Thông báo

Collapse
No announcement yet.

Truyện ngắn Truơng Kim Báu

Collapse
X

Truyện ngắn Truơng Kim Báu

Collapse
 
  • Filter
  • Giờ
  • Show
Clear All
new posts

  • Nguyen Huu Thien
    replied
    Năm 1971, nhờ giữ chức vụ Sĩ Quan Báo Chí CCKQ Pleiku, lại là thuộc cấp cũ của Trung tá Lê Bá Định, Liên đoàn trưởng LĐ72TC, tôi mới được hân hạnh ngồi ké A-1E (tức AD-5) của anh Phạm Văn Thặng (PĐ-530) trong một phi vụ “liên lạc” Nha Trang. Đã tưởng mình ngon, nay mới biết KiwiTeTua còn bảnh hơn, mới mang “con cá” mà đã được ngồi A1-E về Sè-goòng!

    Chưa kể chuyến đó chắc chắn ông pilot bay êm, vì có ông Đại tá Tỉnh trưởng trên tàu. Còn tôi thì bị ông “Thặng Fulro” quần, hai ba ngày sau vẫn còn phê!
    Last edited by Nguyen Huu Thien; 10-10-2018, 01:24 AM.

    Leave a comment:


  • KiwiTeTua
    replied
    Trung Tá Bùi Gia Định

    Tình cờ đọc trong bài thấy có nói đến Đại Úy Bùi Gia Định.

    Khi tôi còn là SVSQKQ ở ngoài Nha Trang, anh Bùi Gia Định đã mang lon Trung Tá, Không Đoàn Trưởng A37? (lúc đó nghe chị Định nói anh là Liên Đoàn Trưởng Tác Chiến của các phi đoàn A37 của SĐ2KQ? hay là Tham Mưu Trưởng Hành Quân của SĐ2KQ?). Thật tình tôi chỉ thấy anh mặc đồ bay với lon Trung Tá chứ không biết chức vụ anh.

    Người dì ruột của anh Định, ông bà bác sỉ Nhờ, là bạn thân của ba má tôi, thường hay đến nhà chơi.... Hai bác là người Huế, bác gái nói tiếng Huế "nặng", khó tánh nhưng với tôi thì bác dể dải, rất thương tôi

    Vài ngày trước khi tôi ra TT Huấn Luyện Nha Trang, hai bác có đến thăm và bác gái nói "bác có người cháu là Trung Tá KQ ngoài đó, không biết bay loại chi, bác sẽ nói đến đón con về nhà chơi...". Tôi nghe mà cũng không để ý và sau đó những tuần lể "huấn nhục" cũng làm tôi quên đi...

    Một buổi chiều Thứ 6, trong thời gian "huấn nhục", đang bị phạt te tua thì có một cán bộ đàn anh đến bảo tôi lên văn phòng Thiếu Tá Bé trình diện..... Tôi nghĩ trong bụng "Chết mẹ, hồi nảy sắp hàng đi từ "nhà bàn" về, mình làm cái gì mà bị gọi trình diện Thiếu Tá Bé?".

    Khi vào văn phòng Đoàn Trưởng Đoàn SVSQ, Thiếu Tá Nguyễn Văn Bé trình diện, chào tay, xưng tên và khóa... Không biết chuyện gì sẽ xảy ra? Cạo đầu và nhốt Conex? Trong lòng tôi, ruột gan tơi bời, héo hon, "teo" gần chết..... Thiếu Tá Bé chào tay lại và nói "đây là Trung Tá Định đến lãnh anh đi phép....". Nhìn lại mới thấy một ông mặc đồ bay, đeo lon Trung Tá, nhìn tôi cười cười... và nói "bác Nhờ và "mân" (maman - bà già tui) có kêu anh đến đón em đến nhà chơi rồi đi ăn cơm... Em về lấy ít đồ thay, rồi trở lại đây, anh chờ..."

    Tôi mừng hết lớn, chào hai ông rồi ba chân bốn cẳng chạy về barrack Ngân Hà lấy 1 bộ đồ vàng "đi phép", 1 bộ đồ dân sự và 1 bộ đồ ngũ, rồi vội vả trở lại văn phòng Thiếu Tá Bé.... Giấy phép Thiếu Tá ký đi từ chiều Thứ 6 đến chiều Chúa Nhật mới về lại trại. Khỏi bị phạt mà còn phây phả được đi phép trong những tuần "huấn nhục"... Ôi còn chi hơn nữa, thiên đàng là đây!

    Sau đó, sau khi qua tháng "huấn nhục", đã gắn "con cá" (Alpha), vài tuần anh chị Định lại lái chiếc pick up xanh KQ vào đón tôi về nhà chơi chiều Thứ 6, ăn cơm nhà hay ra tiệm ăn, rồi ngũ lại nhà anh chị, sáng ngày sau Chúa Nhật mặc đồ vàng đi phép ra phố tự túc.

    Anh Định còn có xin Thiếu Tá Bé ký giấy cho tôi về phép Sàigòn, anh còn gởi tôi đi "quá giang", về Sàigòn bằng Skyraider AD-5, cùng chuyến với Đại Tá Lý Bá Phẩm, Tỉnh Trưởng tỉnh Khánh Hòa lúc bấy giờ. Chuyến bay chỉ có ông pilot, ông Tỉnh Trưởng và SVSQKQ mặc đồ vàng, đeo "Alpha"... SVSQKQ chào lia chia và trong cả chuyến bay về Sàigòn im ru, chả dám ho hen, nói năng gì hết...

    Những năm trước, trong CT, tôi tình cờ được biết anh Lưu Huy Cảnh (Cảnh "đầu bò" - Trung Tá A37), cho biết tin tức và số điện thoại của Trung Tá Bùi Gia Định.
    Lúc đó bận rộn, lu bu đủ thứ, tôi chưa kịp liên lạc với anh Định thì được tin anh đã mất.

    Hơn 45 năm qua, tôi vẫn còn nhớ đến anh chị Bùi Gia Định.....
    Last edited by KiwiTeTua; 10-04-2018, 12:07 PM.

    Leave a comment:


  • Phòng Trực
    replied
    Những Người Con Đất Việt

    NHỮNG NGƯỜI CON ĐẤT VIỆT
    Trương kim Báu


    (Viết để tưởng nhớ Chuẩn Tướng Trần văn Hai, Trung Tá Kỹ Sư Hà Ngọc Lương, chị Lê thị Kỳ Duyên và các con, bác sĩ Thạch cùng tất cả các bạn và những người trai nước Việt).

    ***

    Nghe tiếng chuông tôi đi ra, vợ chồng trẻ hàng xóm đem qua trả mấy đĩa DVD Phật pháp, và xin giữ lại một đĩa mà thầy Thông Lai làm lễ truy điệu, cầu siêu cho những Quân nhân đã tự sát để không lọt vào tay cộng sản ngày 30 tháng 4 năm 1975.
    Cặp vợ chồng trẻ này có lòng yêu nước và muốn biết nhiều về những gì trước 1975.
    - Dì có quen biết ai trong danh sách các vị mà chùa thầy Thông Lai thờ không ?
    - Có 3 người.

    Một là tướng Trần văn Hai, anh là con nuôi của ba tôi, anh thường liên lạc với gia đình tôi, hiền và có tình. Ngày ba tôi mất, anh và một số các anh khác đến nhà lo tang lễ, mỗi năm ngày giỗ, anh thường đem một con nai hay heo rừng đến để làm tiệc đãi những người đến dự đám giỗ.
    Hai là Trung tá kỹ sư Hải Quân Hà Ngọc Lương.
    Ba là chị Lê thị Kỳ Duyên làm cùng Việt Nam Thương Tín Nha Trang, sau này kết hôn với trung tá Hà Ngọc Lương.
    - Dì ơi, ông con quen với bác sĩ anh của dì, ông con nói nhiều về ông bác sĩ đó.

    Tôi sẽ kể về anh tôi và việc các anh đánh nhau với người Mỹ, có Trung tá Hà Ngọc Lương trong đó.
    Từ nhỏ tôi ở chung với anh, sau này anh đi một vòng rồi lại về ở chung với tôi. Anh cao to đẹp trai, nói tiếng Anh, Pháp rành, nói được cả tiếng Đức, tiếng Nhật và nhiều tài vặt như thổi kèn Harmonicas, thổi sáo, nhảy đầm, cởi ngựa, bắn súng v.v... Nghề nghiệp anh là bác sĩ, anh mổ giỏi nhất Nha Trang, anh giàu vì cha mẹ chúng tôi rất nhiều ruộng muối, đất , đồn điền nhưng chuyện tình anh không êm ái bởi tánh lả lướt.
    Anh có 2 vợ mà chị nào cũng đẹp, đều có con với anh. Ông bà mình thường nói: Một vợ nằm giường lèo, hai vợ nằm chèo queo. Anh không thể ở với ai vì hai người anh đều thương, đành về ở cùng em gái.
    Ngày trước ở Nhatrang, mỗi đêm các bác sĩ thay phiên nhau trực ở phòng mạch của mình, để người dân trong thành phố nếu đêm về bị bệnh bất cứ giờ nào, cứ tìm đến bác sĩ trực. Nếu cần mổ, bác sĩ sẽ chuyển đến Nhà Thương tức là Ty Y Tế Tỉnh Nha Trang.
    Anh không phải trực ở phòng mạch của mình, mà trực ở Nhà Thương Tỉnh, vì anh là bác sĩ mổ. Các anh 524 đến nhà tôi chơi mỗi đêm nói cười vui vẻ, anh để tôi sống thật trọn vẹn thời tuổi trẻ với bạn bè. Vì anh biết những người lính đã trải qua những huấn luyện về nghề nghiệp cũng như tư cách đạo đức, tuy tánh lã lướt có ở người Phi Công, nhưng bản chất thật trong họ là người tốt và đáng tin cậy.
    Tối nay các bạn không đến vì phải bay đêm, tôi nghĩ cũng tốt, anh em tôi có dịp hàng huyên tâm sự và kéo dài bữa cơm chiều.
    Đang ở trên lầu, người giúp việc lên thưa có khách. Tôi xuống thấy hai cô bạn từ thời trung học ở Sài Gòn về đến rủ tôi đi ciné. Vừa lúc đó xe Không Quân do Định lái cũng chạy vào, anh Nhị ngồi bên. Định bước xuống vẻ mặt hơi mệt.
    - Báu, mình đi ra biển coi mấy người bay đêm, chờ họ về cùng đi ăn phở Chụtt.
    Cầu Đá ngày xưa được gọi là Chụtt (chụtt là vùng nhỏ có dựa dành cho ghe thuyền núp gió. Đệm và chằng là hai loại cây để làm buồm cho ghe, 2 loại cây này chỉ có ở Nha Trang), ở Chụtt có một hàng phở gà và bánh mì gà rất ngon, bán ở lồng chợ cho đến khuya khi chợ chiều tan.

    Nha Trang xuống Chụtt bao xa
    Kẻ ra mua đệm, người ra mua chằng.
    Anh em mừng rỡ lăng xăng
    Người hỏi thăm vào, kẻ hỏi thăm ra.
    Anh em chè rượu hỉ ha (Nguyễn man Nhiên )


    Tôi bối rối vì hai cô bạn lâu ngày mới gặp lại, họ thuộc loại công chúa, con nhà giàu, học giỏi, đẹp. Tôi biết Định đang buồn vì chuyện tình đầu không như ước muốn. Định đối với gia đình tôi gần như người nhà, vì mối liên hệ gia đình tôi với ba dượng của Định là tướng Lam Sơn, chị họ Định lại là bạn thân của tôi.
    Tôi không muốn làm ai buồn hết, lúc đó anh tôi bước ra.
    - Các em tính đi chơi đâu vậy?
    - Định và Nhị rủ em đi biển, hai bạn rủ em đi ciné.
    - Trời nóng vào ciné làm gì, biển hôm nay có trăng đẹp đó.
    - Các em đi chơi vui vẻ, anh đi xuống nhà thương đây.
    Tôi than thầm vì tôi biết Định rất nhát gái, hơn nửa anh đang buồn. Còn anh Nhị thì quá hiền không biết tán gái. Tôi và anh Nhị là dân Nha Trang biết nhau từ nhỏ, phải chi có anh Đinh Xuân Ninh hay anh Nguyễn Đỗ Toàn thì hay biết mấy, hai anh ăn nói ngọt ngào và biết nói đùa để các cô vui, hai anh đã đi biệt phái ở Pleiku rồi.

    Ở Phi đoàn 524 có anh Lê Ngọc Yên và anh Ngô văn Trung lúc nào cũng đi chung, nổi tiếng biết lấy lòng người đẹp, hai anh chỉ ra nhà tôi chơi vài lần rồi có mục riêng nên không đến nữa, nếu thân thì hôm nay nhờ cậy được rồi.
    Xe Ford Pick Up Không Quân do Định lái, hai bạn tôi ngồi phía trước, tôi và anh Nhị ngồi trên thùng sau.

    Biển về chiều dịu dàng và lặng lẽ
    Sóng rì rào khe khẽ hát lời ru.
    Sắc hoàng hôn nhuộm đỏ ánh mây mù,
    Nhè nhẹ gió về.....vi vu thông vẫy. (Biển Chiều)


    Đến biển, năm người ngồi xuống cát nhìn hai chiếc máy bay A1 SKYRAIDER bay vòng rồi ra biển, để kiểm soát an toàn cho thành phố và sẵn sàng ứng chiến, thấy thương các anh, người trai thời chiến.

    Giữa lòng trời khuya muôn ánh sao hiền,
    Người trai đi viết câu chuyện một chuyến bay đêm.
    Cánh bằng nhẹ mơn trên làn gió.
    .....
    Đêm nay chuyến bay trời xanh như màu áo,
    Đường Minh Đế nhàn du khắp tinh cầu... (Chuyến bay đêm)


    Đêm nay trăng rằm, ánh trăng sáng vằng vặt, những đợt sóng biển như những dãy vàng lỏng tràn vào bờ cát lấp lánh, những tàn cây dát vàng cũng lung linh theo gió mát trăng thanh.
    - Báu cho mượn đôi dép để kê đầu, Định nằm một chút. Tình hình lúc này leo thang, một nửa biệt phái Pleiku cũng bay ngày bay đêm, ở đây cũng không khác, bay đến LÒI KÈN luôn.
    Thôi rồi, hai công chúa mà nghe Định nói tiếng Lòi Kèn thì tưởng là tiếng tục tiểu đó, làm sao đây, đúng như tôi nghĩ hai bạn đứng dậy.
    - Báu, ba đứa mình đi dạo biển đi.
    - Báu ở lại, Định cần hỏi Báu chút việc, Nhị đi cùng hai cô đi.

    Ai đã từng dạo chân trên bờ cát
    Ngắm lớp sóng xa dào dạt vỗ bờ.
    Biển về chiều đẹp tựa những nàng thơ
    Khi ánh hoàng hôn từng giờ buông thả. (Biển Chiều)


    Hai bạn tôi đi trước, anh Nhị đi phía sau cách nhau 5, 6 thước. Tôi than trong đầu như tụng kinh, anh Nhị ơi ! sao anh hiền quá vậy, đi nhanh lên, đi chính giữa 2 cô, hỏi cô này, nói với cô kia. Em học ngành nào? Bài vỡ nhiều có làm em mệt không? Em có thường về thăm nhà không? Em thích máy bay không? Anh sẽ đưa em vào Phi Trường chơi, anh sẽ....... Tán dóc đi! Tán dóc đi!
    Phải chi có anh Ngô Đức Cửu hay anh Nguyễn văn Dọng lúc này, hai anh ấy sẽ làm một vòng lã lướt để hai bạn tôi không nghĩ là con nhỏ này ngày trước cũng khá, nay sao chơi cùng bọn nhà quê, nói tục.
    Đêm trăng đẹp cùng gió lộng mà lòng tôi không vui, Định ngồi dậy níu tay tôi nhìn đồng hồ và hỏi.
    - Báu, sao Định buồn quá vậy?
    - Thất tình mà.
    - Báu có lúc nào buồn như vậy không ?
    Chưa kịp trả lời thì Định vụt đứng lên.
    - Chạy mau Báu, Nhị đang gặp nguy hiểm.
    Tôi nhìn theo hướng Định chạy thì thấy một lằng hồng đỏ to vút lên không, được bắn từ flare Gun của các chàng Phi Công.
    - Chạy mau theo Định! Chạy gần mé nước, mau lên!
    Tôi như lực sĩ chạy nước rút bởi tiếng cổ võ của khán giả nên tôi theo kịp Định.
    Ba người con trai đang đánh với bốn người Mỹ. Anh Nhị đánh với một người Mỹ nhưng phía sau là hai bạn tôi đang núp vào lưng anh, tay họ níu chặt lưng áo, vai áo, nên anh chỉ đở đòn chứ không có thế tấn công.
    Định hét.
    - Hai người bỏ Nhị ra.
    Tiếng hét quá to làm hai bạn tôi hết hồn, buông anh Nhị ra, bị mất đà họ té xuống cát. anh Nhị thụt lùi lấy thế đá, vấp làm hai bạn nằm chồng lên nhau.
    - Để thằng Mỹ này cho Định. Nhị chạy đến giúp người áo trắng đang đánh với hai thằng Mỹ. Còn Báu lo bảo vệ hai cô.
    Định bay đến đá một cái vào người Mỹ, chỉ trúng ở tay vì chàng Mỹ cao to quá.
    Bản tánh du côn có trong người tôi hồi nào không biết, tôi la to.
    - Định, đá đẹp lắm!
    Người đời thường nói đi trong đêm, trời không có mưa, nhưng sương rơi nhiều cũng thấm ướt áo. Hai ống quần bị trì kéo xuống, tôi giật mình! Thì ra, hai cô bạn bò đến sát chỗ tôi đứng, run rẫy và khóc to. Hối hận, tôi ngồi xuống ôm hai bạn vỗ về.
    - Thôi đừng khóc nữa, chuyện không có gì.
    - Sao không có gì, hai đứa bị hai ông Mỹ to ôm rồi.
    - Đừng khóc nữa, nín đi, nín đi, chuyện ôm mình sẽ nói sau nha! Bây giờ đứng lên coi các anh đang đánh nhau với người Mỹ, vì bênh vực hai bạn đó.
    Chắc hai bạn cũng chán tôi lắm rồi, nên họ không khóc nữa. Tôi đứng giữa, hai tay ôm hai bạn để bảo vệ, mắt nhìn những cặp đánh nhau.
    Ô! Sao anh tôi lại có mặt ở đây? Anh đánh thật đẹp! tôi thấy vui vui! Còn anh áo trắng kia là ai? Người anh cao cao nhưng đánh thật chắc, đẹp. Mỗi khi người Mỹ té xuống, anh đứng yên chờ đối phương đứng dậy và anh luôn để người Mỹ tấn công trước, anh đỡ đòn và khi phản công lại, anh luôn luôn đánh trúng. Anh này chắc võ phải giỏi lắm! Vì cách đánh có cái gì quân tử của người biết võ.
    Anh Nhị lúc nảy chỉ bị tấn công không đánh được cái nào, bây giờ cũng gỡ được rồi.
    Anh tôi nắm được tay người Mỹ. Tôi nghĩ anh sẽ dật ngã một cú đẹp tuyệt vời đây, nhưng không, anh nói gì với người Mỹ và thả tay ra, người Mỹ vụt chạy.
    - Các bạn tha cho họ đi.
    Ba người Mỹ chạy chưa đến đường cái thì xe quân cảnh Mỹ còng tay 4 người đưa đi.
    Tất cả đều đến chỗ chúng tôi, anh tôi hỏi:
    - Hai em có bị thương không?
    - Dạ không, chỉ sợ thôi.
    - Bạn này cũng là Không Quân ?
    - Tôi Đại úy Hải Quân Hà Ngọc Lương.
    - Đại úy Không Quân Bùi Gia Định.
    - Trung úy Không Quân Nguyễn văn Nhị
    - Bác Sĩ Thạch.
    Họ tự giới thiệu.
    - Sao anh lại ở đây? Anh đánh giỏi quá!
    Bữa nay không có ca mổ, trời khá nóng nên anh ra biển uống ly nước. Thấy có dấu hiệu cầu cứu bắn lên, anh bạn này chạy trước, anh chạy theo. Đến nơi mới thấy 4 người Mỹ đang vây 3 em lúc chiều đến nhà. Cũng tội các người Mỹ, hôm nay là ngày lễ Độc Lập của nước Mỹ, nhớ nhà nên họ uống rượu giải buồn.
    - Lỗi cũng tại tôi bảo vệ mà đi cách xa quá, thấy hai người con gái đi một mình, nên người Mỹ hiểu lầm.
    - Mời tất cả vào quán uống nước.
    - Cảm ơn bác sĩ, chúng tôi phải tìm lại giày, dép và đến chỗ để xe vì hẹn các bạn đi bay rồi đến đó. Mời anh Lương đi cùng cho vui.
    Anh kêu tôi ra, đưa riêng cho hai tờ giấy bạc có hình Đức Trần Hưng Đạo.
    - Đi ăn, em trả tiền giùm anh.
    - Ngày mai 6 giờ chiều mời tất cả các bạn đến nhà hàng Đồng Khánh ăn cơm cùng anh em chúng tôi, bên Không Quân cũng như Hải Quân rủ thêm bạn bè đến cho vui.
    Ra xe vẫn ngồi như lúc đi, anh Lương và anh Nhị ngồi một bên, nói chuyện có vẻ tương đắc. Một xe Honda ngừng lại, anh Yên bỏ anh Dọng xuống chạy đi liền, nói to.
    - Các bạn xuống trước, hẹn gặp ở quán phở gà.
    Anh Dọng nhảy lên, anh Nhị giới thiệu anh hai với nhau. Anh Dọng ngồi sát gần tôi phía bên này.
    - Báu phải vịn thật chặt kẻo xe thắng dễ bật ra sau, để anh phụ.
    Dọng lợi dụng một tay cầm tay tôi, một tay ôm trên vai, và ngâm nhỏ.

    Cầm bàn tay đẹp anh thầm khen
    Nước da trắng mịn như băng tuyết
    Ấm áp dịu dàng tựa tay tiên (Nguyễn Quảng Tuân)


    - Thôi xạo vừa thôi, anh gặp tiên hồi nào mà biết?
    - Lúc nảy bay đó, anh và Yên khi bay qua biển, hai chiếc đều nghiêng đôi cánh và chớp chớp đèn, là đang nhìn các nàng tiên.
    - Đừng xạo nữa, lúc vào tiệm ăn nhớ săn sóc giùm hai bạn Báu, anh cười gật đầu rồi nói to.
    - Anh Lương và anh Nhị lúc vào tiệm ăn, Báu nhờ hai anh lo giùm cho hai cô bạn.
    Tôi ức quá nhéo anh một cái, vải áo bay quá dày và nhiều túi chồng lên nên chả thấm gì cả.
    Xuống xe tôi kín đáo đưa tiền cho Định giữ, nhờ mua thêm ba ổ bánh mì để cho người giúp việc và chị Hương, người theo hầu tôi.
    Trong lúc ăn các anh bàn về chuyện đánh nhau, anh Lương nói:
    - Người Mỹ vì tự do đã qua giúp Miền Nam Việt Nam, để quân đội mình đánh cộng sản Phương Bắc, đó là cái ơn mình phải nhớ, nhưng họ làm bậy mình phải sửa, mình là dân Việt mà.

    Nghe như tiếng của cha ông dựng nước,
    Truyền con cháu phải ngẩng đầu cao mà bước.
    Nghe như lời cây cỏ gió mưa,
    Đang hát tiếp bài ca bất khuyết ngàn xưa, (Lê anh Xuân)


    Anh Yên chăm sóc từng chút cho bạn gái. Anh Lương và anh Nhị hết lòng với 2 bạn tôi, tôi thấy mát ruột và nghĩ hồi chiều phải chi anh Nhị như vầy thì đâu có đánh nhau, mất đi một đêm trăng đẹp, biết đâu trái tim của hai công chúa sẽ đập sai nhịp liền.
    - Anh Lương tối nay về đâu?
    Định cho tôi xuống trước Trung Tâm Hải Quân vì tàu tôi neo ở đó.

    Nghe sóng biển mình say nhịp bước
    Lời ái ân như nước biển dâng.
    Trong lòng cảm thấy lâng lâng
    Hoàng hôn buông xuống mây hồng nẻo xa. (Nguyên Quãng Tuân)


    Biển chưa ngủ biển đêm nay đang thức
    Gởi riêng trẻ những hải đảo chân trời.
    Anh về biển quên tuổi đời khôn lớn
    Gọi trùng dương mỗi hai tiếng em ơi. (Triều Dâng)


    Định xuống xe bắt tay anh Lương và đưa bao bánh mì thật to.
    - Nhờ anh đưa giùm cho anh em trên tàu, không phải tiền tôi đâu, bác sĩ lúc nảy đưa tiền đó, ngày mai gặp lại anh.
    Hai công chúa về trước tôi, anh Nhị và anh Dọng cũng nhảy xuống xe và lấy lại phong độ của lính tàu bay, người đẹp không còn lời nào để chê Không Quân.
    - Đây bánh mì của Báu, gởi tiền còn lại để mai bác sĩ bao tụi mình nữa, phần này đem về Phi Đoàn, anh em đi bay ai cần thì lấy ăn, cứ hai chiếc đáp thì hai chiếc bay lên, phải tuần suốt đêm.
    Tôi nhái Định bay đến LÒI KÈN. Cả bốn cất tiếng cười thoải mái vui vẻ.
    Nhờ anh Lương mà trong nhóm quen được thêm hai anh Sĩ Quan Hải Quân, lịch thiệp giỏi dang. Hai công chúa bạn tôi sau bữa cơm đó cứ hỏi về anh Lương và anh Nhị, muốn tôi tổ chức một buổi gặp mặt nữa. Định khuyên không nên, hãy rút kinh nghiệm của Định.
    Nếu hai người trẻ có yêu nhau thì cha mẹ của các cô không bao giờ chịu gã, nếu họ lịch sự thì âm thầm cho con gái mình đi du học, còn không thì mời chàng trai đến để nói:
    - Xin anh hãy để cho em nó học, vì em còn nhỏ quá, gia đình tôi đã bàn kỹ rồi, xin anh thông cảm.
    Vậy là các người lính như tụi mình.....thất tình. Vì không ai chịu gã con cho những người lính, vì lính là nghèo.
    - Định sai rồi, các anh nhớ đã có lần khoe cùng Báu, là Vị Tổng Thống đương thời đã ghi vào sổ vàng của Không Quân: “TRÊN ĐẤT NƯỚC THƯƠNG YÊU CỦA CHÚNG TA, KHÔNG GIAN LÀ CỦA CÁC BẠN”.
    - Khi Tổng Thống đến Hải Quân người sẽ viết: “TRÊN ĐẤT NƯỚC THƯƠNG YÊU CỦA CHÚNG TA, BIỂN CẢ LÀ CỦA CÁC BẠN”.
    - Khi Tổng Thống đến Bộ Binh người sẽ viết: “TRÊN ĐẤT NƯỚC THƯƠNG YÊU CỦA CHÚNG TA, ĐẤT VÀ RỪNG LÀ CỦA CÁC BẠN”.
    Báu nghĩ người lính các anh giàu nhất! Không Quân có Không Gian, Máy Bay. Hải Quân có Biển Cả, Tàu Thủy. Bộ Binh có Đất, Rừng, Xe Tăng.
    Nên các anh cứ hãnh diện, sống hiên ngang vui vẻ làm hết bổn phận mình, chuyện tình cảm rất kỳ diệu, cái gì của mình là của mình.

    Trời xanh đây là của chúng ta
    Núi rừng đây là của chúng ta
    Những cánh đồng thơm mát
    Những ngã đường bát ngát
    Những dòng sông đỏ nặng phù sa
    Nước chúng ta
    Nước những người chưa bao giờ khuất (Nguyễn Đình Thi)


    Các bạn cười thật lớn và vui vẻ.
    Sau tháng 4 năm 1975, tin buồn từ Nha trang đưa vào gia đình Trung Tá Kỹ Sư Hải Quân HÀ NGỌC LƯƠNG cùng vợ Lê THỊ KỲ DUYÊN và các con tự tử chết vì không muốn đầu hàng cộng sản. Bác sĩ Thạch chết trong trại cải tạo. Chồng tôi, các bạn đều bị tù khổ sai.
    Tôi đã chảy nhiều nước mắt trong những năm dài sống dưới chế độ mới, hy vọng một ngày gặp lại được tất cả, chồng và bạn bè. Nay được coi DVD chùa thầy Thông Lai tổ chức long trọng trang nghiêm, buổi lễ truy diệu cầu siêu, rước di ảnh các anh hùng vì nước vong thân đưa vào Đền Thờ Tổ Quốc ở chùa.
    Những chàng trai của đất Việt ơi ! Các anh sanh ra và lớn lên trong thời chiến, các anh đã đem hết sức mình để bảo vệ đất nước quê hương, mỗi anh có một nhiệm vụ, một công việc riêng, nhưng một điểm chung là lòng yêu nước.
    Đời người ai cũng một lần chết, các anh đã chọn cho mình một cách chết tự kết liễu đời mình. Hay bất khuất bỏ mình khi bị giam cầm trong lao tù cộng sản. Những người con ưu tú của Không Quân đã cống hiến đời mình cho Tổ Quốc khi chiến đấu, các anh đã nằm xuống nơi đất mẹ, đất ôm các anh vào lòng, nước che chở bảo bọc các anh. Dù người nổi tiếng hay vô danh, những Quân, Dân, Cán, Chính của Việt Nam Cộng Hòa các anh chết trên đất mẹ hay chết nơi xứ lạ, nhưng các anh một thời đã từng bảo vệ quê hương vì Tự Do, Dân Tộc. Các anh là Đất Nước, là Quê Hương, là Tổ Quốc, là Hồn Thiêng Sông Núi..
    Đất nước là cái gì hài hòa nồng thắm, là cánh chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc, là con cá ngư ông móng nước biển khơi, bụi chuối, khóm trúc, hàng tre, cành hoa mai, mẹ già, là con đò nhỏ, đàn cò trắng, là thời gian, không gian v.v... Các anh đã về hoà vào Đất Nước Việt.
    Các anh ơi! Chúng tôi những người sống ở xa, nhưng lúc nào cũng hướng về Đất Nước, Quê Hương, trong tâm chúng tôi vẫn nhớ mãi và mang ơn các anh, hỡi những chàng trai của Đất Nước Việt Nam yêu dấu.
    Last edited by Phòng Trực; 10-02-2018, 11:15 AM.

    Leave a comment:


  • Phòng Trực
    replied
    Con đường tiếng hát hoàng hôn

    CON ĐƯỜNG TIẾNG HÁT HOÀNG HÔN
    (Viết theo cuộc tình đẹp của chàng SVSQ Không Quân)
    Trương kim Báu.


    Biển Nha Trang buổi sáng trời trong xanh, ánh nắng chan hòa những tàng lá dừa lấp lánh dưới ánh mắt trời, gió thật mát, trên trụ đá dọc bờ biển có một chàng sinh viên sĩ quan Không Quân đang ngồi ngắm biển. Chàng đến Nha Trang từ mấy tháng nay nhưng phải ở trong quân trường vì thời gian thụ huấn, đây là ngày cuối tuần đầu tiên được phép ra phố.


