Thông báo

Collapse
No announcement yet.

Bạch Mã

Collapse
X

Bạch Mã

Collapse
 
  • Filter
  • Giờ
  • Show
Clear All
new posts

  • Bé Mốc Ngày Xưa

    Bé Mốc Ngày Xưa
    Nguyễn Thị Thanh Dương



    Hình minh họa

    Từ phi trường Tân Sơn Nhất, Khoa được gia đình chú Tuyên đón về nhà ở Bà Chiểu chơi mấy hôm.

    Hôm nay Khoa mới xách va ly trở về xóm cũ Gò Vấp. Mới rời xa Việt Nam 6 năm mà đường phố thay đổi lạ hoắc, cũng may vẫn còn những dấu vết hay chi tiết quang cảnh cụ thể khác để anh không đi lạc.

    Cổng vào chùa Thiền Quang đây rồi, cũng là ngõ chính dẫn vào nhà anh, phải đi qua một khu mả bằng đá ong, những tảng đá ong nằm có, đứng có, cao hơn đầu người, người ta đồn rằng của người Pháp xây hồi xưa, nên lối xóm quen gọi là khu mả Tây. Trẻ con khu xóm vẫn chơi đùa ở đó, leo trèo lên những ngôi mộ. Nay khu mả Tây không còn, nên trông cái ngõ như rộng ra.

    Gặp anh, nhận ra anh, ai cũng cất tiếng hỏi han thân mật, bù cho những tháng năm sống ở Mỹ hàng xóm lạnh lùng như người tình đang trong cơn hờn dỗi.

    Căn nhà của anh được bao quanh bằng bức tường gạch thấp, phía trên cắm những hàng rào bằng sắt, và vẫn là hai cánh cổng sắt, nhưng không còn cây hoa giấy màu đỏ bên cạnh xòe cành lá và hoa đung đưa trong gío nữa.

    Chưa kịp tra chìa khóa mở cổng thì một bà hớn hở từ đâu bước vội đến:

    - Cậu Khoa mới về thăm nhà hả? Sống ở Mỹ vui lắm hả cậu?

    Khoa chưa kịp nhận ra ai cũng mỉm cười đáp lại:

    - Vâng, chào bác, sống ở đâu cũng có vui có buồn.

    - Có nhớ ra tôi không nào? Tôi ở đằng sau nhà cậu đấy…

    Khoa gật đầu:

    - À, bác tên Năm, làm nghề thêu, nên thành tên Năm Thêu chứ gì? Bây giờ bác còn sống bằng nghề thêu, rua gì không?

    - Theo nghề đó là chết đói luôn cậu ơi, thời buổi hiện đại, nghề thêu đan, may vá phải dẹp tiệm nhường cho sản xuất công nghiệp hàng loạt. Tôi chuyển “ngành” rồi, nấu cơm bán cho mấy em công nhân tạm trú ở xóm này, dân miền Trung, miền Bắc “di cư” vào, đói nghèo nên dễ tính, dễ chịu. Hàng cơm tôi cũng đủ sống qua ngày.

    Bà Năm Thêu đon đã mời mọc một hơi:

    - Cậu về đây bao lâu? khi nào đi chơi đâu ăn đó thì thôi, còn về nhà thì ăn cơm ủng hộ hàng tôi nghe? Tôi biết Việt Kiều thì chỉ ăn ở những nhà hàng nổi tiếng hay sang trọng, nhưng cậu thử ăn hàng tôi cho biết đá vàng, ăn bữa nào tính tiền bữa đó, đơn giản và sòng phẳng mà. Việt Kiều tôi sẽ nấu loại đồ ăn cao cấp tiêu chuẩn Việt Kiều, nhưng gía cả vẫn là tình làng nghĩa xóm.

    Khoa cảm động, khiêm nhường và hào hiệp:

    - Việt kiều mới là thèm những món ăn bình thường dân dã đó bác Năm Thêu. Nhiều người từ hải ngoại về Việt Nam chỉ để ăn cơm nhà rau dưa. Tôi đồng ý ăn cơm ủng hộ hàng bác, vì tôi sẽ ở Việt Nam khá lâu và thường xuyên ở nhà.

    Bà Năm Thêu còn nhiều chuyện, hỏi tới luôn:

    - Nghe nói cậu về bàn căn nhà này, phải hôn? Có gì tôi kiếm người “mai mối” cho mau lẹ…

    - Uả, sao bác biết tôi về Việt Nam để bán nhà?

    - Dễ ợt mà, mỗi lần ông chú của cậu đến quét dọn hay sửa sang nhà cửa tôi có nói chuyện và hỏi thăm về gia đình cậu hoài, nghe nói ở bển gia đình cậu ổn định, khá gỉa tôi cũng mừng giùm. Vừa rồi ông Tuyên nói là cậu sẽ về bán căn nhà này. Thế là ông Tuyên sẽ rảnh tay khỏi phải lò mò từ Bà Chiểu đạp xe xuống Gò Vấp để chăm sóc căn nhà vắng chủ nữa.

    - Dạ, đúng thế. Đáng lẽ tôi bán nhà trước khi xuất cảnh, nhưng để lại cho gia đình thằng em vợ chờ đi xuất cảnh sau. Nó dùng dằng mãi mới chịu đi nên giấy tờ bảo lãnh trễ hơn tôi mấy năm.

    - Nhờ vậy mà hưởng lời đó cậu. Đúng là số cậu trời cho hưởng mà, được gia đình vợ bảo lãnh đi Mỹ sung sướng mọi bề, ngay thời điểm này nhà cửa đang hút gía dữ dội lắm, căn nhà của cậu nằm trong khu đất rộng, có vườn cây, lại thuộc phạm vi thành phố nên khẳm tiền chứ không ít đâu.

    Khoa đùa vui:

    - Trời, bác Năm Thêu chuyển ngành nghề môi giới địa ốc, chắc sẽ thành công hơn nấu cơm tháng đấy.
    Bà Năm Thêu nhắc lại:

    - Thôi vậy nghen, chiều nay cậu ăn cơm nhà không? thì có cơm mang sang nhà cậu liền.

    Khoa nể lòng bà hàng xóm:

    - Vâng, chiều nay cho tôi mở hàng một bữa thử coi, nhớ là mấy món ăn nhà quê dân dã nhé. Tôi muốn ở nhà vài ngày, sống lại kỷ niệm rồi mới đi thăm bạn bè sau.
    Bà hàng xóm nhanh nhẩu tốt bụng đi rồi, Khoa mới thực sự bước vào nhà mình, hầu hết những đồ đạc của vợ chồng Khoa để lại, gia đình người em vợ vẫn giữ y nguyên, có lẽ vì họ nghĩ cũng sẽ đi xuất cảnh nên chẳng cần thay đổi hay mua sắm thêm đồ mới làm gì.

    Khoa ra vườn sau, khu vườn trồng nhiều cây mít và cây na, lá rụng quanh năm. Anh dẫm chân lên lớp lá khô tưởng như mùa lá cũ năm nào vẫn nằm ngoan hiền ở đây đợi anh về hội ngộ.

    Những cây mít đang treo đầy qủa, anh còn nhớ cây này là mít dừa, cây kia là mít nghệ, múi mít loại nào cũng to bằng cả nắm tay. Còn những cây na cũng có giống na dai, giống na bở. Na để chín cây, mắt na nở ra, nhẹ tay bóp qủa na, ăn những múi na trắng thơm, ngon ngọt lạ lùng.

    Trong vườn có một cái giếng sâu và trong, cạnh đó là buồng tắm. Khoa sung sướng được sống lại qúa khứ, anh ra quay nước giếng đổ đầy thùng trong buồng tắm và mang những thứ xà bông, dầu gội đầu vào tắm gội, tưởng như mình vẫn đang sống ở Việt Nam của 6 năm về trước.

    Tắm xong Khoa vào nhà ngủ một giấc thoải mái, chưa tỉnh giấc hẳn thì đã nghe có tiếng gõ cửa rụt rè, Khoa vội ngồi dậy, vuốt sơ mái tóc và ra mở cửa, anh ngạc nhiên khi thấy một khuôn mặt xinh đẹp, một cô gái lạ, rất trẻ, đang khép nép bên ngoài. Trong phút giây này, khỏanh khắc này, anh bỗng nhớ đến bao năm về trước, Huyền cũng đã e ấp gõ cửa nhà anh, cho anh cảm xúc xao xuyến bất ngờ.

    - Dạ, em chào anh…

    Khoa bối rối:

    - Cô tìm ai? Cô có đi lầm nhà không?

    - Dạ, em tìm anh Khoa…má em sai em đến giao cơm chiều cho anh.

    Bây giờ Khoa mới để ý đến gỉo cơm trên tay cô gái. Thì ra lúc nãy anh vào nhà và quên không khóa cổng nên cô gái mới đến thẳng cửa nhà anh như thế này. Cô có đôi mắt to đen như nhung mang phảng phất nét buồn, làm người khác nhìn mà phải u uẩn theo. Dáng cô thon thon cao ráo, không lẽ cô là con gái bà Năm Thêu ? người đàn bà suốt một thời tuổi trẻ chăm chỉ ngồi bên khung vải thêu, rua, đến nghọeo cả cổ và gù cả lưng ?

