Thông báo

Collapse
No announcement yet.

Bạch Mã

Collapse
X

Bạch Mã

Collapse
 
  • Filter
  • Giờ
  • Show
Clear All
new posts

  • BachMa
    replied
    Thương Tiếc Người Phi Công Trẻ

    Thương Tiếc Người Phi Công Trẻ
    Hoàng Ánh Nguyệt

    Cuộc chiến tranh Việt Nam đã khép lại 40 năm qua, nhưng những dư âm tang thương từ “Tháng Tư Đen” vẫn còn là nỗi đau vang vọng trong lòng chúng ta, trong lòng từng gia đình, nhất là những gia đình có những người thân yêu đã một thời khoác áo kaki…


    Thiếu Úy Hồ Xuân Đạt

    Gia đình tôi cũng không ngoại lệ. Anh, em trai hầu hết là quân nhân. Chồng tôi, Hoàng Ngọc Thái Đại Úy Công Binh, anh Hai Thiếu Tá Pháo Binh, anh Ba Chiến Tranh Tâm Lý, em thứ Năm Trung Tá Tiểu Đoàn Trưởng Công Binh, em thứ Sáu Trung Sĩ Pháo Binh, và em thứ Bảy Thiếu Úy Không Quân. Tất cả những quân nhân trong gia đình đã chiến đấu hào hùng vì lý tưởng, chính nghĩa Quốc Gia, sẵn sàng hy sinh mạng sống cho một Tổ Quốc Tự Do toàn vẹn.

    Năm 1967, Em tôi, Hồ Xuân Đạt, khi vừa đậu xong bằng tú tài I, dù vẫn được hoãn dich vì lý do học vấn, vẫn tình nguyện lên đường theo tiếng gọi của non sông. Em đã xếp áo thư sinh, Từ giã học đường, gia đình, bạn bè…gởi lại sau lưng những kỷ niệm, những ước mơ thật đẹp, thật hồn nhiên của tuổi mới lớn.

    Năm 1968, sau khi tốt nghiệp trường Sĩ Quan Bộ Binh Thủ Đức, em được chọn vào ngành Không Quân và được gửi đi Hoa Kỳ thụ huấn khóa đào tạo phi công trực thăng (Helicopter) tại tiểu bang Texas Hoa Kỳ.

    Năm 1970, khi tốt nghiệp em về lại Việt Nam, phục vụ tại phi trường Biên Hòa thuộc Sư Đoàn III Không Quân QLVNCH. Ngay chính nơi chôn nhau cắt rún của mình.


    Bằng Lái Máy Bay

    Hai năm sau, vì nhu cầu chiến trường, em nhận lệnh thuyên chuyển ra vùng I chiến thuật, công tác tại phi trường Đà Nẵng rất gần với đơn vị của chồng tôi. Khi ấy, chồng tôi, đại úy Hoàng Ngọc Thái, đại đội trưởng đại đội Biệt Lập 127 Cầu Nổi.

    Hàng tuần vào những ngày nghỉ, em hay về nhà tôi chơi trong khu cư xá Phước Tường Đà Nẵng. Chị em có nhiều dịp gần gũi nhau hơn. Em hay kể cho tôi nghe về những chuyến bay tác chiến, những phi vụ tiếp tế và tải thương tại chiến trường về đêm đầy những hiểm nguy mà em tham dự. Về những người lính can đảm đã anh dũng chiến đấu, đã hy sinh bỏ mình cho tổ quốc.

    Chiến tranh vẫn tiếp diễn và em tôi, vẫn hằng đêm thực hiện những phi vụ hiểm nguy để yểm trợ, sát cánh cùng chiến hữu các đơn vị để chiến đấu bảo vệ mảnh đất quê hương.


    Bằng Lái Máy Bay

    Tháng 3 năm 1975, Đà Nẵng trong tình trạng dầu sôi lửa bỏng. Tin tức địch quân sắp chiếm Đà Nẵng làm dân chúng xôn xao, hỗn loạn tìm đường thoát chạy. Trong khu cư xá sĩ quan của Liên Đoàn 8 Công Binh, tôi không làm sao liên lạc được với chồng vì anh đang phải cấm trại tại đơn vị. Vừa lo lắng cho chồng, vừa lo cho Đạt em tôi, vừa lo cho chính bản thân mình và các con. Sau này nghĩ lại, thời gian ấy thật sự đáng sợ và kinh khủng nhất trong đời tôi.

    Bỗng nhiên một buổi sáng trước ngày Đà Nẵng thất thủ, Đạt lái trực thăng đáp xuống khoảng sân rộng trước nhà tôi ở khu cư xá sĩ quan Công Binh Phước Tường. Khi bước vào nhà gặp tôi, trông em có vẻ căng thẳng và lo lắng. Em nói “Chị và các cháu chuẩn bi sẵn sàng. Em sẽ trở lại đón vào phi trường tìm đường về Sàigòn càng sớm càng tốt”.

    Nói xong, em quay lưng bước vội về chiếc trực thăng vẫn còn đang nổ máy ngoài sân. Trước khi cất cánh, em nhìn tôi rồi gượng nở nụ cười qua khung cửa gió của con tàu..
    Tôi không bao giờ ngờ rằng đó là lần cuối cùng tôi nhìn thấy Đạt. Cũng là lần cuối cùng tôi nhìn thấy nụ cười của em tôi. Một nụ cười buồn, rất buồn. Bởi, em chẳng bao giờ trở lại đón tôi như lời đã hứa.

    Ngày 29/03/1975 Đà Nẵng thất thủ.

    Ngày 05/05/1975 với nhiều vất vả, khổ cực, tôi một mình dìu dắt bốn đứa con nheo nhóc từ Đà Nẵng về nhà mẹ ở Sàigòn. Về đến nhà Mẹ thì mới hay Thái, ông xã tôi, đã có mặt ở nhà Mẹ cả tháng, vì nghĩ rằng chú các cháu đưa vợ con vào phi trường về Sài Gòn trước nên trong lúc thất thủ anh cũng vất vả tìm cách về Sài Gòn, anh có ngờ đâu vợ con anh còn kẹt lại Đà Nẵng. Bỏ ăn, bỏ ngủ với thân hình tiều tụy, vì nhớ thương vợ con, anh đã không từ một xác trôi nổi nào được tấp vào bất cứ bãi biển, bến tàu nào anh cũng tìm đến nhìn mặt, anh lang thang khắp nơi như người mất hồn

    Tôi cũng không gặp được anh vì anh đã đi ngược ra Đà Nẵng tìm vợ con sau một tháng trời mất liên lạc. Giữa đường anh bị bắt, bị bịt mắt còng tay ra sau lưng, bị dẫn độ đi ngày đêm trong rừng sâu, và từ đó anh bặt tăm, một lần nữa tôi lại đi tìm chồng, không biết địch có để cho anh sống hay chúng đã giết anh rồi…Nhưng may mắn anh còn sống. Tôi đã gặp anh và anh đang bị tù mãi tận trong núi Kỳ Sơn Quãng Nam…

    Ngày tháng trôi qua cả nhà tôi lại tiếp tục đi tìm em trai Đạt, hết trại tập trung này đến trại cải tạo kia, vẫn không nơi nào có tên em, cứ tưởng Đạt bay đi được ra khỏi Việt Nam và đang tị nạn ở Hoa Kỳ, Canada hay một nước nào đó trên thế giới, không ngờ đến tháng 11/1975 một anh quân nhân VNCH cùng đi trên chuyến bay định mệnh, sau khi máy bay bị bắn rớt, anh bị bắt đi tù gần 8 tháng về kể lại:

    Máy bay cất cánh vội vàng với số lượng quá tải, cũng cố cất cánh bay cao rời khỏi phi trường Đà Nẵng với bao nhiêu người trên chuyến bay định mệnh trong những giờ phút mà đạn pháo quân thù bay ra xối xả, Đạt có ngờ đâu đó là phi vụ cuối cùng của cuộc đời binh nghiệp…

    Khi phi cơ bay qua vùng Bồng Sơn thuộc tỉnh Bình Định thì bị một loạt mưa đạn AK của địch từ phía dưới bắn lên nhắm ngay buồng lái, Đạt bị trúng thương, người phi công nữa vào thay cũng bị bắn, trong lúc Đạt bị bắn trọng thương anh lính đã chăm sóc, Đạt biết mình không thể sống, nên đọc địa chỉ nhờ nhắn tin về nhà, cả hai phi công đều tử nạn, chiếc trực thăng không người lái, bay chúi xuống ruộng, sát chân núi. Những người trên chuyến bay còn sống đã bị địch bắt…

    Vẫn giữ lời, sau khi ra tù anh quân nhân tốt bụng, đã tìm đến tận nhà báo tin về chiếc phi cơ của Đạt bị địch bắn và rơi xuống vùng Bồng Sơn (Bình Định) ngày 27/03/1975 như tôi đã kể trên. Và chỉ rõ địa điểm máy bay lâm nạn.

    Quá bất ngờ lẫn đau sót và vô cùng bối rối, và cũng vì anh lính vội vã về gia đình nên anh lính chỉ báo tin cho biết và đi ngay, cả nhà tôi nghe tin sét đánh, đã lặng người, không còn nghe thấy gì, không còn nhớ tên anh lính cũng như địa chỉ hay quê quán nơi anh cư ngụ…

    Theo lời anh lính chỉ đường, tôi và Má tôi đi xe đò ra Bồng Sơn, mặc dù không rành đường, nhưng khi xe chạy gần đến nơi tôi linh tính như có ai dẫn đường, tôi kêu xe ngừng lại đúng ngay địa điểm chiếc máy bay vẫn còn nằm dưới đám ruộng tuốt trong xa, gần chân núi, chỉ cần sơ ý xe chạy lướt qua, coi như không thể tìm thấy.

    Xuống xe quan sát, tôi nhìn thấy ngay nấm mộ đất dưới bờ ruộng, sát lề đường QL.I. ,không mộ bia. Hai bên đường là ruộng, xa xa mới có một căn nhà. Má và tôi tìm đến căn nhà gần nhất để hỏi thăm, cũng may mắn chính ông chủ căn nhà là một trong số những người dân ở đó chôn em tôi khi bị nạn giữa đường mà không có thân nhân… Mộ em nằm cách nhà ông khoảng 50 m. Thuộc thôn Vân Cang, Xã Hoài Đức Huyện Hoài Nhơn, Tỉnh Bình Định.

    Ông chủ nhà rất tử tế, khi được biết chúng tôi đi tìm mộ người thân, ông mời Má và tôi ở lại nhà ông,vì khi tìm đến nhà ông trời cũng đã chạng vạng. Một căn nhà tường xây thật lớn, coi như ông là người khá giả nhất vùng đó, tắm rửa xong, ông mời dùng cơm, một bửa cơm thịnh soạn, thật cảm động, ông kể:

    Khi máy bay rớt ông là người đứng ra chôn cất em tôi và một phi công nữa cùng bị nạn chung trên chuyến bay này. Nhưng anh phi công đó được gia đình biết sớm nên đã di dời về quê. Đêm đó ông lại nhường phòng ngủ của ông cho hai má con tôi ngủ, cái đặt biệt nữa là cái bóp của Đạt, tôi đã nhận ra ngay vì khi em tôi du học Mỹ em mua về sử dụng tôi có biết cái bóp da có hình đầu con Ngựa được đóng nổi. Trong bóp lại còn có tấm hình em mặc bộ đồ bay, tôi mang ra và xin phép ông được nhận lại kỷ vật…

    Ông rất vui vẻ. Ông cho biết khi ông chôn cất em tôi ông giữ lại kỷ vật này, ông vẫn để trên đầu giường (giường hộp) của ông.

    Sáng hôm sau, Má tôi nhờ ông làm dùm tấm bia bằng gổ cắm trên mộ em tôi. Vì mộ mới nên không thể hốt cốt mang về. Và lần gặp này gia đình tôi rất mang ơn ông, mỗi khi có dịp vào Sài Gòn ông và các con ông đều ghé nhà chơi.

    Năm năm sau Má tôi trở ra Bình Định hốt cốt em về và hỏa thiêu, sau đó gửi cốt vào chùa, Đạt mất khi em mới 25 tuổi.

    Cái kỷ niệm đau thương, buồn rầu ấy cứ mãi đeo đẳng theo tôi đến tận bây giờ, trong trí tôi lúc nào cũng hình dung cái chết tức tưởi, đau đớn của em mình và trong lòng tôi như có một vết thương chưa lành hẵn…

    Bài viết này, tôi ôn lại và ghi lại những gì tôi còn nhớ, những gì tôi được biết. Tôi chỉ còn nhớ và chắc chắn là không đầy đủ chi tiết.

    Đã 40 năm qua, thời gian cứ trôi, bao kỷ niệm cay đắng vẫn còn, càng cố quên hình ảnh đứa em thân thương đó tôi lại càng cứ nhớ, càng yên lặng là lúc hồn tôi miên man nhớ về quá khứ, cái quá khứ đau xót mà gia đình tôi nhận lấy.

    Có nhiều kỷ niệm, kỷ niệm vui buồn, nhiều thứ để quên, nhưng nỗi đau mất mát này không thể nào phai nhạt. Đạt là đứa em gần gũi tôi nhiều nhất.

    Chiến tranh qua đi, là một nỗi đau hằn sâu vết thương lòng cho những người còn lại, sau cuộc chiến là sự mất mát tang thương, bao nhiêu người con yêu của tổ quốc đã xong nợ xương máu không trở về, bao nhiêu quả phụ chít khăn tang khi mái tóc còn xanh, trở thành góa phụ ngây thơ với nỗi buồn và sự mất mát to lớn.

    Không có người Mẹ, người vợ nào trên thế giới lại không tan nát trái tim, trước sự mất mát quá lớn này, sự ra đi vĩnh viễn của những người con, những người chồng, người cha của mình “Vị Quốc Vong Thân” ! Đã hy sinh một cách âm thầm.

    “Tổ Quốc Không Gian”, vùng mây trời mênh mông bao la đã vương giọt máu đào của em tôi, của Đạt, của những người anh hùng nghiêng cánh sắt. Cố bảo vệ, gìn giữ quê hương, đã đem sinh mạng đổi lấy hai chữ “Tự Do”.

    Hồ Xuân Đạt một phi công trẻ của QLVNCH, đã chết vì quê hương, dân tộc. Là người thanh niên Biên Hòa, lớn lên trên dãy giang sơn hoa gấm thân yêu hình chữ “S”, một đất nước hiền hòa đầy tình dân tộc được dựng xây bằng xương máu của các bậc tiền nhân bốn ngàn năm văn hiến, sẽ mãi mãi làm trang sử QLVNCH đời đời sống dậy và người lính Việt Nam Cộng Hòa sẽ không bao giờ chết.

    Xin chân thành biết ơn những anh em Thương Phế Binh VNCH đã hy sinh một phần thân thể cho quê hương, cho chúng tôi còn được nguyên vẹn.

    Xin chân thành gởi nén hương lòng “Tưởng Niệm” đến những Anh Hùng QLVNCH. Những người nằm xuống trong cuộc chiến, những người tuẫn tiết vì quốc nạn 30/04/1975 và những người ngã gục trong lao tù cộng sản. Những Anh Hùng Bất Tử trong dòng lịch sử Việt Nam.

    Hoàng Ánh Nguyệt

    https://www.facebook.com/photo.php?f...type=3&theater

    Leave a comment:


  • BachMa
    replied
    Khóa 17 & Không Quân

    Khóa 17 & Không Quân
    Bắc Đẩu Võ Ý - K17



    Hình minh họa

    Vào trung tuần tháng 11 năm 1960, hơn hai trăm thanh niên khắp các tỉnh thành miền Nam đã hội tụ về thành phố sương mù Đà Lạt để tình nguyện gia nhập Khóa 17 (K17) Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.

    Ngày 30 tháng 3 năm 1963, 180 tân sĩ quan của K17 tốt nghiệp Thiếu Úy Hiện Dịch, trong đó có 30 sĩ quan đã được tuyển qua Không Quân từ năm học thứ 2, vào năm 1962.

    Mùa xuân năm 1962, Bộ Tư Lệnh Không Quân đề cử một số sĩ quan Không Quân lên Trường Võ Bị Đà Lạt thuyết trình về tổ chức, hoạt động của Không Quân Việt Nam Cộng Hoà trong cuộc chiến tự vệ, để chiêu mộ một số Sinh Viên Sĩ Quan K17 chọn quân chủng nầy.

    Hơn một trăm Sinh Viên Sĩ Quan K17 ghi danh chọn Không Quân. Thời gian ngắn sau, Bộ Tư Lệnh Không Quân đưa máy móc, thiết bị lên Quân trường để kiểm tra (TEST) về khả năng phản ứng tay chân của 100 Sinh Viên Sĩ Quan đã ghi danh.

    Hình như khoảng 70 Sinh Viên Sĩ Quan qua (pass) được TEST nầy. Không lâu sau, 70 vị được mời về Trung Tâm Giám Định Y Khoa trong căn cứ Không Quân Tân Sơn Nhứt để khám nghiệm sức khoẻ tổng quát, tai mắt mũi họng, và tim gan phèo phổi. Mọi cơ phận phải tuyệt hảo để trở thành một phi công!

    Cuối cùng chỉ còn 30 Sinh Viên Sĩ Quan qua được cửa ải khe khắt nầy. Ngay sau khi mãn khoá, 30 tân sĩ quan K17 được tuyển, về trình diện Bộ Tư lệnh Không Quân để nhận giấy nghỉ phép hai tuần, sau đó tất cả trình diện Đại Úy Truyền, Liên Đoàn Sinh Viên Sĩ Quan tại Trung Tâm Huấn Luyện.

    Tại Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân, 30 tân sĩ quan được cải danh thành Sĩ Quan Khoá Sinh để theo học ESL (English as Second Language) tại Trường Anh ngữ thuộc Trung Tâm nầy. Để được tuyển chọn du học Hoa Kỳ, mọi khoá sinh phải đạt điểm 70 ESL qua một cuộc trắc nghiệm sau 3 tháng học tập.

    30 Sĩ Quan Khoá Sinh đều “pass test ESL” nầy, nhưng thay vì học bay tại Mỹ, họ được (hay bị) học bay tại Nha Trang. Về điểm nầy, có bạn cho rằng, cánh cửa du học Mỹ ngày càng hẹp lại. Có bạn lại nghĩ, cấp trên muốn huấn luyện 30 sĩ quan Đà Lạt thành hoa tiêu sao cho nhanh!

    Số là, vào năm 1963, Không Quân Mỹ áp dụng thử kế hoach huấn luyện cho các Không Quân Đồng Minh tại quốc gia sở tại thay vì tại Hoa Kỳ. (Cho đỡ tốn kém chăng?) Một toán huấn luyện lưu động (trainning mobile team) gồm các Huấn Luyện Viên địa huấn & phi huấn (ground school & fly school), chuyên viên cơ khí ,và máy bay Cessna U17 (máy bay huấn luyện, một động cơ, 6 chỗ ngồi) được gởi qua Nha Trang để huấn luyện phi công quan sát tại đây cho các khoá sinh Việt Nam.

    Tất cả 30 tân sĩ quan Khoá 17 (và một số Sinh Viên Sĩ Quan Không Quân khác) được theo học Khoá L1 Cessna U17, khai giảng vào khoảng tháng 7 (hay 8) năm 1963, là khoá thí nghiệm đầu tiên, do Không Quân Mỹ huấn luyện phi công Việt Nam tại bản địa. Vì các Huấn Luyện Viên địa huấn và phi huấn đều là Không Quân Mỹ, nên khoá sinh Việt Nam bắt buộc phải học, phải hiểu và phải nói tiếng… Mỹ!

    Chương trình địa huấn khoảng 3 tuần, gồm cấu tạo phi cơ, tác động của gió (khí động học), sức nâng, sức cản, công dụng của bình ổn ngang, bình ổn đứng, cánh cản, cánh phụ, v.v…

    Mỗi khoá sinh phải học bay với Huấn Luyện Viên (instructor pilot) trung bình từ 10 đến 15 giờ bay. Các cựu Huấn Luyện Viên hoa tiêu phi cơ T41, Nguyễn Duy, K17 (Houston) và Nguyễn Văn Phúc, (Quận Cam) cho rằng, phải mất từ 25 giờ đến 30 giờ mới được thả bay một mình, còn gọi là bay solo. Khi thả học trò solo, coi như thầy tin tưởng vào khả năng bay bổng an toàn (safety first) của học trò của mình.

    Ngày thả bay solo là một ngày khởi đầu vô cùng trọng đại của một phi công. Ngày đó, học trò (một mình một tàu) cất cánh và đáp liên tục 3 lần. Sau lần đáp thứ 3 (full stop) coi như xong và học trò taxi phi cơ (di chuyển) về bến đậu. Nếu phi vụ solo diễn ra tốt đẹp, nghĩa là safety, học trò sẽ nhận nghi lễ truyền thống là được thầy của mình dội một xô nước lạnh lên đầu!

    Những tháng sau, khoá sinh học bay hoàn bị như điều khiển phi cơ quẹo gắt bên trái, bên phải, bay lượn thành hình số 8 (lazy eight), lấy lại thăng bằng khi phi cơ bị triệt nâng (stallrecovery)…

    Thêm vào đó là học kỹ thuật đáp sân ngắn gió ngang, cất cánh trên sân ngắn, tập bay đêm, bay phi cụ (instrument flight) để có thể bay trong mây, trong mưa, ban đêm hay khi trời mù. Bài học quan trọng nhất vẫn là thực tập đáp khẩn cấp (emergency landing) trong trường hợp phi cơ gặp trục trặc kỹ thuật. Sau cùng học cách lập một phi trình để bay du hành (cross country) từ điểm A đến điểm B, điểm C…

    Sau 5 tháng học bay (từ tháng 8 đến tháng 01/1964), 30 Thiếu úy Khoá 17 Lê Lai Trường Võ Bị Quốc Gia tốt nghiệp thành 30 hoa tiêu quan sát trên phi cơ U17 hay còn gọi là Cessna 185. Sau ngày tốt nghiệp, 30 tân phi công được chuyển về căn cứ Không Quân Biên Hoà để tiếp tục học bay hành quân trên phi cơ bird dog Mỹ (phi cơ O1- hay còn gọi phi cơ L19 hay máy bay bà già) trong vòng 1 tuần với các hoa tiêu của Lục Quân Mỹ (Army Aviation).

    Sau một tuần học bay hành quân trên O1 (L19), 30 phi công Khoá L1 Không Quân Nha Trang sẵn sàng tung cánh. Họ được phân phối về 03 Phi Đoàn Quan Sát bấy giờ (1964) là:

    Phi Đoàn 110 (Đà Nẵng): Lê Hoành Anh, Nguyễn Duy Diệm, Lê Sĩ Thắng, Hoàng Đức Thịnh, Bùi Văn Lợi, Trần Minh Vũ, Võ Ý.

    Phi Đoàn 112 (Biên Hoà): Nguyễn Hữu Xuân, Lê Hữu Trí, Cao Ngọc Quang, Nguyễn Văn Hoàng, Võ Phi Hổ, Nguyễn Văn Hùng, Nguyễn Quang Kim, Huỳnh Văn Tòng, Trần Bạch Thanh.

    Phi Đoàn 114 (Pleiku): Nguyễn Duy, Nguyễn Xuân Tám, Nguyễn Văn Xuân, Hà Thuyên, Vũ Khắc Huy, Dương Thanh Long, Nguyễn Phụng.

    Khoảng đầu năm 1965, Phi Đoàn 114 chuyển về Nha Trang, đồng thời Phi Đoàn 116 được thành lập và đặt tại căn cứ Không Quân Trà Nóc, Cần Thơ.

    Phi Đoàn 116 (Cần Thơ): Nguyễn Đức Gia, Ngô Nhơn, Huỳnh Cao Khải, Huỳnh Công Đặng, Hoàng Thiên Hựu, Nguyễn Minh Nhựt, Nguyễn Văn Thình.

    Sau một năm phục vụ, nếu các hoa tiêu đạt trên 500 giờ bay hành quân trên các loại phi cơ quan sát (L19, L20, và U17), có thể làm đơn xin xuyên huấn qua các loại phi cơ khu trục hay vận tải.

    Các Không Quân K17 xuyên huấn qua khu trục là: Lê Hoàng Anh, Nguyễn Hữu Xuân, Dương Thanh Long, Cao Ngọc Quang, Nguyễn Quang Kim, Nguyễn Văn Hùng, Võ Phi Hổ, Lê Hữu Trí, Bùi Văn Lợi, Huỳnh Cao Khải và Huỳnh Công Đặng.

    Các Không Quân K17 xuyên huấn qua vận tải là: Ngô Nhơn, Nguyễn Minh Nhựt, Trần Bạch Thanh, Huỳnh Văn Tòng.

    Một vài ghi nhận không chính thức là:

    Khi các sĩ quan Võ Bị Đà Lạt về Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang để học Anh Văn, một số Sinh Viên Sĩ Quan cán bộ Không Quân tại đây rất muốn “lên mặt” ta đây là niên trưởng, là cán bộ, ra oai kiểm soát giày dép giường chiếu của các tân Thiếu Úy, nhưng không được! Khi các Không Quân gốc Đà Lạt được bổ nhiệm về đơn vị, các staff (tham mưu) của Phi Đoàn (Phi Đoàn Trưởng, Phi Đoàn Phó, Trưởng Phòng Hành Quân, sĩ quan An Phi, sĩ quan Huấn Luyện) không mấy chiếu cố. Bởi vì, trên thực tế, các vị staff đó có khi mang cấp Chuẩn Úy, hoặc Thiếu Úy giả định, trong khi các Không Quân gốc Đà Lạt mang Thiếu Úy thực thụ, hai năm sau tự động thăng cấp Trung Úy!

    Trên lãnh vực chuyên môn (bay bổng) và kinh nghiệm chiến trường thì các vị staff coi như dày dạn hơn các ông Thiếu Úy Đà Lạt, nhưng trên lãnh vực lãnh đạo chỉ huy thì mấy Không Quân gốc Đà Lạt được đào tạo bài bản và chuyên nghiệp hơn.

    Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang tuyển mộ hằng năm để đào tạo thành hoa tiêu, quan sát viên hay chuyên viên kỹ thuật…
    Khi các Sinh Viên Sĩ Quan Không Quân nầy tốt nghiệp dù ở Mỹ hay tại Nha Trang, họ tự cho mình là “Không Quân truyền thống”, nghĩa là từ dân sự vào không quân, được không quân đào tạo thành… Không Quân truyền thống!

    Như vậy có nghĩa là, khi các sĩ quan tốt nghiệp tại các trường bộ binh (như Võ Bị Đà Lạt hay Bộ Binh Thủ Đức) mà chuyển qua Không Quân, được Không Quân đào tạo thành hoa tiêu hoặc quan sát viên, họ được xem là “Không Quân lai giống”!

    Chắc hẳn thượng cấp đã có kế hoạch trẻ trung hoá các Quân Binh chủng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà nên mới tuyển các Sinh Viên Sĩ Quan Trường Võ Bị Đà Lạt qua Hải Quân và Không Quân sau khi tốt nghiệp kể từ Khoá 16. Một điều khẳng định là, khi một thanh niên dân sự được đào tạo 4 năm để trở thành cấp chỉ huy Trung Đội Trưởng Bộ Binh trên cả hai lãnh vực về quân sự lẫn lãnh đạo chỉ huy, vẫn tốn kém hơn đào tạo một phi công.

    Rất tiếc, kế hoạch chưa thành vì vận nước suy vong. Tự hào về màu cờ sắc áo của quân binh chủng mình là điều đáng trân trọng. Nhưng nếu tự hào thái quá sẽ thành tự kiêu. Giữa tự kiêu và kiêu binh nhiều khi không có ranh giới.

    Người xưa bảo, ăn cây nào rào cây ấy. Những K17, gốc Đà Lạt được tuyển qua Không Quân, phục vụ quân chủng thân yêu với tất cả nhiệt tình và trách nhiệm của một Sĩ Quan Không Quân gốc Võ Bị Quốc Gia.

    Trái tim của họ là Tổ Quốc Không Gian. Khối óc của họ là Tự Thắng Để Chi Huy! Họ tự hào là Không Quân của đất nước. Họ hãnh diện là phi công từ nguồn gốc Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.

    Cho đến cuối cuộc chiến, các Không Quân K17 đảm nhiệm những chức vụ sau:

    - Nguyễn Duy Diệm: Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Tiền Phương Không Quân Phú Bài, Huế.

    - Hà Thuyên: Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn Trợ Lực Không Đoàn Yểm Cứ Pleiku.

    - Huỳnh Cao Khải: Liên Đoàn phó Liên Đoàn Phòng Thủ Không Đoàn Yểm Cứ Cần Thơ.

    - Dương Thanh Long: Trưởng Phòng Hành Quân Chiến Cuộc Sư Đoàn 6 Không Quân, Pleiku.

    - Huỳnh Công Đặng: Trưởng Phòng Hành Quân Chiến Cuộc Sư Đoàn 4 Không Quân, Cần Thơ.

    - Huỳnh Văn Tòng và Trần Bạch Thanh: Phi Đoàn Trưởng và Phi Đoàn Phó Phi Đoàn Hoả Long 817, Tân Sơn Nhứt.

    - Lê Sĩ Thắng: Phi Đoàn Trưởng Phi Đoàn 110 Thiên Phong, Đà Nẵng.

    - Nguyễn Xuân Tám: Phi Đoàn Trưởng Phi Đoàn 114 Sơn Ca, Nha Trang.

    - Nguyễn Đức Gia: Phi Đoàn Trưởng Phi Đoàn 116 Thần Ưng, Cần Thơ.

    - Võ Ý: Phi Đoàn Trưởng Phi Đoàn 118 Bắc Đẩu, Pleiku.

    Trong biến cố đau thương ngày 30 tháng 4/1975, có vị bay thoát Việt Nam, có vị bị kẹt lại và phải chịu cảnh tù đày như bao Quân Cán Chính Việt Nam Cộng Hoà khác. Hiện nay, hầu hết các Không Quân gốc K17 đều định cư tại Hoa Kỳ. Tuổi trung bình là 77 tuổi đời. Một cụ còn đi cày (Cụ Trần Bạch Thanh, khoẻ thật!), còn hầu hết đã ăn tiền hưu, có người ăn tiền già, sống trong nỗi hoài niệm về khung trời cũ núi sông xưa!

    Những cánh chim K17 sau đây đã bay vào hư vô, trước và sau ngày 30 tháng 4 năm 1975: Nguyễn Văn Xuân, Lê Hoàng Anh, Hoàng Đức Thịnh, Bùi Văn Lợi, Lê Hữu Trí, Cao Ngọc Quang, Huỳnh Văn Tòng, Hà Thuyên, Trần Minh Vũ, Huỳnh Cao Khải.

    Phi công Nguyễn Văn Xuân, tự là Xuân Mẫm, người hy sinh đầu tiên trên L19 (cuối năm 64 hoặc đầu năm 65) tại vùng biển Vũng Rô, Nha Trang.

    Phi công Hoàng Đức Thịnh, trên đường bay chiếc Cessna U17 6 chỗ ngồi từ Saigon về lại Đà Nẵng, gặp thời tiết xấu nên bị crash gần Quảng Ngãi, bị Việt Cộng bắt làm tù binh và tử vong sau đó.

    Phi công Trung Tá Hà Thuyên, sau khi ra tù (vào khoảng năm 1985), tổ chức vượt biển, gặp trời gió bão, vỡ thuyền đành vùi thân trong biển cả.v.v…

    Hiện nay, duy nhất Khoá 17 trong 31 khoá, đã thiết lập được Bia Tưởng Niệm K17 đã nằm xuống tại Victor Memorial Veterans Park, thành phố Greer thuộc Tiểu bang South Carolina, USA.

    Xin cầu nguyện cho hương linh của quý đồng môn hoà nhập vào hồn thiêng sông núi, phù hộ cho đồng bào, đồng đội và đàn chim tiếp nối, nuôi chí quật cường, để có một ngày mai, đàn chim Việt Tự Do tung cánh, bay rợp trời quê hương, từ ải Nam Quan đến mủi Cà Mâu và các hải đảo xa xôi…

    Mong thay!

    Bắc Đẩu Võ Ý - K17
    Ngày Father Day 2017

    https://www.facebook.com/photo.php?f...&theater&ifg=1

    Leave a comment:


  • BachMa
    replied
    Tháng Ba Định Mệnh

    Tháng Ba Định Mệnh
    Võ Đức Nhuận

    Với những dòng này, mong đóng góp chút ít tư liệu về cuộc chiến, và những gương hy sinh của các Sĩ Quan QLVNCH, những anh hùng không tên tuổi đã nằm xuống trong cuộc chiến, để giữ gìn miền Nam êm ấm thanh bình gần 3 thập niên từ sau 1945-1975...


    Hình minh họa

    ... Những ngày cuối tháng 3, trời mưa như trút nước, cả ngày lẫn đêm, như xót thương cho số phận non sông Bình Định đã rơi vào tay của lũ vô thần. Qua hơn 2 ngày đêm, chúng tôi không có gì để ăn, ruột đói cồn cào, quần áo ướt sũng, thật đói và lạnh. Chúng tôi đi ngang qua những đám gò trồng đậu phụng, nhổ lên hy vọng kiếm củ ăn cho đỡ đói lòng, nhưng vào mùa đó cuối tháng 2 Âm Lịch, củ còn rất non.

    Chúng tôi rửa bằng nước mưa, nhai lấy nước mà thôi. Chúng tôi qua những cánh đồng bắp cũng thế , chỉ ngậm lấy nước. Qua ngày thứ 3, cả ba chúng tôi đều bị tiêu chảy, kiệt sức không còn đi nổi. Tôi thấy tình hình như vậy, chắc là số phận tôi không xong rồi, nên nói với hai anh bạn đồng hành:“Tôi không đi nổi nữa rồi, hai anh còn sức cứ đi theo hướng Đông ra biển may ra còn tàu của hải quân của quốc gia bốc các anh về Sài Gòn.”Thật là cảm động, tuy không cùng đơn vị nhưng hai anh lính nói:

    “Đại Uý đi thì chúng tôi đi, ông ở lại chúng tôi ở lại. Chúng tôi không nỡ bỏ ông ở đây!”

    Không còn cách nào khác, chúng tôi đành vào làng, may ra xin được thức ăn và dưỡng bệnh sau đó tiếp tục cuộc hành trình. Sau đêm thứ 3, chúng tôi đến một ngôi làng, trước vài thửa ruộng của ngôi làng có một cái chòi, chúng tôi vào chòi khoảng 2, 3 giờ sáng.

    Chúng tôi vắt cho khô quần áo, nằm ngủ đợi trời sáng. Sau những ngày đói lạnh, bệnh tật, chúng tôi nằm thiếp đi cho đến khi mặt trời mọc. Sáng hôm đó chúng tôi vào một nhà dân gần đó, để nhờ họ cho cơm ăn và dưỡng bệnh, để có sức mà đi. Chủ nhà là một người đàn bà nhà quê trông cũng bình thường như những bà nông dân khác,không có gì phải nghi kỵ. Sau khi nấu cơm cho chúng tôi ăn xong, chủ nhà chỉ cho chúng tôi bộ ván để lên nằm nghĩ lưng. Ôi thật là một bữa cơm ngon nhất trong đời, dầu chỉ có cơm trắng với bầu luộc và mắm ruốc.

    Nửa giờ sau, du kích đã vào nhà, súng AK chỉa đầu, bắt chúng tôi trói ké dẫn đi. Tâm trạng tôi lúc này chỉ còn biết tới đâu hay tới đó mà thôi. Sự sống còn phó mặc cho số mệnh. Chúng tôi bị dẫn đi nhiều nơi, đôi khi là trụ sở của làng, đôi khi là trường học, có khi là ngôi đình làng. Dần dần số người bị bắt cứ tăng lên. Nhiều khi một ngôi trường Tiểu học nhỏ, mà nhốt số người lên đến hàng trăm.

    Đêm đến không có chỗ nằm, chỉ ngồi mà thôi. Ôi thật là những ngày ghê gớm nhất của cuộc đời, không biết còn có cảnh khổ nào hơn không?

    Chúng tôi không được cho ăn uống chi cả. Tự ai có gì nấy ăn mà thôi. Ngày hôm sau, chúng tôi bị dẫn về hướng Tây, không gian vô định, ai biết mình sẽ bị đưa về đâu, và sống còn đến ngày nào. Khoảng thời gian này, không có một quy ước hay chính sách gì cả, hễ ai bất tuân bọn chúng, thì coi như bị bắn bỏ. Trong đoàn chúng tôi đi, có một binh sĩ còn trẻ, không dè dặt với chúng, đôi khi anh ta đi ngoài hàng một chút thì bị bọn chúng lôi ra bắn ngay. Thật là dã man! Chúng muốn bắn để khủng bố tinh thần của mọi người. Ôi sinh mạng con người nhỏ hơn là con ong, cái kiến. Dọc đường quốc lộ 19, từ Bình Khê lên đến chân đèo An Khê, trước kia có lực lượng của SĐ 22 Bộ Binh trấn đóng. Tôi không nhớ rõ là Tiểu Đoàn nào, nhưng thuộc Trung Đoàn 41.

    Trước đây có một trận đánh thật là ác liệt, hai bên vệ đường tử thi của các chiến sĩ VNCH nằm la liệt, có lẽ đã xẩy ra gần nửa tháng rồi, cơ thể bắt đầu sình thúi chỉ thấy quân phục và sọ người trắng hếu. Một số tử thi khác thì còn loang lổ một ít tóc trên phần sọ đã rữa. Mùi tử khí xông lên nồng nặc khắp trời. Ôi chiến tranh và thân phận con người, tôi lại nhớ đến mấy câu thơ của bà Đoàn Thị Điểm:

    Hồn tử sĩ gió ù ù thổi
    Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi,
    Chinh phu tử sĩ mấy người,
    Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn..


    Vào thời gian này, tôi không còn nhớ rõ là mình đã nghĩ gì, chỉ có một con đường, chúng muốn đưa mình đi đâu thì mình theo đó thôi, mặc cho số phận đẩy đưa, cuối cùng cùng là giải thoát kiếp người. Chúng tôi đi đến ngày thứ 3 thì đến một trại trước kia là mật khu của chúng. Trại này nằm trong rừng sâu, cách đèo An Khê khoảng 50 km từ hướng Bắc. Cả mấy ngày đi, chỉ ăn được một lần, chúng tôi đi ngang 1 địa phương thì được đồng bào nấu cơm gói sẵn bằng lá chuối phát cho chúng tôi mỗi người một gói không biết là lệnh của họ hay lòng tự nguyện của đồng bào.

    Đến gần phạm vi của trại, chúng dừng lại để nghĩ và chuẩn bị cho chúng tôi nhập trại, trong lúc này tôi gặp lại một số anh em binh sĩ trong Pháo Đội, thật mừng và thật tủi cho thân phận những kẻ chiến bại. Thời điểm này chúng bắt giao nộp hết tư trang như đồng hồ, bút máy, nhẫn….Tôi thấy chúng dùng nón để thu, không ghi sở hữu của ai cả. Tôi biết bọn này muốn lấy không rồi, tôi làm dấu cho anh thường vụ Pháo Đội giấu chiếc đồng hồ Boulevard Sport của anh, khi đi đến bờ sông có 1 số người Thượng đứng bán chuối hoặc cơm. Chúng tôi đổi chiếc đồng hồ lấy 1 nắm cơm muối mè gói lá chuối, hai thầy trò chia nhau ăn cho qua cơn đói lòng.