    Từ sáng khi cổng trại Long Vân mở cửa, đàn anh đã biến thật nhanh vì ai cũng có mục riêng, chàng rủ các bạn cùng khóa ra ngắm biển nhưng không ai chịu đi cùng, mọi người muốn ra phố. Một mình chàng thuê xích lô ra đây, ngồi ngắm những đợt sóng đua nhau chạy vào bờ, dãy núi xa xa biển Nha Trang đẹp quá, hàng dừa dọc theo bờ biển, con đường nhỏ tráng xi măng chạy dài vừa 2 người đi bộ, chàng nhìn con đường và mơ ước.
    Theo lời hướng dẫn của người phu xe, chàng cứ đi thẳng hết con đường quẹo mặt đi thêm là tới phố chính. Phố Nha Trang chỉ có một đường nối dài từ đầu đường Phan Bội Châu đến cuối đường Độc Lập là hết phố.
    Phố biển nổi tiếng này tấp nập những màu áo trắng, vàng của sinh viên sĩ quan Hải Quân, Không Quân, Đồng Đế, làm thành phố sáng hẳn lên. Chàng ghé ăn ở một tiệm bánh pâté chaud, sữa đậu nành nổi tiếng ở đây, nhìn hai cô gái trẻ con người chủ tiệm lòng thấy vui, chàng đi tìm mua bì thư và tem.
    Đứng chờ cô chủ tiệm sách bớt khách mới hỏi mua, nhìn vu vơ một vòng chàng bắt gặp hai bàn tay thật đẹp đang chọn những quyển sách, tóc dài rũ ra phía trước che bớt khuôn mặt.
    Chàng thầm nghĩ hai tay đẹp quá, mong cho mặt cũng đẹp. Như bị hút bởi đôi bàn tay và nhìn mãi.
    Nàng đang cúi xuống, có cảm giác như ai đang nhìn mình, ý nghĩ thật lạ vụt đến, nếu ngước lên là chàng trai hay cô gái trẻ, thì ta sẽ tình nguyện làm người hướng dẫn đưa đi chơi, giới thiệu những cảnh đẹp của Nha Trang.
    Nàng ngẩng đầu lên, đôi mắt to đen, miệng thật xinh, cười hai má lúm đồng tiền.
    Ồ một chàng sinh viên sĩ quan Không Quân, khuôn mặt đẹp, mắt sáng, tướng cao to. Không Quân tuyển người thật tuyệt vời.
    Chàng bối rối khi cặp mắt và nụ cười như nói lên - bắt gặp anh rồi nhé, nhìn lén.
    Nàng trả tiền sách rồi ra cửa. Chàng bước theo không kịp mua bì thư, tem.
    - Anh biết chạy xe đạp không ?
    - Biết.
    - Vậy anh chạy xe em ngồi sau.
    - Không được, anh còn trong thời gian sinh viên.
    - Anh ngồi sau xe để em chở.
    - Cũng không được.
    - Tại sao ?
    - Luật của lính lúc còn ở quân trường , hiện anh chỉ được đi bộ, xích lô, xe lam và xe hơi.
    - Đi xe ngựa được không ?
    - Được, xe nào ngồi nghiêm chỉnh đàng hoàng đừng có chân trong chân ngoài thôi.
    Nàng nghĩ, các ông không quân sao mà bày kiểu cách quá, thôi đành tin vậy.
    Nàng dắt xe, chàng đi một bên, họ quen nhau từ đó.

    Hỡi cô áo trắng trăng mười tám.
    Có kẻ si mê đứng cuối đường. ( Nguyên Thạch )


    Mỗi cuối tuần họ gặp nhau, hai người đi thăm thắng cảnh, bắt đầu là Phật Học Viện nơi có tượng Phật Trắng xây trên núi.
    Chàng trong bộ đồ lính màu kaki vàng ủi thật thẳng nếp, ngực mang tên mình, nón kết xanh, trông chàng oai và đẹp. Nàng áo dài quần trắng, tóc xõa đến lưng, dáng trẻ trung của tuổi mới lớn.

    Thương mái tóc thề phơi trong nắng
    Giọt mồ hôi động ướt tóc mai
    Van trời thôi chiếu tia nắng chói
    Để mái huyền nhung mọc thêm dài. ( Nguyên Thạch )


    Đến chân núi phải leo rất nhiều tam cấp mới lên đến đỉnh, tượng Phật được xây thật to và cao, đứng nơi đó nhìn thấy cả thành phố Nha Trang. Kìa là phố, nhìn xa là biển một màu xanh với những hải đảo xa xa, bên phải là Nhà Thờ Núi cổ xưa, phía dưới là xóm nhà, xa hơn là phi trường Không Quân phi đạo chạy dài, một nhà trên ngọn núi cao ở tít xa đó là lâu đài của Vua Bảo Đại dưới chân núi là Hải Học Viện và Bến Cảng.
    Nhìn bên trái một dòng sông uốn khúc chảy qua xóm làng cây cối xanh tươi, dòng sông chảy rẻ ra hai nhánh, một qua cầu Hà Ra, một chảy dưới chân núi Tháp Bà qua cầu Xóm Bóng, hai dòng nước đều đổ ra biển.
    Đi theo con đường nhỏ dọc trên đỉnh núi, từ tượng Đức Phật Thích Ca hai người qua đến chùa Hải Đức, đó là một ngôi chùa cổ, nhiều loại hoa thật nhiều mùi thơm như ngọc lan, sứ, sen, hoa lài v.v... hòa quyện lại lan tỏa vào không gian, đứng ở sân chùa thật cao này, hương hoa thơm ngát, tiếng chim hót líu lo và những cánh bướm chập chờn như cảnh thần tiên, phía dưới xa xa là xóm làng.
    Nàng muốn những ngày tháng rong chơi thật đẹp và hoa mộng, nên nàng đưa chàng đi thăm tất cả những danh lam thắng cảnh ở trên những đồi núi cao của Nha Trang, như Tượng Phật Trắng, chùa Hải Đức, Nhà Thờ Núi, lâu đài của Đức Vua Bảo Đại dưới là biển xanh, Tháp Bà Ponaga bên một cây cầu dài, Dòng Phan Xi Cô chiếm một đồn núi nhìn thấy cả vùng biển khơi mênh mông đó cũng là trường đào tạo các Đức Cha.
    Nàng muốn chàng nhìn vẻ đẹp của Nhatrang trước khi được chấp đôi cánh bay, chàng có kỷ niệm thật đẹp ở những nơi này. Ngày nào được nhìn từ trên cao dưới đôi cánh bay chàng sẽ thấy toàn Nha Trang, nhớ thời sinh viên sĩ quan chàng đã từng dạo chơi với một người con gái của miền Thùy Dương Cát Trắng, một mối tình trong sáng thơ mộng.
    Nàng không đòi hỏi ở chàng một lời hứa, vì nàng tin vợ chồng là duyên nợ. Bây giờ hãy tạo cho nhau những kỷ niệm thật đẹp, mỗi tuần chàng đến tìm nàng, nhìn nàng và cầm tay nàng là hồn nàng đã ngất ngây. Bàn tay chàng vuốt tóc và khen tóc em đẹp là tim nàng run rẫy.
    Họ trân quý những ngày bên nhau, chiều chuộng nâng niu và sợ điều tan vỡ.
    Anh và em còn quá trẻ hãy để cho tình ta mênh mông, mênh mông
    Hai người đã dạo chơi hết những đồi núi cao thơ mộng, giờ nàng đưa chàng ra Hòn Chồng, nơi đó có nhiều hòn đá chồng lên nhau, có dấu bàn tay thật to in vào đá, và nhiều cặp tình nhân ghi tên bên nhau để kỹ niệm cho một mối tình.
    Đến Hòn Chồng đứng nhìn bọt sóng bắn tung tóe lên những phiến đá, không bảo nhau mà cùng nhảy né tránh, những tiếng cười cất lên hồn nhiên, tay nắm tay chuyền qua từng tảng đá, có lúc ngồi ở quán nước nhỏ uống nước dừa ngọt như tình đôi lứa. Con đường mòn từ trên Hòn Chồng đi xuống biển Đồng Đế, biển êm, vắng, sạch, chỉ có đợt sóng nhỏ tràn vào bờ, chàng và nàng tự nhiên chạy nhảy, cười đùa cũng không làm phiền ai vì quanh đó là Trung Tâm Huấn Luyện Hạ Sĩ Quan Đồng Đế và những tu viện tường rào kín cao.
    Chiều xuống họ trở lại bên Hòn Chồng để ra quốc lộ, con đường thật đẹp, đường không to chỉ vừa hai chiếc xe tránh nhau, hai bên là những bụi cây dại, hoa tỏa hương thơm nhè nhẹ, giờ này đường thật vắng không còn chiếc xe lam nào hết.

    Giọt nắng cuối ngày rơi xuống tóc
    Mà lời từ biệt chẳng lên môi. ( T. T. Lương )


    Hai người đi bộ, một chàng sinh viên sĩ quan Không Quân trong bộ đồ lính dáng thật oai phong, mặt đẹp sáng, đi bên người con gái mặc áo dài trắng, tóc xõa dài che kín bờ vai, có đôi mắt to tinh nghịch của tuổi trẻ.

    Hoàng hôn lơ lửng chênh chao
    Ngỡ ngàng cảnh sắc dạt dào trong tôi. ( Biển Chiều )


    Họ đi thật chậm trong ánh hoàng hôn đỏ rực, bỗng nghe tiếng đờn và giọng hát cất lên, đó là bài thánh ca. Không bảo nhau nhưng cả hai đều trân quý phút giây tuyệt vời này, mùi thơm của hoa, ánh nắng của buổi chiều và tiếng đàn giọng hát vút cao, như làm cho mối tình thêm đẹp và thơ mộng

    Tình đã chiều nắng muộn màng thầm hát.
    Khúc thánh ca kỳ ảo lạ lùng chưa ( T.T.Lương )


    Đến ngã ba Hòn Chồng, Quốc lộ và Nhà dòng Phan Xi Cô thì thấy một người đàn ông đang đứng bên đường vừa đánh đàn vừa hát, nhìn chàng và nàng đầu gật gật ra dấu chào, tiếng hát vẫn theo bước chân của hai người cho khi xuống đến quốc lộ mới không còn nghe nữa.
    Đó là Con Đường Tiếng Hát Hoàng Hôn của riêng chàng và nàng.

    Chia tay em chia tay hoàng hôn
    Chia tay em chia tay hoàng hôn
    Anh mang theo về tình yêu và nỗi nhớ
    Anh mang theo về con tim cô đơn ( H.H )


    Nàng đang cắm cúi làm bài, bỗng nghe tiếng xôn xao và một cái nhéo thật đau của cô bạn ngồi bên, nàng ngước nhìn lên, hai mắt mở lớn, miệng há ra khi thấy chàng đang đứng ngay cửa lớp, tay gõ vào cửa vì đây là lớp học Anh văn tối của Hội Việt Mỹ, giáo sư là người Mỹ.
    Chàng. Anh dành cho em sự ngạc nhiên đây, đừng mở tròn cái miệng như thế, cười đi em anh nhớ nụ cười của em từng ngày từng ngày, ồ em tôi đã cười rồi và còn nheo mắt nữa.

    Khi người nở một nụ cười
    Bàn chân tôi bước thảnh thơi nhịp cùng ( Như Nhiên )


    Nàng. Tóc chàng bềnh bồng không cắt thật ngắn như xưa, mắt vẫn sáng, mặt đẹp nhưng già dặn hơn, chàng mặc áo bay màu xám, vai trên ngực quá nhiều phù hiệu Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, Tổ Quốc, Không Gian, Danh Dự, Trách Nhiệm, Phi Đoàn, Cánh Bay v.v... bên hông còn có súng, dao găm. Chàng đã được chấp đôi cánh thành loại chim quý thật rồi.
    Chàng vào lớp bắt tay vị giáo sư, nói mấy lời và chỉ vào nàng.
    Vị giáo sư lịch sự đến chúc nàng một buổi tối vui vẻ. Ánh mắt các bạn nhìn nàng ngưỡng mộ và tiếc nuối.

    Bao nhiêu ngày tháng cách xa
    Để mình trân trọng món quà hôm nay ( Như Nhiên )


    - Mặc đồ bay có súng, dao, anh chạy xe đạp được không?
    - Được
    - Vậy anh chạy xe em ngồi sau.
    - Không được, chỉ chạy một mình thôi.
    - Luật của Không Quân hở anh?
    - Ừ....À ....
    Chàng dắt xe, nàng đi một bên.
    Nàng cùng chàng ra biển, ngồi xuống bãi cát để biết cát ấm, êm cỡ nào, cùng nhìn ra biển từ những chiếc ghe câu đêm, đã tạo muôn nghìn ánh sáng cho biển Nha Trang có thêm một thành phố ánh đèn lung linh ở ngoài khơi, thật đẹp vô cùng, em đã giới thiệu với anh tất cả những cảnh đẹp của quê hương em rồi đó.
    Nàng:
    - Bây giờ anh mới thật sự là loại chim quý, hãy bay và dang rộng hai cánh khỏe của mình bảo vệ đất nước quê hương. Tổ quốc Việt Nam rất cần những người con như các anh, hãy làm tròn bổn phận, và cứ tự do rong chơi, đừng sợ lỗi hẹn, em vẫn như xưa, nhưng em hiểu mọi việc đều phải tuỳ duyên.
    Chàng:
    - Những ngày xa cách anh đã yêu, đã nhớ, đã tìm nhau ở trong mơ, bây giờ chỉ cần nhìn em, cầm tay em, vuốt tóc em là anh hạnh phúc và bình yên.

    Biển rất xanh và biển rất sâu
    Như chúng mình ngày trên mới gặp
    Ta trao nhau nụ cười và ánh mắt
    Thấy dịu dàng như sắc nước biển khơi
    ........
    Lúc xa rồi anh nhớ biết bao nhiêu
    Muốn trở lại với chiều nghiêng ngã đó
    Khi tình biển với em hòa trong gió
    Anh vu vơ mắt đỏ ngước lên tìm. (Triều Dâng )


    Cảm ơn Nha Trang thành phố nơi em sanh ra có biển và thật nhiều cảnh đẹp, cảm ơn tiếng hát Hoàng Hôn để cho mối tình em đẹp thêm. Cảm ơn anh, người sinh viên sĩ quan Không Quân đã đem đến cho em những mộng mơ và những gì đẹp nhất của thời con gái. Xin cảm ơn cuộc đời.

    Leave a comment:


  • Phòng Trực
    replied
    CHIẾC NHẪN CƯỚI KHÔNG QUÂN - Trương kim Báu

    CHIẾC NHẪN CƯỚI KHÔNG QUÂN
    Trương kim Báu



    Như thường lệ mỗi buổi tối các anh 524 đều đến nhà tôi, cùng ăn trái cây và kể đủ thứ chuyện trên trời dưới đất để cùng nhau cười vui, tôi thương chiếc áo bay nhiều túi mà các anh thường đùa là để bắt gà bỏ vào cho dễ, thương cả cái dao găm nhỏ đeo bên hông mà ngày mới quen Dọng nói là để gọt trái cây cho người đẹp ăn. Chiếc nhẫn của không quân đẹp quá, tối nào một trong các anh cũng tự ý cho tôi mượn, tay các anh to, tôi phải đeo nhẫn ở ngón tay cái mới vừa.
    Năm 1967 sau ngày đám hỏi 1 tháng là Dọng và các anh trong 524 đi Mỹ học lái A37.
    Ngày đám cưới Báu Dọng, một số bạn thân đều có mặt trừ những anh đi biệt phái Pleiku.
    Thật ngạc nhiên và cảm động, Dọng đã đeo vào tay tôi chiếc nhẫn của không quân nhưng đây là chiếc đặc biệt làm cho tôi.
    Bùi Gia Định la lên:
    - Không biết lái máy bay mà đeo nhẫn phi công, một anh khác đáp lại.
    - Không lái Phi cơ mà lái Phi công. Tiếng cười ồ to vang lên, các bạn cười nói tự nhiên, đúng là đám cưới của dân Thiên Lôi.
    Sau đó các anh xúm lại cầm tay cô dâu, khám phá ra nhẫn đúng của không quân nhưng không có 2 cánh bay, không khắc khóa, năm. Dọng nói phải ca bài con cá, người làm nhẫn mới chịu, cô dâu mới có chiếc nhẫn trong lễ cưới.
    Các bạn chê khen nhẫn và bàn tay cô dâu. Dọng la lên giọng pha niềm vui trong hạnh phúc.
    - Đừng lợi dụng cầm tay vợ tôi lâu quá nhen.
    - Dọng, mày thử MỘ ĐỊA đi, tao hôn tay cô dâu ngay bây giờ.
    Tiếng cười lại ầm vang lên. Tôi đã đeo chiếc nhẫn cưới tuy là không có 2 cánh bay như nhẫn các anh, nhưng chồng tôi và các bạn thân đã từng nhìn ngắm khen chê và cầm tay cô dâu trong ngày linh thiêng đó.
    Chiếc nhẫn luôn trên ngón tay, tôi quý lắm vì đó bằng chứng tình yêu, tình bạn và cũng đánh dấu tôi đã là người nhà của Phi đoàn các anh.
    Tháng 4 năm 1975 ngày mất nước, bạn bè có người chạy thoát ra nước ngoài, người người tập trung vào các trại tù ở khắp 3 miền đất nước Nam Trung Bắc. Đàn chim 524 Thiên Lôi đã lạc nhau.

    Nửa đời người tôi học được
    Tan hợp, thăng trầm bởi duyên (Như Nhiên)


    Một hôm tôi nhận được thư Dọng gởi về từ Hoàng Liên Sơn, đọc tên địa danh xa lạ ấy tôi liên tưởng đến nơi rừng sâu nước độc, càng buồn thêm khi Dọng viết.
    - Xin em hãy đưa các con về vùng kinh tế mới ở cùng ba má Cửu, để các con học hành.

    Chốn ấy trăm năm ngỡ tít mờ
    Đâu ngờ ập đến tựa cơn mơ
    Sống thương và hiểu từng giây phút
    Ngay kiếp mong manh gặp bến bờ (Như Nhiên)


    Đó là câu nói ngầm ý cùng nhau, vì anh chị Ngô Đức Cửu trong 524 là cha mẹ nuôi của hai con tôi, chúng kêu anh chị Cửu là ba má Cửu, chúng tôi đều biết là năm 75 gia đình anh chị đã thoát được và hiện ở Mỹ.
    Ba má chồng tôi và nay đến Dọng tất cả đều muốn tôi dẫn 2 con trốn đi ra khỏi đất nước Việt thân yêu này, mà những ngày tháng trước chính Dọng và cả các anh trong 524 không muốn rời bỏ.
    Các con tôi không được đến trường học, chúng tôi không có hộ khẩu vì từ Nhatrang vào, dù đang ở căn nhà của gia đình ngay quận 1, tôi vẫn đi làm ở ngân hàng Việt Nam Thương Tín Trung ương 79 Hàm Nghi Sài Gòn, nhưng phường khóm không cho tôi hộ khẩu. Mỗi tháng phải gia hạn tạm trú, ngân hàng và phường nơi tôi ở có gặp nhau, nhưng cách làm việc thật lạ lùng, mỗi nơi có luật lệ riêng, chỉ khổ cho những người dân chúng tôi vai mang nhiều chữ như Ngụy quyền, chồng Ngụy Quân giặc lái, anh chị tư sản, cha mẹ tư sản dân tộc.

    Phú quý vinh hoa như mộng ảo
    Sắc tài danh lợi tựa phù du (Bùi Giáng)


    Người dẫn đường để vượt biên sáng sớm đến nhà và đưa mẹ con tôi ra xa cảng miền tây. Chúng tôi đến Rạch Giá, ngồi chờ ở quán nước, một người đến lấy hành lý của tôi đem đi trước, họ nói là tôi xách giỏ sợ bị để ý, đó là giỏ làm bằng mây do người em đan từ trong trại tù cải tạo gởi về, giỏ làm thật tỉ mĩ nối kết bằng những cọng mây thật nhỏ, không có một cây đinh nào cả.
    Chúng tôi xuống ghe từ Rạch Giá qua Rạch Sỏi, Rạch Cốc. Vào một căn nhà nhỏ được chỉ ngồi trên bộ váng, bỏ cái mùng xuống, và ngăn bởi một tấm màng với phía ngoài.
    Họ đưa một em bé trai 8 tuổi vào, vậy là 1 mẹ 3 con, chúng tôi ngồi trong mùng sau tấm màng, nghe rõ tiếng nói từ phía ngoài, 4 người chạy trốn quê hương, không giám nói chuyện, không giám ho và nhịn đói.
    Trời tối chúng tôi được một người đàn ông đưa đi để chờ tàu vượt biên đến, người dẫn đường nhảy qua một cái mương rồi nói: “Nhảy mau”. Tùm, tùm tùm, tùm. Đó là tiếng 4 người rớt xuống mương, trời tối quá khoảng cách không biết rộng dài ra sao, may mà nước không sâu, nhảy và bò mấy lần thì cũng tới được chỗ ngồi chờ trong một bụi cây, nghe được tiếng sóng từ biển.
    Hai con tôi dựa vào mẹ ngủ, em bé trai ngại ngùng ngồi yên.
    Con cứ coi ta là mẹ, dựa vào ta mà ngủ đi con.
    Tội nghiệp cho bé quá, người mẹ ở nơi nào đó cũng đang nghĩ đến con trai mình, tình mẫu tử là tình thâm, cầu nguyện mong ước con mình bình yên.
    Bé Thanh kể.
    Con đi cùng cậu nhưng họ tách con ra. Ba má con là bác sĩ đều ở tù hết. Bà nội muốn con qua Mỹ ở cùng chú con để đi học.
    Tôi mệt nhưng không giám ngủ sợ tàu đến không hay. Ngồi trong đêm tôi măn mê chiếc nhẫn đeo trong ngón tay, chiếc nhẫn gợi một thời vui vẻ ồn náo của bạn bè, tình yêu của chồng, nó như thêm sức mạnh cho tôi.

    Chiếc nhẫn cưới anh trao em thuở ấy
    Vẫn vẹn nguyên nằm giữa ngón tay này
    Lòng thương nhớ mỗi khi em nhìn thấy
    Minh chứng vàng của tình yêu mê say
    (Diệp Minh Tuyền)


    Mặt trời đã chiếu những tia sáng từ chơn nước lên, ánh sáng vàng rực biển hiện rõ, những bọt sóng chảy tràng vào bờ, không nhìn thấy một con tàu nào cả. Bỗng có tiếng súng và từng đoàn người hai tay để trên đầu từ trong các bụi cây gần đó đi ra, lệnh tất cả ngồi xuống bãi cát, tôi và 3 con cũng làm như vậy, chợt có tiếng quát to.
    - Chị kia dẫn ba đứa nhỏ xuống biển tắm rửa, nhìn không giống người.
    Trong tiếng quát to giọng Nam đó, tôi cảm được có chút gì thương hại của người công an trẻ. Đoàn người chia làm 2, đàn ông đàn bà riêng, người cậu của bé Thanh cũng lách được đến gần tôi nói lời gởi gấm và địa chỉ nhà ở Sài Gòn, nhờ khi thả đưa giùm cháu về.
    Chúng tôi 20 người đủ mọi lứa tuổi, Đi trong im lặng theo người công an trẻ. Chừng 1 giờ thì đến bờ sông gần đó là một căn nhà nhỏ mái tôn, vách lá bên trong chỉ có 1 cái bàn với 2 ghế dài. Chúng tôi ngồi xuống nền nhà đất, không thấy kêu kê khai tên tuổi gì cả, con gái lớn 6 tuổi của tôi bắt đầu khóc vì đói quá thành đau bụng, con trai 4 tuổi hai tay nắm chặc dựa vào mẹ, bé Thanh 8 tuổi ngồi yên lặng chịu đựng. Người công an trẻ có vẻ bối rối, anh chạy đi một lúc rồi đem gạo và cái nồi về, các chị lớn rành rẻ kê ngay 3 cục đá thành cái bếp và lấy bất cứ thứ gì cháy được là chụm vào nồi cơm, trong khi người công an rủ 3 đứa nhỏ ra coi anh bắt cá ở một ao nhỏ gần đó. Anh thả cái lưới xuống, mỗi lần kéo lên bắt được vài con cá phi, tụi nhỏ bắt đầu reo cười và quên đói. Bữa cơm thật ngon, cơm nóng ăn với cá phi nướng và muối ớt của chị nhà gần bên cho, tôi nghe tiếng thì thầm về người công an trẻ miền Nam, thì ra anh mới vào làm được một tháng.
    Buổi chiều chị cho muối ớt đem một cái mùng qua cho mượn để tối muỗi không đốt 3 đứa nhỏ, chị nói muỗi ở đây nhiều có tiếng, nhìn cái mùng mà thương làm sao, vá không biết bao nhiêu là miếng vá đủ màu sắc, đủ loại vải.
    Một đêm ngủ ở đây sáng mai có ghe đến chở đi vào trại tù, chị nói cho ba đứa nhỏ cái mùng luôn để vào tù có mà nằm, tôi chỉ biết nói cảm ơn. Nay mỗi lần nghĩ lại sao lúc ấy đầu óc đặc cứng không biết hỏi tên chị, tên làng để bây giờ ân hận mãi. Biết rằng những tấm lòng còn tình người đó không cần sự trả ơn.
    Trại tù thật sự đây rồi, họ bắt khai lý lịch, địa chỉ và tất cả tiền bạc nữ trang đều phải đưa ra nạp, tôi chỉ có ít tiền và chiếc nhẫn cưới thôi, cái giỏ quần áo 3 mẹ con và chút thực phẩm thuốc men, không biết ai cất và không biết hỏi ai.
    Trại tù trên một hòn đảo nhỏ, chung quanh có những mương sâu nước mặn và nhiều lớp kẽm gai, họ đưa vào một nhà dài và rộng mái tôn vách lá, được phát 2 chiếc chiếu nhỏ cho 4 mẹ con, trong đó rất nhiều người đàn bà già, trẻ và con nít, không biết tội gì, chúng tôi có thể đi quanh trại nhưng không được qua các khu của đàn ông và những nơi biệt giam, con nít thì được đi tự do.
    Bữa cơm tù ngày hôm sau 3 cháu nhỏ được phát thêm một tô canh bầu nấu với tôm, phần ăn của người phụ bếp nhường, đó là một bác sĩ bị kết án tù chung thân, cậu của bé Thanh cùng vượt biên với chúng tôi cũng bị nhốt ở đây cũng là bác sĩ.
    Những người bác sĩ đó họ là bạn với nhau.
    Những ngày ở trong tù 4 mẹ con cứ để nguyên quần áo mà tắm, việc làm khô quần áo giao cho gió cho nắng. Đến ngày thứ 10 thì tôi được lệnh tha, lên văn phòng xin nhận lại những gì nộp khi mới vào tù, người cán bộ coi những tài sản của tù đã đi công tác không biết lúc nào về. Trời đã trưa chiếc ghe máy cho những người tù quá giang từ trại giam An Biên về Rạch Giá sắp chạy rồi, tôi chạy ra chạy vô không biết làm sao vì giờ này tất cả cán bộ đều đi ăn hết rồi, một bà lớn tuổi cũng được tha đến khuyên tôi.
    - Lên tàu về đi cô, ở lại cũng không tìm ra, trại tù không chứa cô nữa, đêm nay cô và các con ăn ngủ ở đâu ? Nước nhà còn mất thì chiếc nhẫn xá gì ? đừng đứng đợi những gì mà mình không thấy trước mắt.

    Đã biết chốn ni là quán trọ
    Hơn, thua,hờn oán......để mà chi! (Như Nhiên)


    Ghe đến Rạch Giá thì trời về chiều, trên bến xe chỉ còn một chiếc xe lam. Tôi hỏi người chạy xe:
    - Tôi ngủ ở bến xe mai về Sài Gòn sớm được không ?
    - Cô ngủ đêm ở đây rất nguy hiểm cho cô và 3 đứa nhỏ, thời buổi này không nhà nào giám chứa người lạ sẽ bị chánh quyền gây nhiều rắc rối, chỉ có Chùa và Nhà Thờ mới giám Chùa thì ở phía trong xa, nhà Thờ tiện đường xe tôi chạy qua.
    - Tôi không có đồng nào cả. Tôi tính đi xe đò về Sài Gòn rồi mượn tiền người chạy xe xích lô máy trả, người xích lô máy chở tôi về nhà lấy tiền lại.
    - Lên xe đi, tôi cũng không lấy tiền xe mẹ con cô, đừng lo.
    Xe ngừng ngay trước nhà thờ, tôi vẫn còn lo hỏi lại người xe lam tốt bụng.
    - Tôi không phải con chiên của chúa, tôi đạo Phật
    - Vào đi, giờ này mà Chúa Phật gì, tin tôi đi, mẹ con cô được tiếp tử tế và không chừng được gởi xe về Sài Gòn nữa đó.
    Sân nhà thờ vắng tanh không bóng người vì là giờ hành lễ, chỉ có tượng Đức Mẹ thật to ở giữa sân, bốn mẹ con ngồi dưới chân tượng ba đứa nhỏ nằm ngay trên nền xì măng sau một ngày mệt mõi, nhìn tụi nhỏ nước mắt tôi chảy, đưa tay vuốt tóc con chợt nhìn bàn tay mình, chiếc nhẫn không còn tự nhiên tôi hoảng hốt, lòng buồn vô hạn.

    Người về thương người nhỏ lệ
    Cúi mình lạy khắp thiên nhiên (Như Nhiên)


    Tiếng chuông nhà thờ ngân vang lên kéo tôi về thực tại, tôi ngồi thật yên nghe được lời cầu kinh vọng lại, tôi bắt đầu đọc kinh Phật. Tôi nghĩ đến chồng tôi đang tù các bạn tôi cũng đang ở trong tù, tôi không còn phân biệt đây là tượng Đức Mẹ hay Quán Thế Âm, tôi đọc kinh với cả tấm lòng gởi tình thương đến những người thân trong chốn lao tù.
    Phần tôi tâm từ phải rộng mở, biết mỉm cười trước nghịch cảnh chướng duyên, niềm tin phải vững chắc, sức khỏe phải tốt để vượt qua những khó khăn, biết chấp nhận cuộc sống hiện tại, mọi việc đều để tuỳ duyên.

    Thân như bóng chớp chiều tà
    Cỏ cây hoa lá xuân qua rụng rời
    Sá chi suy thịnh cuộc đời
    Thịnh suy như hạt sương rơi đầu cành (Bùi Giáng)


    Nhìn 3 con đang ngủ ngon dưới chân tượng Đức Mẹ, lòng thương tràn dâng, chợt tôi cũng thấy mình được bao bọc bởi tình thương.
    Giữa người và người gặp nhau đã là duyên phận, trải qua năm tháng bây giờ tóc đã đổi màu nhưng lòng tôi vẫn trâng quí ơn Đức cha ở một nhà thờ nhỏ vùng quê miền Nam, và tất cả những người đã giúp tôi trong đoạn đường đời khó khăn, dù một lời nói hay một cử chỉ, những tấm lòng của người cùng một đất nước Việt Nam. Đó hành trang tôi mang theo trên bước đường lưu vong ở xứ lạ, mỗi lần nghĩ đến những tấm lòng nhân ái đó lòng tôi ấm lại và hạnh phúc.

    Thanh thản là khi tóc đổi màu
    Hiểu ngày sắp tới sẽ về đâu
    Biết trăm năm hẹn cùng sương khói
    Vạn sự trôi về nơi bể dâu
    Hạnh phúc là khi giữa đổi thay
    Lắng yên, trọn vẹn phút giây này
    Ngắm bình minh đến, hoàng hôn lại
    Thả hết ưu phiền theo gió bay (Như Nhiên).

    Leave a comment:


  • Phòng Trực
    replied
    Những Chuyện Khó Quên - Trương kim Báu

    Những Chuyện Khó Quên
    Trương kim Báu


    (Ghi chú: Trong đây có kể lại câu chuyện thật về một người, tuy tên nhân vật đã được thay đổi, mong người trong cuộc nếu có đọc những giòng này thì hãy tha thứ cho tôi. Tkb)

    Đọc xong bản thông cáo của Cộng Đồng, tôi hờ hững buông tờ báo xuống bàn... Không hiểu rồi ngày mai đây tôi có nên đi dự cuộc mít tinh để tưởng niệm ngày 30 tháng 4 theo như lời mời trong nội dung bản thông cáo trên tờ báo đó hay không (?).
    Mặc dù cũng theo như trong thông cáo đó có nói thì ngày mai cũng là ngày khánh thành tượng đài kỷ niệm để tưởng nhớ đến các chiến sĩ Việt-Úc đã bỏ mình trong cuộc chiến hơn 30 năm trước trên quê hương Việt Nam...
    Ngày 30 tháng 4 năm nay lại lọt vào ngày thứ bảy, cũng là ngày "thọ bát" (tu một ngày) định kỳ của các Phật tử chùa Hoa Nghiêm mà tôi là một thành viên cho nên tôi đã phải suy nghĩ rất nhiều, không biết nên đi tu hay là bỏ một kỳ tu học để góp mặt với cộng đồng trong dịp này....
    Suy đi tính lại một một việc nhỏ như vậy mà cũng làm tôi mãi đến khuya mới chợp mắt... Và sau cùng thì tôi chọn con đường tu... Vì tôi muốn thực hành lời Phật dạy "Quá khứ thì đã qua còn tương lai thì chưa tới" với hàm ý dạy chúng ta đừng nghĩ nhiều về quá khứ cho dù cái quá khứ đó vui hay buồn cũng làm cho tâm chúng ta không được an tịnh mà rồi bất cứ dự tính gì cho tương lai thì cũng sẽ làm cho cái tâm của chúng ta không an như vậy...
    Nhưng điều tôi muốn lại không được như ý.... Sáng hôm sau tôi tới chùa rất sớm để phụ với các bạn tu sắp xếp lại các bình bông, các dĩa trái cây, lau chùi và thắp đèn hương trên bàn thờ Phật để chờ giờ khai mạc khóa tu. Đâu đó trong một góc chánh điện rộng thênh thang tôi nghe có vài người cũng bàn tán về buổi lễ khánh thành tượng đài chiến sĩ hôm nay. Cuối cùng một số phật tử được thầy cho phép dự lễ.