    Thấy chủ nhà tần ngần chưa chịu tin, cô gái giới thiệu thêm về mình:

    - Anh không nhớ em thì thôi, nhưng để em kể ra nhé, ngày xưa em hay sang nhà anh bồng em bé và đút cơm cho con anh đó, em là bé Mốc.

    - Ôi, bé Mốc !!

    Khoa reo lên, thêm một lần nữa ngạc nhiên, anh nhớ ngay ra con bé Mốc nhếch nhác ngày xưa, bây giờ lại biến hóa thành cô gái đẹp xinh, duyên dáng y như trong chuyện cổ tích. Giây phút gặp gỡ đầu tiên vẻ đẹp của cô làm anh chóang váng, bây giờ định thần nhìn kỹ lại, đúng là cô gái có những nét hao hao bé Mốc. Mà sao ngày xưa anh ghét nó thế? chỉ sợ nó lây cái vẻ xấu và bẩn của nó sang cho con anh thôi, nhưng Huyền vợ anh vốn thương người, muốn giúp nhà bà Năm Thêu chứ thuê mướn người bồng em đầy rẫy trong xóm, thiếu gì người khá hơn nó.

    Cô gái thao thao kể tiếp:

    - Nhà em nghèo, má em đã đưa em sang nhà anh chị, coi em, bồng em để anh chị cho chút tiền, được đồng nào hay đồng đó. Năm đó em 13 tuổi.

    Khoa hỏi một câu ngẩn ngơ vì vẫn còn bối rối trước vẻ xinh đẹp của cô Mốc:

    - Nhưng sao em lại là bé Mốc nhỉ?

    - Má em nói hồi nhỏ em xấu xí, lại bẩn thỉu, mốc meo và ốm tong teo, bé xíu nên gọi em là bé Mốc chết tên luôn, còn tên thật của em không đẹp lắm, nhưng cũng…đỡ hơn. Em tên là Nguyễn thị Nâu.

    Khoa thành thật:

    - Dù bé Mốc ngày xưa hay cô Nâu ngày nay, cả hai tên đều lạ cả.

    Cô Nâu mang giỏ cơm vào nhà, cô nhẹ nhàng và cẩn thận lôi ra chén bát, đũa thìa và cơm canh nóng hổi để lên bàn rồi nói:

    - Mời anh dùng cơm kẻo nguội, má em nấu món dân quê theo ý anh, cần món gì anh cứ yêu cầu mỗi ngày nghe. Em về đây, lát nữa em sang thu dọn chén đũa.

    - Sao cơm bình dân mà bát chén kiểu sang vậy cô Nâu?

    Cô Nâu mỉm cười:

    - Anh không nghĩ ra hả? vì anh là Việt Kiều thì cũng phải lịch sự với anh chứ, mấy chén đũa này má em mới sắm riêng để phục vụ anh đó.
    Khoa cảm động ngẩn ngơ. Cô Nâu nói xong từ tốn cúi đầu chào và ra về, dù Khoa chỉ muốn cô ở lại nói chuyện, và dù có ăn cơm canh nguội lạnh anh cũng vui lòng.

    Bà Năm Thêu cho anh ăn cơm với món đọt rau lang luộc chấm nước mắm tỏi ớt, và món tôm đất rim mặn. Qủa thật là ngon miệng..

    Ăn xong Khoa rửa tất cả chén bát sạch sẽ và đợi chờ cô Nâu đến.

    Cánh cổng ngoài vẫn chỉ khép để đợi cô vào tận cửa nhà, cô đến đúng hẹn, lần này cô lại thay cái áo khác. Thấy mọi thứ đã sạch sẽ sẵn sàng, cô Nâu không hài lòng:

    - Kìa anh, sao anh lại rửa ?, lần sau anh cứ để em làm cho, đó là việc của em mà.

    - Tôi rảnh cũng chẳng biết làm gì.

    - Việt Kiều như anh hiền qúa chừng, người ta về Việt Nam là tưng bừng hoa lá ngoài đường, ngoài qúan đó anh.

    Ngay từ đầu cô Nâu đã xưng hô “anh, em” nên Khoa cũng thoải mái, tự nhiên, dù ngày xưa con bé ranh này anh coi như đồ con nít.

    - Nay mai anh cũng sẽ đi thăm bạn bè, họ hàng chỉ có gia đình ông chú chứ chẳng còn ai.

    Lần này cô Nâu ngồi nói chuyện lâu hơn. Trong căn nhà vắng êm đềm cô gái như một bức tranh thiếu nữ rực rỡ bội phần làm tâm hồn đa cảm yếu đuối của Khoa bị choáng ngợp trước hào quang của cô Nâu.

    Cô kể nhà cô từ xưa đến giờ vẫn nghèo, cô bỏ học khi xong bậc tiểu học, làm đủ thứ nghề lao động, và bây giờ thì ở nhà phụ với mẹ nấu cơm, bán cơm trong xóm lao động này. Đôi mắt cô có lúc lóng lánh như muốn khóc, Khoa phải chạnh lòng:

    - Không ngờ hoàn cảnh em đáng thương thế.

    Khi cô Nâu đứng lên chào tạm biệt ra về, Khoa tiễn cô ra cửa, khỏang cách hai người rất gần, mùi hương thơm nào đó từ người cô làm anh thoáng ngây ngất. Đôi mắt cô nhìn anh giùng giằng và sâu thẳm:

    - Em về nhé. Mai anh có ăn cơm không?

    Khoa trả lời không cần suy nghĩ:

    - Coi như ngày nào anh cũng ăn cơm hai buổi, cho dù đi đâu anh cũng về ăn cơm…nhà.

    Cô Nâu ngoan ngoãn:

    - Dạ, em sẽ ngày hai buổi mang cơm phục vụ anh.

    Cô Nâu về rồi, nhưng hình ảnh bé Mốc ngày xưa lại lần lượt hiện ra.

    Dạo đó anh và Huyền ở trong căn nhà này, hai đứa con, đứa lên 4 và đứa lên 2. Vợ anh làm kế tóan tài chánh cho một công ty nước ngoài, còn anh là kỹ sư. Chiều đi làm về, mang hai đứa con từ nhà trẻ về, cả hai vợ chồng đều bận rộn nhiều chuyện khác. Thế là mới có chuyện con bé Mốc thỉnh thoảng sang nhà giữ em giùm để vợ anh nấu cơm, còn anh thì nghiên cứu đọc tài liệu bổ sung cho công việc đang làm tại hãng.

    Bé Mốc qủa đúng là con bé nhà nghèo, quần áo lôi thôi cũ kỹ, đầu tóc rối ren, mặt thì nhem nhuốc, thế mà hai con anh lại thích bé Mốc, nó bồng bế hay đút cơm, đút cháo hai đứa đều ăn nhiều, có lẽ vì bé Mốc cũng trẻ con, biết cách chiều trẻ con?

    Bé Mốc hay dẫn hai con anh ra chơi ở sân trước, chán lại ra vườn sau. Có lần anh thấy bé Mốc hái mấy dái mít non ở sau vườn chấm muối ớt ăn ngon lành. Tội nghiệp, con bé đói khát ăn rờ ăn rẫm, từ đó trở đi anh không còn ác cảm với nó nữa, cũng đồng tình với vợ anh để cho bé Mốc trông nom hai con khi vợ chồng anh bận bịu.

    Những hôm không trông hai con anh, bé Mốc chạy ra khu mả Tây chơi đùa với lũ trẻ cùng xóm, mấy lần Khoa trông thấy nó leo trèo, nghịch ngợm hay lê la đất cát bẩn thỉu từ đầu đến chân.

    Một buổi chiều anh ra vườn sau kéo nước giếng và tắm táp xong như thường lệ, vợ anh cũng đã xong công việc, chiều ấy Huyền thật xinh và tươi mát với bộ đồ mỏng mới may, làm Khoa bỗng dưng “thèm muốn”, anh kéo vợ vào phòng. Chợt trông thấy con bé Mốc bế em ở một góc nhà đang chăm chú nhìn theo vợ chồng anh, hình như nó hiểu chuyện và biết anh đang muốn gì?. Làm Khoa “quê”, liền bực mình gắt với nó:

    - Bế em ra vườn chơi đi, chốc nữa hãy vào nhà.

    Bé Mốc vội vã tay bế tay dắt hai đứa con anh ra vườn sau.

    Nghĩ đến đây Khoa cười thầm, không biết cô Nâu có còn nhớ chuyện xưa ? Bây giờ anh sẽ “quê” hơn ngày đó nữa.

    Từ ngày sang Mỹ, vợ anh trông coi một tiệm nail cho em gái mình, vì cô em có hai tiệm nail nên không thể ba đầu sáu tay qủan lý hết được. Cửa tiệm lâu năm, quen khách, đắt hàng nên cô em trả lương chị rất rộng rãi.

