưu tú.

                    Sáng nay tôi đang còn mơ màng trong giấc ngủ, giọng ngâm nho nhỏ của Mẫu Đơn bên tai, tôi nằm yên thưởng thức:

                    Lặng nghe sóng hát tình ca
                    Lúc trầm khi bổng ngân nga biển trời
                    Dạt dào sóng nói bao lời
                    Yêu bờ nhiều lắm ngàn đời chẳng phai

                    Nha Trang sóng biếc trải dài
                    Đảo xanh một dải khiến ai nao lòng
                    Nắng chiều ươm sắc vàng ong
                    Đắm mình xuống biển tan trong sóng tình
                    ...................................... (Đặng Minh Mai)

                    Minh Châu và Hải Yến chạy ào vào phòng nên Mẫu Đơn ngừng lại. Hai bạn leo lên giường lùa tôi và Mẫu Đơn vào giữa. Hải Yến nói:
                    - Yến và Minh Châu đang bàn về tương lai, những nghề tụi mình sẽ chọn khi xong lớp 12. Yến sẽ chọn học làm cô giáo, Châu sẽ học bác sĩ, Mẫu Đơn cũng học bác sĩ.
                    Châu vừa cười vừa nói:
                    - Mẫu Đơn không được học bác sĩ.
                    - Tại sao ?
                    - Vì Mẫu Đơn trắng quá, còn Châu lại đen nên người ta sẽ kêu bác sĩ trắng, bác sĩ đen mà quên mất tên chúng mình.

                    Thật ra nước da Minh Châu ngâm đen nhưng rất có duyên, bạn có đôi mắt to lấp lánh, lông mi dài cong thật đẹp, bạn rất thương Mẫu Đơn ngây thơ nên hay chọc.
                    - Vậy Mẫu Đơn học nghề như Hải Yến .
                    Yến lại nói:
                    - Không được. Bạn mà làm cô giáo thì học trò đến học hết, Yến sẽ thất nghiệp.
                    - Mẫu Đơn dạy con nít học mà.
                    - Cũng không được luôn, vì con của Yến sẽ kêu Mẫu Đơn là mẹ và tan trường Yến đến đón nó sẽ không chịu về nhà.
                    Thấy Mẫu Đơn sắp khóc, tôi lên tiếng:
                    - Học ngân hàng với Tú Anh.
                    - Không. Mẫu Đơn không thích đếm tiền.
                    - Làm ngân hàng vui lắm! Người đến gởi tiền vì họ dư tiền nên rất vui! Ai đến rút tiền, có tiền trong tay họ cũng vui nữa.

                    Chúng tôi lo tán dóc quên luôn giờ khắc. Dì năm vào gõ cửa nói có anh Khải đến, mới nhớ hôm nay đã hẹn anh đến đây ăn sáng rồi anh đưa chúng tôi đi chụp hình.
                    Chúng tôi trang điểm thay quần áo thật nhanh để còn ăn sáng, không để anh Khải chờ lâu. Hôm nay Mẫu Đơn diện áo đầm trắng, tóc gắn 2 chiếc nơ màu xanh nhạt lung linh, những sợi nubang dịu dàng buông lơi thả dài đậu xuống bờ vai lênh đênh mềm mại. Tất cả đều ồ lên vì bạn như một nàng tiên, không ai mặc màu trắng đẹp tinh khôi như bạn. Ba chúng tôi đều biết anh Khải rất thích Mẫu Đơn nhưng anh vô cùng tế nhị, anh hiểu tình bạn thân thiết của chúng tôi nên dù có cảm tình đặc biệt với Búp Sen Trắng, anh vẫn đối xử đồng đều, không săn sóc một mình Mẫu Đơn và cũng không nói chuyện riêng. Tánh lịch sự của anh làm chúng tôi nể phục và mến những anh chàng phi công nhiều hơn.

                    Anh yêu Mẫu Đơn nhẹ nhàng như những làn gió vân du đồng xanh bát ngát, như mây xanh quấn mềm quanh sườn núi hay vắt trên bầu trời quê hương năm tháng anh bay qua, anh thầm lặng mà không vội vã, anh trao tình yêu cho Búp Sen Trắng một cách vô cùng ưu ái nâng niu để Búp Sen Trắng thấy tình yêu thiêng liêng mầu nhiệm, anh thăng hoa thời gian bên nhau đẹp như khúc nghê thường chơi vơi bình yên dịu ngọt.

                    Sau chuyến đi Đalat về, 3 chúng tôi tìm mọi cách cho anh và Búp Sen Trắng có cơ hội gặp nhau. Mẹ Mẫu Đơn mất đã lâu, người kế mẫu là bạn thân của mẹ, bà yêu thương và lo lắng cho Mẫu Đơn hơi quá nên trở thành nghiêm khắc.
                    Những lúc 4 đứa ngồi ở biển chờ anh Khải đi bay về để trao Mẫu Đơn cho anh, chúng tôi thường đùa.

                    - Hay là Mẫu Đơn đừng vào đại học, hãy tìm một trường nào dạy làm vợ mà học. Anh Khải đẹp trai cao ráo, không quân kiểm tra sức khỏe của anh, mắt, mũi, miệng, răng, tai và bộ đồ lòng lại hoàn toàn khỏe mạnh, thì Mẫu Đơn học bác sĩ làm gì.

                    Nói xong là ba chúng tôi cười ngặt nghẽo rồi chạy ra ba ngã để Mẫu Đơn đứng lóng ngóng không biết đuổi theo hướng nào bắt lại, tiếng reo vui rộn rã hòa cùng biển trời mây nước.

                    Đôi khi 4 đứa rủ nhau đến nhà anh, bác gái là người đàn bà gương mẫu, chồng chết từ lúc còn trẻ mà ở vậy nuôi con. Bác rất thương Mẫu Đơn, bác nói cô bé đẹp phúc hậu. Chúng tôi đều hỏi:
                    - Còn con thế nào.
                    Bao giờ bác cũng cười và nói.
                    - Các con đều đẹp cả. Tuổi 18, 19 là tuổi trăng tròn, sáng nhất, đẹp nhất!

                    Anh Khải treo hình chúng tôi đầy phòng khách, có cả tấm hình 4 đứa nằm gối đầu trên vai, trên lưng nhau thật tự nhiên thân mật, hoặc nắm tay nhau từ trên đồi chạy xuống.

                    Hải Yến có dáng đẹp, anh đợi lúc Hải Yến bước qua chiếc cầu nho nhỏ, tay e ấp dịu dàng nhẹ nâng tà áo trong vạt nắng vàng là anh chụp, hoặc Hải Yến đưa bó hoa hồng lên cao, chúng tôi nhón gót lên cùng nhau dành giựt.

                    Minh Châu có đôi mắt đẹp mơ như sao trời, anh chụp Minh Châu ngã người ra sau, đôi mắt huyền long lanh biết cười cùng chiếc miệng sen hồng duyên dáng.

                    Tôi có bàn tay đẹp, anh chụp lúc hai tay tôi ôm quả dưa hấu như vỗ tròn niềm vui đan nhau quấn quít, màu xanh đen của dưa làm nổi màu trắng của những ngón tay thon dài ngà ngọc.

                    Và Mẫu Đơn đang ngồi ôm đầu gối vì đi mõi chân, anh đến gần kêu tên, cô bé giật mình nghiêng đầu nhìn lên ngơ ngác hiền thục nguyên trinh, anh bấm máy hình liên tục rồi lựa ra một tấm hình thật đẹp. Các anh phi công mỗi ngày đều bay trên bầu trời cao rộng nên cực kỳ lãng mạn, anh thích nét thánh thiện nên chúng tôi muốn cười nói gì cũng được, vẫn có những hình ảnh mảng mầu kỳ ảo vô biên.