    Tới nơi thì người ta đã tề tựu rất đông, chúng tôi được cho ngồi hàng ghế phía trước, tôi đảo mắt nhìn quanh thấy ai cũng ăn mặc tươm tất đầy vẻ trịnh trọng. Có mấy người cựu chiến binh VNCH tuy đã luống tuổi nhưng nét bệ vệ vẫn còn trong bộ quân phục thẳng nếp điểm thêm mấy hàng huy chương lấp lánh là chứng tích của một thời ngang dọc ngoài chiến địa...
    Nhứt là các cựu Phi công của quân chủng Không Quân, xưa đã tung hoành trên nền trời Việt Nam, nay tuy tuổi đã cao nhưng cái hào hùng pha chút ngang tàng bất cần đời của ngày nào vẫn còn đậm nét và được biểu lộ qua những chiếc áo bay trên có đính mấy cái phù hiệu của đơn vị với nhiều màu sắc....
    Tôi nghe chồng tôi kể, trong lần viếng thăm căn cứ Không Quân, vị Tổng Thống đương thời đã ghi vào sổ lưu niệm của một đơn vị phi hành: "Trên đất nước thân yêu của chúng ta, không gian là của các bạn".
    Bây giờ nhìn lên chiếc trực thăng tản thương cũ với dấu hiệu chữ thập đỏ đã được tân trang lại và được gắng trên chót của một trụ cao in hình lên bầu trời xanh gợn vài án mây trôi nhè nhẹ tạo thành một hình ảnh rất sống động làm tôi hình dung lại một thuở nào chiếc trực thăng này đã bao lần vào sanh ra tử...
    Tới giờ khai mạc, hai lá quốc kỳ Úc - Việt được kéo lên theo âm ba hùng hồn của hai bài quốc ca của hai nước trong khi một chiếc trực thăng do một Thiếu tá của Không Quân Hoàng Gia Úc bay ngang...
    Khi bài Quốc ca Việt Nam vừa trổi lên, bổng nhiên tôi cảm thấy rúng động toàn thân, một thứ cảm xúc rất mạnh từ đâu đó xâm chiếm toàn thân làm cho tôi suýt chút nữa là đã khóc òa lên thành tiếng...
    Ba mươi năm rồi còn gì ...
    Hôm nay và tại đây, những người Việt lưu vong đủ mọi thành phần, đủ các lứa tuổi cùng đứng chung chào lá quốc kỳ và cất tiếng hát lên bài quốc ca của nước mình thuở trước trên mảnh đất gọi là quê hương thứ hai, lòng tôi chợt chùng xuống nổi nhớ dâng tràn... Miệng hát mà nước mắt tuôn trào, không phải một mình tôi khóc mà gần như tất cả người Việt ở đây lúc này đều khóc, có phải người ta khóc vì nhớ về quê hương yêu dấu mà nơi đó hiện vẫn còn những người thân thương đang sống...!!
    Hồn thiêng sông núi hay là hương hồn các tử sĩ dường như đang trở về hiện diện đâu đây? Tôi thầm nguyện một lời tri ơn đối với tất cả những ai đã một đời hy sinh để bảo vệ tự do cho chúng tôi, cho miền Nam. Mặc dù đại cuộc không thành vì một nguyên nhân ngoại lai bất khả kháng nhưng gương hy sinh của các anh chị muôn đời là khuông vàng thước ngọc cho những thế hệ nối tiếp theo sau...
    Sau lễ chào cờ, một phút mặc niệm, đại diện ban tổ chức đọc một bài diễn văn nói lên ý nghĩa buổi họp mặt hôm nay và bày tỏ lòng tri ơn đồì với những người chiến sĩ can cường Việt-Úc đã hy sinh thân mạng mưu cầu tự do và hòa bình cho miền Nam Việt Nam.
    Tiếp theo đó, máy vi âm được nhường lại cho một vị thượng khách mà theo tôi biết đó là một cựu quân nhân Úc thuộc hàng tướng lãnh phát biểu lòng tri ân đối với các tử sĩ và ông nhấn mạnh, ở Úc có rất nhiều tượng đài kỷ niệm nhưng đài kỷ niệm này là một nơi linh thiêng để chúng ta tưởng nhớ đến công lao của những chiến sĩ Việt-Úc đã bỏ mình trong cuộc chiến cách đây mấy mươi năm, chúng ta vinh danh họ, chúng ta hãnh diện vì họ, vì họ đã hy sinh cho tự do hòa bình cho chúng ta... Chúng ta có thể đưa thân nhân gia đình con cháu của chúng ta đến đây để kể cho chúng nghe về sự hy sinh to lớn này...
    Giọng nói hùng hồn nhưng chứa đựng nhiều xúc cảm làm cho.... tôi thấy nhiều người cúi đầu, có lẽ họ cũng đang nghẹn ngào như tôi...? Sau đó đến phiên các tôn giáo làm lễ cầu nguyện... Tôi đưa mắt nhìn chung quanh thì chợt thấy một người vừa đứng lên rời chỗ ngồi cách tôi không xa, tôi kêu lên thảng thốt:
    - Yến ! Phải... Hoàng Yến không...?
    Hoàng Yến ngước mắt lên nhìn tôi mà gương mặt lộ vẻ ngạc nhiên đến tột độ rồi bước tới ôm chầm lấy tôi mà kêu lớn bất kể sự chú ý của mọi người chung quanh:
    - Trời ơi ! Chị.... Sao chị lại ở đây...?
    Tôi đáp nhanh:
    - Anh Chị đã vượt biên và định cư ở đây... Còn em...?
    Hoàng Yến quay qua bà cụ đứng kế bên và giới thiệu:
    - Đây là bà nội của Thiên Tú, em được cho qua Canada đoàn tụ với Thiên Tú lâu rồi. Em theo ông bà nội Thiên Tú sang Úc thăm người bà con... Chị đi đây còn anh đâu sao không thấy...?
    Tôi chào bà cụ và đáp:
    - Anh chị và hai đứa nhỏ đều ở đây...
    Tôi nói tới đây thì có mấy chị bạn cùng đi chung kêu gọi ra xe trở về chùa, tôi vội vàng lấy giấy bút trao đổi số điện thoại và địa chỉ với Hoàng Yến rồi lật đật ra xe sợ các bạn chờ lâu không tiện....
    Lên xe, tôi chọn một góc sau cùng và mặc cho các người khác bàn tán về buổi lễ, tâm tư tôi đã quay hẵn về dĩ vãng.....
    Tôi còn nhớ, lần sau cùng tôi gặp Hoàng Yến cách nay cũng trên 20 năm.... Thời gian quá dài so với người khác nhưng đối với riêng tôi, tôi cảm thấy như cách đây không lâu... Bởi vì cái không khí ngột ngạt của Sài gòn sau 30 tháng 4/75 còn kéo dài nhiều năm sau đó và đã hằn lên tâm tư chúng tôi những niềm đau khôn nguôi.....
    Chúng tôi là những người có chồng đi tù... Chúng tôi hẹn nhau mỗi hai tháng một lần, vào trưa chủ nhựt cuối tháng của các tháng chẵn 2, 4, 6... thì tụ hội về nhà của một người trong nhóm để hàn uyên, khích lệ an ủi nhau nếu cần...
    Hôm đó, Hoàng Yến tới trể hơn thường lệ làm chúng tôi rất lo nhưng sau cùng thì Hoàng Yến cũng dắt bé Thiên Tú đến nhưng đến với vóc dáng tiều tụy thểu não còn bé Thiên Tú thì ốm xanh xao... Chúng tôi biết đã có chuyện gì đó xảy ra với hai mẹ con nhưng chưa ai biết là chuyện gì... Mới cách nhau có hai tháng mà Hoàng Yến trông sa sút hẵn, ốm hơn, da mặt lại sạm nắng, hai gò má nhô cao...
    Tất cả trong nhóm chúng tôi gồm bảy người đồng hoàn cảnh, có chồng là sĩ quan và đang bị tù...! Trong nhóm ai cũng biết Hoàng Yến và Phiên, chỉ huy trưởng một giang thuyền ở vùng Hậu Giang, hai người quen và yêu nhau khi Phiên còn là một Sinh Viên Sĩ Quan Hải Quân tại Nha trang. Sau khi cưới nhau Phiên đã quyết định đưa vợ về Hậu Giang sinh sống để tiện việc đi về của Phiên và cũng để tránh cho Yến cái cảnh làm dâu, đó là Phiên lo xa... Trong nhóm chỉ có tôi và Hoàng Yến là cùng quê nên chúng tôi dễ thân nhau hơn...
    Sau cái ngày 30 tháng 4 định mệnh, Phiên không còn cách nào hơn là đưa Yến về nương náu tại nhà cha mẹ, Ba của Phiên có đầu óc rất cởi mở và ông thương yêu Hoàng Yến như con ruột nhưng là một công chức bình thường, đã bị cho nghĩ việc, còn chưa biết làm gì để sống trong hoàn cảnh này... Hiện giờ cha mẹ Phiên đang ở với hai người em Phiên, một trai một gái đã trưởng thành, lúc đó Yến đang mang thai Thiên Tú sắp đến ngày sanh....
    Sau khi vào nhà, Yến cho biết, cách đây hơn tháng, tức là sau lần họp mặt kỳ trước, khi chính quyền cho phép thân nhân đi thăm nuôi tù cải tạo, Yến đã thu vét tất cả tài sản còn sót lại mua một ít quà và dẫn Thiên Tú đi ra Bắc thăm cha. Vì khi Phiên đi tù thì Yến chưa sanh Thiên Tú cho nên Yến muốn dẫn con đi gặp cha một lần, bây giờ là năm 1979, Thiên Tú đã được bốn tuổi.
    Cái chuyện Hoàng Yến dẫn Thiên Tú đi ra tận ngoài Bắc thăm cha lại tạo ra một rắc rối giữa Hoàng Yến và mẹ của Phiên, Bà không muốn Hoàng Yến dẫn con đi theo vì cho rằng đi đến chỗ lạ, đường sá lại xa xôi, đem trẻ nít đi theo sẽ có nhiều bất tiện... Nhưng Yến đã quyết lòng và không thay đổi ý định, vì Yến nghĩ rằng gặp mặt con là một điều an ủi lớn cho Phiên để Phiên có đủ tinh thần chờ ngày đoàn tụ...
    Bất hạnh thay, khi xe lữa ngừng ở ga chính của thành phố, Hoàng Yến một tay dẫn con một tay xách bao quà, còn đang lúng túng chưa tìm được chỗ thuê xe để đi vào trại tù của Phiên, cách đó độ 12 cây số đường làng, thì có hai thanh niên tới làm quen và thình lình một người giựt bao quà, một người giựt luôn cái xách tay Yến đang mang trên vai và bỏ chạy đụng nhằm bé Thiên Tú làm cho nó ngã lăn trên đất và khóc ngất... Yến vội nhào tới bế con lên mà hồn phi phách tán...
    Một điều lạ là mọi người chung quanh chỉ đưa mắt nhìn như không có chuyện gì xãy ra, mặc cho Yến ngơ ngác chưa hoàn hồn... Mãi một lúc sau có một cháu gái độ 9-10 tuổi, một tay xách ấm nước, một tay cầm cái ly bước tới rót cho Yến một ly nước và hỏi:
    - Cô đi thăm tù phải không...?
    Yến còn đang hoang mang thì cháu nói tiếp:
    - Cô và em uống nước đi rồi cháu dẫn cô tới chỗ thuê xe vào trại, cháu bán nước trà ở đây... Trước đây đã có mấy vụ như vầy rồi mà ai cũng sợ, không dám làm gì hết... Mà cô còn tiền không...?
    Cũng may là tiền mua vé xe còn lại bao nhiêu Yến đã cho vào cái ví nhỏ để ở túi quần thay vi bỏ vào xách tay mang trên vai, nghĩ tới số tiền còn trong túi cũng đủ để mua vé xe lữa trở về Sàigòn, Yến hơi yên lòng.... Chỉ có điều... Bây giờ vào thăm Phiên với hai bàn tay không... Nhưng Yến nghĩ, đã ra tới đây rồi thì dù gì cũng phải vào trại thăm Phiên... Cho nên khi nghe cháu bé hỏi, Yến gật đầu mà không nói... Yến móc ví lấy ít tiền lẽ đền ơn cháu bé nhưng nó một mực chối từ, Yến nghĩ, ít ra trên đời này còn có người tốt... Ai đời....
    Nói tiếng là đi thăm nuôi chồng ở tù mà tới nơi thì chính người chồng tù phải đi xin cơm của những người tù khác chia xẻ để nuôi hai mẹ con Yến trong ba ngày... Thì thử hỏi còn gì thê lương bất hạnh hơn...!!
    Thế nhưng cảnh đời còn cay nghiệt hơn thế nữa, những bất hạnh trên đời còn chưa chịu buông tha và đã ép Yến vào chỗ tận cùng của khổ đau..... Một tuần lễ sau Yến về đến nhà ở Sàigon thì nhà đã bi niêm phong mấy ngày trước, lý do là cha mẹ chồng Yến và hai người con đã bỏ nhà theo một chuyến vượt biên...
    Trời đất như quay cuồng, Yến ngồi bệt xuống trước nhà ôm con vào lòng mà không làm sao kêu trời cho thấu... Trời đã về chiều, mẹ con Yến đành phải xin ngũ nhờ nhà hàng xóm qua đêm.... Sáng hôm sau, vì nghĩ rằng Sàigòn bây giờ đã đổi chủ, ngoại trừ bà con ruột thịt, không ai dám chứa người lạ cho dù một vài ngày, hơn nữa người lạ đó lại có chồng là sĩ quan của chế độ cũ đang đi tù....
    Yến quyết định rất nhanh, dẫn con ra bến xe miền Đông đi thẳng ra Bà rịa vì Yến đã nhớ lại là Yến còn một người chị bà con cô cậu, hồi nhỏ hai người rất thân nhau, đang sinh sống bằng nghề làm than ở ngoài đó...
    Hơn ba tuần lễ phụ với người chị trong công việc đốt gỗ lấy than, Yến đã lấy lại bình tỉnh và nghĩ đến tương lai của Thiên Tú, Yến không đành lòng để cho Thiên Tú bị thất học trong cảnh rừng u tịch này, rồi đây khi Phiên trở về thì sẽ ăn nói ra sao.... Yến nghĩ... cứ dẫn con vào lại Sàigòn rồi sẽ tìm cách trở về quê ngoại, mặc dù cha mẹ Hoàng Yên không còn nhưng ở đó còn có người cậu lúc nào cũng thương yêu Yến...
    Chúng tôi nghe Yến kể mà không khỏi bùi ngùi, vào thời gian này, xã hội vừa đổi thay lòng người điên đảo vì ngoại cảnh đã tạo nên bao nhiêu mối bức xúc trong lòng... Người ta như không còn đủ minh mẫn để giải quyết mọi vấn đề... Tôi nghĩ, nhiều người đã chối bỏ cuộc sống có lẽ cũng vì lý do này... Sau đó chúng tôi đã... kẻ ít người nhiều góp lại được một số tiền khả dĩ đủ cho Yến làm lộ phí trở về Nha Trang....
    Tôi đã bặt tin Yến từ đó..... Bây giờ gặp lại Yến ở đây bảo sao chúng tôi không mừng mừng ... tủi tủi... Nghĩ đến đây thì xe cũng vừa quẹo vào cổng chùa....
    Từ đó đến chiều bế mạc khóa tu, tâm trí tôi như không còn chỗ để chứa bài pháp của Thầy giảng, xin Thầy tha lỗi cho con...! Vậy mới biết lời Phật dạy không sai, chỉ mấy phút giây tìm về quá khứ mà tâm trí tôi đã không còn một chút an tịnh, bài pháp của Thầy giảng tôi hoàn toàn không thu thập được....
    Tôi chỉ trông cho mau về tới nhà để liên lạc với Hoàng Yến và sẽ tìm thăm Yến ngày mai, chủ nhựt...
    Rồi ngày mai cũng đến, tôi tìm tới với Yến, bây giờ thì cả hai chúng tôi đều đã lấy lại bình tỉnh, chúng tôi nhìn nhau để tìm một sự đổi khác... Nhưng tôi không chú ý điều đó cho lắm mà cái tôi muốn biết là sau khi trở về Nha trang thì hai mẹ con sinh sống ra sao và hoàn cảnh nào đã đưa đẩy Yến đến Canada rồi qua đây...
    Yến kể, sau khi về đến quê nhà ở Nha trang mới biết là cậu của Yến đang mang chứng bịnh nan y, cảnh nhà đã sa sút và đang lâm vào cảnh khó khăn vì phải lo chạy chữa cho cậu... Sau khi tạm trú ở nhà cậu hơn một tuần, mặc dù cả nhà gồm cậu mợ Yến và hai người con đều vui vẻ và đối đải rất tốt với Yến, vẫn yêu thương Yến nhưng Yến thấy... không thể để cho người ta phải bận tâm thêm vì hai mẹ con. Tạm thời gởi bé Thiên Tú ở nhà, Yến theo giúp người em con cậu đang có sạp bán rau cải Đà lạt tại chợ Nha Trang. Sau đó theo lời khuyên và được sự yểm trợ thêm chút ít vốn của người em, Yến theo xe hàng lấy rau cải từ Đà lạt về bỏ mối ở chợ Cam Ranh và Nha Trang.
    Công việc dù vất vả nhưng Yến tự hứa là sẽ tận lực để nuôi con chờ Phiên về, nhờ có công việc làm nên mỗi tháng Yến đều gởi quà cho Phiên và dự định sẽ dẫn Thiên Tú ra Bắc thăm Phiên lần nữa...
    Ngờ đâu, bảy tháng sau, gói quà gởi đi đã được trả lại kèm theo một phong thư báo tin Phiên đã mất vì bạo bệnh... Trời đất như quay cuồng, Yến nằm liệt luôn hơn tuần lễ vì đau khổ dày vò.... Yến không còn muốn sống trên đời này nữa nhưng vì còn Thiên Tú....
    Trong thời gian phụ với người em con cậu bán rau cải, Yến có quen với Sư Cô Diệu Hạnh, mặc dù tuổi đã quá trung niên nhưng trông Cô còn rất trẻ, ở Cô toát ra một vẻ đạo mạo đáng kính. Cô tu một mình ở một cái am nho nhỏ trên một cồn cát giữa sông, nhìn lên cầu Xóm Bóng và Tháp Bà ở Nha Trang.
    Yến dẫn Thiên Tú thuê đò sang cồn cát vào am gặp Sư Cô Diệu Hạnh, không hiểu sao ngồi trước mặt Sư Cô Yến khóc như chưa bao giờ được khóc. Sư Cô nhìn Yến mà lòng xót xa nhưng Sư Cô thủy chung không lên tiếng mà chỉ vuốt đầu Yến trước cặp mắt nhìn ngây thơ của Thiên Tú. Sau đó Yến bày tỏ ý định nhờ Sư Cô bảo bọc Thiên Tú, chờ Thiên Tú lớn lên thì cho nó xuất gia tu theo Sư Cô còn Yến thì sẽ rời khỏi đây...
    Như đọc được tất cả những gì trong óc của Yến, Sư Cô dịu dàng bảo: - Cô bằng lòng làm theo yêu cầu của con nhưng phần con cũng phải làm theo một yêu cầu của Cô, Cô muốn con quy y Phật... Yến gật đầu không suy nghĩ, vì trong lòng đã quyết, một khi Sư Cô đồng ý bảo bọc cho Thiên Tú thì Yến sẽ làm cách nào đó để từ giã cõi đời đầy đau khổ này, nhìn lại chung quanh ai cũng khổ nhưng chưa thấy ai khổ như Yến, Yến muốn đầu hàng...
    Dường như sợ Yến đổi ý, Sư Cô lên đèn và làm lễ quy y cho Yến ngay, sau đó Sư Cô giảng cho Yến rất lâu về ngũ giới và hơn nữa Cô đã giảng cho Yến về chữ "nghiệp". Lời giảng của Cô đã làm cho Yến chùng lại cái ý nghĩ tự tử đã nhen nhúm trong lòng... Yến dắt tay Thiên Tú chào Cô ra về hứa ngày mai sẽ đưa Thiên Tú trở lại ở với Cô, Cô vui vẻ gật đầu.
    Lòng Yến ngổn ngang trăm mối.... Sau khi gởi con cho Sư Cô, Yến nghĩ nhiều về những lời Cô giảng, ý định tự tử không còn nữa, cái nghiệp đã theo báo thì dù có chạy đi đàng nào cũng không khỏi. Khỏi kiếp này nhưng không khỏi kiếp sau ! Yến tiếp tục cái công việc buôn hàng chuyến và mỗi cuối tuần thuê đò sang cồn cát thăm Sư Cô Diệu Hạnh và đem ít quà cho Thiên Tú....
    Ngờ đâu, việc đó kéo dài chưa được ba tháng thì một hôm, khi Yến tới, trong am khói hương nguội lạnh Sư Cô và bé Thiên Tú đã đi đâu vắng bóng. Vòng ra sau hè cất tiếng gọi mấy lần không người trả lời, Yến còn đang lấy làm lạ thì có một bà già bước ra từ cái chòi nhỏ cất sau am, bà bước đến gật đầu chào Yến rồi ra dấu cho Yến đi theo bà ra tận bến đò bà mới mở lời:
    - Tôi biết cô là mẹ của cháu nhỏ nên tôi nói để cô rõ... Người ta đã đem dầu chôn ở bãi cát bên hông cái am của Sư Cô, cách đây hai đêm người ta đã đào dầu đưa lên tàu vượt biên, vì lo sợ sự an nguy của Sư Cô nếu Công An biết được am Sư Cô chứa dầu cho nên họ đã cho Sư Cô tháp tùng theo chuyến đi, Sư Cô đi và dẫn cháu nhỏ đi theo rồi... Cô đi về ngay đi và đừng trở lại đây nữa kẻo người ta theo dõi thì không hay đâu...
    Trời đất lại một lần nữa như sụp đổ trên đầu Yến, trên đường về, Yến đi như kẻ không hồn, ý nghĩ tự tử lại một lần nữa được khơi dậy mãnh liệt trong lòng...
    Vừa lúc đi ngang qua một ngôi chùa, thấy có tượng Đức Quán Thế Âm lộ thiên phía trước, Yến chậm rãi đi đến trước tượng, bất kể mọi người ở chung quanh, Yến quỳ xuống chấp tay mà hai hàng nước mắt tuôn ra như suối...
    Mới đầu thì Yến nhắm mắt, lòng nghĩ đến những điều bất hạnh đã xãy ra cho bản thân từ khi Phiên bước vào vòng lao lý đến khi Phiên mất, những tưởng Thiên Tú là cái phao để Yến có thể vinh vào đó mà gượng sống... Bây giờ thì Yến đã mất luôn Thiên Tú.... Vậy thì sống trên đời này còn có ý nghĩa gì...
    Yến mở choàng đôi mắt đẩm lệ nhìn thẳng vào gương mặt đầy vẻ từ ái của tôn tượng Đức Quán Thế Âm, "Phật Quán Thế Âm từ bi ở trên cao sao không cứu con, con khổ đến chừng nào đây..."
    Đột nhiên những lời giảng của Sư Cô Diệu Hạnhvề nghiệp báo vang lên văng vẳng bên tai, đầu óc Yến như bừng tỉnh lại, Yến cúi đầu sát đất lạy ba lạy rồi đứng dậy quay gót đi mà gương mặt đại từ bi của Đức Quán Thế Âm vẫn còn ngự trị trong lòng.
    Yến trở về nhà người cậu tiếp tục cái công việc buôn hàng chuyến... Mặc dù gia đình cậu có trách Yến sao lại đem con gởi cho người ngoài mà không để cháu lại nhà cậu nhưng Yến đã chuẩn bị câu trả lời này rồi nên Yến bình tỉnh đáp:
    - Em thì bận đi buôn bán còn mợ thì lo chăm sóc cho cậu, con thì đi suốt ngày, con sợ để nó ở đây lại thêm gánh nặng cho mợ. Con đã có hỏi Sư Cô trước rồi, đối với Sư Cô không có gì trở ngại nên con mới gởi nó cho Sư Cô...
    Cho đến một hôm, sau một ngày vất vả, Yến về đến nhà thì trời cũng đã sẩm tồi như mọi khi, người em, con của cậu đón Yến tận ngoài ngỏ và báo tin: Sư Cô Diệu Hạnh và bé Thiên Tú đã đến đảo an toàn, chờ ngày đi định cư ở Canada, có người bà con của Sư Cô đang định cư ở đó...
    Cầm lá thư của Sư Cô trong tay mà Yến có cảm tưởng mình đang mọc thêm đôi cánh, toàn thân Yến nhẹ nhàng như đang bập bềnh trong niềm hạnh phúc chưa từng có... Yến nhớ anh Phiên quá, phải chi còn có anh ở đây để Yến chia bớt niềm hạnh phúc này cho anh...
    Từ lúc tôi vào nhà đến bây giờ Yến mãi mê kể chuyện cho tôi nghe mà không hề để ý đến bà cụ bước ra chào tôi và bưng nước mời...
    Yến say mê kể với gương mặt rạng rỡ, tuy bây giờ sắp bước qua tuổi 60 nhưng nét mặt chưa có một nếp nhăn chứng tỏ Yến đang sống trong hạnh phúc... Sau đó Yến cho biết tiếp là khi đến được Canada, thay vì tạm trú ở nhà người bà con thì Sư Cô lại đưa Thiên Tú đến tá túc ở một ngôi chùa Ni mà Sư Bà trụ trì là thầy bổn sư của Sư Cô hồi trước. Nói là chùa nhưng thật ra đó là một ngôi nhà nho nhỏ, Sư Bà trang hoàng lại thành một chỗ thờ Phật khang trang để đêm ngày kinh kệ... Cảm ơn Sư Bà và Sư Cô đã chăm sóc cho Thiên Tú, cho đi học đến khi thành tài, có chỗ làm chắc chắn Thiên Tú đã bảo lãnh Yến sang theo diện đoàn tụ.
    Từ nhỏ lớn lên trong cảnh chùa, chịu sự chăm sóc của Sư Cô, bây giờ đã là một thiếu nữ xinh đẹp nhưng ngoài giờ làm về đến chùa thì Thiên Tú quấn quít bên Sư Bà và Sư Cô, ngày ngày nghe kinh kệ Thiên Tú đã nuôi ý chí xuất gia, nhưng còn chờ Yến quyết định. Yến không phản đối, vã lại đã trải qua quá nghiều nghịch cảnh, không biết bao lần nếm vị khổ của cuộc đời nên chính Yến cũng có ý định xuất gia nhưng cả Sư Cô và Sư Bà còn đặt Yến trong vòng thử thách... là vì...
    Yến qua Canada chưa được một năm, một hôm, trong khi Thiên Tú đưa Yến đi dự hội chợ Tết Việt Nam do cộng đồng người Việt ở đây tổ chức, tình cờ Yến gặp cha mẹ Phiên... Yến chỉ gọi được hai tiếng "Ba - Má", bước nhanh đến ôm ghì lấy hai ông bà mà nước mắt tuôn như mưa, Yến nhớ đến Phiên...
    Mặc dù trước kia có những bất đồng nho nhỏ giữa mẹ chồng nàng dâu, nhưng trong lòng Yến hoàn toàn không có một chút oán trách trái lại Yến vẫn coi họ chư cha mẹ ruột của mình... Hỏi ra mới biết, lúc người ta báo có chuyến vượt biên thì Yến đang đi thăm Phiên tận ngoài Bắc, mà cái chuyện vượt biên ai cũng biết, không thể hẹn trước và cũng không thể chờ.... Hai ông bà cũng đang định cư ở vùng này, ông cũng có tìm cách liên lạc với Yến nhưng không biết Yến ở đâu....
    Hiện hai người sống trong một ngôi nhà không xa ngôi chùa nhỏ của Sư Bà, hai em của Phiên đã lập gia đình đang ở xa vì công việc làm. Không hiểu sao khi gặp lại hai ông bà, nhứt là mẹ Phiên, lòng Yến ngập tràn thương mến, cha Phiên thì tóc đã bạc trắng, mẹ Phiên có hơi yếu nhưng vẫn còn minh mẫn.
    - Bây giờ con Thiên Tú đã đi tu... Hay là con dọn về đây ở với ba má...
    Đó là lời đề nghị của má Phiên sau vài lần Yến tới lui thăm viếng, dường như bà còn muốn nói điều gì nữa nhưng không hiểu sao khi nói tới đó bà bỏ lững...
    Yến đem chuyện này kể cho Sư Bà và Sư Cô nghe, Sư Cô đưa mắt nhìn Sư Bà chờ đợi... Sư Bà nói:
    - Con đã trải qua nhiều gian truân, con đã chịu nhiều khổ não cho nên con đã ở vậy thờ chồng và lại có ý xuất gia... Nhưng con chưa nếm mùi của cái khổ vì cô đơn lúc tuổi già, ba mẹ Phiên, con cũng có mà dâu cũng có thế nhưng ở cái tuổi gần đất xa trời thì không một ai kề cận để sớm hôm chăm sóc...
    Theo Bà thấy thì thay gì con xuất gia đi tu, con nên về ở với hai ông bà để thay cho Phiên mà báo hiếu. Vã lại tu hiếu cũng là một pháp tu... Đến khi hai ông bà mãn phần con về đây với Sư Bà và Sư Cô cũng không muộn...
    Nghe lời Sư Bà, Yến dọn về nhà của ba mẹ Phiên ở để phụng dưỡng hai ông bà, mong rằng anh Phiên sẽ vui nơi chín suối...

    Leave a comment:


  • Phòng Trực
    replied
    VỀ MỘT NGƯỜI BẠN - Truơng kim báu

    VỀ MỘT NGƯỜI BẠN

    Trương kim báu

    Sau ba tháng nghĩ hè, hôm nay là ngày đầu tiên của niên học mới, sân trường nữ trung học Lê Quý Ðôn vang lên tiếng nói cười thật vui của các nữ sinh, gương mặt nào cũng lộ nét rạng rỡ nhưng hồn nhiên trong những chiếc áo dài mới màu trắng đồng phục. Họ đứng với nhau từng nhóm, chỗ này vài người, chỗ kia năm ba người họ tụm lại với nhau cũng chỉ để kể lại những vui buồn trong ba tháng nghĩ Hè vừa qua. Riêng đám nữ sinh mới nhập học trường này lần đầu, vì còn lạ cảnh lạ người nên họ tụ lại với nhau ở một góc sân...

    Trường tôi có thông lệ là vào ngày tựu trường những người nào học trước thường ra đứng nhìn những người mới vào để chọn và kết nạp vào nhóm của mình...

    Tình bạn là lá là hoa
    Tình bạn là cả bài ca trên đời
    Tình bạn trong sáng tuyệt vời
    Đẹp hơn tất cả bầu trời ban đêm…(Phan Hạnh)


    Ðang đứng cùng vài người bạn, tôi chợt để ý đến một cô bé nữ sinh mới, có mái tóc thề giống tôi, cũng cắt ngắn phía trước, đôi mắt thật to mặc chiếc áo dài trắng bằng hàng đắt tiền cắt thật khéo, ôm mấy quyển vở đứng dưới gốc cây phượng nhìn thiên hạ bằng cặp mắt dửng dưng không lộ một nét rụt rè như những người mới khác. Tôi nhìn cô bé mỉm cười và ra dấu cho hai bạn của tôi cùng bước tới để làm quen. Bất ngờ cho tôi, cô bé cũng mỉm cười đáp lễ đồng thời với một cử chỉ tinh nghịch, cô ta chỉ vào má mình và chỉ tôi.