    Còn Khoa học nghề trung cấp kỹ thuật hai năm và ra đi làm. Nhưng mới bị lay off , đang ngồi nhà ăn tiền thất nghiệp.

    Gia đình thằng em vợ đến Mỹ mấy tháng nay, đúng là thời điểm thuận tiện cho Khoa về Việt Nam lo chuyện bán nhà cửa. Khoa về một mình vì Huyền bận 6 ngày một tuần với tiệm nail, không dứt ra được.

    Căn nhà nhờ ông Tuyên đứng tên và chăm sóc giùm, hàng tháng vợ chồng Khoa vẫn tế nhị gởi biếu ông chú tiền coi như trả công lao chú hậu hỉ.

    ***

    Cô Nâu đã trở thành hình bóng thân quen không thể thiếu, mỗi ngày mấy lượt đến giao cơm và lấy đồ về, lần nào cô cũng kín đáo tránh cho hàng xóm biết cô đã ở lâu với người đàn ông trong căn nhà vắng.

    Hôm nào Khoa đi vắng về trễ thì anh hẹn mang cơm trễ, nên hầu như họ vẫn gặp nhau dù Khoa bận rộn đến đâu.

    Đã có vài người khách đến xem nhà và đang thương lượng gía cả, Khoa không ngờ bà Năm Thêu nói đúng qúa, người mua sẵn sàng trả gía cao, nhưng anh còn chần chừ xem ai trả cao nhất mới quyết định. Mọi giấy tờ hợp lệ có sẵn, và ông Tuyên cũng sẵn sàng để ký tên.

    Hôm nay Khoa về nhà hơi muộn, cô Nâu cũng vừa mang cơm đến. Dù đã ăn ở nhà bạn khá no, Khoa vẫn ăn cơm của cô Nâu cho cô vui lòng, và chính anh cũng muốn thế, để giữ chân cô. Nhiều ngày nay đã thân quen, cô ở lại đợi anh ăn cơm xong và dọn dẹp chén bát rửa ráy tại chỗ luôn. Họ đôi bóng như đôi vợ chồng son.

    Khoa ngắm cô Nâu đang đứng rửa bát, cô mặc bộ đồ bộ lụa mát màu xanh nước biển nhạt, hở vai và đôi cánh tay trần giống như Huyền ngày nào đã làm anh bừng dậy một niềm khao khát. Hôm nay anh gặp lại niềm khao khát ấy.

    Bất chợt cô Nâu quay đầu lại, nhìn nét mặt bần thần của anh, cô ngây thơ nũng nịu:

    - Anh nhìn trộm em và chê em gì hả? hả?

    Trong đôi mắt đen thăm thẳm của người con gái đầy vẻ bí hiểm và thông minh, có lẽ cô Nâu lại đọc được ý nghĩ trong đầu óc anh như khi cô chỉ là con bé Mốc 13 tuổi năm xưa.

    Anh bối rối chưa biết nói sao thì cô gái nũng nịu tiếp:

    - Bắt thền anh đó, anh nhìn em hoài làm em rửa chén không có sạch nè !!

    Anh như bị mê hoặc đến bên cô Nâu và vòng tay ôm lấy đôi vai tròn của cô:

    - Anh đền em đây…

    Toàn thân cô gái tựa vào người anh, làm người anh nóng bừng lên, anh xiết chặt thân thể mềm mại của cô Nâu trong vòng tay của mình, thì thầm:

    - Anh yêu em qúa Nâu ơi…

    - Em cũng yêu anh…

    Cô bạo dạn thêm:

    - Em yêu anh từ hồi em còn là bé Mốc lận, anh không biết đâu, mỗi lần anh tắm em đều lẩn quẩn ở ngoài vườn, chỉ để ngửi mùi xà bông rất thơm tho của anh…

    Cô áp mặt, dụi dụi vào ngực áo anh rồi hỏi:

    - Sao bây giờ anh xài mùi xà bông khác ? em không thấy giống mùi cũ nữa…

    Khoa càng mê man:

    - Em yêu anh đến thế ư? Em nhớ cả mùi xà bông tắm của anh ư? Ừ, ngày xưa anh dùng xà bông Coast, qùa từ bên Mỹ gởi về, anh thích mùi ấy lắm, nhưng bây giờ anh qua Mỹ thì không còn xà bông hiệu này nữa, nên anh dùng loại khác.

    - Có lần anh tắm xong, anh rủ chị Huyền vào phòng, em buồn lắm, em ganh với chị Huyền vì đã có anh.

    - Trời ơi, em còn nhớ vụ ấy hả? Anh xin lỗi Nâu, hôm nay anh sẽ đền cho Nâu ….

    Người Khoa như lên cơn sốt, quay cuồng, tối tăm mặt mũi, anh không biết gì đến trời đất bên ngoài. Chỉ có cô Nâu xinh đẹp và quyến rũ tuyệt vời trong căn nhà vắng đồng lõa, đồng tình.

    Chiếm được thân thể cô Nâu với tình yêu đáp trả nhiệt tình của cô, Khoa bỗng là một chàng trai mới lớn đang yêu và si tình, ngày nào anh cũng mong chờ cô Nâu. Cách đây 6 năm làm sao Khoa có thể nghĩ sau này mình sẽ yêu con bé Mốc đến thế này?

    Cánh cổng sắt ngôi nhà mở đón cô vào, và khép chặt để không bị ai làm phiền, ngoại trừ những lần có hẹn cho người môi giới dẫn khách đến coi nhà.

    Anh yêu Nâu thật rồi hay chỉ là một cơn choáng ? anh chẳng tha thiết gì đến chuyện trở về Mỹ với vợ con. Khoa còn đang như một cánh buồm lênh đênh trên biển.

    “Anh chỉ là một cánh buồm tuyệt vọng,
    Giữa biển khơi không biết rẽ lối nào?
    Ở nơi đâu cũng là em, là sóng,
    Vỗ vào đời anh hạnh phúc, thương đau”


    Tình yêu đã làm anh lãng mạn, anh làm 4 câu thơ ấy, đọc cho cô Nâu nghe, không biết cô Nâu có hiểu thơ không mà cô đã khóc trong lòng anh.

    Khoa buồn bã và thành thật khuyên cô:

    - Dù muốn dù không anh cũng phải về Mỹ. Anh yêu em, nhưng không thể bỏ vợ con được. Em hãy quên anh đi Nâu nhé ?

    Cô Nâu trả lời trong nước mắt:

    - Em chỉ lấy người đàn ông nào giống hệt như anh thôi, hoặc là em sẽ đợi chờ anh về Việt Nam thăm em, làm người vợ không bao giờ cưới của anh, giống như một tuồng cải lương cũ má con em hay coi….

    - Tội em qúa ! mấy kiếp nữa anh cũng không đủ trả nợ tình cho em.

    Khoa đã đồng ý bán nhà, vì không còn thời gian chần chờ thêm nữa. Khách hẹn sẽ đến coi lần cuối trước khi chồng tiền và tiến hành thủ tục giấy tờ.

    Những ngày hiếm hoi còn lại anh càng say sưa yêu cuồng yêu vội cô Nâu hơn nữa.

    Nhưng chiều nay người giao cơm không phải là cô Nâu mà là mẹ cô, bà Năm Thêu, làm Khoa thất vọng và ngạc nhiên.

    Bà Năm Thêu theo Khoa vào trong nhà, tự động ngồi xuống ghế và lên tiếng trước:

    - Tôi biểu con Nâu ở nhà để tôi sang nói chuyện với cậu.

    Linh tính báo cho Khoa biết một điều gì đó không hay đang xảy ra cho Nâu và cho anh. Bà Năm Thêu nhìn thẳng vào mặt Khoa và tiếp như quan tòa lên án:

    - Tôi đã biết chuyện tằng tịu giữa cậu và con Nâu nhà tôi. Bây giờ cậu tính sao?

    Biết không thể chối cãi được, Khoa đành buông xuôi:

    - Tôi trót yêu Nâu, yêu rất nhiều bác biết không?

    - Nhưng cậu cũng phải tính sao chứ, không lẽ cậu hưởng con nhỏ cho đã đời rồi khơi khơi về Mỹ với vợ con cậu như không có chuyện gì xảy ra ?

    Khoa khổ sở:

    - Tôi cũng không biết mình phải làm gì nữa, thật tình tôi đau buồn khi chia tay Nâu.

    Bà Năm Thêu đanh thép:

    - Cậu phải cưới nó, giữ danh dự đời con gái cho nó.

    Khoa hoảng hốt:

    - Bác Năm Thêu biết tôi còn vợ, còn con mà…

    Giơ cao đánh khẽ, bà Năm Thêu xuống giọng tử tế:

    - Thôi, không ai nỡ làm gia đình cậu xào xáo ly tan, nhưng cậu phải đền bù đời con gái con tôi cho xứng đáng, cậu giúp nó một số tiền làm vốn, làm lại cuộc đời. Tôi sẽ bỏ qua chuyện này.

