Thông báo

Collapse
No announcement yet.

Còn Nhớ Mùa Xuân 

Collapse
X

Còn Nhớ Mùa Xuân 

Collapse
 
  • Filter
  • Giờ
  • Show
Clear All
new posts

  • Còn Nhớ Mùa Xuân 

    Còn Nhớ Mùa Xuân
    Bùi Đức Tính




    Gởi chiếc xe và bốn bánh chạy trên tuyết cho tiệm xong, trong khi chờ mấy cậu thợ trẻ giúp thay bánh xe, tôi tản bộ quanh khu phố. Sắp đi ngang đám đông tại trạm xe công cộng, tôi lấy miếng mặt nạ vải trong túi ra, đeo lên mặt mình cho đúng luật. Trời chưa có tuyết, nhưng sáng này thời tiết lạnh buốt. Hơi thở của mình bị miếng vải che bít mũi, không có lối thoát ra bên ngoài một cách thoải mái tự nhiên, và dưỡng khí hít vào cũng bị ngăn chận bớt. Từng chập, hơi thở của mình bị lớp vải mặt nạ bịt ngang mũi, phát thành những tiếng nghe như phì phò mệt mỏi. Luồng hơi nóng từ mũi thoát ra lại bị cái mặt nạ lùa lên phía trên mắt, bám vào tròng kính đang lạnh giá, tạo thành đôi vòng sương mù, làm cảnh vật quanh mình tự dưng mờ mờ, ảo ảo; khung cảnh quanh tôi như trời mùa Đông đang có dày đặc sương mù.

    Chợt thấy phía trước mình có bóng dáng ai đó đi ngược chiều đến. Cả hai chúng tôi đi cùng một bên lề đường. Theo luật của Bộ Y Tế, trong cơn dịch cúm lạ còn tràn lan này, tôi ép sang một bên cho trống đường. Người đàn ông phía trước tôi cũng lịch sự né sát qua phía bên kia. Vậy là chúng tôi cách ra khá xa, một khoảng cách đủ cho chiếc xe nhà loại nhỏ chạy qua. Từ cả năm nay, gặp nhau ngoài đường phố, khó thấy nụ cười thân thiện như bình thường; nếu có chăng, nó cũng đã bị khuất mất bên dưới miếng mặt nạ. Khác với những nơi người ta đã phải bịt mũi, che miệng, chỉ vì không khí bị ô nhiễm; cái mặt nạ nơi đây nó là hiện diện của những… lo ngại bệnh hoạn, sợ sệt lây nhiễm, cần tránh né nhau!

    Người đàn ông chắc từ đám đông mới xuống xe ở trạm phía trước, đang đi đến gần tôi. Trông thì cũng có nét quen quen, nhưng ai nấy bây giờ phải bịt mặt, lại thêm cái nón mùa đông trùm kín, chỉ trông thấy cặp mắt; tôi không dám đoán bừa. Còn chừng năm ba bước phía trước, tôi ngó nhanh sang người đối diện thì thấy ông ấy cũng đang tò mò nhìn tôi. Hình ảnh người đối diện tuy không rõ, nhưng tôi chợt nhận ra ánh mắt có vẻ quen và có vẻ … cũng có tình cảm với mình lắm. Tôi đứng lại, lấy cái kính đeo mắt nhuộm sương mù ra. Thà là nhìn không kính như thế này, thấy còn rõ hơn là mang cặp tròng kính bị lờ mờ hơi thở của mình. Giờ thì, rõ ràng là ông ấy trông quen lắm. Tôi bèn lột miếng mặt nạ, bày trọn khuôn mặt mình và lên tiếng hỏi thăm bằng tiếng Việt; không quên kèm theo nụ cười xã giao, phòng hờ… mình đoán lầm người:

    - Anh Vy đấy phải không?

    Người đàn ông cũng đã dừng lại theo tôi, nghe gọi tên, bèn lột cái miếng vải trên mặt như tôi và cười thật tươi:

    - Thì tui đây...! Thấy ông quen quen mà không chắc nên đâu có dám gọi…
    - Tui cũng vậy… Thấy anh quen quá, nhưng không nhìn rõ mặt nên cũng không dám chào anh sớm! Đi đâu… mà đi bộ vậy anh Vy?

    - Xe nằm trong tiệm từ hôm qua. Xong rồi, đi lấy xe đây… Anh đi đâu đó?
    - Tui đem xe thay bánh chạy mùa Đông, chắc cùng tiệm với anh, tiệm của người Việt mình.