                    Anh rủ chúng tôi cùng đến nhà Mẫu Đơn để anh xin gia đình Mẫu Đơn cho một lời hứa như đính hôn, rồi anh sẽ đợi ngày Mẫu Đơn học xong. Chúng tôi nghĩ anh sợ Búp Sen Trắng nở, hương thơm bay tỏa ra ngan ngát, ong bướm nghe mùi thơm tìm đến.
                    Gia đình Mẫu Đơn không hứa hẹn gì cả, chỉ nói Mẫu Đơn còn nhỏ, nhưng sau đó chúng tôi biết là họ không bằng lòng. Lý do:

                    1/ Anh không còn đủ song thân (dù là ba anh là một người yêu nước có tiếng ở trong Quốc dân đảng, bị Việt Minh ám sát).
                    2/ Nhà anh nghèo.
                    3/ Anh là một phi công, mạng sống quá mong manh, chết sống không biết lúc nào (anh là con một và còn mẹ già, anh được miễn đi lính, nhưng giòng máu yêu nước từ cha ông truyền lại quá mạnh nên anh phải đi bảo vệ đất nước).

                    Anh đến nhà Mẫu Đơn xin mấy lần đều bị từ chối, lần sau cùng anh đưa bác gái đến cũng được trả lời Mẫu Đơn còn quá nhỏ. Chúng tôi sợ anh nản lòng nhưng anh nói dù chướng ngại bao lâu, anh vẫn không nản lòng, anh chỉ sợ mạng sống anh không còn lúc đó anh mới đầu hàng.

                    Anh chẳng ngại thời gian đâu
                    Chỉ cần em hứa bao lâu cũng chờ..!
                    Nhớ em anh viết vần thơ
                    Câu thương câu nhớ câu chờ đợi em
                    ( Thanh Tâm)

                    Khải chưa bao giờ này sinh ý nghĩ oán trách gia đình Mẫu Đơn không chấp nhận mình, anh hiểu chính anh còn dám hy sinh thân xác mình cho quê hương yêu dấu, thì cha mẹ nào cũng muốn con mình có được người chồng đầy đủ vật chất lẫn tinh thần để bảo bọc con của họ vững bền hạnh phúc.

                    Gia đình bắt Mẫu Đơn đi du học để quên mối tình đầu, chọn Canada hay Nhật tuỳ ý. Mẫu Đơn chọn Nhật Bản, chúng tôi kêu chọn Canada nhưng bạn chỉ cười và không nói gì. Hôm đưa bạn ra sân bay để đi du học có anh Khải, chúng tôi ngạc nhiên khi thấy hai người sắp rời nhau lại không buồn. Sau này mới hiểu các anh Không Quân bay loại Skyraider hay A 37, F5, mỗi 6 tháng phải đi Nhật thử độ cao 1 lần. Mẫu Đơn đã biết và có kế hoạch rồi, dẫu người nơi góc biển trông đợi kẻ cuối chân mây nhưng vẫn còn bên nhau mỗi năm 2 bận.

                    Rồi tháng 3 năm 75 miền Trung cao nguyên Kontum, Ban Mê Thuộc bị bỏ trống, dân chúng ào xuống Nhatrang. Còn người dân Nhatrang thì tìm phương tiện đi vào miền nam. Những năm sau này gia đình Mẫu Đơn làm ăn thất bại, vé máy bay Air Việt Nam lại không mua được dù có tiền. Mẹ anh Khải đã mất, anh đến nhà Mẫu Đơn, đưa cả gia đình di tản vào Sài Gòn, rồi qua Mỹ.

                    Dù chưa bao giờ biết đầu hàng trước thử thách chông gai, nhưng đôi khi Khải sợ tình yêu của mình cũng đi vào huyền thoại trái ngang như cung trầm chỉ còn lại dư hương mênh mang thương nhớ, không ngờ anh cũng có một mái ấm hoàn toàn hạnh phúc với cha mẹ cùng vợ đẹp giỏi giang, ngây thơ trong trắng để anh nâng niu như kho báu, như biệt danh mà các bạn đã đặt BÚP SEN TRẮNG vô vàn thanh khiết, hai dòng sông rồi cũng hòa vào một ở nơi cho vẹn tròn mơ ước.


                    Anh tặng em một tình yêu trọn vẹn
                    Em giang tay nhận lấy cất vào tim
                    Cảm ơn anh tình nồng trao nhau đó
                    Em mơ màng hạnh phúc chẳng có tên. (Thơ Ngọc Dung)

                    Trương kim Báu

                    Comment


                    • #11
                      Bài Viết Thay Lời Tạ Ơn Phi Đoàn 524 - Trương kim Báu

                      Tháng mười hai ở Úc bắt đầu của mùa hè cũng là mùa holiday, trường học và các cơ sở được nghĩ ngơi. Ngày dài ra vì mặt trời lên rất sớm nhưng nắng chiều lại trể tràng, 9 giờ đêm vẫn còn sáng chói với bầu trời trong xanh cùng những đám mây bềnh bồng thơ mộng.
                      Nhân dịp cuối năm, chùa Quang Minh tổ chức khóa tu xuất gia gieo duyên ngắn hạn, giới luật như người xuất gia thật sự trong 3 tuần lễ để chia phước hồi hướng đến thân nhân của mình.
                      Từ ngày được ngồi trên chiếc A1 SKYRAIDER bay trên bầu trời Nhatrang để nhận lời cầu hôn của Dọng, khi máy bay vừa đáp các anh chạy ào ra đỡ xuống và chúc mừng tôi đã gia nhập vào gia đình Thiên Lôi, tôi đã tự hứa phải sống thật xứng đáng với tình cảm các anh sắp đặt, giúp đỡ cho cuộc tình chúng tôi thật nên thơ lãng mạn.


                      Thiếu tá Nguyễn văn Dọng (hình do gia đình gởi)