    Thoáng một giây các bạn tôi chợt hiểu ra và cười rộ lên và nói:
    - Ðàn chị đã thua 1- 0 vì bị đàn em tấn công trước!
    Thì ra cô bé này cũng quá quắt, đã để ý thấy tôi cũng có má lún đồng tiền nên ra dấu cho mấy người kia biết là tôi và cô ta giống nhau. Một người bạn tôi hỏi:
    - Con nhà nào?
    Cô bé đáp liền trước sự ngạc nhiên của tôi và các bạn:
    - Trần Quý Cáp.
    Một bạn tôi cười lớn:
    - 2 - 0 (Thua một điểm nữa)
    Tôi nói:
    - Ðược lắm, vậy là ở cùng đường.

    Tôi nghĩ, chỉ có chúng tôi với nhau mới hiểu được cái "mật khẩu" đó, sao cô bé này cũng biết? Hỏi vậy có nghĩa là hỏi đằng ấy ở đường nào? Cô Bé trả lời là đường Trần Quý Cáp và như vậy là cô ta đã biết về chúng tôi mà chúng tôi không biết gì về cô ta! Chả trách đã thua hai điểm không gở. Tôi và cô bé quen nhau từ đó...

    Bạn bè là nghĩa tương tri
    Có duyên gặp mặt mấy khi trong đời
    Trên môi hé nở nụ cười
    Sống vui, mạnh khỏe làm người nghĩa nhân. (Phan Hạnh)


    Nhà Yến Nhi (tên của cô bé) và nhà tôi ở cùng một con đường cho nên sáng nào Yến Nhi cũng ra cổng chờ tôi đến cùng đi học, do vậy mà tình bạn giữa tôi và Yến Nhi càng ngày càng khắn khít hơn. Ở Yến Nhi tôi thấy có một cái gì đó thật đáng mến, Yến Nhi nhỏ hơn tôi hai tuổi nhưng trong nhà tôi ai cũng khen "Yến Nhi còn nhỏ mà tánh lại điềm đạm."

    Thời gian qua mau, cái thơ ngây của tuổi hoa niên đã bị bỏ lại phía sau theo từng niên học... Ðối với chúng tôi, những ngày Hè bây giờ đã không còn là những ngày đuổi bướm hái hoa mà là những ngày dài của mơ mộng. Thật vậy, vì nếu nói không dối lòng thì không thể không công nhận rằng ở tuổi biết thẹn thùng thì người con gái nào cũng dệt cho mình những ước mơ, mơ về một người yêu lý tưởng, mơ về một mái ấm, mơ về một tương lai êm đẹp và cái tương lai đó cũng theo trí tưởng tượng mà thay đổi theo thời gian...

    Trong cả những ước mơ ta không đơn độc
    Có bạn thân bên cạnh cùng mơ
    Cùng luận bàn về thời cuộc… ngây thơ
    Cùng tưởng tượng bao điều ngốc nghếch
    Cùng kể cho nhau câu chuyện không đoạn kết (Thụy Anh)


    Sau năm học cuối cùng, tôi theo gia đình rời khỏi Nha Trang một thời gian khá lâu, bạn bè cùng lứa đã chia tay mỗi người mỗi ngã. Yến Nhi và tôi vẫn thư từ cho nhau nhưng bẳng đi một thời gian không còn nhận được thư của cô nàng. Lần này tôi về lại Nha Trang có ghé lại nhà của Yến Nhi khi xưa thì nhà đã đổi chủ.

    Rồi trong một buổi chiều cuối tuần, tôi và một người bạn cũ đi trên đường dọc theo bờ biển, bỗng thấy một một chiếc vespa chạy vụt qua mà người ngồi sau là Yến Nhi, bất kể người đi đường nhìn tôi, tôi hét to:
    - Yến Nhi.
    Cô nàng ngoái cổ nhìn lại và vỗ nhẹ vai anh chàng đang lái xe, họ ngừng lại, tôi đi nhanh tới tay bắt mặt mừng với Yến Nhi. Vẫn nhanh nhẩu như ngày nào, Yến Nhi giới thiệu:
    - Ðây là Quốc, ông xã của Yến Nhi là dân Không Quân.
    Tôi cười gật đầu chào, Quốc cho biết Yến Nhi thường nhắc đến tên tôi, tôi nghĩ là Quốc nói thật vì sau đó chúng tôi kéo nhau vào một quán nước cạnh bờ biển và nói chuyện như là ba người đã quen nhau từ hồi nào, tôi chợt một thoáng nghĩ thầm:
    - Ðúng là tiếng đồn không ngoa, mấy anh chàng phi công biết nịnh đầm quá, bảo sao
    Yến Nhi không còn nhớ hai câu thơ cũ mà chúng tôi thường rỉ tai nhau:

    Ðời phi Công không bao giờ chung thủy
    Mỗi đường bay lỗi một cánh hoa yêu.


    Thế mà chuyện đời đưa đẩy khó lường, hai năm sau tôi theo chân Yến Nhi gia nhập vào đại gia đình Không Quân, chồng tôi là dân bay khu trục, khác Phi đoàn với Quốc nhưng hai người gặp nhau hàng ngày.

    Cho đến một buổi chiều, chồng tôi đón tôi đi làm về và báo cho biết Quốc đã tử nạn hồi xế chiều, vì một phi vụ yểm trợ quân bạn trong trận đánh ở phía Tây-Bắc Nha Trang. Chuyện vừa mới xảy ra, còn quá sớm nên Ðơn vị chưa sắp xếp đề cử người đến báo tin cho gia đình.

    Tôi vội đến nhà Yến Nhi, thấy có vài người bạn gái ở đó, tôi cứ tưởng là họ đã hay tin nên đến để an ủi Yến Nhi, nhưng.... Khi thấy tôi bước vào cửa Yến Nhi vội kéo tay tôi phân trần:
    - Mấy bà này đòi ăn cơm mà không cho Yến Nhi hay trước nên đành phải chia nhau cơm cháy ở đáy nồi thôi, còn phần cơm nạt thì để dành cho anh Quốc đi bay về ăn, không ai được đụng tới.

    Không dám để cho nước mắt tôi trào ra, làm sao tôi có đủ can đảm tiết lộ cho Yến Nhi biết là Quốc sẽ không trở về nữa, anh đã ra đi vĩnh viễn rồi và chỗ anh đến là một nơi bình yên tuyệt đối.

    Cái chết ấy chỉ là biến hình đổi dạng
    Từ cảnh nầy sang cảnh khác vui đau
    Vòng quẩn quanh biến thái mãi ra vào
    Chỉ chấm dứt khi nào tâm hết vọng (T. Phước Thái)


    Hôm đám tang Quốc, Yến Nhi không khóc trước mọi người nhưng sau này khi vào làm cùng ngân hàng với tôi, thấy chồng tôi ra đón tôi lúc tan sở, dù Yến Nhi cố giấu nhưng tôi vẫn thấy hai mắt Yến Nhi long lanh ngấn lệ. Có lẽ hình ảnh của chồng tôi đã gợi cho Yến Nhi nỗi nhớ về Quốc. Từ đó hai vợ chồng tôi đành hẹn nhau đón đưa ở một tiệm sách của người bà con gần đó.

    Thời gian là liều thuốc tiên có khả năng xoá đi mọi nổi nhớ, niềm đau nào rồi cũng phôi phai dần theo ngày tháng. Sự đau buồn càng ngày càng vơi dần thì nét đẹp trên gương mặt Yến Nhi càng ngày càng rực rỡ, cái đẹp già dặn chín mùi của người con gái một con đã làm điêu đứng những anh chàng đồng nghiệp, nhưng Yến Nhi đã thản nhiên trước những ong bướm chực chờ đón đưa, Yến Nhi đem hết tình thương dành riêng cho cháu Tuấn, đứa con trai duy nhứt mà Quốc đã để lại, càng lớn nó càng giống Quốc như khuông đúc.

    Nơi này em hứa với anh
    Em đây sẽ mãi như cành hoa tươi
    Mặt môi luôn nở nụ cười
    Để anh yên nghĩ phương trời không em... (Linda Nguyễn)


    Rồi cơn bảo 30 tháng 4 năm 75 ập đến thình lình làm tan tác bao gia đình quân nhân công chức, số phận của chúng tôi cũng nổi trôi theo vận nước, bỏ nhà cửa, quê hương di tản vào Sài gòn, rồi chồng đi tù bỏ lại mấy mẹ con bơ vơ. Tôi may mắn được lưu dụng tại Sài gòn nhờ chuyên môn, Yến Nhi được lịnh trở về nhiệm sở cũ ở Nha Trang.

    Ba năm sau, năm 1978, tôi gặp lại Yến Nhi ở chợ trời Sài gòn, chúng tôi ôm nhau mừng đến chảy nước mắt, Yến Nhi cho biết khi về lại nhiệm sở cũ "Ban giám đốc cách mạng" hay lấy lý do "Yến Nhi là vợ ngụy" để phê bình kiểm điểm, nói nặng nhẹ đủ điều nên Yến Nhi đã tự ý bỏ sở làm, cũng may là Yến Nhi đã gởi cháu Tuấn cho gia đình bà chị ruột dẫn đi vượt biên rồi. Tôi ngạc nhiên, hỏi sao Yến Nhi không đi? Thoáng một chút bâng khuâng Yến Nhi đáp: "Yến Nhi không thể bỏ mẹ lại một mình trong cảnh không bà con họ hàng thân thuộc này..."

    Con đi khắp chân trời góc bể
    Ân tình nào sánh xuể mẹ yêu
    Nghĩa dày độ lượng bao nhiêu
    Có trong lòng mẹ sớm chiều bao dung. (Đặng Minh Mai)


    Chúng tôi hàn uyên tâm sự với nhau một hồi thì tôi phải đi vì có hẹn, chúng tôi từ giả nhau sau khi đã trao cho nhau địa chỉ nhưng mà cho thì cho vậy chớ lúc đó ai trong chúng tôi cũng sống cuộc sống bắp bênh biết chỗ nào là chỗ ở chắc chắn cho mình!

    Chuyện bất ngờ xảy ra vào hôm tôi dẫn hai con ra Vũng Tàu tham gia vào một chuyến vượt biên.

    Sau hai ngày bị nhốt kín ở nhà chứa, đêm đó chúng tôi được đưa ra bãi sau ở Vũng Tàu để lên tàu vượt biển thì nội vụ bị bại lộ, ba mẹ con tôi dắt nhau tìm đường thoát thân khỏi vùng này để kịp trở về Sài gòn trước khi trời sáng. Vì nếu trời sáng Công an khu vực phát giác ra chúng tôi là những người lạ mặt ở đây thì sẽ bị tù.

    Trời tối lại lạ vùng, không rành đường sá, chúng tôi cứ nhắm hướng có ánh đèn nhà dân mà chạy. Chạy một hồi thì thấy một ngôi chùa, tôi nghĩ rất nhanh, thay vì vào nhà dân thì vào chùa hỏi thăm đường có lẽ an toàn hơn nên ba mẹ con tôi và vài người nữa chạy vội vào.... Vào đến bên trong, tôi phải hai lần dụi mắt mà vẫn còn sững sờ vì nghĩ là mình đang mơ, người đang tiếp chúng tôi là Yến Nhi, tôi ngạc nhiên quá sức, dù dưới ánh đèn mờ, dù đã xuống tóc mặc áo nâu sòng nhưng tôi không thể lầm lẫn được. Tôi và Yến Nhi nắm chặc tay nhau và nhìn nhau trong im lặng để cho cơn xúc động tan dần theo những hàng lệ ứa.

    Yến Nhi hướng mắt về phía một sư bà đứng gần đó và nói cho tôi biết đó là sư bà trụ trì ngôi chùa này và là bạn thân của mẹ Yến Nhi. Còn mẹ Yến Nhi thì... Sau khi được tin đứa con trai duy nhất là anh của Yến Nhi đã chết nghiệt ngã trong một trại tù cải tạo ngoài Bắc, bà bán hết tài sản đem tiền cúng cho Sư Bà trụ trì để tu sửa lại ngôi chùa đã đổ nát này và rồi bà xuất gia ở luôn đây sớm hôm kinh kệ với Sư Bà trụ trì.

    Ngày về bỏ lại bên đường
    Bụi trần rêu phủ cúng dường mười phương
    Ngày về thắm đượm tình thương
    Cát vàng sỏi đá chơn thường khác chi (T. Phước Thái)


    Riêng phần Yến Nhi, chuyện được kể vội trong đêm nhưng tôi vẫn còn nhớ rất rõ vì mối ưu tư của Yến Nhi cũng là những ray rức trong tâm tư tôi kể từ sau 75, Yến Nhi kể rằng:

    Kể từ buổi chiều Quốc ra đi không về, Yến Nhi không còn tha thiết với cuộc sống của riêng mình, Yến Nhi dồn hết tâm lực để lo cho cháu Tuấn, Yến Nhi nghĩ rằng cháu Tuấn chính là cái phao bé nhỏ và duy nhứt để gượng níu để vượt qua bể khổ của trần ai.

    Rồi cơn lốc 30 tháng 4 ập đến, cái chán nản trong lòng Yến Nhi lại càng trở nên thê thảm hơn. Yến Nhi mang một tâm trạng của một người đã bị mất tất cả, đã mất chồng, mất cả tài sản trong cuộc chạy nạn, bỏ của giữ lấy người, bây giờ cái nhà của Yến Nhi bị người ta nhân danh cách mạng tịch thu. Yến Nhi có cảm tưởng rằng Yến Nhi được sinh ra là để gánh vác những khổ đau của cuộc đời...

    Còn lại gì hay chỉ một niềm đau
    Mà trọn đời không thể nao lắng đọng
    Khi mất đi người là niềm hi vọng
    Mất nhau rồi giấc mộng chẳng còn chi. (Tùng Trần)


    Thế rồi...
    Trong một dịp từ Sài Gòn ra Vũng Tàu thăm mẹ và trong thời gian hơn tháng ở tại chùa, Yến Nhi đã giết thì giờ bằng những quyển kinh, sách về giáo lý Phật, Yến Nhi có ngờ đâu những khổ đau muôn hình vạn trạng của kiếp người, Ðức phật đã thấy biết rõ ràng từ hàng ngàn năm về trước và Ngài để lại kho giáo lý đồ sộ vạch ra muôn ngàn pháp môn tu cũng chỉ vì một mục đích duy nhứt là dạy và chỉ đường cho người ta tu để giải thoát khỏi những khổ đau đó... Từ đó, Yến Nhi nghĩ rằng chỉ có con đường tu theo Phật là con đường duy nhứt đưa con người ta thoát khỏi những cảnh khổ triền miên của cuộc đời, cho nên Yến Nhi đã xin Sư Bà và mẹ cho phép Yến Nghi xuất gia và ở luôn tại chùa hàng ngày vui với câu kinh tiếng kệ, bỏ lại sau lưng cái xã hội đầy rối ren của những ngày đầu bị CS nhuộm đỏ...

    Khuya đó trước khi tôi rời chùa để trở về Sài Gòn, Yến Nhi đã xin với Sư Bà cho tôi một cuốn kinh và một cuốn sách viết về giáo lý Phật mà Yến Nhi đã nói: "Nếu không theo được con đường của tôi thì tôi cũng mong chị tìm được cho mình một chút an lạc. Con đường tôi đang đi bây giờ không phải là đến nước Mỹ đoàn tụ mà tìm về với chính mình...."

    Tôi rất cảm động khi nghe những lời chí tình của Yến Nhi vì....
    Hoàn cảnh của tôi cũng không hơn gì, chỉ khác một điều là tôi còn mang một hy vọng và tôi sống trong niềm hy vọng đó, hy vọng ngày về của chồng tôi từ trại cải tạo.
    Về lại Sài gòn vì bận rộn với công việc làm, vì phải lo cho hai con, tôi quên mất hai cuốn sách và kinh mà Yến Nhi đã ân cần trao tay cho tôi. Cho đến một lần vượt biên sau bị thất bại, tiền mất tật mang, bị tù, nhưng vì có hai con nhỏ nên người ta đã thả mẹ con tôi ra sau hai ngày chất vấn mà không khai thác được gì. Tôi về lại Sài Gòn và bị mất việc! Sự chán nản ê chề đã làm tôi nhớ đến Yến Nhi và nhớ đến hai quyển sách, tôi lấy ra đọc...

    Tôi yêu chiếc áo màu vàng
    Mặc vào thanh thoát lòng càng thiết tha
    Noi gương Phật Tổ Thích Ca
    Sống đời đạm bạc Cà Sa thanh nhàn (T.Phước Thái)


    Không ngờ, có lẽ tôi cũng giống như Yến Nhi, đọc xong, tôi bị mê hoặc bởi lời kinh ý sách, tôi đọc lần thứ hai, lần thứ ba và tôi nghĩ nếu tôi gởi được hai con vượt biên như con của Yến Nhi thì có lẽ tôi sẽ từ bỏ tất cả (dù tôi không còn gì để bỏ!) để đến với Sư Bà, đến với Yến Nhi vì....

    Theo những ý nghĩa chứa đựng trong sách đó và theo tôi hiểu thì...
    Con người ta sở dĩ phải chịu đau khổ dưới muôn hình vạn trạng cũng chỉ vì sự trói buộc của dây luyến ái, tánh si mê và lòng ham muốn... Và cũng theo đó thì chỉ có một phương cách để giải trừ những khổ đau đó của kiếp người là phải biết và thực hành cho được cái hạnh BUÔNG XẢ?

    Sau này có dịp tìm hiểu giáo lý Phật tôi mới hiểu thêm rằng con người ta sống ở đời cũng giống như người lữ hành trên đường thiên lý, hễ ham muốn cho lắm và mang vác theo nhiều thứ thì phải chịu cảnh khổ bức thân. Trái lại nếu biết bỏ bớt, chỉ đem theo đủ dùng thì sẽ từng bước thong dong. Nhưng than ôi! Tâm lý chung của người đời thì chỉ muốn dư chớ không muốn đủ cho nên lúc nào cũng cảm thấy thiếu... Ðau khổ của kiếp người từ đó mà ra.
    Trong vướng mắc, ấy là ta đã chết
    Tận đáy mồ của kiến chấp si mê
    Sống thật đâu khi lòng mãi tái tê
    Vứt tất cả ấy là ta đang sống (T. Phước Thái)



    Diệu Ngọc

    Leave a comment:


  • Phòng Trực
    replied
    Thiện Tri Thức - Diệu Ngọc

    Thiện Tri Thức
    Diệu Ngọc



    Bài này ghi lại một câu chuyện thật nhưng tên các nhân vật đã được đổi khác. Tuy nhiên nếu có một trùng hợp nào thì đó là ngoài ý muốn của người viết. (D.N)

    - Ê! Bắt gặp tại trận có người đang hái hoa lén.....
    Tôi giựt mình quay lại, Ðạt đã đứng đó tự bao giờ... Tôi cười chữa thẹn:
    - Xí !... Bộ người ta sợ lắm sao..?
    Cả hai đứa cùng cười, Ðạt hỏi:
    - Bữa nay nghỉ học, sao không theo Bác gái đi chợ ăn hàng mà còn ở đây hái hoa?
    Tôi đáp:
    - Bộ tưởng người ta hay ăn hàng lắm sao... Thôi, tôi về đây...
    - Nói đùa chút cho vui, đừng giận... Ðây, cho thêm một cái bông hồng màu vàng đây... Chịu chưa...?
    Tôi nhanh tay đón lấy cái hoa hồng vàng từ tay Ðạt rồi quay lưng bỏ đi về phía lan can giữa nhà tôi và nhà Ðạt để leo trở về nhà mà không nói tiếng nào....
    Nhà Đạt và nhà tôi là hai căn phố lầu sát vách nhau, sân thượng nhà Đạt và sân thượng nhà tôi được ngăn ra bởi một hàng lan can bằng song sắt, tuy hơi cao nhưng tôi và Đạt vẫn thường bắt ghế leo qua lại không khó. Tôi và Đạt học cùng lớp, tuổi bằng nhau, nhà lại ở sát nhau nhưng chúng tôi không thân nhau lắm, dù Đạt nuông chìu tôi hết lòng...
    Biết tôi thích bông hồng, Đạt đi xin ở đâu đó đem về mấy chậu bông hồng và cho quyền tôi leo qua cắt đem về cắm ở bàn học bất cứ lúc nào... Cho nên dù có mặt Đạt ở đó hay không tôi vẫn có thể hái hoa mà không phải e ngại. Có một lần tôi hỏi Đạt:
    - Hôm qua thấy một cái bông hồng vàng sắp nở ở đây sao bây giờ đâu mất rồi?
    Đạt cười:
    - Cắt cho má Đạt cúng Phật rồi, hôm nay là ngày rằm mà....
    Sau này có khi tôi nghĩ lại, lúc đó chúng tôi đều ở cái tuổi mười bốn, mười lăm mà sao Đạt đã mang vẻ... “một ông cụ non” vậy? Ít khi nào tôi thấy Đạt ra khỏi nhà để gọi là... đi chơi... mà bạn bè của Đạt thì chả mấy khi tôi thấy có ai đến với Đạt... Đi học thì thôi nhưng về nhà là ngồi riết ở bàn học, hoặc là nằm trên ghế xếp kê ở sân thượng say mê đọc sách.
    Trái ngược lại, với tôi, tôi lại thích đi chơi, đi phố ăn quà, đi cinê, đi tắm biển, những lúc theo gia đình bạn đi picnic tận ngoài mấy cái đảo nhỏ ngoài khơi là tôi thích nhất. Hai chúng tôi tánh ý trái ngược nhau như thế cho nên việc học cũng... trái ngược! Đạt lúc nào cũng nhất lớp về tất cả các môn, ngoại trừ môn thể dục là hắn ta đứng bét mặc dù hắn cũng thuộc hạng lớn vóc. Còn tôi thì... trong số mười người đứng đầu trong lớp chả bao giờ có tên tôi!
    Má tôi sợ tôi học hành thua sút bạn nên có nhờ một cô dạy kèm, một tuần ba lần, tôi ớn nhất là khi bà cô này họp lại với Bà vú của tôi, hai người cứ lấy gương “Cậu Đạt” ra mà... “lên lớp” tôi mãi không thôi. Mấy lúc như vậy tôi cứ nghĩ thầm là phải chi không có Đạt ở gần bên thì đâu có bị rầy như vậy! Nhưng khi nghĩ lại thì... có Đạt ở gần bên vẫn hơn, vì tôi còn có chỗ nhờ cậy khi làm bài không kịp để nộp hay bị bí về một bài nào đó... Có một lần tôi vô tình nghe được Bà vú nói to, nói nhỏ với cô dạy kèm cho tôi:
    - Tội nghiệp cậu Đạt, nhỏ vậy mà có chí, ham học lại hiếu thảo với Mẹ... Hôm trước, tôi nghe bà Hai má cậu ấy nói cậu ấy muốn vô chùa ở, bà ấy khóc quá chừng, cậu Đạt là con trai duy nhất mà... Dễ gì bà ấy chịu rời ra... Tôi chưa có hỏi cậu ấy vô chùa để làm gì... Không lẽ cậu ấy còn trẻ vậy mà lại muốn đi tu...?
    Dù sao thì khi nghe vậy tôi cũng nghĩ thầm... Ông cụ non đó đi tu là phải rồi... Thời gian rồi cũng qua nhanh, mới đó mà đã đến kỳ thi cuối cùng của những năm học dài lê thê của bậc Trung học....
    Rồi những ngày thi đầy căng thẳng cũng đã qua đi... Bữa đi xem kết quả, tôi và đám bạn không ai ngạc nhiên khi thấy Đạt đã đậu với hạng ưu... Còn tôi, chỉ cần đậu là tôi mừng... Nhưng người mừng hơn tôi có lẽ là bà vú của tôi, còn má tôi lúc sau này đã về quê lo công việc làm ăn...! Tôi đi thi nhưng bà vú lo còn hơn tôi vì bà ấy đã lỡ nói... “Con mà thi rớt thì vú trốn luôn chớ không dám về quê nhìn mặt má con đó...” Cho nên khi đã biết kết quả kỳ thi bà hối thúc tôi chuẩn bị về quê để bà khoe thành tích với má tôi...
    Tôi còn đang suy tính không biết có nên theo bà vú về quê nghỉ hè trước khi vào Sàigòn học tiếp hay không thì một tin... có thể nói là tin động trời do bà vú báo cho tôi biết: Bà Hai, Má của Đạt cho biết là Đạt sắp cưới vợ mà lại cưới gấp... Lúc đầu tôi tưởng là bà vú nói phỉnh tôi cho vui, nhưng khi hỏi lại thì đó là sự thật. Tôi nghĩ, còn một tuần nữa là làm lễ cưới thì chắc người ta đã trù tính lâu lắm rồi... Vậy mà mình ở sát một bên nhà lại không hay biết... Mà người Đạt sắp cưới làm vợ lại là Nga, người học cùng lớp với tôi và Đạt...
    Đồng ý là tôi và Đạt lúc đó đã ở vào cái tuổi mà mấy bà má thường nói là tuổi có thể dựng vợ gã chồng được rồi nhưng sao người ta lại gấp rút vậy...! Cũng đồng ý là nhà Đạt thuộc hạng khá giả nhưng chưa có công ăn việc làm mà cưới vợ về ăn bám gia đình thì chắc chắn không phải là chuyện tốt, mà Đạt thì chả lẽ lại không biết điều đó?... Nhưng thắc mắc của tôi đã được bà vú giải tỏa sau đó vài ngày: Cô Nga đã có mang cho nên phải cưới gấp chớ không thôi thì cái bụng lớn lên càng khó coi và chắc chắn là không nên... Trước đó, có một thời gian tôi thấy hai người... có vẻ thân nhưng tính tình của Nga hoàn toàn trái ngược lại với Đạt, chắc vì vậy mà lúc sau này tôi thấy hai người không còn thân thiết như lúc đầu.
    Nga là con của Bà Năm bán bánh canh ở con hẻm phía trong nhà tôi và nhà Đạt chừng một trăm thước, tôi và các bạn kể cả Đạt, cũng đều biết Nga thường đi chơi với mấy cô cậu con nhà có tiền, thường đi ăn, đi nhảy đầm, gần như những buổi dạ vũ của các Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân và Hải Quân bọn Nga đều có mặt... Có lẽ chính vì vậy mà thứ hạng của Nga trong lớp không khá lắm! Đám cưới Đạt diễn ra trong sự ngạc nhiên của tất cả bạn bè trang lứa, nhưng bà vú và cô giáo dạy kèm tôi thì thất vọng ra mặt.
    Tôi nghĩ, vậy cho bà hết nói... “Cậu Đạt cao lớn đẹp trai, tính tình điềm đạm lại học giỏi” để lên lớp tôi... Như vậy trong cái việc Đạt cưới vợ có hai người hả dạ là Má Đạt và... tôi... Má Đạt thì mừng vì con trai của bà không còn lý do gì để đòi vô chùa nữa, còn tôi thì hả dạ khi thấy bà Vú và cô giáo bị Đạt làm cho.... quê độ....
    Ngày mai là ngày cưới của Đạt, hôm sau tôi và bà vú sẽ về quê, tôi đã có nói với bà vú nhắn tin về cho má tôi hay là chờ dự đám cưới Đạt xong rồi chúng tôi sẽ về. Tôi dự định sẽ ở suốt ba tháng hè với má tôi vì khi tôi đã vào Sàigòn rồi thì có lẽ phải lâu lắm mới về thăm được. Dĩ nhiên, cho dù tôi đi đâu thì nếu má tôi không bảo bà vú cũng sẽ tự nguyện theo sát một bên để làm... “thần hộ mạng” cho tôi. Nói gì thì nói, vú gần gũi tôi nhiều hơn má tôi cho nên tôi thương vú như thương má tôi không khác...
    Chiều đó tôi lên sân thượng đưa mắt nhìn bâng quơ qua sân thượng nhà Đạt thì... Ô kìa, “cậu Đạt” vẫn nằm trên ghế xếp đọc sách như không có chuyện gì.Tôi thật bái phục con người điềm tỉnh quá mức đó. Ngày mai đám cưới mà bây giờ còn có thể bình tỉnh để đọc sách, kể cũng lạ!
    Năm tháng trôi qua... Trai lớn lên thì cưới vợ, gái lớn lên thì lấy chồng... Ngày cưới của tôi, tôi không mời được Đạt vì khi đó má Đạt đã theo người chị lớn của Đạt về sống ở ngoại ô thành phố. Còn Đạt đã dời đi nơi khác trong thời gian tôi ở xa, nhà Đạt bây giờ do người cậu của Đạt ở, tôi và Đạt không còn liên lạc nhau.