    Ông bạn già gật gù:

    - Ừ, cùng tiệm rồi! Có mỗi tiệm Việt Nam trên đường này thôi… Thiệt tình…! bây giờ che mặt khó nhìn ra nhau, mà nhìn lâu thì lại ngại!

    - Thì vậy! Lại thêm đã già rồi, mình cũng nên tránh để mắt vào người khác, phải không anh!

    Chúng tôi cùng cười vui, thông cảm nhau. Đứng cách xa để nói chuyện theo luật, xe cộ ồn ào quá nên nói như la hét với nhau. Để ông bạn già đi lấy xe cho xong, chúng tôi chia tay, quơ quơ bàn tay và nói chia tay khơi khơi thôi; từ lâu rồi, cái bắt tay thân mật như thời còn an lành, thời chưa có con vi trùng lạ, tự dưng trở thành kiểu cách xa xưa, hết còn hợp thời buổi rồi. Hình như, kiểu mới, hợp thời, là cạ cạ… cùi chỏ với nhau.

    Đi một lúc thấy có quán cà phê, tôi qua bên kia đường và ghé vào. Quán này cẩn thận lắm, không cho khách vào bên trong, dù là khách mua để mang đi; họ chỉ bán hàng qua chỗ dành cho xe chạy ngang. Tôi đứng sắp hàng xa xa, sau chiếc xe. Khi xe phía trước mình chạy đi, tôi bước tới, lom khom nhìn qua khung cửa nhỏ, để nhìn cô bán hàng theo thói quen khi nói chuyện, dù ai cũng đang bịt mặt. Tôi mua cho mình ly cà phê và tiếp tục đi lanh quanh, cho hết giờ hẹn của tiệm sửa xe. Có ly cà phê ấm lòng và ấm bàn tay. Tôi rẽ vào con đường nhỏ vắng người, để khỏi mang cái mặt nạ bịt cả mũi và miệng, hít thở thiếu sảng khoái và không thưởng thức hương vị cà phê cho trọn vẹn được.

    Cơn dịch cúm lạ làm mọi thứ bình thường trở thành lạ thường!

    Rồi đến một ngày nào đó, được trở lại bình thường, không biết mình có thấy đó là bình thường hay không?

    Đã là mùa Đông. Qua Lễ Giáng Sinh và Tết Dương Lịch thì Tết mình gần kề. Hồi còn nhỏ, Ba tôi dạy học nên được nghỉ Tết sớm như học trò, thường chạy xe về chăm sóc mộ cha mẹ mình trước Tết. Hồi ông Nội tôi mất, Ba tôi phải bỏ học, rời trường Petrus Ký, ở Sài Gòn, về quê nhà để chăm sóc mẹ già và ruộng vườn. Sau đó, quê hương ruộng vườn nơi Ba và bà Nội ở, về đêm hết còn yên bình. Đêm nghe tiếng chó sủa, biết là quân du kích lẻn về làng. Sáng ra, lại thấy người trong xóm bị giết, xác trôi trên sông hay thây bị bỏ ngoài phố chợ; kèm với tờ giấy ghi bản án dành cho “kẻ thù của nhân dân”, cột theo thi hài không toàn vẹn của người bất hạnh. Ba tôi đành phải bỏ ruộng vườn, đem mẹ mình trốn ra thành phố sinh sống và làm nghề dạy học. Thỉnh thoảng, Ba chạy xe về thăm viếng mộ cha mình và chăm sóc ruộng vườn, trong ban ngày mà thôi. Rồi bà Nội cũng rời phố phường nhộn nhịp, về thôn xóm nằm an nghỉ nghìn thu bên ông Nội. Mỗi năm hai lần, mẹ tôi thay Ba, dẫn anh em chúng tôi về thăm vườn nhà. Chúng tôi quét dọn cỏ hoang và mẹ dạy cho chúng tôi thắp nhang nơi mộ ông bà Nội, theo nghi lễ ngày Giáp Tết. Với tuổi thơ, đấy là kỷ niệm vui nhất; được về thôn quê thì mùa nghỉ hè hay nghỉ Tết, đều vui như Tết!