    Khoa cũng đã nghĩ tới điều này, vì tình yêu anh dành cho cô Nâu chứ không phải vì bị cưỡng bức, đòi hỏi như bây giờ, nên Khoa đồng ý ngay:

    - Điều này tôi có thể làm được, tôi cũng muốn giúp Nâu có cuộc sống khá hơn.

    Bà Năm Thêu đòi hỏi huỵch toẹt:

    - Cụ thể tôi đề nghị cậu cho nó 10 ngàn đô la Mỹ.

    - Mười ngàn đô la Mỹ?

    Thấy phản ứng của Khoa sửng sốt ngạc nhiên và không hài lòng bà Năm Thêu giáng một đòn đe dọa:

    - Nếu cậu muốn trong ấm ngoài êm, chuyện tình của cậu và con Nâu hàng xóm láng giềng chưa ai hay biết đâu. Tôi thề sẽ giữ kín, cậu mới bán nhà được gía qúa mà, tiếc chi món tiền này.

    Mười ngàn đô la là số tiền không nhỏ, ngoài dự tính của Khoa, nhưng tội anh to lớn qúa, làm hại đời con gái trinh trắng của cô Nâu, và anh cần bảo vệ hạnh phúc gia đình, với gía ấy vẫn còn rẻ.

    Khoa ngẫm nghĩ và đồng ý. Cũng may anh chưa gọi phôn báo cho vợ về gía cả căn nhà mà anh vừa quyết định bán, nên anh có thể thêm đầu này bớt đầu kia cho hợp lý và Huyền sẽ tin, miễn là bán xong căn nhà cho rảnh tay.

    ***

    Khoa về Mỹ, lại lao vào cuộc sống hàng ngày.

    Một năm trôi qua, tình yêu nóng bỏng dành cho cô Nâu qủa là một cơn chóang, đã vơi dần theo ngày tháng vì xa mặt cách lòng. Khi lạc vào biển yêu trong hoàn cảnh trái ngang ai cũng chỉ là cánh buồm tuyệt vọng, ngẩn ngơ.

    Bây giờ tỉnh người ra anh mới thấy mình hư qúa, vô tình đã phản bội vợ và hại đời con gái của cô Nâu .

    .Anh thấy lòng tạm thanh thản, với 10 ngàn đô la, có thể đã giúp cô Nâu hay gia đình cô thay đổi cuộc sống khá hơn với một ngành nghề nào đó. Anh chỉ cầu mong cô Nâu sẽ gặp được người đàn ông giống anh, cho cô yêu và lấy làm chồng thì anh mới thật sự yên tâm.

    Một hôm Huyền hỏi chồng:

    - Anh có nhớ nhà bà Năm Thêu ở phía sau nhà mình ngày xưa không?

    Khoa giật bắn người, tim anh đập thình thịch chỉ sợ nghe vợ nói ra những điều tội lỗi thầm kín của anh, nhưng Huyền vẫn vô tư kể tiếp:

    - Bà Năm Thêu má bé Mốc, con bé ngày xưa bế con mình đó, nhớ ra chưa?

    Khoa dè dặt:

    - Biết rồi, sao?

    - Chị bạn cùng xóm mới về Việt Nam qua kể lại là năm rồi nhà bà Năm Thêu trúng mối gì không biết, bỗng khá gỉa lắm, có tiền sắm ti vi, xe gắn máy và đồ đạc trong nhà. Nhưng sắm bao nhiêu bà lần hồi bán bấy nhiêu vì bài bạc và số đề…

    Khoa buột miệng:

    - Tội nghiệp qúa !

    Vợ anh chép miệng theo:

    - Chưa tội nghiệp bằng con Mốc, tên nó là Nâu, bây giờ người ta đồn nó bị bệnh Aids rồi, nên hàng cơm bà Năm Thêu bị ế ẩm, không ai dám ăn, cảnh nhà càng khốn khổ.

    - Trời ơi ! cô Nâu bị..bị…??

    Vợ anh lập lại:

    - Bị bệnh Aids, tội con bé qúa hở anh? Bé Mốc hồi mới lớn, mới trổ mã đã đi bán bia ôm, làm gái rồi, nhưng kiếm tiền sao cho xuể với người mẹ ham mê bài bạc quanh năm suốt tháng. Trước sau gì cũng đi đến bước đường cùng này thôi.

    Trong lời nói và cử chỉ của vợ, Khoa tin là Huyền không hề hay biết gì chuyện tình cảm của anh và cô Nâu. Bà Năm Thêu dù là người tệ hại thế nào, ít ra cũng biết giữ lời hứa, không xì ra chuyện anh đã ngủ với con gái bà, mà nói ra thì mẹ con bà cũng mang tiếng xấu chứ hay ho gì. Có lẽ đó mới là cái “tình làng nghĩa xóm” của bà, mà anh mong muốn nhất.

    Bây giờ Khoa đã hiểu vì sao bà Năm Thêu đon đã hỏi thăm anh, mời anh ăn cơm hàng nhà bà và gài độ cho cô Nâu, đứa con gái đã từng bán thân nuôi miệng, nuôi cả gia đình, đến với anh, như một đứa con gái trong trắng con nhà nghèo hiền lành, để anh lọt vào cạm bẫy tình yêu của mẹ con cô.

    Bây giờ anh cũng hiểu con bé Mốc thuở lên 13, không hề là đứa trẻ ngây thơ, nó đã tinh ranh, biết rình rập khi anh tắm và khi vợ chồng anh vào phòng ngủ.

    Thảo nào khi hai người gần gũi, cô Nâu đã tỏ ra rất nhiệt tình, biết cách làm cho anh thêm say đắm.

    Suốt mấy tuần lễ cô Nâu mang cơm cho anh, cô đã đóng vai kịch con nhà nghèo, ngây thơ, thật xuất sắc, qua mặt thằng đàn ông thật thà và nhiều tình cảm như anh dễ dàng. Những giọt nước mắt, những lời thổn thức yêu đương của cô dành cho anh, có lẽ cô cũng từng dành cho nhiều người đàn ông khác để làm họ hồn siêu phách tán. Đó là nghề của cô.

    Khoa thấp thỏm lo âu lén vợ đi thử máu, xem có dương tính HIV không, có bị lây nhiễm từ cô Nâu không? mặc dù một năm qua anh không thấy có dấu hiệu gì khác lạ cho sức khỏe.

    Kết qủa thử máu làm anh sung sướng như vừa được cứu sống từ cõi chết, anh bình thường không hề bị HIV.

    Có thể cô Nâu bị bệnh HIV nhưng may mắn cho anh đã không bị lây nhiễm? hoặc có thể sau khi chia tay anh cô Nâu mới bị bệnh HIV, khi cô giao tiếp với những người đàn ông khác??

    Thôi, dù vì lý do gì anh cũng hãy cảm tạ thượng đế đã che chở cho anh an toàn sau một cơn sốt tình mê dại.

    Anh đã trả gía cho cơn sốt tình ấy 10 ngàn đô la, qúa đắt so với “gía cả” bình thường của cô Nâu “đi” với những người đàn ông khác, và suýt nữa bằng cả sinh mạng của anh và vợ anh, cũng như tương lai của hai con sẽ ảnh hưởng không biết tai hại đến chừng nào.

    Nguyễn Thị Thanh Dương

    https://www.facebook.com/photo.php?f...type=3&theater

    Comment


    • Xin Gởi Vào Thiên Thu

      Xin Gởi Vào Thiên Thu
      Đoàn Minh Chiếu
      (phu nhân của một cựu Thiếu Tá khóa 11/SQTBTĐ)

      Truyện được viết theo chuyện kể của một thương binh VNCH.

      Người viết: bà Đoàn minh Chiếu thân hữu Hội Cựu QDCC& Hậu Duệ St Louis, Missouri
      -Sinh năm 1943 Tại Nha Trang
      -Nữ Sinh TH/Đệ nhị cấp Kim Yến Nha Trang
      -Chuyên viên Tiếp Liệu Binh Đoàn TĐ631/Yểm trợ Truyền Tin
      -Nhân viên MACV phòng cố vấn Mỹ tại TĐ 631/YTTT
      -Nhân viên phòng Chiến Tranh Tâm Lý thuộc BTLHQ/QLVNCH
      -Người chuyển bài Vũ Hải

      Chiếc xe gắn máy do một người đàn ông lái chở Tuệ từ Sàigòn về hướng Biên Hòa, sau 30 phút đã dừng lại tại một điểm bên xa lộ. Tuệ rời xe với chiếc nạng gỗ, anh rút túi đưa tiền cho người lái xe ôm, nói lời cám ơn rồi vội vã nhấc từng bước đi vào nghĩa trang QĐ/VNCH Biên Hòa. Tuệ đưa mắt nhìn một lượt quang cảnh trước mặt, mọi vật còn giữ lại đôi nét cũ xưa. Cổng tam quan vẫn đứng sừng sững giữa trời mang dấu vết của hai hàng chữ kiên định trên hai thân cột, bên phải “ Vì dân chiến đấu”, bên trái “Vì nước hy sinh”. Những hàng chữ này trước 75 đã được sơn son thếp vàng trân trọng, ghi khắc lòng ngưỡng mộ tôn kính đối với những người con yêu của Tổ Quốc. mặc dù sau 30/4/75 bọn việt cộng đã vội vàng đục bỏ những khầu hiệu cao quý đầy ý nghĩa này, cũng như chúng đã kéo sập bức tượng “Thương Tiếc” người chiến sĩ Quốc Gia được đặt trước Nghĩa trang Quân Đội, nhưng dưới ánh mặt trời chúng không thể che dấu hay xóa bỏ được lòng dũng cảm của trên 14 ngàn Chiến Sĩ Quốc Gia đã vùi chôn thân xác trong lòng đất mẹ.