    Sau này, khi có dịp về lại ngôi nhà cũ, tôi thường ra sân thượng để ngắm trăng và nhớ lại những ngày thơ ấu, trong đó có tôi và Đạt... Rồi nhớ lại chuyện đám cưới Đạt, thật là một bất ngờ cho mọi người. Quả thật, trên đời thường có những việc xảy ra mà chúng ta không thể ngờ được mà tôi thì hay gặp phải những bất ngờ như vậy!
    Rồi mấy năm sau, trong một dịp nghỉ phép, tôi dẫn con về quê chồng để thăm ba má chồng tôi, lại đúng vào dịp lễ Vu Lan, rằm tháng bảy. Sau một hồi hàn uyên tâm sự má chồng tôi bảo:
    - Ngày mai sẽ có một buổi thuyết pháp ở chùa, con có muốn đi đến đó để nghe với má không? Tôi chưa kịp đáp thì bà tiếp:
    - Ở chùa gần nhà mình bây giờ có một ông thầy đi học Phật từ Ấn Độ mới về, ông ấy còn trẻ mà giảng pháp hay lắm, ai cũng thích nghe, má đã được nghe mấy lần rồi, sẵn dịp rằm tháng bảy, ông ấy thuyết giảng về Vu Lan, hai mẹ con mình đi nghe cho biết.
    Tôi đáp nhanh:
    - Dạ, ngày mai con đi với má.
    Đường từ nhà đến chùa không hơn nửa tiếng đồng hồ đi bộ, nhưng tôi nghe bà nói ở chùa có một cái hồ sen rất to, tôi ngỏ ý muốn đi sớm để ngắm sen nở trong hồ vào buổi sáng. Tôi tưởng tượng, còn gì đẹp cho bằng những cánh sen màu trắng tinh anh với nhụy vàng điểm mấy hạt sương còn lung linh đọng... Hai mẹ con tôi tới chùa thì mặt trời chưa lên khỏi ngọn cây, vừa qua khỏi cổng chùa tôi đã sửng sờ vì một vườn hoa hình tròn, đủ các loại, hoa hồng, hoa cúc, hoa lài, hoa thược dược, hoa huệ... v...v... mà cây nào cũng trĩu nặng với những chùm hoa đã nở hết độ, như thi nhau khoe sắc để mong được cắt dâng lên cúng Phật.
    Tánh tôi đã mê hoa nay nhìn thấy một rừng hoa, tôi mê mẫn, hết vuốt đóa hồng nhung đỏ thẫm đến nâng niu cành huệ với những búp hoa to làm oằn nhánh. Đi vòng theo con đường lát gạch chung quanh vườn hoa để vào sân chùa, sát mặt tiền chùa là một khoảng sân rộng lát gạch đỏ đã rêu phong với thời gian, người ta chưng bày những con thú được uốn bằng cây kiểng thật to, thật đẹp và rất sống động. Ngoài những khóm hoa đang khoe sắc rực rỡ ở mặt tiền, hơi chếch về bên phải là một cái hồ rất rộng toàn hoa sen.
    Giữa hồ sừng sửng một tượng Phật Bà Quan Âm màu trắng thanh thoát đứng trên một hòn non bộ, soi mình trên mặt nước hồ sen trong như gương. Có lẽ hòn non bộ này cũng có tuổi bằng với ngôi chùa cho nên trên những gộp đá đã phủ màu xanh rong rêu, từ xa nhìn không khác cảnh thật với những tượng đá nhỏ xinh xinh mang hình ngư, tiều, canh, mục. Trước một rừng sen trắng đang phơi mình trên mặt hồ, tôi không còn để ý đến má chồng tôi đang đi nhanh vào hậu điện vì có ai đó đang vẫy tay gọi.
    Còn hơn một tiếng đồng hồ nữa mới đến giờ thuyết pháp cho nên tôi có quá nhiều thì giờ để đi vòng quanh hồ, hết ngắm cái hoa này lại nhìn cái hoa khác, rồi nhìn toàn cảnh ngôi chùa. Cảnh trí quanh đây có vẻ tịch mịch và trang nghiêm làm sao... Vì đây là một ngôi chùa cổ, cổng tam quan và tiền đình chùa được chạm trổ những hoa văn và hình tượng của lối kiến trúc xa xưa. Đặc biệt là chùa tọa lạc trên một khu đất thật rộng, hai bên hông chùa người ta trồng đủ loại cây ăn trái. Nằm cuối về phía sau còn có một nơi có thể gọi là cái nghĩa trang nho nhỏ với năm bảy ngôi mả đá được quét vôi trắng. Có lẽ là nơi an nghỉ của các vị sư đã có công lập nên ngôi chùa này từ thời xa xưa.
    Tôi còn đang miên man ngắm nhìn những đóa sen trắng tinh anh đang bị cơn gió nhẹ buổi sáng làm lung lay trên mặt hồ thì bổng giựt mình vì mấy tiếng chuông vang lên từ chánh điện, tôi đi vội vào vì đoán đã đến giờ thuyết pháp, mọi người đã ngồi đâu vào đó.
    Vì lạ người lạ chỗ, tôi đang đứng xớ rớ ở phía sau thì nghe tiếng má chồng tôi gọi, tôi nhón chân lách người đi lên phía trước để ngồi gần bà. Bà chưa kịp giới thiệu tôi với một bác ngồi kế bên có lẽ là quen thân với bà thì bỗng mọi người im tiếng và đồng loạt đứng lên. Tôi đứng dậy và ngước mắt nhìn lên kịp lúc thấy một vị sư từ trong hậu điện bước ra trong dáng điệu thật khoan thai. Tôi trố mắt:
    - Ô kìa... sao lại là Đạt?
    Vị sư trẻ vóc dáng cao to với gương mặt trắng hồng đang đứng vào phía sau bục thuyết trình, tươi cười chào đám đông, đó không phải là Đạt thì ai vào đây? Vừa lúc đó thì Đạt cũng trông thấy tôi, mặc dù cố trấn tỉnh trước đám đông nhưng trên gương mặt Đạt tôi đọc được sự ngạc nhiên bất ngờ. Phải rồi, Đạt làm sao ngờ được tôi từ miền Trung xa xôi đã lưu lạc đến tận xứ sở của sông Tiền sông Hậu này. Có lẽ Đạt cũng thấy được vẻ ngạc nhiên của tôi cho nên Đạt nhìn tôi cười thật nhẹ mà tôi nghĩ, ngoài tôi không ai nhận ra được Đạt đang cười với tôi. Không ngạc nhiên sao được vì gần mười năm trước tôi đã dự đám cưới Đạt và vợ Đạt đã có mang trước khi cưới rồi cơ mà... Mặt đối mặt mà trong lòng tôi còn ngờ.
    Đạt đang đứng trên bụt giảng trước mặt tôi uy nghi đạo mạo đúng là dáng dấp của bậc chân tu. Với cái dáng dấp đó tôi sẽ không đủ can đảm để xưng hô bằng hai tiếng “tôi” và “Đạt” như thường tình trong thế tục ngày nào, mà một sự kính trọng lẫn thân thiết từ đâu chợt dâng lên trong lòng, làm tôi đã không ngượng miệng mà xưng hô hai tiếng “Thầy” và “con” khi Đạt tiếp tôi trong văn phòng cũng là phòng tiếp khách của Đạt sau thời giảng pháp.
    Đầu óc tôi còn đang chật cứng bởi những hình ảnh thời xa cũ thì tiếng Thầy vang lên kéo tôi về với hiện tại. Vì bây giờ là mùa Vu Lan nên Thầy giảng và nhắc nhở các Phật tử về công ơn của các đấng sinh thành. Thầy giảng về gương hiếu thảo của ngài Mục Kiền Liên và những lời Phật dạy về phương cách báo đáp ơn dưỡng dục của cha mẹ khi cha mẹ còn tại thế cũng như khi đã quá vãng... Lời Thầy rõ ràng, mạch lạc, dễ hiểu nhứt là những thí dụ Thầy đưa ra thật gần gũi với đời sống hiện tại, ai cũng có thể hiểu được một cách dễ dàng.
    Trong thời đại này, do nhu cầu tiện nghi vật chất, do tập quán xã hội đương thời, người ta mãi bon chen vì danh, vì lợi mà có thái độ quá hời hợt về những gì gọi là hiếu kính ông bà, cha mẹ....
    Tiếng Thầy vang lên thật trầm ấm, dễ lôi cuốn người nghe. Rồi trong một phần của bài giảng, Thầy có đề cập đến “Phép lễ lạy sáu phương” trong đó ý nghĩa của lễ lạy hướng về phương Đông là để lễ kính, tưởng nhớ đến công lao dưỡng dục của các đấng sanh thành. Vì phép “Lễ lạy sáu phương” không phải là chủ đề chính của buổi thuyết pháp hôm nay cho nên Thầy chỉ nói phớt qua mà tôi hiểu và còn nhớ đại ý là: Khi còn tại thế, có một lần Phật dạy cho một thanh niên Bà- La-Môn về ý nghĩa của “Sáu phương lễ lạy”...
    Lễ lạy phương Đông là để lễ kính, tưởng nhớ công ơn của cha mẹ;
    Phương Nam là Thầy dạy;
    Phương Tây là vợ con;
    Phương Bắc là bạn bè;
    Phương dưới là những người lao công và phục vụ cho mình;
    Phương trên là hàng Tu sĩ, các bậc xuất gia. Thầy nhấn mạnh, lễ lạy Phương Đông không có nghĩa đơn thuần là quay mặt về phương Đông mà làm lễ, lễ lạy về hướng Đông là để nhắc nhở chúng ta về cách đối xử có đạo đức đối với cha mẹ...
    Kinh dạy, con cái đối với cha mẹ phải chu toàn những bổn phận như: Nuôi dưỡng cha mẹ chu đáo; giữ gìn tốt gia phong và truyền thống gia đình; làm tròn bổn phận đối với cha mẹ; giữ gìn, bảo quản, không phung phí tài sản do cha mẹ để lại; khi cha mẹ qua đời, cử hành tang lễ cho chu đáo. Đối lại, cũng theo trong kinh Phật dạy, cha mẹ cũng có bổn phận và trách nhiệm đối với con cái, dạy dỗ cho con biết điều thiện lẽ ác, khuyến khích làm điều tốt, ngăn chận không cho làm điều xấu, ác; hướng dẫn con học nghề để nuôi thân; cưới vợ gả chồng khi con đã khôn lớn....
    Lễ phương Nam là để nhắc nhở chúng ta cách đối xử có đạo đức với các bậc thầy dạy của mình, gặp Thầy chào hỏi một cách nghiêm trang, kính cẩn; phục vụ Thầy hết lòng nếu cần; siêng năng học tập để không phụ lòng Thầy...v...v... Ngược lại, Thầy cũng phải có bổn phận và trách nhiệm đối với học trò, đem hết kiến thức của mình tận tình trao truyền cho học trò; dạy cho học trò biết sử dụng kiến thức đó một cách có lợi; Cố gắng chỉ dẫn tận tình cho học trò thực hành thật tốt những nghề đã học..v...v.
    Lễ phương Tây là để nhắc nhở chúng ta về cách đối xử có đạo đức giữa vợ chồng: Bổn phận làm chồng phải biết tôn trọng vợ, không nên tỏ ra bất kính đối với vợ; để cho vợ nắm giữ quyền hành trong nhà; trung thành, chung thủy với vợ v.v... Ngược lại, người vợ cũng phải làm hết bổn phận của mình đối với chồng; Đối đãi tốt với bà con họ hàng nhà chồng; giữ gìn tốt tài sản; trung thành, chung thủy với chồng; hoàn tất công việc nội trợ một cách tốt đẹp v.v...
    Lễ phương Bắc là để nhắc nhở chúng ta về cách đối xử với bạn bè: Đã là bạn bè thì phải biết hổ tương đối đãi nhau cho có đạo đức như bố thí, giúp đỡ bạn khi cần; nói với nhau bằng những lời ôn tồn; làm mọi việc có lợi cho bạn; không lường gạt bạn; khi gặp hiễm nguy không né tránh; kính trọng gia đình bạn v.v...
    Lễ lạy phương dưới cho đúng cách là khi lễ lạy chúng ta phải nhớ cung cách đối xử có đạo đức với kẻ làm công, phục vụ cho mình chẳng hạn như: Khi giao công việc phải tùy theo sức cáng đáng công việc của người làm; tạo điều kiện ăn uống thích hợp, công bằng, trả tiền công hợp lý; biết chia xẻ vui buồn v.v... Ngược lại đối với người làm công phục vụ cho người khác cũng phải biết khéo làm mọi công việc được giao phó; giữ gìn thanh danh cho chủ; thức dậy trước khi chủ thức, đi ngủ sau khi chủ đã ngủ v.v...
    Sau hết lễ lạy phương trên là để nhắc nhở chúng ta về phép đối xử có đạo đức với các vị đã xuất gia, tu hạnh xuất thế gian: Các hành động nơi thân, lời nói và ý nghĩ phải thể hiện bằng lòng từ; đem hết lòng thành hiến dâng những vật dụng cần thiết để cúng dường... Ngược lại các bậc xuất gia cũng có những bổn phận đối với mọi người như: Ngăn chận, khuyên răn không làm điều ác; khuyến khích làm điều thiện; thuyết pháp bằng tâm từ bi; chỉ bày phương pháp tu tập v.v...
    Buổi thuyết pháp được chấm dứt, bằng những câu hỏi do các Phật tử đưa ra, phần lớn đều liên quan tới Vu Lan và Báo Ân. Thầy đã trả lời một cách thỏa đáng và dễ hiểu làm mọi người rất hài lòng. Sau đó Thầy thay mặt nhà chùa mời các Phật tử xuống trai đường dùng cơm chay. Mọi người lần lượt đi xuống trai đường, tôi nôn nóng muốn hỏi thăm Đạt nhiều điều nên đã cố tình trì hoản để được đi sau cùng và Đạt hình như đã hiểu được nên bước về phía hai mẹ con tôi. Tôi chấp tay cúi đầu chưa kịp lên tiếng chào trước thì Đạt đã nhanh miệng:
    - Không gặp lâu quá mà trông chị không thay đổi gì nhiều...
    Tôi lật đật cắt ngang lời Đạt để giới thiệu:
    - Đây là bà nội của mấy cháu....
    Cả má chồng tôi và Đạt đều ngạc nhiên nhìn tôi, Đạt cười vui:
    - Không ngờ Bác đây lại là chỗ thân tình...
    Má chồng tôi cười:
    - Vậy cũng là chỗ quen biết, cũng may, tôi rủ nó đi nghe pháp chớ nếu không thì nó đâu có biết Thầy đã về đây...
    Đạt hướng mắt về phía sau và nói:
    - Mời Bác và chị xuống trai đường dùng cơm chay rồi mời chị lên văn phòng sẽ nói chuyện nhiều.
    Tôi và má chồng tôi cúi đầu chào Thầy rồi bước xuống trai đường...

    Vì hôm nay là ngày lễ lớn, Phật tử các nơi trong vùng tựu về chùa rất đông cho nên trai đường không đủ chỗ ngồi cho mọi người, hai mẹ con tôi lại vào sau cho nên... mỗi người một dĩa bưng ra ngồi ở các băng ghế đá trong vườn sau chùa cùng với một số người khác, ngồi dưới các bóng cây càng mát chớ có sao.
    Tuy trong lòng đang có nhiều thắc mắc về Đạt nhưng tôi cũng còn thưởng thức được bữa cơm chay thật ngon, mẹ chồng tôi thì tỏ ra rất quý Thầy, luôn miệng tán thán Thầy, trẻ mà rất đạo mạo, học cao hiểu rộng nhưng tánh tình rất xuề xòa, gần gũi giúp đỡ Phật tử tận tình.
    Tôi kể cho bà nghe về tuổi thơ của tôi và Đạt... Sau bữa cơm mẹ chồng tôi bảo:
    - Con đi gặp Thầy, má cần bàn một số công việc với mấy bà trong bếp...
    Cửa văn phòng không đóng cho nên vừa thấy tôi Đạt cười và bảo:
    - Mời chị vào đây...
    và ra dấu cho tôi ngồi xuống chiếc ghế duy nhất trước bàn viết của Đạt. Căn phòng chưng bày đơn giản như tính tình của Đạt mà tôi biết ngày xưa, ngoài cái tủ kinh sách và cái bàn viết chỉ có một cái bàn nhỏ đủ để một khay trà và một bình bông nho nhỏ mà ai đó vừa mới thay mấy cành hồng. Chỉ có một chiếc ghế duy nhứt dành cho khách mà tôi đang ngồi, tôi biết Đạt ít tiếp khách ở đây, tính Đạt là như vậy, Đạt thích đến với người ta hơn là chờ người ta tìm đến với Đạt. Sau một hồi xã giao, Ðạt như đọc được ý nghĩ của tôi, Ðạt nhìn tôi cười nhẹ và nói lại điều mà Đạt đã nói khi nãy:
    - Chị thật không thay đổi gì... dù đã có gia đình, có cháu bé rồi, mà tánh vẫn nóng nảy như xưa. Nhìn chị, tôi biết chị ngạc nhiên và nóng lòng muốn biết về chị Nga lắm phải không?
    Nghe Đạt nói tôi nghĩ thầm: Sao lại là “chị Nga” ? Hồi trước Đạt cưới Nga, tôi có dự đám cưới mà? Nhưng tôi không phải thắc mắc lâu vì Đạt đã nói tiếp:
    - Chị thắc mắc cũng phải thôi, vì tôi không tiết lộ cho ai biết kể cả má tôi làm bà già giận và buồn tôi không ít.
    Thình lình Đạt hỏi:
    - Chị có còn nhớ anh Trí không? Tôi gật đầu và nói:
    - Có phải anh chàng Trí ưa lái xe jeep mỗi chiều thường đến cổng trường, tụi này thường quở cái mặt anh chàng có vẻ như đểu đểu đó không ?....
    Đạt đưa tay chận tôi: - Chị không nên xét đoán bề ngoài...
    Tôi tự mĩm cười với chính mình với cái ý nghĩ rằng không hiểu sao từ hồi còn nhỏ cho đến bây giờ, đối với Đạt, lúc nào tôi cũng cảm thấy bị lép vế. Đạt có thể “rầy” tôi bất cứ lúc nào... Chợt có tiếng con chim sâu ríu rít trên cây mận ngoài kia, Đạt đưa mắt mông lung nhìn ra cửa sổ như cố nhớ lại dĩ vãng và kể tiếp:
    - Hồi đó anh Trí và chị Nga thương nhau, chị Nga đã có mang với anh Trí gần hai tháng rồi mà gia đình anh Trí lại nhứt quyết không chịu cưới chị Nga cho anh Trí... Chị cũng biết mà, tánh tình như chị Nga thì mấy ông bà già đời nào lại chịu cưới về làm dâu. Chuyện còn chưa giải quyết được thì má chị Nga lại lâm bệnh nặng, nếu bà biết được con mình vừa thi rớt, vừa có mang thì sợ bà không chịu đựng nỗi, nên anh Trí và chị Nga có tìm tới và tâm sự với tôi, có ý nhờ tôi tìm cách giúp nếu để càng lâu thì không thể giấu. Vì dù sao thì tình bạn của tôi và chị Nga cũng còn đó và sở dĩ trước kia tôi kết bạn với chị Nga cũng chỉ vì muốn kéo chị ấy trở về với việc học, đừng chạy theo những người ham vui mà thôi... Sau khi nghe họ kể lể, không hiểu sao lúc đó tôi lại có cái ý nghĩ hơi ngộ nghĩnh là tôi sẽ làm đám cưới với chị Nga rồi sau đó sẽ giải quyết tiếp.... Tôi bắt hai người phải hứa chắc với tôi là phải cố gắng ăn ở với nhau... Đám cưới xong tôi đưa chị Nga vào Sài gòn còn anh Trí thì thu xếp với gia đình rồi xin thuyên chuyển vào sau. Riêng phần tôi thì tôi đã có chọn cho tôi con đường đi, cho nên khi chuyện của anh Trí và chị Nga tạm ổn, tôi vào chùa xin xuất gia... Tội nghiệp cho má tôi, tôi đã giấu bà.
    Tôi chận lời Đạt:
    - Sao Thầy...
    Không cho tôi nói hết câu, Đạt đỡ lời:
    - Chị đừng trách tôi, tôi nói là tôi giấu bà tức là tôi không nói chớ không phải là tôi dối bà, vì nếu phải nói thì tôi sẽ nói thật cho nên trong hai năm sau đó tôi chỉ liên lạc thơ từ chớ không về thăm. Còn chuyện tôi xuất gia, tôi cũng không tiết lộ vì tôi biết bà cứ nghĩ rằng nếu tôi xuất gia đi tu thì coi như bà đã mất tôi cho nên trong những lá thơ gởi về, tôi đã chuẩn bị tinh thần cho bà rất kỹ. Vậy mà bà cũng buồn và trách tôi nhiều khi tôi về thăm bà trước khi lên đường sang Ấn Độ để tu học... Sau đó có lẽ nhờ những lá thư dài của tôi từ Ấn Độ gởi về nên bà đã có thay đổi, đến khi tôi tốt nghiệp trở về thì bà đã không còn buồn nữa và bây giờ thì bà đã trường chay, sớm tối kinh kệ tại gia... Những dịp lễ Tết anh Trí và chị Nga thường đưa cháu Bảo Châu về thăm bà để tỏ lòng biết ơn đối với tôi... Nhưng chị cũng nên biết chuyện ơn nghĩa để mãi trong lòng không phải là một điều tốt...
    Sau lần gặp lại đó, tự nhiên tôi cảm thấy gần gũi và kính phục Đạt hơn và cũng từ đó mỗi khi có dịp về thăm quê chồng là tôi đến Chùa lễ Phật và thăm Ðạt, tôi học hỏi ở Đạt thật nhiều. Chính Đạt đã mở cho tôi con đường tìm về với giáo lý Phật, đó là một thiện tri thức của tôi... Thời gian qua nhanh.... Tôi đã dẫn hai con trở về quê cũ ở miền Trung cũng được gần hai năm rồi... Về nhìn cảnh cũ tôi lại nhớ “Thầy Đạt” và những ngày xa xưa thì....
    Bổng một hôm, sau khi đưa hai con đến trường trở về tới nhà tôi thấy có một người mặc quân phục đang đứng trước cửa nhà nhìn vào trong như đang tìm ai, tôi bước tới định hỏi “ông tìm ai” nhưng chưa kịp mở miệng thì người đó quay lại...
    Tôi sững sốt, sao lại là Đạt? (Con người này mang lại cho tôi hết ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác.!!) Không để cho tôi ngạc nhiên lâu hơn nữa, Đạt lên tiếng trong khi cả hai chúng tôi đi qua cái sân nhỏ để vào nhà:
    - Sẵn dịp đi công tác miền Trung, tôi ghé nhà thăm cậu thì cậu tôi nói chị đã về đây từ năm ngoái, tôi sang đây thăm chị...
    Tôi mời Đạt vào nhà, tận tay đưa cho Đạt ly nước mát, tôi vẫn còn chưa hết ngạc nhiên và nghĩ thầm... Tướng Đạt cao lớn, mạnh khỏe lại đóng bộ quân phục với hai bông mai vàng óng ánh trên cổ áo, trông rất oai phong lẫm liệt, nếu mà không có cái đầu trọc có lẽ khối cô mê mết... Qua câu chuyện tôi biết được Đạt đã vào quân đội và là một Tuyên úy Phật giáo với quân hàm Trung úy. Lần này sẵn đi công tác ngang đây nên ghé thăm nhà. Vì vậy chúng tôi chỉ có đủ thì giờ hỏi thăm nhau qua loa rồi Đạt lại đi, Đạt có gởi lời thăm má chồng tôi, Đạt từ giả ra xe, Đạt đến và đi như một cơn gió thổi......
    Việt Nam mấy tháng đầu năm 1975 là thời gian rất căng thẳng, ai cũng cảm thấy có một cái gì đó làm cho ngột ngạt, tình hình chiến sự thật bi đát như mọi người ở lứa tuổi của tôi đều biết nhưng đó không phải là đề tài của bài viết này cho nên tôi xin trở lại với thiện tri thức của tôi!
    Trong lúc mà muôn người như một đều bị dằn vặt giữa hai tiếng “đi” và “ở” thì Đạt đã tìm tới thăm tôi, thời gian đó chồng tôi không mấy khi có mặt ở nhà vì anh cũng là một sĩ quan trong quân đội. Sau một hồi trò chuyện Đạt có hỏi tôi là gia đình tôi có tính chuyện gì không? Tôi hiểu ý Đạt cho nên tôi nói:
    - Chúng tôi không có ý định ra đi, chồng tôi nói, anh đã từng sống ở nước ngoài nhiều năm nên anh thấy rằng sống ở đâu đi nữa, cho dù vật chất có thừa thải cũng không bằng sống trên quê hương của mình. Hơn nữa, nếu thật sự nước nhà có hòa bình thì lại càng nên ở lại để đem tài sức ra góp một tay xây dựng đất nước...
    Đạt cũng tán đồng ý đó. Nhưng tiếc thay! Khi đất nước đã có hòa bình (cứ cho là như vậy) thì những tấm lòng yêu nước đặt không đúng chỗ, những trái tim có nhiệt tình với đất nước bị coi là những trái tim đập sai nhịp đó đã bị dồn vào những trại tập trung để trở thành những người tù không có bản án..!! Trong số đó có chồng tôi và Đạt.!..... Sau mấy tháng không nhận được tin tức của chồng, tôi bắt đầu lo và cũng bắt đầu tập nói láo như họ (VC) để nói với... các con, để an ủi chúng là ba chúng sẽ về.. sẽ về...!
    Rồi vào một buổi chiều, có một người bộ đội VC đến gõ cửa nhà tôi, khi thấy tôi ra anh ta hỏi:
    - Có phải chị là người nhà của Thầy Giác Không không? Tôi nói “phải” thì người bộ đội đó đưa cho tôi một gói giấy rồi lên xe đạp đi ngay... Tôi vội vã trở vào nhà mở ra xem, thì ra trong gói giấy đó có một hộp sữa đặc, nửa kí đường và mãnh giấy nhỏ có giòng chữ ghi vội: “Quà này cho hai cháu, có gặp ba của Bé lúc đi lao động bên ngoài, trông vẫn khoẻ”... như vậy rồi chấm hết... không biết có phải vì vội vàng hay vì bị ra điều kiện mà Đạt không cho tôi biết địa điểm để đi thăm, đó mới là điều tôi cần...? Cũng có thể Đạt sợ rằng nếu tiết lộ địa điểm rồi tôi sẽ nóng ruột rồi dẫn con đi thăm thì sẽ rắc rối....?
    Quả thật, sáu năm sau, khi Thầy được thả về tôi có hỏi thì Thầy nói đó là vì lý do an toàn cho tôi nhứt là không gây nguy hiểm cho chồng tôi trong trại... và Thầy cũng cho biết Thầy đã “tặng” cho tên bộ đội cái đồng hồ đeo tay của Thầy nó mới chịu đem quà đi như vậy... Tôi trách Thầy sao không để lại mấy thứ đó mà dùng cho có chất bổ thì Thầy cười bảo:
    - Các cháu cần hơn, ở nhà chùa tôi ăn chay quen rồi, vô tù cũng ăn chay ngày hai bữa cơm rau và ... nước muối, đâu có khác gì nhau nên tôi chịu được.
    Ở trên tôi đã không nói sai chút nào là trong bất cứ hoàn cảnh nào Thầy đến với tôi Thầy đều đem cho tôi hết ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, từ chuyện cưới vợ giùm, chuyện đi tu, chuyện vào quân đội cho tới chuyện... người ở trong tù lại gởi quà thăm nuôi người ở ngoài...!!
    Ngày Thầy đến thăm mẹ con tôi khi Thầy vừa ra tù, tôi đã mời Thầy ở lại dùng bữa cơm với ba mẹ con tôi. Thầy vui vẻ nhận lời nhưng tôi không nghĩ Thầy nhận lời vì câu nói của tôi:
    - Nhà con cũng chỉ cơm rau chớ không có thịt cá gì cả... Thầy đã ở lại với ba mẹ con tôi cho đến chiều, Thầy dặn dò tôi đủ thứ, nghe Thầy nói mà tôi có cảm tưởng là tôi được Thầy ban cho một bài pháp...
    - Đã là người con Phật, dù có đi chùa hay không có điều kiện để đi chùa cũng nên cố gắng giữ cho được năm giới, đó là căn bản, giữ được năm giới thì không khác nào có Phật ở bên mình.... Phải nhớ và coi câu niệm Phật là cái phao sẽ giúp mình trong mọi cảnh trái lòng....Phải dạy bảo con cái cho nghiêm, đừng vì chúng không có cha lúc này mà chiều chuộng con quá đáng sẽ tạo thói quen không tốt sau này.... Trong hoàn cảnh nào cũng phải chu toàn bổn phận làm con, làm dâu. Nhất là đối với bên chồng, đừng để người ta nghĩ rằng người ta đã mất con bây giờ lại mất dâu và mất cháu... Vắng chồng người vợ đau khổ một, chứ bậc cha mẹ đau khổ mười...Phải chung thủy và phải biết an ủi chồng, mang thân tù tội đã khổ rồi nếu gây thêm cái cảm tưởng bị vợ ruồng rẫy thì sẽ khổ đến bực nào.... Nhất là sau này khi anh ấy mãn tù về, hoàn cảnh xã hội đã đổi khác, cái oai hùng của một phi công khu trục không còn, anh sẽ có mặc cảm là người sống bên lề xã hội thì đừng gây tạo thêm cho anh ấy có cái mặc cảm anh ấy người sống bên lề gia đình...

    Thầy nói rất nhiều, nghe Thầy nói mà xúc động trào dâng trong tôi và nước mắt tôi đã chảy ra khi nào tôi cũng không hay biết, nếu hai con tôi đi học chưa về tới thì có lẽ tôi sẽ để như vậy chớ không buồn lau nước mắt... Tôi cảm động quá... Thầy cho biết, vì hoàn cảnh của Thầy lúc này không trở lại chùa được cho nên mai này Thầy sẽ tìm một nơi vắng vẻ để mà tu, nếu có duyên thì sau này sẽ còn có cơ hội gặp lại nhau... Trước khi chia tay Thầy trao cho tôi một số tiền và nói là để tôi lo cho hai cháu. Thầy cũng cho biết đó là tiền của gia đình Thầy từ ngoại quốc chuyển về để Thầy làm phương tiện vượt thoát ra nước ngoài, nhưng Thầy vẫn không có ý định ra đi và Thầy cũng không cần phải giữ nhiều tiền bên mình. Thầy nói đùa:
    - Làm thầy chùa mà giữ tiền chi cho nhiều.... Nhìn dáng Thầy thong dong bước ra khỏi cửa lòng tôi buồn vô hạn, tôi cảm thấy như có một cái gì trân quý đang rời khỏi tầm tay... Thế rồi từ đó về sau tôi không còn gặp lại Thầy hay nghe tin tức gì về Thầy.... Bây giờ thân mang cuộc sống ly hương có đủ điều kiện hằng đêm tới chùa tụng niệm rồi nghĩ về những điều Thầy đã dạy trước đây và lòng tôi vẫn còn bồi hồi khi nhớ đến Thầy.

    Hôm nay ngồi ghi lại câu chuyện này để nhớ về một người bạn thời thơ ấu và cũng là một người Thầy lúc trưởng thành... Tôi thầm cám ơn Chư Phật, tôi nghĩ Chư Phật đã đưa duyên cho tôi để những lúc gặp cảnh trái lòng, khổ sở đến cùng cực đều có người tốt đến giúp đỡ và chỉ vẽ cho tôi giữ vững tinh thần đi đúng con đường của người con Phật.

    Đối với tôi, Thầy Giác Không là một Đại Bồ Tát, đến hay đi không thấy dấu...
    Diệu Ngọc
    Mùa Đông Quý Mùi 2003

    Leave a comment:


  • Phòng Trực
    replied
    Thư gởi mẹ việt nam -

    THƯ GỞI MẸ VIỆT NAM
    Viết theo lời yêu cầu của người bạn cùng đi biểu tình
    Ngày 10 tháng 6 năm 2018 ở BRISBANE
    thuộc tiểu bang Queensland. Australia
    Trương kim Báu


    Mẹ Việt Nam ơi! Chúng con dân miền Nam đã bỏ quê mà trốn đi vào một đêm mưa gió trên một chiếc tàu nhỏ nhiều năm sau 1975. Chúng con đi mà lòng đau buồn vô hạn, nhưng ở lại trên quê hương nơi đất mẹ sanh ra thì không được coi là con người, những người lính của miền Nam thì bị tù đày nơi rừng sâu, nước độc, bị bỏ đói và làm việc rất nặng, vì tội làm tròn bổn phận của người dân miền Nam khi nội chiến hai miền. Những trẻ thơ con người lính hay công chức không được đến trường, tuổi thơ mất cả tiếng cười, mỗi đêm dân không được ngủ yên trong căn nhà của mình mà bị đánh thức nhiều lần, tâm thần lúc nào cũng căng thẳng, tù tội và nghèo đói rình chờ, chúng con đều biết xa quê hương, xa đất mẹ làm người lưu vong sẽ buồn ơi là buồn.
    Chúng con luôn luôn hướng về đất mẹ và dạy các con cháu nhớ nguồn gốc, nói tiếng Việt, đọc và viết tiếng Việt, học lịch sử Việt Nam và hảnh diện mình là người Việt Con Rồng Cháu Tiên.
    Mẹ ơi ! Mấy đêm ngày nay nước mắt chúng con, những đứa con xa đất mẹ ở khắp các nơi trên thế giới đã chảy,vì biết tin những người anh em cùng một mẹ Âu Cơ đang sống trong lòng quê hương VIET NAM không còn trân quí mẹ. Những người anh em đó muốn cắt ba vùng Vân Đồn miền Bắc, Bắc Vân Phong miền Trung và Phú Quốc miền Nam cho người Trung Quốc thuê đất 99 năm.
    Mẹ ơi! Đất là của tổ tiên chúng con bao nhiêu đời dựng nước và giữ nước, nước mình nhỏ ở gần nước Tàu phương Bắc lớn nhưng họ luôn luôn muốn chiếm lấy nước mình, vì vậy nước Việt bị Bắc thuộc lần 1 rồi lại Bắc thuộc lần 2.
    Đến tháng 2 năm 40 giữa thời Bắc thuộc thứ 2, hai bậc nữ nhi con gái của mẹ đã phất cờ khởi nghĩa đánh cho Tô Định giặc Tàu phải thua, toàn dân không chịu được chính quyền đô hộ của Đông Hán thời đó dùng biện pháp khắc chế, đồng hóa, gắt gao, bốc lột, hà khắc đối với người Việt.
    Hai vị nữ anh hùng của dân tộc đoạt được 65 thành, lập ra quốc gia với kinh thành MÊ LINH ,làm vua xưng là TRƯNG NỮ VƯƠNG hay gọi là TRƯNG VƯƠNG. Dành được độc lập tự do cho nước nhà việc đầu là miễn thuế 3 năm cho dân.
    Đến năm 248 bà TRIỆU ẨU tên thật là Triệu thị Trinh cũng gọi là Triệu Quốc Trinh, lúc đó mới 20 tuổi tài sắc vẹn toàn, bà đã khởi nghĩa ở chân núi Tùng, Phú Điền, Thanh Hoá đánh quân Ngô bên tàu đang cai trị nước Việt một cách hà khắc, độc ác, siêu cao thuế nặng, bắt lên núi lấy ngà voi xuống biển mò ngọc trai, dân tình trăm bề khốn khổ.
    Bà TRIỆU có một sắc đẹp rất yêu kiều, nhiều người muốn kết duyên nhưng bà không muốn mà còn nói:
    Tôi muốn cởi cơn gió mạnh, đạp ngọn sóng dữ
    Chém cá kình ở ngoài biển đông.
    Đánh đuổi quân Ngô, cởi ách nô lệ cho nhân dân.