                      Để trọn vẹn với tình yêu của chồng và lòng tin của các anh, tôi là người đàn bà Việt Nam truyền thống, xem các anh trong phi đoàn Thiên Lôi 524 là người thân. Những lúc các anh ở trong tù, chúng tôi đã thay các anh làm việc hết sức mình, vì chúng tôi cũng là con cháu hai bà Trưng Triệu, nên giặc đến nhà đàn bà phải đánh.
                      Nhìn hình ảnh các anh trong phi đoàn 524 mà anh chị Ngô Đức Cửu mới gởi cho tôi, những khuôn mặt thân quen ngày đó, nay có người đã nằm xuống, có người vẫn còn mạnh khỏe. Lúc xưa các anh đều trẻ đẹp oai hùng trong bộ đồ bay, khăn quàng cổ, súng dao đầy đủ, miệng cười toe toét, phần đông chưa lập gia đình.
                      Nhớ đến những kỷ niệm xưa, không biết ngoài bay bổng ra, anh Cửu có nhận thêm chức vụ gì trong Phi đoàn không, vì một hôm anh Cửu và anh Thời qua nhà tôi đem 2 con cá lóc to và nhiều cua lắm, tất cả đều còn sống. Tôi là dân biển, chỉ ăn cá biển còn tươi nhưng đã chết. Giờ nhìn thấy cá sống, tôi rất sợ.
                      - Báu nướng trui cá hay hấp cũng được, cua thì rang muối, chiều anh em ra ăn.
                      Hai anh đi rồi tôi than thầm: "Đúng là các anh Thiên Lôi! Các anh có biết con gái rất sợ những con vật còn sống, làm sao dám giết đây!"
                      Tôi đem đến tiệm chú Ba Mập người miền Nam có quán ở đường Hoàng tử Cảnh rất quen thân, nhờ chú lo dùm.
                      Rồi một lần anh Nhị đến, anh cười rất tươi, anh đưa một bao to, mở ra tôi hét lên:
                      - Thịt gì mà máu không vậy?
                      - Thịt nai, bên trực thăng cho phi đoàn mình.
                      Anh đi cùng với anh Nhị lên tiếng:
                      - Báu xào lúc lắc là được.
                      Tôi nhìn anh Nhị, anh hiểu ý tôi:
                      - Người miền Nam nói là xào lúc lắc, nhưng dân Nhatrang mình thì là xào với củ hành.
                      - Ồ, thì ra vậy.
                      Lần này không dám đem đến tiệm chú Ba Mập nữa, vì lần trước chú không lấy tiền. Tôi đem đến tiệm Dân Thiên, đó là tiệm ăn tàu nổi tiếng, gần rạp ciné Tân Tân, đường Độc Lập.
                      Rồi đến phiên Dọng, hôm đó anh không bay đến rủ tôi đi ăn trưa, vừa lúc ấy chú Thái người làm vườn của gia đình tôi đem đến một quầy chuối.
                      Dọng vui mừng nói:
                      - Chuối vừa chín tới, Báu xào dừa cho các bạn cùng ăn.
                      Nhatrang lúc đó ít ai bán món này, chuối chỉ biết luộc, ăn chín hay ép làm chuối khô.
                      Lần này tôi đem đến tiệm Song Oanh ngay trên đường Trần Quí Cáp nhờ làm, bà người Nam rất dễ thương và đẹp người.
                      Mấy ngày sau thì anh Ninh đến, anh móc tiền từ túi áo bay ra, để trên bàn.
                      - Báu nấu dùm nồi chè bà ba, lâu không được ăn, thèm quá!
                      Tôi chưa bao giờ ăn loại chè này, đang suy nghĩ không biết nhờ ai nấu dùm. Hôm trước bà chủ Song Oanh biết nấu cho các anh Không Quân, bà cũng không lấy tiền nay làm sao dám nhờ.
                      Anh Ninh nhìn tôi cười cười, tay hốt lại số tiền trên bàn.
                      - Không biết nấu phải không? Để anh nhờ người khác.
                      Không biết các anh bay bổng giỏi ra sao mà được thưởng. Cấp trên cho trực thăng chở tất cả các anh trong phi đoàn vào Ba Ngòi ăn gỏi cá và đi Đà Lạt ăn sáng, những đặc ân đó đều có tôi dựa hơi tháp tùng.
                      Nhớ lại ngày đó hai anh Dọng và Nhị ra nhà tôi buổi sáng, nhờ đi hỏi các shop Ấn Độ ở đường Độc lập những mặt hàng nào có thể mua vô, vì các anh trong phi đoàn phải đi Nhật thử độ cao, muốn mua vài thứ đem về kiếm chút lời. Tất cả shops ở Nha Trang đều trả lời chỉ khi nào thấy đồ đẹp thì họ mới nhập vào.

                      Tôi nhờ anh Dọng mua dùm mấy cái khăn quàng cổ, vì mỗi lần đi cởi ngựa hay đi ra các hòn đảo, tôi muốn điệu một chút, sẵn làm quà tặng cho má tôi và bà vú luôn. Anh Nhị mua toàn đồ bật lửa phụ tùng xe Honda, vì có người quen nhờ, anh tưởng đó là hàng quý hiếm. Anh Dọng mua toàn là khăn quàng cổ. Và ông Lạc chỉ huy phi đoàn 524 mua luôn hai loại đó.

                      Các anh đem về Sài Gòn, có hai cửa tiệm không nhận hàng vào nên mắc cở không đi hỏi thêm nữa, đem về Nhatrang. Nhìn các món hàng tôi thương các anh quá, tháng ngày chỉ lo đánh giặc, lo tiếp cứu quân bạn, lo giữ gìn bờ cõi quê hương, có dịp đi nước ngoài cũng muốn kiếm tí tiền cho vui nhưng các anh thật vụng về và thiệt thà quá đỗi!

                      Bao nhiêu năm nay tôi muốn cảm ơn các anh đã một thời cho tôi nhiều kỷ niệm đẹp, giúp tình yêu chúng tôi, cũng như chỉ bày cho tôi thưởng thức nhiều món ăn miền Nam.


                      Bây giờ tuổi đã xế chiều. Sẵn dịp chùa mở khóa tu, tôi muốn đem chút công đức tu hành chia phước đến các anh, những người còn trên đời thì được mạnh khỏe hạnh phúc. Những người đã nằm xuống trở về nơi an lành, một cõi bình yên thật sự.
                      Chùa Quang Minh nằm trên đồi cao, cách xa nhà tôi một giờ lái xe, do một số kiến trúc sư của trường đại học Victoria Úc Châu thiết kế. Chùa rất lớn được xây kiểu hình tròn với nhiều mái cong lớn nhỏ khác nhau góp lại, bên ngoài dưới hầm còn thêm ba tầng nữa.
                      Tôi có mặt ở chùa Quang Minh 7 giờ sáng, được các sư cô đọc những lời ban phước trong lúc cạo tóc cho, rồi chỉ cách đắp y và học những bài kệ.
                      Lễ truyền giới vào buổi tối ở chánh điện lầu hai. Hai bên tượng Phật Thích Ca Mâu Ni thật to là tượng Quán Thế Âm và tượng Địa Tạng nhỏ hơn, cả ba tượng đều được phết vàng sáng rực. Chung quanh trong chánh điện trên những cái bệ sát vách, tượng Bồ tát rất nhiều.
                      Chúng tôi được truyền giới trong không khí trang nghiêm, đèn mở sáng ngời. Nhiều bình hoa to được trang trí mỹ thuật bên những dĩa trái cây thơm ngát. Chuông trống Bát Nhã cùng nhiều loại khí cụ hòa nhau tạo thành âm thanh vi diệu với sự có mặt của 13 vị Tăng truyền giới.
                      Chúng tôi vừa đắp y miệng vừa đọc bài kệ:

                      Đại tai giải thoát phục
                      Vô tướng phước điền y
                      Phi phụng trì giới hạnh
                      Quảng độ chư quần sanh
                      Nam mô cà sa tràng bồ tát


                      Nghĩa là:
                      Lành thay áo giải thoát
                      Là ruộng phước không tướng
                      Mặc kính đúng giới hạnh
                      Rộng độ hết chúng sanh.