    Chuyến đi về thôn xóm thời đó rất xa đối với tuổi thơ, thật vui và lại thêm rất thú vị, vì chúng tôi được đi bằng tàu đò và xe đò. Phương tiện chở người bằng đường bộ ở Việt Nam ngày xưa có nhiều loại xe, nên có nhiều tên gọi khác nhau theo địa phương. Nói chung, xe loại lớn có khoảng 50 chỗ ngồi, với người miền Trung đó là “xe đò”, với người miền Bắc là “xe hàng” hoặc “xe khách”. Loại xe nhỏ hơn, nhưng chèn nhét chở chen chúc từ 15 chỗ trở xuống, thì dân chúng miền Trung cho là “xe lô”, dân ở miền Bắc có chỗ kêu là “xe lô-ca-xông”, có chỗ kêu là “xe ca”. Trước ngày Sài Gòn bị mất tên, người từ miền Bắc vào miền Nam đã lâu, cũng như người ở miền Trung, sau này cùng dùng theo tên gọi của dân miền Nam, cũng thường gọi là “xe đò”. Rời thành phố, xe cộ thưa vắng hơn. Khung cảnh hai bên đường mở rộng ra với đồng quê yên bình, tươi mát, ruộng đồng mênh mông, các rặng cây xanh nối nhau như bất tận. Đường chạy ra ngoại ô càng lúc trống trải hơn. Tài xế tăng tốc độ, cho xe chạy vun vút. Hai lơ xe đứng bên hong và sau xe, thêm tai và thêm mắt cho tài xế. Họ tiếp tài xế ngó chừng đường xá cùng người và xe bên lề, cùng trông chừng hành khách trong xe. Họ rất linh hoạt, khi thì rút người vào, khi đứng một chân trên xe ma tung người ra. Lúc xe sắp qua cầu hay xe qua mặt nhau thì lơ xe vỗ thùng xe thình thịch, rồi hô lên báo tin và nhắc chừng hành khách nhớ rút tay, rút đầu vào bên trong xe để tránh nguy hiểm. Lơ xe chỉ rút vào bên trong xe khi hai xe qua mặt nhau trong đoạn đường hẹp, hoặc khi xe qua cầu mà thôi; hầu như lúc nào thân người của họ cũng đứng đu đưa, dang tay, bung chân và miệng thì oang oang các thứ diển biến cho hành khách và tài xế biết, hay chỉ chào đùa hoặc chọc ghẹo người bên đường cho vui. Thấy có người đón xe thì lơ xe báo cho tài xế chậm lại để rao mời kiếm thêm khách, nếu xe còn chỗ trống. Hai lơ xe lanh lẹ và tậm tâm lắm; phụ nhau đưa giúp người lên xe hay xuống xe được nhanh chóng và an toàn; nhất là khách với hành lý cồng kềnh, có dẫn theo trẻ con, hoặc người lớn tuổi… Chừng như ai cũng có bà con, thân thuộc với lơ xe; từ anh rể, chị dâu, bác, chú, ông ngoại, bà ngoại, khách có con gái trẻ đẹp đi theo thì thường sẽ được gọi là “Ba”, “Má”. Hoạt cảnh trên xe, trên đường, cùng tiếng động cơ, kèn xe, tiếng hô la, kêu gọi … đối với trẻ con chúng tôi thật là vui mắt và vui tai; không hề chán và quên mất những tù túng chật chội trong xe. Tuy ồn ào như thế, nhiều hành khách vẫn ngồi ngủ ngon lành; chắc có một số người lớn cũng thấy thú vị, nhưng thú vị một cách khác, có khi lại tình tứ và nhớ thương như tác giả Lê Duy Đoàn trong bài thơ “Ngày xưa, xe đò”:

    Hồi xưa đi học xe đò,
    Ngó lui anh đã lò dò theo sau.
    Lên xe chẳng biết ngồi đâu,
    Đành ngồi xuống ghế gần nhau vai kề,
    Hương thầm người ấy lạ ghê,
    Thoáng hương người ấy mà mê mẫn người,
    Xa nhau mấy chục năm trời,
    Tưởng chừng như vẫn còn ngồi gần nhau.