    Khi bà khởi nghĩa lòng dân vui mừng, lũ lượt từ mọi nơi về dưới trướng của bà. Già trẻ trai gái đều đủ, có bài hát ru con được truyền tụng.
    Ru con, con ngủ cho lành
    Để mẹ gánh nước rửa bành con voi
    Muốn coi lên núi mà coi
    Coi bà Triệu tướng cưỡi voi, đánh cồng
    Túi gấm cho lẫn túi hồng
    Têm trầu cánh phượng cho chồng ra quân.

    Mẹ ơi! Xin mẹ hảnh diện vì năm 938 đứa con trai của mẹ là Ngô Quyền đã đại thắng quân Nam Hán do Lưu Hằng Tháo cầm quân. Trận Bạch Đằng, trận đấu này chấm dứt 1000 năm Bắc thuộc, nước Việt bị giặc Tàu đô hộ. Tổ tiên chúng con đã anh hùng dành lại độc lập và tự do cho toàn dân.
    Núi sông nước Nam thì vua Nam ở
    Cương giới đã ghi rành rành ở trong sách trời
    Cớ sao lũ giặc bạo ngược kia dám đến xâm phạm?
    Hết nước tàu phương Bắc đến quân Mông Nguyên Mông Cổ không để yên cho dân tộc Việt, họ lại đem quân qua xâm lấn lần thứ 1. Năm 1285 Trần Bình Trọng liều chết đánh chặng giặc Mông Nguyên lại, để cứu vua Trần. Lúc đó Trần Bình Trọng mới 26 tuổi,
    Thà làm quỷ nước Nam.
    Chứ không thèm làm Vương đất Bắc.
    Câu nói của Trần Bình Trọng lưu lại muôn đời, vinh hoa phú quí không mua chuộc được lòng yêu nước, đã gạt tình riêng để làm tròn nhiệm vụ của người trai, lòng yêu nước của người dân Việt sáng ngời.
    Năm 1283 quân Mông Nguyên đánh nước Việt lần thứ 2, Trần Hưng Đạo được phong Quốc Công tiết chế thống lãnh quân đội cả nước, trên cương vị này ông lãnh đạo quân sĩ chận đánh quân xâm lược Thoát Hoan.
    Năm 1288 quân Mông Nguyên trở lại đánh nước Việt lần thứ 3. Trần Hưng Đạo dùng kế cũ của Ngô Quyền đánh bại hoàn toàn thủy quân của các tướng Phàn Tiếp, Ô Mã Nhi trong trận Bạch Đằng nước Việt thắng trận này rất vẽ vang, quân Mông Nguyên không còn giám xâm lăng nước Việt nữa.

    Đây Bạch Đằng giang sông hùng dũng của nòi giống Tiên Rồng
    Giống Lạc Hồng Nam Bắc Trung.
    Mây nước thiêng liêng còn ghi chép rành
    Thời liệt oanh của bao người xưa trung chánh
    Vì yêu quốc gia vui lòng hiến thân
    Liều mình ra tay tuốt gươm bao lần
    Dòng nước trắng xóa dưới trời quang đãng
    Từ xưa nêu cao tấm gương anh hùng
    Dù có sấm sét bão bùng mưa nắng
    Bạch Đằng giang vẫn cho nòi giống soi chung.
    (Bài hát Bạch Đằng Giang, tác giả Lưu hữu Phước, lời Nguyễn thành Nguyên)


    Rồi nước Việt lại rơi vào tay người PHÁP, bị đô hộ 100 năm có rất nhiều người con của mẹ đứng lên khởi nghĩa 1904 như Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp, Phan Đình Phùng v. v.
    Khởi nghĩa năm 1930 Nguyễn Thái Học, hai chị em Cô Giang Cô Bắc v.v.
    Những người trai ở thế hệ chúng con cũng luôn luôn bảo vệ từng tấc đất, từng hải lý, chúng con tâm niệm TỔ QUỐC, DANH DỰ, TRÁCH NHIỆM lên trên hết. Dù sống trên quê hương hay nơi đất khách thì đất mẹ vẫn là thiêng liêng nhất, chúng con luôn hướng về quê hương và đem hết sức mình truyền dạy con cháu lòng yêu nước, hy vọng một ngày nào trời sẽ quang đãng, ánh sáng chói rực xua tan những đám mây đen không còn, đàn chim Việt viễn xứ sẽ bay về đất mẹ, những bàn tay nắm lấy bàn tay xây dựng để thành một nước mạnh, vươn mình lên thành con Rồng cùng các nước bạn ở vùng trời Châu Á.
    Mẹ ơi! Bốn triệu người dân Việt rời đất mẹ bằng nhiều cách và lưu lạc khắp năm Châu, còn biết bao người đã bỏ thây ở rừng sâu hay biển cả.
    Ngày nước nhà thống nhất, người anh em miền Bắc của chúng con không mở rộng trái tim đón lấy những người anh em miền Nam để cùng xây dựng lại quê hương. Sau những năm tháng dài nội chiến triền miên, mà người miền Bắc trả thù, gạt đi học 1 tháng mà bỏ tù nhiều năm, có người đến 14 hay 15 năm mới được thả về, chiếm lấy nhà cửa, bắt đi vùng kinh tế mới, phá luôn nghĩa địa của người lính niềm Nam, lấy hận thù làm phương châm cai trị.
    Ngày 12 tháng 4 năm 1861, nước Hoa Kỳ hai miền Nam và Bắc cũng nội chiến, nhưng khi bên miền Nam đầu hàng ngày 9 tháng 4 năm 1865, vị tư lệnh miền Bắc là tướng Ulysses. S Grant ra lệnh nghiêm cấm các sĩ quan và binh sĩ trực thuộc không được tỏ ra bất cứ hành động nào vô lễ với tướng Robert E. Lee tư lệnh miền Nam bại trận.
    Lá cờ rách của miền Nam thua trận treo tại thủ đô RICHMOND bây giờ là bảo vật hào hùng của bảo tàng viện hàng đầu, ở Mỹ coi hình ảnh tướng Lee của niềm Nam là một vị anh hùng.

    Trả lại đây cho nhân dân tôi
    Quyền tự do, quyền con người
    Quyền được nhìn, được nghe, được nói
    Quyền được chọn chân lý tự do
    Quyền xoá bỏ độc tài độc tôn.
    ..........
    Trả lại đây quyền chính đáng của người dân
    Dân biết chọn gì cho mình
    Cho thái bình non nước VIỆT NAM.
    (Bài hát Trả lại cho dân, tác giả Duy Quốc Nam)

    Thế hệ thứ nhất bỏ nước ra đi nay đã già, nhưng mẹ ơi! Càng già thì càng nhớ quê hương hơn, nhớ đất mẹ quay quắt, chúng con mong một ngày quê nhà được thanh bình tự do, chúng con về lại làng quê xưa, bà con đón chào, muôn chim reo vui, đêm trăng quay quần ca hát bên ánh lửa hồng, đi trên cánh đồng lúa xanh tươi ngửi được mùi thơm của lúa, nghe lại tiếng hát câu hò của trai gái vào mùa gặt, được ăn lại những món ăn thơm hương tình ruộng đồng.
    Thế hệ thứ hai chúng con thật giỏi đã từng làm vẽ vang Dân Việt ở nhiều nước trên thế giới về nhiều lĩnh vực.
    Thế hệ thứ ba cũng bắt đầu có một số trưởng thành, đây là thế hệ tương lai rực rỡ, thế hệ được sanh ra ở những quốc gia tự do đủ điều kiện tinh thần và vật chất, các môn học được mở rộng đủ mọi lãnh vực thêm vào sự chỉ dạy và hướng dẫn của thế hệ thứ nhất và thứ hai. Đó là những chất xám được đào tạo mọi nơi trên thế giới. Những bàn tay của thế hệ thứ 2 và thứ 3 mà cùng nắm tay với những bàn tay của dân trong nước, để xây dựng đất mẹ thì quá tuyệt vời.
    Nhưng mẹ ơi, ngày mơ ước chưa đến, tuổi đã già chúng con làm được gì đây?
    Những học sinh lớp ba đều biết nước Việt Nam hình cong chữ S, giang sơn từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau. Lời của Phi Khanh sao vẫn còn thoảng thốt đâu đây nhưng than ơi!

    Ải Nam Quan đã mất rồi.
    Ải Nam Quan ơi ta đã mất tên em
    Như một phần hồn tự nghìn năm
    Lòng ta đau như ai đem dao
    Xé nát da non cứa trên thịt da.
    .........
    Ai đem hình hài
    Giang sơn đọa dày
    Cho thân lìa cành
    Cho cây lìa đất
    Cho ta lìa cội
    Như sông bỏ nguồn
    (Bài hát Vọng Nam Quan, tác giả Phan văn Hưng và Nam Dao)


    Đất mẹ từng bị thải nhiều chất độc từ các nhà máy của người Tàu, ở khắp cả ba miền Bắc Trung Nam, rừng đã bị đốn cây không còn một màu xanh nữa, những loài thú hiếm tuyệt chủng, mùi hương của những loài hoa rừng không còn giống để tỏa hương thơm, đất ruộng đã nhiễm độc thành màu đen xám, biển xanh ngày nào nay đã nhiễm độc cá chết nỗi lên trắng biển, cánh đồng lúa mênh mông không còn mùa gặt lúa, vắng tiếng câu hò giọng hát ngày nào.

    Trường sa là máu của ta
    Hoàng sa là thịt của ta
    Đất nước ta là xương là máu ông cha để lại
    Quân bành trướng đừng mong xâm lấn
    ...........
    VIỆT NAM nòi giống Lạc Long
    Cùng nhau thề nguyền ĐỒNG TÂM
    Quyết đứng lên dựng xây TỔ QUỐC thân yêu TRƯỜNG TỒN.
    (Bài hát Phải lên tiếng, tác giả Anh Bằng)


    Mẹ ơi! Trường sa và Hoàng sa đã về tay giặc Tàu, đây là người anh em miền Bắc của chúng con ký tặng. Đất là nơi thiêng liêng của tiền nhân để lại, đâu phải là của riêng mà người anh em miền Bắc có toàn quyền, nay những dân Việt ra biển đánh cá bị Tàu Cộng đánh chìm, bắt hay giết chết.
    Mẹ ơi! Năm 1284 khi quân Nguyên bên Tàu qua muốn xâm chiếm nước Việt, Thượng Hoàng Trần Thánh Tông triệu tập các bô lão HỘI NGHỊ DIÊN HỒNG hỏi ý toàn dân.

    Trông quân Nguyên tàn phá non sông nhà.
    Đoạt thành trì toan xéo giày lăng miếu
    Nhìn bao quân Thoát lan xâm tràn nước ta
    Ôi sông núi nhà rền tiếng muôn dân kêu la!
    Trước nhục nước nên hòa hay nên chiến?
    Quyết chiến!
    Trước nhục nước nên hòa hay nên chiến?
    Quyết chiến!
    Quyết chiến luôn
    Cứu nước nhà
    Nối chí dân hùng anh
    Thế nước yếu lấy gì lo chiến chinh?
    Hy sinh.
    (Bài hát Hội nghị Diên Hồng, tác giả Ý Phương, Nguyên Khang)


    Mẹ ơi! Người anh em miền Bắc của chúng con quên lịch sử ? Quên những lần nước Tàu phương Bắc xâm lăng nước Việt và đã 1 ngàn năm đô hộ thật ác độc với con dân nước Việt rồi?
    Đã dâng Trường sa ,Hoàng sa, Ải Nam Quan rồi.
    Tại sao nay lại muốn dâng VÂN ĐỒN, BẮC VÂN PHONG, PHÚ QUỐC cho Tàu Cộng, đó là những địa điểm trù phú và trọng yếu của nước Việt, người anh em của chúng con cũng tập họp hội nghị, nhưng mẹ ơi, đó là hội nghị BÁN NƯỚC.
    Chúng con đã khóc và cầu nguyện hồn thiêng sông núi nước VIET NAM, cầu nguyện Mẹ VIET NAM phù hộ cho nước VIỆT có tự do thanh bình, toàn dân ấm no, những người anh em đang ở trên đất mẹ hãy tỉnh ra và yêu thương VIET NAM thật sự, đừng cắt từng miếng thịt của Mẹ mà bán ăn, hãy dừng tay lại kẻo sau này mang tiếng đời đời là kẻ bán nước hại dân. Một đời người chỉ sống đến 1 trăm tuổi là hết, đừng để con cháu người anh em đó muôn đời nhục nhả không ngất đầu lên, không giám nhìn ai hết.

    Trăm năm bia đá thì mòn
    Nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.


    Hôm nay ngày 10 tháng 6 năm 2018, chúng con 4 triệu người con VIỆT ở khắp nơi trên thế giới cùng với 93 triệu người VIỆT đang ở trên đất mẹ, cùng một lòng đứng lên biểu tình đòi người anh em đang lãnh đạo ở đất mẹ hãy dừng tay đừng bấm nút bán nước Việt cho giặc Tàu .

    Hãy biết yêu quê hương VIET NAM
    Hãy biết đau nỗi đau người dân
    Ải Nam Quan, Hoàng Trường sa
    Một ngàn năm giặc phương Bắc
    Quê hương mình rồi sẽ ra sao?
    Hãy biết yêu quê hương VIET NAM
    Đừng thờ ơ, đừng làm ngơ
    Triệu con tim, cùng bước tới
    Chúng ta là dòng giống Lạc Hồng.
    (Bài hát Triệu con Tim, tác giả Trúc Hồ)


    Mẹ ơi, mẹ có nghe tiếng kêu của chúng con không? Mẹ có nhìn thấy những giọt nước mắt vui mừng chảy dài trên đôi gò má của đàn con mẹ không? Vì ngày hôm nay tất cả các nước trên thế giới có người trị nạn Việt Nam đều biểu tình cùng ngày với các tỉnh Bắc, Trung, Nam ở quê nhà. Chúng con những người xa quê cùng những người dân ở nơi quê nhà đã đoàn kết lại cùng nắm tay nhau một lòng dành lại độc lập cho Việt Nam.


    Xin mẹ hãy yên lòng chúng con vẫn còn đây.
    Anh em ơi xin hãy làm ánh đuốc
    Trong đêm trường sáng soi nẻo đường quê hương
    Đêm thâm u đêm ngục tù non nước
    Cháy bùng lên lửa cương quyết phá tung gông xiềng.
    .........
    Sáng trong gió mưa mịt mùng
    Sáng trong bão giông trùng trùng
    Lửa thiêng hỡi bùng lên trong lòng nước tôi
    Anh em ơi xin hãy làm ánh đuốc.
    (Xin hãy làm Ánh Đuốc, nhạc Nguyệt Ánh)
    Hãy biết yêu Quê hương VIET NAM
    Hãy đứng lên cháu con Rồng Tiên.

    Leave a comment:


  • Phòng Trực
    replied
    đi bộ quyên tiền cho hội nghiên cứu ung thư ngực

    ĐI BỘ QUYÊN TIỀN CHO HỘI NGHIÊN CỨU UNG THƯ NGỰC
    Trương kim Báu




    Hôm nay là chủ nhật thứ nhì trong tháng 5 năm 2018, cũng là ngày Mother’s Day, ngày mà toàn nước Úc tổ chức cuộc đi bộ để quyên tiền cho hội nghiên cứu ung thư ngực.
    Trời Queensland hôm nay rất đẹp, tia nắng ấm xua mất cái lạnh về đêm, những cơn gió nhè nhẹ làm con người cảm thấy phấn khởi và dễ chịu.
    Con gái, cháu ngoại và tôi theo gia đình Phật tử Chánh Tâm đi bộ ủng hộ cuộc gây quỹ này.
    Đúng 7. 30 am mọi người phải có mặt ở điểm hẹn BRISBANE ABC STUDIO, gần công viên SOUTHBANK. Đó là công viên bên bờ sông có những con đường với hai hàng hoa giấy chụm đầu vào nhau nở rực. Xuyên qua những bãi cỏ xanh, hoa lớn nhỏ đủ loại hài hòa vào nhau tỏa hương thơm ngào ngạt.

    Một buổi sáng cuối tuần
    Sương mai đọng gót chân
    Nắng hiền hòa vẫy gọi
    Đời nhẹ nhàng êm trôi

    Cỏ xanh biếc quanh tôi
    Hàng cây xinh khoe dáng
    Bầu trời trong, mây sáng
    Chân nhịp nhàng, thênh thang. (Mai Hồng Thu)


    Cô đoàn trưởng của Chánh Tâm điểm danh số người có mặt là 70 như đã ghi tên trước, rồi đến trình ban tổ chức để lấy số thẻ cho mỗi người đeo trước ngực, đồng phục của Chánh Tâm là áo màu tím có thêu chữ Chánh Tâm, phụ huynh mặc áo màu hồng là đồng phục của ban tổ chức.

    Đoàn chia đều ra 4 đội, gồm có phụ huynh, thanh nữ, thanh nam, thiếu nữ, thiếu nam và oanh vũ nữ nam để trên đường đi giúp đỡ lẫn nhau và cùng chăm sóc các em oanh vũ. Từng đội đến sắp hàng đi qua các lều để nhận chiếc nón và giỏ xách đều màu tím có khắc chữ HESTA. Và những lều khác là thức ăn đủ loại như chuối, các thứ trái cây làm thành nước uống, Yaourt và kem, bánh, donut, kẹo, hột chia v.v... Pharmacy cho các loại kem thoa tay, mặt v.v... Các nhà tài trợ khác cho ví, nón, hình dán, cột tóc v.v...Có nơi giữ đồ đạc để mọi người đi bộ khỏi mang nặng.

    Đúng 8. 30 am, tất cả các đoàn thể tập trung ở điểm khởi hành, có hướng dẫn viên tập thể dục làm nóng cơ thể. Đài tivi quay phim, trên loa nói ý nghĩa của ngày Mother’s Day.

    Ôm gối mộng xoay vòng tâm khảm
    Cha Mẹ già hình cảm tim ta
    Ghi ơn tình nghĩa bao la ...
    Cám ơn người đã cho ta cuộc đời !(Kim Minh)


    Bắt đầu khởi hành tôi đứng hàng phía ngoài, một cô làm trong đài tivi tiến đến tôi cười thân thiện và chúc vui vẻ. Có lẽ cô thấy một bà già Á châu với những sợi tóc bạc trắng nổi trên vành nón tím làm cô chú ý chăng?

    Một lời khuyên răn, một câu an ủi
    Dịu dàng như bóng mát của vòm xanh
    Tôi cúi xuống níu dây giày siết lại
    Tự tin hơn trên mỗi bước bộ hành (Lê Minh Quốc)


    Nhiều người lớn tuổi đứng bên ngoài, chào con cháu hẹn gặp lại ở công viên để tổ chức Mother’s Day, loa vang vọng chúc mừng ngày của mẹ và tất cả mọi người. Một tiếng còi báo hiệu cuộc đi, sau lưng của một số người họ đeo hình người thân, mẹ, cha, vợ, chồng hay con cái, ghi những lời thương yêu như “I love my mum. We love you” v.v...

    Cùng nhau là nghĩa tương tri
    Có duyên hội tụ mấy khi trong đời.
    Trên môi hé nở nụ cười
    Sống vui, mạnh khỏe làm người nghĩa nhân (Phan Hạnh)


    Đoàn người đi gồm đủ mọi sắc tộc, tiếng nói và hình dáng bên ngoài khác nhau, di dân đến đây mỗi hoàn cảnh nhưng hôm nay họ đã là người Úc, cùng một quốc gia hào phóng, họ thương yêu xứ sở lòng trắc ẩn nhân đạo thật tròn đầy, không còn phân biệt màu da và chủng tộc. Sáng nay gặp nhau thân mật, nói lời chào hỏi nụ cười dễ dàng trao nhau không e ngại, những bàn tay cùng nắm bàn tay góp phần xây dựng cho nước Úc thật tốt đẹp hơn.

    Dâng Úc cả nụ cười, nước mắt
    Đời cho ta khoảnh khắc buồn vui
    Đoàn người lũ lượt về xuôi …
    Có ta trong ấy ngoai nguôi cõi lòng


    Đoạn đường dài 4. 50 km, trên đường đi qua nhiều người chờ đón chào xe cảnh sát, xe cứu thương đậu sẵn đề phòng chuyện bất trắc. Tất cả đi trong im lặng, nếu có nói chuyện họ nói rất nhỏ, tôi trân quí những giờ phút này và theo dõi từng bước chân mình chạm trên mặt đất.

    Ta đi đi không có gì ràng buộc
    Ta đi đi không hướng vọng tương lai
    Ta đi đi quên cả tháng năm ngày
    Ta đi đi từng bước chân trong hiện tại (Thích Phước Thái)


    Mới đi ½ km thì một em Oanh Vũ nữ mỏi chân, chị thiếu nữ Chánh Tâm trong đoàn không nói tiếng nào ngồi xuống kề vai cổng em lên, cứ thế trong đoàn các anh chị lớn thay nhau cổng các em, một hình ảnh thật đẹp nói lên tinh thần trách nhiệm, tình đồng đội và sự đoàn kết thương yêu.
    Nắng bắt đầu lên cao, con đường đi bằng phẳng không lên đèo xuống dốc nhưng với tuổi già, mồ hôi tôi cũng bắt đầu chảy. May quá, ra bờ sông một con đường rộng chạy dài dọc theo con sông, hàng cây dài bóng rập lối đi, gió thật mát làm mệt nhọc tiêu tan.

    Nầy ai ơi cuộc sống
    Sống không phải riêng ta
    Sống trải rộng chan hòa
    Sống thương khắp mới thật là an vui (Thích Phước Thái)


    Bên kia bờ, những phố lầu cao là thành phố chính của Queensland, cách xa xa có một cây cầu bắt ngang qua. Đoàn người đi được 3 km thấy từng bàn hai bên đường là những ly nước mát lạnh, với cái vẩy tay và nụ cười mời gọi ai cũng ghé vào. Tay cầm ly nước, tôi uống từng ngụm nhỏ để cảm vị ngọt của nước thấm trong tôi như tình thương xứ sở này cưu mang bao bọc tôi từ khi được nhận vào. Ôi quê hương thứ hai của tôi tuyệt vời quá, đất rộng dân hiền với tấm lòng bao la, nhìn đâu cũng thấy thân thương, cũng thấy lòng nhân ái.

    Quá khứ đã chết trong miền hoang dại
    Và tương lai.. gạo sống chửa thành cơm.
    Hiện tại này con trân quý, cảm ơn
    Lòng thanh thản.. đời hoa thơm, trái ngọt. (Thích Tánh Tuệ)


    Một người đứng trên lối đi cầm bản đưa lên cao cho biết còn ½ cây số là đến đích. Hai người già ông đẩy chiếc xe lăn chở vợ, ông bà ra đón đàn con cháu đi bộ. Cả gia đình líu lo ôm nhau, hai người già nhập vào đoàn cùng đi.

    Tiếng kèn trống của ban nhạc hòa giọng hát cất cao chào đón đoàn người đến đích, tiếng reo vui trên máy của ban tổ chức đón đoàn người trở về, mỗi người được choàng một mề đay vào cổ. Tôi liên tưởng tới đoàn quân chiến thắng, họ chiến thắng được tính lười biếng và lòng ích kỷ của chính mình để cùng phụ một bàn tay diệt tế bào ung thư ngực.

    Gia đình Phật tử Chánh Tâm tụ họp nhau trên bãi cỏ xanh, dưới những bóng cây sứ gần bên con đường hoa giấy đang nở rộ khoe sắc đỏ. Một số em đi lấy đồ ăn các em thích từ các căn lều, cô đoàn trưởng Chánh Tâm đang đứng chờ ông bà Thanh và cô Trinh, tình nguyện viên làm đồ ăn trưa cho đoàn. Phần ăn trưa được chuyền đến từng người là một hộp mì xào chay còn nóng với một bánh bông lan và trái quít to. Tất cả các em đều chắp tay cầu nguyện cúng Phật trước khi dùng.
    Ông bà Thanh và cô Trinh nói vì hôm nay là ngày Mother’s Day, đáng lẽ phần tiền này mua quà cho mẹ nhưng họ lấy tiền mua thức ăn cho đoàn người đi bộ mong rằng nếu được chút phước báu nào thì dành hết cho mẹ.

    Mẹ là tổ ấm mái nhà
    Tình thương, cao cả, bao la, dạt dào
    Lời mẹ dạy bảo ngọt ngào
    Hiền từ, âu yếm, xiết bao ân tình
    Mẹ là nắng ấm bình minh
    Là bông hoa cúc đẹp xinh sáng ngời
    Ơn mẹ biển rộng mây trời
    Không gian ấp ủ cho đời con tươi. (Phan Huỳnh Vân Anh)


    Nhiều gia đình các sắc tộc khác cùng ngồi trên bãi cỏ dưới những tàn cây họ chọn hưởng ngày mẹ vui vẻ. Nhóm nướng BBQ thì tới một nơi được chỉ định để mùi của thịt cá không làm lan tỏa ra làm mất đi mùi hoa hương tự nhiên.

    Cỏ nào như lớp nệm êm
    Cho đời hạnh phúc bồng bềnh phút giây
    Ngồi đây hương cỏ ngọt say
    Giữa trời thoảng gió lá bay vẫy chào.


    Ban tổ chức làm tiệc và mời những bà mẹ đến dự, bốc thăm phát quà cho những người trúng có số mang trên ngực khi đi, Phật tử Chánh Tâm được mời đến nhận quà lưu niệm là một tấm huy chương vì đoàn đông nhất kỳ này, loa lại kêu xin mọi người đến chia bớt thức ăn như chuối, 400 cái bánh donut, vì thức ăn đủ loại còn quá nhiều, các lều phải dọn dẹp để về.

    Các em phật tử cùng nhau chơi trò u môi, ca hát, đố vui.
    Tôi nằm dưới thảm cỏ xanh để cỏ ôm vào lòng, trời ấm nhiều tiếng chim hót, mùi thơm của những loài hoa, thật bình yên lắng lòng để nghe lại những lời thỏ thẻ của bốn cháu nội, ngoại gọi từ Melbourne lên hôm qua. Chúng con gởi tiền ủng hộ bà ngoại đi bộ, đó là tiền lì xì hôm tết của tụi con. Bà ngoại ơi! Bà phải khỏe thật khỏe. Bà ngoại ơi, hết mùa đông bà về liền phải không? Bà nội ơi! Con yêu bà nhất trên đời. Bà ngoại ơi, con nhớ bà nhiều!

    Con lập gia đình, bước vào ngã rẽ
    Mẹ xẻ chia, những kinh nghiệm đời người
    Cháu ngoại ra đời, mẹ sáng niềm vui
    Cháu nội, vỗ về, à ơi sớm tối. (Trần Thảo)


    Tôi đã dạy các cháu tôi một bài học về tình người, sự chia xẻ và bổn phận của người công dân trên xứ sở này không phải là lời nói mà bằng hành động của chính mình.
    Xin cảm ơn xứ Úc tuyệt vời này đã cho tôi cuộc sống đầy đủ và bình yên ở tuổi già, bên tôi có nhiều tình thương bao bọc che chở.

    Cảm ơn người rất nồng nàn
    Cám ơn đời vẫn dịu dàng bao dung. (Ngọc Thùy Khanh)


    ***

    Ghi chú:
    Muốn vào đoàn đi bộ phải ghi tên trước và đóng một số tiền, tuổi còn lao động 35 Aud, tuổi già 25 Aud và trẻ em 20 Aud. Tiền đó cúng luôn cho hội.
    Mỗi người đi bộ tự xin tiền trong gia đình, con cháu, bạn bè. Mỗi khi ai cho tiền, tên mình được vào Website nhưng ban tổ chức giữ, người đi bộ không được quyền lấy tiền từ website ra, nhưng vẫn biết tên và số tiền ai cho mình.








    Leave a comment:


  • Phòng Trực
    replied
    Mộ Địa Nguyễn Văn Dọng

    Mộ Địa Nguyễn Văn Dọng
    Một cánh chim đã tìm về Cố Quận


    Trương kim Báu


    Biết đời mình rong rêu
    Thì ngại gì mưa nắng
    Biết nẻo về tang trắng
    Ngại gì bàn tay không.

    Đứng trước ngọn gió đông
    Cười cành hoa năm cũ
    Đôi khi mình du thủ
    Để thấy mình mênh mông.

    Biển dẫu động ngày đêm
    Sóng tan về với nước
    Ta một đời xuôi ngược
    Thoảng bóng gầy khôn nguôi.

    Nay mượn thân cát bụi
    Sống trọn kiếp phù du
    Bước ngang bờ hư thực
    Ca lên lời thiên thu. (Thông Nhã)


    ***

    Ở Melbourne mùa đông trở nên lạnh lẽo lẻ loi hơn khi cánh chim yêu dấu của tôi đã ra đi, nên tôi tìm đến Queesland có ánh mặt trời cùng tia nắng ấm để vơi đi nỗi cô đơn khắc khoải.

    Ta giờ đây, ngồi ôn bao kỷ niệm
    Sầu mênh mang thương nhớ cũng mênh mang
    Tóc bạc màu tình cũng đang chết lịm
    Sương rơi nhiều...buồn trắng cả không gian. (N.P. Ngọc An)


    Mở vali, soạn một số giấy tờ cần thiết trước lúc rời nhà, tôi thấy một phong bì lớn từ Mỹ gởi cho anh. Từ năm 1963 đến 1973, rất nhiều giấy chứng nhận học Anh văn ở Mỹ và nhiều bằng lái máy bay như C47, T28, A1 Skyraider, A1 37.


    Ngày di tản vào Sài Gòn tôi chỉ đem Passport của anh, thẻ vào cửa ngân hàng của tôi và giấy khai sanh của 2 con. Tất cả đều để lại, vì tôi không nghĩ một lần ra đi là tất cả chẳng còn gì. Ngày anh đi cải tạo tôi cũng nghĩ 1 tháng rồi về, con gái nhỏ khóc khi đêm vắng hơi cha, tôi bày cho con mỗi chủ nhật đếm 1 ngón tay. Con đếm chưa hết 5 ngón tay thì ba sẽ về.

    Người ta yêu cũng một chiều tạm biệt
    Tiễn người đi mà lệ ứa hai hàng
    Đời phi công vẫn một lòng tha thiết
    Với non sông đang rũ một màu tang. (Nguyễn Phan Ngọc An)


    - Me ơi ! con đếm đủ 10 ngón tay và luôn cả 10 ngón chân nữa, Ba đâu rồi ? Con muốn ba!

    Bé khóc òa. Tôi ôm con, vừa đau lòng vừa mắc cỡ vì không ngờ con âm thầm đếm thật, bây giờ không biết dỗ dành bé sao đây? Anh đi tù thật rồi! Những địa danh anh ở sao xa lạ quá! Nào là Hoàng Liên Sơn, Hà Nam Ninh, Thái Sơn, Yên Bái Thái Nguyên. Quá khác so với những vùng trời quen thuộc anh đã bay qua như Pleiku, Kon Tum, Phù Cát, Tuy Hoà, Qui Nhơn v.v...

    Em đang sống hay là đang tồn tại???
    Mà mỗi ngày lại cảm thấy chênh chao
    Nỗi nhớ anh như sóng biển thét gào
    Cứ trào dâng trong lòng cao chất ngất. (Phương Tâm)


    Những ngày anh trong tù miền Bắc, em ở lại miền Nam, mình cùng chung một dãy hình cong chữ S trên đất mẹ Việt Nam, nhưng trăm ngàn khó khăn khi thư từ qua lại. Ba tháng mới nhận được một lá thư, chữ anh không đầy trang giấy. Trong thư, những danh từ xa lạ học tập lao động, không có những lời nhung nhớ thương yêu, không có những cái hôn ở cuối thư cho vợ hiền. Em đã cố vui vì con, em như một loại hoa khô héo, cần không khí, cần tia nắng ấm, cần giọt nước, cần bàn tay săn sóc, cần ánh mắt, em cần anh.

    Anh đã xa - phố không còn nắng
    Chỉ mưa về réo gọi đời nhau
    Bốn bức tường, không gian quạnh vắng
    Ôm nỗi sầu ủ kín hồn đau

    Ngày đã xa - đêm không còn mộng
    Tiếng thở dài vang vọng giấc khuya
    Loài thạch sùng nằm im bất động
    Con nhện buồn giăng lưới bên kia. (Vũ Hữu Toàn)



    Em hiểu, là vợ của người phi công em không làm anh thất vọng, vì đã là hoa, không nhất định phải lẫy lừng khoe sắc, nhưng biết tỏa hương thơm ngan ngát cho đất trời.