    Thật là: “Đoạn đường ai có qua cầu mới hay”, vật chất chỉ có giá trị khi thời gian thích hợp. Còn với thời gian này, vật chất dù cao quáy thế nào cũng không qua nổi một gói muối mè.

    Thế là chúng tôi lần lượt vào trại. Sĩ Quan đều bị đem đi cùm, từ Thiếu Úy trở lên là bị cùm. Số lượng SQ bị bắt mỗi ngày một đông, chúng thả cấp nhỏ, cùm cấp lớn. Bắt được Đại Uý cùm Đại Uý thả Thiếu Uý. Cứ như là cấp số cộng. Phải nói bạn nào có thời gian ở trại Vĩnh Thạnh khi đọc dòng hồi ký này, không thể nào quên được một nơi gọi là ĐỊA NGỤC TRẦN GIAN đúng nghĩa của nó, không nơi nào ghê sợ hơn. Vì trại nằm trong rừng sâu, lam sơn chướng khí. Tổng số binh sĩ bị bắt vào thời điểm cao nhất ở đây có thể lên đến cả ngàn người, nhưng sau hơn 4 tháng, số tử vong lên đến cả trăm. Sốt rét chết, đói mà chết, bị đánh mà chết. Các đơn vị bộ đội cộng sản ở đây đa số đều là những cán binh CS trở về từ Côn Đảo, lòng nung nấu thù hận.

    Họ muốn trả những trận đòn thù trên các người lính Cộng Hòa còn chút sĩ khí đã ở lại chiến đấu để bảo vệ quê hương. Có 1 anh Trung Úy người miền Nam trước kia nguyên là giáo sư bị bắt vào trại cùng thời gian với chúng tôi, vì quá căm phẫn trước sự hành hạ của bọn chúng, nên chạy ra vọng gác giựt súng AK của tên bộ đội đang gác cổng nhưng không thành công vì cơ thể suy nhược, ăn uống thiếu thốn làm sao khoẻ bằng chúng.

    Sau khi giựt súng không được, anh ta bị rược chạy vòng vòng trong trại. Vì trại quá đông người nên chúng không bắn được. Vì không còn đường thoát, anh ta chạy đến bên những chảo nước đang nấu để cho tù uống và nhảy vào chảo! Thật là rùng rợn và thương tâm! Chúng dập tắt lửa, mang anh ta ra ngoài, nhưng anh ta vẫn còn sống. Anh ta chửi rủa bọn CS luôn mồn:

    “Đả đảo Cộng sản. Quân dã man khát máu”.

    Chúng cho khiêng anh vào trạm xá. Thật ra chỉ là một cái nhà nhỏ, vài lọ thuốc, vài lọ cồn mà thôi. Anh ta vẫn chửi liên hồi. Chúng lấy đất sét cho vào miệng, lấy cây dộng cho đến khi hết thở. Ôi! các bạn có hình dung được con người hay là ác quỷ nhỉ. Tôi có người bạn ở cùng quê tên Phan Duy Liêm, cấp Tr/Uý ĐĐT/ĐPQ cũg bị bắt vào trại này, tôi không nhớ anh đã làm gì phật ý chúng mà buổi chiều hôm đó, tôi chứng kiến tận mắt, 3 tên bộ đội đứng 3 góc đánh anh từ góc này văng sang góc kia, như là người ta chuyền bóng.

    Là thân phận tù sao dám chống trả chúng. Sau khi anh được thả ra, lục phủ đã bị dập nát, đã bị tổn thương. Mặc dù thời gian sau được gia đình tiếp tế thuốc men chữa chạy, sau hai năm hao tổn, anh đã lìa đời, bỏ lại một vợ và một con thơ, là bà con họ hàng với gia đình tôi.

    Ở đây khí hậu chưa có một nơi nào dễ sợ hơn. Danh từ sơn lam chướng khí thật là đúng nghĩa của nó. Các nhà giam (lán) được cất dưới những tàng cây cổ thụ, suốt ngày ít khi thấy ánh sáng mặt trời, sương buổi sáng rất nặng và dày đặc, 9 hay 10 giờ mới thấy mặt trời, máy bay thám thính cũng chỉ thấy toàn màu xanh của rừng. Khoảng hơn tháng đầu chúng chưa cho đi làm, mỗi ngày chỉ phát hai nắm cơm bằng một bát trung bình, vơi chứ không đầy, mì khô hết 80%, vài hột gạo có thể đếm được, tất cả chúng tôi đều đói và sốt rét.

    Ở đây trung bình một tuần sốt rét 3 lần. Sốt thì nằm, dậy được thì đi lao động, xuống trạm xá khai bệnh, cặp nhiệt độ 40 độ C, cho vài viên Nivaquine, 39 độ trở lui, thì chúng cho uống một thứ rễ cây tên là “mật nhân”. Trên đời nà y chưa có thứ nào đắng như thứ này, uống xong quay đi là nôn thốc, nôn tháo, nôn đến mật xanh, mật vàng, lần sau sốt hoặc nằm liệt không dám khai bệnh nữa, hết sốt thì dậy đi làm. Con người thiếu ăn, thiếu dinh dưỡng, sốt rét triền miên, nên chúng tôi trong như những thây ma còn sống. Da mặt thì vàng bệt, xám ngoét, mắt trũng sâu, chân đi siêu vẹo, quần áo tả tơi. Ôi! chúng tôi thật là tới tận cùng của địa ngục. Chúng tôi nào có tội tình gì, chỉ biết cầm súng bảo vệ quê hương không có một ý đồ bất chính, không có một tham vọng nào làm tổn thương đến giá trị vật chất hay tinh thần của con người, tại sao chúng tôi lại phải bị trừng phạt một cách khủng khiếp như thế? Có những lúc tuyệt vọng, anh em nói đùa:

    “Chúa hay Phật gì cũng bỏ chạy hết rồi còn đâu mà cầu nguyện.”

    Sau hơn 3 tháng tôi bị bắt, gia đình tôi mới được tin tức. Vợ tôi từ Phan Thiết ra Bình Định đến trại 3 Vĩnh Thạnh để thăm, thật là một chặng đường vất vả. Vì xe cộ không có, vợ tôi phải đi bộ khoảng 50km đường rừng, phải ngủ lại ở trại 2 rồi mới lên trại 3 được.

    Biết bao nhiêu gian nan và sợ hãi, khi được gặp mặt, vợ chồng tôi nhìn nhau nước mắt lưng tròng, hỏi thăm vài câu sức khoẻ, đâu còn lời nào để nói. Và biết nói gì hơn khi mỗi bàn có hai bộ đội ngồi bên cạnh, súng AK lăm lăm, nói được gì đây. Về nhà, vợ tôi bị sốt rét chữa trị gần 2 năm mới bình phục. Thời gian ấy, vợ tôi phải chuyền sẻrum liên tục, thế mới biết rừng thiêng nước độc đến cỡ nào. Sau đó thân phụ tôi đi thăm một lần, về cũng bị sốt rét liên tục. Từ đó về sau, chỉ có em trai tôi còn khoẻ mạnh đi thăm mà thôi.

    Có những lúc đói quá, mắt đổ đom đóm vàng khi nhì thấy các anh em khác có người tiếp tế, có đồ ăn. Muốn quên đi, tôi chỉ còn biết ra gốc cây ngồi luyện Yoga cho quên đi nỗi đói khát, bệnh tật. Ai có biết sách lược triệt hạ kẻ thù, không sợ chúng phản kháng là làm cho chúng đói triền miên, không bao giờ cho chúng ăn đủ no. Suốt ngày tư tưởng lẩn quẩn, mong có cái gì bỏ vào miệng, vào bụng mà thôi, không còn nghĩ được thứ gì khác trên đời. Ôi con người có những lúc phải như thế này ư? Tôi có đọc cuốn Tiểu Đoàn Trừng Giới của Erich Maria Remark, nhà văn Đức, tù binh Đức, cũng bỏ vào các trại tập trung cũng đói như chúng tôi, nhưng thời gian ngắn hạn và không bệnh tật. Còn chúng tôi đói dài hạn và bệnh tật triền miên. Tôi còn nhớ vào thời gian cò ở quân ngũ, tướng độc nhãn Mó Dayan của Do Thái có qua thăm trường Võ Bị Đà Lạt, đã nói:

    “Muốn chiến thắng Cộng Sản, phải sống với Cộng Sản”.

    Xin những ai, có làm chính khách, chưa bao giờ biết ngục tù Cộng Sản, thì xin nghĩ đến bao nhiêu anh hùng đã hy sinh, bao nhiêu triệu đồng bào còn đang sống vất vưởng nơi quê nhà, vật lộn với miếng cơm manh áo hàng ngày vì phương châm “làm cho tập thể, hưởng theo nhu cầu” của chúng. Và cả một thế hệ chúng tôi tù đày oan khiên, khổ nhọc, thì chớ nên phụ quá khứ một thời tự do, dân chủ, thanh bình của miền Nam Việt Nam.

    Ở trại này có những cách giết người rất dã man. Các bạn có biết, một cái nhà cùm kín mít, bên trong là một dãy khóa lại, tất cả việc ăn uống vệ sinh đều tại chỗ, đó là cùm thông thường. Nếu chúng muốn tra tấn ai, cho hai chân vào hai lỗ chéo nhau, chân phải lỗ bên trái, chân trái lỗ bên phải, dưới mông ngồi có một cây đà vuông thông ra ngoài, xuyên qua một cây trụ thẳng đứng khoét một lỗ hình chữ nhật, để cây đà vuông có thể di chuyển được từ thấp lên cao, chúng gọi là cùm yên ngựa. Mỗi lần nâng cây đà lên là ống quyển bị ép vào lỗ cùm. Bên ngoài chúng dùng một miếng nêm hình tam giác để đóng, mới đầu đóng là tù nhân la thất thanh sau đó im dần…im dần, tù nhân đã hết thở. Ôi địa ngục ở đâu, có lẽ còn ít sợ hãi hơn nơi này. Chúng tôi bị nhốt trong một cái lán gần bên nhà cùm. Đêm đêm nghe tiếng la thất thanh xé tâm can, rồi dần , im dần và tắt hẳn… Thế là một người đã ra đi không biết là tốt hay xấu với chúng tôi, biết đâu vài hôm đến lượt mình.

    Ở đây có những cái chết rất kỳ lạ, buổi sáng còn ngồi chơi nói chuyện, vì là ngày Chủ Nhật, anh bạn ở cùng quê, Đ/Uý Dậu TĐT/CB, ngồi ngã ra, quay quay như gà mắc toi, đem xuống bệnh xá, chừng 1 giờ đồng hồ sau thì chết. Khí hậu thật là rùng rợn, sinh mạng con người còn thua những loài côn trùng. So với tù binh của Đức Quốc Xã thời Đệ Nhị Thế Chiến đâu có khác gì nhau.

    Sau một tháng nhốt một chỗ, chúng tôi được chia ra để đi lao động. Những công việc chính là nhổ mì, trồng mì, và làm cỏ mì. Buổi sáng tù tập trung do 1 hoặc 2 tên bộ đội dẫn đi tới những bãi mì trong núi hoặc trên đồi cao. Chúng tôi dàn hàng ngang, mỗi người một cái cuốc, dùng để cuốc cỏ xung quanh cây mì. Cây mì mới mọc cao chừng 5cm hay một tấc, rất dễ lẫn lộn với cỏ. Chúng tôi đâu phải nhà nông chuyên nghiệp, từ nhỏ cha mẹ đã hy sinh gian khổ, nuôi con ăn học, mong con sau này thành đạt đâu nghĩ đến việc phải dùng cái cuốc,cái cày. Ôi công lao của cha mẹ lo lắng nuôi con trong thời điểm này hình như đã sai đường. Nếu chẳng may chúng tôi cuốc gãy cây mì chúng thấy được, thì báng súng AK vào đầu, vào cổ, mũi súng thọc vào sườn, vào bụng.

    Anh bạn tôi là Đ/Uý Dậu có lẽ bị đòn thù trong trường hợp này, nên đã mất đi vài tuần sau đó, trong bữa sáng Chủ Nhật mà tôi vừa nói ở trên. Thật là thê thảm, những tù nhân chẳng may mà mất đi, chúng quấn bằng miếng vải ni lông, dùng để làm áo mưa, xung quanh kẹp 7 nẹp tre, quấn lại như một khúc dồi lớn. Hai người khiêng, hai người đào lỗ ngoài rừng rồi lấp đi. Xong chúng cắm một cái bảng nhỏ viết tên tù nhân bằng sơn. Với 2,3 tháng nắng mưa, thì không còn biết ai là ai nằm đó nữa. Vì thế gia đình anh Dậu đã cố gắng nhiều lần, nhưng vẫn không tìm thấy xác anh ở đâu để đem hài cốt của anh về mai táng nơi quê nhà.

    Rất may là khoảng tháng thứ 5 chúng tôi chuyển trại, lúc này đại đa số là Quân, Cán, Chính VNCH đã bị bắt hoàn toàn, không còn 1 lực lượng nào trong nước có thể đối kháng và phá hoại chúng được. Chúng thành lập những Tổng Trại Tù Binh để quản lý. Một Tổng trại như thế do cấp Trung Đoàn chính quy quản lý do Thủ Tướng Cộng Sản Phạm Văn Đồng ký, mục đích là để trấn an dân chúng và để trình làng với Quốc Tế.

    Giai đoạn cuối ở địa ngục này, tôi bị sốt rét hành hạ liên tục, có lẽ đã xâm nhập vào gan, lá lách hay thận. Người tôi vàng vọt, xám ngoét, mắt trũng sâu, bụng ỏng, chân thì dần dần to ra như chân voi bước đi không nổi nữa. Chúng tôi được đưa xuống Tổng trại 4 An Trường. Ôi, thật là một cuộc di chuyển có khác nào như chở heo, chở gà ra chợ để bán! Một chiếc xe Motolova như vậy chở xấp xỉ cả trăm người, người sau phải bám người trước cho chặt, nếu không khi xe quẹo, quán tính của trọng lượng sẽ làm văng những người sau ra ngoài mà chết. Súc vật đem bán cần sống, cần khoẻ chứ chúng tôi thì không….


    Hình minh họa

    Tôi được đưa xuống trại 1 của Tổng Trại 4, nhờ gia đình tiếp tế, thuốc men đầy đủ, và ở trại này, chế độ ăn uống có phần dễ thở hơn, nên tôi đã dần dần hồi phục và giữ được cái mạng còm cho đến hôm nay. Phải nói rằng sáu năm tù đày, thời gian ở trại này là tương đối dễ chịu nhất so với các trại khác. Vào thời điểm này, đa số anh em đều tin rằng sau 3 năm rồi thì thế nào cũng được thả về, nhưng thật sự là một sự lầm lẫn to lớn. Lời nói của chúng như những bó cỏ treo trước đầu con ngựa đang kéo xe, cỏ thì nhìn thấy đó, nhưng con ngựa có bao giờ ăn được đâu?….Những ngày kêu thẩm vấn, tự khai, ôi thật là khổ sở. Nói thế nào chúng cũng không tin.

    Hỏi:

    “Từ ngày anh tham gia nguỵ quân, ngụy quyền đến giờ giết bao nhiêu cách mạng?”

    Tôi trả lời:

    “Tôi là đơn vị Pháo Binh yểm trợ, họ yêu cầu tác xạ ở đâu, chúng tôi bắn ở đó. Kết quả do các đơn vị Bộ Binh tham gia họ ghi nhận và báo cáo, chúng tôi đâu có trực tiếp tham dự ”

    Hỏi:

    “Anh nói anh không giết cách mạng sao họ cho anh mang lon Đ/Uý sớm như vậy?”

    Tôi trả lời:

    “Theo chế độ đào tạo Sĩ Quan tại miền Nam, có bằng cấp mới được chọn, 1 năm Chuẩn Uý, được thăng Thiếu Uý, 2 năm Thiếu Uý được thăng Trung Uý. Sau đó khoảng 3 năm đủ điểm thì lên Đại Uý.”

    Nhưng dù có nói thế nào chúng cũng chẳng tin. Và cứ như thế hết ngày này đến ngày khác, tôi cứ bị kêu liên tục, hỏi hơn cả tháng, chúng cứ xoáy vào một điểm là giết hại bao nhiêu cách mạng. Cuối cùng tôi phải moi một trận yểm trợ nhớ mang máng theo kết quả của Bộ binh báo cáo, là địch quân tổn thất vài chục chúng mới hết hỏi. Ai có ngờ đâu đó là cái giá treo cổ mà mình tự gánh vào, sau này chúng cho là thành phần ác ôn có nợ máu với nhân dân….

    Thời gian ở Tổng trại này hơn 1 năm, sau đó có lẽ tình hình thanh lọc tù nhân giảm dần, chúng tôi chuyển từ tổng trại này sang tổng trại 5 thuộc các đơn vị tỉnh Phú Yên quản lý. Trại này cũng là một trại sắt máu, chúng tôi làm việc như lao động khổ sai, và cơm thì không bao giờ được ăn no. Có một vài anh em bỏ mạng vì đốn cây rừng cho chúng, cây đè mà chết hoặc thương tật suốt đời. Các bạn từng xem những phim La Mã thời Caesar, các nô lệ kéo gỗ hay kéo đá, chúng tôi cũng vậy. Một khúc gỗ súc dài 4 hoặc 5 mét, đường kính khoảng 7 tấc, xỏ 4 dây thừng, mỗi bên 4 người khiêng. Đường từ trên núi, leo dốc, xuống ghềnh hiểm trở, nếu rủi ro mà té ngã thì coi như cái mạng đi đoong. Súng AK thì lăm lăm, sẳn sàng nhả đạn nếu chúng tôi tìm đường chạy trốn. Ôi, nếu so sánh, chúng tôi và nô lệ thời Trung Cổ của La Mã có khác gì nhau đâu.

    Tôi còn nhớ nằm cạnh tôi có ông bạn già là Tr/Tá ĐN Thanh trước 75 là CHT Quân Cảnh Quân Khu 2, và có thời gian Tr/Tá Thanh đã từng làm Trưởng trại giam tù phiến cộng ở Phú Quốc. Có một ngày họ phân công tôi và bác Thanh là 1 cặp trong toán chặt gỗ làm nhà, chỉ tiêu dài sáu mét, đường kính từ 1.5 đến 2 tấc, phải là gỗ tốt, lá nhỏ, vỏ mỏng. Tôi và bác Thanh phải lên núi cao tìm gỗ vì dưới thấp không còn nữa. Sau khi chặt xong, tôi và bác Thanh khiêng về trại. Vì lúc đó tôi còn trẻ nên nghĩ rằng mình khiêng phần gốc để bác Thanh phần ngọn nhẹ hơn. Từ trên triền núi cao, tôi lao xuống dốc vì nặng quá, không kềm được, nên đã té ngã nhiều lần.

    Rốt cuộc để khỏi tai nạn, bác Thanh dành khiêng phần gốc vì thật sự mà nói, bác rất khoẻ và rất đô con. Tối về sinh hoạt kiểm điểm xong, bác nằm và than sao đau lưng và khổ quá. Bên cạnh tôi có anh bạn Luật sư Lê Đình Khang nói nhỏ:

    “Bác khổ là vì hồi đó bác hà tiện quá mà.”

    Bác càu nhàu hỏi:

    “Hà tiện gì?”

    Anh bạn Khang nói:

    “Nếu hồi đó bác sắm bao tải cho nhiều, cứ mỗi chuyến C130 chở tù phiến cộng từ Sài Gòn ra Côn Đảo, bỏ hết vào bao ném xuống biển, thì đâu có ngày hôm nay.”

    Bác và chúng tôi cùng cười, quên đi nỗi đau đớn nhọc nhằn.

    Trong thời gian ở trại này, chúng tôi chứng kiến một cảnh thương tâm. Có một số anh em trốn trại nhưng không thoát được, tôi chỉ nhớ tên 2 người là T/Tá Giang và T/Tá Phước, 2 người còn lại tôi không nhớ được. Chúng cho làm mỗi người một cái lều, như lều cắm trại, sát mặt đất, có khung bằng ván để nằm, làm hệ thống cùm dưới chân bằng gỗ, khóa lại suốt ngày đêm, trông giống như những chiếc nhà mồ nằm ngay tại vọng gác trước mặt trại. Chúng tôi ngày nào lao động cũng phải đi ngang qua, trông thật đau xót và thương tâm, nhưng đâu biết làm sao khác hơn….

    Vào một đêm, bỗng dưng lửa cháy các chòi, chòi của T/Tá Giang là nặng nhất. Họ được đưa đi bệnh viện Tuy Hòa để cấp cứu. T/Tá Giang phải cưa hai chân đến đầu gối. Các bạn khác đều bị phỏng nhưng cũng được lành. Chúng tôi đều nhận định rằng chúng muốn đốt cho chết rồi cho là tai nạn, vì các chòi nằm giữa miếng đất trống thì sao lại có hỏa hoạn.

    Khoảng 5 tháng sau, họ thả anh Giang về. Gia đình từ miền Nam phải lo phương tiện di chuyển anh, sau 75 gạo còn không đủ ăn, làm sao mà sắm xe lăn. Tôi nghe sau này hình như anh đã quyên sinh vì nghịch cảnh gia đình. Ôi thân phận con người, thân phận của những kẻ chiến bại, dưới nanh vuốt của một lũ bạo tàn nhất trong lịch sử của nhân loại.

    Và cuộc đời chúng tôi cứ kéo dài như thế thôi, niềm tin được thả về còn xa lắm, chỉ khi nào sức cùng lực kiệt, chúng bảo gì nghe đó, sự đối kháng không còn nữa, may ra mới được về, lúc đó liệu còn sống sót bao nhiêu người đây. Phần cá nhân tôi, có một hôm, tôi bị sưng chân phải đi cà nhắc, xuống trạm xá được cho làm việc nhẹ . Buổi sang 1 tên bộ đội vào kêu chúng tôi đi làm, thấy tôi không chuẩn bị, hắn hỏi tại sao, tôi trả lời đau chân, trạm xá cho làm việc nhẹ. Hắn trừng mắt, giơ súng lên và bắt tôi đi làm với đội. Tôi phải cà nhắc theo đội để đi làm. Đứng cuốc đất suốt ngày bằng 1 chân, ngày hôm sau chân kia sưng phù lên. Thế là tôi phải nằm liệt mấy ngày. Ôi, bạn có hình dung được chúng tôi phải chịu đựng như thế không?

    Sau hơn 3 năm chúng tôi được chuyển giao cho ngành Công an quản lý. Chúng tôi thuộc loại tù chuyên nghiệp, được chuyển đến trại A30 ở Tuy Hòa. Trại này tập trung đủ các thành phần, hình sự, vượt biên, những người bị bắt năm 78,79 họ gọi là phản động, và chúng tôi từ các tổng trại 5, tổng trại 8, Trại Lam Sơn, Trại Thanh Bình, v.v….Cảm nghĩ của tôi khi đến trại này là thôi, thế là cuộc đời gắn liền với chữ Tù. Giống như nhân vật Papillon của Henrie Chariere. Ở tù không biết tại sao mình ở tù, ngoại cảnh đưa đến mà mình không tài nào vùng vẫy được. Hay gần giống như nhân vật chính trong tác phảm “Giờ thứ 25″ của một nhà văn Nga tôi không nhớ rõ tên. Hết ở tù bởi quân Đức, rồi đến Nga, rồi đến Đồng Minh, khi ra đi thì mới lấy vợ, khi về vợ đã 3 con rồi, mỗi quốc gia, một đứa.

    Dưới tay Công An quản lý, thật là một sự xảo quyệt của con người, tinh vi đến mức không thể nào diễn tả được. Ở đây cũng thiếu thốn và đói như những trại khác, nhưng ở đây thì gia đình thăm nuôi, tiếp tế cho nhận thoải mái. Mục đích của chúng, cứ cho người nhà thăm nuôi ăn cho no, làm việc cho chúng vượt chỉ tiêu, thì đâu có gì tốt bằng đâu nào. Các trại khác thì thân nhân thăm nuôi chỉ cho đem quà, bánh, thức ăn không cho nhận gạo. Ở trại A 30 này, không tiếp tế gạo cho tù nhân là một thiếu sót lớn. Lần thăm ban đầu gia đình tôi không biết, sau mới hiểu ra gạo là chính. Đến A 30, chúng tôi khai phá những cánh đồng ngút ngàn. Tất cả những cánh đầm lầy biến thành ruộng xanh ngút tầm mắt, và những cánh đồng mía chỉ thấy đường chân trời, tầm mắt không thể nhìn hết.

    Chúng lại lên lớp:

    “Ta làm ta hưởng. Lao động là vinh quang.”

    Ôi thật là bực lỗ tai. Sao có những con người, chỉ biết nói và không cần thái độ của người nghe. Chúng tôi làm cho họ hưởng, nếu gia đình chúng tôi không nuôi thì chúng tôi đã chết đói rồi.

    Ở đây có một trường hợp, anh Đại Úy Thức đơn vị Dù, tôi không biết Lữ Đoàn mấy vì ở khác lán. Buổi chiều đi lao động về, anh gặp tên Tr/Tá Hạnh Công An Giám Thị trưởng Trại A 30 hỏi thăm và nói gì đó, sau lên lớp…Vì hắn quá trâng tráo và dối trá nên anh Thức dằn không nỗi nhảy vào đánh tên Giám Thị trại. Công an phòng vệ đã nhào vô bắt và đán anh Thức, không thể nào diễn tả được. Chỉ biết sau khi đánh xong, chúng bỏ anh vào xe cút kít đẩy vào chỗ biệt giam thì thấy anh như một đống thịt, máu me đầy mình! Ôi con người đến thế thì thôi! Tôi nghe sau đó họ đưa anh xuống bệnh viện Tuy Hòa để điều trị và nghe đâu hình như có người bà con làm lớn ở Hà Nội lãnh anh đem về nhà. Từ đó đến nay, không còn được nghe gì hơn nữa, không biết anh có còn sống, và nếu như có đọc những dòng này của tôi, thì xin anh nghĩ, lúc đó chúng tôi rất căm phẩn chúng nó, và xót thương anh nhưng chúng tôi đành bất lực……


    Hình minh họa

    Tôi cũng không biết nói sao, vì mỗi con người có trình độ nhận thức khác nhau, phải nói rằng nếu nghị lực không đầy đủ thì sẳn sàng làm tay sai cho chúng. Có một ngày, chúng tôi đang cuốc cỏ thì tên Công An quản giáo kêu tôi ra giữa đám mì, giở trò giáo đầu là tôi lao động lấy lệ, sinh hoạt không chịu phát biểu, ù lì, là thành phần chống đối ngấm ngầm, như vậy làm sao tiến bộ, cách mạng xét cho các anh về. Tôi muốn bật cười nhưng không dám, vì nó đã nhàm với chúng tôi. Nghe bao nhiêu năm rồi. Tôi lặng thinh, hắn nói tiếp:

    “Bây giờ anh muốn thể hiện cho chúng tôi thấy sự tiến bộ của anh thì anh phải theo dõi báo cáo tư tưởng của anh nào chống đối cách mạng, ai phát biểu những gì bất lợi cho cách mạng. Báo cáo trực tiếp với tôi, hay bỏ vào hòm thư trước trại.”

    Tôi phải trả lời hắn theo sách vở:

    “Thưa cán bộ, nhiệm vụ chúng tôi ngoài việc học tập lao động, tôi còn phải báo cáo ngay nếu phát hiện được những thành phần nào trốn trại.”

    Hắn nói:

    “Tôi yêu cầu anh báo cáo những anh nào phát biểu chống đối kìa.”

    Tôi vâng lấy lệ. Khoảng tháng sau, hắn kêu tôi ra lần nữa vì không thấy báo cáo của tôi, hắn hỏi:

    “Tôi không thấy báo cáo nào của anh hết, anh là thành phần ngoan cố, chống đối.”

    Tôi nói:

    “Tôi có để ý một hai bữa, thấy anh em ai cũng an tâm, đâu có nói gì, thành tôi không có gì để báo cáo.”

    Hắn đơn cử một vài lời nói mỉa mai của vài anh em. Tôi nói:

    “Anh em vui miệng nói đùa, tôi không để ý.”

    Thế là hắn lôi tôi ra, dùng báng súng đập cho một trận. Tôi mang thương tích và nước mắt căm hờn về trại, cơm nuốt không vào. Không phải đau mà khóc nhưng uất hận làm cho nước mắt tuôn trào. Tối hôm đó một vài anh em mang thuốc giảm đau và dầu xoa bóp cho tôi, thật là an ủi. Dầu sao chúng tôi cũng còn có nhiều anh em nghĩa khí và có tình người.

    Bọn hắn cũng có mắt chọn người lắm. Mỗi ngày chúng tôi đi cuốc đất, cả đội dàn hàng ngang, chỉ tiêu mỗi người 4 mét chiều rộng và 200 mét chiều dài, chúng chọn một tên kêu ra nói nhỏ:

    “Anh ráng cuốc 250 mét, kỳ sau gia đình anh lên thăm nuôi tôi sẽ can thiệp với trại để cho anh được gặp gia đình ban đêm.”

    Ôi, một sự hứa hẹn tuyệt vời. Tù nhân nào lại không muốn hàn huyên với gia đình sau bao nhiêu năm dài ngăn cách, bao nhiêu biến cố vật đổi sao dời. Có người suy nghĩ chín chắn thì thấy là chuyện đau khổ thêm cho vợ mình, có người chuộng vật chất thì cho đó là một đặc ân của Cộng Sản. Thật là một thủ đoạn quá tinh vi. Thế là hôm sau, tên được kêu cuốc vượt trội hơn anh em khác. Tối về họp kiểm điểm chúng nêu ra:

    “Anh A cũng như các anh, cùng sức vóc, cùng tiêu chuẩn ăn uống như nhau. Người ta cuốc được 250 mét, các anh cuốc có 200 mét, lại kêu không đủ giờ, chứng tỏ các anh làm cầm chừng, lười lao động. Bao giờ các anh mới tiến bộ đây?”

    Bắt đầu từ ngày đó, chỉ tiêu là 250 mét/ngày. Chúng tôi cuốc từ sáng sớm đến chiều tối, tay chân rã rời, tai như bốc khói. Trên đường đi về trại, thân thể rã rời ngất ngưỡng như người mộng du, vì sức đã cạn rồi. Chúng tôi chửi thầm, ôi những thằng ngu, nào dám chửi thẳng vào mặt, nó mà báo cáo một phát là biệt giam, hai chân vào cùm, làm bạn với gián…..

    Ở đây cũng có tổ chức những đêm văn nghệ, diễn viên là các em vượt biên bị bẳt. Các em còn rất trẻ, có em đã bị bắt vào đây đến 3 lần, thật đáng thương. Họ cho tập dượt, và cho trình diễn những đêm thứ 7, chủ nhật hay các ngày lễ của chúng. Nội dung hình như chúng tôi gần như thuộc lòng, vì xem đi xem lại, tháng này qua tháng khác. Khi nào tổ chức văn nghệ là chúng lùa hết ra sân vận động, không được ở lại trong trại. Tôi và anh bạn Thắng đem áo mưa ra để nằm ngủ, chúng bắt gặp. Thế là hôm sau chúng họp kiểm điểm là chúng tôi không chịu tiếp thu văn hóa cách mạng, thành phần bướng bỉnh ù lì.

    Có những trò khác, bọn chúng mị dân, mà ngay cả một số gia đình chúng tôi cũng nghĩ chúng là nhân đạo. Thí dụ sau khi cho vợ con thăm nuôi, tiếp tế, tối còn cho gặp.

    Ngày hôm sau, gia đình về, chúng đưa sổ cho thân nhân viết cảm tưởng. Chúng đem trình làng với đồng bào ở ngoài hay các phái đoàn quốc tế viếng thăm. Chúng đem khoe khoang cũng như phổ biến trong trại, thế thì nhân đạo quá đi chứ, thử hỏi có thân nhân nào dám viết lời không tốt cho chúng đâu.

    Ở trại này, trước khi chúng tôi chuyển đến, có nghe kể lại một chuyện thương tâm. Là có số anh em giựt súng tên Công An định bỏ chạy nhưng bị một tên Tr/Tá của ta ôm lại để cho Công An bắn chết 1 hay 2 đồng đội của ta. Cả trại rất căm phẫn và khinh bỉ tên này. Khi chúng tôi đến trại A 30 thì tên này đã được bọn Cộng Sản cho định cư vùng kinh tế mới Mai Liên do trại quản lý và được đem gia đình đến sinh sống vì hắn có công với cách mạng. Tên này là Tr/Tá Lập trước kia làm Quận Trưởng quận Vạn Ninh, tôi biết vì vợ của hắn có chút bà con xa với gia đình tôi. Những năm sau khi được phóng thích về, có một lần tôi ghé thăm gia đình cha mẹ vợ hắn, thì mới hay việc đời có vay, có trả, thời gian sau vợ hắn đã bỏ hắn, sống với người khác rồi.

    Những khổ hình ở trại làm sao mà nói cho hết, tôi chỉ ghi lại những điều mình nghe, mình chứng kiến để bạn đọc suy nghĩ thấy cái bạo tàn, quỷ quyệt của chế độ để đem một chút ánh sáng cho những ai vì một chút quyền lợi riêng tư mà muốn cái gọi là ” hoà hợp hòa giải với Cộng Sản”. Các bạn có biết, cảnh đời tù tội là đắng cay, khổ nhọc nhưng cũng có lắm chuyện cười ra nước mắt. Chúng tôi là những thành phần gồm sinh viên, giáo chức, cán sự, hay hành chính bị động viên. Dẫu sao, với xã hội miền Nam thời đó chúng tôi cũng là thành phần gọi là trí thức chút ít. Từ nhỏ cha mẹ sinh ra đã hy sinh cho con ăn học những mong cho con mình đỗ đạt, cho cuộc sống vững vàng, chúng tôi nào có quen các cuốc, cái cày. Khi bị bắt vào đây chúng xem bọn tôi như một lũ ăn hại, vô tích sự.

    Có một ngày đội chúng tôi đi cày lần đầu, các bạn có biết, trâu bò cũng quen với ngôn ngữ địa phương. Ở miền Trung từ Bình Định trở vào, muốn bò quẹo trái thì gọi Thá, muốn bò quẹo phải thì gọi Dí, muốn chúng dừng lại thì gọi Dò. Còn ở vùng Quảng Trị muốn quẹo trái thì gọi Tắc, muốn quẹo phải thì dùng Rị, và muốn dừng lại thì dùng Họ. Hôm đó mỗi người được phát một cặp bò và 1 cái cày, có một anh người Quảng Trị cầm cày và cầm roi điều khiển bò, cứ dùng hết Tắc rồi Rị, bò nó không biết đi đâu, nó quẹo lung tung. Bò đi mãi gần đến bờ rào đụng nhà dân, anh la Họ….Họ….., bò vẫn đi, hoảng quá anh la : “Stop, stop, stop”. May có vài anh em ra chận bò lại, chúng tôi có dịp cười nghiêng ngửa. Khi anh chàng trở lại chúng tôi nói:

    “Bò nó đâu có đến trường mà biết tiếng Anh, ông bạn.”

    Những kỷ niệm đau khổ cũng như là hạnh phúc của con người đều có giá trị ngang nhau trong tiềm thức, người ta khó mà quên được. Có những ngày chúng tôi đi làm ruộng tại cánh đồng tên là Đầm Sen. Cánh đồng đầm lầy bạt ngàn, bỏ hoang lâu ngày từ thời Pháp thuộc, thật xa xôi và hẻo lánh, bèo lát, điên điển, cỏ dại mọc như rừng, mỗi lần nhảy xuống ruộng, có chỗ sình ngập lên tới cổ.

    Và có những đám ruộng nước đĩa ơi là đĩa….lội như bánh canh. Từ nhỏ tôi cũng như nhiều anh em khác, nói chung môi trường sống là thành phố, nên thấy đĩa rất là sợ. Lần đầu tiên nhảy xuống ruộng, thấy nhột nhột nhảy lên, là một vài con bám chân bám đùi, máu chảy tùm lum…..Úi trời ơi, thật là hãi hùng, bắt chúng xong lại nhảy xuống, vì nhảy lên bờ thì AK chĩa vào đầu.

    Ngày ấy làm ruộng về, mặc dù đói, nhưng cơm nuốt không nổi vì tinh thần căng thẳng và hãi hùng quá mức. Mấy hôm sau, chúng tôi rút kinh nghiệm, chọn bộ quần áo nào mới nhất, không có chỗ rách, bỏ áo vào trong quần, cột hai ống chân cho chặt, cột quanh lưng, cột hai khuỷu tay, nhờ thế mà khi nhảy xuống ruộng, thấy đĩa bơi quanh người nhưng chúng không bám được, nhưng cũng có những trường hợp ngoại lệ, chúng vào tận chỗ kín để cắn, về nhà máu me tùm lum phát khiếp. Cũng có những chuyện vui đáng nhớ. Số là sau khi khai hoang xong, những đám ruộng bùn quậy lên rất nhiều cá nên anh em tha hồ bắt. Tôi thì chạm cá rất nhiều, nhưng chẳng bao giờ bắt được cả. Bắt nó lên là nó vuột, bắt một tay cũng vuột, hai tay cũng không xong. Chiều về hỏi mấy anh bạn chuyên nghiệp chỉ giùm cho một chiêu làm sao để bắt mà nó không vuột. Anh bạn cười:

    “Bắt cá cũng như đi cua gái vậy, khi đụng nó phải từ từ mò từ đuôi lên tới đầu, khi vị trí của đầu nằm trong lòng bàn tay rồi, thì dịu dàng nắm lại, thật chặt và thật êm thì không bao giờ bị mất cả”.

    Thế là hôm sau theo cách chỉ dẫn của anh bạn, tôi được mấy bữa bồi dưỡng ngon lành. Có những ngày làm cỏ ở những thửa ruộng cạn, chúng tôi không tìm được thứ gì để ăn. Vài ba người, mỗi người vài chú nhái, chiều về cải thiện, 1 vài con không đáng là bao, người nọ dồn cho người kia để ăn cho đủ. Các bạn biết sao không? Cho thì tiếc, bèn oảnh tù tì ai thắng thì ăn hết, ai thua thì nhịn. Ôi con người khi tới tận cùng đất đen rồi thì mới nhận chân được giá trị của nó. Chuyện đã 28 năm rồi, nhiều khi tôi nghĩ mình cũng nên quên đi để sống những ngày còn lại của cuộc đời. Nhưng thỉnh thoảng quá khứ lại hiện về, không sót một chi tiết nhỏ nào. Có những đêm ác mộng hãi hùng, bị đánh, bị tra tấn và những cơn trốn chạy dưới lằn đạn AK của chúng. Khi tỉnh dậy tinh thần bàng hoàng, đầu óc ngây ngô. Và không biết đến bao giờ tâm trí mới được bình yên đây. Đọc qua lịch sử biết bao sự hưng vong của chế độ Đinh, Lý, Trần,Lê….Biết bao nhiêu thi nhân đã tiếc thương một thời quá khứ êm ấm, thanh bình..