                      Bây giờ những tu sinh mang dáng dấp của tu sĩ đầu tròn áo vuông, quỳ xuống nhận giới luật.
                      Trước mặt cũng như chung quanh đều có Phật và Bồ tát vô hình chứng minh, tạo thành oai lực thánh thiện tôn nghiêm cho nước mắt tôi rưng rưng thành giọt. Trong 13 vị Tăng (ở Úc và trên thế giới đến) gồm có 5 vị hòa thượng. Đặc biệt, có một vị hòa thượng đã từng đi tù cải tạo 12 năm ở miền Bắc, đã từng chia xẻ khổ đau cùng những người lính các anh.
                      Giới luật của một sadi phải giữ thật nghiêm ngặt. Sáng mới thức dậy là phải đọc thầm những bài kệ như đánh răng, thay áo, đi đứng, uống ăn, chào hỏi, nhất nhất đều đúng và đều nghĩ đến cứu độ chúng sanh. Sống chánh niệm trong tứ oai nghi, nên khi vọng tưởng nổi lên là hay biết liền nên vọng tưởng biến mất, còn có nghĩa là một chúng sanh đã được độ.
                      Đúng 5 giờ sáng vào công phu và 10 giờ đêm mới được về phòng nghỉ. Trong một ngày, thời khóa khít khao như tụng kinh, kinh hành, ngồi thiền, học giáo lý, nghe giảng pháp, ăn cũng phải đúng cách và im lặng, chỉ được nghĩ 1 giờ giữa trưa.
                      Tôi nghĩ đến các anh, ngày vào lính, các anh cũng phải cắt tóc ngắn, phải giữ luật, tập đi đứng, ăn uống, cách chào. Các anh cũng qua thời kỳ huấn nhục để trở thành người lính của Việt Nam Cộng Hòa có tư cách lẫn trách nhiệm và bổn phận đạo đức với một trái tim biết yêu thương đồng bào.
                      Để những tu sinh có thể vượt qua những khó khăn theo chương trình tu học, các thầy dạy cho chúng tôi Phát Bồ Đề Tâm. Đó là một năng lượng rất mạnh để chính mình thoát ra sự lười biếng. Bồ Đề Tâm như gió lớn, không sợ chướng ngại khó khăn, vì mình và vì người thân mà tu.
                      Đạo Phật là đạo từ bi tri huệ, con đường của quả Phật, cứu vớt chúng sanh hữu duyên bằng trí huệ và từ bi và bằng tâm vô ngã đời đời.
                      Những buổi chiều tu sinh thiền hành ở những con đường trên khắp khuôn viên chùa, nhìn thấy toàn cảnh Melboure bên dưới, từng bước chân thảnh thơi nhẹ nhàng an lạc khoan thai thong thả trong chiếc áo tu, nắng vẫn còn hòa nhập không gian chiếu soi từng bước chân đi mà không đến, những bài hợp ca vô ưu đượm mùi thiền vị có Phật trong tâm đang nhoẻn nụ cười vi tiếu.
                      Hạnh phúc trong thực tại thật giản đơn khi ta biết buông xã vạn duyên. Những người tu sống thật an nhiên tự tại, phải chăng vì họ đã hiểu có sợi dây liên hệ vô hình giữa mình và vũ trụ bao la.

                      Khóa tu đã kết thúc. Tôi không biết đã chia phước, trả ơn cho các anh được những gì hay là mang thêm ơn nữa. Các anh là một động lực mạnh mẻ cho tôi cố gắng dự khoá tu dù tuổi đã già, nhưng sau những ngày tu tôi học được nhiều và tìm ra nhiều điều hữu ích.
                      Tuổi già của tôi không cô đơn vì tôi đã có bạn bè xưa luôn quan hệ thân mật như ngày nào, chúng ta luôn là duyên thuận thảo giữa biển đời uyên náo. Tôi xin trân quý những giây phút tôi còn hiện diện trên thế gian này, vì các bạn đã cho tôi niềm vui hồn nhiên thời trẻ dại.

                      Comment


                      • #12
                        ĐEM LẠI MÙA XUÂN -XUÂN MẬU TUẤT 2018. Trương kim báu

                        Xuân lại về trên đất Úc cho những người Việt xa quê hương bớt thương nhớ quê nhà. Có những kẻ đã âm thầm kết bao cánh hoa mai trang đài cùng hoa đào rực rỡ trên cây cảnh trong chùa Hoa Nghiêm, cho Phật tử tới chùa vui với mùa xuân đang nẩy lộc.


                        Năm 1983 chồng tôi ra khỏi tù cải tạo cả gia đình đã vượt biên , đến được bờ bến tự do và được nhận vào nước Úc này, đêm giao thừa của mùa xuân đầu tiên xa Việt Nam, tôi đã bật khóc thật nhiều vì nhớ cha mẹ, nhớ nhà, nhớ làng xóm, nhớ nước non, dù mình tự ý bỏ quê hương trốn đi trong đêm tối với tâm cang rối bời vì lo sợ bị bắt lại trên chiếc thuyền nhỏ mong manh bất chấp hiểm nguy. Ấy thế mà nay ở được xứ sở thanh bình trong đêm trừ tịch, lại nhớ thương và vọng về quê nhà và với nước mắt cứ mãi đoanh tròng.
                        Có một chùa Việt Nam nhỏ ở rất xa, gia đình tôi cố tìm đến. Ôi! Người Việt mình đông quá, nói tiếng Việt vang vọng rộn ràng! Những cây hoa vạn thọ gần gũi thân thương làm sao ấy, nước mắt lại tuôn trào. Thì ra không phải chỉ một mình gia đình tôi biết nhớ quê nhà, mà gần như những người đi chùa hôm đó điều nhớ quê hương cả, dù ở miền Trung hay miền Nam, giọng nói Bắc, Trung hay Nam thì cũng cùng một mẹ Việt Nam. Con phải bỏ mẹ mà đi đó là điều không ai muốn, nhưng biết làm sao đây! Khi mình ở lại chính trên quê hương mình thì lại không được chấp nhận. Nhìn một bà vuốt ve bông vạn thọ, tôi biết bà đang nhớ quê, lòng thương cảm dâng tràn, ý nghĩ chợt đến, có cách nào mỗi độ xuân về tôi sẽ đem mùa xuân đến cho mọi người.


                        May mắn là chùa Hoa Nghiêm ở vùng Springvale được thành lập năm 1987, do một nhóm Phật tử, mỗi người cho mượn 500 đồng để đủ tiền đặt cọc mua. Đó là ngôi nhà tôn nhỏ ở số 22 Princess Ave, Springvale, ngôi nhà gỗ 3 phòng lụp xụp vì đã quá cũ kỷ, gian phòng khách chật hẹp được lấy làm nơi thờ phượng. Ở cuối phòng đối diện với tôn tượng Đức Thế Tôn là nơi thờ hương linh Phật tử và hương linh quá vãng, tuy đơn sơ gọn gàng nhưng không kém phần trang nghiêm thanh tịnh.
                        Ngày khánh thành chúng tôi mừng đến rơi lệ, vì thời đó ở vùng Springvale này chưa có ngôi chùa nào của người Việt.


                        Phải nói chùa Hoa Nghiêm được tạo lập đã đáp ứng đúng nguyện vọng của giới Phật tử ở vùng Đông Nam Melbourne nói chung, riêng với chúng tôi và gia đình thì ... hình như có một cơ duyên nhiệm mầu nào đó, đã đưa đẩy chúng tôi khắn khít với ngôi chùa mang tên Hoa Nghiêm từ đó.
                        Mừng rỡ vô cùng và lòng sung sướng rạt rào, tuy mùa xuân đầu tiên chùa chỉ có những chậu hoa vạn thọ cũng đủ ấm lòng Phật tử xa quê. Đêm giao thừa đón xuân ở chùa, thầy trụ trì cùng Phật tử đều là những người mới đến Úc, cùng một tâm trạng, thương và hiểu nhau nên lòng ai cũng chan hòa hạnh phúc trên quê hương thứ hai trong không khí ấm cúng của đêm giao thừa với miệng cười tươi và mắt không còn vương lệ.


                        Không khí sinh hoạt ở chùa có một chút gì đó vừa cởi mở thân thiện, vừa đậm tình Thầy trò và các phật tử đối với nhau cũng thành thật ôn nhu trong đại gia đình tâm linh hải ngoại. Mối thân tình đó đã được giữ gìn và duy trì mãi cho đến hôm nay.
                        Thuở đó, chồng tôi đưa rước tôi, Thầy Nhật Tồn và sư cô Như Tài đi học Anh văn. Sư cô tạm ở chùa đến khi mở được ngôi chùa Ni ở vùng Noble Park.
                        Mùa xuân năm ấy, ngoài những chậu vạn thọ, thầy Nhật Tồn có một ít hoa mai, chúng tôi tìm một cành cây khô gắn nụ biếc mai hoàng anh mang vào chánh điện, Phật tử hân hoan chụp hình kề bên nhành mai giả đó.