    Ở trong tù anh đã chịu muôn ngàn đau khổ vì đói khát và bệnh tật, vì làm việc rất nặng nề cộng thêm bị áp đảo tinh thần v.v... Thư anh gởi về xin nhiều loại thuốc bởi 2 chân anh bị sưng, ngứa, đau nhức, chảy nước vàng. Đầu, tay, chân buốt lạnh tê cóng và nứt nẻ, mỗi buổi sáng phải đi cưa gỗ trong rừng sâu. Em chạy tìm nhiều loại thuốc anh cần, đem ra bưu điện gởi không được vì không có phiếu gởi quà, em như người điên vì sợ bệnh làm anh ngã gục. Em đâu biết rằng người phi công như loại cây cổ thụ, có thể cành lá không tốt tươi nhưng rất kiên cường đứng thẳng. Em viết thư cầu cứu các cháu bên Pháp gởi thuốc thẳng đến trại tù cho anh, may mắn làm sao! Thuốc cũng đến được tay anh.

    Tình ta đó, muôn đời câu bất diệt !
    Đêm thu dài em viết những vần thơ
    Gởi về anh nơi chốn ấy xa mờ
    Bao ngày tháng ước mơ còn xa quá. (Nguyễn thị Liên)


    Khi chuyển trại gặp một vị tuyên úy Phật Giáo ở cùng đội, anh học được cách sống thật giản đơn là loại tài sản của một bậc chân tu cao quý với khí chất hiếm hoi, không mấy ai có được. Từ đó anh bắt đầu đơn giản mọi nhu cầu, đơn giản trong cách nhìn nên lòng anh khoáng đạt, bao la. Anh bắt đầu niệm Phật theo từng hơi thở ra vào, theo từng động tác, từng bước chân nên việc vất vả nặng nhọc như hạ những cây to hay cưa xẻ gỗ lớn ra từng miếng, không làm anh chán nản, lo sợ, buồn phiền như những ngày trước, vì nay anh biết cách sống chánh niệm trong từng giây phút hồn nhiên, bằng lòng và chấp nhận hiện tại như một trãi nghiệm cuộc đời.

    Trúc nương theo gió lay
    Lòng trúc không xao động
    Sự đời dẫu đổi thay
    Tâm vẫn thường rỗng lặng. (Viên Minh)


    Ở miền Nam em tình cờ biết được chỗ mua những phiếu gởi quà. Vậy khi em có tiền của người thân gởi về là anh có quà, anh sống lặng lẽ như một dòng nước qua bao thác ghềnh nhưng dòng nước vẫn trong suốt, thanh tịnh, hiền hòa. Như cuối năm 1973, cuộc di tản từ Kon Tum về Sài Gòn, anh được Không Đoàn cử là nhân viên điều hành cho dân chúng cao nguyên lên máy bay di tản. Đối diện cùng tháng ngày bấp bênh nội chiến của quê hương, không có giai cấp trong dòng máu cùng đỏ và nước mắt cùng mặn, nên khi dân giàu có đút lót bạc tiền mong giành quyền ưu tiên đi trước, anh đã dứt khoác từ chối sự hối lộ này.

    Ngày ngày gần vị chân tu, lòng anh mở rộng thêm, anh chia phần ăn mình đến bạn bè cùng cảnh ngộ. Có một ngày anh chia phần quà em gởi cho một người đàn bà có bầu gầy yếu xanh xao đứng ngoài hàng rào kẽm gai, nơi anh đang bị tù.

    Vô minh, minh cũng một vần
    Rời trần ta lại vào trần thong dong
    Biết đâu diệu hữu chân không
    Làm người, làm Thánh cũng đồng chữ tâm. (Viên Minh)

    Ở trong Nam, em cũng giúp đỡ những cán bộ già nua, nghèo khó họ
    tập kết về. Em nghĩ họ cũng vì nước non nhưng họ đã đi lầm đường,
    bây giờ là họ phải trả, nên em nhận đơn lấy lời phê rút tiền cho thân
    nhân họ để người cán bộ già, nghèo kia sau những năm bỏ bê gia
    đình nay ít nhất cũng làm được một điều tốt cho vợ con. Mọi người
    đều nhờ bà con bên phe thắng trận làm đơn bảo lãnh người thân ở tù.
    Gia đình 2 bên nội ngoại mình không có dòng họ bên kia, nên em tự
    làm đơn bảo lãnh chồng mình, ai cũng nói em điên, ngụy quyền lại
    bảo lãnh ngụy quân.

    Anh ơi ! Đơn em làm cũng được thẩm quyền bộ nội vụ và bộ công an Hà Nội trả lời, gần như mỗi 2 tháng em làm lá một đơn, lúc tên em, tên ba, tên má, tên chị Năm, có khi tên các con, chỉ cần đưa ngân hàng nơi em làm và phường khóm xác nhận, có nhiều con dấu đỏ là được.

    Mai anh về, quê hương mình còn đó
    Hái dùm anh một nhánh cỏ bên đường
    Để lên môi nhắm thử một tình thương
    Có còn vị mặn mà như ngày cũ. (Hoa Độ)


    Ngày anh được thả về cuối năm 1982, em đi làm về vác chiếc xe đạp lên tận lầu 2, nhà mình rộng quá nên chính phủ chia cho mọi người vào ở chung. Anh vội bước ra khi em vừa để xe dựa vách, nhìn em, ánh mắt anh nói lên muôn ngàn thương nhớ. Em ào đến, chúng ta ôm nhau, hai con cũng ùa vào, gia đình ta thành một khối.

    Anh chỉ ở một đêm, 5 giờ sáng đưa anh ra bến xe sắp hàng mua vé để anh về Mỹ Tho thăm ba má. Anh ở lại nhà cùng ba má 1 đêm rồi sáng lại lên Sài Gòn, để ngay chiều đó chuẩn bị đi xuống tàu vượt biên. Anh hối hận vì biết ra đi lần này không bao giờ gặp lại má em, người mà anh thương như mẹ ruột. Trên đường từ Bắc trở về, túi không tiền, dù xe lửa có ngừng ở Nhatrang nhưng anh của em, là bác sĩ, đã chết trong tù rồi, nhà cũng mất luôn, không người quen và không có phương tiện, làm sao anh về tận Hòn Khói thăm má em được, má sẽ không trách anh đâu!

    Con chẳng biết nói thế nào mẹ hiểu
    Chẳng còn ai hiểu hết chuyện đời con
    Non nước đó vẫn còn đầy dâu biển
    Núi sông đây sao giữ được vuông tròn. (Trần Trung Đạo)


    Anh quá ngạc nhiên khi thấy con trai mừng rỡ vì sắp vượt biên. Sao em dạy con trẻ hận thù? Anh nhìn em bằng ánh mắt trách buồn. Anh lầm rồi! Không phải con hận thù, lý do từ 75 đến nay, 2 con không được đến trường học bởi lý lịch ngụy quân của cha mẹ. Các con đang mơ ước một sân trường rộng có cây cao bóng mát trong tiếng chim líu lo chuốt giọng trên cành, nhất là có bạn bè thầy cô vui vẻ, không phân chia chế độ.

    Anh đi cùng con trai và người em trai nuôi em mới nhận, vì sau chuyến vượt biên, em ấy không còn trở về nhà được nữa. Rồi tàu anh đã đến bờ bến tự do. Một tháng sau, 3 người rời trại tỵ nạn đến Úc, anh vội vã kiếm việc làm. Em và con gái cũng tìm đường vượt thoát, đúng 9 năm sau ngày mất nước, gia đình mình mới được đoàn tụ nơi nước Úc giàu lòng nhân bản.

    Quê hương diệu vợi mờ nhân ảnh
    Đất khách bao la gợi nỗi phiền
    Trăn trở năm canh buồn viễn xứ
    Biết ai ta gởi chút tình riêng! (Hoa Độ)




    Anh không sống cho riêng anh mà chỉ lo cho mẹ con em và 2 bên nội ngoại ở quê nhà. Anh khéo léo tế nhị hướng dẫn cả nhà vào đường đạo, ăn chay trường, các con ra ngoài có quyền ăn mặn. Mỗi chiều, anh đều đưa em đến chùa đọc một thời kinh cùng Phật tử, đêm về anh giảng cho em những đoạn kinh mà em chưa hiểu. Anh biết nhược điểm của em hơn cả em nên cứ khuyến khích và chỉ cách em rèn luyện để tiến bộ. Anh đặt anh vào vị trí các con để hiểu chúng nhiều hơn. Các con có quyền tự chọn ngành và sự đam mê cho hợp với căn bản đạo đức, phải biết tôn trọng mọi người chính là tôn trọng bản thân mình.

    Biết em thắc mắc vì ngày xưa anh nghiêm nghị và rất ít cười, đến nỗi các bạn trong phi đoàn 524 đặt biệt danh anh là Mộ Địa, nay sao anh lại vui vẻ và hay cười như vậy. Anh nói không có niềm vui nào bằng sự tự tại trong tâm hồn mình, một kiếp sống quá ngắn ngủi, bây giờ anh đã hiểu nên dể mỉm cười, đâu còn bận lòng chuyện thắng bại nữa. Sống thật với tất cả những gì ta có, biết nhìn thẳng vào hai mặt tốt xấu là bản chất trung thực của cuộc đời thì nội tâm mới không cầu toàn, nụ cười luôn rạng ngời vì biết thích ứng với sự vận hành của pháp mới là minh.

    Trải qua những bước thăng trầm
    Mới hay bậc trí giữ tâm làm đầu
    An nhiên giữa cuộc bể dâu
    Khổ đau nhẫn được, đạo mầu chẳng xa! (Viên Minh)


    Năm 1985 Chùa Hoa Nghiêm ở vùng Đông Nam Melbourne thành lập ở Springvale vùng chúng mình ở, lúc đó nơi này còn vắng vẽ cô liêu, thầy trụ trì gồng mình vỡ đất sơ khai từng ngày biến chuyển tốt đẹp hơn khiến lòng người hớn hở hân hoan, nơi đây sẽ là nhà tâm linh, đủ tầm cở giúp thế nhân sống đời an lạc và độ các hương linh tìm đến bờ an nơi cõi tịnh.

    Anh khuyến khích em và vợ chồng anh chị Bé, 4 người cùng trồng hoa Vạn Thọ bán mỗi độ xuân về, làm tiệc chay gây quỹ cho chùa và thành lập thư viện. Chùa mở tiệm cơm chay Thanh Tâm, anh không ngần ngại đưa hai vai ra gánh vác, bước đầu anh in những tờ quảng cáo rồi 4 người chia nhau đi bộ bỏ vào từng thùng thư của dân cư trong vùng, anh kiêm luôn thâu ngân viên một thời gian dài, sau đó anh chỉ vẽ tường tận cho sư cô Phước Tính thế anh.
    Anh thường nói đã hơn nửa cuộc đời lo bảo vệ gian sơn tổ quốc là làm trọn bổn phận người trai thời loạn. Nay nước đã mất, tuổi đã già, mỗi người nên tận dụng thời gian này để khi nhắm mắt không còn tiếc nuối. Tâm anh thật sự luôn hướng về quê hương, về đất Phật.

    Chùa mở khóa tu trên núi hay dưới biển, anh là người 4 giờ sáng mang thức ăn từ chùa đến nơi tu để những tu sinh điểm tâm đúng giờ, anh ở lại cùng các Phật tử giúp 2 buổi ăn trưa và chiều cho hoàn tất, dọn dẹp xong anh trở về chùa báo cáo lại những điều cần thiết cho ban trai soạn, để chuẩn bị cung ứng thích hợp cho ngày kế tiếp đến khi mãn khóa tu.

    Cảm ơn nhé! một đời gió nổi
    Cuốn phăng tôi đến một chốn bên trời
    Thế gian nhé!một lần xin sám tội
    Quỳ nơi đây mà ôm siết con người! (Minh Đức Triều Tâm Ảnh)


    Anh đã tìm cho mình con đường đi và cách sống, anh bỏ thuốc lá, không đi chơi, không uống rượu. Những ngày tết Nguyên đán, lễ Phật đản hay Vu Lan, anh và anh Bé hướng dẫn từng chiếc xe ra vào carpark. Dù nắng nóng hay rét căm căm vẫn chạy tới chạy lui giúp xe có nơi đậu vững vàng. Những buổi tối giao thừa, anh âm thầm đi chung quanh chùa xem xét, hầu sớm chặn đứng mọi biến động xảy ra để giữ cho không khí chùa được an toàn. Giao thừa xong, anh ở lại phụ thầy trụ trì cùng các Phật tử dọn dẹp, tháo lều, làm vệ sinh cho sân chùa thật sạch, đến 4 giờ sáng vợ chồng mình mới về nhà. Thế mà 9 giờ sáng mùng một tết mình đã có mặt ở chùa, cứ như vậy từ ngày chùa Hoa Nghiêm mới mở cho đến ngày anh ra đi.

    Anh bày ra làm báo tường, bổn phận em là chụp hình những buổi lễ, các khóa tu và sinh hoạt của chùa. Anh Bé cảm hứng làm thơ từ những hình em chụp cho anh đánh máy ra, chị Bé cùng em trang trí thêm hoa và cảnh, vì vậy sau những buổi lễ chùa luôn có báo tường với những hình ảnh mới. Anh còn chọn hình những Phật tử làm công quả để làm DVD ghép nhạc cảnh, tặng riêng cho từng người, thêm CD Phật Pháp để khuyến khích họ thường đến chùa và hiểu về Đạo Phật.

    Các anh em tôi mà tình Thầy nghĩa Đệ
    Có nhớ nhau xin cạn một chung trà
    Đời còn đẹp khi ta còn giọt lệ
    Đời khổ đau nên sinh-tử-tình-ca! (Minh Đức Triều Tâm Ảnh)


    Rất nhiều lần làm việc chung với anh chị Bé, anh giảng về chữ tu thật đơn giản làm sao, đó là biết rõ mình đang làm gì trong từng hành động thực tại hiện tiền, sáng suốt nhìn thái độ của tâm khi trực diện mọi hoàn cảnh để thấy ra hai mặt thiện ác chỉ là hai mặt của cuộc đời. Có như vậy mới trãi nghiệm được thế nào là thanh tịnh để biết cõi ta bà này đẹp một cách diệu kỳ.

    Một phen buông hết ngôn từ
    Buông luôn cả một chữ như trên đầu
    Thong dong thực tại nhiệm mầu
    Niết-bàn, sinh tử… biển dâu khác gì ! (Viên Minh)


    Một hôm sư cô Huệ Thanh đưa ý kiến, em xin phép thầy trụ trì lập ra đạo tràng đi Kinh Hành Niệm Phật mỗi sáng chủ nhật, nhưng anh lại là người đứng ra phân việc theo khả năng từng người và dạy đánh Chuông Mõ, Khánh. Rồi chỉ từng bước đi thong dong cho thân, tâm, ý nhất như. Sau thời đi kinh hành anh mới xuống trực văn phòng, vừa bán Phật cụ vừa trả lời điện thoại và giải quyết những việc thông thường, để thầy có thời gian chu toàn buổi lễ.

    Biết em thích hoa hồng, anh và các con đã chọn lọc hương thơm lộng sắc màu nồng ấm để thành lập vườn hoa hồng thắm trước sân nhà, cũng là quà của mấy cha con tặng để cảm ơn em những ngày tháng anh ở trong tù, cảm ơn em thân cò lặn lội, là một người đàn bà Việt Nam biết chu toàn bổn phận, từ đó ở xóm mình gọi biệt danh em là bà bảy hoa hồng.

    Cám ơn Em người vợ ân cần
    Đã chăm sóc thương anh bao ngày tháng
    Dẫu giông tố bão bùng vùng sân hận
    Tàn phá anh, em cuồng nộ bẽ bàng
    Cám ơn tất cả mọi người là ánh sáng
    Soi rõ đêm đen, cháy bỏng tâm hồn
    Thù hay bạn cũng là vận mạng
    Đốt lửa Tạ Ơn ngàn đoá hoa hồng (Trần Minh Hiền)


    Anh tôn trọng niềm đam mê của em nhưng luôn luôn anh nhắc em đừng để thân mệt và đầu óc căng thẳng, phải tập ngồi thiền, nhìn tâm để thấy lời nói mình có thể mang đến hạnh phúc hay khổ đau cho người khác, luôn quay về tỉnh thức khi đối xử với tha nhân.

    Ra đi khắp bốn phương trời
    Tìm ai mỏi gót muôn đời còn xa
    Ta về gặp lại tình ta
    Dấu chân viễn mộng chỉ là phù vân! (Viên Minh)


    Anh cùng ông trạng sư Đinh sĩ Trang bắt đầu dịch các Kinh Kim
    Cang, Kinh Duy Ma Cật, kinh Pháp Hoa, kinh Pháp Cú (có phần tiếng
    Anh và tiếng Pháp), kinh Lục Tổ Huệ Năng, Pháp Bảo Đàn kinh.

    Những hành thiện trong quá khứ của anh và những lời kinh anh dịch vẫn còn đây, làm chứng nhân cho công đức vô lượng như tiếng chuông tỉnh thức giúp thế nhân chuyển mê thành giác.

    Thắp lên một nén hương lòng
    Phút giây sinh tử mênh mông bể sầu
    Dương trần trắng cuộc bể dâu
    Kim Cang vẩy mực rạng màu chân như.


    Còn lời nào để nói về anh nữa đây, anh đã gồng gánh lo toan hết cho em những bữa cơm gia đình hạnh phúc, biết làm mái ấm cho em nương tựa để tránh cơn bão lũ cuộc đời, là người lái đò dạy cho em bài học sâu xa về Đạo, là ánh sáng quét sạch những mờ mịt của bóng đêm em, anh cứ mỉm cười cho em hiểu thế nào là tâm nhẫn, có biết sống thong dong ở cõi ta bà mới sâu sắc an nhiên đi về cõi tịnh.

    Buông mình theo chiếc lá rơi
    Phiền lao trăm nỗi thả trôi nước dòng
    Qua bờ với chiếc đò không
    Như con hạc trắng chơi rong kiếp người. (M. Đ. Triều Tâm Ảnh)


    Hôm nay em ghi lại những điều anh đã làm cho em và cho mọi người, anh đã biết cách sống, đem hết cuộc đời của mình cống hiến cho Quốc Gia và Phật Pháp. Anh ra đi để lại bao nhiêu sự luyến tiếc của gia đình và mọi người.

    Một ngày tình bỗng khói sương
    Tôi về gom chút tàn hương cuối trời (Phạm Anh Dũng)


    Đêm ngày em vẫn nhớ anh và đang theo bước chân anh để rồi một ngày ta gặp nhau dưới ánh hào quang của chư Phật.

    Thu tàn rồi lại đông sang
    Bước chân lữ khách dặm ngàn tha hương
    Phút giây chợt thấu vô thường
    Cúi đầu sụp lạy dặm trường đã qua. (Tâm Bửu)


    Trương kim Báu

    Leave a comment:


  • Phòng Trực
    replied
    CẮM TRẠI CÙNG LỚP VÕ VOVINAM ngày 14/4/2018
    Trương kim Báu



    Nữ sinh Gia Long học võ Vovinam tại sân Hoa Lư năm 1967.

    Mùa thu ở Melboure năm nay nắng thật đẹp, thời tiết ít mưa nên không khí se se lạnh, gió hiu hiu cho khí trời dễ chịu, ở Springvale lá vàng chưa rơi nhưng hoa cúc đã bắt đầu dịu dàng hé những nụ tinh anh.
    Lớp võ chùa Hoa Nghiêm tổ chức cắm trại cuối tuần cho các đoàn sinh thoải mái tâm hồn trước khi vào khoá học, sáng sớm thứ bảy xuất hành và chiều chủ nhật trở về.
    Gia đình tôi 7 người, gồm có: tôi, con trai, con dâu, cháu nội, và 3 đứa cháu ngoại.
    Trại nằm trên núi Dandenong, vùng đất này của Hướng Đạo Úc, với đầy đủ tiện nghi như nhà bếp, hội trường, phòng tắm, sân chơi, đồi núi và rừng. Có nhiều phòng ngủ cho từng gia đình, tùy theo số lượng thành viên, mỗi phòng chứa 4 giường hay nhiều hơn.
    Một số lều được dựng lên để những đoàn sinh thích ngủ bên ngoài.



    Lần này được 70 em võ sinh và phụ huynh đi theo ủng hộ cũng tương đương.
    Sau khi thuê phòng, các đoàn sinh dựng lều vô cùng chuyên nghiệp. Tất cả tập họp ở hội trường và ăn sáng, bữa ăn có rất nhiều món do các phụ huynh đã chuẩn bị sẵn ở nhà nên chỉ hâm nóng lại, tùy ý cho ai muốn chọn món chay hay mặn.
    Ăn xong bắt đầu phân chia đội. Mỗi năm đến tháng 12, tất cả các lớp võ Vovinam của toàn tiểu bang Victoria đều cấm trại chung. Anh Toàn, hướng dẫn lớp võ sinh, giải thích lý do lần này cấm trại riêng của lớp võ Springvale là vì Toàn muốn cho các em hiểu giá trị đích thực của một gia đình. Võ sinh sống có trách nhiệm phải có bàn tay thép cùng trái tim từ ái. Học võ phải biết nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, dũng khí phải đi đôi với nhẫn nại. Chân võ học là tinh thần nhân bản, không bao giờ kỳ thị tôn giáo và bình đẳng giai cấp trong xã hội nhân quần.


    Tất cả võ sinh đều mặc đồng phục Vovinam, chào quốc kỳ, hát quốc ca Việt, Úc và Vovinam. Xong, giới thiệu ban quản trại: Nhà bếp (cảm ơn những người đã bỏ công sức lo ẩm thực cho đoàn sinh), ban giám khảo, ban kỹ luật và sức khỏe.
    Trưởng trại khai mạc hô to:
    - Vovinam!
    Trại sinh cùng nhau đáp:
    - Tiến!
    Luật của trại: Không tiêu cực, không được tự nhóm lửa riêng, không uống rượu, không hút thuốc.
    Trong trò chơi đại gia đình, tất cả mọi người đều được tham gia. Các đoàn sinh thi đua với nhau có phần thưởng riêng. Có máy karaoke cho phụ huynh thi hát cũng được thưởng.
    Cách tập họp: Dùng nhiều dụng cụ như trống, phèn la và cách thổi mọc SOS. Các đoàn sinh phải hiểu biết để thực hành.
    Đoàn sinh chia làm 7 đội, mỗi đội có một màu khăn riêng và các đoàn sinh cùng choàng lên cổ.

    1/ Đội trưởng hô: NHÀ XÁM. Các đoàn sinh đáp lại: KIÊN
    2/..................... NHÀ XANH DA TRỜI.....................THẮNG
    3 ........................NHÀ ĐEN....................................HÙNG
    4/........................ NHÀ VÀNG ................................DŨNG
    5/ ................NHÀ XANH LÁ CÂY. ..............................NHÀ
    6/.........................NHÀ MAROON.............................MẠNH
    7/ ...........................NHÀ KEM....................................HÒA



    Tất cả mọi người được phát tờ giấy ghi lời bài hát để buổi tối cùng nhau ca vang khi lửa trại được đốt lên.

    “Anh em ta mau cố chất cây khô vào đây đốt chung
    Đêm khuya nghe tiếng tí tách cây khô nổ vang giữa rừng
    Dang tay nhau đứng vòng quanh lửa hồng
    Trong khói xanh gió đưa bốc cao
    Cùng cầm tay hát đều chân bước
    Lửa thêm sáng tươi xua tan bóng đêm
    Anh em ta đùa vui ca hát
    Hát cho đời vui vui thật vui”.


    Tất cả tập hợp ở sân cỏ rộng, phụ huynh nào có phận sự trong bếp thì khỏi tham gia.
    Mỗi đội tự bịt mắt lại, chân gát lên nhau thành hàng như xe lửa và nghe tiếng còi là lếch trên cỏ, đoàn nào về sớm mà không té là thắng.
    Đang vui cười la hò thì trời chuyển mưa, gió thật mạnh, những hạt mưa rừng mùa thu khiến mọi người rùng mình lạnh, tất cả di chuyển vào hội trường.
    Nhiều phụ huynh mặc thêm áo, choàng khăn, đội nón len. Lúc này phải đổi lại những trò chơi từng khóm riêng biệt, từng đội thi vẽ có người ngồi làm mẫu, leo dây, đi luồng qua dây thật thấp, hai em cổng nhau ăn trái táo. Trò chơi liên tục không ngừng.
    Trời vẫn mưa, không lớn lắm nhưng gió quá mạnh.
    Nhà bếp đã bày sẵn nhiều thức ăn trên bàn, cơm được bới từng tô. Sắp hàng theo từng đội để lấy thức ăn, mỗi đội ngồi với nhau thành vòng tròn nhỏ. Ăn xong, các đội sinh tự lo thu dọn phần mình để vào nơi chỉ định. Các đội sinh được nghĩ 1 giờ trưa lo tắm rửa, khi nghe hiệu lệnh thì tập họp ở hội trường. Nhiều trò chơi khác nhau được tổ chức, luôn luôn sôi động. Mưa vừa tạnh là các em tập họp ở ngoài sân cỏ, tất cả đều chạy nhảy chơi giởn cùng nhau, v.v...


    Trời mưa nữa, tất cả lại phải vào hội trường. Chiều đến rất nhanh nơi miền rừng núi, các em từng đội lặng im đi lấy thức ăn và ngồi theo gia đình mình.
    Đặc biệt có anh Diệp Khôi Minh Hoàng là người hướng dẫn tất cả những đội Vovinam trên nước Úc đến thăm và ăn buổi cơm cùng đội võ Springvale.
    Sau đó anh Hoàng tiếp chuyện cùng các đội sinh và phụ huynh, có một em trong ban hướng dẫn dịch ra tiếng Anh:
    - Trời bên ngoài vẫn còn mưa, tất cả ngồi đây trong không khí ấm cúng này, có các em còn rất nhỏ cũng được gia đình mang theo, có em còn nằm trên xe đẩy, có em biết đi qua đi lại, đúng là một đại gia đình hạnh phúc. Anh rất mừng thấy các em càng ngày đến với võ Việt Nam càng đông, anh vui nhất là có nhiều phụ huynh theo ủng hộ tinh thần.
    - Chùa Phật Đà trên Queesland, lớp võ rất mạnh có đến 200 đoàn sinh, phụ huynh trên đó cũng ủng hộ các em bằng cách đi trại chung như ở đây vậy.
    - Các em có biết, muốn giỏi Võ phải làm sao?
    - Phải quyết tâm, cố gắng và đều đặn. Tập võ là để rèn luyện thân thể mình khỏe mạnh, tập cho mình nhanh nhẹn, vận động thường xuyên để có một thân thể cường tráng đi theo tấm lòng rộng mở bao dung để xứng với thân thể của mình.
    - Phải biết thương cha mẹ, người thân, đồng bào mình và thương tất cả mọi người.
    - Các em thử cầm cái lon ra ngồi ở góc phố xin một ngày coi thử có ai cho gì không? Trong khi xin gì cha mẹ cũng cho mình cả.
    - Cha mẹ nấu cơm mỗi ngày cho mình ăn, có lúc ngon có lúc không ngon, đó là lẽ tự nhiên, có cha mẹ lo cho là phước đức vô cùng. Bổn phận làm con phải làm vui lòng cha mẹ bằng cách ăn thật nhiều dù ngon hay dở, chăm lo học và học thật giỏi.
    - Thưa các phụ huynh, xin cảm ơn các vị đi ủng hộ tinh thần các em, muốn cho con em mình giỏi mọi thứ và trở thành người tài người đức hạnh. Xin phụ huynh hãy đầu tư, hãy bỏ nhiều ngày giờ với các em, đóa hoa đẹp cũng cần sự chăm nom săn sóc và cộng thêm nhiều yếu tố mới thành bông hoa quí. Xin cảm ơn tất cả đã lắng nghe.

    Tôi khoát lên người màu áo xanh hy vọng
    Với niềm tự hào học võ Việt Nam
    Ý chí đanh thép, khí phách anh hùng
    Vovinam mãi vang danh võ Việt
    Bàn tay thép với trái tim từ ái
    Rèn luyện tinh thần, tu dưỡng tâm thân
    Học võ Việt để yêu hơn nước Việt
    Để tự hào là con cháu rồng tiên
    Mang hoài bão vươn ra biển lớn
    Vovinam vang bóng khắp năm châu.
    (Môn sinh: Nguyễn Trung Hiệp)

    Vì trời mưa nên đêm nay không đốt lửa trại bên ngoài được, từng đội lên diễn kịch về chủ đề gia đình.
    Các em tự soạn, tất cả các đoàn viên trong đội đều có vai trong vở kịch. Có đội nói lên những thảm cảnh gia đình không hạnh phúc hoặc gia đình hạnh phúc ra sao, gia đình nhận nhiều con nuôi thì những em đánh lộn tranh giành, được người mẹ khuyên răn dạy bảo. Có đội đàn, hát và các em múa theo lời ca.
    Cuối cùng là vỡ kịch của các anh trong ban hướng dẫn. Phân nửa các anh giả gái, mặc váy, mang tóc giả, các anh đóng vai nam thì ăn mặc sang trọng quý phái. Mọi người reo cười thoải mái, các đoàn sinh thích chí quá nên hò hét cười vang, tiếng vỗ tay không ngừng.
    Cuối cùng là phụ huynh lên hát karaoke.
    11 giờ đêm tất cả thành viên cùng vô phòng ngủ.


    Những anh trong ban hướng dẫn chia nhau giờ trực suốt đêm, đi tuần và đi vòng những căn lều cũng như các căn nhà.
    Sáng 6 giờ nghe hiệu lệnh tập họp, từng đội các em tập ngồi thiền, yên lặng theo dõi hơi thở trong hội trường. Sáng hôm nay trời tạnh mưa, tuy vẫn còn hơi lạnh nhưng không khí trong lành, các đoàn sinh tập thể dục theo hiệu lệnh hét to mạnh mẽ.
    Anh Toàn muốn các em tự làm điểm tâm nên mỗi đội cử ra vài em được phân công vào bếp lo phần ăn sáng như chiên trứng và bacon. Phụ huynh làm thêm vài món nữa để các em có đầy đủ chất bổ dưỡng.
    Ăn xong lại ra ngoài trời chơi chung với phụ huynh. Mỗi người cầm một cây dài có máng, làm sao cùng chuyền viên bi rồi bỏ vào 1 cái ly đặt dưới đất. Trò chơi thứ hai là bình trà đổ đầy nước, đội nào thổi nước bắn ra đầy ly trước là thắng v.v...
    Trưa nay ăn theo kiểu Úc, bánh mì và nhiều loại thức ăn nóng, lạnh với rau, trái cây, sinh tố, chè.
    Ăn xong đến phần tuyên bố đội nào thắng cuộc về vẽ, kịch, trò chơi, đố vui để học .v.v... Bên nào thắng, thì mỗi đội viên được choàng mề đay.
    Còn phụ huynh, 2 người hay nhất lên hát thi lần nữa để xem ai được phần thưởng, người chấm thi lại là cô gái ngoại quốc không hiểu một chữ Việt nào cả, khiến cả hội trường nhốn nháo cười vang.
    Mọi người chuẩn bị đồ đạc, các đội viên lo dọn dẹp vệ sinh, lượm rác, những đội sinh không có phận sự vẫn tập họp ngoài sân.
    Tất cả vào hội trường tập họp, anh Toàn tuyên bố bế mạc trại, nói lời chúc mừng vì tất cả đều giữ đúng quy luật và đại gia đình sống đoàn kết trong tình thân ái tương trợ lẫn nhau, sau cùng ban tổ chức bắt tay nồng nhiệt cảm ơn từng phụ huynh.
    Tôi đã được hưởng một cuối tuần vui vẻ trong đại gia đình, mọi người đều ý thức sinh hoạt chung trong trái tim thương nhượng, thân mật biết giúp đỡ lo lắng nhau. Thật may mắn cho các em được học võ để biết ngoài cách giúp đỡ mọi người còn phải là một người quân tử. Ngoài việc bảo vệ lẽ phải còn biết mang ơn những người đã giúp đỡ ta từng giai đoạn nào đó trong đời, nhất là cha mẹ đã cưu mang ta suốt hành trình dài đằng đẳng chưa bao giờ ngừng nghĩ. Khi hiểu ra lý lẽ đúng sai, phân biệt thiện ác, ta biết kính trên nhường dưới, nhất là giữ tròn lời hứa mới là người đạo đức.
    Một thân thể khỏe mạnh, tinh thần tự lập, hiếu thảo thì BÀN TAY THÉP với TRÁI TIM TỪ ÁI mới sẵn sàng dấn bước vào đời.