    Tạo hoá gây chi cuộc hý trường
    Đến nay thắm thoát mấy tinh sương
    Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
    Ngõ cũ lâu đài bóng tịch dương
    Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
    Nước còn cau mặt với tang thương
    Ngàn năm gương cũ soi kim cổ
    Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.


    Hay:

    Nhớ nước đau lòng con quốc quốc.
    Thương nhà mỏi miệng cái gia gia..

    (Bà Huyện Thanh Quan)

    Hoặc:

    Khắc khoải sầu đưa giọng lửng lơ
    Ây hồn Thục Đế thác bao giờ
    Năm canh, máu chảy đêm hè vắng
    Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ
    Có phải tiếc Xuân mà đứng gọi
    Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ
    Đêm đêm ròng rã kêu ai đó
    Dục khách giang hồ dạ ngẩn ngơ..

    (Nguyễn Khuyến)

    Vận nước đã đổi thay, quê nhà chìm đắm trong cảnh bất công. Giới thống trị thì vàng son rủng rỉnh, xe pháo dập dìu, người dân còn lại phải vật lộn với cuộc sống đầy gian nan mới đủ cơm ngày hai bữa, và còn phải lo thuốc thang khi đau yếu. Không hiểu tiền nhân có đau khổ như chúng ta không? Nếu có thì chỉ có sự thay đổi thể chế xã hội và đau nỗi mất nước, không đến nỗi phải lưu vong như chúng ta, trên 15.000 dặm đường chim bay, xa hơn một nữa vòng trái đất. Muốn tìm một chút tình cảm thân thương nơi cha, nơi mẹ, nơi anh em, nơi bạn bè hay người thân thật là khó vô vàn. Thật là:

    Đau lòng tử biệt sinh ly
    Muốn cho tái ngộ chỉ nhờ mộng trung..


    Chúng ta đã may mắn thoát khỏi ách bạo tàn, dung thân ở xứ tự do. Tuy không dễ, nhưng chúng ta có đầy đủ quyền tự do của một con người được pháp luật bảo vệ. Quê nhà còn biết bao người thân đang trầm luân với cuộc sống đoạ đầy và bất công, chỉ hy vọng chút tin vui khi có con cái, hay anh em gửi về chút ít quà hay tiền để mạch máu đang chảy không bị cạn….bởi một lũ vô thần, tham lam, ích kỷ và tàn bạo..

    Với những dòng này, mong đóng góp chút ít tư liệu về cuộc chiến, và những gương hy sinh của các Sĩ Quan QLVNCH, những anh hùng không tên tuổi đã nằm xuống trong cuộc chiến, để giữ gìn miền Nam êm ấm thanh bình gần 3 thập niên từ sau 1945-1975. Và để cho thế hệ sau phân tích sự hy sinh gian khổ của cha ông. Và cũng mong quê hương dân tộc sớm khỏi ách bạo tàn của một lũ người vô thần thống trị,và mãi mãi thanh bình trong chiều hướng tự do dân chủ..

    Võ Đức Nhuận
    (Đây là những nhân vật có thật trong chặng đường chiến đấu cuối cùng, và những trại cải tạo đã đi qua)

    https://www.facebook.com/photo.php?f...type=3&theater
    Last edited by BachMa; 08-08-2020, 08:27 PM.

    Leave a comment:


  • BachMa
    replied
    Người Ta Đi Lính Mang Lon..

    Người Ta Đi Lính Mang Lon
    Lê-Phi-Ô

    Mới đọc qua ai cũng tưởng tôi kể chuyện vui, đối với tôi đây là những chuyện buồn... Vì những người tôi đề cập trong bài... họ đã không còn nữa! Họ đã vĩnh viễn ra đi vào một thế giới xa xăm khác với thế giới chúng ta đang sống, và... tất cả những người này đã gục ngã vì đạn thù trên bước đường lui binh trong trận chiến Võ Ðắt tháng 3 năm 1975 !

    9 tháng quân trường,
    12 năm chiến đấu,
    7 năm trong trại tù “cải tạo” tập trung.


    Sống và lớn lên trong lửa đạn, gian lao và tù đày... thời gian đã tạo cho tôi một hình hài già nua... cằn cỗi.

    Bây giờ thì bạn bè mỗi đứa một phương, người tình rồi cũng bỏ tôi mà đi... Xen lẫn trong quá khứ kiêu hãnh là một hiện tại... trống vắng, cô đơn và nhiều... nuối tiếc !

    Có nhân...xa rồi ! Biết đến bao giờ ta gặp lại cố nhân để được sống lại những phút huy hoàng trong sắc mùa chinh chiến cũ...!!! - LPO


    Hình minh họa

    “Người ta đi lính mang lon,
    Chồng em đi lính mang xoong mang nồi!”

    Hạ Sĩ I Thí, hỏa đầu quân, cùng binh nhì Long đang khiêng cái chảo gang to tổ bố lên gần tới đỉnh đồi... bỗng ông nghiêng vai hất cái đòn gánh làm cái chảo vừa to vừa nặng rơi xuống đất nghe một cái... “bịch” và B2 Long khiêng phía đàng trước suýt té ngửa theo cái chảo. Hạ Sĩ I Thí chửi thề: “Tiên sư cha thằng nào mới nói đó?” rồi ông quắc mắt nhìn chầm chập vào mặt B1 Niên đang đi gần đó.

    chửi tiếp: “Mẹ... mày, mày mang chỉ mỗi cái ba-lô. Ngoài cái ba-lô, tao còn mang ruột tượng gạo và khiêng cái chảo nữa... Mệt thấy mẹ, mày không khiêng phụ... còn móc lò nữa hả thằng khốn kiếp?! ... Lát nữa, tao đéo nấu cơm, cho tụi mày đói thấy mẹ tụi mày luôn!” Chửi xong, ông vất cái ba-lô đang mang xuống đất thật mạnh làm cái xoong cột trên ba-lô méo một bên.

    B1 Niên nín khe. Nó không ngờ câu nói đùa đã khiến Hạ Sĩ I thí nổi cơn điên như vậy! Mà không điên sao được. Từ sáng đến giờ, Hạ Sĩ I Thí lu-bu với các vật dụng nhà bếp không có cả thì giờ ăn sáng, bụng đói còn phải khiêng cái chảo to nặng lên đồi cho kịp nấu cơm trưa cho cả đại đội... ăn.

    Mặc dù đã đổi phiên cho hai anh hỏa đầu quân khác khiên chảo rồi, nhưng vì... HS1 Thí lớn tuổi, người lại gầy nhom ốm yếu và lại còn leo đồi giữa trưa nắng cho nên ông mệt muốn... đứt hơi mà lại còn bị cái “thằng khốn nạn” chọc quê, không tức sao được !

    Tối hôm đó, thằng Niên mon men lại gần HS1 Thí, ông Thí trừng mắt ngó nó như muốn đổ lửa. Thằng Niên ấp úng: “Bố, hồi trưa...” HS1 Thí giận dữ: “Bố cái con c..., ai cho mày gọi tao là bố. Mày mà còn giở trò chọc ghẹo nữa, tao phang cho cái xẻng chết mẹ bây giờ!” Thằng Niên thành khẩn: “Hồi trưa con lỡ nói chơi khiến bố giận, con xin bố tha lỗi cho con !” Nó ấp úng tiếp: “Bố đừng buồn con... nha bố !”


    Hình minh họa

    Vẻ mặt thằng Niên thành khẩn đến độ thiểu não. HS1 Thí có vẻ nguôi giận, ông nín thinh một hồi rồi đột nhiên ông thấy tủi thân, ông... khóc. Thằng Niên hoảng hốt, nó ôm chầm hai vai HS1 Thí và nó cũng khóc!

    Lỗi này là do nơi ông đại đội trưởng. Mới đổi về, ông có ý tốt, chọn những người ốm yếu, lớn tuổi, và nhất là HS1 Thí cũng sắp giải ngũ vì lý do gia cảnh nên ông cho họ ở ban hỏa đầu vụ để đỡ phải hành quân, phục kích đêm... Có lẽ ông nghĩ công việc này nhàn hạ, chỉ ngày hai buổi đi chợ nấu cơm, mà đâu dè cũng là gánh nặng mà ông không biết.

    Người ta nói “quả báo nhãn tiền” đôi khi cũng đúng. Ðơn vị tôi đột kích vào mật khu Việt Cộng. Bọn du kích bỏ chạy, chúng tôi tịch thâu được vài khẩu Carbine, súng Mas. 36, 2 bao gạo, vài chục ký cá khô và cá hộp, v.v... B1 Niên tịch thu được một cái thau nhôm thật lớn, định bụng sẽ tặng ban hỏa đầu vụ, có lẽ tặng HS1 Thí thì đúng hơn.

    Nó ôm cái thau trước bụng. Khi di chuyển người đi trước chạm vào nhánh cây thấp và nhánh cây bật ngược đập vào cái thau nghe leng keng. Trung đội trưởng bảo nó úp cái thau vào phía sau đít mà đi, tránh gây tiếng động kẻo bọn Việt Cộng sẽ nghe thấy. Lúc leo dốc, không hiểu B1 Niên trợt chân thế nào mà lại té ngồi lên cái thau... và cứ thế, cái thau như một vật trượt tuyết chở nó lao xuống đồi thật nhanh, va vào hết cây này đến cây kia, các nhánh cây thì quất vào thau, vào người nó tơi tả. Mọi người cố chạy theo cứu nó nhưng không kịp. May sao, một bụi gai tre chận nó lại... cái thau thì móp méo và thủng cả đáy, đít thằng Niên bị trầy trụa rướm máu, còn cái mỏ nó thì bị so le vì bị cây đập vào môi trên sưng vù. Nếu không có bụi gai tre cản lại có lẽ cái thau đã lôi tuột nó xuống đường thông thủy đầy đá lởm chởm thì chỉ có chết hoặc ít ra cũng gãy tay gãy chân. Mọi người vừa thương hại vừa tức cười. Thật đáng đời cái thằng hay nghịch ngợm, hay chọc phá người này đến người nọ. Một người nói: “Ðúng là người gian mắc nạn!”

    Chưa hết...

    Cạnh đồn có nhà ông Năm Giáp. Ông có hai đứa con trai lớn đều đi lính ở xa, ở nhà chỉ còn hai vợ chồng già và cô con gái út. Cô Thơm vừa tròn 17 tuổi trông rất... mát mắt. Mấy ông lính nhà ta, nhất là... mấy ông nhóc quân dịch tuổi chừng 19, 20 thường lân la đến nhà cô Thơm thăm... hai bác !


    Hình minh họa

    Thằng Long là một trong đám lính đó. Nó “lết bánh” vì cô Thơm. Ngày nào không ghé qua nhà ông Năm Giáp là ngày đó nó thẫn thờ như người mất hồn. Nó thường khoe với bạn là nó thương cô Thơm lắm, thương cũng bằng thương má nó ở nhà và cô Thơm cũng thương... nó nữa! Bất cứ một tân binh nào mới đổi về nó cũng rủ ra nhà cô Thơm... thăm ông bà Năm.

    Một hôm, nó vừa bước ra sau vườn thì thấy cô Thơm đang hái me, vừa nhảy cao vừa lấy cây đập nhưng cô Thơm vẫn không làm sao hái được me. Thấy thế, thằng Long nhào tới giúp liền. Nó ấp úng: “Thơm để đó, tôi... hái ‘giùm’ cho” và nó nhanh nhẹn cởi giày, cởi quần trận ra, leo một thoáng là đã ngồi trên cháng ba của cây me.

    Nó đứng trên một nhánh lớn, tay trái vịn vào một nhánh khác, tay phải với tìm những trái me “giốt,” loại me gần chín, hái lia lịa và liệng xuống cho cô Thơm lượm.

    Nhưng... khi nhìn xuống thì không thấy cô Thơm đâu cả! Nó hỏi thằng bạn đứng dưới gốc: “Ê, Xuân! Thơm đâu rồi?” Thằng Xuân trả lời: “Ði rồi!” Thằng Long ngạc nhiên:

    “Ủa! Ði đâu vậy ?” Thằng Xuân ái ngại: “Tao không biết, nhưng chắc đi luôn rồi. Thôi... xuống đi.”

    Nghe Xuân nói vậy, Long vội tuột xuống, mắt nhìn dáo dác: “Sao bỏ đi đâu vậy ?” Thằng Xuân thấy tội nghiệp bạn mình: “Gặp tao, tao cũng đi nữa là... cô Thơm.” Thằng Long chưa hiểu, lẩm bẩm: “Sao bỏ đi vậy cà!?” Giọng thằng Xuân trở nên gắt gỏng: “Mầy là cái thằng cà chớn! Leo cao hái me mà lại mặc quần xà lỏn, cái quần... rộng rinh.

    Cô Thơm đứng dưới nhìn lên thấy mẹ nó... hết rồi !” Thằng Long lại vẫn chưa hiểu: “Thấy cái gì?” Tức quá, Xuân nói như gây lộn: “Thấy trái me... của mầy chứ thấy gì!”

    Lúc nầy, thằng Long mới hiểu, nó sượng chín người, mặt đỏ bừng lên nhưng cặp mắt thì như đứng tròng. Nó lúng ta lúng túng trông thật tội nghiệp, rồi bất thần nó nhắm hướng đồn đi nhanh như chạy, làm thằng Xuân chạy theo muốn hụt hơi.


    Hình minh họa

    Từ đó, cô Thơm tránh mặt nó. Mỗi lần đi chợ, ngang qua cổng đồn thì cô Thơm đi vòng ra sau dãy nhà đối diện đồn để khỏi đụng mặt thằng Long. Và thằng Long thì không dám đến nhà ông Năm Giáp nữa... Mỗi khi bất chợt thấy bóng dáng một người con gái xa xa là nó vội tránh mặt liền vì sợ phải gặp mặt cô Thơm. Cũng từ đó, suốt ngày nó lẩn quẩn trong sân đồn, thỉnh thoảng liếc mắt nhìn về hướng nhà cô Thơm, buông những tràng thở dài nghe mà đứt... ruột. Và cũng từ đó, hai người xa nhau, xa nhau chỉ vì một lý do... thật lãng nhách!

    Rồi...

    Ðơn vị tôi di chuyển vào trong rừng để truy lùng một đơn vị địch quân cấp tiểu đoàn mà cách đây hai ngày chúng đã phục kích quân ta tại khu vực cầu Lăng Quăng, ranh giới của xã Võ Xu, Hoài Ðức, và xã Duy Cần thuộc quân Tánh Linh, Bình Tuy, gây thiệt hại trung bình cho ta, trong đó có hai sĩ quan bị tử thương là Ðại Úy Hiếu, Chi Khu Phó CK Tánh Linh, và Ðại Úy Khải, Ðại Ðội Trưởng ÐÐ.720/ ÐPQ.

    Khoảng 9 giờ sáng, đang di chuyển thì bỗng nhiên cánh quân phía trước khựng lại, tôi chụp ống liên hợp từ tay âm thoại viên hỏi cánh quân đi đầu: “Một... Trung Hiếu... gọi.” (Im lặng vô tuyến). Tôi gọi tiếp... cũng không nghe tiếng trả lời. Tôi lại gọi với giọng gắt gỏng: “Trung Hiếu gọi Một nghe rõ không, nói đi.” Vẫn im lặng, tôi điên tiết... phóng vội lên phía trước định đập anh âm thoại viên Trung Ðội 1 một trận, vì đối với đơn vị tác chiến nhất là đang di chuyển trong vùng có địch thì sự liên lạc vô cùng quan trọng, gọi chưa dứt lời là phải có sự đáp trả tức khắc.

    Vừa được mấy bước thì thấy vài anh lính chạy ngược lại, mặt mày hơ hãi... Tôi ngạc nhiên! Lại một tốp lính nữa chạy ngược về phía sau và mặt mày người nào cũng có vẻ hốt hoảng, tôi quát khẽ: “Ðứng lại, cái gì đó?” Họ không trả lời mà còn chạy nhanh hơn. Thật là quái đản !? Tôi chưa kịp hỏi tại sao thì cả đám lính phía trước ùa chạy ngược lại phía sau... mặt họ trông càng khiếp đảm hơn! Lập tức, tôi cho dàn đội hình tác chiến.

    Chuẩn Úy Minh, Trung Ðội Trưởng Trung Ðội 1, đi đầu, tay ôm mặt, tay vịn nón sắt chạy vụt qua mặt tôi ngược chiều. Tôi vói tay chụp cái ba-lô kéo giựt Chuẩn Úy Minh lại và nói như thét: “Ðứng lại! Tại sao chạy ?” Chuẩn Úy Minh không nói mà lại đưa một ngón tay chỉ về phía sau lưng hướng lên trời và lại bỏ chạy thật nhanh.

    Tôi quá đỗi kinh ngạc! Cái gì làm cho họ sợ đến như vậy?! Nếu gặp Việt Cộng thì họ nổ súng, đàng này... hoàn toàn không có một tiếng súng nào cả! Hay họ gặp thú dữ?

    Ðiều này cũng không đúng vì rừng này làm gì có cọp beo, chỉ có voi thôi. Nhưng lính tráng súng ống đầy trời như vậy thì cả trăm con voi đi nữa cũng đâu có thể làm họ sợ đến như vậy!? Hay là họ gặp... ma? hoặc gặp... quỷ gì đó?! Nhưng quỷ ma thì chỉ sợ lính chứ lính làm gì sợ ma quỷ!!! Và cứ thế, cả đoàn quân âm thầm bỏ chạy gần hết.


    Hình minh họa

    Phía trước tôi... bỏ chạy, phía sau tôi... bỏ chạy, chính giữa... ngay cả anh truyền tin mang máy cho tôi cũng... bỏ chạy! Tôi bắt đầu rúng động bởi hiện tượng kỳ quái này mà chỉ có trong sách kiếm hiệp của Kim Dung may ra mới có... Thì, một cái gì, một vật gì thì đúng hơn, nhỏ cỡ ngón tay,... Không phải một mà... là hai, rồi ... ba, chạm mạnh vào má, vào trán tôi đau đến nhảy dựng lên và nước mắt, nước mũi tôi túa ra... Tôi chợt hiểu và bây giờ thì tới phiên tôi... bỏ chạy!!!

    Thì ra thằng ôn dịch nào đi đầu... không biết mắt mũi để ở đâu mà nó lại lủi nhằm phải ổ ong vò-vẽ. Lũ ong giật mình hốt hoảng bay túa ra và khi nhận diện được... kẻ thù, bọn chúng xông vào tấn công tới tấp. Khổ nỗi là cánh quân của tôi lại quàng khăn đỏ. Trong rừng, màu đỏ tương phản với màu xanh của cây lá nên bọn ong thấy rất rõ “kẻ thù” nên tấn công rất chính xác. Chạy tới đâu, bọn chúng rượt theo tới đó. Có người bị chích rồi... con khác lại bu vào chích tiếp... quyết không tha.

    Ðang chạy trối chết thì có ai đó la lớn: “Liệng trái khói... Liệng trái khói!” thế là đủ các màu vàng, đỏ, tím,... tuông ra mù mịt... Lính tráng lớp bị ong chích, lớp bị hít phải khói màu ho sặc sụa, rên hù hù, trong đó có tôi! Nhưng tất cả phải gồng mình ráng chịu... vì ra khỏi vùng có khói thì sợ ong chích. Khói màu làm lũ ong sợ hãi, chúng không dám đáp xuống tấn công nữa mà lại bay tít tận ngọn cây, quầng qua quầng lại cả ngàn con trông thấy phát ớn lạnh. Tôi từng xem phim The Longest Day... cảnh máy bay đồng minh tấn công quân Ðức tại mặt trận Normandi nhưng vẫn còn thua xa đám máy bay... ong này.

    Chưa hết! Trong khi anh em liệng khói màu để cản bầy ong thì... một ông tân binh đứng cạnh tôi hoảng hốt, đưa tay lôi trái lựu đạn đeo nơi dây ba-chạc phía trước ngực định rút chốt, may mà tôi nhìn thấy và ngăn cản kịp lúc nếu không thì... chắc chết cả đám. Vì, thấy người ta liệng khói màu, ổng cũng tưởng là ổng có... khói màu!

    Coi như cuộc hành quân... thất bại! Cánh quân trên trăm người chạy tán loạn trong rừng và lạc nhau gần hết. Tới 4 giờ chiều tối chỉ gom lại được phân nửa. (Ong vò-vẽ thường làm ổ ở các lùm bụi thấp chứ không làm trên cao như loại ong mật.)

    Ðịnh bắn súng gọi những người đi lạc nhưng lại sợ lộ mục tiêu cuộc hành quân nên tôi gọi pháo binh xin bắn đạn khói. Ðài tác xạ gọi tôi xin cho tọa độ, tôi bảo: “Bắn đâu cũng được... không cần tọa độ !” Họ tưởng tôi điên nên không chịu bắn. Tôi gọi tiếp, họ trả lời là... Họ chưa bao giờ gặp một đơn vị hành quân nào xin bắn pháo binh mà không cho biết... tọa độ! Nghe họ nói, tôi hơi bị “quê” một phút, và tôi bắt đầu giải thích... Văng vẳng trong máy, nhiều chuỗi cười rộ làm tôi thấy “quê” thêm. Thực ra, tôi chỉ muốn anh em chạy lạc trong rừng họ nghe được tiếng súng đại bác 105 ly depart họ sẽ biết hướng chi khu nằm ở đâu để họ tìm đường về. Thế thôi.


    Hình minh họa

    Người tôi mệt lả vì cả ngày chẳng có hột cơm vì còn phải lo chạy giặc... ong, phần bị ong chích bắt đầu lên cơn sốt. Loại ong này độ 20 con thôi... chích vào một con trâu thì trâu cũng chết huống chi là con người. Cả đoàn quân khi ra đi thì... Trời nghiêng Ðất lở... bây giờ thì chỉ còn lại một đám bại xụi, đứa thì rên, đứa thì khóc hu... hu vì đau nhức quá không chịu nổi !

    Ðêm đó, bệnh viện Quân Dân Y đầy ắp người. Cả hàng trăm người tụ tập ở đó, vừa lính... “bại trận,” vừa thân nhân của họ. Có điều khác lạ là thân nhân không khóc, không kể lể rên rỉ như những lần lính được tải thương từ mặt trận, mà lần này... lính càng rên thì thân nhân, cười rất... vui vẻ, cười rất sảng khoái. Kiểm điểm lại, có bảy ông “bại binh” phải chở vào Tổng Y Viện Cộng Hòa, hơn 20 chục ông phải nằm lại bệnh viện Quân Y để điều trị tiếp, còn lại bao nhiêu trở về hậu cứ để cho y-tá tiểu đoàn chăm sóc.

    *****

    Ðã 44 năm trôi qua... kể từ tháng 4-1975 mà nỗi đau thương, bất hạnh đã đổ chụp xuống đất nước và trên đầu dân tộc chúng ta. Cho dù có còn kéo dài bao lâu đi nữa... tôi vẫn không bao giờ quên được những năm tháng tuổi trẻ trong đời, những tháng năm mà tôi đã sống cho lý tưởng, cho tình yêu và cho những nồng ấm trong tình chiến hữu, cho đời lính buồn nhiều hơn vui và đầy bất trắc.

    Mỗi tháng 4 về là thời gian làm cho hoài niệm trong tôi bùng lên mãnh liệt nhất. Tôi nhớ bạn bè tôi, tôi nhớ đồng đội tôi, và nhớ chiến trường xưa những chiều loang lửa đạn. Những chuyện tôi kể trong bài này là những đặc điểm của từng người làm tôi không bao giờ quên họ được. Ðã 44 năm rồi, đây là lần đầu tiên tôi mới kể ra, kể ra để san sẻ, để vơi bớt trĩu nặng tâm tư và cũng để... biết đâu, tôi sẽ không còn dịp để kể.

    Tôi không muốn kể những chuyện vui nhất là trong Tháng Tư Ðen, đối với tôi đây là những chuyện buồn... Vì những người tôi vừa đề cập đến... họ đã không còn nữa! Họ đã ra đi vĩnh viễn vào một thế giới nào xa xăm khác với thế giới chúng ta đang sống, và... tất cả những người này đã gục ngã vì đạn thù trên bước đường lui binh trong trận chiến Võ Ðắt tháng 3 năm 1975 !

    Lê-Phi-Ô
    Cựu Tiểu Đoàn Trưởng TĐ344/ĐP - Bình Tuy

    https://www.facebook.com/photo.php?f...&theater&ifg=1

    Leave a comment:


  • BachMa
    replied
    Chuyện Không Thể Đã Trở Thành Có Thể

    Chuyện Không Thể Đã Trở Thành Có Thể
    ---oo0oo---

    Vào dịp cuối năm 1994, một buổi họp mặt các cựu tù nhân chính trị được tổ chức ở San Diego. Nhiều trại cải tạo ở miền Bắc được lần lượt xướng tên như “Phong Quang”, “Yên Báy”, “Vĩnh Phú”, “Thanh Cẩm”, “Lý Bá Sơ”, “Nam Hà”, “Phú Sơn” v.v Trại nào cũng có năm bảy anh đứng dậy và giới thiệu tên của mình. Khi xướng tên trại Nam Hà, tôi đứng dậy và có thêm bốn anh nữa , trong đó có một anh, tự giới thiệu tên của mình là Lê Trung Đạo. Tôi lẫm nhẫm Lê Trung Đạo, Lê Trung Đạo…sao tên nghe quen quá, hình như anh ấy ở chung đội với tôi thì phải. Khi phần giới thiệu các anh em trại Nam Hà chấm dứt, tôi đi đến bàn của anh Đạo, đứng đối diện và nhìn kỹ anh ấy.


    Hình minh họa

    Tôi nhận ra anh Đạo ngay. Tôi ôm chầm lấy anh, và anh ấy cũng ôm tôi trìu mến. Tôi thì thầm bên tai Đạo : “Em còn nhớ anh không? ” Đạo trả lời ngay: “Anh Uyển, mà sao em có thể quên được, thật vui mừng được gặp lại anh. Em trông chờ ngày này đã lâu lắm rồi!”

    Khi cùng sống trong cảnh đọa đày nơi trại Nam Hà, phân trại C, tôi và Đạo nằm gần nhau. Ra đồng, bắt được con cua, con cá, tôi và Đạo cùng chia sẻ với nhau. Đạo là một Thiếu Úy Cảnh Sát Đặc Biệt, mới ra trường, không biết làm Trưởng G hay H gì đó..mà bị đày ra cải tạo ở miền Bắc. Anh còn quá trẻ, khoảng 24, 25 tuổi. Tôi xem anh như một người em của tôi và tôi rất quý mến anh. Đạo chưa lập gia đình. Anh chỉ còn một mẹ già đang sống ở Vĩnh long. Anh sống hiền hòa, vui tính, nên anh em trong đội ai cũng mến .

    Một hôm, đội được dẫn đi gặt lúa, khi đi ngang qua cổng cơ quan, Đạo thấy nhiều chiếc áo vàng đứng ở đó. Nhìn lướt qua, Đạo chợt thấy một nữ cán bộ nhìn anh mỉm cười. Anh không tin ở mắt mình, anh nghĩ rằng có thể cô ta cười vu vơ gì đó, chứ đâu phải cười với anh. Anh quay lại nhìn một lần nữa, vẫn thấy cô ta nhìn anh và mỉm cười.

    Từ ngày ấy, mỗi khi đội đi ngang qua cỗng cơ quan, Đạo đều bắt gặp nụ cười của người nữ cán bộ dành cho anh. Vì vậy khi đi lao động, Đạo luôn luôn đi cuối hàng để dễ đón nhận nụ cười của cô nữ cán bộ. Đạo cũng cười đáp lễ với cô ta. Đạo bắt đầu thấy cuộc đời của mình, có một chút gì thi vị, đáng sống. Khi ăn, khi ngủ, nụ cười đó luôn luôn theo anh, cho anh niềm an ủi, và chút lạc quan để sống. Anh em trong đội đều biết mối tình mắt nhìn mắt và trao đổi nụ cười của Đạo và cô nữ cán bộ.

    Vào một buổi sáng chúa nhật, chúng tôi được gọi ra sân để nhận quà của thân nhân từ trong Nam gởi ra. Thường thì 80 đến 90 phần trăm anh em đều nhận được quà. Riêng Đạo thì chưa bao giờ nhận được quà của thân nhân. Nhưng thật bất ngờ, hôm nay cán bộ lại kêu tên Đạo lên nhận quà, ai cũng ngạc nhiên và mừng cho Đạo.Anh nhận một gói quà bình thường, nhưng cách gói quà , khác với những gói quà từ trong Nam gởi ra. Đạo sững sốt nhận gói quà, đem về phòng, cẩn thận mở ra. Một mãnh giấy nhỏ nằm trên những gói đồ ăn, anh đọc vội hàng chữ “Trìu mến gửi anh Đạo – Em : Kim Chi”. Với mấy chữ ngắn gọn đó, Đạo biết ai gởi cho anh món quà tình nghĩa này. Anh ôm gói quà vào lòng. Anh không ngờ người nữ cán bộ có nụ cười dễ thương đó, lại dám liều lĩnh gởi quà cho anh. Hai hàng nuớc mắt chảy dài xuống má, đây là những giọt nước mắt hạnh phúc mà từ lâu anh không hề có.

    Trại Nam hà, Phân trại C, nơi chúng tôi đang ở, phía sau là con đường làng. Trại chỉ ngăn cách với bên ngoài bởi những bụi tre thấp và hàng rào kẽm gai. Dân chúng đi ở ngoài, chúng tôi có thể thấy họ. Thường vào buổi chiều, sau khi ăn cơm xong , chúng tôi hay ra ngồi chơi ở sân sau đó, nhìn người qua lại. Một hôm, chúng tôi thấy cô cán bộ Chi đi lui, đi tới ở ngoài hàng rào, rồi thình lình quăng vào trong một cái gói nhỏ. Chúng tôi biết cô ấy gởi gì đó cho Đạo, chúng tôi mang vào cho anh. Đạo không biết Chi gởi gì cho anh, nhưng anh cảm động lắm. Anh em hiếu kỳ đứng quanh giường của của Đạo, để xem cô Chi đã gởi gì cho anh: đó là một gói xôi và một con gà vàng rộm.

    Đối với tù nhân, đói triền miên như chúng tôi, thì gói xôi gà này là cao lương mỹ vị bậc nhất trên thế gian này. Đạo rất hào phóng, anh chia đều xôi, gà cho tất cả 32 anh em trong đội, mỗi người được một muỗng xôi và chút ít thịt gà. Có người ăn ngay, nhưng cũng có vài anh em để đó, hít hít mùi thịt gà cho đỡ thèm.

    Đạo thấy thương Chi quá, vì yêu anh, nàng đã gan liều làm những việc như vậy, vì nếu bị phát giác, nàng ở tù như chơi. Đạo càng thương Chi khi nghĩ đến tương lai : một cán bộ công an yêu một sĩ quan cảnh sát ngụy..thì đời nào có thể sum họp được. Anh thở dài !

    Vào một sáng chúa nhật, một anh trật tự đến phòng chúng tôi, bảo anh Đạo chuẩn bị ra có người thăm nuôi. Chúng tôi rất ngạc nhiên, vì từ bao năm nay, Đạo thuộc diện con mồ côi, chưa hề có ai gởi quà cho Đạo, nói gì đến chuyện thăm nuôi.Thế mà hôm nay, lại có người thân nào đó đến thăm Đạo. Chúng tôi mừng cho Đạo. Khoảng 9 giờ sáng, anh được cán bộ dẫn ra nhà thăm nuôi. Chúng tôi hồi hộp chờ Đạo trở vào để xem anh nhận được những quà gì của thân nhân đem đến.

    Nhưng chúng tôi chờ mãi…đã ba , bốn giờ chiều rồi, vẫn chưa thấy Đạo trở vô trại. Thường một trại viên được gặp mặt thân nhân khoảng 15, 20 phút, tối đa là nửa giờ. Thế mà , Đạo ra nhà thăm nuôi đã hơn bốn, năm tiếng rồi mà chưa thấy vô. Chúng tôi bắt đầu lo lắng cho Đạo, không biết chuyện gì đã xảy ra cho anh, lành hay dữ. Và từ đó, chúng tôi không còn biết tin tức gì về Đạo nữa.

    Hôm nay gặp lại Đạo, tôi đem chuyện ấy ra hỏi Đạo, anh đã kể cho tôi nghe câu chuyện sau đây:

    “ Anh nhớ không, ngaỳ chúa nhật hôm đó, em được dẫn ra nhà thăm nuôi, nói là có thân nhân đến thăm. Em vô cùng ngạc nhiên vì em đâu có thân nhân nào từ trong Nam có thể ra thăm em. Bước vào nhà thăm nuôi, em thấy Chi và một ông Thượng Tá công an ngồi ở đó.Chi vội vã đứng lên giới thiệu : “Đây là cậu Du của Chi, đang công tác ở tỉnh Thái Bình, em nhờ cậu ấy đến thăm anh.” Đạo bối rối nhìn Chi, nhìn ánh mắt, nụ cười của Chi. Chi mặc đồ công an, trên cổ áo có đeo quân hàm Thiếu Úy. Chi biết Đạo ngõ ngàng, thắc mắc nên cô nói ngay : “Anh đừng lo, em bảo anh làm gì thì cứ làm theo, chớ có hỏi han gì hết”. Chi dẫn Đạo vào một căn nhà ở gần nhà thăm nuôi, nhà không có ai cả. Chi bảo tôi cởi bộ áo quần tù ra, và mặc ngay bộ đồ công an đã để sẵn ở đó; ngoài áo quần, có cả nón, cặp da và giấy chứng nhận đi công tác miền Nam.

    Tôi như trên trời rớt xuống, nhưng không có thì giờ để hỏi Chi, việc gì đang xảy đến cho tôi. Khi tôi đã mặc xong bộ đồ công an, Chi nhìn tôi mỉm cươì , rồi kéo tôi ra ngỏ, bảo tôi leo lên một chiếc xe Jeep nhà binh đậu sẵn ở đó., và chạy ra ga xe lửa Phủ Lý. Chi bảo tôi cứ ngồi trên xe, Chi vào mua vé xe lửa đi về Sàigòn. Khi đưa tôi lên xe lửa, Chi ân cần căn dặn: “Không nên về nhà, cũng đừng liên lạc với mẹ, mà tìm một người bà con nào đó ở tỉnh khác xin trú ngụ vài ngày, rồi tìm đường vượt biên. Tốt nhất là đi đường bộ qua ngã Campuchia”. Chi đưa cho tôi một gói giấy và nói: “Đây là ít tiền để anh tiêu dùng, nhớ là phải vượt biên ngay nhé!”. Chi cầm tay tôi và chân thành nói : “Em là vợ của anh, anh đừng quên em!”. Tôi ôm Chi vào lòng, nước mắt ràn rụa. Chi cũng khóc trên vai tôi. Xe lửa từ từ lăn bánh, hình ảnh Chi cô đơn đứng một mình trên sân ga, nhỏ dần, nhỏ dần.. Tôi thấy nhiều lần Chi đưa tay lên lau nước mắt. Trong tim tôi, mối tình mà Chi dành cho tôi quá sâu đậm, đã chiếm trọn cuộc đời tôi.

    Tôi vỗ vỗ vào trái tim của mình “Đạo, Đạo, mày phải sống xứng đáng để đền ơn đáp nghĩa cho Chi nghe chưa”

    Khi xe lửa dừng lại ở ga Bình triệu, Sàigòn, tôi không về nhà tôi ở Vĩnh Long, mà đến nhà dì tôi ở Cần Thơ xin trú ngụ.Chồng của dì tôi là một Đại úy Công Binh Việt nam Cộng Hòa, trước năm 1975, ông phục vụ ở Tiểu Đoàn 24 Công Binh Kiến tạo, mới được trả tự do. Gia đình dì, dượng tôi đang âm thầm chuẩn bị vượt biên. Dì, dượng tôi vui vẻ chấp thuận cho tôi cùng đi theo. Tôi đã đưa gói tiền mà Chi trao cho tôi, cho dì tôi để bà tiêu dùng. Mở gói ra xem, dì bảo tôi : “Tiền đâu mà cháu có nhiều vậy?” Tôi trả lời ngay : “Của vợ con cho đó!”

    Vào một đêm tối trời, ghe máy chở cả nhà ra cữa biển Đại Ngãi, vì tàu lớn đang đậu ở đó. Sau 3 ngày và 4 đêm, tàu của chúng tôi đã đến hải phận Thái Lan, được tàu tuần duyên của Thái Lan đưa về trại Sikiew. Trong cuộc phỏng vấn thanh lọc, nhân viên Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc hỏi tôi rất ít. Tôi nghĩ là họ có đầy đủ hồ sơ cá nhân của ngành Cảnh Sát Đặc Biệt. Họ chỉ hỏi tôi là làm Trưởng G hay Trưởng H, tôi trả lời. Người nhân viên đó lấy trong tập hồ sơ ra một tấm ảnh, anh nhìn tôi rồi gật đầu.Thế là tôi vượt qua cuộc thanh lọc. Mấy tháng sau, họ chuyển tôi qua trại Pulau Bidong ở Mã Lai, để chờ chuyến bay đi định cư ở Mỹ.

    Tôi mau chóng gởi thư cho má tôi ở Vĩnh Long, báo tin tôi đã bình yên đến trại Pulau Bidong ở Mã Lai, đang chờ chuyến bay để đi định cư ở Mỹ. Khoảng 2 tuần sau, tôi vui mừng nhận được thư hồi âm của má tôi, và một bất ngờ thú vị đến với tôi là có cả thư của Chi nữa! Má tôi đã viết cho tôi : “Đạo con, má rất vui mừng nhận được tin con đã đến nơi bình yên. Má cho con biết là Chi đang ở đây với má. Chi đã kể cho má nghe hết mọi chuyện. Má rất hạnh phúc có được một con dâu hiếu thảo như Chi, má mừng cho con”

    Đạo run run mở thư của Chi ra đọc: “ Anh Đạo yêu quí của em, nghe anh đã đến đảo và đang chờ chuyến bay để đi Mỹ, má và em mừng quá anh ơi. Khi anh đi về Nam chưa đầy một tháng, họ đuổi em ra khỏi ngành công an. Em đã về Vĩnh Long ở với má, em thay anh phụng dưỡng, săn sóc má, anh yên tâm ! “

    Với lời lẽ chân tình, mộc mạc, tôi uống từng chữ, từng lời trong bức thư ngắn gọn của Chi, tôi áp bức thư vào ngực và đi vào giấc ngủ.

    Năm 1982, tôi được đi định cư ở Mỹ. Khi có thẻ xanh, tôi đã làm hồ sơ bảo lãnh Chi. Trong thời gian ở với má tôi ở Vĩnh Long, không biết Chi hỏi thủ tục bảo lãnh ở đâu mà nàng ra Thái Bình, nhờ người cậu Thượng Tá Công An của nàng, làm một giấy hôn thú của tôi và Chi, có đầy đủ chữ ký và khuôn dấu đỏ xác nhận của chính quyền địa phương.