                        Năm 1990, thầy Nhật Tồn đi du học Đài Loan, thầy Thiện Tâm được đổi về chùa Hoa Nghiêm để thay thế. Sau khi học xong, thầy Nhật Tồn về chùa Phước Huệ Sydney và đổi tên lại là Thích Phước Ân.
                        Mai nở ngày càng nhiều hơn khi các mùa xuân sau này đến, vì chúng tôi tìm nhiều cành khô để gắn hoa mai trong chánh điện và ở ngoài sân. Khi cành khô không còn, chúng tôi chặt luôn những cây tươi ở vườn nhà.
                        Có một lần, anh Tám Hòa (nay anh đã về nơi đất Phật) và tôi đi chặt cây để gắn hoa mai, đi rất xa, những cành cây được cột lại và chở sau xe để kéo về chùa. Trên đường đi, hai anh em đều niệm Phật vì sợ bị phạt bởi không biết cách ràng buộc cây cho đúng luật, về đến chùa anh em chúng tôi mới thấy nhẹ nhõm trong lòng.


                        Chùa Hoa Nghiêm được dời về địa điểm mới ở 444 - 448 Springvale Road ngay mặt tiền của con đường chính, hoa mai hoa đào vẫn rộ mỗi độ xuân về, việc chặt cây kéo về thật khó khăn và vất vả nên sau này chúng tôi nghĩ ra cách gắn hoa trên cây tươi trong chậu, chỉ cần lặt lá là xong.
                        Ban đầu chỉ có hai anh em, anh Hòa và tôi, bây giờ được các người trẻ giúp, các cô khéo léo và lẹ làng hơn. Thế là mỗi độ xuân về, chúng tôi lặt lá để gắn hoa mai, hoa anh đào. Chùa là cả một mùa xuân của đất trời, quê hương nơi đây và cả trong trái tim mình.

                        Comment


                        • #13
                          NGÀY TẾT - Trương kim Báu

                          Chúng tôi ở trại tập trung trong vườn xoài cầu Rạch Ngòi, cách chợ Long Xuyên chừng 5 cây số, chỗ ở người Hoa đăng ký đi nước ngoài theo diện bán chính thức bằng đường biển, vì vậy chủ tàu lo giấy tờ cho chúng tôi thành người Hoa cho đúng luật.
                          Chị chồng tôi người Mỹ Tho nhưng chị ra Nha Trang ở cùng gia đình tôi từ ngày tôi sanh đứa con đầu lòng, Chị ở cùng chúng tôi lúc tôi giàu sang đầy đủ đến năm 75 tôi mất hết tất cả nhưng chị lúc nào cũng một bên tôi, vẫn thương yêu lo lắng săn sóc mẹ con tôi. Đối với tôi chị hơn cả ruột thịt những lúc buồn nản tuyệt vọng khó khăn đều có chị một bên, tôi có thể ôm chị mà khóc mà cười tự nhiên không còn phân biệt chị chồng, với tôi chị rất quan trọng. Tôi đưa chị và 2 con theo ngân hàng Việt Nam Thương Tín Nhatrang di tản vào Saigon, chồng cũng đang tù ngoài miền Bắc.
                          Chúng tôi ở Long Xuyên cả năm nay rồi, dự định xuống ở 1 tuần lễ là đi nhưng giờ chót công an đòi thêm vàng, chủ tàu không chịu, tàu bị đình lại không biết lúc nào mới ra khơi. Chủ tàu cứ hẹn 5 tây, 10 tây, 15 tây v... v... đến nỗi ai cũng nói ông chủ đang chơi trò 5, 10 với khách.

                          Nếu các con vẫn ở trại tập trung, không hưởng được một cái tết dù còn hiện diện trên quê cha đất tổ, cảm giác bơ vơ lạc lỏng chợt đến se lòng tôi quặn đau. Hôm nay là 30 rồi, muốn cho chúng biết nhiều về quê hương xứ sở, phong tục tập quán của nước nhà, tôi bàn cùng chị chồng tôi.
                          - Tàu chưa đi bây giờ nên mình về quê ăn tết, để ngày nào đó những đứa trẻ còn nhớ được cái tết truyền thống của dân tộc mình.

                          Chuyến đi này có tôi, chị chồng và hai con nhỏ. Chị mừng ra mặt khi biết tôi quyết định về Mỹ Tho quê chồng ăn tết. Đoàn chúng tôi lúc này lên đến 5 người vì có Phong, tôi mới nhận là em cũng là người Việt đi cùng tàu.
                          Xe chở khách về Sài Gòn đã khởi hành từ sáng sớm, nên Từ Long Xuyên chúng tôi phải đi xe lôi ra Bắc Vàm Cống, qua Cần Thơ rồi lên phà Mỹ Thuận. Từ đó chúng tôi đi xe từng chặn, từng chặn, chạy đua cùng thời gian, phải làm sao kịp để đón giao thừa.
                          Rồi cũng tới Mỹ Tho, từ bến xe chúng tôi đi bộ thêm 3 cây số nữa mới đến nhà. Trước 75, gia đình chồng tôi ở gần Ty Điền Địa, cùng con đường với nhà vợ tổng thống Thiệu. Sau 75, chính phủ đều trưng dụng tất cả khu nhà đó, ba mẹ chồng tôi bắt buộc về quê xây căn nhà trên miếng vườn ông bà để lại. Lối về nhà phải đi ngang nghĩa địa, khí u tịch đượm hoàng hôn lặng lẽ quá nên 5 người chúng tôi vừa đi vừa chạy. Đến nhà, con trai tôi chạy một mạch vào trong.
                          - Thưa ông bà nội, con mới về.
                          - Ồ! Cháu nội tôi, nước mắt mẹ già tuôn trào.
                          Ông nội cũng nghẹn ngào. Cô út gạt lệ, lên tiếng.
                          - Nhà vừa mới rước ông bà xong, mời tất cả đi rửa tay rồi ăn cơm luôn.
                          Má gói bánh tét định mùng 3 kêu em đem xuống cho các chị đó.
                          - Út để chị coi lửa nồi bánh tét cho.
                          - Dạ, vậy em và chị Năm xào kẹo chuối.

                          Ba mẹ con tôi ngồi canh nồi bánh tét, trời se lạnh nhưng trong lòng ấm cúng. Lần đầu tiên được đẩy củi vào lò cho lửa cháy to, hai con tôi vô cùng thích thú, ngọn lửa bập bùng theo tiếng cười vang của chúng. Bà nội bước đến trao mấy củ khoai lang và chỉ cho hai cháu cách lùi vào tro nóng, bà nhìn 3 mẹ con tôi ăn khoai mà tình thương lai láng chìm trong đáy mắt. Mẹ kéo chiếc ghế đến ngồi gần, khuôn mặt mẹ hằn những vết chân chim và tóc đã bạc phơ. Cả một đời vất vả vì chồng vì con, đến tuổi này đúng ra phải được nghĩ ngơi để đàn cháu con nuôi dưỡng, thế mà vẫn còn những giọt lệ lăn trên đôi gò má nhăn nheo, nghĩ đến những đứa con trai ở trong lao tù nơi miền Bắc xa xôi và các cháu sắp ra đi, biết bao giờ gặp lại. Tôi thương mẹ quá, mẹ lúc nào cũng hy sinh cho thế hệ sau này, ngay cả chuyến đi này cũng là ý của mẹ muốn cháu nội có một tương lai sáng sủa.