      Bức tượng "Thương Tiếc" Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa trước 1975


      Bức tượng "Thương Tiếc" Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa sau 1975

      Tuệ khó khăn bước lên từng bậc cấp với chiếc nạng gỗ trong tay, dưới chân anh là những vết rạn nứt bởi thời gian, vì mấy chục năm qua chính quyền việt cộng cấm không cho thân nhân được phép viếng thăm nói chi đến việc sửa sang hay trùng tu những mộ phần đã bị sụp đổ. Phải chăng chúng quá sợ hãi lòng ngưỡng mộ của đồng bào miền Nam dành cho những người đã chết vì Chính Nghĩa Quốc Gia.?

      Sau nhiều cố gắng Tuệ cũng đã lên được nghĩa trang anh đưa tay áo thấm mấy giọt mồ hôi trên trán và dừng lại dưới một bóng mát nghỉ chân. Nắng vừa lên cao chiếu xuống những hàng cây còn đọng lớp sương mai, Tuệ liên tưởng đến những ngấn lệ của mẹ già, của những người cô phụ bên đàn con nhỏ đã từng dìu dắt đến đây với bao nỗi đau xót ngậm ngùi để tiễn biệt người thân yêu của mình trong một lần cuối…

      Ngồi đây Tuệ có thể nhìn về một góc đồi xa, những hàng cây cao vút vẫn còn đó, chúng đã trải qua bao năm tháng dưới mưa dầm nắng cháy để minh chứng trước “hồn thiêng sông núi” cho hàng hàng lớp lớp người trai , đã hy sinh xương máu trong các cuộc chiến chống kẻ thù cộng sản miền bắc xâm lược.

      Từ ngày miền Nam bị bức tử cũng là ngày toàn dân Nam hối hả bỏ nước ra đi , thêm một lần nữa súng đạn của kẻ thù cộng sản hung tàn đã làm tan nát quê hương này, gây ra bao cảnh máu lửa điêu linh cho hàng vạn dân lành vô tội trong ngày 30/4/75.

      Nghĩ đến đây, Tuệ thấy lòng se thắt, một cái gì đang còn khuất tất trong tim. Anh cúi nhặt một hòn sỏi và ném mạnh vào hư không, chợt một cánh chim từ trên cành cao bay sà xuống rồi vút lên mất dạng trong vòm trời bao la. Tuệ ngước nhìn bầu trời xanh lơ, vài sợi mây trắng buông lơi giữa không gian huyền diệu , gợi anh nhớ đến những cánh dù căng gió, mang đầy ắp những kỷ niệm oai hùng trong đời quân ngũ.

      Vừa tốt nghiệp Đại học xong, Tuệ quyết định dấn thân vào đường binh nghiệp để phục vụ đất nước. Cánh dù từng là tri kỷ đối với Tuệ, nó đồng hành bên anh trong các cuộc hành quân cam khổ khi chọn điểm để rơi giữa lòng địch, khi nương theo chiều gió và đáp xuống những vùng rừng thiêng nước độc, nơi chưa có dấu chân người khai phá, trước khi toán anh chờ lệnh đến tọa độ.

      Nó đã bao lần cùng anh đặt chân lên những vùng đất giao tranh đầy lửa đạn, bao lần hoan ca trong chiến thắng huy hoàng, và cũng nhiều lúc đớn đau nghiêng mình trước những hy sinh cao cả của anh em đồng đội. Là chiến sĩ anh luôn đặt mình trong danh dự và trách nhiệm. Khi chiến trường sôi động, nhận lệnh, anh hăng hái lên đường đến vùng lửa đạn nơi đang xảy ra những cuộc tranh hùng, tử thủ của những người chiến sĩ can trường đã xông pha giành lại từng tấc đất cho quê hương này. Cuộc đời anh như cánh diều luôn bạt ngàn trong gió, ít nhiều đã làm thỏa chí tang bồng của người trai thời loạn.

      Cho đến một ngày…ngày Tuệ bàng hoàng nuốt lệ rời xa cánh dù vĩnh viễn, khi anh để lại chiến trường Bình Long một phần thân thể của mình vào đầu (Tuệ mất chân trái khi anh đáp xuống trên bãi mìn) vào năm 1975.

      Anh được đưa về điều trị tại Tổng Y Viện Cộng Hòa nơi đây anh được chăm sóc đặc biệt về thể chất đến tinh thần. Cùng phòng với anh có nhiều chiến sĩ toàn thân bị thương tích, nhưng các anh không một lời kêu than hay oán trách, có lẽ Danh Dự và Trách Nhiệm trên đôi vai người Chiến Sĩ Quốc Gia đã cho họ sự vững mạnh và chí khí?Tuệ còn nhớ, hôm ấy là ngày 30-4-75. Một sự thật não lòng đã bất ngờ xẩy ra tại Tổng Y Viện Cộng Hòa. Tin cộng quân cưỡng chiếm Sàigòn, không lâu chúng đã tràn vào Tổng Y Viện và yêu cầu tất cả thương bệnh binh “khẩn trương” rời khỏi bệnh viện theo lệnh của chúng.Trước một sự thật qúa phũ phàng, các anh không khỏi bàng hoàng do dự, nhưng chỉ trong thoáng chốc khi chạm phải những bộ mặt rừng rú, những người thương bệnh binh đã lấy lại sự bình tĩnh để chỗi dậy.

      Họ chấp nhận ra đi đang khi thân thể mang đầy thương tích, còn hơn phải đối diện với kẻ thù trước cảnh thảm bại đầy tủi nhục này. Tâm hồn họ buốt đau như cánh chim bị đạn, họ cảm thấy bị chới với như con thuyền mất định hướng giữa trùng khơi . Trong lúc này không ai còn thốt lên được lời nào dù chỉ một lời chia tay. Tuệ cũng như số đông các anh em khác đang từ từ tiến ra khỏi phòng bệnh, họ cố dấu trong tim sự bẽ bàng tủi hổ của người đã từng cầm súng xông pha diệt thù bảo vệ non sông.

      Từng bước di chuyển của mỗi người thương bệnh binh, là từng nỗi đau gậm nhấm trong tinh thần và trên thân xác đang mang đầy những vết thương còn rướm máu của chiến trường, nhưng họ vẫn thu hết can đảm trong hơi thở tàn để ngẩng mặt mà đi trước đôi mắt hằn học vô cảm của kẻ thù xâm lược, vì họ là những thương binh có Lý Tưởng và Danh Dự, bỗng chốc trở thành kẻ sa cơ lạc bước trên đường đời như đàn con mất mẹ sau lệnh buông súng đầu hàng nhục nhã của Dương văn Minh, để giao nửa phần giang sơn còn lại cho việt cộng.

      Rồi đây họ sẽ về đâu, dưới một trời đầy giông bão? Nhất là một số các thương binh có gia đình còn kẹt trong vùng lửa đạn, vì bận đi chinh chiến lâu ngày họ không nhận được tin tức ở quê nhà. Nhiều anh đau đớn kéo lê khúc chân mới được băng bó còn rướm máu. Có những anh bị mất cả hai chân hay bị mù cả hai mắt phải nhờ bạn đưa ra cổng. Trong phòng hồi sinh còn nằm la liệt những thương binh từ chiến trường mới được tải thương về hôm trước, thân thể và trên đầu còn quấn những băng trắng thấm máu, họ đang nằm tiếp dưỡng bằng những ống dẫn thuốc và bình nước biển treo lủng lẳng trên đầu giường cũng phải đứng dậy mà đi, và còn rất nhiều thảm cảnh khác trong bệnh viện mà bất cứ ai có chút nhân tâm cũng thấy mủi lòng xót xa cho số phận những người thương bệnh binh trong ngày quốc nạn 30-4-75. Những sự kiện đau khổ ấy không chỉ đến với họ trong một ngày, nhưng các anh còn phải hứng chịu nhiều sự bạc đãi cho đến về sau.