    Năm 1987 khi tôi được nhập quốc tịch Mỹ, tôi đã bổ túc hồ sơ bảo lãnh. Chi đã nhanh chóng được phỏng vấn. Lúc này, những trường hợp gian dối chưa xảy ra nhiều, nên việc chấp thuận cho chồng bảo lãnh vợ tương đối dễ dàng nếu có đầy đủ giấy tờ chứng minh.

    Vào một ngày se lạnh ở miền Nam Cali, tôi và vài bạn bè thân quen đến đón Chi ở phi trường Los Angeles. Tôi ôm Chi vào lòng, vì quá cảm động, tôi chỉ thốt lên được một tiếng “Em!” Chi cũng vậy, nàng thổn thức trên vai tôi “Anh!”. Chỉ 2 tiếng “Anh” “Em”, nhưng đã gói trọn cuộc tình mà chúng tôi nghĩ là không bao giờ có thể sum họp được. Tạ ơn Trời Đất !

    Đạo xây qua người đàn bà ngồi bên cạnh anh, và giới thiệu với tôi : “Thưa anh, đây là Chi, vợ em” Chi bẽn lẽn cúi đầu, che dấu nụ cười đã đem lại sức sống và hạnh phúc cho Đạo.

    Tôi đã được nghe , được biết nhiều mối tình ly kỳ, éo le lắm. Nhưng nếu nói đến một mối tình thật lãng mạn, mà người con gái đã dám hy sinh sự nghiệp và cả tính mạng mình cho người yêu, thì không thể không nói đến mối tình của nàng Kim Chi và chàng Trung Đạo.


    https://www.facebook.com/photo.php?f...&theater&ifg=1

    Leave a comment:


  • BachMa
    replied
    Cười Chút Chơi..























    Last edited by BachMa; 07-24-2020, 06:40 PM.

    Leave a comment:


  • BachMa
    replied
    Căn Cứ Sóc Trăng & Không Quân Tắm Búng

    Căn Cứ Sóc Trăng & Không Quân Tắm Búng
    Hồng Điểu Jo Vĩnh SA


    Căn cứ Sóc Trăng

    Khoảng giữa năm 1970 các quân nhân thuộc nhiều ngành nghề trong quân chủng Không Quân như: Phi công trực thăng, Cơ phi, Xạ thủ phi hành, kỹ thuật, tiếp liệu, kiến tạo được thuyên chuyển từ khắp các Không Đoàn, trên 4 vùng chiến thuật về thành lập căn cứ Không Quân Sóc Trăng do quân đội Mỹ vừa bàn giao.

    Căn cứ Không Quân Sóc Trăng mới được thành lập, Đại tá Trần Minh Thiện được bổ nhiệm làm Chỉ huy trưởng, Trung tá Nguyễn Hồng Tuyền liên đoàn trưởng Liên Đoàn 84 Yểm Cứ.


    Huy hiệu Phi đoàn 225

    Phi trường Sóc Trăng có hai phi đoàn trực thăng tân lập là: Phi đoàn 225 Ác Điểu do Th/tá Lê Văn Châu Phi đoàn trưởng và Phi đoàn 227 Hải Âu do Th/tá Trần Châu Rết Phi đoàn trưởng.

    Phi đoàn 225 đồn trú ở khoảng gần đầu phi đạo, hướng về thành phố Sóc Trăng, còn phi đoàn 227 đồn trú phía cuối phi đạo hướng đi Bạc Liêu.

    PĐ225 được thành lập trước. Quân số của PĐ225 đã được bổ sung tạm đủ, nhân viên phi hành của phi đoàn, gửi đi bay xuyên huấn ở các căn cứ Bộ Binh Hoa Kỳ như:

    Đồng Tâm Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ và ngay cả tại Sóc Trăng được gọi về phi đoàn để bắt đầu nhận lệnh tham gia hành quân.

    PĐ225 được may mắn là BTL/KQ thuyên chuyển nhiều nhân viên phi hành kỳ cựu, kinh nghiệm, gan dạ trên chiến trường từ 4 vùng chiến thuật, xuống Sóc Trăng thành lập PĐ225. Vì thế PĐ225 được ưu tiên tham gia hành quân trước cùng với 2 phi đoàn trực thăng kỳ cựu của SĐ4KQ là: PĐ211 và PĐ217, yểm trợ cho quân đoàn IV, quân khu IV.


    Huy hiệu Phi đoàn 227

    Trong khi đó PĐ227 chỉ có 5 Sĩ quan trong Ban Chỉ Huy (Staffs) của Phi đoàn là kỳ cựu thâm niên như: Th/tá Trần Châu Rết Phi Đoàn Trưởng (cựu 217), Đ/úy Nguyễn Hoàng Sơn (cựu 211) Phi Đoàn Phó, Đ/úy Lê Công Quân (cựu 217) Trưởng Phòng Hành Quân; Đ/úy Huỳnh Văn Minh (cựu 211) Trưởng Phòng Huấn Luyện; Đ/úy Nguyễn Chính Tâm (cựu 217) Sĩ quan An Phi. Các vị Staffs này được thuyên chuyển từ hai PĐ211 và 217 xuống Sóc Trăng thành lập tân Phi đoàn 227, các phi công còn lại của Phi đoàn toàn là những tân Pilots mới ra lò, vừa từ Mỹ về.

    Ngay lập tức PĐ227 đã gửi đa số các tân phi công sang các phi đoàn BB Hoa Kỳ (US Army) để bay xuyên huấn hành quân.

    Một số ít được giữ lại huấn luyện tại chỗ và tham gia các phi vụ liên lạc, tiếp tế cho các đơn vị bộ binh và tiểu khu.

    Từ đó, các quân nhân thuyên chuyển về căn cứ Sóc Trăng ngày càng thêm đông. Các phương tiện an sinh như: cư xá, nước dùng cung cấp cho các quân lính trong căn cứ ngày càng trở nên thiếu hụt. Nạn thiếu nước sạch để xử dụng hàng ngày là một vấn đề nan giải. Nhất là nước uống và nước tắm giặt. (Xin phép dài dòng một tí cho có đầu có đuôi)

    Sau khi quân đội Mỹ rút khỏi Sóc Trăng. Các bồn chứa nước, các ống dẫn nước, vòi cung cấp nước bị hư hỏng và sút giảm.

    Các cư xá độc thân của anh em PĐ225 kể cả cư xá kỹ thuật, toạ lạc gần đầu phi đạo hướng về TP Sóc Trăng, thì một số ít vòi nước còn hoạt động tương đối, chảy nhỏ giọt, nhưng tạm đủ dùng.

    Các cư xá của PĐ227 thì ôi thôi! Các vòi nước đã bị tịt hết 60%, chỉ còn lại vài vòi nước gần nhà Th/tá Rết và Đ/ú Tâm là còn hoạt động, chảy rỉ rỉ như thằng bé đi tè.

    Khu cư xá Sĩ quan, Cơ Phi, Xạ Thủ PĐ227 thì gần như "mậu thủy"… Mỗi lần, sau khi đi bay hành quân về, anh em cơ phi và xạ thủ phải lén ra phi đạo chôm nước, từ bồn chứa nước rửa phi cơ về tắm giặt.

    Cầu tiêu công cộng bị tắc nghẽn, không có nước xả. Thỉnh thoảng ban kiến tạo cho xe vòi rồng xuống xịt rửa. Trời nóng, không có nước tắm, nên lính tráng bị ngứa, lác tùm lum.

    Hàng ngày, sau giờ làm việc và giờ xuống ca. Đại tá Thiện cho hai chuyến xe GMC, còn gọi là xe buýt chở lính ra phố, mua sắm vật dụng cần thiết và tiện ghé nhà quen tắm giặt cho mát.

    Khi Trời có mưa, chúng tôi phải lấy các thùng chứa đạn đại liên size lớn chứa đạn M60 của Gunships, đặt dưới máng xối mái nhà, hứng nước mưa để tích trữ cho dịch vụ nấu ăn và uống.


    Hình minh họa

    Trời mưa anh em hay rủ nhau cởi trần xếp hàng dưới mái hiên tắm mưa, cho sạch hèm.

    Các câu lạc bộ thì được ban kiến tạo và tiếp liệu đem xe bồn đến cung cấp nước hàng ngày.

    Mùa hè nóng bức, không có nước tắm, nên nhiều anh em bị lác, ngứa gãi như chơi đàn classic.

    Chúng tôi rủ nhau ra tỉnh Sóc Trăng, ghé tiệm thuốc bắc mua thuốc xức lác hiệu “Ông Già” về xức cho bớt ngứa.

    Quí bác KaQu nào, từng có kinh nghiệm về tiết mục “Lác nhẩy Disco” ở quân trường, thì biết được cái xót, cái rát khi bôi thuốc xức lác trên chỗ ngứa, nó sẽ thấm thía và đã như thế nào???

    Với kinh nghiệm chiến đấu cho cái màn xức thuốc “Lác nhẩy Disco”, nên chúng tôi rủ nhau ra tiệm bán đồ điện ngoài phố mua vài cái quạt điện cổ lỗ sĩ Belair, loại để bàn đem về cư xá trị bệnh “Lác nhẩy Disco”

    Trước khi xức thuốc lác, “vũ công” bệnh nhân phải chuẩn bị kỹ lưỡng:

    -Quạt điện mở số 3 Maximum để sẵn trên bàn, nếu không có quạt điện, thì chuẩn bị sẵn một cái quạt tay.

    -Sexy không quần toàn bộ phía dưới (đúng là dân Không Quần), dùng khăn tắm rằn ri quấn quanh eo ếch.

    -Giai đoạn linh thiêng về chữa trị Lác thì thật là hấp dẫn, bắt đầu:

    Mở nắp chai thuốc Lác, lấy cây tăm quấn bông gòn, chấm vào chai thuốc.
    Vén khăn tắm, chê thằng cu lên cao

    Lấy cây tăm quấn bông gòn đã nhúng thuốc, quét đều trên lớp da, nơi chỗ bị lác, 2 bên háng.

    Khi quét thuốc xức lác trên chỗ da bị ngứa, thì màn nhảy Disco bắt đầu, miệng xuýt xoa úi cha!! Quá đã.

    Quạt số 3 thổi vù vù, người nhẩy tưng tưng….

    Thằng bạn tôi nhìn thấy hoạt cảnh “Xức Thuốc Lác” bèn hứng khẩu, nhái lên bài ca KQ Hành Khúc:

    Không Quân Việt Nam có thêm thằng cu lác

    Ù! U! U! U! Ủ! U! Ú….

    Ôi! Không Quân chua léc, chua lè..

    Không có nước tắm nên các chàng KaQu Sóc Trăng bị lác.

    Không có nước tắm, nên KaQu Sóc Trăng chua léc, chua lè, đành phải TẮM BÚNG.

    Nói đến tắm búng, thì có nhiều vị hỏi “Tắm Búng” là tắm cách nào?

    Xin thưa! Tắm Búng, không cần nước, chỉ cần cởi áo, ở trần, sau đó xè bàn tay 5 ngón ra, lấy ngón giữa chà sát trên thân mình, cho tới khi nào bụi dơ và các tế bào khô cuộn với mồ hôi, vo tròn thành sợi chỉ, giống con trùng, rồi dùng ngón tay cái và ngón giữa bấu lại, búng một phát, cho cái cục hèm dơ văng ra ngoài không khí.

    Người tắm búng dùng ngón tay, chà đi chà lại nhiều lần trên thân thể, rồi cứ thế búng hèm dơ bay lên không trung, cho tới khi chà lại, không còn hèm nữa…

    Sóc Trăng thiếu nước uống, nước nấu ăn và tắm giặt. Lính tráng ca thán hoài. Nên cuối năm 1972, quân đội Mỹ rút khỏi VN. SĐ4KQ tiếp nhận phi trường 31st Cần Thơ gần lộ 20.

    Hai PĐ225 và 227 ngay lập tức rút về Cần Thơ. Căn cứ Sóc Trăng bỏ ngõ, trao lại cho công binh tiểu khu Ba Xuyên.

    Đáng lẽ hai phi đoàn 225 và 227 thuộc KĐ84CT phải rời về phi trường Trà Nóc đóng chung với phi đoàn 211 Thần Chùy cùng thuộc KĐ84CT.

    Nhưng vì lý do bên phi trường Trà Nóc không đủ Ụ đậu phi cơ (parking) cho 3 phi đoàn trực thăng, nên phi đoàn 227 được dời về đóng đô trong phi trường 31st Cần Thơ, chung với các phi đoàn: 217, 249 Chinook, 255 và hai phi đội tản thương 259H & I – KĐ64CT…

    Phi trường Cần Thơ đổi tên thành căn cứ 40CT do Đại tá Nguyễn Văn Bá từ Pleiku về làm Chi Huy Trưởng.

    PĐ227 vẫn trực thuộc KĐ84CT. Bộ Chỉ Huy KĐ84CT đóng đô bên phi trường Trà Nóc, cách xa phi trường 31st Cần Thơ khoảng 15 – 20 cây số.

    Các phi đoàn: 217, 249 và 255 + Phi Đội 259H Dust Off trực thuộc KĐ64CT đóng đô trong CC40CT Cần Thơ.

    PĐ227 ở Sóc Trăng là phi đoàn gặp nhiều khó khăn về nước dùng hàng ngày. Nhưng lại hên và may mắn hơn PĐ225, sau khi rời từ Sóc Trăng về phi trường Cần Thơ, được ở gần thành phố.

    Trong khi đó PĐ225 bad luck, phải rời về đóng đô trong phi trường Trà Nóc – Bình Thủy gần BTL/SĐ4KQ, gần BCH/KĐ84CT là gần mặt Trời.

    Cư xá độc thân bên phi trường Trà Nóc là nhà trệt, ở tập thể, tường vách bằng gạch xi măng không tô vữa, không phòng riêng.

    Từ Trà Nóc ra phố Cần Thơ khoảng 15 – 20 cây số, phải đón xe Daihatshu, Lambretta hoặc xe lôi.

    Từ cư xá của các phi đoàn trực thăng, ra tới cổng chính, khá xa gần 2 cây số để đón xe, lên phố.

    Các cư xá gần cổng phi trường Trà Nóc thì ưu tiên dành cho các phi đoàn quan sát và A37 Fixed Wing, vì các phi đoàn này có Ụ đậu máy bay gần cổng.

    Trong khi đó, các VNAF đồn trú tại phi trường 31st Cần Thơ gần phố, cổng phi trường có nhiều quán xá, ra ngao du, phè phỡn, vì trước kia Mỹ đóng đô ở đây nên có nhiều quán và bar.

    Nhất là các bác phi hành nhà ta. Buổi chiều nào cũng vậy, sau khi hành quân về, bà con tắm rửa, sạch sẽ, quần áo láng coóng, lội bộ ra bát phố Cần Thơ, xuống bến Ninh Kiều thả dê, dẫn đào vào Vườn ổi du hí, không cần phải xe cộ, cũng lội bộ ra phố được. Quân cảnh phi trường 31st cũng dễ dãi hơn bên Trà Nóc.

    PĐ227 về phi trường 31st xa mặt trời BCH/KĐ84CT, cư xá khang trang, rộng rãi, có phòng cá nhân riêng, nước nôi đẩy đủ. Lại còn dư nước dùng để tưới cây, trồng cỏ nữa.

    Trong phi trường Cần Thơ. BCH và Phòng Hành Quân của các phi đoàn trực thăng đóng đô ngay trước trạm Hàng Không dân sự Air Việt Nam.

    Phòng họp của các phi đoàn đều ở trên lầu của các dẫy barrack, đối diện trạm hàng không VN Air lines. Bà con muốn thư giãn cứ lên phòng họp trên lầu của phi đoàn, ngồi nhìn ngắm khách thập phương đến Cần Thơ, nhất là được ngắm các Dì Tiếp Viên Air Rồng Lộn để rửa mắt.

    Các cư xá trong phi trường Cần Thơ toàn là Barrack có lầu, xây cất thành từng hàng thẳng tắp, phòng ốc rộng rãi. Khoảng cách giữa các barrack của cư xá đều có lập sân bóng chuyền, cho anh em phi đoàn chơi thể thao, giải trí.

    Kể từ ngày rời về phi trường 31st Cần Thơ, anh em PĐ 227 không còn phải Tắm Búng nữa.

    Nhìn ai nấy đều sạch sẽ, thơm tho và hào hoa, đẹp trai hơn, không còn mùi chua hèm như lúc đóng ở Sóc Trăng trước kia.

    Do đó anh em có thêm bài ca: “Có nước, thì thôi Tắm Búng”


    Hồng Điểu Jo Vĩnh SA

    https://www.facebook.com/photo.php?f...type=3&theater
    Last edited by BachMa; 06-23-2020, 02:32 AM.

    Leave a comment:


  • BachMa
    replied
    Sự Thật Ai Bắn Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan và Ở Đâu..

    Sự Thật Ai Bắn Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan và Ở Đâu..
    NGUYỄN VĂN ĐÁN

    Đã hơn 2 thập niên qua thỉnh thoảng có điện thư gởi trên mạng ghi lại tiểu sử , nhất là hình ảnh Cố Thiếu Tướng Loan bắn tên đặc công cộng sản Nguyển văn Lém và ảnh Thiếu Tướng Loan bị thương trong đợt 2 Mậu Thân tháng 05/1968.

    Việc Ông Tướng Loan hành quyết tên VC đến nay đọc giả trong và ngoài nước kể cả ký giả Eddie Adams, người chụp bức ảnh đều cho là hành động của một chiến sĩ yêu nước, yêu đồng đội và ghi công ông là một ANH HÙNG (Xin viết hoa vì theo thiện ý của tôi xin đứng nghiêm chào tán đồng). Thật vậy lúc xảy ra sự việc những kẻ phản chiến lên án, nhưng sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 thì người dân và thế giới đã thay đổi quan điểm khi nhớ lại miệng lưởi Cộng Sản tuyên bố hưu chiến dịp Lể Tết Dân tộc, nhưng đưa quân đánh phá khắp nơi, nhất là sự phản bội, tự hủy bỏ chữ ký trong Hiệp Định Paris 1973.


    Hình Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan bị thương

    Về bức ảnh Cố Thiếu Tướng Loan bị thương ở chân kèm theo sự mô tả cảnh ông bị thương với tựa đề “Ai bắn nát chân Thiếu Tướng Loan”, không nhớ tên tác giả. Bài viết thật sự có nhiều tin tức, nhưng bí mật rất phong phú từ tiểu sử Ông Tướng Loan đến cuộc đi đêm của Hoa Kỳ với MTDTGPMN và quan điểm “chúng ta luôn cầm dao đàng lưởi để cho đối phương tuốt dao máu chảy thành vòi “.

    Trong bài này, tôi không lạm bàn về những chi tiết hay tin tức tình báo mà vì là nhân chứng trong cảnh Ông Thiếu Tướng Loan bị thương, nên xin phép đóng góp chút ít để nói lên “SỰ THẬT AI BẮN NÁT CHÂN TƯỚNG LOAN VÀ Ở ĐÂU” và phần cuối xin có chút ưu tư về việc VNCH phải nắm dao đằng lưởi mà mãi cho đến nay chúng ta có thay đổi thế nắm dao được như thế nào ?

    Trong đợt tấn công của bọn Việt Cộng lần thứ 2, tôi nhớ vào một buổi sáng tháng 05/1968 có tin nhân viên công lực báo có 2 tên đặc công CS đang trú ẩn trong nhà một người dân ở Khu Kho đạn (gần Đài Phát Thanh Sàigòn). Có thể vào địa điểm bằng hai ngả:

    - Đường Đinh Tiên Hoàng
    - Đường dưới chân cầu Phan Thanh Giản hay được gọi tắt là cầu Xa Lộ.

    Hai bên đều có nhà nhưng cả hai bên không có những mái hiên hay địa thế để có thê tiến vào mà khỏi bị phát hiện. Chỉ ở phía hẽm dưới chân cầu dãy nhà sát bờ rạch Thị Nghè đối diện với Xóm Gà là có nhà, với vài mái hiên theo kiểu cánh gà được xây bảng gần mái nhà hơi to và nhỏ dần xuống đất. Sau khi được tin, chúng tôi gồm 6 thầy trò với carbine M1 và M2 tiến vào hẽm dưới chân cầu chưa kịp vào cuối hẽm .Khoảng gần 11 giớ sáng nhìn lại phía sau bổng thấy Ông Tướng Loan và 2 cận vệ cũng tiến vào. Chúng tôi, sau việc chào hỏi, có trình với Ông: “Xin Thiếu Tướng nép vào hiên nhà vì chưa xác định rõ ràng mục tiêu ở nơi nào.

    Nghe xong ông quay lại hai cận vệ bảo rằng “Commando tiến lên”. Tuy nói vậy Ông cũng nép vào hiên như chúng tôi. Thấy phía bên trái có một mảnh đất trống chưa xây cất, tất cả đều tiến vào. Khi nhìn lại phía sau có hai người ngoại quốc, một đen và một trắng cũng đến từ phía sau chúng tôi. Đến đây xin ghi rằng vì thời gian đả gần 50 năm, hơn nữa là bức ảnh Cố Thiếu Tướng Loan bị thương trong tay nhân chứng mới được đưa lên mạng từ hơn 20 năm nay thôi. Quý vị có thể hỏi và tự đoán hai người ngoại quốc đó là ai và có vũ khí không.

    Trong bãi đất trống có một đống xa cừ, loại cây tràm mà các nhà thầu xây cất thường dùng để làm lưng qui xây cột nhà khỏi bị lún.Lúc bấy giờ Ông Tướng, tôi, cùng một nhân viên Trưởng G2 (thường được gọi là anh Sáu) và một nhân viên nữa đều mặc dã chiến, lưng hưóng về cầu Phan Thanh Giản. Các người khác còn ở phía sau. Đang tìm cách leo qua đống xa cừ bổng nghe một tiếng bịch dưới chân tôi. Nhìn kỹ thấy anh nhân viên mặc dã chiến đã ngã sấp xuống trên lưng có một lổ thủng nhỏ máu đang chảy. Ông Trưởng G2 và tôi qùy xuống lật ngửa anh nhân viên thì thấy phía trước một lổ to hơn, máu chảy lênh láng .Tôi có nói là: “Anh Sáu lấy khăn cầm máu lại và kéo về phía sau. Lúc đó chỉ có Ông Tướng và tôi vừa qua khỏi đống xa cừ đến trước cửa đang đóng của một căn nhà kế bên thi bổng có một tiếng nổ như loại lựu đạn và ngay sau đó nghe tiếng Ông Tướng Loan đang qụy xuống bảo nhỏ với tôi: “Kéo fermeture áo giáp Moi xuống, Moi bị thương rồi”.

    Tôi ôm Ông Tướng vào lòng làm theo lời ông yêu cầu. Xin ghi rõ, trước mái hiên nhà, nơi Ông Tướng Loan bị thương có một cây không nhớ cây gì nhưng cao độ hơn 3 thước che một phần phía trước mái nhà. Như vậy địa điểm Tuớng Loan bị thương là ở trong hẽm thay vì bị thương ở lan-can cầu Phan Thanh Giản. Sau đó Ông Tướng Loan được đưa ra khỏi hẽm nhưng là cả một việc đáng buồn. Lúc tôi ra khỏi địa điểm thấy có Cố Tr/tá Luận (Giám Đốc Nha CSát Đô Thành) và Tr/Tá S. Biệt Đoàn Trưởng Biệt Đoàn 5 CSDC đang đứng ngay đầu hẽm trên đường Đinh Tiên Hoàng. Việc cấp cứu và tìm nơi chữa thương cho Tướng Loan có lẽ nhiều người đã biết, ông được tạm điểu dưỡng tại Bệnh viện Grall (Đồn Đất) và sau đó biết bao khó khăn ông mới được đưa đi điều trị tại một quốc gia khác với quốc gia gọi là đồng minh. Âu cũng may cho Ông Tướng Loan chỉ bị thương không thiệt hại tánh mạng, vì nếu không bị loại tại hẽm Dakao gần kho đạn thì Ông có thể bị tử thương tại Trường Tiểu Học Phước Kiến trong Chợ Lớn sau đó vài ngày.

    Chắc mọi người còn nhớ một trái hoả tiển đã giết chết toàn Bộ Tham Mưu Cảnh Sát và Quân Đội trong đó có Cố Đại Tá Văn Văn Của (Đô Trưởng Sài Gòn-Chợ Lớn), Cố Tr/Tá Nguyển Văn Luận (Giám Đốc Nha CSQG/Đô Thành), CốTr/Tá Nguyển Ngọc Xinh (Cựu Trưởng Ty, CSQG/Quận Nhì), Cố Tr/Tá Nguyển Ngọc Trụ (Cựu Trưởng Ty CSQG/Quận 5). Thật lòng, sau khi thấy Tướng Loan bị thương mà không thấy có phản ứng hay điều tra chi để làm sáng tỏ sự việc. Anh nhân viên tử thương không lâu vì vết thương khá nặng theo tôi là đã chết thế mạng cho Ông Tướng một lần. Khi Bộ Tham Mưu Liên quân bị tử thương trong Chợ Lớn thì tôi càng thấy rỏ hơn đành im lặng và giữ mãi nỗi uất ức cho đến nay.

    Một cộng sự viên tử thương, một viên Tướng tài bị loại khỏi vòng chiến đấu không một lời xin lổi hay tiếc thương. Đến đây xin phép được nghiêm chỉnh chào một lần nửa Vị Huynh Trường anh hùng và chào xin lổi cộng sự viên đả tử thương, cám ơn các cộng sự viên cùng nhóm, không biết nay còn sống hay đã mất sau tháng 4/1975. Để rồi hơn thập niên qua nhận trên mạng hình ảnh bất ngờ này tôi vẩn im lặng vì không muốn nhắc lại nỗi đau của những vị đã xả thân cho tổ quốc. Nhưng vì thấy trên các diễn đàn vẫn còn nhiều người nhắc mãi hình ảnh đau buồn đó nên tôi xin phép được nói lên sự thật để mọi người hiểu được nỗi đau của “kẻ cầm dao đằng lưởi để đối phương tuốt dao máu chảy thành vòi” .

    Đúng vậy sau ngày Hiệp Định Genéve 20/07/1954, VNCH dưới thời Cố TT Ngô Đình Diệm vì từ chối phải chọn bạn mà chơi nên phải hy sinh oan uổng tánh mạng. Đến 1963 thì VNCH bị bắt buộc chọn bạn đồng minh chơi dao hầu bảo vệ Miền Nam tự do để rồi có ngày 30 tháng 4 mà mọi người đều gọi là ngày Quốc Hận. Người bạn tuốt dao không chỉ một người bị thương máu chảy mà cả nước, cả một dân tộc vốn có chí khí quật cường chẵng những bị hành động tuốt dao của người bạn đồng minh, mà còn của người anh em cùng máu đỏ da vàng từ phương Bắc dưới danh nghỉa Đảng Cộng Sản VN, nhất là từ người bạn sống cùng chế độ như Mặt Trận Dân Tộc GPMN và cả những thành phần thứ ba đã giúp họ tuốt dao thật nhanh gọn để từ hơn 40 năm qua vết thương vẩn chưa lành, chưa phai mờ vết thẹo. Vết thương của các Vị Tướng đã quyên sinh không chịu đầu hàng quân giặc, cả triệu Quân Cán Chính phải bị đòn thù với mỹ từ “Học tập cải tạo”. Vết thương không dừng ở bao nhiêu người đó, còn có trên 500 ngàn người bỏ thây trên biển cả hay trong rừng thiêng nước độc.

    Việc cầm dao đằng lưởi của chúng ta là ở thế bị bắt buộc, chẳng đặng đừng. Vậy Đảng CSVN có biết và hiểu rằng hiện nay đang cầm dao đằng lưởi không? Hậu quả đầu tiên là sau chiến thắng Điện Biên Phủ do Tàu và Nga cầm dao đằng cán nên HCM và Phạm văn Đồng mới ký Công Hàm 1958 xác nhận Hoàng Trường Sa là của Tàu Cộng. Con dao không chỉ làm tay chảy máu mà dao của quan thầy TC đang đâm thủng ruột không chịu rút ra cứ ngoáy dần ngoáy dần không tha mạng dù ĐCSVN đang khấu đầu quỳ gối lạy xin tha mạng nhưng có được đâu. Cụ thể là nhất động nhật tỉnh từ Bộ Chính Trị Trung Ương ĐCSVN và các Tướng tá đều phục tùng Hán triều, phải ký kết Mật Ước Thành Đô, phải buộc dân tiêu thụ các hàng hoá bị tấy chay, buộc dân sống trong cảnh ô nhục. Đau hơn nữa là khi dân tộc muốn phụ lực ĐCSVN rút dao thì CS chẳng những phải biết ơn dân mà trái lại bắt bớ dân đánh đập, bỏ tù bằng những luật rừng.

    Dân biểu tình chống lại sự xâm lấn đất biển, và mới nhất là vụ án Công ty Formosa làm ô nhiểm môi trường, có thể là hành động “Rửa mặt cho ĐCSVN”. Người dân thay vì được yểm trợ ghi ân, ĐCSVN lại cho đám du thủ du thực đánh đập tàn nhẫn hầu làm vừa lòng kẻ cầm dao. Việc mà một ông Madze VN xưng danh là Thủ Tướng lại hổ hỡi chấp nhận cái khom lưng của hai ba anh chệt và 500 triệu đô để từ nay dân VN sẻ chết dần chết mòn vì nạn ô nhiểm trầm trọng kéo dài thêm hơn nửa thế kỷ.

    Đến nay việc ĐCSVN chấp nhận hai tay để lưởi dao tha hồ giết chóc dân thì đó là hậu quả của kẻ tự chọn cách chơi dao đằng lưởi. Đau lòng là hiện nay có khá nhiều doanh nhân, ca nhạc sỉ cũng như một số cá nhân khác, vì chút danh lợi riêng, vì chút vui thú phù du với chùm khế ngọt, mà quên đi vết thương sau khi thoát được cảnh ngục tù CS nối giáo cho vòi bọ lên ngôi, tự mãn với danh xưng “Khúc ruột ngàn dậm”. Những việc quay đầu làm ngơ trước cảnh đau khỗ của dân trong nước có thể xem như hành động phụ cầm dao giặc giết hại đồng bào mình.

    Do đó, quan trọng hiện nay là làm thế nào để rút lưởi dao mà không bị thương trí mạng. Cộng đồng người Việt tỵ nạn hải ngoại vẩn còn một số nuôi hy vọng nơi người bạn đồng minh để rút con dao nghiệt ngã đó, nhưng theo thiển ý, Đồng minh chỉ có thể băng bó vết thương của chúng ta khi chúng ta tự giải quyết gông cùm CS mà thôi. Hết rồi, thật sự hết rồi cảnh người bạn đồng minh chịu đưa vài trăm ngàn quân qua VN để rồi phải hy sinh một lần nữa hơn vài chục ngàn nhân mạng. Như vậy người sẻ rút được con dao hẳn ra, chỉ là Toàn dân quân trong nước với phương thức duy nhất là cùng đứng lên chấp nhận đau một lần cuối để còn sống sót mải về sau: TOÀN DÂN CÙNG ĐỨNG LÊN DẸP HẲN CHẾ ĐỘ CSVN GIẢI PHÓNG ĐẤT NƯỚC, vì ĐCSVN đến nay không còn đủ sức để rút được con dao của quan thầy Tàu đã đâm quá sâu. Chưa kể những lưởi dao của đồng chí anh em trong đảng tranh giành nhau vì tham vọng, quyền lực, tiền tài ....

    Chỉ có Toàn dân trong nước tự quyết định vận mệnh của mình. Đã có 2 bước đầu tiên của 18.000 tín đồ Công Giáo xuống đường thành công ngày 26 tháng 9/2016 vừa qua tại Hà Tỉnh và ngày 03/10/2016 tại Sàigòn làm cho cảnh sát cơ động, công an vứt áo bỏ chạy là thời điểm đã đến để khắp nơi trong nước cùng đứng lên rút lưởi dao trí mạng đó. Xin đừng nghĩ theo lời nói của vài cá nhân là đến nay không còn CS nửa. Xin nhớ chỉ là CS cha với học lực lớp 3 trường làng mà đã gian ác nhờ tay giặc giết chết biết bao triệu đồng bào, nói gì đến CS con tiếp theo CS cháu có học lực từ nước ngoài sẻ gian ác thông minh hơn và đất nước sẻ chẳng những sẽ bị đô hộ 1 ngàn năm mà trở thành chệt hoàn toàn.

    Tại Hải ngoại chỉ là hậu phương vững chắc của toàn dân mà thôi nhưng muốn được là hậu thuẩn, thật lòng cuối đầu cầu xin hải ngoại vui lòng chịu bỏ hết những tỵ hiềm cá nhân, không bưới móc đấu đá lẫn nhau, không vì chút tiền mà trở thành kẻ nô bút của CS hay VGCS. Hiện hải ngoại củng bị dao đâm tuy không trí mạng nhưng rất đau khi bị VC xem như con bò bị vắt sửa, hàng năm vì thương gia đình còn kẹt lại phải chuyển hàng tỷ đô, chưa kể số người Việt được gọi là xuất khẩu lao động, nguồn lợi không nhỏ của ĐCSVN. Biết bị vắt sửa nhưng không thể nào khác hơn được.

    Rồi đây ĐCSVN đang lập mưu móc túi hải ngoại qua kế hoạch tu sửa Nhà Thờ Đức Bà Sàigòn. Chắc nhiều người còn nhớ cách nay khoảng 2 năm có điện thư tô son Nhà Thờ Đức Bà là tài sản văn hoá của VN và Unesco, rồi kế tiếp có điện thư kèm theo ảnh nhà thờ bị kẻ lạ vẻ bậy làm dơ bẩn tường . Nay CS lại báo là Nhà Thờ sắp đổ nát, và hù doạ nếu không trùng tu thì CS sẽ phá hủy để lập công viên xây tường HCM. Đảng CS biết là tín đồ công giáo và hải ngoại không bao giờ chấp nhận nhà thờ bị phá bỏ nên lên kế hoạch moi tiền “Khúc ruột ngàn dậm”...

    Đó là hậu quả của người bị cầm dao đằng lưởi của cả hai phía VNCH và ĐCSVN. Hải ngoại luôn sẳn sàng yểm trợ cho toàn dân trong nước tự quyết định rút hẵn con dao của ĐCSVN và mã tấu của Tàu cộng và mong rằng mấy ông Tiến sỉ XHCN cũng phải thức tỉnh đừng hy vọng là đao hay búa tạ của quan thầy sẻ tha mạng khi toàn dân thật sự bất chấp hiểm nguy cùng đứng lên dẹp tan xiềng xích. Có thể đến nay hêt rồi cảnh đu dây thân Mỷ và thân Tàu vì tình hình đả thay đổi vì không ai cho mà không có điều kiện. Một lần nửa xin ghi nhớ: "Chỉ có Toàn Dân đứng lên lấy lại quyền cầm vận mệnh quốc gia mới mong thoát cảnh kẻ thù tuốt dao đổ máu” .

    Trước khi hết lời, tôi xin quỳ nguyện cầu xin Chúa, Phật đã bỏ quên dân và đất nước Việt Nam từ bao năm, xin giúp dân VN sớm thoát được cảnh “Cầm dao đằng lưởi”, tránh được cảnh máu đổ thịt rơi vì kẻ ác đã gây quá nhiều tội khó quên và khó tha.


    NGUYỄN VĂN ĐÁN
    (Bộ Chỉ Huy Thủ Đô)

    https://www.canhsatquocgia.org/p127a...n2bxle26ruZhyc

    Leave a comment:


  • BachMa
    replied
    May Mà Có Em..

    May Mà Có Em..
    Phạm Thị Kim Dung



    Trung Úy Lữ Quốc Hùng (đứng bên phải). Đây là tấm hình kỷ niệm chụp ở Quảng Trị, Việt Nam.
    Đã chụp chung với hai vị Cố Vấn Mỹ, và Ông xếp Thiếu Tá QLVNCH (đứng cạnh ông Cố Vấn Mỹ).
    Hình chụp lúc mới ra trường, đeo lon Chuẩn Uý QLVNCH.

    Tác giả lần đầu dự Viết Về Nước Mỹ năm 2017. Bà sinh năm 1951 tại miền Bắc VN, di cư vào Nam 1954, là thư ký hành chánh sở Mỹ Defense Attaché Office (DAO) cho tới ngày 29 tháng Tư 1975. Vượt biển và định cư tại Mỹ năm 1980, làm thư ký văn phòng chính ngạch tại City of San Jose từ 1988-2006. Về hưu vào tuổi 55, hiện ở nhà chăm nom các cháu nội ngoại. Tác giả nhận giải Đặc Biệt Viết Về Nước Mỹ năm 2018. Sau đây, thêm một bài viết mới của bà.

    *****

    Tôi vào quân ngũ Việt Nam Cộng Hoà năm 1966, theo học trường Sĩ Quan Thủ Đức, khoá 24. Khi ra trường, tôi đã được bổ nhiệm theo ngành Công Binh Kiến Tạo, vì bên kiến tạo cần thêm một Tiểu Đoàn để làm hàng rào điện tử McNamara bên đây bờ sông Bến Hải, thuộc tỉnh Quảng Trị, để ngăn chận nẻo đường mà cộng sản Bắc Việt xâm nhập vào Miền Nam Việt Nam.

    Thân chinh ông Bộ Trưởng, Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ là ông Robert McNamara đã đến Miền Nam Việt Nam, để trực tiếp chỉ huy xây dựng công trường. Ông làm Bộ Trưởng dưới thời hai vị Tổng Thống Hoa Kỳ: John F. Kennedy 35th U.S. President, from January 1961 until his assassination in November 1963 and Lyndon B. Johnson 36th U.S. President, from 1963 to 1969 (John F. Kennedy là Tổng Thống thứ 35 của Hoa Kỳ, từ tháng 01 năm 1961 cho đến khi ông bị ám sát vào tháng 11 năm 1963, và Lyndon B. Johnson là Tổng Thống thứ 36 của Hoa Kỳ, từ năm 1963 cho đến năm 1969).

    Ban đêm cộng quân thường xuyên pháo kích vào doanh trại, nên tính mạng của tôi và những đồng đội tựa như chỉ mành treo chuông. Nhưng may mắn thay, sau những năm đóng quân ở đây, tôi vẫn còn sống sót. Sau đó tôi được thăng chức Trung Uý, và được chuyển nhiệm về Sài Gòn, làm việc tại Đại Đội Địa Hình, Quận Gò Vấp (Đại Đội Địa Hình trực thuộc Cục Công Binh, toạ lạc ở trên đường Nguyễn Tri Phương/Trần Quốc Toản, Chợ Lớn. Đối diện với Trường Quân Y của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà).

    Với những bệnh của tôi như: Cao đường, cao mỡ và cao máu, lại còn thêm bệnh hen suyễn và thận hư phải lọc thận mỗi đêm nữa! Nếu không được phái đoàn Mỹ cứu xét lại hồ sơ, và cho gia đình tôi định cư ở Mỹ, được hưởng phúc lợi y tế văn minh bậc nhất thế giới, thì tôi đã không còn có cơ hội sống sót cho tới ngày hôm nay. Chúng tôi xin chân thành tri ân lòng nhân ái và sự quảng đại của nước Mỹ đã cho gia đình chúng tôi được sống trong một đất nước Tự Do, giàu mạnh và đầy tình người.