                          Mẹ ơi ! tóc chiều đã bạc
                          Biết đâu. . . . . . . . mai nhỡ vô thường.
                          (Thơ Như Nhiên)

                          - Má kể sự tích bánh chưng, bánh dầy cho tụi con nghe đi.
                          - Ừ để má kể.

                          Hai cháu nghe kể chuyện chạy đến dành nhau ngồi vào lòng bà nội. Sương xuống nhiều hơn trong màn đêm se lạnh, hoa bưởi hoa cau và hoa mai trước sân nhà quyện vào nhau tỏa hương tinh khiết làm tôi ngất ngây cảm động. Ba chồng tôi và em Phong đã sửa soạn bàn thờ treo phong pháo dính trên cửa ngõ, chị Năm và em út cũng đã hoàn tất chảo chuối xào dừa, bốn người không hẹn mà đều đến ngồi quanh nồi bánh tét, câu chuyện lại chuyền qua tai từng người. Hai con tôi lim dim nhưng không ngủ, đang thưởng thức nhiều mẫu chuyện hay trong tình thương bao phủ. Chúng đã đón nhận thâm tình ruột thịt từ ông bà cùng dòng họ trên mảnh đất quê hương trong đêm ba mươi tết, hình ảnh này sẽ khắc ghi mãi trong tim, đó là chất liệu đùm bọc cho con tôi vui sống bất cứ nơi nào.
                          Giao thừa đã đến! Mọi người đều có mặt ở ngoài sân trước, bên gốc mai già ngòi pháo được châm, tiếng pháo nổ dòn, hai con tôi bịt tai và chúng cười to sung sướng.
                          Cả làng, đầu trên xóm dưới ròn rã tiếng pháo giao thừa cho không gian bừng sáng, mọi vật thức dậy với sự giao thoa của trời đất thiêng liêng trong khoảnh khắc diệu kỳ, cảm giác bình yên hạnh phúc ngập tràn và lan tỏa mọi nơi. Tất cả đều im lặng để cảm nhận khí xuân ấm áp buồng tim và hòa mình cùng phút giây lắng đọng với thiên nhiên khoác chiếc áo tinh khôi rạng rỡ.
                          Các thành viên trong gia đình lần lượt lên thắp nhang trên bàn thờ để nhớ và cảm ơn nguồn cội của mình. Giao thừa đã trôi qua yên tĩnh, năm mới đến, ai cũng cầu một năm an lành hạnh phúc trong nghi ngút hương trầm tống cựu nghinh tân. Hai con được nhận lộc lì xì mừng tuổi của mọi người thân, cả nhà quay quần bên bàn cổ giao thừa.

                          Mưa xuân lất phất bay nhẹ rây từng màn mỏng trên cây. Giao thừa quê chồng tôi thật giản dị nhưng là hành trang quí báu mà chúng tôi mang theo suốt cuộc đời còn lại trong những năm tháng xa cách quê nhà.
                          Ngày đầu năm chúng tôi đều vào chùa Vĩnh Tràn lễ Phật, một ngôi chùa cổ tuy nhỏ nhưng đẹp và thật trang nghiêm. Bà Nội dạy chúng tôi:

                          - Gặp ai cũng phải chắp hai tay lại, đầu cuối xuống, miệng nói A DI ĐÀ PHẬT. Khi vào chánh điện cũng phải chắp hai tay lại để thể hiện sự cung kính khi đảnh lễ. Khi lạy phải khom lưng cúi người xuống buông bỏ cái ta ngã mạng.

                          Ôi những lời dạy bảo của mẹ già như thấm sâu vào tận trái tim. Cảm ơn những ngày ở bên mẹ với một cái tết yêu dấu nơi quê chồng.


                          Quê hương mỗi người chỉ một
                          Như là chỉ một mẹ thôi
                          Quê hương nếu ai không nhớ
                          Sẽ không lớn khôn thành người.
                          (Thơ Đỗ Trung Quân)

                          Comment


                          • #14
                            đinh quang cứ - con đường mang tên anh.



                            ĐINH QUANG CỨ -
                            CON ĐƯỜNG MANG TÊN ANH.

                            Trương kim báu.

                            Cô bạn tôi từ Đalat xuống Nhatrang nghĩ hè. Vòng quanh từ phòng đợi của Air Việt Nam rồi lên nhà hàng trên lầu, tôi cũng chưa thấy bạn. Mấy chiếc A1 SKYRAIDER đang đáp xuống phi đạo giữa vòm trời thoáng đãng biếc xanh. Tôi mê hình ảnh tuyệt vời của máy bay hạ cánh trên mảnh đất quê hương hoặc cất cánh ra đi cỡi mây bồng bềnh xuyên lục địa hay cõng gió vù vù qua đại dương ngàn đời đọng sóng. Một phần nữa là trong phi đoàn 524 có những người bạn của tôi hiện diện.
                            Bất chợt, một người áo bay màu cam quàng khăn cổ tím nhạt, tay cầm mũ, nai nịt súng, gươm tươm tất, bước nhanh đến chỗ tôi đứng và ôm chằm lấy tôi.
                            - Cứ đây.
                            Tôi vẫn không nhận ra ai, dù anh đã xưng tên Cứ. Nhìn kỹ lại tôi mới nhận ra Đinh Quang Cứ, người bạn chung lớp với tôi suốt một một thời trung học. Gương mặt anh rất sáng với mái tóc hơi quăn, hiền và học vô cùng chăm chỉ, anh ngồi bàn đầu bên dãy nam sinh.
                            Lâu rồi chúng tôi không liên lạc, bây giờ dáng anh thật chuẩn, cao và đẹp trai, rất oai phong trong bộ đồ bay màu cam, màu chỉ dành riêng cho dân khu trục, anh là phi công khu trục A1 Skyraider.
                            Từ đó mỗi đêm Cứ cùng các bạn đến nhà tôi chơi, nhưng tôi và anh không có dịp để nói chuyện riêng.
                            Hôm nay thứ bảy, Cứ tới một mình để rủ tôi đến thăm thầy Vỏ Hồng, là thầy dạy Vạn Vật và Việt Văn lớp 7 của chúng tôi. Thầy hiền lắm! Học trò cũ đều rất thương và thường tới thăm thầy nên muốn liên lạc cùng bạn bè ngày xưa, hỏi thầy là biết hết tin tức của nhau. Khi cô mất, thầy ở vậy một mình sống cuộc đời gà trống nuôi con. Các em đều đi học nơi xa, thầy cô đơn giữa căn nhà trống trải, vắng bàn tay chăm sóc của cô, một cảm giác xót xa dâng ngập lòng khi nhìn Thầy mặc chiếc áo cũ sờn vai, tôi sẽ tặng Thầy chiếc áo len vừa mới đan xong. Cứ nói:
                            - Tụi mình đi ăn nha! Rồi mình đến thăm thầy và mời thầy ra biển uống nước dừa, ngắm trời biển nhắc lại chuyện xưa, thầy chắc chắn thích lắm! Vã lại, tướng Kỳ ưu tiên cho anh em bên khu trục buổi trưa được ăn cơm trong câu lạc bộ miễn phí, phần ăn đúng tiêu chuẩn để có sức khỏe đi bay. Ngày trước, tướng Kỳ cũng là dân khu trục và đã từng bay những phi vụ Bắc phạt, nên ông thông cảm cuộc sống mong manh, lối sống bạc mạng của dân khu trục, tiền hết mà lương chưa lãnh, bụng trống đi bay là chuyện rất thường.
                            - Nhưng đem bạn đến ăn có được không?
                            - Oh! Thì phải trả tiền thôi! Nhưng đừng lo! Tướng Kỳ chịu chơi lắm! Nếu mời bạn gái chỉ trả nữa giá thôi.
                            - Còn người già thì sao?
                            - Ha ha ha ..... Dân khu trục không thấy ai mời người già vào ăn ở câu lạc bộ hết. Chắc phải trả nguyên giá. Ha ha ha .......
                            Thầy mừng và cảm động lắm nhưng thầy bị cảm nên không đi biển cùng chúng tôi được. Tôi nói với Cứ:
                            - Không có thầy, chúng mình ngồi dưới bãi cát như ngày còn nhỏ nha! Bạn còn nhớ năm đệ thất lớp mình không được điểm làm vườn mà còn bị phạt không?
                            - Nhớ chứ. Bị cấm túc sáng thứ bảy ở trong lớp để chép phạt từ 9 giờ đến 12 giờ trưa.
                            - Chép câu: "Phải yêu thương thiên nhiên", bạn nhớ không?
                            - Bên con trai bọn này kêu trồng cây phượng, cây bàng hay cây dừa, ít tưới nước hơn mà bên con gái không chịu, cứ đòi trồng đủ loại hoa để cuối cùng không đủ nước hoa chết hết. À, mà sao hoa chết bên con gái khóc dữ vậy, sợ bị phạt hở ?
                            - Không phải sợ bị phạt, mà vì thương hoa thôi.
                            Im lặng, chúng tôi thả hồn về thời thơ ấu, chợt Cứ lên tiếng:
                            - Đố bạn tại sao Cứ đi Không Quân ? Nhờ bạn đó.
                            - Nhờ mình ?
                            - Bạn còn nhớ dịp nghỉ hè năm lớp 9 không, Cứ về Ninh Hoà, bạn về Hòn Khói, tình cờ chúng mình cùng một tuyến đường nên ngồi gần nhau, thấy bạn say mê đọc truyện, đọc xong bạn tặng Cứ quyển sách luôn. Đó là quyển Đời Phi Công. Trong lớp chúng mình có Võ Thi ở Vạn Giả cũng vào Không Quân, nhưng Võ Thi bên quan sát, còn mấy bạn nữa mà Cứ chưa gặp, không biết bạn có cho các bạn ấy quyển Đời Phi Công như cho Cứ Không?
                            - Ồ .... ồ.......
                            Cứ và tôi vẫn thường xuyên liên lạc, lúc ấy khoảng năm 1967 thì phải, Cứ khoe mới làm quen được cô nữ sinh trường Nữ trung học Nhatrang, hẹn chiều chủ nhật đưa bạn gái đến giới thiệu cùng tôi. Tôi chuẩn bị đón nàng của Cứ thật chu đáo hầu tạo tình thân mật đậm đà, với hoa đủ loại cùng trái cây tươi tôi trang trí phòng khách thật đẹp để mừng cho Cứ sắp bước vào quãng đời hào hoa lãng mạn.