    Xe đến bến, chúng tôi phải lấy một chuyến đò đi tiếp. Không phải là đò ngang, chỉ bơi chèo đưa người ngang qua bến sông bên kia; mà là một chuyến đò dọc, chở khách chạy dọc theo dòng sông một đoạn khá xa, mới tới đất vườn của gia đình. Trong khi chiếc tàu đò chờ đủ khách, chúng tôi được ăn quà vặt. Tôi thích nhất là món nước mía. Nước mía tươi thật thơm ngon, ngọt lịm, mát rượi với đá lạnh và thoang thoáng hương vị của trái hạnh. Đi tàu đò cũng thú vị không kém xe đò. Đối với trẻ con thành phố, được đi tàu đò thì thích lắm. Thời trước năm 1960, sông nước miền Nam mình chưa có “vỏ lãi”; loại ghe tàu hình dáng dài và hẹp, nên luồn lách và lướt vùn vụt trên mặt sông. Tàu đò lúc bấy giờ sâu và rộng nên vững vàng, nhưng chạy chậm hơn nhiều. Tuy vậy, những người từ thành phố về làng, mà không biết bơi như mẹ tôi thì nét mặt căng thẳng, lo cho mình cùng đám con trẻ trên sông nước. Mấy đứa em của tôi thì bị mẹ tôi nắm giữ tay chằng chằng. Mẹ không lo cho tôi lắm vì tôi biết bơi rồi, không bắt tôi phải nắm tay bà như mấy đứa em, nhưng mỗi khi tôi lảng vảng quá gần mé sông là nghe mẹ tôi gọi giật lại. Trẻ con chúng tôi chưa biết lo lắng, chỉ thấy vui và nôn nao mong cho mau được xuống tàu. Hành khách ngồi trên băng ghế gỗ, đóng dọc theo hai bên thành tàu. Chính giữa dành cho lối đi. Khung mui tàu thấp, người lớn phải đi lom khom. Hàng hóa cồng kềnh được chất trên mui. Máy đặt bên trong khoang tàu. Tài công ngồi ghế đầu, gần mũi tàu, có tay lái trông giống như lái xe đò, nhưng phía bên phải. Tốc độ tàu đò chậm hơn xe đò, sông rộng dễ tránh né nhau, nên người làm lơ tàu đò có vẻ nhàn hạ, không phải đeo bên hong tàu mà hô la như lơ xe; nhưng cũng rất tận tình giúp hành khách rời tàu hay lên tàu, vì những cây cầu gát lên bờ hẹp và khó đi hơn bước đi trên mặt đường. Khi tàu chạy, sóng cuộn rào rạt; ngồi thò tay ra cửa sổ, vói xuống sông đùa với sóng, sóng lướt qua kẽ ngón tay mát lạnh...

    Khung cảnh thôn làng hiền hòa, thân ái, khác hẳn với chốn thành thị. Chuyến về thấp nhang mộ ông bà nội, thường là năm ba ngày trước Tết. Dù chưa hẳn là Tết, chúng tôi thấy mùa Xuân đã đến trên cánh hoa, trái cây tươi mọng, trong nụ cười, ánh mắt của mọi người quanh mình. Chỉ có những năm xưa ấy, khi còn cùng ba về thăm mộ phần ông bà, tôi mới thấy ba tôi thật tươi vui trong ngày Tết. Nhưng chỉ được vài ba năm, thì làng nhà bị đánh chiếm. Quân chiếm đóng làng mình xếp ba vào loại kẻ thù số một, vì ông là “công chức” và là “trí thức”. Do đó, mẹ và anh em tôi cũng thuộc thành phần “có tội với nhân dân”. Năm ấy, mẹ cũng dẫn chúng tôi về thăm viếng và thấp nhang mộ ông bà Nội vào dịp Tết, nhưng chỉ ở mới vài giờ, thì phải theo dân làng xuống ghe chạy giặc, ào ạt bơi chèo chạy ra ngoài chợ và về tỉnh thành ngay. Hè đến, ba tôi đạp xe chở tôi về làng, định đột ngột lẽn về thăm mộ cha mẹ. Như trong câu chuyện “Khi Tôi Về”, chỉ mới vừa qua chợ đầu làng thì gặp đoàn ghe xuồng của dân làng chạy tản cư ra chợ; nơi có đồn bót của quân đội mình bảo vệ. Tôi nghe bà con trong xóm nói với ba tôi, phía trước là hầm chông và mìn bẫy; đã lâu lắm rồi, không ai dám dùng đường bộ, chỉ chèo chống xuồng đi lại trên sông mà thôi. Thật vậy, con đường mòn phía trước trông âm u quá; cỏ dại, cây hoang mọc um tùm, chỉ còn chừng hai bàn chân người bước đi. Ba thẫn thờ, quay chiếc xe đạp về hướng chợ. Tôi leo lên yên xe ngồi. Ba tôi chậm chậm đạp xe, như luyến tiếc xa rời thôn xóm của mình. Tôi chưa hiểu hết ngọn ngành, chỉ thấy Ba tôi buồn lắm, nên ngồi yên lặng, không dám nói hay hỏi han chi thêm.