    Đã mấy năm nay, từ ngày tôi bị bệnh đau thận, nên người hay mệt và yếu hơn, lại thêm đi đứng khó khăn, phải dùng xe lăn hay xe đẩy, thì vợ tôi phải cơm bưng nước rót, lo lắng và ân cần chăm sóc tôi từng ly, từng tý, với tràn đầy tình nghĩa yêu thương. Nhiều khi tôi thấy em vất vả với tôi sớm tối, đổ bô tiểu tiện cho tôi mỗi ngày, mà không hề than thở buồn phiền gì cả. Tôi thấy thương em quá đi thôi! Tôi thường cầm tay em và nói “MAY MÀ CÓ EM....thương yêu, chia sẻ, chăm sóc cho anh, trong những ngày tháng yếu đau cuối đời.

    Cám ơn em, người bạn đời đã đi bên cạnh anh, chia sẻ những năm tháng nhọc nhằn vui buồn, trong suốt bốn mươi tám năm trọn vẹn nghĩa thuỷ chung. Nếu có kiếp sau, tôi ước muốn được gặp lại em, để đền đáp ân tình sâu nặng của em đã cho tôi trong đời này.

    Hôm thứ ba vừa qua, vợ tôi chở tôi đi Bác Sĩ, vì tôi có cái hẹn với Bác Sĩ Phillip Tse chuyên khoa về thận vào lúc 10:30 sáng, ngày 28 tháng 1, nhằm ngày mùng 4 Tết năm Canh Tý. Cách đây bốn năm, khi thận của tôi còn hoạt động 26%, thì cứ ba tháng một lần, tôi phải đến phòng mạch Bác Sĩ để theo dõi căn bệnh. Nhưng khoảng hai năm gần đây, thận của tôi chỉ còn hoạt động 15%, thì đây là giai đoạn phải lọc thận để duy trì sự sống còn.

    Đã sáu năm trôi qua, chưa có ngày nào phòng mạch vắng người như mùng bốn Tết hôm nay. Có thể vì là ngày Tết đầu năm, nên bệnh nhân kiêng cữ, không dám xin hẹn.

    Tôi ngồi ngoài phòng khách, chờ khoảng 5 phút, thì cô Y Tá gọi tôi vào cân, đứng lên bàn cân thì tôi nặng 80 ký, có lẽ sáu năm nay làm bạn với cái giường, không có vận động được, nên tôi lên ký. Khi đo áp huyết của tôi thì 112/90, đó là con số quá lý tưởng cho người bị bệnh áp huyết cao. Chắc hẳn là sáng hôm nay tôi mới uống thuốc hạ máu, nên mới được con số tốt như vậy.

    Rồi cô Y Tá bảo tôi chờ thêm khoảng 5 phút nữa, thì Bác Sĩ vừa bước vào phòng khám. Ông có gương mặt phúc hậu luôn nở nụ cười rất thân thiện. Ông học biết vài câu tiếng Việt thông thường, để hỏi thăm bệnh nhân người Việt Nam, vì phu nhân xinh đẹp của ông là người Việt Nam, quê quán của bà ở Cần thơ.

    Ông lên tiếng Chúc Mừng Năm Mới tôi bằng tiếng Việt thật rõ ràng.

    -Anh Hùng có khoẻ không? Hôm qua tôi nghĩ đến anh.

    Vì lúc này tôi phản ứng hơi chậm hơn mọi khi, nghe thì không được rõ lắm, nên đi đâu tôi cũng để vợ tôi trả lời dùm.

    -Thưa, như vậy là Bác Sĩ nhớ tất cả những tên bệnh nhân?

    -Ông bảo “Tôi nhớ tên, cả hình dáng và từng nét mặt bệnh nhân của mình!”

    Ông chia sẻ với tôi là ông rất vui, khi đã quyết định chọn ngành Bác Sĩ chuyên khoa về thận, bởi hầu hết bệnh nhân của ông không thể chết vì thận hư, dù không có thận để thay thế. Rồi ông bắt đầu nghe phổi cho tôi, khi liếc nhìn thấy tay tôi bị sưng đỏ vì bệnh thống phong (gout), ông dặn dò tôi phải uống thuốc thống phong (Mitigare 0.6mg) 8 giờ đồng hồ một viên, thay vì tôi đang uống mỗi ngày một viên. Ông còn căn dặn, không nên ăn nhiều cơm và bún, vì nó rất nhiều đường, và cũng không nên uống các loại nước ngọt.

    Nhân cơ hội này, vợ tôi cũng muốn nêu ra để “kể tội” là tôi bị bệnh tiểu đường, một ngày phải chích tới bốn lần, mà lại thích ăn ngọt. Có ý hỏi Bác Sĩ xem có thể dùng đường hoá học để thay thế cho đường, được không? Ông khuyên tôi là không nên dùng loại đường hoá học, nó không có lợi cho sức khoẻ; Loại đường này, nó ngọt hơn đường bình thường tới 300 lần.

    Vào tháng 10 năm 2017, tôi đi khám bệnh, khi được biết kết quả thử nghiệm thận của tôi chỉ còn hoạt động 15%, thì Bác Sĩ đã cho biết tình trạng của tôi phải bắt đầu lọc thận. Để duy trì sự sống, bệnh nhân phải lựa chọn giữa lọc máu (Home Hemodialysis HHD) và lọc nước Dextrose (Peritoneal Dialysis PD). Suy nghĩ xem muốn làm ở nhà hay đến Center. Tôi xin Bác Sĩ cho lời khuyên, nên chọn phương pháp nào cho dễ dàng, mà sự lọc thận có kết quả hữu hiệu hơn nhất.

    Bác Sĩ khuyên tôi nên lọc nước (Peritoneal Dialysis) và lọc ở nhà, thì cần phải có người chăm sóc. Bởi vì, lọc thận ở nhà sẽ lọc được 7 ngày 1 tuần, thì chất độc được thải ra hằng ngày. Muốn đi đến nơi trung tâm lọc thận thì 1 tuần, chỉ có 4 lần hay 3 lần tùy theo, nhưng phải tuỳ thuộc vào giờ giấc của trung tâm ấn định. Khi tôi đã quyết định xin lọc nước, thì Bác Sĩ gởi tôi đi đến Advanced Surgical Asociates, để mổ ngay lỗ rốn, để đặt một cái ống mềm vào, và có ống đưa ra ngoài bụng; Nó được gọi là Catheter.

    Nếu muốn chọn lọc thận ở tại nhà, thì phải có người nhà đến trung tâm, học cách lọc thận. Thời gian học và thực tập khoảng một tháng rưỡi, sau khi đã biết làm đúng phương pháp để tránh nhiễm trùng cho người bệnh, trung tâm đó sẽ cấp cho người đến học một giấy chứng nhận. Sau đó, nơi trung tâm sẽ gởi một người Y Tá đến coi phòng ở tại nhà của người lọc thận, để kiểm xét xem phòng của người bệnh có đủ tiêu chuẩn vệ sinh không. Và họ chờ để xem lần lọc thận đầu tiên, khi ấy thì chưa có máy Cycler, nên phải lọc thận bằng tay (Manual), mỗi ngày phải lọc bốn lần. Cứ cho nước lọc thận vào Catheter lòng bụng (Exchange), rồi chờ bốn giờ sau cho thải ra (Drain).

    Giai đoạn này rất khó khăn cho người bệnh, và người chăm bệnh, vì cứ lo tháo ra (Disconnect) rồi lại nối vào (Connect). Phải rất cẩn thận và làm đúng phương pháp đã được chỉ dẫn.

    Hai tháng sau đó thì được lọc bằng máy, cả hai chúng tôi đều phải đến trung tâm để học cách thức sử dụng máy. Sau khi thực tập làm vài lần, thấy đã vững chắc, trung tâm đã cho đem máy về để lọc thận ở tại nhà (Peritoneal Dialysis PD). Hiện nay, mỗi đêm khoảng 7:30 tối, vợ tôi bắt đầu lọc thận cho tôi bằng máy suốt đêm, cho đến 6:00 giờ sáng hôm sau, mới tháo máy ra, nên rất thuận tiện, nhưng phải tuân thủ theo quy tắc:

    *Đo huyết áp.

    *Rửa tay là vấn đề rất quan trọng để tránh nhiễm trùng, phải rửa kỹ xoa hai bàn tay vào nhau 1 phút.

    *Mở máy lọc thận lên.

    *Xem xét bịch dung dịch: Ngày, tháng và coi lại nước có trong không?

    *Gắn bộ dây vào máy.

    *Sát trùng 1 phút đầu dây ở ổ bụng bệnh nhân rồi gắn vào dây ở máy.

    Mỗi ngày đều làm những động tác như nhau, nên làm từ từ, không phải lo sợ như những lần đầu. Điều cần thiết là phải rửa tay, đeo mặt nạ y tế che miệng lại (mask), và bao tay là những điều cần thiết phải làm để tránh nhiễm trùng. Khi nhà có người lọc thận, không được nuôi thú cưng như chó mèo ở trong phòng và cũng không cho trẻ nhỏ vào phòng. Phải nhớ tắt quạt máy, máy lạnh, và lò sưởi, vì sức gió đẩy ra sẽ thổi cho vi trùng bay. Khi bắt đầu lọc thận cho người bệnh, cần phải đóng cửa sổ và cửa phòng lại, để tránh người ra vào mà không đeo mặt nạ y tế che miệng, và phòng ngừa khi người nhà đang mở dây ở ổ bụng của bệnh nhân ra (Catheter) để gắn vào máy lọc.

    Tất cả những phương pháp để giữ gìn cho người bệnh lọc thận không bị nhiễm trùng, ở nơi trung tâm Davita đều chỉ dậy rõ ràng, và còn thường xuyên nhắc nhở. Bệnh nhân lọc thận, mỗi hai tuần phải đến trung tâm một lần để theo dõi thử máu và chích thêm những chất thuốc cần thiết. Bởi vì, khi lọc thận bệnh nhân đã bị thải ra ngoài nhiều protein. Thông thường tôi hay bị chích thêm chất sắt (Iron), và mỗi tháng tôi đều phải đến gặp Bác Sĩ chuyên môn điều trị về thận. Tôi hiểu rằng, nếu một ngày nào đó, người tôi mệt, mà muốn ngưng lọc thận, thì tôi sẽ phải từ giả những người tôi quý yêu nhất trên trần gian này, để thanh thản ra đi nhẹ nhàng.

    Sau hơn hai năm lọc thận để duy trì sự sống còn, tôi luôn biết ơn những vị Bác Sĩ và Y Tá như những thiên thần áo trắng đã chăm sóc sức khoẻ cho tôi thường xuyên theo định kỳ. Những vị ân nhân y tế này đã cho tôi niềm hy vọng rất lớn lao vào những năm tháng cuối đời.

    Tưởng rằng đã tạm yên thân! Nhưng cuối tháng 2 năm 2020 vừa qua, đại dịch Coronavirus xuất phát từ Wuhan, ngày càng nhiều ca nhiễm bệnh lây lan từ người qua người, cho nên Bác Sĩ của tôi đã cho biết là phải cẩn thận, không nên đi đến những nơi đông người. Bởi vì, người đang có nhiều thứ bệnh như tôi, nếu bị Covid-19 xâm nhập vào cơ thể, nguy cơ tử vong rất cao, chắc chắn sẽ khó qua khỏi. Trong lúc này, không ai đeo mặt nạ y tế che miệng (mask), kể cả Bác Sĩ và Y Tá. Ở Mỹ từ trước cho tới bây giờ, chỉ có người nào bị bệnh ho cảm tự động đeo mask, để tránh sự lây lan cho người khác.

    Hôm nay ngày 28 tháng 3/2020, tôi trở lại phòng mạch tái khám định kỳ, thấy trong phòng ngồi đợi chỉ có một người bệnh nữa và tôi, trong lúc này đã có sắc lệnh của chính phủ ban hành, là mọi người phải giữ khoảng cách an toàn Social Distancing, có lẽ vì vậy mà Y Tá của phòng mạch đã lấy hẹn cho các bệnh nhân đến khám bệnh cách xa giờ nhau, không như lúc trước, bệnh nhân ngồi đầy trong phòng đợi. Từ bệnh nhân và Y Tá, ai cũng đeo mask, vì dịch bệnh Covid-19 đã đến từ Vũ Hán đang lây lan rất nhanh, gây chết chóc thê thảm cho nước Mỹ, Ý Đại Lợi, Anh, Pháp, Tây Ban Nha, và những quốc gia trên khắp thế giới.

    Mọi người chân thành khẩn cầu, xin ơn trên phù hộ và gìn giữ những vị Bác Sĩ, Y Tá và những nhân viên làm việc nơi tuyến đầu đang khổ công chăm sóc và giúp đỡ cho những người bệnh nhân đã bị nhiễm Covid-19, nó đã đến từ Vũ Hán, gây nguy hiểm lây lan khắp mọi nơi.

    Trước khi vào phòng trong, vợ tôi và tôi đều được hỏi xem có bị ho và nóng sốt không? Rồi cô Y Tá đo nhiệt độ cho cả hai người chúng tôi. Tôi không bị nóng sốt, nhiệt độ của tôi chỉ có 95 độ F. Đến khi chúng tôi được vào phòng khám bệnh, thì Bác Sĩ đã bảo Y Tá phải đo lại nhiệt độ cho tôi, vì nếu nhiệt độ mà thấp quá, là tôi bị bệnh thiếu máu Anemia, nhưng khi đo lại thì nhiệt độ là 97.2 độ F.

    Sau một tháng gặp lại Bác Sĩ, tôi thấy ông có vẻ hơi ốm hơn một chút, sắc diện ông không được vui vẻ và phấn khởi như mọi lần gặp trước. Hôm ấy, Bác Sĩ đã phải đeo mặt nạ y tế che miệng mask N95. Trong lúc ông khám bệnh cho tôi, thì ông đã chia sẻ với tôi là, có một bệnh nhân lọc thận của ông đã bị nhiễm Covid-19 thử nghiệm có kết quả dương tính!! Người bệnh ấy đang nằm trong phòng hồi sức Intensive Care Unit (ICU) ở bệnh viện. Hy vọng bệnh nhân này sẽ được qua khỏi, hiện nay ở miền Bắc California, San Jose, bệnh viện còn đủ Bác Sĩ, Y Tá và giường bệnh để chăm sóc bệnh nhân nhiễm bệnh Covid-19.

    Bác Sĩ đã ân cần dặn dò tôi thật kỹ lưỡng, là tôi phải tuyệt đối cách ly với mọi người, và cả gia đình con cháu nữa. Tôi thật xúc động vô ngần, vì Bác Sĩ luôn lo lắng săn sóc đến sự an nguy cho sức khoẻ của tôi. Tôi cho ông biết là tôi đang ở nhà riêng có hai người, và tôi đã hết mực tuân thủ lệnh cách ly Shelter-in-Place đã được ban hành từ ngày 16 tháng 3 cho đến nay, để ngăn ngừa dịch bệnh Convid-19 bớt lây lan. Tôi không hề tiếp xúc với ai. Tôi chỉ cần đến phòng mạch để gặp Bác Sĩ khám bệnh cho tôi, mỗi tháng một lần. Tôi cũng phải đến trung tâm lọc thận Davita mỗi tháng hai lần, để khám bệnh và chích thuốc cần thiết cho sự lọc thận có kết quả tốt thôi.

    Tôi cũng kể cho Bác Sĩ biết, là thường ngày tôi vẫn theo dõi tin tức xem đài Việt Today, CNN và Fox News. Kể từ khi có bệnh dịch lan tràn cho đến nay, ngày nào tôi cũng canh chờ đến khoảng 2:30 pm chiều mỗi ngày, để nghe Tổng Thống Donald J. Trump họp báo tại White House, trực tiếp trên đài truyền hình Fox News, về đại dịch Coronavirus. Với sự hiện diện của Phó Tổng Thống Mike Pence, Bác Sĩ Giám Đốc viện dịch Hoa Kỳ Anthony Fauci, Bác Sĩ Deborah Birx chuyên giảng giải về bệnh dịch Covid-19, và những phóng viên các đài truyền hình Hoa Kỳ.

    Tôi cũng coi Youtube của những vị Bác Sĩ người Mỹ gốc Việt chia sẻ, giảng giải về những loại bệnh thông thường và đặc biệt là Sars Cov-2. Bác Sĩ khuyên không nên lo lắng thái quá, sẽ làm giảm đi hệ miễn dịch. Như thế, cơ thể sẽ không có đủ kháng thể để chống lại dịch bệnh. Phải giữ khoảng cách an toàn, và đừng lấy tay rờ lên mặt, mũi, miệng và mắt. Hãy rửa tay, rửa tay thật kỹ ở những đầu ngón tay, và ở giữa cái khớp những ngón tay, trong khoảng 20 giây.

    Hôm nay là ngày 16 tháng 4 năm 2020, như vậy là đã được 31 ngày, từ lệnh của Thống Đốc tiểu bang California ban ra đã có hiệu lực vào ngày 17 tháng 3, năm 2020. Mọi người phải ở nhà không được đi đâu, chỉ được ra khỏi nhà vì các nhu cầu thiết yếu như: Đi Bác Sĩ, bệnh viện, mua thuốc men và đi chợ...v.v..

    Hôm qua là ngày 8 tháng 4/2020, Baxter Healthcare Corp vẫn đưa thuốc lọc thận đến nhà cho tôi cũng như mọi tháng. Nơi này họ cung cấp cho tôi 30 thùng nước Dextrose, mỗi thùng có 2 bọc và mỗi bọc chứa đựng 5,000 ML, 2 hộp găng tay, 1 hộp có 50 cái masks, và 2 chai sát trùng tay Hand Sanitizer. Nói tóm lại, tất cả dụng cụ để lọc thận, họ đều cung cấp miễn phí và đem giao đến tận nhà tôi, mỗi tháng một lần.

    Hầu Hết những tiệm bán thuốc tây đều mở cửa, từ thuốc chích chữa bệnh tiểu đường, cho đến những loại thuốc chữa bệnh khác đều có đầy đủ. Vợ tôi luôn đeo mặt nạ y tế che miệng lại, và mang bao tay để đi chợ Lucky gần nhà. Nhìn thấy tất cả nhân viên bán hàng và khách hàng vào tiệm mua đều có đeo mask và bao tay để phòng ngừa bệnh dịch. Siêu thị mở cửa một giờ đồng hồ sớm hơn giờ bình thường, từ 6:00 giờ sáng cho đến 8:00 giờ sáng, để giúp những người cao niên hay người bị bệnh đi đến chợ sớm hơn, có ít người để đỡ bị lây lan bệnh.

    Thành phố San Jose nơi tôi đang cư ngụ, ngoài Foods Bank ra thì có tám địa điểm Nhà Thờ Công Giáo có phát thực phẩm cho những gia đình nào cần, đến lãnh về để ăn. Khi người dân đến những nơi ngân hàng phát thực phẩm, chỉ cần lái xe đến nơi, mở cốp xe ra là những nhân viên tình nguyện sẽ bỏ những bao thực phẩm vào trong xe như: Trứng gà, sữa, rau, trái cây và nhiều loại thực phẩm khô để có đủ ăn trong một tuần.

    Nhiều khi tôi thấy vợ tôi băn khoăn lo lắng, sợ thiếu thực phẩm, như những năm tháng còn sống dưới chế độ XHCN cộng sản, thì tôi thường hay nhắc nhở là mình đang sống ở nước Mỹ mà em!? Đừng quên rằng, mình đang sống ở Mỹ, một đất nước giàu mạnh bậc nhất, mùa màng nông sản phong phú, xuất cảng ngũ cốc nhiều nhất trên thế giới. Và nhất là sinh mạng con người rất cao quý, và luôn được tôn trọng.

    *****

    Tôi xin kể lại câu chuyện tình của tôi đã gần nửa thế kỷ...
    Ngày xưa vào năm 1970, khi được chuyển nhiệm về làm việc ở vùng đất Gò Vấp khoảng hơn một năm, thì tôi tình cờ quen em vào một dịp gần Tết Nguyên Đán, khi tôi phải ở lại nhiệm sở ứng chiến tại Đại Đội Công Binh Địa Hình, nơi tôi đang phục vụ. Vì kể từ sau khi thảm cảnh Tết Mậu Thân xảy ra, nên Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã ban hành sắc lệnh cho toàn thể Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, phải phòng bị ứng chiến 24/24 (tức là ăn ngủ toàn thời gian tại nơi làm việc).

    Chiều hôm ấy, tôi đang chờ mua bánh mì ở cổng trại cư xá gia binh Nguyễn Phi Khanh, tại Quận Gò Vấp, thì bất ngờ có một cô khả ái xinh đẹp đi chiếc PC Honda trên đường đi làm về, cũng ghé vào xe bánh mì! Cô vui cười nói chuyện với cô hàng bán bánh mì, nên tôi được biết cô nàng này tên Kim, và là bạn học với cô Ngọc Muội, chủ xe bánh mì, và hai người ở cạnh nhà nhau, là gia đình của các quân nhân đang cư ngụ trong cư xá Nguyễn Phi Khanh của Đại Đội, nơi tôi làm việc. Lúc ấy lòng tôi dấy lên một niềm vui khó tả, và tôi cũng đã được góp vài lời thăm hỏi cô, để làm quen.

    Người ơi! Gặp gỡ mà làm chi, trăm năm biết có duyên gì hay không? Lỡ gặp rồi, làm tâm hồn tôi xao xuyến bâng khuâng, chập chờn không làm sao ngủ được, bởi hình bóng của em đã len vào tim tôi!! Hình như tôi đã kết em ngay từ giây phút đầu tiên gặp mặt. Sáng hôm sau vào nơi làm việc, tôi đã dọ hỏi, được biết anh Trung Sĩ Tiên là người làm cùng sở, lại quen thân với gia đình em, nên tôi đã nhờ cậy anh và vợ, là chị Hằng làm mai mối giúp cho tôi đến nhà thăm cha mẹ của em. Tôi cũng biết được ba của Kim là người quen cùng làm trong đơn vị với tôi, thường hay gặp nhau mỗi ngày, chứ đâu có xa lạ gì. Tôi xin phép được tới thăm viếng gia đình em thường xuyên cho thân hơn.

    Mỗi khi tôi đến nhà Kim chơi, tôi luôn được ba của em tiếp chuyện rất niềm nở, thì lòng tôi hân hoan và vui sướng vô cùng. Rồi một ngày kia, tôi tự tin là mình đã được lòng thương mến của bác trai, và cả gia đình em, nên tôi đã xin phép dẫn cha mẹ tới để xin cầu hôn. Ba của Kim đã chấp thuận lời cầu hôn của tôi, vì cùng làm chung sở, nên bác đã phần nào biết tánh tình tôi, và cảm thấy tôi có thể tin cậy được để gởi gấm cô con gái quý yêu thứ nhì của ông cho tôi. Lễ cưới của chúng tôi được cử hành tại nhà thờ Mân Côi Đa Minh, Gò Vấp, vào tháng 10 năm 1972.

    Một thời gian sau đó, tôi được đơn vị trưởng gởi đi học khoá Đại Đội Trưởng ở Tỉnh Bình Dương. Khi tốt nghiệp thì được chuyển đến Long Thành Quán Chim, để coi công trường khẩn hoang lập ấp, cho đến ngày ông Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, thì những anh em binh lính, mạnh ai nấy tản mác mỗi người một nẻo, còn tôi và những Sĩ Quan cùng Đại Đội đã chạy vào rừng sâu ẩn trốn được vài ngày thì đã bị việt cộng bắt trọn hết toán chúng tôi. Lúc ấy, mọi người hoảng sợ vô cùng, sợ rằng có thể sẽ bị họ thủ tiêu ngay trong rừng.

    Nhưng nhờ ơn trên thương ban, một điều thật may mắn cho chúng tôi, bởi những cán binh việt cộng đã bao vây bắt chúng tôi, toàn là những người miền Nam Việt Nam đã tập kết ra Bắc, nên nhóm Sĩ Quan chúng tôi chỉ bị họ giam giữ mười ngày, rồi họ thả cả nhóm ra và phát cho mỗi người một bộ quần áo bà ba đen để mặc vào, thay cho bộ quân phục đang mặc ở trong người, để tự đi ra quốc lộ đón xe mà về nhà.

    Sau ngày 30 tháng tư, năm 1975, số phận tôi cũng như tất cả các vị quân cán chính Việt Nam Cộng Hoà. Theo lệnh của những người đã xâm chiếm miền Nam Tự Do, tôi đã phải đến trình diện ở trường học Gò Vấp, và đã bị lùa đẩy vào trại tù tập trung cải tạo. Tôi vào tù mà chẳng hề có bản án, là bao lâu mới được thả ra? Tôi đi tù để lại vợ và hai đứa con thơ (cháu gái 2 tuổi và cháu trai mới được 8 tháng). Cũng may là vợ tôi còn việc đi làm tại bệnh viện Triều Châu ở Chợ Lớn, còn có đồng lương căn bản mà thay tôi nuôi con và bà nội của các cháu đang ở chung một nhà.

    Tất cả những Sĩ Quan của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, đều chịu chung một số phận trong những trại giam như tù khổ sai đói khổ. Chúng tôi tự trồng trọt rau, sắn (khoai mì) ăn để sống cho qua ngày; Nó được bón bằng phân và nước tiểu của chính những người tù. Mọi người phải lên rừng đốn cây dựng nhà để ở, và sau đó lại còn phải đốn cả cây để cho bộ đội họ bán lấy tiền bỏ túi nữa!

    Cũng hên là tôi không bị đưa ra miền Bắc lạnh lẽo. Tôi đã bị đầy ải đến Bù Đăng, Bù Đốp thuộc Sông Bé Phước Long, hộp thơ L4 T4. Vì ăn uống thiếu thốn, lại bị bắt ép làm việc lao động quá sức, nên tôi bị bệnh phù thủng, vì suy dinh dưỡng. Trong thời gian bị tù đày nơi rừng sâu nước độc, nên tôi đã bị bệnh sốt rét rừng cấp tính. Cũng may nhờ có anh Trung Uý Đặng Văn Tâm, là người bạn tù cải tạo, đã viết thư nhờ người dân đang ở vùng kinh tế mới gần đó giúp đỡ. Vì họ thương tù cải tạo lắm, nên đã làm ơn giúp chuyển tin ngay cho gia đình tôi biết, vợ tôi đã đem lương thực và thuốc Fansidar chuyên trị sốt rét rừng đến kịp thời. Nhờ vậy mà tôi đã thoát chết, trong đường tơ kẽ tóc.

    Ở trong trại tù tập trung được hai năm và mười một tháng, thì tôi có lệnh được thả về, và phải hồi hương ở Chợ Gạo Mỹ Tho, nơi đó có chú thứ Mười của tôi, người đã làm đơn bảo lãnh, nhưng hằng tuần tôi vẫn phải đến trình diện ở xã. Có nhiều đêm, tôi đang ngủ giựt mình vì nghe tiếng chó sủa, trong lòng hồi hộp, lo lắng không biết có phải cán bộ họ đến bắt mình đi không? Sự thật thì tôi luôn bị ám ảnh, vì trước năm 1975, người cô thứ chín của tôi đã bị chúng gõ cửa mời đi lúc nửa đêm và đã thủ tiêu mất biệt luôn, không có trở về nhà nữa.

    Đã có một lần tôi tìm đường đi vượt biên và đã bị bắt, nên tôi không dám quay trở lại Chợ Gạo (Vì vùng chợ gạo này đầy những cán bộ việt cộng ít học, xưa kia họ đã nằm vùng, nay thì họ lên nắm chính quyền) mà phải len lỏi để trở lại Sài Gòn, ở lén tạm trú với gia đình, để gần gũi mẹ già, vợ và hai con.

    Thật phúc đức cho tôi, vì tôi có được người vợ thuỷ chung và đảm đang. Em đã cho tôi niềm hy vọng tin yêu, để tôi có thể vượt qua những chông gai nghẽn lối, mà mong đợi ngày trở về đoàn tụ với gia đình. Và xúc động nhất là khi được trả tự do ra về, tôi vẫn còn có mái ấm để nương thân.

    Những năm sau đó, nhờ có tôi ở nhà phụ giúp, nên ngoài công việc làm Y Tá, vợ tôi còn có thời giờ rảnh để chạy mối buôn bán ngoài chợ trời kiếm thêm chút đỉnh tiền để lo cho gia đình. Phần thì cũng nhờ có em gái và chị của vợ tôi ở bên Mỹ gửi tiền về giúp đỡ, nên chúng tôi đã có thêm hai cháu nữa. Chúng tôi đã mất một cháu trai sanh năm 1974, trong lần vượt biển với cậu của cháu. Đó là sự mất mát, đau khổ suốt cuộc đời chúng tôi vô cùng hối tiếc, vì đã cho con đi để gặp phải sự chẳng lành.

    Vào khoảng năm 1980, chúng tôi nghe đài BBC, rồi truyền tai nhau là Chính Phủ Hoa Kỳ sẽ cho tất cả những người tù cải tạo và gia đình được đi định cư ở Mỹ. Tôi đã phải nhờ bạn bè giới thiệu tôi đến công an thành phố để chạy chọt cho có tên trong sổ thường trú ở tại nhà của tôi, để tôi có chứng từ nộp giấy tờ đi Mỹ theo diện Humanitarian Operation (HO). Gia đình tôi được xếp vào danh sách HO 5. Đã phải chờ đợi mấy năm trời, nhưng khi đến lượt mình, thì lại nhận được cái thư bị phái đoàn Hoa Kỳ từ chối, với lý do là tôi đi tù cải tạo, còn thiếu một tháng, mới đủ ba năm.

    “Còn nước, còn tát”. May mắn thay!! Vì tôi trân quý lắm, nên tiếc rẻ vẫn còn dám giữ lại có một tấm hình kỷ niệm duy nhất tôi chụp chung với hai vị cố vấn Mỹ và ông xếp Thiếu Tá, khi làm chung ở Quảng Trị, và cái bằng Y Tá, Certificate of Training Institute (CTI) USA Army, Mỹ đã cấp phát cho vợ tôi.

    Tôi đã đến sở ngoại vụ ở trên đường Nguyễn Du, để cậy nhờ cô Thư Ký trao dùm cho phái đoàn Mỹ phỏng vấn, “Buồn ngủ, gặp chiếu manh” tôi đã gặp được quý nhân giúp đỡ, cô ấy nói sẽ giúp đưa cho người Mỹ phong bì hồ sơ của chúng tôi xin được cứu xét lại. Thế rồi một năm sau đó, chắc hẳn nhờ tấm hình tôi chụp chung với hai vị cố vấn Mỹ, mà gia đình tôi đã được gọi đi phỏng vấn, và được đi định cư theo chung với HO 10. Chúng tôi rất vui mừng đã được định cư ở Mỹ vào tháng 2 năm 1992.

    Tôi chưa về lại Việt Nam, dù chỉ một lần. Chúng tôi xin nhận đất nước Hoa Kỳ Tự Do là Quê Hương thứ hai để sinh sống cho đến cuối đời, và chỉ muốn sống ở đây để quên đi những năm tháng tù đày còn in đậm nét đớn đau kinh hoàng, trên chính nơi quê cha đất tổ của tôi.

    *****

    Tháng Tư lại về, gợi nhớ ngày mất nước, nhớ chuyện tù đày khốn khổ năm xưa chợt ùa về trong ký ức của tôi!!

    Kể từ cuối tháng 2 năm 2020 cho đến nay, bệnh dịch Covid-19 từ Vũ Hán đang gieo rắc tang thương khắp toàn cầu. Thật buồn thay! Có lẽ đến ngày Quốc Hận 30 Tháng Tư năm nay, hẳn những đoàn thể Quốc Gia chống cộng, sẽ không được cùng nhau hội họp tề tựu để vinh danh những chiến sĩ anh hùng bất khuất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã hy sinh trọn vẹn cho Tổ Quốc dưới màu cờ vàng, và tưởng nhớ những người bạn đồng minh Hoa Kỳ đã vì đất nước Việt Nam mà hy sinh bao xương máu để bảo vệ tự do cho chúng tôi.

    Nhân đây tôi muốn xin trân trọng gởi lời cảm tạ ơn sâu, nghĩa nặng của những thân nhân, những bậc cha mẹ, và quý hiền thê của những người tù cải tạo Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. Vì tình quý yêu chúng tôi vô vàn, mà không quản ngại đường xa xôi, đã đi mất mấy ngày đường đi và đường về, mới đến nơi ngục tù giam giữ chúng tôi.

    Từ những trại tù tập trung ở miền Nam, ra tới miền Bắc, đã vất vả lặn lội qua những con suối, đồng sâu, đã đi bộ trong đêm khuya qua những nơi thanh vắng, đầy sự hiểm nguy bất trắc. Chịu khó đi hằng mấy chục cây số, băng qua những con đường chông gai gập ghềnh trong rừng sâu núi thẳm, mà chỉ được nhìn nhau, thăm gặp mặt con, anh em, và người chồng thương yêu của mình, được một hay hai giờ đồng hồ ngắn ngủi thôi.

    Chúng tôi thương và xót xa lắm, khi thoáng nhìn thấy trên đầu thì đội, trên vai những người thân yêu đã gồng gánh những đồng quà tấm bánh, và thuốc men để tiếp tế cho chúng tôi được tiếp tục sống kiếp người lây lất. Qua khỏi những cơn đau ốm, bị đói ăn khát uống dằn vặt trong thể xác kiệt lực hao mòn từng ngày một. Trong thời gian tù đày bị áp chế hành hạ dã man, tưởng chừng như đã bị bỏ thây nơi trại tù tập trung muôn đời.

    Tuy ở trong tù thiếu thốn đủ mọi thứ, nhưng chúng tôi sống bằng tình thương nhau như anh em một nhà. Mỗi khi người nào có gia đình đến thăm nuôi tiếp tế thuốc men, thực phẩm, thì chúng tôi luôn chia phần ra để mời nhau cùng ăn. Dẫu rằng, mỗi người chỉ được một miếng nhỏ xíu thôi, cũng cảm thấy ấm lòng khi được quây quần bên nhau.

    Nhìn những chùm bông hoa đua nở khoe sắc thắm rực rỡ, như báo hiệu một điều tốt đẹp đang xảy ra. Loài người sẽ có thuốc đặc trị để đẩy lùi cơn dịch bệnh, như lời Tổng Thống Donald J. Trump đã nói “We’re starting to see the light at the end of the tunnel“. Chúng ta đang bắt đầu thấy ánh sáng cuối đường hầm!!

    Xin ơn trên phù hộ cho nước Mỹ. Rồi nước Mỹ vẫn mãi mãi là một cường quốc giàu sang, nhân ái và tân tiến bậc nhất thế giới. Mọi người dân Mỹ sẽ được sống hạnh phúc và an bình như những ngày trước...

    Viết theo lời kể, và sự cho phép của người tù cải tạo Hát Ô 5.


    Phạm Thị Kim Dung

    https://vvnm.vietbao.com/p247397a247452/may-ma-co-em-

    Leave a comment:


  • BachMa
    replied
    Hồi Ức Tuần Lễ Cuối Cùng Ở Sài Gòn

    Hồi Ức Tuần Lễ Cuối Cùng Ở Sài Gòn
    (30/4/1975 kết thúc chiến tranh Việt Nam)

    Ngày 30 tháng Tư năm 1975, cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài 21 năm đã kết thúc, hai triệu ngưới Việt Nam ở cả hai miền Nam Bắc thiệt mạng, bên cạnh đó là sự hy sinh của 58 ngàn quân nhân Hoa Kỳ, đồng minh chính yếu của quân đội Việt Nam Cộng Hòa.


    Phi trường Tân Sơn Nhất ở Sài Gòn hôm 30-4-1975. AFP PHOTO

    Tháng 3/75 sau khi ra lệnh rút quân khỏi Pleiku Kontum, một quyết định dẫn tới sự sụp đổ hỗn loạn ở vùng cao nguyên trung phần và các tỉnh phía bắc VNCH, chạy dài từ Huế vào tới Phan Rang.

    Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức

    Ngày 21/4/1975 TT Nguyễn Văn Thiệu chịu áp lực từ nhiều phía và quyết định từ chức.

    Ông nói: "Thưa đồng bào anh chị em chiến sĩ cán bộ các cấp, tôi tuyên bố từ chức Tổng Thống và theo hiến pháp Phó Tổng Thống Trần Văn Hương sẽ đảm nhận chức Tổng Thống."

    Thưa đồng bào anh chị em chiến sĩ cán bộ các cấp, tôi tuyên bố từ chức Tổng Thống và theo hiến pháp Phó Tổng Thống Trần Văn Hương sẽ đảm nhận chức Tổng Thống.

    Khi nhà giáo Trần Văn Hương lên nắm giềng mối quốc gia, thì lúc đó 6 sư đoàn quân cộng sản Bắc Việt đang khép chặt vòng vây thủ đô Sài Gòn, nơi có 3 triệu người sinh sống.

    Nhận nhiệm vụ được 5 ngày, tới ngày 26/4 Ông Trần Văn Hương yêu cầu quốc hội tìm người thay thế mình, một người mà theo ông có đủ khả năng tìm giải pháp vãn hồi hoà bình hoà giải dân tộc.

    Quốc hội ra nghị quyết chỉ định Đại Tướng Dương Văn Minh vào chức vụ Tổng Thống.

    Chiều ngày 28/4/1975 Lễ Bàn Giao giữa hai ông Trần Văn Hương và Dương Văn Minh được tổ chức tại Dinh Độc Lập.

    Lời Tổng Thống Hương liên tục với tường thuật của phóng viên: “ …Làm thế nào cho dân được sống yên…làm thế nào cho máu đừng đổ thịt đừng rơi thì công của đại tướng đối với hậu thế sẽ lưu lại đời đời, dầu thế nào tôi thiết nghĩ đất nước này không bao giờ quên công lao đó của Đại Tướng….(vỗ tay)….(tường thuật)

    Sau khi nguyên Tổng Thống Trần Văn Hương đọc xong bài diễn văn trao nhiệm, chúng tôi nhận thấy một sĩ quan đã gỡ huy hiệu tổng thống hai con rồng bay xuống…và thay thế bằng một huy hiệu tổng thống mới…với hình một hoa mai năm cánh…

    Đây là phóng viên Hệ Thống Truyền Thanh Việt Nam, quí thính giả đang theo dõi trực tiếp truyền thanh lễ trao nhiệm chức tổng thống VNCH giữa ông Trần Văn Hương và cựu Đại Tướng Dương Văn Minh…

    Làm thế nào cho dân được sống yên…làm thế nào cho máu đừng đổ thịt đừng rơi thì công của đại tướng đối với hậu thế sẽ lưu lại đời đời, dầu thế nào tôi thiết nghĩ đất nước này không bao giờ quên công lao đó của Đại Tướng….