                            Chiều đó, tôi đợi mãi nhưng chẳng thấy người, chẳng thấy được nàng của Cứ mà có tin máy bay Cứ bị bắn bốc cháy từ trên cao. Không có một cánh dù nào bung ra trong lửa đỏ! Cứ đã thực hiện phi vụ cuối cùng chính xác để cứu được quân bạn đang bị bủa vây và một tiền đồn quan trọng thoát vòng nguy hiểm, rồi anh lặng im nghe đất thở, anh vĩnh viễn bay vào thiên thu ngủ một giấc ưu tú khôn tìm. Cứ đã dũng cảm tung cánh sắt giữ bầu trời và tấc đất quê hương được yên bình êm ấm rồi tự do phơi phới trả lại nhân gian kiếp đời kiêu hùng phiêu bạt.

                            Một buổi chiều vào phi trường, mình tôi đi trên con đường mang tên Đinh Quang Cứ, chúng mình đã cùng chia nhau thưởng, phạt vui buồn của thời thơ ấu, giờ đây chỉ còn lại dư âm, còn lại Đinh Quang Cứ của hồn thiêng sông núi. Tôi không khóc nhưng nước mắt cứ tuôn trào, có nhịp tim nào đang nức nở thương tiếc nhớ anh.
                            Anh Cứ ơi ! cuộc đời như một viên đá, anh đã quyết định biến viên đá thành viên ngọc sáng ngời, anh đã hy sinh mạng sống để bảo vệ tổ quốc quê hương. Anh đã ra đi nhưng mãi mãi anh vẫn sống trong bản tình ca Không lực oai hùng!

                            Comment


                            • #15
                              LOÀI CHIM CHƯA CHẤP CÁNH - Trương kim Báu.

                              LOÀI CHIM CHƯA CHẤP CÁNH

                              Trương kim Báu.