      “Hỡi Đấng chí Cao! Thù nước chưa trả xong, ai đã nhẫn tâm đem màn đêm bao trùm lên những mảnh đời tan tác này ?”

      Thật đau lòng khi nghĩ đến những người thương bệnh binh VNCH phải sống một cuộc sống đầy tủi nhục dưới chế độ cộng sản.

      Họ thiếu tình thương và sự nể trọng của mọi người, họ sống âm thầm trong cảnh cơ cực bần hàn giữa sự ghẻ lạnh đến tàn nhẫn của xã hội. Từng ngày qua, họ lê tấm thân tìm kiếm mưu sinh trên các hè phố đông người, để góp nhặt những chiếc lon hay bao nhựa rơi vãi trên lề đường, hầu mong có chút tiền độ nhât giữa lòng một thành phố mang tiếng là đổi mới với những cao ốc của các cấp cầm quyền quan lại tham ô, những dinh thự đồ sộ nguy nga ngày đêm luôn có người hầu kẻ gác của bọn tư sản đỏ thi nhau mọc lên như nấm. Một xã hội mất gốc đang lao mình học đòi theo lối sống vật chất xa hoa tội lỗi, mặc cho luân lý đạo đức suy đồi, có mấy ai còn biết tôn trọng nhân cách để quan tâm đến những con người cùng khổ này?

      Họ là những ai?

      Phải chăng họ là những người con yêu của đất nước, là những chiến sĩ can trường đã góp phần xương máu đẩy lùi những bước xâm lược của cộng sản vào miền Nam, suốt mấy mươi năm dài cho đến khi quê hương bị bức tử.

      Tuệ cũng như các anh thương binh khác, ngày bị xua đuổi ra khỏi bệnh viện trong một bối cảnh lịch sử thật đau lòng. Tuệ lầm lũi đi trên đường Võ di Nguy Phú Nhuận để về nhà, lòng anh như dao cắt, khi nhìn nửa phần đất nước còn lại hôm nay đã rơi vào tay kẻ thù. Định mệnh sao qúa khắt khe với Dân Tộc Việt Nam, máu đã chảy thành sông, xương đã chất thành núi của một thế hệ vừa nằm xuống để cuối cùng phải nhận một hâu qủa đầy bi đát như thế này sao?

      Xa vắng gia đình đã lâu, giờ đây Tuệ như cánh chim tìm về tổ ấm, nơi đó chính là nguồn an ủi duy nhất cho quãng đời còn lại của chàng…

      Bỗng Tuệ dừng bước trước một địa chỉ thân quen, nơi mà trước đây từng đón anh với nụ cười nở rộng, những ánh mắt chan chứa tình thương của mẹ hiền và em dại. Hôm nay thì cửa đóng then cài như vô tình ném vào mắt anh một thái độ hờ hững lạnh lùng, một thách đố cuồng bạo, vô hình trung đã dập tắp trong anh niềm tin vừa nhen nhúm.

      Tuệ đứng lặng người như kẻ mất hồn, cảnh cũ còn đây mà người xưa đâu thấy ? Bất giác hai hàng nước mắt tuôn dài trên má Tuệ, tâm hồn anh như đang rơi xuống tột cùng của một vũng sâu tăm tối. Lần đầu tiên Tuệ chảy nước mắt trước nghịch cảnh cuộc đời.

      -Phải, Tuệ đã khóc !

      Anh khóc cho ngày quê hương bị bức tử cho những bước chân tháo chạy bất chấp mọi hiểm nguy để tìm hai chữ “Tự Do”, và khóc cho nỗi cô đơn của chính mình!

      Trong lúc Tuệ còn bối rối chưa biết xử trí thế nào, dù sao anh cũng cần có chỗ để nghỉ ngơi, Tuệ chợt nhìn thấy một người sửa xe bên lề đường anh liền đến mượn một thanh sắt nạy chốt cửa để vào nhà. Cảnh vật bên trong không thay đổi, chỉ có những ngăn tủ được kéo ra nửa chừng còn vung vãi đồ đạc ra ngoài, chứng tỏ gia đình anh đã ra đi trong giây phút vội vàng. Qua mấy ngày nghỉ ngơi yên tĩnh Tuệ đã lấy lại sức khoẻ phần nào. Tuy vậy lòng anh vẫn canh cánh một nỗi buồn vì thiếu vắng người thân, chàng không khỏi lo lắng cho sự ra đi đầy gian khổ của gia đình.

      Mới độ nào, trong một ngày về thăm nhà, không khí gia đình thật vui vẻ, lúc nào bên anh cũng có những tiếng cười nói của cha mẹ và các em. Hôm nay căn nhà trở nên quạnh quẽ đìu hiu , tuy nhiên trong âm vang xa vời ấy như vẫn còn lưu lại chút nguồn sinh khí trong hơi thở của chàng, nó bồi đắp phần nào sự mất mát to lớn của người thương binh ấy.

      Không ngờ sau một tuần được hưởng sự bình yên trong ngôi nhà ấm cúng của cha mẹ. Buổi sáng hôm ấy Tuệ đang nằm đọc sách, bỗng có nhiều tiếng đập cửa, chàng đứng lên và ra mở cửa, một toán người mặc quân phục và có mang súng bước vào nhà, chúng bảo Tuệ xuất trình giấy chủ quyển nhà.

      Tuệ nói “gia đình đi về quê không để giấy tờ ở ngoài”.

      Chúng thấy Tuệ không có giấy chủ quyền nhà, liền đọc lệnh tiếp thu của “Uỷ Ban Quân Quản” , buộc Tuệ phải ra khỏi căn nhà này ngay, và chúng nói “Nhà này thuộc thành phần tư bản đã bỏ chạy theo đế quốc, phải bị niêm phong”

      Thế là một lần nữa, Tuệ phải ra đi trong tủi hận, anh ngậm ngùi quay lại nhìn ngôi nhà thân yêu một lần chót, nơi ấy đã chất chứa biết bao kỷ niệm thăng trầm trong cuộc sống của gia đình anh từ mấy chục năm qua, bỗng nhiên bị tước đoạt cách trắng trợn bởi lũ người tự nhận là giải phóng..Chúng đã giải phóng đồng bào ra khỏi sự bình yên bằng bàn tay bạo lực.

      Thời gian trôi qua hơn một tháng trong cảnh lang thang không nhà, Tuệ phải bán chiếc đồng hồ đeo tay của anh để mua một chiếc bàn xếp nhỏ và một số thuốc lá để bày bán bên lề đường, khi đêm về Tuệ vào nghỉ trong lều chợ đến sáng hôm sau anh lại trở ra lề đường để kiếm kế sinh nhai. Và như thế cho đến một hôm, Tuệ vào trú mưa bên hè phố tình cờ anh đã gặp lại Tuyên, người bạn cũ trong đơn vị dù của chàng trước đây. Tuyên là thuộc cấp của Tuệ, hai bạn gặp nhau trong cảnh đời lam lũ họ xiết bao vui mừng, họ nóng lòng hỏi thăm tin tức của nhau như ruột thịt. Tuyên có vợ một con, anh hiện sống bằng nghề mua rau cải từ chợ cầu Muối đem bỏ mối cho các chợ nhỏ vùng lân cận. Tuệ cũng kể hoàn cảnh của mình cho Tuyên nghe, Tuyên rất cảm động không ngờ Tuệ bây giờ phải chịu một cuộc sống bi đát như thế! Bỗng Tuyên nhìn sâu vào mắt Tuệ với nét mặt chân thành Tuyên nói:

      Tuệ, anh về nhà tôi ở.

      Thấy Tuệ không trả lời Tuyên nói tiếp:

      -Tụi mình là bạn với nhau trong quân ngũ anh còn ngại gì? Hơn nữa anh cứ ở ngoài chợ bất tiện lắm, nhỡ khi đau ốm thì sao?

      Tuệ mỉm cười nhìn bạn anh nói;

      -Tôi biết anh có lòng tốt muốn giúp tôi, nhưng anh còn…

      Tuyên hiểu ý Tuệ còn ngại vợ Tuyên, anh vồn vã ngắt ngang lời Tuệ:

      -Anh khỏi lo, vợ tôi hiền lành và tốt bụng…

      Hiểu được chân tình của bạn, Tuệ vui vẻ bắt tay Tuyên để tỏ lòng biết ơn, hai bàn tay xương xẩu xiết chặt nhau như không muốn lìa xa. Chiều hôm ấy khi trời vừa dứt cơn mưa, Tuyên chở Tuệ về nhà chàng trên chiếc ba gác còn vươn lại những lá rau cải, họ tiếp nối câu chuyện trên đường cho đến khi xe rẽ vào một ngõ hẻm quanh co, dẫn đến khu nhà sàn ở ven sông cầu Trương minh Giảng, Tuyên đưa Tuệ vào nhà, đó là căn nhà sàn bằng ván được đắp vá bởi những miếng cartons. Tuyên liền giới thiệu Tuệ với Thanh vợ của chàng và cho Thanh biết ý định của mình là mời Tuệ về ở chung để anh em có nhau trong cảnh xế chiều.