    Xe tăng quân đội miền Bắc tiến vào dinh Ðộc Lập trưa ngày 30-4-1975. AFP PHOTO. Photo: RFA

    Thưa quí thính giả vào lúc này bên ngoài dinh Dộc Lập chúng tôi nhận thấy trời đã bắt đầu mưa nhỏ và Sài Gòn đang trải qua một buổi chiều u ám như hoàn cảnh hiện tại của đất nước… ”

    Những lời quí thính giả vừa nghe là của phóng viên Nguyễn Mạnh Tiến thuộc Hệ Thống Truyền Thanh Việt Nam. Như một sự tình cờ, phóng viên này đang làm việc cho Đài Á Châu Tự Do. Anh chính là Nam Nguyên của Ban Việt Ngữ.

    Nam Nguyên: “Vâng ngày ấy tôi còn trẻ lắm 29 tuổi, bây giờ nghe lại hết sức xúc động. Không ngờ còn có người giữ được những đoạn băng đáng lẽ đã đi vào quên lãng.”

    Thưa quí thính giả cho đến 30 năm sau, vẫn chưa có lời giải đáp là tại sao Nam Việt Nam lại tan rã nhanh chóng như vậy. Tuy nhiên theo nhiều nhà phân tích thời cuộc, thì kể từ lúc Tổng Thống Thiệu từ chức ngày 21/4 và vội vã ra đi 2 ngày sau đó, sự kiện chế độ VNCH cáo chung chỉ còn là vấn đề thủ tục.

    Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng

    Đại Tướng Dương Văn Minh được xem là người thích hợp nhất để nhận trách nhiệm ra lệnh đầu hàng. Mời quí vị nghe lại tuyên bố của Tổng Thống Dương Văn Minh được phát đi trên Hệ Thống Truyền Thanh Quốc Gia vào lúc 10 giờ sáng ngày 30/4/1975:

    "Tôi tin tưởng sâu xa vào sự hoà giải giữa người Việt Nam để khỏi phí phạm xương máu người Việt Nam…vì lẽ đó tôi yêu cầu tất cả các anh em chiến sĩ VNCH hãy bình tĩnh ngưng nổ súng và ở đâu ở đó."

    Chúng tôi cũng yêu cầu anh em chiến sĩ chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam ngưng nổ súng, vì chúng tôi ở đây chờ gặp chính phủ CMLTCHMNVN để cùng nhau thảo luận lễ bàn giao chính quyền trong vòng trật tự…tránh sự đổ máu vô ích cho đồng bào
    …"

    Sau khi Đài Phát Thanh Saigon lập lại nhiều lần lệnh buông súng của Tổng thống Dương Văn Minh, cũng như nhật lệnh tương tự của Thiếu Tướng Nguyễn Hữu Hạnh, người được bổ nhiệm làm Phụ tá cho Tổng Tham Mưu Trưởng sau cùng là Trung Tướng Vĩnh Lộc. Quân đội đã thi hành lệnh giao nạp vũ khí cho những người chủ mới của đất nước.

    Xe tăng quân đội miền Bắc tiến vào dinh độc lập

    Tôi tin tưởng sâu xa vào sự hoà giải giữa người Việt Nam để khỏi phí phạm xương máu người Việt Nam…vì lẽ đó tôi yêu cầu tất cả các anh em chiến sĩ VNCH hãy bình tĩnh ngưng nổ súng và ở đâu ở đó.

    Xe Tăng Cộng Sản Bắc Việt tiến vào khuôn viên Dinh Độc Lập lúc 10g45 phút sáng ngày 30/4, đánh dấu sự cáo chung của chế độ VNCH. Một chế độ được xây dựng bởi những người không chấp nhận chủ nghĩa cộng sản. Chế độ ấy trải qua hai nền cộng hoà tồn tại được 21 năm.

    Cuộc chiến quốc cộng huynh đệ tương tàn làm thiệt mạng hơn hai triệu người Việt Nam ở cả hai miền Nam Bắc. Phía đồng minh của VNCH, 58 ngàn quân nhân Mỹ tử trận cùng hàng ngàn binh sĩ của các nước Nam Hàn, Thái Lan, Úc và Tân Tây Lan.

    Thưa quí thính giả, cũng là một tình cờ lịch sử, khi cờ Mặt Trận Giải Phóng đã tung bay trên Dinh Độc Lập, thì các đại diện chính trị của bên cộng sản chưa vào Sài Gòn để tiếp nhận chính quyền.

    Do vậy Đại tá Bùi Tín, một nhà báo quân đội BV đi theo cánh quân làm phóng sự, lúc đó đã được bộ đội uỷ quyền vào dinh gặp chính quyền Dương Văn Minh. Ông Bùi Tín hiện nay tỵ nạn chính trị ở Pháp. Từ Paris ông Bùi Tín kể lại giây phút lịch sử khi ông giáp mặt ông Dương Văn Minh:

    "Tôi là người đầu tiên tiếp xúc, ông Dương Văn Minh và tất cả đứng dậy…ông Minh nói là chúng tôi chờ quí vị tới từ sáng nay, đặng chuyển giao chính quyền… tôi có trả lời rằng là, tất cả chính quyền các ông không còn nữa qua cuộc tấn công của chúng tôi…cho nên không thể bàn giao cái gì đã không còn nữa…"

    Ðại Sứ Marin không muốn rời Sài Gòn

    Vào những thời khắc sau cùng của chế độ VNCH, chuyện gì xảy ra ở Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ? Câu hỏi này đã được chúng tôi đặt ra với ông Robert Funsett, người vào thời điểm đó đang là Người Phát Ngôn cho Bộ Ngoại Giao Mỹ. Ông Funsett kể lại với Ban Việt Ngữ chúng tôi như sau:

    Ðúng giờ này, tức là vào chiều ngày 29 tháng Tư năm 1975, giờ Washington, Sài Gòn bắt đầu sụp đổ. Từ Trung Tâm Ðiều Hành ở Bộ Ngoại Giao, ông Phụ Tá Ngoại Trưởng Phillip Habib và tôi nói chuyện lần cuối cùng với ông Ðại Sứ Graham Martin.

    Ðại Sứ Martin không muốn rời Việt Nam, vì ông ta muốn kéo dài thì giờ để có thể cứu thêm những người khác. Cuối cùng, chúng tôi phải chỉ thị bắt ông đại sứ phải rời nhiệm sở. Ông đại sứ Martin nói chuyện với chúng tôi và tôi còn nhớ là ông ta bảo là sẽ lên sân thượng của Tòa Ðại Sứ, dùng trực thăng để ra hạm đội, và chúng tôi nói lời từ giã với nhau.

    Không đầy một giờ đồng hồ sau đó, Ðại Sứ Martin gọi điện lại báo đã ra tới hạm đội bình yên.

    Người VN đã phải trả giá cho chiến thắng 30/4/75 bằng cả nỗi đau và nhiều sự mất mát. Nhiều gia đình người dân miền Nam theo lời ông Kiệt, rơi vào hoàn cảnh có ngừơi thân vừa ở phía bên này, vừa ở phiá bên kia. 30/4 khi nhắc lại, vẫn theo ông Kiệt có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn.

    Quan điểm của cựu Thủ Tướng Võ Văn Kiệt

    Ông Võ Văn Kiệt, cựu Thủ Tướng nhà nước CHXHCN Việt Nam, vào thời điểm tháng Tư năm 75 là người phụ trách thành uỷ Sài Gòn cùng với ông Mai Chí Thọ. Tháng Tư năm nay ông Võ Văn Kiệt khi trả lời báo chí nhà nước, đã nhận định về quyết định gọi là sáng suốt của ông Dương Văn Minh.

    Chúng tôi xin trích dẫn báo Quốc Tế, ông Võ Văn Kiệt cho rằng Ðại Tướng Dương Văn Minh nhậm chức ngày 28/4/1975, ngày mà một nhà quân sự như ông Minh có thể đoán được sự thất thủ của Sài Gòn.

    Theo ông Võ Văn Kiệt, giả dụ ông Minh để cho các tướng lãnh dưới quyền tử thủ thì quân Bắc Việt sẽ vẫn chiến thắng, nhưng Sài Gòn khó mà nguyên vẹn, chưa kể biết bao sinh mạng và tài sản của người dân nữa. Nhà cựu lãnh đạo của chính phủ Hà Nội nhấn mạnh rằng, không thể quên vai trò của Ðại Tướng Dương Văn Minh trong việc giữ cho Sài Gòn được nguyên vẹn.

    Thưa quí thính giả lần đầu tiên, một cựu lãnh đạo cộng sản nói rằng, người Việt Nam đã phải trả giá cho chiến thắng 30/4/75 bằng cả nỗi đau và nhiều sự mất mát. Nhiều gia đình người dân miền Nam theo lời ông Kiệt, rơi vào hoàn cảnh có ngừơi thân vừa ở phía bên này, vừa ở phiá bên kia. 30/4 khi nhắc lại, vẫn theo ông Kiệt có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn.

    Ông Kiệt cho rằng đó là một vết thương chung của dân tộc cần được giữ lành thay vì lại tiếp tục làm cho nó thêm rỉ máu. Cựu Thủ Tướng Võ Văn Kiệt còn nói là ông muốn lưu ý mọi người rằng, làm được một chiến thắng kỳ vỹ như 30/4/1975 mà say sưa, như tự mãn nguyện thì cũng đã từng phải trả giá. Theo ông thế giới đã đi rất xa, Việt Nam phải nhanh chân chứ đừng tự ru ngủ mình để rồi sẽ còn bị bỏ xa hơn nữa.



    https://www.rfa.org/vietnamese/Speci...007023241.html

    Leave a comment:


  • BachMa
    replied
    Gặp Ngày Hắc Đạo (Phần 2/2)

    Gặp Ngày Hắc Đạo..
    Diều Hâu NGUYÊN QUÂN
    (Phần 2/2)



    Hình minh họa

    Khi thấy tôi tới, 5 chiếc Slicks liền quay máy cất cánh. Tôi bay trước đến LZ để gặp Gun 2 của tôi đang bị ông Đặng giữ lại, bay orbit 1500 bộ quanh LZ như ông. Qu‎ý‎ vị cũng biết vùng nầy có rất nhiều phòng không, hai chiếc bay có nhau sẽ ‘ấm lòng chiến sĩ’ hơn. Bổng tôi nghe “Tàu số 2 bị bắn, tôi phải đáp khẩn cấp”. Chúa tôi ơi, chuyện gì nữa đây, tôi quẹo gắt trở lại thì thấy chiếc số 2 đang đáp nhanh xuống cái đồn phía dưới bụng rồi có một chiếc nữa đang đeo sát chiếc số 2, rồi tôi nghe “Coi chừng ground fired”, thì ra là tiếng của Ẩn (bay chiếc Lead), tôi còn cách họ cũng khoảng 3 miles.

    Khi đến đó, tôi cho bắn tối đa chung quanh cái đồn rồi bay xoắn ốc xuống thắp, súng trái vẫn tiếp tục tác xạ những điểm nghi ngờ ở gần đó như bụi rậm, cây rơm, chòi vịt, giàn bầu, xuồng ghe v.v.., cái tôi sợ nhất là vc phóng B-40 vào hai chiếc đang đậu ở dưới. Nhìn lên thì thấy 3 chiếc Slicks bay không ra cái đội hình gì cả, tôi phải nhắc họ: “Một là bay V3, hai là bay ‘trail’ (hàng một), tạm thời số 3 làm ‘lead’ dẫn 2 chiếc kia bay về Đồng Tâm”. Dưới đất, chiếc số 2 tắt máy, tôi thấy T/u Hóa.P bước xuống chỉ huy đám lính đang làm gì đó.

    Bây giờ thì tàu C&C và chiếc Gun 2 tới. Gun 2 hỏi tôi “Diều Hâu 1 có muốn 2 xuống thấp với 1 không?” Tôi trả lời “Diều Hâu 2 giữ cao độ 1000 bộ, bay vòng nhỏ chung quanh cái đồn nầy và cho minigun bắn xa xa một chút, phải để ‎ý chúng nó có thể pháo 61 hoặc 82 ly vào chỗ hai Slicks ở dưới”. Còn ông Đặng thì hỏi han Ẩn rất nhiều, nào là : “Có ai bị thương không? Sao mà ở dưới lâu thế?”. Tôi nghe Ẩn trả lời : “Trưởng phi cơ chiếc số 2 bị thương rất nặng, rất khó mang anh ra bởi vì cái tấm ‘armor blade’ móp méo khó đẩy về phía sau.

    Anh Cơ phi lại bị skid (Cặp càn chịu đựng thân phi cơ) đè lên bàn chân, đang nhờ mấy ông bộ binh đào đất chung quanh để rút chân anh ra”. Nhờ Ẩn nói tôi mới biết thêm, chớ thấy bên dưới thì tôi thấy rất rõ nhưng không nghe được tiếng nói thì giống như là xem ciné phim câm, chỉ đoán mò mà thôi. Tôi vẫn tiếp tục bay thật thấp quanh đồn, thỉnh thoảng thì cho tác xạ hù dọa cầm chừng, rồi tôi thấy một ông bộ binh bị thương đang đứng tựa lưng vào phía sau cánh cửa lớn của khoang hành khách, cánh cửa nầy luôn luôn được mở ra, đẩy hết về phía sau trong lúc bay hành quân, rồi vòng kế tiếp tôi quan sát kỹ ông nầy, thì ra ông bị vật gì phải thật sắc bén lắm mới thẻo đứt một mảng da thịt ở bụng, ruột bung ra, ổng cứ lấy hai tay tự ấn ruột vào, trông rất thương tâm. Ông Đặng bảo Ẩn : “Hãy để mấy ông lính ở lại đồn nầy, mình chỉ chở phi hành đoàn chiếc số 2 về đáp hồ nước ngọt cấp cứu”.

    Tôi cũng lên tiếng : “ Tôi thấy có một ông bộ binh bị thương rất nặng, đổ ruột ra ngoài, Hồng Mã Lead hãy chở ông luôn, làm phước nhé ”. Cuối cùng thì T/u Viễn cũng được khiên ra và chuyển qua chiếc Lead, anh Cơ phi bị thương ở chân cũng được quân bạn cổng lên tàu cùng một lúc với ông bộ binh bị thương đổ ruột, sau cùng T/u Hóa và anh Xạ thủ phi hành cùng bước lên tàu. Ẩn gọi tôi cho biết là Ẩn cất cánh, tôi bám sát bên Ẩn đến lúc cả hai có được cao độ an toàn. Bây giờ Ẩn mới báo cho mọi người biết là : “T/u Viễn ra đi rồi”. Chao ôi, tôi có nghe lầm không ? Tôi cảm thấy như là có cái đau buốc trong lòng, thật nghẹn ngào, hai mắt cay xè.

    Tôi giao cần lái cho T/u Công, bảo anh bay theo chiếc Lead. Rồi tôi lại nghe ông Đặng ra lệnh :

    “ Diều Hâu 1, 2 cũng theo chiếc Lead về đáp ở hồ nước ngọt ” .

    Như vậy là đúng ‎ý của tôi vì tôi rất muốn nhìn thấy mặt T/u Viễn lần cuối. Lúc nầy mọi vô tuyến thật im lặng, hình như mọi người đang cầu nguyện cho Viễn, duy chỉ có máy FM là còn ồn ào bởi vì quân bạn đang điều quân để chiếm mục tiêu. Tôi chỉ vặn volume nhỏ lại chứ không tắt, vì cần phải theo dõi họ, cũng may họ chưa chạm địch nên họ chưa kêu réo chúng tôi. Thế rồi 4 chiếc nối đuôi đáp xuống hồ nước ngọt. Sau khi tắt máy, tôi bước nhanh đến tàu Ẩn thì nhìn thấy thi thể Viễn nằm sóng sượt trên sàn tàu, Viễn bị cắt đứt nguyên cánh tay phải đến tận bả vai, xương lòi ra và máu động thành vũng lớn nơi vết thương, mặt anh tái xanh vì mất quá nhiều máu, mắt nhắm nghiền và môi mím chặc, trông anh thật đau đớn trước lúc ra đi.

    Tôi không cầm được nước mắt cứ để nó tự tuôn rơi, cổ họng như cứng nghẹn. Nhìn lại sau lưng thì thấy anh Đường, Cơ khí phi hành bị thương ở chân và ông bộ binh bị thương ở bụng đã được lên chiếc Jeep cải biên thành chiếc xe Ambulance chở ngay đến quân y viện, làm tôi sực nhớ, thử nhìn về chiếc Gun 3 đang đậu phía trước chiếc tàu Lead, xem Đắc và Phát đã trở lại đây chưa ? chắc là chưa. Bây giờ tất cả các phi hành đoàn của chiếc C&C, Gun 1, 2, 3, chiếc Lead tụ tập quanh đây cũng có cả Th/t bay back seater (có lẽ ông là Tham mưu trưởng Hành quân của Tiểu khu Định Tường) chúng tôi im lặng, vẻ mặt ai cũng đăm chiêu buồn bã, không nói với nhau nhiều, thỉnh thoảng chúng tôi hỏi thăm T/u Hóa, mọi người đều tấm tắc khen anh rất bình tỉnh để đáp an toàn xuống đồn Nghĩa quân.

    Ông Đặng đã nhờ Th/t bộ binh giúp đở phương tiện là đưa thi thể T/u Viễn vào nhà xác để tắm rửa sạch sẽ, sửa thế nằm ngay ngắn và xin gởi vào phòng đông đá trong thời gian chúng tôi còn hành quân. Thật ra không phải di chuyển thân xác anh đi đâu xa vì ban tống táng, tẩn liệm của phòng Năm Tiểu khu nằm ngay trong khu hồ nước ngọt.

    Dường như bên phía bộ binh, Th/t Tham mưu trưởng đã trình lên với Tiểu khu trưởng là đã có một sự tổn thất quá lớn bên phía KQ nên lệnh hành quân được hủy bỏ, có nghĩa không đổ thêm quân nữa nhưng chúng tôi phải bốc về cái toán quân đã thả xuống LZ. Ông Đặng ra lệnh tất cả chúng tôi trở qua phi trường Đồng Tâm, chỉ trừ Gun 3 vì chưa có hoa tiêu. T/u Hóa, anh Tùng (xạ thủ chiếc Slick ngộ nạn) xin ở lại đây. Tôi về tàu mình quay máy, nhưng luôn nghĩ về trường hợp tử thương kỳ quái của T/u Viễn cũng như cái kiểu bị thương lạ lùng của ông bộ binh, bổng đầu tôi chợt lóe ra một nghi vấn : rất có thể chiếc tàu Viễn không phải trúng đạn phòng không, mà có thể có ông bộ binh nào đó nghịch ngợm đã làm nổ lựu đạn trên khoang tàu ?

    Tôi nghi là lựu nổ ngay kẹt cửa phía bên phải, khi đó Viễn ngồi nghỉ đang lúc T/u Hóa bay, tay phải Viễn gác lên trên tấm bửng chống đạn (armor blade) nên mới bị miễng cắt đứt cánh tay, chớ toàn thân còn lại thì không thấy có vết thương nào nữa cả. Còn chuyện lạ nữa là ngoài Viễn và ông bộ binh ra thì chẳng ai hề hấn gì. Có thể đây là trái lựu đạn nhỏ mà mấy ổng ‘chơi banh đũa’ lúc ở phi trường, chớ loại M26 thì khủng khiếp lắm. Tôi hứa với lòng là phải quan sát kỹ lại cánh cửa phía bên anh Viễn, nhất là phía ngoài coi có phải là trúng đạn phòng không khi tôi có dịp bảo vệ hai chiếc Slicks đáp xuống đồn để bốc 2 toán quân đã bỏ lại ở đó. Gần đáp Đồng Tâm, tôi gọi C&C cho biết là 2 tàu Guns cần ‘rearmed’ (trang bị thêm rockets và đạn 7.62 ly cho 2 súng Gatling guns).

    Thế là hai chiếc Guns 1 , 2 đáp rồi tắt máy ngay mấy cái kho chứa đạn và rockets, tôi nhờ thêm vài anh cơ phi và xạ thủ bay Slicks gần đó đến phụ giúp chúng tôi ‘Loaded’ cho lẹ. Và rồi chuyện ‘rearmed’ cũng xong, hai chiếc Guns quay máy và cả hợp đoàn cũng quay máy theo. Tàu C&C cất cánh trước, hai chiếc Guns của tôi theo sau, sau cùng là 4 chiếc Slicks bay hợp đoàn đội hình ‘Diamond’ (hình thoi), lượng nhiên liệu mỗi tàu còn khoảng nửa bình, như vậy là rất tốt cho 4 Slicks phải cõng 60 ông bộ binh từ LZ đem về Đồng Tâm. Đường tới PZ [ Giờ thì không thể gọi là LZ được nữa mà phải gọi PZ có nghĩa là bãi bốc quân (Picking up Zone) ] cũng còn xa nên tôi bàn hai anh xạ thủ ‘ruột’ của tôi, đó là Tr/s nhất: N.Vũ Kính và Tr/s Diệp (Trưởng toán xạ thủ) ‎ý tôi muốn hai cụ lát nữa đây hãy tác xạ theo kiểu gục gặc nòng súng, chớ đừng bắn theo lối quét ngang, tôi muốn targets phải hứng đạn dày đặc hơn, hai cụ nầy rất đồng ‎ý cái khoảng nầy.

    Tôi cũng nhắc chiếc Lead “Nhớ cho hợp đoàn vào ‘Trail’ (hàng một) lúc ở ‘Final’, sau khi bốc quân hợp đoàn làm hai lần quẹo trái đi ra ”. Bây giờ PZ cách tôi chừng khoảng 2 miles, tôi gọi quân bạn, xin họ thả một quả khói màu đánh dấu bãi bốc và hỏi kỹ “tất cả ‘con cái’ (toán quân) của bạn chỉ ở tại khói màu thôi phải không?” Họ đốt trái khói màu xanh lá cây và cho biết là con cái của họ chỉ ở gần quanh trái khói. Tôi và số hai xuống sát mặt đất, đầu tiên là bay tới toán quân phía dưới, thấy rõ là họ đang đứng chia làm 4 nhóm sẵn sàng để đợi Slicks xuống bốc về, như vậy là quá tốt. Tôi bảo họ cứ tiếp tục đốt khói màu để tránh ngộ nhận trong lúc hai Diều Hầu ra tay “bào láng” cái vùng nầy.

    Nầy ‘vịt con’, tụi con hãy xem Diều Hâu trả thù, bọn ‘qua’ mà ‘quánh’ không đẹp là không phải Diều Hâu nữa. Tôi và Gun 2 sắp bay vòng tròn phía ngoài quân bạn, nếu lấy chỗ đứng quân bạn là tâm điểm thì vòng tròn thứ nhất có bán kính là 200 mét, chúng tôi đánh rockets theo lối cận chiến nghĩa là cho rocket nổ cách mình chừng 3,4 chục mét thôi, vì vậy phải bay low level (bay sát mặt đất) và chỉ phóng rocket lúc đang quẹo, tôi và San đã phải luyện tập lối đánh nầy rất nhiều lần nên mới chơi chiêu nầy được.


    Hình minh họa

    Cái thế đánh rocket nầy được mấy ông bạn xạ thủ Gunsip đặt tên là thế đánh ‘cẩu tè’ vì lúc đánh cũng là lúc quẹo, tất nhiên tàu phải nghiêng nghiêng, hình dạng giống như chú cẩu đang tè, còn hai ông phía sau đánh theo lối ‘lúc lắc cọng lạp xưởng’ (đàn ông sau khi tiểu xong). Vòng thứ hai chúng tôi nong cái vòng tròn rộng ra , bán kính bây giờ là 250 mét cũng tiếp tục lối đánh đó và đánh thật nhiều con rạch chạy hướng nam-bắc mà chúng tôi tin rằng bọn ‘chuột’ nấp nơi đó bắn sẻ chúng tôi, vòng thứ ba nong thêm 50 mét nữa thì đã thấy hợp đoàn Skicks đang ở ‘cross-wind’ (gió ngang), tôi bảo Slicks vào đáp ngay trái khói mà quân bạn đã đốt đó. Chúng tôi tiếp tục đánh một vòng nữa rồi ra rước Slicks vào, cũng như lần trước Gun 1 bảo vệ bên sườn trái của hợp đoàn đang bay hàng một, Gun 2 bảo vệ bên sườn phải. Thế là 4 Slicks bốc hết quân và ra được an toàn, mỗi Slick phải cõng đến 15 ông bộ binh đem về đáp lại Đồng Tâm. Bây giờ Gun 1 và Gun 2 cũng rời vùng rồi bay tà tà đến cái đồn mà tàu của T/u Viễn nằm dưới đó, chúng tôi chỉ bay vòng vòng thôi để chờ 2 Slicks tới bốc quân.

    Tôi gọi chiếc Lead, chỉ muốn dặn dò là “ Khi đến bốc quân thì chiếc số hai nên bay xa chiếc Lead một chút vì bên dưới chỉ có mỗi một chỗ đáp mà thôi, phải đợi chiếc Lead lên, thì chiếc số hai mới xuống được ”. Khoảng 10 phút sau thì tôi đã thấy dạng hai chiếc Slicks tới, tôi gọi Ẩn và Hồng : “ Lead hãy làm ‘overhead approach’ (cúp ga, xuống lối xoắn ốc). Khi nào chiếc ‘Lead’ lên xong thì chiếc ‘Trail’ cũng phải làm như thế, Ok?”. Xong tôi gọi Gun 2 “ Diều Hâu 2 cứ ở trên cao như lần trước, hãy quan sát kỹ coi chừng bị chúng pháo ” và tôi bắt đầu xuống thấp bay chung quanh cái đồn bảo vệ mặt dưới.

    Tôi cũng không quên là phải quan sát cánh cửa bên phía Viễn. Nhưng hởi ơi, cánh cửa ấy đã được T/u Hóa giật ‘Jettison cable’(chốt bản lề) cho rớt ra và thảy nó xuống dưới gầm tàu để trống chỗ, mang T/u Viễn ra cho dễ. Bây giờ chỉ còn một cách là có dịp hỏi lại Hóa như : Hóa thấy phía ngoài cánh cửa ra sao? có dấu vết gì là bị phòng không bắn lên không? Hay là tên lính say nào quờ quạng làm nổ lựu đạn trên tàu? Rất có thể thủ phạm là cái ông bị thương đổ ruột ra đó? v.v… Cuối cùng thì Ẩn và Hồng đã lần lượt làm ‘overhead landing’ mang tất cả quân bạn về lại phi trường Đồng Tâm.

    Bây giờ thì công tác hành quân hôm nay của chúng tôi coi như hoàn tất. Cả 5 chiếc tàu lần lượt vô đổ xăng (C&C, 2 Gunships, 2 Slicks) còn 2 Slicks tắt máy nằm chờ, chắc là đã đổ xăng đầy rồi. Trong lúc đổ xăng thì Ẩn ra hiệu cho hai chiếc kia quay máy. Ông Đặng bảo : “Tất cả hãy bay qua hồ nước ngọt để anh em chúng ta chào T/u Viễn lần cuối. Sau đó, tôi sẽ mang xác anh về KQ Tử Sĩ Đường”. Gun1 và 2 cất cánh theo C&C bay qua hồ nước ngọt, hợp đoàn 4 chiếc Slicks cũng theo sau. Đáp xuống xong, tôi đã thấy Đắc, Phát và Đường, tôi liền đến hỏi thăm họ.

    Đắc cho biết bác sĩ đã khám thật kỹ vòng quanh cổ, không thấy có đầu đạn nào nằm trong đó cả nên sát trùng vết thương, băng lại, yêu cầu ngưng bay 2 tuần, sau đó tái khám tại bệnh xá đơn vị và ông cho một mớ thuốc uống nào là chống nhiễm trùng, nào là thuốc đau nhức v.v... Tôi nghe vậy cũng mừng cho anh, rồi tôi rũ anh lát nữa lên tàu tôi về nhà vì nón bay, áo giáp, dây đeo súng của Đắc còn trên tàu tôi. Quay sang hỏi thăm Đường “Bác sĩ đã khám chưa mà ra sớm vậy ông?”. Đường mới thú nhận: “Khi vào đó, mới biết là còn phải chờ rất lâu mới tới phiên mình. Mình nghĩ là chỉ bị bong gân nhẹ thôi, anh. Kế đến, Đường thấy hai anh Đắc, Phát đi ngang qua, Đường mừng quá theo hai anh ấy về đây”.

    Nghe ổng nói như vậy, tôi chịu thua ổng luôn. Hiện tại Đường đã tháo giày ra, đi chân không vì vậy tôi mới thấy bàn chân sưng vù của ổng, thấy thương ổng quá. Cũng may cho Đường, hôm nay mang đôi ‘botte’ mới toanh do bố vợ là Tiểu đoàn trưởng bộ binh tặng, nên cũng che chở bàn chân của ổng phần nào, vả lại đất vùng đó là loại đất phù sa xốp mềm, dễ lún. Tôi quên nói, chỗ hai ông Hóa và Ẩn đáp là những luống đất trồng khóm (thơm) của mấy ông lính Nghĩa quân trong đồn, khóm đã ra trái lớn bằng nắm tay rồi, thế mà hai ông nầy “quậy nát” đám khóm của người ta. Ông Đặng thấy Đắc và Đường đứng đây, ông tới hỏi thăm. Đắc kể với ông cũng giống như đã nói với tôi, tôi thấy ông Đặng có vẻ mừng cho Đắc, xong rồi quay qua hỏi thăm Đường, nghe Đường kể, ông rày liền : “ Không giởn mặt như vậy được, nếu bị infected (nhiễm trùng) bác sĩ cưa chân anh đấy.

    Lên tàu tôi, tôi đưa anh về khám ở Tổng Y Viện Cộng Hòa”. Đến đây thì ban lo hậu sự của Tiểu Khu Định Tường đưa xác anh Viễn tới, thi thể anh được đặt trong ‘Zip Bag’ màu cam nằm trên ‘băng ka’, rồi họ cáng thi thể đưa vào khoang tàu của tàu của ông Đặng, hai ghế vải ‘back seaters’ đã được tháo ra trước đó, họ nhấc anh lên để họ lấy lại cái băng ka của họ và đặt anh nằm xuống sàn tàu. Tất cả anh em bay hôm nay đứng vây quanh đây, tất cả đều im lặng như cầu nguyện cho anh và rồi từng người đến chào anh lần cuối. Sau đó ông Đặng hỏi : “Trong anh em, có ai biết nhà anh Viễn ở Sài Gòn không?”, có một vài anh biết, nhưng không nhớ số nhà, nhưng cho biết nhà Viễn ở ngoài đường lớn rất dễ tìm, chỉ cần đến khu phố đó, hỏi thăm sẽ ra ngay. Ông Đặng ghi xuống giấy tất cả chi tiết đó để nhờ nhân viên phục vụ ở Tử Sĩ Đường thông báo với gia đình anh Viễn. Đến đây Ông Đặng quay máy cất cánh về Tân Sơn Nhất…Bọn chúng tôi uể oải trở lại tàu mình.

    Trông tôi thật là chán chường, nhưng phải quay máy vì cái trigger (bộ phận mở máy) nằm trên ‘collective pitch’(cần điều khiển lên xuống) bên ghế phải, chớ bên phía copil không có. Tôi tăng tour lên đủ 6,400 rpm rồi giao controls cho T/u Công muốn làm gì đó thì làm. Tâm trạng tôi bấy giờ thật là chán nản, ê chề, tay phải luồn qua túi áo bay bên cánh tay trái, mở fermeture moi gói Capstan đầu lọc ra hút rồi kéo visor kiến râm xuống che mắt, đầu óc cứ nghĩ ngợi mong lung nhất là cảm thấy thật đau buồn vì đây là lần đầu tiên phi đội tôi gặp chuyện xui xẻo lớn như thế. Tôi nhận phi độ II từ khi T/u Chu rời PĐ 225 để đến PĐ khác nhận một chức vụ cao hơn.

    Tôi rất hãnh diện vì đây là một phi đội giỏi, tất cà anh em bay rất khá, nếu bay lead thì không ai qua được: Luông và Ẩn, còn bay ‘Wing-man’ (hợp đoàn) thì đã có những : Hồng.N, Thành.H, Quân.L, Mến.N v.v...họ bay formation dính như sam vậy. Hôm nay, tôi mất Viễn. Tôi luôn hình dung về anh, thân thể to lớn khỏe mạnh, tóc tai luôn húi cao kiểu quân trường, có thể anh cao trên 1mét 80 mà lại mập mạp nên trông anh giống như ông cố vấn Mỹ, anh có nước da trắng trẻo của người Hoa, ít nói có lẽ vì anh nói tiếng Việt không thông thạo lắm nhưng bù lại anh rất vui vẻ, tươi cười bất cứ ai đến bắt chuyện với anh. Theo tôi biết thì phi đoàn chúng tôi có gần một chục anh người Việt gốc Hoa, gọi tắc là người Hoa giống như anh nầy và ngộ cái nữa là phần lớn các anh ấy lại ở trong phi đội tôi.

    Tôi cũng nhờ tôi mê đọc truyện tàu cũng như lịch sử Việt cận đại nên mới hiểu người nhiều về người Hoa, càng hiểu tôi càng quí mến các vị nầy. Họ là hậu duệ, là chắc chít của những danh sĩ hay danh tướng lẫy lừng như : Trịnh Hoài Đức, Mạc Thiên Tứ, Võ Tánh, Ngô Tùng Châu, Châu văn Tiếp, Trương Minh Giảng, Tống Phước Hiệp, Phan Xích Long v.v…và tổ tiên của họ là những Thượng tướng ái quốc, những anh hùng của Minh triều, đó là : Trần Thượng Xuyên (Còn có cái tên nữa là Trịnh Thắng Tài, là ông nội của Trịnh Hoài Đức), Dương Ngạn Địch và Mạc Cửu. Ba vị tướng nầy rất bất mãn, thù ghét triều đại nhà Thanh, cho rằng người Mãn Châu vốn dĩ là dân Tiên Ti, là rợ Kim nên không đáng cho họ thần phục, họ hô hào chiến dịch “Phù Minh, diệt Thanh” nhưng cơ mưu bại lộ nên họ đem toàn bộ gia quyến cùng dân xóm làng xuống tàu xuôi về phương nam, làm di dân đi tìm đất sống mới.

    May mắn thay cho 3 nhóm di dân nầy gặp được đấng minh quân đất Việt bấy giờ là chúa Hiền (Nguyễn Phúc Tần) là người nhân từ, đức độ cũng như người dân Việt giàu lòng bác ái, hảo tâm sẵn sàng dang rộng đôi tay cứu giúp họ, cho họ được an cư những nơi : Cù lao Phố-Đồng Nai cho nhóm Trần Thượng Xuyên, Mỹ Tho cho nhóm Dương Ngạn Địch và Hà Tiên cho nhóm Mạc Cửu. Khi viết đến đây tôi lại liên tưởng đến cái “Luật Nhân Quả” của Thích Ca Mâu Ni vì thế xin bạn đọc cho phép tôi lái xe leo lên lề một tí.

    Đúng ba trăm năm về trước vị chúa nước Nam và tiền nhân của chúng ta đã gieo hạt ‘Nhân’ thật tốt đẹp là cứu giúp người di cư tị nạn, nên khi Cộng Sản cưỡng chiếm miền nam 1975, có hơn hai trăm nghìn dân quân bỏ nước ra đi thì cũng được chánh phủ và nhân dân các quốc gia như: Hoa Kỳ, Anh quốc, Pháp, Gia Nã Đại, Úc Đại Lợi v.v… ra tay cưu mang, giúp đở chúng ta, như thể là hạt giống năm xưa đã thành cây đơm hoa kết trái rồi chăng? Đây là một trong những lập luận vững chắc nhất để biện minh cho “Luật Nhân Quả” đúng vậy không? Thưa bạn đọc. Thôi tôi trở lại trang k‎ý‎ sự :

    Tôi mãi mê nghĩ ngợi mong lung, tỉnh người ra thì đã về tới phi trường Sóc Trăng. T/u Công bay sau đuôi 4 Slicks và dẫn 2 chiếc Gun 2 và Gun 3 đáp xuống phi trường, xong hắn đem tàu tới P.O.L để ‘refuel’(đổ đầy xăng), sau đó đem tàu vô ụ tắt máy. Ba mươi anh em vác áo giáp, xách nón bay lếch thếch đi vào phòng hành quân, nơi đây có hơn mười anh em chờ đón chúng tôi để biết thêm về tai nạn ngày hôm nay. Tôi chỉ trả lời một cách nhát gừng nếu ai hỏi mình. Tôi nhắc Công ghi giờ bay vào sổ phi vụ lệnh, còn tôi trở về phòng mình. Bây giờ khoảng 17:30, tôi nghĩ mình nên đi tắm rửa, thay quần áo civil xem thấy có khỏe người ra không ? Xong rồi, cho dù bụng chưa đói nhưng chân vẫn bước về hướng Câu Lạc Bộ Sĩ Quan để gặp bạn bè tán gẫu cho đở buồn. Thôi thì ăn ít, ăn nhiều gì ở đó cho xong, chớ lỡ sót ruột vào giữa đêm thì làm sao làm sao ngủ được đây.


    Hình minh họa

    Ăn xong tôi cùng vài bạn bách bộ về khu ‘hangar’ 1, bên hông phòng hành quân của PĐ. Trước hangar là bãi đậu của các tàu bay bị bệnh, chờ được kéo vô trong sửa chữa, khu bãi đậu nầy rất rộng lớn, được tráng xi măng dày , sạch sẽ thoáng mát, vì mặt trước là phi đạo, phía bên kia phi đạo là hàng rào an ninh phi trường, bên ngoài là lộ xe đi Bạc Liêu và bên kia con lộ là đồng ruộng bao la. Chiều chiều gió đồng dạt dào thổi tạt vào đây làm cho con người cảm thấy khoan khoái dễ chịu, vì vậy nếu không ra phố Sóc Trăng chơi, chúng tôi thường tụ tập nơi đây, tán dóc hoặc xem các bạn chơi ‘volley’ ở sân cỏ bên cạnh đó.

    Tôi gặp Đắc cũng có mặt với vài người bạn, trông Đắc có vẻ không vui, tôi hỏi thăm : “Đắc khỏe không?”. Đắc phàn nàn là hơi bị chóng mặt, cảm thấy mặt phía bên phải dường như nặng nề và đầu đổ nhiều mồ hôi, chảy xuống trán, Đắc đã lau ướt cả chiếc khăn mouchoir. Trong nhóm tôi có một anh khá hiểu biết, anh nói : “Đắc mới bị thương mà có những triệu chứng như vầy là không tốt. Hay là chúng ta đưa anh đến bệnh xá căn cứ xem sao”. Thế là ba bốn bạn 'hộ tống' Đắc xuống bệnh xá, cách đây chừng 50m thôi. Chúng tôi gặp anh quân nhân y tá trực, chúng tôi cho anh biết l‎ý do anh em chúng tôi đến đây. Anh y tá đi tìm ngay Bác sĩ Th/tá Y sĩ trưởng bệnh xá cho chúng tôi. Xin nhớ cho bây giờ đã hơn 19:00 giờ nghĩa là ngoài giờ làm việc hành chánh. Đợi chừng 15 phút thì bác sĩ T. đến, Đắc trình bày hết sự việc như bị thương thế nào, đã được QYV Mỹ Tho chữa trị ra sao v.v..và bây giờ thấy bị chóng mặt, ra nhiều mồ hôi ở đầu v.v..Bác sĩ T. khám Đắc tại bàn làm việc, chứ không đưa vô phòng khám và chúng tôi cũng được ở đây với Đắc.