                              Con dâu, con gái và cháu gái, ba chị em rủ nhau đi shop, vì đầu năm các shop giảm giá nhiều mặt hàng. Các con mua tặng tôi một cái áo kiểu mới nhất năm 2018, loại áo rộng, mềm, rất hạp cho người lớn tuổi, vừa sang vừa đẹp để mặc với quần tây. Nhìn chiếc áo tôi thấy kiểu quen quen nên vội tìm trong vali đồ kỷ niệm, đem ra cái áo ngày nào do một chàng phi công trẻ may tặng năm 1983, lúc tôi sắp rời trại tị nạn Thailand.
                              Tôi gặp em trên chuyến tàu vượt biển, ra khỏi hải phận Việt Nam một ngày là bị hư máy nên tàu bắt đầu trôi. Tôi đi cùng con gái nhỏ và mấy người bà con. Vì lớn tuổi nhất trong nhóm nên sáng, chiều tôi đều lên mũi tàu thắp nhang cầu nguyện cho máy tàu được sửa xong để tàu hướng về bờ bến tự do v.v...
                              Mỗi lần lên mũi tàu tôi đều thấy một chàng trai ngồi đó đứng dậy lễ phép chào.
                              Tôi thầm nghĩ người trẻ này có gương mặt điển trai, cao ráo như những người hùng Không Quân. Tôi nói ý đó với người em họ, cô ấy cười:
                              - Chị có chồng Không Quân nên thấy ai dễ nhìn, có dáng dấp cao to, thanh nhã đều nghĩ giống không quân. Dưới mắt chị cái gì đẹp và oai vệ đều là của không quân, biết đâu anh chàng đó là Hải Quân nên lúc nào cũng lên mũi tàu ngồi để nhìn sóng biển.
                              Rồi chúng tôi được tàu Mỹ cứu vớt, em và một cô nữa làm thông dịch viên. Những thuyền nhân phải khai lý lịch ngay trên tàu trước khi được chuyển vào trại tị nạn.
                              Chúng tôi phải ở trại tị nạn Thailand trong một khu riêng biệt được gọi là khu tàu vớt với hàng rào bao bọc chung quanh. Bốn dãy nhà đối mặt nhau, chính giữa là một sân nhỏ, nhà được gọi là V. Tôi và các người trong nhóm đi chung ở V2, em ở V3, hai góc nhà cách nhau một đường đi 2 mét. Tất cả V đều lợp mái tôn, nền đất, không có vách mà cũng không có cửa, chỉ có mười cây trụ dựng để chống đỡ mái tôn.
                              Những người lính Thái quan sát rất kỹ đến dân tỵ nạn, nhất là khu tàu vớt, vì vậy chúng tôi phải tập họp bất cứ lúc nào dù là nửa đêm. Buổi chiều, nếu ai đến hội trường trễ sẽ bị họ dùng roi đánh. Vừa chạy trốn cộng sản được nay lại gặp lính Thailand! Thật ghê sợ! Nhưng vì mới đến trại chúng tôi không biết trình báo cùng ai.
                              Mỗi chiều tôi đều đi chùa, em cũng đi chùa, chúng tôi ít nói chuyện với nhau. Có một lần lính Thái kêu tập họp, từ chùa tôi chạy về hội trường chậm quá nên bị lính Thái đánh, có một người chạy đến làm bộ té nằm trên che cho tôi trận đòn.
                              Hôm đó tôi mới biết tên và lý lịch của em. Em tên La Xuân Khai, là một phi công phản lực học lái A37 và về nước đầu tháng 3 năm 1975. Em được bổ nhiệm ra vùng 2 ở Phi đoàn 524 Phanrang, nhưng thực tế vẫn chưa được sự vụ lệnh, mỗi ngày phải đến Tân Sơn Nhất trình diện. Em là loài chim chưa được chấp đôi cánh, chưa được bay trên bầu trời quê hương ngày nào cả. Em mơ ước được bay, đem thân trai bảo vệ đất nước, được như đàn anh vẫy vùng ngang dọc, em chưa trình diện phi đoàn nhưng tự xem mình là người của 524 và em cũng bị chế độ cộng sản đưa đi học tập cải tạo 4 năm. Khi được ra tù, gia đình kêu em đi học nghề may để chuẩn bị cho tương lai khi đến nước thứ ba.
                              Nay em gặp tôi trong hoàn cảnh tị nạn, em nghĩ bổn phận đàn em trong 524 dù chỉ là danh nghĩa, cũng phải thương yêu giúp đỡ lo lắng cho nhau. Gia đình em đạo Phật nên em hiểu được có duyên mới hội ngộ, lại cùng một binh chuẩn và phi đoàn với chồng tôi, em âm thầm bảo vệ người thân của đàn anh, dù chưa một lần gặp mặt các anh.
                              Hình ảnh sáng chiều tôi đứng trên mũi tàu thấp nhang cầu nguyện, em cảm động và nhớ đến mẹ già ở quê nhà cũng đang cầu nguyện đêm ngày cho em đến được bờ bến tự do.
                              Em xin tôi nhận em làm em để em giúp đỡ săn sóc tôi khi những người bà con tôi đã rời trại để qua Phi Luật Tân học Anh văn và chờ qua Mỹ. Không cần biết lý lịch có liên hệ với Việt Nam Cộng Hoà hay không, được tàu Mỹ vớt thì ai cũng được Mỹ chấp thuận cho đi.
                              Trại Thailand chỉ còn lại những người xin đi nước khác. Tôi và con gái đi Úc vì chồng tôi và con trai vượt biên trước đã sang Úc mấy tháng rồi. Lúc này V2 thật vắng vẻ, còn mẹ con tôi và người em con của cô tôi đi cùng đứa con gái nhỏ, cũng đang chờ đến Canada đoàn tụ với chồng đã vượt biên trước.
                              Bên V3 còn lại một mình em vì em xin đi Canada, có người chị bên đấy.
                              Ở trại trị nạn rất phức tạp vì có nhiều người Việt qua lâu chưa được định cư, họ tìm mọi cách để rời trại và muốn ghép form cùng những người được ưu tiên đi các nước tự do khác. Còn người Thái họ cũng muốn xuất ngoại, dù nước họ không bị cộng sản lãnh đạo.
                              Ai cũng biết những người không đi Mỹ vì đều có gia đình ở nước thứ ba và chắc chắn có tiền do thân nhân cung cấp.
                              Em đem tiền của tôi và cô em họ ra gởi ở ngoài trại nhờ các cô người Mỹ dạy Anh văn cất giùm. Em làm thông dịch nên ra khỏi trại mỗi ngày, em xin phép nhờ người mua giùm những đồ cần thiết làm nhà, tự ngăn một căn phòng cho chị em tôi và 2 bé gái vào ngủ an toàn trong đêm tối.
                              Em hướng dẫn giúp chị em tôi ghi tên đi học may để làm quen với máy móc tân tiến vì những năm sau 75, người dân miền Nam chỉ còn biết chạy từng miếng ăn, mỗi ngày sống trong lo sợ, đau khổ, chịu dựng và câm nín.
                              Em khuyến khích tôi vào lớp học Anh văn, hãy mạnh dạn tập nói và đặt câu hỏi mới tinh tường. Mỗi buổi sáng, em rủ bốn người chúng tôi cùng em ra tập thể dục do các cô giáo Mỹ dạy, mỗi chiều cùng nhau đến chùa.
                              Một hôm em xin phép đưa chúng tôi ra khu chợ ngoài vòng rào trại tị nạn. Từ lúc mất nước chúng tôi mất luôn niềm vui đi dạo phố phường, khi ra đường luôn đề phòng bị móc túi hay cướp giật.
                              Nay ở nước Thái được một ngày đi dạo vui chơi, cười nói và ăn uống theo ý thích (ở trong trại tị nạn mỗi ngày được phát 1 trứng vịt luộc không có nước mắm hay xì dầu gì cả), may mà có em mua giùm thức ăn bởi chồng tôi gởi tiền qua.
                              Hôm đó em lựa vải để may tặng tôi và con gái mỗi người một bộ quần áo trước khi rời trại. Em chọn màu hồng và màu xanh thật nhạt, mềm mại ngọt ngào như những đám mây các anh đã từng bay qua. Ôi! Em chưa được chấp đôi cánh như đàn anh mà trong tim em đã có những đám mây xanh hồng lộng trời cao ngất ngưỡng.
                              - Em muốn chị thật đẹp khi gặp lại anh, vì chị là vợ không quân mà.
                              Em vẽ kiểu và tự cắt, mượn máy may bên Cao Ủy. Khi mặc áo vào mới có dịp ngắm mình trong gương, đã già đi nhiều. Bao năm nay đầu óc không yên, lo nghĩ mọi điều. Chồng tù, con không được đến trường, lo việc làm, hộ khẩu ... cứ sợ bị đuổi đi kinh tế mới ...v. v... Tôi quên nhìn vào gương và không còn nghĩ đến nhan sắc của mình.
                              Ngày tôi rời trại, em xin được đưa tôi đến trại chuyển tiếp ở Bangkok, em nói qua đến Canada em sẽ học về may vẽ thời trang.
                              Mấy năm sau em đã nổi tiếng, chàng phi công trẻ không được chấp đôi cánh để bay trên vòm trời bảo vệ quê hương yêu dấu, nhưng với tánh nghệ sĩ sẵn có trong những chàng phi công, em đã dùng đôi bàn tay tài hoa của mình để vẽ và may những chiếc áo thời trang quí phái phục vụ cho mọi người mà giới điện ảnh và ca sĩ ưa thích. Em đã làm vẻ vang người tị nạn. Cuộc đời em đã rẽ về một hướng khác, đất nước xa lạ đã mở vòng tay đón em, tương lai không còn mờ mịt như chính trên quê hương nơi em sanh ra đã vứt bỏ, cầm tù, không phải một mình em mà là cả bao nhiêu tuổi trẻ và nhân tài của miền Nam.
                              Tôi thật cảm ơn chế độ Việt Nam Cộng Hòa, nơi đó đã sanh những công dân tốt, huấn luyện những người lính biết Tổ Quốc, Danh Dự và Trách Nhiệm.
                              Tôi cũng biết ơn binh chuẩn Không Quân, nhờ họ mà những tháng ngày ở trại tị nạn có người âm thầm bảo vệ tôi. Một binh chuẩn mà trong đó tất cả đều nêu cao tình huynh đệ, họ có một tấm lòng rộng mở và đẹp như bầu trời họ từng bay qua dù là đã thành loại chim quí rồi hay còn là những loài chim non chưa được chấp đôi cánh cao vời gió lộng.

                              Comment

                              Hội Quán Phi Dũng
                              Diễn Đàn Chiến Hữu & Thân Hữu Không Quân VNCH




                              website hit counter

                              Working...
                              X