      Thanh nghe Tuyên nói, nàng vui vẻ tiếp lời chồng:

      Phải đó anh Tuệ, anh nên về ở đây với anh Tuyên. Chúng ta bây giờ là những kẻ bị đắm tàu, mình nên đùm bọc nhau nếu không bằng vật chất thì ít ra cũng trong tinh thần “Huynh đệ chi binh”! Nghe Thanh nói với vẻ mặt ân cần, cả ba đều cười tươi vui vẻ.

      Từ hôm ấy, Tuệ không còn đơn độc nữa, vợ chồng Tuyên đối với Tuệ như người thân trong gia đình. Phần Tuệ, sau một ngày kiếm sống bên lề đường với chiếc bàn con bán thuốc lá, tối về anh tìm nguồn vui trong việc dạy kèm cho đứa con trai của Tuyên đang học lớp 8.

      Từ ngày gia đình Tuyên có thêm Tuệ, cảnh sống vẫn đơn nghèo nhưng hạnh phúc của họ được nhân lên trong tình người. Tuệ không ngờ việc làm nhỏ bé ấy đã mang đến cho chàng niềm khích lệ qua các cuộc thi sát hạch có thành qủa đáng khen ở trường của con trai Tuyên, nhờ đó Tuệ được nhiều người trong xóm biết đến và cảm mến anh qua vợ chồng Tuyên. Họ gởi con đến nhờ Tuệ kèm vào buổi tối, từ đó Tuệ trở thành ông giáo trong xóm nhỏ.

      Môt buổi chiều trên đường về nhà, Tuệ nghe như có ai gọi tên mình, chàng vội quay lại. Thoa đang đứng trước cửa tiệm may của nàng chờ Tuệ đến, chàng vui vẻ hòi Thoa:

      - Có gì không cô Thoa?

      - Dạ em định nhờ anh kèm dùm toán cho Huy, em trai của em.

      Tuệ hỏi: Huy đang học lớp mấy?

      -Dạ nó đang học lớp 9, em nhờ anh giúp nó vào cuối tuần.

      Tuệ nói: tôi chỉ rảnh vào buổi tối, vậy khi nào cô cho Huy đến học?

      Thoa ngập ngừng vài giây và nói:

      -Em muốn thưa với anh một việc không biết có trở ngại gì cho anh không?

      Tuệ trả lời nàng: có gì cô cứ nói, nếu được tôi xin sẵn sàng.

      -Em muốn mời anh đến nhà kèm nó, vì buổi tối nếu Huy đi vắng chỉ có một mình ở nhà em ngại lắm!

      Tuệ suy nghĩ vài giây anh trả lời:

      Được chiều mai tôi sẽ đến lúc 7 giờ.

      Hai người chào tạm biệt và hẹn sẽ gặp lại.

      Thoa có một tiệm may nhỏ gần mặt đường Trương minh Giảng. Thân phụ Thoa lúc sanh tiền là một Sĩ Quan Không Quân cao cấp. Ông đã anh dũng đền nợ nước khi lái oanh tạc cơ ra bắc cách đây gần 10 năm. Mặc dù thân xác không còn nhưng QLVNCH đã trân trọng vinh danh, làm lễ truy điệu theo quân cách và dựng tấm bia danh dự khắc tên của thân phụ nàng đặt trong nghĩa trang Quân Đội Biên Hoà.

      Sau biến cố đau buồn đó, mẹ Thoa buồn rầu lâm bệnh và không lâu bà đã qua đời. Từ đó cuộc đời Thoa bị rơi vào những chuỗi ngày đau khổ, nàng tìm quên trong bổn phận làm chị thay mẹ để yêu thương và chăm sóc cho em trai của nàng.

      Có lẽ vì thế mà từ lâu Thoa chưa nghĩ đến việc riêng tư của mình. Thoa năm nay vừa 28 tuổi, nàng có một vẻ đẹp dịu hiền và đôi mắt hồ thu. Cô ăn mặc kín đáo nết na so với một số bạn gái đương thời.

      Từ khi gặp Tuyên, Tuệ như vớ đuợc chiếc phao giữa giòng, vợ chồng Tuyên đã đem lại cho anh một không khí gia đình đầm ấm qua những bữa cơm chiều bên dĩa rau cà đơn sơ, họ chia sẻ cho nhau những cay đắng ngọt bùi sau một ngày lao động vất vả.

      Thời gian Tuệ kèm toán cho Huy thấm thoát đã gần hai năm tròn. Tình cảm giữa Tuệ và chị em Thoa ngày càng thêm thân thiết. Thoa và Huy xem Tuệ như một người thân trong gia đình. Riêng Tuệ anh luôn giữ một tác phong đứng đắn khi tiếp xúc với Thoa và Huy, điều đó đã làm cho Thoa luôn chú ý đến chàng hơn. Đôi lúc ẩn mặt trong phòng, Thoa nhìn Tuệ qua bức rèm thưa, thấy anh đang chăm chú chỉ bài cho Huy: Tuệ có vầng trán rộng và đôi mắt sâu cương trực, nhưng không dấu được nỗi buồn đang ẩn khuất sau hàng mi thâm đen của chàng, cũng với đôi mắt này, đôi khi đã để lại trong lòng Thoa một thoáng buồn vu vơ hay một chút thẹn thùng nơi tâm tư thầm kín của người con gái đang yêu. Thoa thầm mong có dịp ngồi bên Tuệ để nghe Tuệ nói về đời chàng.

      Thế rồi trời như cũng chìu lòng người! Hôm ấy vào một đêm cuối tuần, trời bỗng giăng mây xám và đổ mưa, những giọt mưa nặng hạt kéo dài đến nửa đêm làm cả khu xóm đều bị mất điện, vì thế sau giờ dạy học cho Huy Tuệ phải ngồi nán lại chờ qua cơn mưa. Bên ngọn đèn dầu vàng nhạt, mùi trầm hương từ bàn thờ của song thân lan tỏa làm cho bầu khí trong gian phòng Thoa thêm ấm cúng và trang nghiêm. Qua những mẫu chuyện vui thông thường, hai người đã đi dần vào tâm sự của nhau. Thoa kể từ khúc nhôi đau buồn của gia đình mình cho Tuệ nghe. Sau cái chết của thân phụ, chẳng bao lâu, rồi mẹ cũng qua đời. Kể đến đây Thoa không nén được nỗi lòng, nàng úp mặt vào đôi tay thổn thức.

      Tuệ nhìn Thoa lòng anh trĩu xuống những giọt buồn, từng ngấn lệ trong mắt Thoa cơ hồ như mời gọi lòng trắc ẩn của chàng. Tuệ không còn giữ khoảng cách của mọi ngày, anh đưa tay vén những sợi tóc lòa xòa trên trán Thoa và nói:Thoa, đừng khóc nữa, anh xin lỗi đã vô tình khơi dậy nỗi đau buồn trong em.Thoa ngẩng nhìn Tuệ với đôi mắt còn ướt lệ, đôi má nàng ửng hồng như cánh hoa tím trong nắng sớm. Thoa có một vẻ đẹp dịu hiền thanh tú, một vóc dáng sang trọng quý phái của con nhà khuê các. Nàng là hiện thân của người phụ nữ đoan trang mà trước đây Tuệ đã từng mơ ước. Tuệ không muốn để Thoa kể tiếp câu chuyện buồn của nàng, anh cắt ngang bằng một câu nói hóm hỉnh: Bây giờ đến lượt anh, Thoa muốn anh kể chuyện vui hay buồn? Nghe Tuệ hỏi, Thoa lau vội nước mắt, nàng lấy lại vẻ mặt tự nhiên và hỏi:

      Em có thể nghe được cả hai không?

      Vẫn giọng hóm hỉnh Tuệ trả lời:

      Nếu muốn anh kể cả hai khi nghe chuyện buồn của anh Thoa không được khóc nhá!

      Thoa mỉm cười không nói, nàng yên lặng chờ đợi.

      Gương mặt Tuệ thoáng vẻ trầm tư, đôi mắt chàng như tìm về một qúa khứ xa xăm, nơi có những kỷ niệm êm đềm mà từ lâu Tuệ đã muốn chôn chặt tận đáy lòng. Bằng một giọng trầm buồn, Tuệ chậm rãi kể cho Thoa nghe mối uẩn khúc của lòng mình.

      Từ khi Tuệ rời sân trường Đại học để đi làm nhiệm vụ của nguời trai, tình yêu của chàng cũng bắt đầu chấp cánh. Người con gái mà chàng đã đặt tất cả kỳ vọng trong tim yêu giờ đã sang ngang, để lại cho chàng nỗi cô đơn rã rời. Nhưng thời gian vẫn là phương thuốc nhiệm mầu đã xoa dịu những vết thương nơi lòng người.