    Việc đầu tiên ông tháo băng ở vết thương của Đắc, xem xét xong, ông thay băng khác cho anh. Ông cũng ấn tay vào chung quanh cổ, hỏi Đắc có đau không. Đắc trả lời “thưa không”. Ông nghĩ là nên chụp “X ray” phía trước mặt của Đắc, ông gọi y tá trực đi kiếm ông chuyên viên chụp quang tuyến vào đây. Khoảng 10 phút sau ông chuyên viên nầy tới và đưa Đắc tới phòng quang tuyến chụp hình X ray như b/s yêu cầu. Chụp xong Đắc trở ra với chúng tôi. Trong lúc chờ đợi hình chụp, b/s T. vui vẻ hỏi thăm và nói chuyện với chúng tôi, ông có vẻ mến chúng tôi vì chúng tôi rất thường cho ông quá giang tàu về SG thăm gia đình.

    Hình chụp đã khô, ông chuyên viên đem trình cho b/s T. và nói “ không tốt rồi ông thầy ơi”. B/s T. treo hình lên khung đèn, ông nhìn kỹ đã thấy đầu đạn ở soan mũi rồi chỉ cho anh em chúng tôi xem. Đắc rớt nước mắt, mặt tái xanh vì mất tinh thần. B/s an ủi “Cũng may trên đường đi, đầu đạn ác ôn kia không phá vở dây thần kinh nào nên anh không bị tê liệt hoặc câm điếc mù, có lẽ viên đạn đã đi hết tầm nên mới chịu nằm yên nơi đó”. Quay qua chúng tôi, ông nói “Tốt nhất là các anh đưa bạn về Tổng Y Viện Cộng Hòa càng sớm càng tốt, chứ ở đây ngay cả bên Trương Bá Hân (QYV/ SócTrăng) cũng không giúp gì cho anh ấy được”. Nói xong, b/s T. viết giấy giới thiệu nhập viện trao cho Đắc và luôn cả hình chụp X Ray.

    Chúng tôi cám ơn bác sĩ, xong rồi vài bạn đưa Đắc về phòng soạn quần áo và những thứ cần dùng đem theo vì anh chắc phải ở nhà thương khá lâu. Còn vài anh khác đến tìm Tr/tá phi đoàn trưởng để tường trình sự việc cấp bách như vậy, nhưng không gặp ông. Chúng tôi nhớ lại cái ông số 3 của PĐ là Đ/úy Chừng, Sĩ quan Hành quân chắc còn đang chơi billard ở Câu Lạc Bộ, chúng tôi đến đó liền, may mắn gặp ông ta và nói cho ông ta biết cái chuyện của Đắc đi tái khám ở bệnh xá ra sao v.v…Đ/úy Chừng có vẻ hốt hoảng nói : “ Các anh nói Sĩ quan trực gọi liền qua Hành quân chiến cuộc xin gắp một chiếc tàu và số phi vụ, tôi sẽ đưa Đắc về TYV/CH ngay bây giờ.” Rất hoan nghênh niên trưởng …

    Chúng tôi tiễn Đắc đến tận tàu bay, chúc Đắc thật nhiều may mắn. Tôi trở về phòng mình nằm vật ra giường, đầu óc cứ nghĩ ngợi mong lung, tâm tư như đang gặm nhấm một nỗi buồn da diết. Nhìn đồng hồ để bàn thì đã thấy 23:30 rồi, mình cần phải ngủ mới được vì ngày mai còn bay yểm trợ cho Hồng Điểu ( Phi đội tản thương ), phi vụ nầy cũng trần ai, khoai củ chớ chẳng chơi, nhất là nếu phải vô kinh Lai Hiếu ở vùng Phụng Hiệp thì luôn luôn có màn đấu súng với mấy ông du kích già việt cộng.

    Tôi nhắm mắt rồi tưởng tượng mình đang chăn một bầy cừu vĩ đại tại một miền thảo nguyên nào đó, mình thử đếm chúng có bao nhiêu con tất cả, tôi đếm đây : một con cừu, hai con cừu, ba con cừu ….đã đếm tới con cừu thứ 819 rồi, mà vẫn chưa ngủ. Tôi chợt nhớ mấy cụ lốc cốc tử, mấy thầy xốc mu rùa họ thường bấm lóng tay để tính ra ngày nào là ngày hoàng đạo, tức là ngày lành tháng tốt, mọi việc rơi vào ngày nầy thì luôn được suôn sẻ, hạnh thông v.v... Ngược lại nếu rơi vào ngày hắc đạo thì ôi thôi vô cùng xấu, đen như đồ nhà khó, như mõm chó mực. Nếu thật vậy thì chắc ngày hôm nay phi đội mình “gặp ngày hắc đạo” ...

    Chú thích._Đây là chuyện thật người thật, vì vậy những nhân vật trong truyện bởi do sự tế nhị phải đổi tên khác. Duy các anh nay đã mất, tôi mới dám viết tên thật của các anh : Đ/u Ngô Vĩnh Viễn, Đ/u Thành (Hà), Tr/u Phát, Tr/u Công, Th/S Nguyễn Vũ Kính, hầu để vinh danh các anh đã bỏ một quãng đời trai trẻ trong cuộc chiến giành chánh nghĩa của chúng ta.


    Diều Hâu NGUYÊN QUÂN

    https://www.facebook.com/photo.php?f...type=3&theater

    Leave a comment:


  • BachMa
    replied
    Gặp Ngày Hắc Đạo (Phần 1/2)

    Gặp Ngày Hắc Đạo..
    Diều Hâu NGUYÊN QUÂN
    (Phần 1/2)



    Hình minh họa

    Ngày 02 tháng Tư năm 1973, Phi đội II chúng tôi lên ca chánh : hành quân lần hai trong chu kỳ làm việc 5 ngày của chúng tôi. Chỗ nầy chắc tôi phải cắt nghĩa một chút vì nếu các anh là đồng nghiệp và bay ở Sư đoàn IV/KQ thì hiểu rõ cái lịch trình làm việc của chúng ta nhưng nếu bạn đọc khác thì hơi khó hiểu đấy.

    Chuyện là vầy: Mỗi Phi đoàn có 4 phi đội, mỗi ngày 3 phi đội cùng hợp sức làm việc để một phi đội được nghỉ dưỡng sức 3 ngày ở ngoài đơn vị nghĩa là tại gia đình, hầu hết là ở Sài Gòn. Ba phi đội đó được phân định như sau: sau khi nghỉ phép, thì ngày đầu làm việc của bạn là ngày ưu tiên một hành quân, qua ngày thứ hai bạn sẽ được tăng cường bổ xung cho một phi đội khác đang là hành quân chánh, ngày thứ ba bạn vẫn tăng cường nhưng thuộc loại hai, thường là đảm trách những phi vụ nhẹ hoặc có khi không phải bay, coi như có một ngày nghỉ dưỡng sức tại đơn vị của bạn. Đoạn qua ngày thứ tư, bạn lại lên ca ưu tiên một hành quân chánh (đợt nhì), ngày thứ năm bạn lại được tăng cường hành quân (đợt nhì) và ngày thứ sáu là ngày đi phép nghỉ dưỡng sức ba ngày của bạn. Đi và về, nếu bạn ở Sàigòn thì có phi cơ đưa rước cho bạn.

    Sáng nầy, tôi thức dậy khoảng 5 giờ rưỡi, sau khi vệ sinh cá nhân, mặc áo bay vào, xỏ chân vô đôi botte de saut, đeo dây súng P38 rồi vác áo giáp trên vai, xách nón bay đi tới quán cà phê của Phi đoàn gọi một ly cà phê và một thứ gì đó để ăn sáng qua loa, sau đó tới thẳng đến phòng hành quân. Nơi đây đã có một vài anh em đến trước tôi, chúng tôi chào hỏi nhau.

    Nhìn vào bảng phi vụ lệnh thì tôi thấy Phi đoàn chúng tôi hôm nay làm việc cho Tiểu khu Kiến Hòa (Bến Tre), chúng tôi cũng đã sẵn sàng cho một package lớn (một hợp đoàn hành quân) do T/u Ẩn, P/Đội phó cắt bay từ chiều tối đêm qua, gồm: 1 C&C, 5 Slicks chuyển quân và 3 Gunships yểm trợ. Được phối trí như sau : Th/tá Đặng (P/đoàn phó) bay C &C (Control and Communication). Dù không nói ra, chúng tôi thấy khoái khi thấy mấy quan bay tàu C&C mà có cấp bậc cao, chẳng hạn như ông nầy, vì sao thế ? Bởi các quan Bộ binh ngồi ‘back seaters’ (ngồi ghế vải phía sau chỉ huy cuộc hành quân) thường là Đại Tá Trung đoàn trưởng (Đại bàng), Trung Tá Trung đoàn phó hay Đại Tá Tiểu khu trưởng (Tỉnh trưởng) , Trung Tá Tiểu khu phó v.v.. mà nếu phe ta cấp bậc quá nhỏ như một vài mai vàng thì tất nhiên dễ bị hiếp đáp.

    Chính tôi đã chứng kiến bốn năm lần cái cảnh nầy. Thôi trở lại chuyện hành quân hôm nay : T/u Ẩn sẽ bay lead 5 chiếc đổ quân, chiếc số 2 : trưởng phi cơ T/u Ngô Vĩnh Viễn, số 3 : T/u Quân.L, số 4 : T/u Thành.H và số 5 (Trail) : T/u Hồng.N. Còn bên Gunship (Võ trang), bay chiếc số 1 : tác giả bài viết, T/u San bay chiếc số 2 , T/u Phát bay chiếc số 3. Vào thời điểm nầy hầu hết anh em hoa tiêu 225 đều mang cấp bậc Trung úy (T/u) bởi lẽ các anh ra trường vào khoảng cuối năm 1970, số giờ bay hiện tại của các anh đã trên hai nghìn giờ rồi. Cách nói chung chung thì phi công trực thăng của Sư đoàn IV/ KQ bay rất nhiều, mỗi năm các vị ấy bay khoảng một nghìn giờ. Sở dĩ T/u Ẩn cắt tất cả hoa tiêu thuộc P/Đội II bay ghế trưởng phi cơ hôm nay vì phi đội nầy lên ca chánh, tất nhiên phải có trách nhiệm nhiều hơn.

    Khoảng 6:30 sáng chúng tôi cuốc bộ ra tàu bay của mình, mỗi tàu có 4 người, ai cũng có phận sự riêng trên con tàu nhưng xem xét con tàu (check) trước khi bay là việc chung. Kẻ leo lên nóc check hệ thống cánh quạt lớn, người đu lên ‘tail skid’ để check cánh quạt đuôi, rồi anh Cơ phi (Cơ khí viên phi hành) kiểm soát lại dầu máy, dầu hộp số có ở đúng cái vạch an toàn không, anh Xạ thủ coi lại súng ống hai bên thân tàu bằng cách lên đạn sống, tất cả phải sẵn sàng để lúc 6:45 (giờ mặt trời mọc) tất cả 9 chiếc đều quay máy. Tàu C&C cất cánh trước, kế đến 5 chiếc Slicks di chuyển ra phi đạo dưới sự chấp thuận của đài kiểm soát không lưu, rồi cất cánh, ngay sau đó 5 chiếc ráp thành hợp đoàn chữ V lớn (V5 formation). Sau cùng là 3 chiếc võ trang cất cánh và ráp thành hợp đoàn nấc thang trái (Left Echelon) tức là đội hình tác chiến.

    Độ chừng 45 phút bay, tàu C&C đáp ở cầu tàu trước tòa Hành chánh tỉnh Kiến Hòa để rước các quan ngồi back seaters, còn tám chiếc của chúng tôi đáp xuống phi trường Bến Tre. Nơi đây có sẵn chừng một đại đội Địa phương quân, một xe GMC và một xe Dodge 4, cả 2 xe chở đầy ấp đồ tiếp tế. Chúng tôi tắt máy và chờ tàu C&C đến để biết mình sẽ làm gì hôm nay. Phi trường Bến Tre là một trong những phi trường khá đẹp của Quân khu 4, chúng tôi tụ 5, tụ 7 tán gẫu cho vui nhất là trao đổi những hiểu biết về vùng nầy.

    Đây là vùng có rất nhiều du kích quân cộng sản, quê hương của hai gấu cái ‘thị Bình, thị Định’ mà lỵ , dừa rất nhiều, dọc theo hai mé các kinh rạch được bao phủ dày đặc bởi giống dừa nước lá xanh um, còn trên đất khô là bạt ngàn rừng dừa cây ăn trái và dường như thiếu sự chăm sóc nên phần lớn các cây bị lão, thân quá cao khoảng chừng 10 đến 15 thước, cho trái rất ít nhưng họ không đốn bỏ có lẽ vì thiếu cánh tay đàn ông chăng. Bởi vào thời buổi nầy đàn ông nếu không đi lính Quốc Gia thì cũng vào bưng đi lính giặc cộng, đâu có được ở nhà để mà o bế vườn tược.

    Nói thật chúng tôi hơi ‘nhợn’ khi bay cái vùng nầy, nhất là Gunships thường bay thấp, bay rà sát ngọn cây nếu chẳng may tàu bị bắn cháy, cần đáp khẩn cấp rất khó tìm được khoảnh đất trống cho vừa ‎ý. Khoảng chừng 8:30 tàu C&C chở các quan ngồi back seaters đến. Chờ cho chiếc nầy tắt máy hẵn thì 8 trưởng phi cơ hợp đoàn kéo đến đây để nghe các quan Bộ binh cũng như Th/tá Đặng ‘briefing’ (thuyết minh) công việc phải làm hôm nay. Chuyện dễ thôi, cần hai Lifts (chuyến) chở Đại đội nầy vào hoán chuyển với Đại đội đang đống ở quận Bình Đại, rồi sau đó cần 2 teams (toán) mỗi team gồm hai Slicks chở đồ tiếp tế cho 2 cái đồn Nghĩa quân, một đồn ở gần Giồng Trôm và đồn kia ở gần Ba Tri. Như vậy thì chiếc Gunship số 3 có thể nằm nhà tiếp tục binh xập xám rồi đấy, chỉ cần Gunship 1&2 hộ tống hợp đoàn là được rồi.

    Đâu chừng khoảng 10:45 thì mọi công tác đã xong, chúng tôi về đáp lại sân bay để ‘Stand By’ (chờ lệnh mới) trong khi đó tàu C&C đáp ở tòa Hành chánh. Đến đây tôi cũng xin lỗi độc giả vì tôi vẫn giữ nguyên English cho những từ ngữ chuyên môn cũng như nghề nghiệp. Xin cho tôi được giải bày để bạn đọc hiểu rõ vì sao, rồi thông cảm rồi tha thứ. Những English nầy do anh em phi công trực thăng đã học được từ ở trường bay, khi về đơn vị chiến đấu thì được nghe các huynh trưởng mình cũng nói y chang như vậy trong các cuộc hành quân, riết rồi đâm ra quen miệng. Thêm cái khổ nữa, nếu anh em trong giới KQ thấy tôi dịch nó ra tiếng Việt, thì họ bảo:

    “Đọc thấy không “phê”, có vẻ giả tạo, không thể hiện đúng ngôn ngữ thường dùng của dân bay 'chuồn chuồn'.

    Về phía bạn đọc thấy tôi giữ nguyên tên gọi bằng English thì cho là chướng mắt, dị hợm đúng vậy không? Thôi thì tôi cứ giữ nguyên từ ngữ chuyên môn bằng English cho phe ta, rồi mở ngoặc đơn ‘(’ để giải thích những từ nầy, xong rồi đống ngoặc đơn lại ‘)’, như vậy là trọn nghĩa trọn tình cả đôi đàng, các bạn hỉ ? Hay còn cách nữa, qu‎ý‎ vị cứ coi đây như là một cách ngụy ngữ hay mã hóa ngôn ngữ theo cách dân KQ, cốt là để Việt cộng không hiểu chúng ta nói cái gì trong lúc hành quân. Ngay ở đơn vị Bộ binh họ cũng xài ‘ngụy ngữ ’ nhưng giản dị hơn, thường họ đổi chuỗi từ nầy thành một chuỗi từ khác nhưng giữ nguyên những chữ cái ở đầu của mỗi từ. Thí dụ như ‘Chiến Tranh Chánh Trị’ (những chữ cái ở đầu từ là : C, T, C, T) thì họ đổi là ‘Con tôm con tép’, như ‘Lao công đào binh’ biến thành là ‘Lau chùi đại bác’, còn ‘Cán bộ xây dựng nông thôn’ thành là ‘Canh bầu xì dầu nước tương’, ‘Pháo binh’ thì thành ‘Phở Bắc’, ‘Việt cộng’ là ‘Vịt con’ v.v...

    Vào lúc 11:15, tàu C&C đáp xuống gần tàu của chúng tôi, sau khi giảm ‘ga’ nhỏ lại rồi giao ‘controls’ cho hoa tiêu phó, Th/tá Đặng bước xuống bảo chúng tôi quay máy, bay qua phi trường Đồng Tâm Mỹ Tho đợi lệnh mới. Sau đó, ông Đặng lên lại phi cơ, tăng ‘tour’ cất cánh đi trước, có lẽ ông đáp ở hồ nước ngọt Mỹ Tho để rước mấy quan ngồi ‘back seaters’ của Tiểu khu Định Tường. Hợp đoàn 8 chiếc quay máy, tôi gọi 2 chiếc Gunships qua tần số VHF nội bộ : “ Diều Hâu 2 và Diều Hâu 3, đây 1 gọi ” . Hai bạn San và Phát đáp bằng thính hiệu : “nghe rõ” (bấm micro switch trên ‘Cyclic’ hai lần), tôi tiếp : “ Diều Hâu 2 và 3 qua Đồng Tâm trước, còn 1 sẽ lên cao liên lạc với Paddy (đài kiểm báo của SĐIV/KQ) để nhờ họ thông báo cho Phòng Hành Quân Chiến Cuộc (giống như Trung tâm Hành quân của Bộ binh) biết là hợp đoàn Hồng Mã (danh hiệu hành quân của PĐ 225 Ác Điểu) sẽ ăn cơm trưa tại phi trường Đồng Tâm Mỹ Tho ”.

    Sở dĩ tôi phải làm việc nầy là nhờ phòng Hành quân chiến cuộc thông báo về phi đoàn tôi, để ông trưởng phi cơ bay tàu cơm biết chúng tôi hiện đang ở đâu mà đem cho đúng chỗ, nếu không gọi về, ổng cứ tưởng chúng tôi còn ở phi trường Bến Tre như ghi trên bảng phi vụ lệnh thì trưa nay anh em chúng tôi phải treo bao tử.


    Hình minh họa

    Phi trường Đồng Tâm chỉ cách phi trường Bến Tre chừng bảy, tám miles đường chim bay, bay sẽ mất mười phút nếu tính từ khi quay máy cất cánh đến đáp xuống tắt máy.
    Chúng tôi không phải đổ thêm xăng, rồi 5 chiếc slicks và 3 chiếc võ trang chia nhau đậu hai bên phi đạo. Lúc nầy là ban trưa, nắng nóng lên rồi, anh em cảm thấy lười người ra, chỉ muốn ngồi yên trên ghế của mình đợi tàu cơm hơn là bước xuống đi lang thang như mọi khi. Tôi lấy bao thuốc lá ra, đánh lửa hút rồi thử quan sát cái toán quân phía trước mặt mà bọn tôi sắp phải thả họ xuống cái LZ ( Bãi đáp - Landing zone ) nào đó.

    Tôi đoán đây là một Đại đội Địa phương quân có thể là đại đội Thám sát Tỉnh, đại đội nầy cũng có nét giống đại đội thám sát ở Cao Lãnh mà chúng tôi đã từng hành quân với họ, thoạt trông thì thấy rất là ô hợp, lính tráng gì mà ăn mặc xốc xếch, áo bỏ ngoài quần, có vài ông cắc cớ trên thì mặc áo treillis dưới thì mặc quần Mỹ A đen của vợ, đầu họ đội đủ loại mũ: nón sắt, nón nhựa, mũ rằn ri tai bèo kiểu biệt kích Mỹ và cả nón rộng vành kiểu quân đội Tân Tây Lan. Họ mang đủ loại giày : botte de saut có, giày bố có và có cả dép râu việt cộng. Do vậy tôi vẫn nghĩ rằng cái đám nầy chắc là đánh giặc khá lắm đây, giống như đại đội ở Cao Lãnh chăng ? bởi tôi thấy cũng có vài ông mang AK47 thay vì M16, chắc đó chiến lợi phẩm mà mấy ông đó lấy được của vc.

    Không thấy ông nào mang ba lô trên lưng mà chỉ có súng và đạn, đặc biệt họ trang bị khá nhiều lựu đạn, lớp thì đeo lủng lẳng ở hai túi trên, lớp thì đeo ở dây thắt lưng to bản. Tôi đoán chắc cái kiểu nầy là thả mấy ổng vào, cho mấy ổng lục soát mục tiêu chừng vài giờ thôi, rồi phải bốc mấy ổng về. Mấy ổng thấy tàu chúng tôi vừa tắt máy xong, liền di chuyển đến để ngồi đụt nắng ở hai bên hông và sau đuôi tàu. Lại có năm bảy ông bày biện ra nhậu nhẹt, họ ngồi bẹp thành vòng tròn dưới đất cát, rượu đựng trong bi đông thay vì đựng nước uống, họ rót ra cái nắp rồi chuyền tay nhau uống cạn, nói cười ồn ào vui vẻ lắm. Trong đám đó có một vài ông chơi nghịch tung hứng trên tay mấy quả lựu đạn nhỏ cở trái chanh (M 67 ?) như các bé gái chơi banh đũa.

    Nếu bạn không phải là lính tráng, thấy cảnh nầy chắc sợ té đái, chớ chúng tôi biết rõ vận hành trái lựu đạn, cũng giống như trái khói màu của chúng tôi thôi, không khi nào nó nổ bậy, trừ khi mình muốn nó nổ.

    Khoảng 12:30, tàu cơm đến rồi đậu phía sau 3 chiếc võ trang. Chúng tôi đến đó lãnh cơm, mang về tàu mình ăn. Khoảng 12:45 tàu C&C chở quan back seaters đáp xuống và đậu nối đuôi tàu cơm. Ông Đặng thấy chúng tôi đang ăn cơm lở dở thì bảo:

    “Cứ ăn tự nhiên đi, không có gì phải gắp gáp”.

    Gần13:00, tám trưởng phi cơ cùng đến tàu ông Đặng để nghe briefing, tóm lược như sau : Chúng ta sẽ bốc một đại đội tại đây rồi thả xuống khoảng giữa quận Sầm Giang (Vỉnh Kim) và xã Ba Dừa (vc gọi là chiến khu Ba Dừa) nằm cách bờ sông Tiền Giang chừng 500m ở bờ bắc (tả ngạn) vì có tin chừng một trung đội vc thường xuyên hoạt động nơi nầy. Anh em chúng tôi đều biết đây là một vùng vô cùng nóng bỏng, nên rất chăm chú theo dõi phần briefing.

    Nhìn vào bản đồ bộ binh có tỷ lệ xích lớn 1/25,000 tuy không phải ảnh chụp nhưng được vẽ rất khéo, mô tả chỗ nào là rừng rậm, sông rạch, bờ đê hay ruộng đồng ao vũng v.v… sau khi nghiên cứu kỹ vị thế bãi đáp trên bản đồ, tôi hỏi viên Th/tá bộ binh về cái hướng tiến quân, lục soát của quân ta ? Ông cho biết là hướng Bắc. Vậy là O.K rồi, tôi bàn với các trưởng phi cơ bay hợp đoàn chở quân là nên bay dọc theo bờ nam con sông Tiền, khi nào ngang với LZ thì bẻ góc 90 độ băng qua con sông vào đáp ngay, lift đầu cho 'full suppress' (bắn tự do vì chưa có quân bạn ở dưới) đường ra sẽ là ‘180 độ out’. Dù không nói ra, tôi tin các bạn tôi có‎ cùng ‎ý nghĩ giống như đề nghị của tôi.

    Để giảm bớt không khí căng thẳng, một ông trưởng phi cơ nói đùa:

    “Tôi không biết lội nghen anh Quân”

    Tôi cũng đùa lại:

    “Đợi anh uống đầy một bụng nước, tôi mới tới vớt anh lên”.

    Quay sang anh Phát, tôi bảo:

    “Gunship 3 theo chúng tôi, nhớ đánh hết rockets trước khi slicks vào đáp nghen”.

    Quay qua Ẩn, tôi nói:

    “Hợp đoàn các anh đến sau chúng tôi chừng 7, 8 phút, chúng tôi cần dọn kỹ LZ trước khi các anh vào đáp”.

    Rồi tôi hỏi Th/t Đặng là :

    “Tôi ‘plan’ (phác họa) như vậy, Th/t thấy có gì không vừa ‎ý? ”

    Và Sếp của tôi gật đầu đồng ‎ý. Ông Đặng thường bay C&C cho phi đội chúng tôi, cả hai bên làm việc rất tâm đầu ‎ý ‎hiệp, ông biết anh em chúng tôi có khá kinh nghiệm bay hành quân bởi do tất cả rất chịu khó bay và có ‎tinh thần trách nhiệm cao, ít có cụ nào kiếm chuyện tránh né hay lặn vọt. Thế là mạnh ai trở về tàu nấy, đồng ‎ý với nhau làm sớm nghỉ sớm, tất cả 9 chiếc quay máy sửa soạn cất cánh vào vùng.

    Tàu C&C cất cánh trước, tôi dẫn 2 chiếc võ trang theo sau, ba chiếc bay đội hình tác chiến. Trong khi đó hợp đoàn Slicks bang ra phi đạo cho lính leo lên, mỗi tàu 12 người nghĩa là chở được một nửa đại đội ngay chuyến đầu.

    Đến vùng, tôi biết ngay đâu là bãi đáp, tuy nhiên chúng tôi tiếp tục bay hàng một làm vòng tròn giữ cao độ 1,500 bộ phía sau tàu C&C ở 2,000 bộ, để quan sát kỹ LZ và rồi tàu C&C bay vào bãi đáp, ném khói màu xuống, đợi khói bốc lên, ông Đặng nói :

    -Diều Hâu có thấy ‘red smoke’ (khói đỏ) không? LZ là ở đó.

    -Đáp nhận Ác Điểu 55. Diều Hâu 2 và 3 theo tôi, chúng ta bắt đầu vào đánh. Target đầu là con rạch phía tây bãi đáp, chúng ta đánh từ chỗ ngã ba sông, đánh dọc theo con rạch kéo dài lên phía bắc.

    Tôi biết Phát đánh rocket còn yếu vì còn đang thời gian huấn luyện bay võ trang, chưa đánh chính xác lắm, vì vậy tôi bay ngay trên đỉnh con rạch, cao độ chừng 500 đến 700 feet, thì thế nào rockets của Phát cũng phải nổ ở hai hàng cây ở hai bên con rạch. Tôi nhắc Phát mỗi ‘pass’ nên đánh từ 3 đến 4 quả, nghĩa là sau 3 hoặc 4 ‘pass’ phải hết 2 bó rockets (14 quả loại 70 ly). Pass thứ hai, tôi chọn những lùm cây dọc theo con đê phía bắc bãi đáp và ‘pass’ sau cùng cũng sẽ là những lùm cây ở phía đông. Có nghĩa là 3 hướng bắc-đông-tây, chúng tôi đã dọn dẹp kỹ, còn hướng nam tương đối trống trải sẽ rãi đạn Minigun là được rồi.

    Bây giờ tôi đã thấy hợp đoàn Slicks còn cách LZ chừng 2 miles, tôi bảo Gun 3 lên cao 1,500 bộ bay phía sau tàu C&C, còn tôi và Gun 2 bắt đầu xuống thấp bay rà sát mặt ruộng, đoạn tôi bay vào chỗ tàu C&C thả khói đỏ khi nãy, bảo anh cơ phi thả một trái khói để hợp đoàn Slicks biết mà quẹo phải vô đáp. Giờ thì hợp đoàn đã quẹo phải, tức là vào ‘final’(cận tiến) và tàu nào cũng cho tác xạ M 60 vào phía bắc cũng như hai bên bãi đáp, Gun 1 và Gun 2 bay ra rước họ vào, tôi bảo Gun 2 bảo vệ bên sườn phải của hợp đoàn, còn tôi sẽ bảo vệ bên sườn trái tức là phía tây của bãi đáp. Hợp đoàn bắt đầu giảm dần cao độ và tốc độ để touch down (chạm đất), hai chiếc Guns bay lướt qua họ và bay xa hơn bãi đáp chừng 50 thước, Gun 2 quẹo phải rồi sẽ bay hình quả trám theo chiều kim đồng hồ che chở bên sườn phải của hợp đoàn, trong khi đó bên sườn trái tôi cũng làm như thế, cũng bay quá bãi đáp rồi quẹo trái để bay hình quả trám theo chiều ngược kim đồng hồ thì tàu tôi bị ‘ground fired’(bị bắn), viên phi công phó bị thương.

    Than ôi, đang lúc cơm sôi mà lửa tắt nghĩa là ‎trong khi hợp đoàn đang ‘touch down’ thì dù tàu tôi có người trúng đạn vẫn không thể rời vùng ngay được, tôi làm một vòng quả trám nữa để bảo vệ hợp đoàn, đưa họ ra an toàn rồi chừng đó tôi báo cáo với C&C, xin rời vùng. Tôi gọi chiếc Gun 3 theo tôi về đáp hồ nước ngọt, còn Gun 2 ‎thử hỏi ông Đặng muốn sao? Lên cao và ở đây với ông, hay theo hợp đoàn về Đồng Tâm đáp chờ tôi. Tôi cũng nói cho tất cả hợp đoàn biết là :

    “Sau khi đáp hồ nước ngọt, tôi nhờ T/u Phát chăm sóc T/u Đắc.Hồ đưa đi Quân y viện cấp cứu, tôi mượn copil của chiếc Gun 3 lên bay với tôi tiếp tục hành quân”.

    Th/tá Đặng rối rít hỏi tôi:

    “Anh Đắc bị thương có nặng lắm không ?”.

    Tôi trả lời :

    “Tôi không thấy trầm trọng lắm, để xem xét kỹ, tôi sẽ gọi lại”.

    Đắc bị đạn ở dưới cổ, phía sau ót, đường kính của vết thương nhỏ cở đường kính cây bút chì, máu không ra nhiều. Tôi bảo Đắc thử vận động hai tay, rồi hai chân, thử hít vào thật sâu rồi thở ra thật mạnh, khi làm như vậy Đắc có cảm thấy đau ở đâu không? Đắc thử đếm ngược từ 20,19,18…được không? Tôi nghe giọng nói của Đắc cũng bình thường không ngọng nghịu hoặc đớt đát gì cả nên tôi an tâm. Tôi và 3 anh trên tàu đều nghĩ tầm đạn đã đi quá xa trước khi trúng vào Đắc vì cả 4 đứa trên tàu không nghe tiếng súng nổ, chỉ nghe một tiếng ‘rẹt’ từ phía tay phải bắn qua và sau đó Đắc báo là bị thương. Thằng ‘vịt con’ nầy chắc chắn nấp ở con rạch chạy hướng nam-bắc, cái chỗ mà tôi dẫn Gun 2 và Gun 3 đánh đầu tiên.

    Bây giờ tôi mới gọi lại ông Đặng, báo cáo rõ cho ổng biết tình trạng của Đắc và cũng báo luôn hợp đoàn biết :

    “Hãy chờ tôi chừng 5 đến 10 phút vì tôi có vài việc phải làm như : giao Đắc cho Phát săn sóc, tắt máy kiểm soát lại tàu v.v…nếu tất cả đều o.k, chúng tôi trở qua Đồng Tâm tiếp tục thả toán thứ hai, cũng là toán chót”.

    Chỗ nầy chắc có bạn hỏi : Tại sao không để Gun 2 dẫn Gun 3 thì không gián đoạn hành quân khoảng 5, 10 phút như vậy ? Xin thưa , lúc nầy trưởng phi cơ bay Gun 2 còn mới, chưa hề bay lead hành quân lần nào, qu‎‎ý vị ạ.

    Còn tiếp....

    Diều Hâu NGUYÊN QUÂN

    https://www.facebook.com/photo.php?f...&theater&ifg=1

    Leave a comment:


  • BachMa
    replied
    Ổ Bánh Mì Cuối Cùng

    Ổ Bánh Mì Cuối Cùng
    Cao Nguyên 569
    (Tưởng niệm bạn đồng đội Nguyễn Anh Văn)

    (Chuyện về khóa 5/69 HSQ/Cơ Phi là một chuyện dài, nói đến những nhân vật của 5/69 nếu không khai ra nickname thì không phải là ma 5/69; Văn ông cụ tức Nguyễn Anh Văn là một nhân vật hiền lành, mới 18 tuổi mà tánh đã như một ông cụ 70. Nhưng chiến cuộc đã không từ một ai, Ông cụ Văn đã hy sinh đúng một tháng trước ngày 30/4/1975 ).


    Hình minh họa

    ...Đó là những ngày mà người dân Sài Gòn chộn rộn với việc đi và ở; cùng lúc đó, hàng trăm ngàn dân từ miền Trung và Tây nguyên cũng bám theo các đơn vị quân đội “di tản chiến thuật” kéo về. Sài Gòn trở nên chật chội, hổn độn. Tháng ba, khuôn mặt của Hòn Ngọc Viễn Đông đã mang dáng dấp của một người hấp hối.

    Từ tháng giêng 1975, đã có lệnh cấm quân 100%, Quân cảnh ở các cổng Sư đoàn canh gác thật nghiêm nhặt; tuy vậy, với các anh lính KQ đi mây về gió luôn có đủ mọi cách để qua khỏi cổng vù về Sài Gòn, bởi Sài Gòn-Biên Hòa chỉ cách khoảng 30 cây số.

    Nhóm chúng tôi có 4 HSQ phi hành được lệnh thuyên chuyển từ Sư đoàn 1KQ về miền Nam. Tôi và Văn xin về Biên Hòa, Giao và Thống, hai Thượng sỉ đều về Cần Thơ, cả bốn đều là những Cơ phi gạo cội của PĐ 239, bởi hết hạn đi xa được xin về gần theo nguyện vọng. Tôi, Thống và Văn cùng khóa nghiệp vụ ra trường đi Đà Nẳng năm 1971, Giao là nhóm Cơ phi đầu tiên được đào tạo từ KQ cơ hữu ra trường năm 1969 nên còn chút hơi hám H-34 của Phi đoàn kỳ cựu 219, trưởng thành từ 213 và sau cùng trụ lại tại 239 đến lúc đổi về SĐ4KQ.

    Về PĐ 231 Biên Hòa, Cụ Văn và tôi đều là tân binh nên được trưởng toán ưu ái cắt bay các phi vụ lẻ tẻ(slick). Chắc ông Th/sỉ 1 trưởng toán cơ phi cũng không cần biết trong số 2 tân binh kia lại có một tay gunship cừ khôi của vùng 1. Tôi cũng chỉ biết mang máng rằng người cầm sự vụ lệnh ra thế chổ tôi ở PĐ 239 là Đăng Cò cũng cùng khóa, cùng trung đội, cùng phòng với tôi từ năm 1969.

    Nhưng sau đó nghe lại Đăng cò cầm Sự Vụ Lệnh nằm nhà chơi, mãi cho đến lúc Đà Nẳng “ over run” mới vô Bộ Tư Lệnh trình diện và đi Vùng 4 tỉnh queo ! May mà Đăng Cò không bị dính chưởng “quá 24 giờ báo cáo đào ngủ”, nếu không chắc cũng nằm quân lao rồi ra tòa án quân sự và bị đưa ra Bộ binh như ông bạn đồng ngủ Tống Lý Guns của tôi - ông bạn nầy thì xui xẻo hơn, hai lần được chiến thương bội tinh, bị dính hai lần báo cáo đào ngủ, hai lần ra tòa án quân sự, nhưng trong cái xui còn có cái hên, tòa án quân sự tuyên giử nguyên cấp bậc, lột chỉ số Phi Hành cho xuống đất, nhưng mà đất là của “tia chớp miền Đông – SĐ25BB” !


    Tong LH - Cơ phi gunship 233

    Khóa 5/69HSQ Cơ Phi chúng tôi lúc tỉnh táo ngồi kiểm tra lại sao mà quái đản, gian truân...

    Bởi đã từng nếm mùi Hạ Lào-Khe Sanh với Lam Sơn 719, Bastogne, Quế Sơn, Ba Tơ, mùa hè đỏ lửa 1972, trong đó có cả việc tái chiếm cổ thành Quảng Trị..nên khi đổi về Biên Hòa tôi và Văn đều cảm thấy khá nhàn nhả trong công việc. Ba tháng làm việc tại PĐ 231 chúng tôi như thui thủi, có tên thì bay, không là dù về Sài Gòn mặc dù hơn 2/3 quân số cơ phi của phi đoàn là cùng khóa, nhưng mãi đến sau nầy khi tan hàng mới biết những cái tên ấy ở cùng phi đoàn với mình. Hoa tiêu cũng vậy, do có khoảng cách hơn so với hoa tiêu vùng 1, lại thay đổi phi hành đoàn thường xuyên nên hầu như chưa quen thân được ai !

    Người bạn cơ phi đầu tiên tôi gặp ở PĐ 231 là Thạnh bà ruồi. Thạnh cùng khóa 2 CPTT với tôi, ra trường đi Đà Nẳng một năm thì xin hoán chuyển về Biên Hòa, lúc rời PĐ 233 bà ruồi Thạnh cũng Tr/sĩ như tôi, nhưng khi gặp lại thì hắn đã mang lon Th/sĩ, tôi hỏi ở Biên Hòa sao mày lên lẹ vậy , Thạnh chỉ cười nói:

    - Ai biết, nó cho lên thì lên...

    Còn tôi, nếu không nhờ cái phi vụ đặc cách tại mặt trận và cái Quân Công Bội Tinh với Nhành Dương Liểu Ngôi Sao Bạc chắc lúc đổi về Biên Hòa vẫn còn trinh nguyên hai cánh gà chiên bơ như lúc ra trường. Phân nữa Cơ phi K5/69 ra Đà Nẳng sau 4 năm vẫn dậm chân tại chổ bởi ông Phòng nhân viên Sư Đoàn làm việc rất tận tình, cứ trể phép là quất 8 củ ghi quân bạ; lon còn không cho lên nói gì chấp nhận đơn xin đi Sĩ Quan!