    Thế rồi, từ mùa Hè đó, mộ phần ông bà nội tôi không may lọt vào vùng bên kia chiến tuyến, gia đình chúng tôi không còn về thôm xóm như trước. Từ đó, gia đình tôi chỉ làm lấy có ngày Tết, theo vài nghi thức cần có trong ngày Tết tại thành phố. Ba tôi không còn tha thiết đón Xuân cho lắm. Tết đến, nhà không có nhiều khách. Hàng xóm, đồng nghiệp và ba qua lại, gọi là chúc Xuân. Về “Mừng Tuổi” bà ngoại thì nhà bà cũng vắng, hai cậu của tôi trong quân đội, xa xôi nơi đóng quân, không được về phép. Tôi cũng không còn cảm thấy Tết là vui hay đặc biệt cho lắm, như trong thời miền Nam còn yên bình và mình được về trong làng. Có tiền, cùng bạn bè đi xem phim, đi ăn uống lặt vặt… cho hết mấy ngày Tết. Nhưng, những thứ ấy ngày thường trong năm cũng có, không phải chờ đến Tết. Không có gì thay thế được cho niềm vui của tuổi thơ, nơi thôn xóm có mộ phần ông bà, nay đã bị chiếm đoạt mất rồi. Và rồi sau Tết Mậu Thân năm 1968; cái Tết tang tóc, kinh hoàng…

    Từ đó, ngày Tết lại càng thêm khác!

    Khác nhiều lắm!

    Tết đã không còn là Tết của miền Nam, với niềm vui trong an lành hạnh phúc, như trước đây. Tết trở về nhắc nhớ lắm tang thương. Đến sau tháng Tư năm 1975, chốn tù đày đã không có mùa xuân, đó là điều hiển nhiên. Khi về xã hội bên ngoài nhà tù thì cũng vẫn thế. Quanh tôi, cũng vẫn các thứ giống như trong trại tù. Cũng lá cờ đỏ. Cũng các băng đỏ. Cũng tiếng loa từ khóm phường với các âm thanh nheo nhéo xa lạ, nối nhau châm chích vào tai và xuyên xéo tận óc, suốt ngày dài đến khuya tối. Nghe như trong tù, cùng một kiểu cách nói với chữ nghĩa khác thường, kỳ dị…

    Tôi vẫn còn nhớ mùa Xuân!

    Nhưng Sài Gòn đã mất tên và đất nước mình đã tuần tự bị nhà cầm quyền đem dâng hiến cho quan thầy nơi phương Bắc. Trên quê hương Việt Nam bây giờ, Xuân chỉ còn là các thứ “mừng đảng mừng Xuân”, “đại thắng mùa Xuân”… Những câu tuyên truyền được chế độ cầm quyền lập đi lập lại từ năm này sang năm khác; người ta viết vẻ, sơn phết chúng trên nền màu đỏ, treo trên căn phố, cơ quan, cột ngang qua đường, qua hẻm. Chúng nó trông giống như những lớp băng nhuốm ướt máu, trên các vết thương chưa hề lành của hàng triệu người dân Việt Nam bất hạnh.

    Từ đó, Tết đã không còn là Tết!

    Trời mùa Đông lạnh, cà phê trong ly bị lạnh theo nhanh lắm. Thành phố nơi đây đang là mùa Đông và rồi mùa Xuân cũng sẽ đến. Mùa Xuân cũng sẽ trở về trên vạn vật. Nhưng Tết đã vẫn không còn là Tết trên quê hương Việt Nam mình, mà là… “... nhiều niềm đau thương bi hận tràn đầy”, như nhạc sĩ Ngô Thụy Miên đã ghi lại trong dòng nhạc “Em Còn Nhớ Mùa Xuân”, được sáng tác tại Sài Gòn sau năm 1975:

    “Trời Sài Gòn chiều hôm nay còn nhiều mưa bay
    Nhiều niềm đau thương bi hận tràn đầy
    Gượng nụ cười giọt lệ trên môi
    Nhìn đất nước tơi bời một thời em có hay…”

    Tết. Sài Gòn. Có đâu bằng Sài Gòn hôm qua.
    Sài Gòn đã mất!

    Tết!

    Bùi Đức Tính


Hội Quán Phi Dũng ©
Diễn Đàn Chiến Hữu & Thân Hữu Không Quân VNCH




website hit counter

Working...
X