    Leave a comment:


  • Phòng Trực
    replied
    Vùng trời ngày ấy

    VÙNG TRỜI NGÀY ẤY
    (Viết theo lời kể của một người bạn)
    Trương kim Báu


    Tôi thua Nam 2 tuổi, nhà chúng tôi chỉ cách một hàng rào thấp ngăn vườn cây và cùng nhau đi học, tôi bên trường Nữ và Nam học trường Nam tiểu học. Hai trường xây chung trên một khuông đất thật rộng không có hàng rào ngăn cách, học sinh Nữ và Nam đều ra chơi ở sân trước, còn sân sau mênh mông để đá banh và dành cho 2 trường cấm trại.
    Ba tôi đưa đón các bạn nên tan trường Nam phải đi vòng theo hàng rào hướng về phía cổng chính bên trường Nữ. Ai cũng nghĩ sai lầm rằng tôi và Nam là anh em ruột thịt vì chúng tôi có nhiều điểm giống nhau như da trắng, mắt to, mặt mày sáng sủa. Mẹ tôi và mẹ Nam là đôi bạn thân, ba Nam có chức phận trong ngành quân đội, ba tôi bên hành chánh, tình cờ ba mẹ tôi mua nhà gần nhà ông bà nội của Nam.
    Mẹ Nam thường nói những cặp trẻ này chơi thân quá, lớn lên có cặp nào thương nhau thì hai nhà làm sui gia. Mẹ tôi cười, tôi và Nam đều là út nên được cưng chiều.
    Tôi thích ba Nam khi ông mặc đồ lính, trông ông đẹp trai, mạnh khỏe và thật oai hùng. Nhưng khi người anh bà con tôi tới chơi, anh là phi công thì tôi thích bộ đồ bay hơn, vì một ngày tôi đọc được quyển Đời Phi Công của Toàn Phong thì tôi mê binh chuẩn Không Quân. Tôi ước mơ mình sẽ là nữ phi công, tôi nói với Nam như vậy.
    Anh cười.
    - Con gái nước mình chưa cho học lái máy bay, anh sẽ làm Phi Công bay thế em.
    Chúng tôi bắt đầu sưu tập hình ảnh máy bay và chở nhau vào phi trường nhìn máy bay lên xuống. Những đêm cuối tuần ra sân ngồi nhìn trăng sao, khi có một chiếc máy bay đèn trên đôi cánh chớp chớp bay qua, chúng tôi thích thú và bắt đầu mơ mộng.
    Chúng tôi lớn lên, Nam vào Sài Gòn học ngành y. Hai năm sau, 1962 tôi cũng vào theo học dược. Hôm đó, Nam và tôi đang ngồi ở công viên trước nhà đường Hàn Thuyên gần nhà Thờ Đức Bà, có 2 chiếc Air SKYRAIDER bay ngang qua rồi vòng lại, một chiếc từ trên cao lao thẳng xuống dinh Độc Lập rồi bay vút lên, chiếc sau cũng lao xuống bay lên, chúng tôi tưởng các phi cơ đang biểu diễn vì ở Nhatrang mỗi năm Không Quân đều tổ chức biểu diễn ở trên bãi biển.


    Nghe tin tức mới biết hai phi công Phạm Phú Quốc và Nguyễn văn Cử thả bom. Tôi đã khóc vì sợ các anh bị tù, Nam bỏ học an ủi dỗ dành tôi. Hai chúng tôi thương quí và thần tượng hai người hùng đó dù chưa một lần gặp mặt.
    Rồi năm sau Nam nộp đơn xin vào Không Quân, hai đứa đi ăn mừng. Tôi nói:
    - Ngày xưa có gái giả trai ra đánh giặc, ngày nay nếu không có vụ khám sức khỏe em cũng sẽ cắt tóc ngắn, mặc đồ con trai gia nhập không quân cùng anh.
    - Yên trí, anh sẽ bay phần anh và phần em nữa.
    Ở nơi xa anh học bay tập làm loài chim quí, loài chim tôi rất yêu. Ở quê nhà tôi chăm chỉ học hành, mình sẽ là tổ ấm lý tưởng nhất để khi cánh chim cần nghĩ ngơi thì có nơi về. Đã là chim thì phải được tự do, phải bay nhảy, đôi cánh được giang rộng ôm bầu trời xanh biếc. Và nếu đôi khi cánh chim vướng những sợi mây hồng đó là chuyện thường tình. Vườn hoa đẹp mà có đàn bướm bay quanh mới tăng thêm vẻ đẹp của hoa, bướm phải được vui chơi, nhìn ngắm nhưng bướm không được làm rơi những cánh hoa.
    Năm 1965, Phạm Phú Quốc một loài chim quí đã gãy cánh, tôi lại khóc, lần này không có Nam một bên để cùng chia xẻ nỗi buồn, Nam viết thư thật nhiều về an ủi tôi.
    Ngày đón anh về nước, lòng chúng tôi nở hoa vui mừng, hai đứa đều lớn, tôi cũng đã ra trường. Nam trong bộ đồ bay anh đẹp oai hùng. Nam cười vui và hát chọc tôi: "Trong đôi mắt em, phi công là tất cả".
    Anh được về phi đoàn chiến đấu ở miền Trung, gần giới tuyến 17 nơi chia đôi đất nước. Cánh chim đã tung bay trên vùng trời của quê hương từ đó.
    Lâu lâu Nam về thăm nhà, chúng tôi không đủ ngày giờ kể cho nhau nghe nhiều chuyện, nhất là những phi vụ, lúc còn bé anh hứa sẽ kể cho tôi nghe khi đã thành loài chim quí.
    Tôi cũng là loài chim nhưng không biết bay, loài chim không có cánh nhưng rất yêu bầu trời trong xanh bao la.
    Năm 1968, Lưu Kim Cương, một loài chim quí cũng ra đi, tôi lại khóc dù tôi cũng chưa một lần gặp mặt. Nam về vì biết tôi buồn, anh ôm đàn và hát với giọng thật ấm, trầm, anh hát rất hay.

    "Anh nằm xuống sau một lần đã đến đây.
    Đã vui chơi trong cuộc đời này.
    Đã bay cao trong vòm trời đầy.
    Rồi nằm xuống,không bạn bè,không có ai
    ................
    Anh nằm xuống cho hận thù vào lãng quên
    Như cánh chim, bỏ rừng, như trái tim bỏ tình
    .................
    Vùng trời nào đó anh đã bay qua?
    Chỉ còn lại đây những sáng bao la.
    ......................
    Anh nằm xuống, như một lần vào viễn du.
    Đứa con xưa đã tìm về nhà.
    Đất hoang vu khép lại hẹn hò.
    ................
    Xin cho một người vừa nằm xuống
    thấy bóng thiên đường cuối trời thênh thang".
    (Trịnh Công Sơn)


    Tôi khóc và anh hát tiếp.

    "Ngày xưa khi anh vừa khóc chào đời.
    Mẹ yêu theo gương người trước chọn lời.
    Đặt tên cho anh anh là Quốc.
    Đặt tên cho anh anh là nước.
    Đặt tên cho người,đặt tình yêu nước vào nôi.
    Rồi anh nâng cao tổ quốc vào đời.
    Tuổi xuân vươn trong lửa máu ngút trời.
    VIỆT NAM đang đòi tự do hạnh phúc giống nòi
    ...............
    Anh Quốc ơi ! Đàn chim chim quốc tung trời.
    Gọi nhau đem nắng soi đời.
    .............
    Anh Quốc ơi! Tuổi xanh chấp cánh thênh thang.
    Bình minh, lên chiếm không gian
    đến hoàng hôn chan chứa tình thương.
    Anh Quốc ơi! Gặp khi chinh chiến lâu dài
    Người phi công giữa khung trời vẫn phải mang số phận con người.
    (Tác giả Phạm Duy)


    Nam cứ để tôi khóc. Khóc mệt rồi tôi tựa vào vai anh ngủ lúc nào không hay.
    Năm 1972, mùa hè đó lửa, trong một phi vụ máy bay anh trúng đạn và bốc cháy, một cánh dù đã bung ra, nhưng không thấy Nam về, tin cho hay anh mất tích.
    Bà nội lấy ngày Nam mất tích làm ngày cúng giỗ đầu tiên. Hôm đó tôi không chịu đốt nhang bàn thờ anh vì tôi không tin anh chết, có một người cũng như tôi không tin anh chết, đó là mẹ anh.
    Đêm mơ màng tôi nghe như tiếng anh đang gọi tên tôi, tan nát cõi lòng, nhìn những cánh chim bay trong bầu trời, lòng chợt ấm.
    Tình hình không yên, lệnh rút quân bỏ ngõ Kontum, Pleiku, Ban Mê Thuộc, Đà Nẵng, Nhatrang...v.v....
    Gia đình Nam di tản nhưng ba anh là quân nhân nên không muốn đi, gia đình tôi cũng vậy, ba tôi ở lại. Riêng tôi muốn chờ Nam vì tôi không tin anh chết, tôi viện lý do tôi chỉ là người buôn bán không có gì phải ra đi.
    Ngày 30 tháng 4 năm 1975, nhìn ba tôi và ba Nam, tôi hiểu được nỗi đau nhất trên đời như thế nào, không nỗi đau nào lớn hơn nỗi đau mất nước của một người con trai đã một thời bảo vệ, cống hiến, yêu tổ quốc, nay mất trong tức tửi.
    Họ không khóc như tôi, chỉ ngồi yên, câm nín ,chịu đựng. Trên khuôn mặt nói lên trăm ngàn điều đau khổ, tim như bị xé nát, người biến thành tượng đá. Sau một đêm tôi không còn nhìn ra hai người cha, tóc hai người đã bạc trắng.
    Nhà Nam bị tạm mượn vì không có người ở, tiệm thuốc của tôi bị trưng dụng, tôi may mắn được giữ lại làm nhân viên cho tiệm.
    Tôi bắt đầu tìm tin tức của Nam theo sự chỉ dẫn của nhiều người. Đến năm 1978 tôi được giấy báo gởi 5 ký quà cho Nam.
    Ba người thân đều ở miền Bắc mà mỗi người ở một nơi. Lúc đi thăm nuôi tôi tự an ủi, vì tôi không phải loài chim có cánh nên phải đi bằng đường bộ dù sao cũng là dịp nhìn ngắm quê hương.
    Gặp Nam tôi khóc mà anh cười,tôi tưởng anh điên nhưng khi anh giảng cho tôi hiểu thì tôi càng khóc nhiều hơn.
    - Anh rất mừng gặp lại em, thấy em còn khóc được, mà còn khóc nhiều như ngày xưa. Anh được ở chung cùng những người lính đủ binh chuẩn của miền nam, đó là những anh hùng, là những thiên tài, anh học được nhiều ở họ như lòng yêu nước, tinh thần người lính, thể diện, chịu dựng, nhẫn nhục, vị tha, đoàn kết, xử sự, chờ đợi, nhịn đói, thiền...v.v...
    Anh còn học được cách nói chuyện ra dấu bằng tay như những người câm. Ở đây không được liên lạc cùng trại khác như trại người Mỹ, nhưng anh em ai cũng biết cách nói chuyện bằng tay, nên các anh thông tin cho nhau dễ dàng, và liên lạc cùng người tù Mỹ, thương và cảm ơn họ vì lý tưởng tự do mà đến xứ mình, nay tù, giam còng chịu bao nhiêu là cực khổ.
    Nghịch duyên đưa anh đến trưởng thành, tập cho tâm anh thật vững chắc, tự tìm ra sự sống chính anh, chấp nhận những gì xảy ra trong hiện tại.
    Tôi nghe anh nói mà tưởng mình vào chùa nghe vị thầy nào đó thuyết pháp. Nam còn hứa chắc sẽ về và một ngày nào đó và sẽ chắp đôi cánh cho tôi.
    Năm 1986, tôi đưa tiển hai người cha đi đoàn tụ cùng gia đình theo diện bảo lãnh.
    Cô tôi cũng là mẹ nuôi từ Úc về tìm tôi, cô muốn tôi qua Úc vì cô không có con, hiện cô có trang trại cần người thân phụ giúp.
    Tôi làm tất cả giấy tờ cần thiết, năm 1989 Nam được ra tù và chúng tôi đến Úc.
    Tôi đã thành loài chim biết bay, không được làm loài chim quí như các anh, bảo vệ quê hương tổ quốc, tôi là loài chim se sẻ bảo vệ hoa trái mùa màng.
    Buổi chiều ở trang trại, không gian thoáng đãng, không khí trong lành, bầu trời xanh màu ngọc bích, từng đám mây trắng bềnh bồng trôi, những làn gió hiu hiu thổi đưa hương thơm cánh đồng hoa Lavender mới nở, cả không gian tràn ngập mùi hoa thơm dịu dàng làm nao nao lòng người. Những tia nắng vàng hoe như còn lưu luyến bịn rịn đổ dài trên những đường đi tràn xuống thảm cỏ xanh như rực sáng hơn, từng đàn chim đang bay về tổ, tất cả hoà lại không gian như cất tiếng hát, buổi chiều êm đềm thanh bình.
    Tay trong tay, chúng tôi đi giữa những luống hoa. Nam kể cho tôi kỹ niệm của VÙNG TRỜI NGÀY ẤY và thương nhớ về quê hương VIỆT NAM yêu quí.
    Last edited by Phòng Trực; 04-24-2018, 05:56 PM.

    Leave a comment:


  • Phòng Trực
    replied
    LOÀI CHIM CHƯA CHẤP CÁNH - Trương kim Báu.

    LOÀI CHIM CHƯA CHẤP CÁNH

    Trương kim Báu.



    Con dâu, con gái và cháu gái, ba chị em rủ nhau đi shop, vì đầu năm các shop giảm giá nhiều mặt hàng. Các con mua tặng tôi một cái áo kiểu mới nhất năm 2018, loại áo rộng, mềm, rất hạp cho người lớn tuổi, vừa sang vừa đẹp để mặc với quần tây. Nhìn chiếc áo tôi thấy kiểu quen quen nên vội tìm trong vali đồ kỷ niệm, đem ra cái áo ngày nào do một chàng phi công trẻ may tặng năm 1983, lúc tôi sắp rời trại tị nạn Thailand.
    Tôi gặp em trên chuyến tàu vượt biển, ra khỏi hải phận Việt Nam một ngày là bị hư máy nên tàu bắt đầu trôi. Tôi đi cùng con gái nhỏ và mấy người bà con. Vì lớn tuổi nhất trong nhóm nên sáng, chiều tôi đều lên mũi tàu thắp nhang cầu nguyện cho máy tàu được sửa xong để tàu hướng về bờ bến tự do v.v...
    Mỗi lần lên mũi tàu tôi đều thấy một chàng trai ngồi đó đứng dậy lễ phép chào.
    Tôi thầm nghĩ người trẻ này có gương mặt điển trai, cao ráo như những người hùng Không Quân. Tôi nói ý đó với người em họ, cô ấy cười:
    - Chị có chồng Không Quân nên thấy ai dễ nhìn, có dáng dấp cao to, thanh nhã đều nghĩ giống không quân. Dưới mắt chị cái gì đẹp và oai vệ đều là của không quân, biết đâu anh chàng đó là Hải Quân nên lúc nào cũng lên mũi tàu ngồi để nhìn sóng biển.
    Rồi chúng tôi được tàu Mỹ cứu vớt, em và một cô nữa làm thông dịch viên. Những thuyền nhân phải khai lý lịch ngay trên tàu trước khi được chuyển vào trại tị nạn.
    Chúng tôi phải ở trại tị nạn Thailand trong một khu riêng biệt được gọi là khu tàu vớt với hàng rào bao bọc chung quanh. Bốn dãy nhà đối mặt nhau, chính giữa là một sân nhỏ, nhà được gọi là V. Tôi và các người trong nhóm đi chung ở V2, em ở V3, hai góc nhà cách nhau một đường đi 2 mét. Tất cả V đều lợp mái tôn, nền đất, không có vách mà cũng không có cửa, chỉ có mười cây trụ dựng để chống đỡ mái tôn.
    Những người lính Thái quan sát rất kỹ đến dân tỵ nạn, nhất là khu tàu vớt, vì vậy chúng tôi phải tập họp bất cứ lúc nào dù là nửa đêm. Buổi chiều, nếu ai đến hội trường trễ sẽ bị họ dùng roi đánh. Vừa chạy trốn cộng sản được nay lại gặp lính Thailand! Thật ghê sợ! Nhưng vì mới đến trại chúng tôi không biết trình báo cùng ai.
    Mỗi chiều tôi đều đi chùa, em cũng đi chùa, chúng tôi ít nói chuyện với nhau. Có một lần lính Thái kêu tập họp, từ chùa tôi chạy về hội trường chậm quá nên bị lính Thái đánh, có một người chạy đến làm bộ té nằm trên che cho tôi trận đòn.
    Hôm đó tôi mới biết tên và lý lịch của em. Em tên La Xuân Khai, là một phi công phản lực học lái A37 và về nước đầu tháng 3 năm 1975. Em được bổ nhiệm ra vùng 2 ở Phi đoàn 524 Phanrang, nhưng thực tế vẫn chưa được sự vụ lệnh, mỗi ngày phải đến Tân Sơn Nhất trình diện. Em là loài chim chưa được chấp đôi cánh, chưa được bay trên bầu trời quê hương ngày nào cả. Em mơ ước được bay, đem thân trai bảo vệ đất nước, được như đàn anh vẫy vùng ngang dọc, em chưa trình diện phi đoàn nhưng tự xem mình là người của 524 và em cũng bị chế độ cộng sản đưa đi học tập cải tạo 4 năm. Khi được ra tù, gia đình kêu em đi học nghề may để chuẩn bị cho tương lai khi đến nước thứ ba.
    Nay em gặp tôi trong hoàn cảnh tị nạn, em nghĩ bổn phận đàn em trong 524 dù chỉ là danh nghĩa, cũng phải thương yêu giúp đỡ lo lắng cho nhau. Gia đình em đạo Phật nên em hiểu được có duyên mới hội ngộ, lại cùng một binh chuẩn và phi đoàn với chồng tôi, em âm thầm bảo vệ người thân của đàn anh, dù chưa một lần gặp mặt các anh.
    Hình ảnh sáng chiều tôi đứng trên mũi tàu thấp nhang cầu nguyện, em cảm động và nhớ đến mẹ già ở quê nhà cũng đang cầu nguyện đêm ngày cho em đến được bờ bến tự do.
    Em xin tôi nhận em làm em để em giúp đỡ săn sóc tôi khi những người bà con tôi đã rời trại để qua Phi Luật Tân học Anh văn và chờ qua Mỹ. Không cần biết lý lịch có liên hệ với Việt Nam Cộng Hoà hay không, được tàu Mỹ vớt thì ai cũng được Mỹ chấp thuận cho đi.
    Trại Thailand chỉ còn lại những người xin đi nước khác. Tôi và con gái đi Úc vì chồng tôi và con trai vượt biên trước đã sang Úc mấy tháng rồi. Lúc này V2 thật vắng vẻ, còn mẹ con tôi và người em con của cô tôi đi cùng đứa con gái nhỏ, cũng đang chờ đến Canada đoàn tụ với chồng đã vượt biên trước.
    Bên V3 còn lại một mình em vì em xin đi Canada, có người chị bên đấy.
    Ở trại trị nạn rất phức tạp vì có nhiều người Việt qua lâu chưa được định cư, họ tìm mọi cách để rời trại và muốn ghép form cùng những người được ưu tiên đi các nước tự do khác. Còn người Thái họ cũng muốn xuất ngoại, dù nước họ không bị cộng sản lãnh đạo.
    Ai cũng biết những người không đi Mỹ vì đều có gia đình ở nước thứ ba và chắc chắn có tiền do thân nhân cung cấp.
    Em đem tiền của tôi và cô em họ ra gởi ở ngoài trại nhờ các cô người Mỹ dạy Anh văn cất giùm. Em làm thông dịch nên ra khỏi trại mỗi ngày, em xin phép nhờ người mua giùm những đồ cần thiết làm nhà, tự ngăn một căn phòng cho chị em tôi và 2 bé gái vào ngủ an toàn trong đêm tối.
    Em hướng dẫn giúp chị em tôi ghi tên đi học may để làm quen với máy móc tân tiến vì những năm sau 75, người dân miền Nam chỉ còn biết chạy từng miếng ăn, mỗi ngày sống trong lo sợ, đau khổ, chịu dựng và câm nín.
    Em khuyến khích tôi vào lớp học Anh văn, hãy mạnh dạn tập nói và đặt câu hỏi mới tinh tường. Mỗi buổi sáng, em rủ bốn người chúng tôi cùng em ra tập thể dục do các cô giáo Mỹ dạy, mỗi chiều cùng nhau đến chùa.
    Một hôm em xin phép đưa chúng tôi ra khu chợ ngoài vòng rào trại tị nạn. Từ lúc mất nước chúng tôi mất luôn niềm vui đi dạo phố phường, khi ra đường luôn đề phòng bị móc túi hay cướp giật.
    Nay ở nước Thái được một ngày đi dạo vui chơi, cười nói và ăn uống theo ý thích (ở trong trại tị nạn mỗi ngày được phát 1 trứng vịt luộc không có nước mắm hay xì dầu gì cả), may mà có em mua giùm thức ăn bởi chồng tôi gởi tiền qua.
    Hôm đó em lựa vải để may tặng tôi và con gái mỗi người một bộ quần áo trước khi rời trại. Em chọn màu hồng và màu xanh thật nhạt, mềm mại ngọt ngào như những đám mây các anh đã từng bay qua. Ôi! Em chưa được chấp đôi cánh như đàn anh mà trong tim em đã có những đám mây xanh hồng lộng trời cao ngất ngưỡng.
    - Em muốn chị thật đẹp khi gặp lại anh, vì chị là vợ không quân mà.
    Em vẽ kiểu và tự cắt, mượn máy may bên Cao Ủy. Khi mặc áo vào mới có dịp ngắm mình trong gương, đã già đi nhiều. Bao năm nay đầu óc không yên, lo nghĩ mọi điều. Chồng tù, con không được đến trường, lo việc làm, hộ khẩu ... cứ sợ bị đuổi đi kinh tế mới ...v. v... Tôi quên nhìn vào gương và không còn nghĩ đến nhan sắc của mình.
    Ngày tôi rời trại, em xin được đưa tôi đến trại chuyển tiếp ở Bangkok, em nói qua đến Canada em sẽ học về may vẽ thời trang.
    Mấy năm sau em đã nổi tiếng, chàng phi công trẻ không được chấp đôi cánh để bay trên vòm trời bảo vệ quê hương yêu dấu, nhưng với tánh nghệ sĩ sẵn có trong những chàng phi công, em đã dùng đôi bàn tay tài hoa của mình để vẽ và may những chiếc áo thời trang quí phái phục vụ cho mọi người mà giới điện ảnh và ca sĩ ưa thích. Em đã làm vẻ vang người tị nạn. Cuộc đời em đã rẽ về một hướng khác, đất nước xa lạ đã mở vòng tay đón em, tương lai không còn mờ mịt như chính trên quê hương nơi em sanh ra đã vứt bỏ, cầm tù, không phải một mình em mà là cả bao nhiêu tuổi trẻ và nhân tài của miền Nam.
    Tôi thật cảm ơn chế độ Việt Nam Cộng Hòa, nơi đó đã sanh những công dân tốt, huấn luyện những người lính biết Tổ Quốc, Danh Dự và Trách Nhiệm.
    Tôi cũng biết ơn binh chuẩn Không Quân, nhờ họ mà những tháng ngày ở trại tị nạn có người âm thầm bảo vệ tôi. Một binh chuẩn mà trong đó tất cả đều nêu cao tình huynh đệ, họ có một tấm lòng rộng mở và đẹp như bầu trời họ từng bay qua dù là đã thành loại chim quí rồi hay còn là những loài chim non chưa được chấp đôi cánh cao vời gió lộng.

    Leave a comment:


  • Phòng Trực
    replied
    đinh quang cứ - con đường mang tên anh.



    ĐINH QUANG CỨ -
    CON ĐƯỜNG MANG TÊN ANH.

    Trương kim báu.

    Cô bạn tôi từ Đalat xuống Nhatrang nghĩ hè. Vòng quanh từ phòng đợi của Air Việt Nam rồi lên nhà hàng trên lầu, tôi cũng chưa thấy bạn. Mấy chiếc A1 SKYRAIDER đang đáp xuống phi đạo giữa vòm trời thoáng đãng biếc xanh. Tôi mê hình ảnh tuyệt vời của máy bay hạ cánh trên mảnh đất quê hương hoặc cất cánh ra đi cỡi mây bồng bềnh xuyên lục địa hay cõng gió vù vù qua đại dương ngàn đời đọng sóng. Một phần nữa là trong phi đoàn 524 có những người bạn của tôi hiện diện.
    Bất chợt, một người áo bay màu cam quàng khăn cổ tím nhạt, tay cầm mũ, nai nịt súng, gươm tươm tất, bước nhanh đến chỗ tôi đứng và ôm chằm lấy tôi.
    - Cứ đây.
    Tôi vẫn không nhận ra ai, dù anh đã xưng tên Cứ. Nhìn kỹ lại tôi mới nhận ra Đinh Quang Cứ, người bạn chung lớp với tôi suốt một một thời trung học. Gương mặt anh rất sáng với mái tóc hơi quăn, hiền và học vô cùng chăm chỉ, anh ngồi bàn đầu bên dãy nam sinh.
    Lâu rồi chúng tôi không liên lạc, bây giờ dáng anh thật chuẩn, cao và đẹp trai, rất oai phong trong bộ đồ bay màu cam, màu chỉ dành riêng cho dân khu trục, anh là phi công khu trục A1 Skyraider.
    Từ đó mỗi đêm Cứ cùng các bạn đến nhà tôi chơi, nhưng tôi và anh không có dịp để nói chuyện riêng.
    Hôm nay thứ bảy, Cứ tới một mình để rủ tôi đến thăm thầy Vỏ Hồng, là thầy dạy Vạn Vật và Việt Văn lớp 7 của chúng tôi. Thầy hiền lắm! Học trò cũ đều rất thương và thường tới thăm thầy nên muốn liên lạc cùng bạn bè ngày xưa, hỏi thầy là biết hết tin tức của nhau. Khi cô mất, thầy ở vậy một mình sống cuộc đời gà trống nuôi con. Các em đều đi học nơi xa, thầy cô đơn giữa căn nhà trống trải, vắng bàn tay chăm sóc của cô, một cảm giác xót xa dâng ngập lòng khi nhìn Thầy mặc chiếc áo cũ sờn vai, tôi sẽ tặng Thầy chiếc áo len vừa mới đan xong. Cứ nói:
    - Tụi mình đi ăn nha! Rồi mình đến thăm thầy và mời thầy ra biển uống nước dừa, ngắm trời biển nhắc lại chuyện xưa, thầy chắc chắn thích lắm! Vã lại, tướng Kỳ ưu tiên cho anh em bên khu trục buổi trưa được ăn cơm trong câu lạc bộ miễn phí, phần ăn đúng tiêu chuẩn để có sức khỏe đi bay. Ngày trước, tướng Kỳ cũng là dân khu trục và đã từng bay những phi vụ Bắc phạt, nên ông thông cảm cuộc sống mong manh, lối sống bạc mạng của dân khu trục, tiền hết mà lương chưa lãnh, bụng trống đi bay là chuyện rất thường.
    - Nhưng đem bạn đến ăn có được không?
    - Oh! Thì phải trả tiền thôi! Nhưng đừng lo! Tướng Kỳ chịu chơi lắm! Nếu mời bạn gái chỉ trả nữa giá thôi.
    - Còn người già thì sao?
    - Ha ha ha ..... Dân khu trục không thấy ai mời người già vào ăn ở câu lạc bộ hết. Chắc phải trả nguyên giá. Ha ha ha .......
    Thầy mừng và cảm động lắm nhưng thầy bị cảm nên không đi biển cùng chúng tôi được. Tôi nói với Cứ:
    - Không có thầy, chúng mình ngồi dưới bãi cát như ngày còn nhỏ nha! Bạn còn nhớ năm đệ thất lớp mình không được điểm làm vườn mà còn bị phạt không?
    - Nhớ chứ. Bị cấm túc sáng thứ bảy ở trong lớp để chép phạt từ 9 giờ đến 12 giờ trưa.
    - Chép câu: "Phải yêu thương thiên nhiên", bạn nhớ không?
    - Bên con trai bọn này kêu trồng cây phượng, cây bàng hay cây dừa, ít tưới nước hơn mà bên con gái không chịu, cứ đòi trồng đủ loại hoa để cuối cùng không đủ nước hoa chết hết. À, mà sao hoa chết bên con gái khóc dữ vậy, sợ bị phạt hở ?
    - Không phải sợ bị phạt, mà vì thương hoa thôi.
    Im lặng, chúng tôi thả hồn về thời thơ ấu, chợt Cứ lên tiếng:
    - Đố bạn tại sao Cứ đi Không Quân ? Nhờ bạn đó.
    - Nhờ mình ?
    - Bạn còn nhớ dịp nghỉ hè năm lớp 9 không, Cứ về Ninh Hoà, bạn về Hòn Khói, tình cờ chúng mình cùng một tuyến đường nên ngồi gần nhau, thấy bạn say mê đọc truyện, đọc xong bạn tặng Cứ quyển sách luôn. Đó là quyển Đời Phi Công. Trong lớp chúng mình có Võ Thi ở Vạn Giả cũng vào Không Quân, nhưng Võ Thi bên quan sát, còn mấy bạn nữa mà Cứ chưa gặp, không biết bạn có cho các bạn ấy quyển Đời Phi Công như cho Cứ Không?
    - Ồ .... ồ.......
    Cứ và tôi vẫn thường xuyên liên lạc, lúc ấy khoảng năm 1967 thì phải, Cứ khoe mới làm quen được cô nữ sinh trường Nữ trung học Nhatrang, hẹn chiều chủ nhật đưa bạn gái đến giới thiệu cùng tôi. Tôi chuẩn bị đón nàng của Cứ thật chu đáo hầu tạo tình thân mật đậm đà, với hoa đủ loại cùng trái cây tươi tôi trang trí phòng khách thật đẹp để mừng cho Cứ sắp bước vào quãng đời hào hoa lãng mạn.

    Chiều đó, tôi đợi mãi nhưng chẳng thấy người, chẳng thấy được nàng của Cứ mà có tin máy bay Cứ bị bắn bốc cháy từ trên cao. Không có một cánh dù nào bung ra trong lửa đỏ! Cứ đã thực hiện phi vụ cuối cùng chính xác để cứu được quân bạn đang bị bủa vây và một tiền đồn quan trọng thoát vòng nguy hiểm, rồi anh lặng im nghe đất thở, anh vĩnh viễn bay vào thiên thu ngủ một giấc ưu tú khôn tìm. Cứ đã dũng cảm tung cánh sắt giữ bầu trời và tấc đất quê hương được yên bình êm ấm rồi tự do phơi phới trả lại nhân gian kiếp đời kiêu hùng phiêu bạt.

    Một buổi chiều vào phi trường, mình tôi đi trên con đường mang tên Đinh Quang Cứ, chúng mình đã cùng chia nhau thưởng, phạt vui buồn của thời thơ ấu, giờ đây chỉ còn lại dư âm, còn lại Đinh Quang Cứ của hồn thiêng sông núi. Tôi không khóc nhưng nước mắt cứ tuôn trào, có nhịp tim nào đang nức nở thương tiếc nhớ anh.
    Anh Cứ ơi ! cuộc đời như một viên đá, anh đã quyết định biến viên đá thành viên ngọc sáng ngời, anh đã hy sinh mạng sống để bảo vệ tổ quốc quê hương. Anh đã ra đi nhưng mãi mãi anh vẫn sống trong bản tình ca Không lực oai hùng!

    Leave a comment:



Hội Quán Phi Dũng
Diễn Đàn Chiến Hữu & Thân Hữu Không Quân VNCH




website hit counter

Working...
X