    Hình như cả nhóm thuộc K5.69CP ra Đà Nẳng chỉ có một tên duy nhất được gọi đi Sĩ Quan sau khi đậu Tú tài 1 là Võ ngọc Trác PĐ 233, trong khi đó ở các vùng 3 và 4 số Cơ phi khóa 5/69 lần lượt được gọi đi Sĩ Quan khóa 72, 73 khá đông. Nhưng một ngày sau khi biết tin đi học Sĩ Quan trong phi vụ tiếp tế cuối cùng cho chi khu Ba Tơ - Quảng Ngãi trước khi chia tay Vùng 1, chiếc Slick của Trác bị nổ tung vì SA-7. Hôm đó tôi là cơ phi dằn thùng ở chiếc Guns.1, hốt hoảng khi nghe tiếng kêu may day..may day ..vang vọng của chiếc lead slick cùng một quả cầu lửa bùng nổ trước mặt. Trong intercom lúc nầy không biết là thông báo của lead guns. hay của ai :“ Slick bị SA7 .. hợp đoàn break phải ..” Quả cầu lửa ấy rơi rất nhanh và còn nổ bùng thêm lần nữa lúc chạm đất rồi tắt ngấm giửa rừng sâu ! Ánh sáng của thung lủng Ba Tơ xuống rất nhanh, khi hai chiếc Guns. 239 vòng lại xuống thấp tìm kiếm thì rừng già đã xám xịt, không còn nhìn được điều gì !

    Tuần lể sau đó, chi khu Ba Tơ mất. LZ rescue quá hot, chuyện chiếc slick 233 bị SA7 và người bạn Võ Ngọc Trác của tôi cũng được xếp lại vào hồ sơ mất tích ! Nhưng hình ảnh chiếc slick bùng cháy và tiếng kêu “may day” lạc giọng của viên Phi công 233 vẫn luôn ám ảnh trong tâm trí tôi mãi cho đến bây giờ.


    Dũng Chim - Cơ phi gunship 233

    Nhắc về chuyến bay định mệnh nầy, tôi cũng phải xin lổi cháu Tuấn - con của Hạ sỉ Khanh - xạ thủ chuyến bay này, cháu đã thất công tìm kiếm tung tích của cha mình suốt bao nhiêu năm qua, kể cả việc tìm được địa chỉ điện thoại của Tr/tá Chính Phi đoàn trưởng 233 lúc đó, nhưng tiếc thay ông Chính năm nay tuổi đã cao, không còn nhớ được gì để trả lời, còn tôi chỉ biết được khoảng không gian và thời gian cuối cùng của phi vụ ấy mà thôi, cho nên tuy cháu có gọi nhiều lần để hỏi thăm nhưng thật tình tôi cũng bó tay vì 45 năm qua chưa một lần trở lại.

    Sinh ra và lớn lên ở vùng đất Nam bộ, nơi có tín ngưởng Phật giáo mạnh nên tôi cũng rất âm lịch, cảm thấy lo lắng khi biết mình đã có Sự Vụ Lệnh về Bộ Tư Lệnh Không Quân trình diện nhận quyết định đi học khóa 31 Sĩ Quan Đà Lạt, mà thật ra Sự Vụ Lệnh trình diện là từ tháng 2/1975, tôi thì thuyên chuyển đơn vị từ Đà Nẳng về Biên Hòa từ tháng giêng, có lẻ vì vậy mà cái Sự Vụ Lệnh nó lẻo đẻo theo sau mãi đến tháng 3/1975 tôi mới được tin, sau nầy tôi được biết Khóa 31 Đà Lạt đã làm lể gắn alpha từ giửa tháng ba, và lúc tôi nhận được Sự Vụ Lệnh cũng là lúc Trường Võ Bị bắt đầu di tản, thế nên cái sự nghiệp bay bổng của tôi vẫn còn kéo dài đến ngày 29 tháng ba với phi vụ bảo vệ không phận Sài Gòn; đây là chuyến bay đêm đầu tiên của tôi ở đơn vị mới 231 này nhưng cũng là phi vụ cuối cùng của đời binh ngủ.

    Nói đến chuyện đi học Sĩ Quan, các bạn cùng khóa của tôi đến tuổi nầy vẫn còn ấm ức. Vào lính, cái ranh giới Sỉ quan và Hạ sỉ quan chỉ có một khoảng cách nhỏ là cái bằng Tú Tài 1. Năm 69 rớt Tú tài 396 thằng thư sinh đăng ký đi Hạ Sĩ Quan Cơ Phi, hai năm sau - 1971, hơn phân nữa thi đậu nhưng khi nộp đơn đi học Sĩ Quan thì bị từ chối theo hai lý do: - bị nhiều ngày trọng cấm trong quân bạ, thứ hai lại đúng vào lúc mùa hè đỏ lửa diễn ra, Vùng 1, Vùng 2 dân phi hành rụng như sung, Không Đoàn Tác Chiến có lệnh giử cơ phi lại chờ bổ sung và cứu xét sau.

    Có lẻ do tự ái hơi cao nên tôi quyết tâm học và thi cho bằng được Tú tài 2, sau đó tôi và một số ít bạn cùng khóa đã thành công vào năm 1973; việc nầy đã làm tăng uy tín của Khóa 5/69CP chúng tôi rất nhiều. Hơn nữa, vì hàng ngày trực diện với thần chết nên phần lớn Phi công trực thăng Vùng 1 cùng với anh em phi hành đoàn rất có tình, rất cởi mở và chan hòa. Mãi đến hôm nay sau hơn bốn mươi năm, khi gặp lại anh em vẫn ôm nhau mà rưng rưng nước mắt.

    Cuối năm 1973, tôi tiếp tục nộp đơn trở lại học khóa Sĩ Quan, nhưng là Sĩ Quan Đà lạt. Lần trước, đơn của tôi bị từ chối vì dính 12 ngày trọng cấm trong quân bạ, về Sư Đoàn 3 KQ được ba tháng bất ngờ lại có lệnh gọi, có lẻ cũng nhờ cái vụ đặc cách mặt trận và huy chương Quân Công Bội Tinh nên được xét lại. Nói là tình nguyện đăng ký đi Sĩ Quan chứ thật ra sau năm 72 dân đi bay dằn thùng như chúng tôi đã lạnh cẳng lắm rồi. Có Tú tài 2 đăng ký đi Phi công sợ không đủ thước tấc, thôi chui vô trường Võ Bị bốn năm cho yên thân, có khi ra trường thời cuộc đã yên, khỏe hơn.


    V.H.Hạnh và Đăng-cò - Cơ phi gunship 231

    Và đêm 29 tháng ba, là phi vụ cuối của tôi với PĐ 231 để sáng hôm sau vác sắc-ma-ranh hiên ngang ra cổng về Sài Gòn.

    Thường cuối tuần, trưởng toán cắt bay trước 2 ngày nên tôi đã biết trước công tác của mình. Xuống ca ngày thứ sáu, về Sài gòn thứ bảy, sáng sớm Chúa nhật tôi đã trở lên phi đoàn chuẩn bị cho chuyến bay lúc 5 giờ chiều.

    Theo thông lệ, Phi hành đoàn thường ra máy bay trước 30 phút để check tàu. Check tàu là nghề của chàng nên sau 2 phút leo lên leo xuống rờ rẩm "bia ring", phủi cát ống "ét zốt" tôi báo cáo với Trưởng phi cơ Tr.úy K là tàu đã clear. Nhưng còn 5 phút đến giờ cất cánh vẫn không thấy anh xạ thủ đâu, Trưởng phi cơ nhắc tôi vào lại phòng nghỉ tìm, 15 phút sau vẫn bặt tin, thấy vậy Th/tá Phi đoàn phó ra lệnh :

    - Anh vào phòng nghỉ xem có anh Cơ phi nào ở không kêu đi thế ..Xạ thủ vắng mặt để kỷ luật sau.

    Đúng lúc đó Cụ Văn của tôi lù lù xuất hiện, anh mới nhảy tàu lửa từ Sài Gòn lên, cái túi helmet trong tay chắc có đồ ăn nên thấy hơi nằng nặng.

    - Ê, Văn đi bay tối nay, mai khỏi đi hành quân !

    Có lẻ cũng tại cái bệnh lạnh cẳng như tôi nên mặc dù có chống chế vài tiếng.

    - Văn mới lên..chưa ăn cơm..

    Nhưng sau đó do tôi níu kéo quá nên Văn cũng nhận lời và cùng tôi ra tàu ngồi vào ghế xạ thủ bay về Sài Gòn. Tôi còn hứa ngọt:

    - Về Tân sơn Nhất mình mua bánh mì cho ăn trừ cơm.

    Tàu đáp Tân Sơn Nhất trời vẫn còn sáng, phía sau chúng tôi là chiếc Gunship bệ vệ hai giàn minigun 6 nòng và hai pod rocket 17, Cơ phi chiếc gunship cũng là bạn cùng khóa tôi - Tăng Lê mặc bộ nomex oai vệ bước xuống :

    - Ê Lùn mầy đổi về hồi nào tao không biết ! Ở đây covers cho slick chỉ có một chiếc gunship thôi, tối nay tụi tao bay với tụi mày. Ủa mà sao có thằng Văn Ông Cụ nữa ?

    - Thì vắng Xạ thủ, Phi đoàn phó lệnh cụ Văn lên ngồi dằn thùng cho đủ bộ ! Ê mày có ăn bánh mì không để tao mua luôn ?

    - Ừa, tao cũng đang đói bụng.

    Vừa trả lời Tăng Lê, tôi vừa tiến tới ụ gác phi đạo hỏi muợn chiếc Honda 67 của một bạn phòng thủ phóng nhanh ra cổng Phi Long tìm mua bánh mì vì cái bụng tôi lúc nầy cũng đã có dấu hiệu biểu tình dữ lắm

    Hoàng hôn ở sân bay Tân Sơn Nhất khá buồn, quanh hai chiếc UH chúng tôi đậu chờ phi lệnh là các ụ nổi chống đạn hình chử L dành cho F-5 và A-37, thỉnh thoảng lại có một chiếc AC-119 và AC-47 taxi ngang để ra phi đạo cất cánh, có những cánh tay đưa lên chào khi máy bay đi ngang, tôi đoán chắc đó là những con ma cơ phi 5/69 của của chúng tôi. - Ừ thì giờ tụi mày bay sớm ra tiền đồn thả hỏa châu đi. Đêm nay tụi tao ít nhất cũng phải 3 “rai” quanh Sài Gòn chớ chẳng chơi.


    Cố Th/s Nguyễn Anh Văn - Khóa 5/69 Cơ phi

    Không hẹn mà gặp, tự lúc nào, ba chúng tôi lại cùng gối đầu trên chiếc càng đáp vừa nhai bánh mì, vừa kể chuyện mưa nắng, gió sương. Còn Cụ Văn, cứ lẩm nhẩm về quán cà phê Thạch Thảo-Đà Nẳng, bởi Cụ đã si tình nàng Nguyệt Duyên ngồi “két’ từ lúc nào. Hèn gì, hôm nào xuống ca ,nếu có ai muốn tìm Văn thì cứ đến cà phê Thạch Thảo.

    Đêm đó chúng tôi lên vùng ba lần như phi lệnh. Sài Gòn giới nghiêm nên không khí như hoang vắng lạnh lùng. Đêm Sài Gòn ít đèn nên không gian như nhỏ lại. Hai chiếc UH cứ lầm lủi dọc theo sông Sài Gòn, cây xăng Nhà Bè, rồi lên Hóc Môn, Củ Chi.. Tay tôi điều khiển chiếc đèn chùm như cái máy. Trời chớm hè nhưng sao lành lạnh. Tôi bấm intercom hỏi cụ Văn :

    - Lạnh không Văn !

    Văn trả lời giọng như con gái 16:

    - Hơi hơi lạnh.

    Và đó cũng là lời nói cuối cùng mà tôi nghe được từ người bạn cùng khóa của đồng đội nầy.

    ….. Chiếc đồng hồ đeo tay của tôi dừng chạy lúc 4 giờ 59 phút sáng, là thời điểm chiếc slick của tôi rớt. Khi tôi tỉnh lại ở Tổng Y Viện Cộng Hòa, thấy Tăng Lê vào thăm, hắn nói :

    - Mày bị văng ra khỏi tàu hơn trăm thước.

    Mọi việc xẫy ra rất nhanh, hình như lúc đó bụi cát mù mịt, hai tai tôi vang lên những tiếng.o.o.o một cách lạ lùng.Trong mơ màng tôi nhớ hình như có Tăng Lê kêu..L. ơi !... L. ơi ! mầy ở đâu !

    Chiếc slick của tôi khi rớt đã lật nhào sang trái, nơi có ông Cụ Văn ngồi dằn thùng . Bác sỉ nói tụ máu não không giải phẩu kịp! Tôi lặng đi rất lâu vì cái chết của Văn..Tôi cứ dằng dặt mãi về sau nầy:

    - Phải chi mình đừng kêu Văn đi ! Ổ bánh mì tôi mua cho Văn buổi hoàng hôn ngày 29 tháng 3 năm ấy cũng lởn vởn theo tôi suốt nhiều năm liền.

    Ông cụ Văn chết, tôi tiếp tục nằm bệnh viện thêm hai tuần, lúc cầm giấy chuyển viện về Trung Tâm Y Khoa KQ TSN thì đã 28 tháng 4…


    Cao Nguyên 569
    (Tưởng niệm bạn đồng đội Nguyễn Anh Văn)

    https://www.facebook.com/photo.php?f...type=3&theater

    Leave a comment:


  • BachMa
    replied
    Kết Quả Trận Hạ Lào

    Kết Quả Trận Hạ Lào
    BÙI ANH Trinh



    Hình minh họa

    24 Mar 1971, Laos-South Vietnam Border --- Laos-South

    Về tổn thất nhân mạng, phía VNCH có 1.146 chết, 4.326 bị thương, mất tích 246. Phía Mỹ có 102 phi công hoặc nhân viên phi hành bị chết, 215 bị thương và 53 mất tích, mất 92 trực thăng và 5 máy bay chiến đấu.

    Trong khi đó tin tức của phía CSVN do CIA thu thập được tại Vạn Tượng là số thiệt hại của Bắc Việt rất nặng. Và nguồn tin tình báo tại Hà Nội cho biết con số người chết chính xác là 16.224 người.

    Số vũ khí của CSVN bị tịch thu là 1.968 vũ khí cộng đồng, 4.545 vũ khí cá nhân. Phá hủy và tịch thu 128.000 tấn đạn dược, 1.300.000 phuy xăng dầu, phá hủy 8 cây số đường ống dẫn dầu, 100 xe tăng, 291 xe tải. (Tài liệu của Ngũ Giác Đài do Tướng Nguyễn Duy Hinh công bố).

    Đối với phía Hà Nội

    Tuy nhiên con số 16.000 bị chết không nghĩa lý gì đối với Hà Nội, con cái ai chết chứ con cái các ông không chết (đều đi du học hoặc vào binh chủng phòng không đóng tại Hà Nội).

    Đối với Hà Nội thì lính chết như gà vịt chết, họ không phải tốn tiền bồi thường tử tuất cho gia đình người chết cho nên họ vô tư với con số bộ đội bị chết. Họ cũng không lo với những bộ đội bị thương, bởi vì người bị thương nặng thì sẽ chết dọc đường trong rừng núi do không có phương tiện cứu chữa cũng như không có thức ăn, nước uống.

    Còn những người bị thương chạy về được chỗ an toàn thì coi như là những người mạnh khỏe, lại được đẩy trở vào chiến trường !!

    Nhưng Hà Nội thực sự mất hồn đối với số vũ khí và khí tài bị mất mát trong trận chiến vừa qua (Hằng trăm ngàn tấn đạn dược, hằng triệu phuy xăng dầu ). Nếu Liên Xô và Trung Quốc nản lòng không tiếp tục viện trợ nữa thì hy vọng chiến thắng của họ trở thành quá xa vời, trong khi đó không biết lấy đâu để trả nợ chiến phí cho các chủ nợ).

    Rồi lấy đâu gạo thóc để tiếp tục nuôi dân Miền Bắc trong khi lấy cớ chiến tranh nền sản xuất nông nghiệp của Miền Bắc đã bị tê liệt. *(Thực ra mùa màng tê liệt là do cái phi lý của chế độ sản xuất Xã hội chủ nghĩa, người rờ tay vào thì có nhưng người thực sự làm thì không).

    Hà Nội sẽ thực sự lâm vào tình trạng vỡ nợ và đói kém như Bắc Hàn hay Cuba ngày nay nếu Washington đánh giá được rằng quân VNCH đã chiến thắng oanh liệt, nghĩa là vừa mới đập tan mọi khả năng xâm chiếm Miền Nam của tập đoàn lãnh đạo Hà Nội.

    Chiến thắng được cố tình xem như chiến bại

    Tài liệu lưu trữ của Đại sứ Bunker do Stephen Young phổ biến:

    “Ngày 9-3 Thiệu tuyên bố kết thúc cuộc hành quân Lam Sơn. Phải nói rằng, chưa bao giờ có cuộc thắng lợi to lớn như cuộc hành quân này…(Bản dịch của Nguyễn Vạn Hùng trang 407).

    “Sau cuộc hành quân Lam Sơn 719, trong suốt năm 1971 địch quân hoàn toàn tê liệt và không có một cuộc tấn công quan trọng nào xảy ra tại Miền Nam Việt Nam. Chẳng những thế, lúc này Bắc Việt chỉ lo tự vệ trước những cuộc hành quân do phía Miền Nam Việt Nam thực hiện tại Cam Bốt và Lào”.(Bản dịch của Nguyễn Vạn Hùng, trang 410).

    Nhưng tài liệu của Đại sứ Bunker cũng cho thấy Washington không thừa nhận chiến công của quân đội VNCH

    “Giới truyền thông báo chí theo dõi tin tức cuộc hành quân Lam Sơn 719 đã lừa đảo dân chúng bằng cách tường thuật quân đội Miền Nam Việt Nam như kẻ bị đánh bại…

    Ngay cả Tòa Bạch Ốc cũng tỏ ra khốn đốn trong suốt cuộc hành quân này diễn ra. Mặc dầu Bunker luôn luôn cung cấp và liên lạc với Kissinger để thông báo tình hình hành quân đang lạc quan nhưng ngay từ đầu, Hoa Thịnh Đốn cũng thiếu tin tưởng và xem việc quân đội Miền Nam rút quân là một sự thất bại”. (Stephen Young, Victory Lost, bản dịch của Nguyễn Vạn Hùng trang 410).

    Mãi về sau này Bunker vẫn không hiểu nổi thái độ của Washigton trong khi người tổng chỉ huy trận đánh là Tướng Abrams đã liên tục báo tin thành công của chiến dịch Lam Sơn 719 cho Bunker, và Bunker liên tục báo về Washington, thế nhưng Washington cố tình không công nhận các báo cáo của Buker để một hai cáo buộc Thiệu đã để thua tại Hạ Lào.

    Tiếc là hồi ký của Tướng Haig đã ra đời quá trễ cho nên Bunker chết trước khi biết được sự thực rằng chính Nixon và Kisinger mới là những nhà thiết kế của cuộc hành quân. Nhưng theo thiết kế của Nixon thì quân VNCH phải đóng chốt tại Tchepone khoảng hai tháng để nhử cho quân CSVN tập trung lại chung quanh Tchepone như đã từng tập trung tại Điện Biên Phủ.

    Mưu đồ của Nixon và Kissinger là đợi sau khi quân CSVN tập trung hết xung quanh Tchepone thì B.52 sẽ hủy diệt toàn trận địa. Vì vậy mà Nixon và Kissinger đã rung đùi khi xem trên báo thấy hình ảnh Tướng Phạm Văn Phú đứng chụp hình với các phóng viên chiến trường ngay trong thành phố Tchepone đổ nát vào ngày 8-3 năm 1971.

    Trong cơn đắc chí Nixon và Kissinger hoàn toàn không ngờ là chỉ qua ngày hôm sau Thiệu đã cho lệnh rút quân khỏi Tchepone đã đành mà còn rút khỏi Hạ Lào, chấm dứt cuộc hành quân.

    * (Lệnh rút lui của Tướng Thiệu không trái với lệnh hành quân của Ngũ Giác Đài bởi vì thời gian quân VNCH lưu lại Tchepone dự trù là 2 tháng nhưng sẽ do phía VNCH tùy tình hình quyết định. Trong trường hợp không có trực thăng tiếp tế thì Tướng Thiệu bắt buộc phải cho rút sớm chứ không thể nào làm khác hơn. Có điều không ai ngờ là ông ra lệnh chỉ cần vào Tchepone đái một bãi rồi rút).

    Mãi đến ngày 16-3 phía VNCH mới xin trực thăng của Mỹ để di tản Tiểu đoàn 1/4 Bộ binh thì Abrams lờ mờ hiểu được kế hoạch rút quân của Tướng Thiệu nhưng ông giả vờ không biết và bay sang Thái Lan thăm vợ. Đúng 1 tuần sau ông trở về và giả cớ uống rượu từ trưa tới tối để khỏi phải nghe báo cáo về diễn tiến rút quân của VNCH.

    Nixon và Kissinger hoàn toàn thất vọng

    Đến ngày 23-3-1971, khi B.52 bắt đầu thả bom hủy diệt quân CSVN lẫn Tiểu đoàn 4 TQLC/ VNCH thì Kissinger mới biết được là tất cả các cánh quân của Sư đoàn 1 BB, Sư đoàn Dù và Lữ đoàn 1 Thiết kỵ đã về bên này biên giới, chỉ còn 1 Lữ đoàn TQLC đang cách biên giới 5 cây số, cuộc hành quân sắp hoàn tất.

    Biết được tin này Kissinger chạy vào Bạch Ốc đòi Nixon cách chức Abrams. Nixon ra lệnh cho Chuẩn tướng Haig ( phụ tá của Kissinger ) ngày mai sang VN thay thế cho Đại tướng Abrams. Hồi ký của Haig cho biết ông đã thoái thác và khuyên Nixon bình tỉnh lại, nhờ vậy Nixon mới tha cho Abrams nhưng dứt khoát không công nhận kết quả chiến thắng của trận Hạ Lào.

    Trong khi đó thì CIA đã lỡ thuê báo chí tung tin quân đội VNCH hèn nhát không dám tử chiến với quân CSVN. Nay nhân dịp rút lui của VNCH báo chí Mỹ bèn kết luận là VNCH thua trận. Đối với chuyện này, trong cuộc trả lời phỏng vấn cho báo Spiegel của Đức vào năm 1979, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cho biết:

    “Ba ngày sau khi mở cuộc hành quân, Mỹ đã tổn thất nhiều phi công trực thăng, và nếu không có không lực và hỏa lực yểm trợ thì họ không chịu tiếp tục cất cánh để di tản thương binh kịp thời và trọn vẹn! Đó là một vấn đề nan giải cho quân mình…”

    “Ông Thiệu cố tránh không đổ tội cho người Mỹ. … sự thật là một số phi công trực thăng Mỹ đã thiếu tinh thần chiến đấu trong cuộc hành quân đó”.(Trả lời phỏng vấn cho báo Der Spiegel, Đức, ngày 1-2-1979. Bản dịch của Cung Thúc Tiến).

    Có lẽ cho tới những ngày cuối đời ông Thiệu cũng không thấy ra sự thực là lúc đó Nixon và Kissinger muốn dùng báo chí Mỹ kích cho quân đội VNCH phải tử chiến để dụ địch tập trung nhiều hơn nữa. Vì tự ái dân tộc mà các chiến binh VNCH sẽ quyết tâm tử chiến để chứng minh quân đội VNCH không hèn nhát. Và quan trọng nhất là không cho phép Tướng Thiệu viện lý do không có trực thăng mà ra lệnh rút lui, hễ rút lui là hèn nhát…!!

    Nếu ngày đó quân VNCH trụ lại Tchepone trong thời gian khoảng từ 1 đến 2 tháng theo như mong đợi của Nixon thì chắc chắn quân CSVN sẽ khóa chặt đường về và đương nhiên Tchepone trở thành Điện Biên Phủ thứ hai, lúc đó người ta chỉ còn có một cách hay nhất là thả bom nguyên tử như người ta đã từng dự trù thả xuống Điện Biên Phủ năm 1954 hay dự trù thả xuống Khe Sanh năm 1968; hoặc tốt hơn hết là dùng bom rải thảm B.52 hủy diệt toàn trận địa.

    Cũng may là Tướng Thiệu đã giải quyết vấn đề rất kịp lúc. Phải nói rằng cả đoàn quân 17 ngàn người đã thoát chết trong đường tơ kẽ tóc mà không hay. Không chết vì 8 sư đoàn quân CSVN thì cũng chết vì bom B.52.

    Nhưng không ai lường được sự ác nghiệt của số phận. Nếu thuở đó 60 ngàn quân CSVN chết cùng với 17 ngàn quân VNCH thì chiến tranh đã ngã ngũ ngay từ ngày đó, không đến nỗi quân CSVN phải chết thêm 724 ngàn người và quân VNCH chết thêm 100 ngàn người (sic). Và Mỹ không đến nỗi mang tiếng thua trận….!!


    ANH Trinh

    https://www.facebook.com/photo.php?f...type=3&theater

    Leave a comment:


  • BachMa
    replied
    Những Phi Vụ Trao Trả Tù Binh

    Những Phi Vụ Trao Trả Tù Binh
    Hồ Viết Yên



    KQ - Hồ Viết Yên

    Qua email chuyển tiếp, tôi đọc được bài viết "Nhớ Lại Cuộc Trao Trả Tù Binh 30 Năm Trước" của tác giả Cán bộ Việt Cộng (VC) Nguyễn Hoàng Long đề ngày 7/3/2003.
    Bài viết chỉ vỏn vẹn một trang giấy, nên tôi tò mò muốn biết thực hư ra sao, mức độ chính xác như thế nào về câu chuyện trao trả tù binh ngày 10-3-1973, tại thôn Long Quang, xã Ân Tín, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định của vị "Cán ngố" này.

    Cũng vẫn giọng điệu tuyên truyền, những con số đưa ra không chấp nhận được vì không phản ảnh tính trung thực cộng thêm những lời lẽ thù hận, nhục mạ Dân Quân Việt Nam Cộng Hoà (VNCH) và Đồng Minh dầu rằng cuộc chiến đã chấm dứt hơn 27 năm rồi. Thật đáng buồn và ai oán cho kẻ cầm bút thiếu lương tâm, thiếu đạo đức.

    Ngày nay con người Cộng Sản và Việt Cộng đã hiện nguyên hình, ai cũng thừa biết họ là thứ người thế nào. Họ vinh thân phì da, họ quỵ lụy Tàu Cộng, họ xiết chặt và áp bức dân nghèo. Nỗi buồn cho vận nước, nỗi xót xa cho Dân tộc Việt Nam cứ mãi âm ĩ trong tôi. Càng cố quên, không nghĩ tới những việc đã nằm trong quá khứ, nhưng chuyện xưa cứ chập chờn trong trí nhớ, kéo tôi trở về những Phi Vụ xa xưa. Muốn hay không muốn thì những chuyến bay trao trả tù binh vẫn còn đây và ăn sâu trong tiềm thức nên tôi muốn ghi lại để chia sẻ cùng các bạn.

    Hiệp định Paris được ký kết, lệnh ngưng bắn bắt đầu có hiệu lực và kế đến là việc trao trả tù binh giữa hai miền Nam Bắc mà tôi đã có mặt trong nhiều phi vụ này. Cảm nghĩ của tôi lúc đó thật vui vì cuộc chiến sắp chấm dứt, những ngày thanh bình sắp đến trên quê hương. Vui vì sẽ không còn thấy chết chóc, thương tật bởi bom đạn. Vui vì những anh em tù binh của mỗi bên sẽ được trở về sum họp với gia đình, vợ con.

    Thời gian đó Phi Đoàn 237 mỗi ngày biệt phái hai máy bay Chinook để thi hành phi vụ trao trả tù binh. Những phi vụ này được đặt ưu tiên hàng đầu. Tù binh sẽ lần lượt được trao trả theo thứ tự. Thành phần quân Chính quy Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) trước. Sau đó đến những thành phần của mặt trận Giải phóng, VC nằm vùng và những phần tử hoạt động cho VC.

    Mỗi ngày 2 chiếc Chinook cất cánh từ Biên Hoà lên đáp phi trường Trảng Lớn, Tây Ninh. Tại đây Phi Hành Đoàn (PHĐ) đợi chỉ thị của Ủy Ban Quân Sự 4 bên (Gồm: Hoa Kỳ, VNCH, Mặt Trận Giải Phóng và CSBV). Mọi chuyến bay được điều động, thu xếp, và đặt dưới quyền kiểm soát của Ủy Ban Quân Sự 4 bên. Tôi được biết những phi cơ C-130 sẽ chở các tù binh từ Côn Sơn hay Phú Quốc về đây. Họ sẽ qua thủ tục trao trả và sau đó lên Chinook để chúng tôi chở tới địa điểm bàn giao.


    Hình minh họa

    Nhìn các phi cơ C-130 lần lượt đáp, những đoàn tù binh xuống máy bay. Họ được Quân Cảnh VNCH hướng dẫn và sắp xếp mỗi toán 45 người theo sức chở của Chinook.

    Tôi thấy họ không có vẻ gì khác thường ngoại trừ vài người phải chống nạng vì bị thương ở chân, họ nối đuôi nhau, và không ai nói với ai lời nào. Khuôn mặt họ không biểu lộ vẻ vui hay buồn phiền.

    Kế phi đạo, là một khu dành riêng dùng làm địa điểm cho thủ tục trao trả. An ninh, trật tự ở đây là phần vụ của lực lượng Quân Cảnh. Những người tù binh khi đến đây họ có quyền quyết định xin ở lại hay tiếp tục trở về phía bên kia. Ranh giới "Đi hay Ở" chỉ là 1 lằn vẽ, hay những sợi dây. Quyền lựa chọn dành cho mọi tù binh, điều này chứng tỏ sự yêu chuộng Tự Do và lòng nhân đạo của Chính quyền miền Nam Việt Nam.

    Mỗi toán đều được đưa đến lằn ranh "Đi hay Ở". Nếu bước qua lằn ranh thì sẽ được ở lại, còn đứng yên trong hàng thì sẽ lên Chinook để tới địa điểm bàn giao. Mỗi toán đều có vài người xin ở lại. Một số ít người vì đứng cách xa lằn ranh, muốn chạy qua để xin ở lại nhưng không kịp, họ đã bị kéo lại và ăn đòn. Nếu không bước qua được lằn ranh thì Quân Cảnh cũng không được quyền can thiệp. Đó thật là điều oái ăm, tội nghiệp cho ai không may mắn, bị kéo lại. Nhiều lúc ngồi đợi, tôi hỏi chuyện những người lính Quân Cảnh và được nghe họ kể những câu chuyện tù binh CSBV trừng trị nhau trong tù và có nhiều câu chuyện thật ghê rợn. Nghe để thấy con người Cộng Sản thật tàn ác.

    Có lệnh cất cánh bay đến Căn cứ Thiện Ngôn, gần biên giới Campuchia (Lúc này đang ở dưới sự kiểm soát của Việt Cộng). Tôi đã từng đáp vào căn cứ này hằng ngày dưới thời của Đại Tướng Đỗ Cao Trí. Thiện Ngôn là bộ Chỉ huy của Lữ đoàn Dù trong trận săn đuổi và triệt hạ nguồn dự trữ, kho súng đạn và đồ tiếp tế của VC trên đất Miên.

    Chúng tôi cất cánh bay sau chiếc trực thăng UH-1 có sơn màu cam của Ủy Ban Quân Sự 4 bên. Khi đáp xuống Thiện Ngôn, chúng tôi tắt máy và chờ lệnh, tôi bước ra khỏi phòng lái, nhìn về phía những tù binh theo nhau xuống phi cơ.

    Dưới đất đã có các cán bộ VC đến nhận tù binh. Vài người đầu tiên vừa đụng chân tới đất thì bắt đầu cởi quần áo quăng xuống đất, thế là tất cả những người còn lại đều cởi quần áo quăng đầy trong máy bay. Tôi bắt đầu thấy họ không còn như khi từ C-130 xuống nữa. Họ giơ tay, la ó, hò hét những khẩu hiệu, nào hoan hô, nào đả đảo, số tù binh đông, nên tôi không nhìn thấy được ai ra lệnh và những khuôn mặt tôi mới nhìn thấy bình thường kia giờ đây trở nên đằng đằng sát khí. Tôi nghĩ là chúng ta đã lầm và đang thả cọp về rừng. Nhưng đây là điều quan trọng trong hiệp định Paris thì dầu muốn dầu không cũng phải thực hiện.

    Bên trong chiếc Chinook giờ đây giống như phòng chứa rác. Không những quần áo mà còn những đồ mà Chính phủ VNCH cho. Anh em Cơ Phi, Xạ Thủ và Áp Tải phải ra công dọn dẹp vì nếu để, khi quay máy những quần áo này sẽ bị hút lên dính vào cánh quạt, làm hư hại máy bay. Mỗi chuyến đáp đều phải dọn dẹp, đều phải nghe và đều phải thấy những điều chướng tai gai mắt. Trong lúc chờ đợi lệnh được cất cánh, tôi đi vòng chung quanh máy bay để kiểm soát, quan sát cánh quạt và toàn thân của máy bay.

    Khi tôi quay lại thì thấy cô Phóng viên VC đang chụp hình tôi. Rồi trong những lần đáp khác cũng thấy cô chụp hình. Có lúc cô đứng xa chụp, có lúc cô lại gần chụp. Máy hình hiệu Canon, coi cũng có vẻ “Pro” lắm. Nhưng sau đó tôi để ý và suy nghĩ thì hình như cô cốt ý chụp chiếc Chinook ở những góc cạnh khác nhau hơn là chụp hình tôi.

    Tôi muốn chọc nên tôi đợi cô đến gần máy bay thì làm bộ đi ngang và nói “Nếu trong máy có phim thì tôi sẽ cho địa chỉ để gởi hình”. Cô không nói không rằng bỏ đi một nước. Thế là “Thúy đã đi rồi”, và từ đó tôi không còn được cô chiếu cố chụp hình nữa.

    Chở trả tù binh CSBV thì nhiều nhưng nhận lại bạn mình không được bao nhiêu. Cứ vài ngày thì nhận được năm hay mười người. Lâu lâu nhận được một toán vài chục người. Trong một bữa trưa để chờ nhận khoảng 15 hay 16 anh em, nghe nói họ đang được dắt đi bộ từ sáng sớm bên kia Biên giới Campuchia và băng rừng về đây. Tôi ngồi đợi mà lòng bồn chồn, náo nức vì nghe nói trong danh sách có 2 Hoa Tiêu của Phi Đoàn 237 Chinook. Đó là Thiếu Tá Trọng và Trung Úy Thanh, đã bị bắn rớt và bị bắt làm tù binh, còn anh em Cơ Phi, Xạ Thủ và Áp Tải đã không may phải hy sinh cho Tổ quốc. Bất chợt, 2 chiếc F-5 bay rất thấp qua căn cứ Thiện Ngôn.


    Hình minh họa

    Trong lúc chúng tôi còn đang ngơ ngác, nhìn theo, không biết lý do gì họ lại bay thấp như vậy. Lúc ngó lại sân bay và những căn lều tranh thì không còn thấy một bóng dáng nào trên mặt đất. Tôi định lên quay máy để liên lạc với UH-1 của Ủy Ban Quân Sự 4 bên. Nhưng súng ống từ đâu đã chỉa vào chúng tôi, những khẩu phòng không cũng đã được lộ ra, đang chỉa lên trời. Chúng tôi bị giữ lại Thiện Ngôn hơn cả giờ, trong suốt thời gian chờ đợi Ủy Ban Quân Sự 4 bên điều đình và thuyết phục đơn vị VC đang đóng tại đây cho chúng tôi cất cánh về Tây Ninh, và điều buồn hơn hết là trong ngày hôm đó các anh em đáng lẽ được trả về với gia đình thì đều bị giữ lại.

    Sau khi đã trao trả hết tù binh chính quy CSBV, chúng tôi lại bắt đầu chở tù của những thành phần Mặt Trận Giải Phóng, VC nằm vùng và những phần tử hoạt động cho VC trong đó có cả thành phần Sinh viên hoạt động cho VC. Đây là đám người “Ăn cơm Quốc Gia, thờ ma Cộng Sản”.

    Những chiếc xe GMC bít bùng chở họ vào phi trường Biên Hoà, rồi được sắp xếp lên Chinook để chúng tôi chở lên Lộc Ninh, một tỉnh nằm sát biên giới Miên Việt, đã bị VC chiếm giữ. Nhắc đến Lộc Ninh không bao giờ tôi quên được Phi Hành Đoàn của Đại Úy Trần Tấn Thọ và Thiếu Úy Ngô Kim Hoàng cùng anh em Cơ Phi, Xạ Thủ và Áp Tải. Khoảng đầu năm 1971 khi đến đây đáp, móc hàng và bay tiếp tế cho Căn cứ Snoul, Phi Hành Đoàn đã bị phòng không bắn cháy khi vừa tới Snoul. Phi Hành Đoàn bị phỏng nặng, nhưng may mắn không ai bị thiệt mạng. PĐ 237 mất đi 1 Chinook.

    Khác với những lần trao trả trước ở Tây Ninh, địa điểm trao đổi lần này diễn ra tại Lộc Ninh, thuộc vùng kiểm soát của Việt Cộng cho nên sự quyết định “Đi hay Ở” của những tù binh VC gặp nhiều khó khăn hơn bởi vấn đề an ninh không được chặt chẽ như ở Tây Ninh. Khi bị kéo lại là bị đánh tơi bời. Tôi chở những người về Biên Hoà mà mặt mày bầm dập, còn dính máu, dầu đã được bên mình băng bó.

    Trong kỳ trao trả này, chỉ có trả mà không có nhận, thêm điều buồn là một Nhân viên phi hành của PĐ237 đã hy sinh cho Tổ Quốc vì trúng đạn VC bắn lên khi Chinook đang giảm cao độ để vào đáp Lộc Ninh. Điều này làm cho cả PĐ237 rất đau buồn. Nhưng vì lệnh từ trên đưa xuống cho nên các phi vụ vẫn phải tiếp tục.

    Qua những phi vụ trao trả tù binh, đối diện với những điều mắt thấy tai nghe, nhìn thấy rõ con người CSBV và VC, thấy đồng đội bị bắn chết, dầu hiệp định Paris đã ký kết, lệnh ngưng bắn đã ban hành, tôi thấy buồn và chơi vơi vì đàn cọp dữ nay được thả về rừng. Sớm muộn gì cũng sẽ tới phiên chúng tôi, cũng sẽ lãnh những viên đạn thù từ những kẻ mà chúng tôi đã chở trả về. Thật vậy, thời gian không bao lâu, vào cuối năm 1973 trong ngày lễ Chúa Giáng Sinh thật đẹp, Phi Hành Đoàn chúng tôi đã nhận viên đạn phòng không đầy hận thù gởi tặng ở cao độ 4.500 bộ tại mật khu Đồng Xoài và chỉ trong gang tấc thân xác chúng tôi đã bị nổ thành tro bụi, nhưng Thượng Đế vẫn còn thương và cho tôi sống để tôi có cơ hội kể lại chuyện này.


    Hồ Viết Yên
    K7/68KQ
    PĐ237 / PĐ241 Chinook[/B]

    https://www.facebook.com/groups/1051...9383096433124/

    Leave a comment:



Hội Quán Phi Dũng
Diễn Đàn Chiến Hữu & Thân Hữu Không Quân VNCH




website hit counter

Working...
X