      Đôi khi trong đời lính chiến, có những tình yêu chợt đến rồi chợt đi như cơn gió thoảng, như một đám mưa rào, lòng anh vẫn thản nhiên không luyến tiếc. Thế mà hôm nay khi đối diện với một tâm tình đáng yêu, trước vẻ đẹp đơn sơ của người con gái dịu hiền, nàng cũng chung mang một số phận khổ đau vì đất nước, tự nhiên lòng Tuệ dấy lên sự đồng cảm dạt dào, chàng thấy mình không còn cô đơn như vẫn tưởng. Trái tim khô héo của chàng bỗng rộn lên một tình khúc yêu thương.

      Chợt Tuệ cầm lấy tay Thoa và gọi khẽ tên nàng, Thoa e thẹn cúi đầu với đôi rèm mi xao động, mớ tóc dài óng mượt che khuất một bên khuôn mắt trái xoan làm tăng thêm vẻ đẹp mơ huyền dưới ánh đèn khuya. Thoa lúng túng muốn lấy tay về, nhưng Tuệ đã giữ bàn tay nhỏ bé ấy trong tay chàng.
      Ngoài trời mưa vẫn êm đềm rơi trong màn đêm cô quạnh. Phải chăng mưa đang xua tan bao nỗi sầu nhân thế, mưa ru mộng đời bên giấc ngủ cô đơn, đem nồng say lên môi tình nở muộn, và như thế…

      Xin mặt trời hãy ngủ yên cho đêm dài vô tận!

      ***

      Lệnh giải tỏa khu nhà sàn ven sông khu cầu Trương minh Giảng từ lâu đã làm xôn xao dư luận của một số cư dân thường trú ở đó, thế nhưng trong cảnh cùng túng họ đành buông xuôi cho số phận…

      Hôm ấy là một đêm vào hạ tuần tháng 5, đang lúc mọi người đắm chìm trong giấc ngủ sau một ngày lam lũ khó nhọc. Bỗng có tiếng kêu la cầu cứu của một người trong nhà còn thức, họ vừa phát hiện một đóm lửa từ mặt sông của ai đó quẳng về hướng khu nhà sàn. Ngọn lửa bùng cháy nhanh và lan toả trên mái nhà. Họ đánh thức nhau dậy và tận dụng nhiều cách để dập tắt ngọn lửa oan nghiệt, đang thản nhiên thiêu rụi những mảnh đời chắp vá này. Nhưng không kịp vì ván và carton là loại mồi bắt lửa dễ dàng.


      Đền Tử sĩ-Cổng Tam Quan trước 1975


      Đền Tử sĩ-Cổng Tam Quan sau 1975

      Đêm hôm ấy, Tuyên bận đi gác dân phòng bên khu xóm khác, Tuệ đã giúp vợ con Tuyên mang được một số đồ đạc ra ngoài an toàn. Chợt có tiếng kêu cầu cứu của một cụ già vừa chạy ra khỏi nhà, còn lại đứa cháu nhỏ hai tuổi đang ngủ say bên trong, cha mẹ cháu phải đi bán hàng rong ở ga xe lửa. Tuệ nghe nói liền bỏ chiếc nạng, anh phóng người vào trong, lập tức vực đứa bé lên và ném nó ra ngoài cho những bàn tay đang chờ sẵn. Trong phút chốc ngọn lửa đã bốc cao lên mái, Tuệ phải trườn thật nhanh trong đám khói đen mù để thoát thân, vừa lúc ấy một cây đà ngang rớt xuống làm Tuệ phỏng nặng trên vai.

      Rạng sáng Tuyên mới về, chàng nhìn khu nhà sàn bây giờ chỉ còn lại đống tro tàn ngun ngút khói, lòng anh buồn vô hạn..

      Thoa nghe tin cũng vừa đến thăm chia buồn với gia đình Tuyên và Tuệ, nàng ngỏ ý mời gia đình Tuyên và Tuệ về tạm trú nơi nhà nàng. Trước cử chỉ ân cần của Thoa, vợ chồng Tuyên và Tuệ rầt cảm động. Thật lòng họ không muốn làm phiền Thoa, nhưng trong bước đường cùng, họ đành phải nhận lời mời của Thoa. Chỉ vài hôm sau Tuyên đã tìm được chỗ ở chung với người bà con bên Khánh Hội, chàng mời Tuệ về ở với gia đình chàng như trước đây, nhưng Tuệ không muốn làm phiền Tuyên, anh tỏ ý sẽ tìm một nơi ở khác.

      Riêng Thoa nàng cố giữ Tuệ ở lại lâu hơn vì vết bỏng trên vai chàng khá nặng. Trước khi dọn về Khánh Hội, Tuyên đã đề vào túi áo Tuệ một ít tiền đi xe và một mảnh giấy ghi đia chỉ mới của chàng. Tuệ ngồi yên nhìn bạn với ánh mắt đầy cảm động. Đến giờ phút này, trong cảnh mất nước nhà tan, bạn bè vẫn còn giữ được cái nghĩa khí thiêng liêng của ngày nào trong quân ngũ. Ý Tuyên không muốn rời xa Tuệ, nhưng làm sao Tuệ có thể thật tình đến thế được ? Khi gia đình Tuyên đang khốn đốn trong cảnh ở nhờ, lại phải cưu mang thêm Tuệ nữa ? Ngược lại, nếu Tuệ không ở với Tuyên sau khi rời nhà Thoa, Chàng sẽ đi đâu ? Câu hỏi được đặt ra, nhưng câu trả lời chỉ là những tiếng thở dài trăn trở của Tuệ giữa đêm trường.

      Qua cử chỉ săn sóc hằng ngày, Tuệ hiểu được Thoa rất mến yêu chàng. Nhưng định mệnh khá trớ trêu, nếu cơn mưa chiều đừng đổ xuống để nước mắt người em gái không tuôn rơi theo kỷ niệm của giòng đời, để bàn tay không tìm đến một bàn tay và đôi môi chưa nói lời yêu đương thật thà, thì hôm nay có đâu trái tim chàng phải đau xót khi nói lời chia tay ?

      Tuệ thầm nghĩ: “ nêú chàng đón nhận tình yêu của Thoa trong lúc này, vô tình chàng sẽ làm khổ cho Thoa, điều đó Tuệ không bao giờ muốn dù với bất cứ hình thức nào”. Vì thế Tuệ phải khẩn cấp làm theo quyết định của mình, cho dù trái tim chàng đang rướm máu, Tuệ vẫn không để cho Thoa phải khổ vì yêu chàng. Tuệ thấy mình nên ra đi sớm để tránh gieo vào lòng Thoa những khổ lụy về sau. Tuệ liền thu xếp vài vật dụng cá nhân để vào trong xắc đeo vai của chàng, còn các thứ khác Tuyên đã mang đi trước. Đợi đến giờ Thoa đi chợ, Tuệ mới thực hiện được ý định của mình, chàng tiến ra một ngã tắt đến mặt đường, gặp chiếc xe ôm vừa trờ tới, không còn sự chọn lựa nào khàc chàng đưa tay ra dấu, chiếc xe ôm dừng lại Tuệ bước vội lên xe và bảo người lái xe ôm chạy về hướng Khánh Hội.

      Khi về đến nhà, Thoa không thấy Tuệ ngồi xem sách ở thư phòng như mọi ngày, mắt nàng bắt gặp một mảnh giấy xếp đôi để trên bàn , Thoa cầm lên đọc:

      “ Thoa,em!

      Anh phải viết gì cho em trong phút chia tay này ?

      Một lời cám ơn, ngàn lời thương hay vạn lời yêu, tất cả chỉ là những gì rất nhỏ, so với ân tình em đã dành cho anh trong những ngày qua. Anh xin được mang theo trong tim mình để mãi nhớ đến em. Anh có việc phải ra đi, mong em hiểu và không buồn.

      Em là tất cả!... Tuệ”

      Thoa xếp thư bỏ vào túi áo, nàng ngồi im trong căn phòng vắng lặng. Tuệ đã rời xa Thoa thật rồi, nhưng hình ảnh chàng vẫn còn in đậm trong tâm tư nàng mãi mãi. Hình ảnh của một thanh niên giàu lòng yêu nước đang bị đoạ đày bởi một vết thương rất thiêng liêng trong tâm hồn, đó là “Tình Yêu Tổ Quốc”

      Vết thương đó Thoa cũng chung mang qua sự hy sinh của thân phụ nàng. Thật ra, Thoa đã đoán biết ngày ra đi của Tuệ qua những lần ngồi trò chuyện bên nhau.
      Tuệ vẫn còn giữ tư cách đặc biệt của một quân nhân VNCH dù ở hoàn cản nào chàng cũng không đánh mất danh dự và khí phách của một người, đã từng được rèn luyện trong môi trường đầy nhân cách có một truyền thống quảng đại kỷ luật biết quên mình cho kẻ khác. Thoa không nhìn Tuệ như một người khuyết tật, nhưng nhìn anh với đôi mắt sáng ngời, hiên ngang trong bộ quân phục hào hùng của người chiến sĩ “ Mũ Đỏ” đã một thời góp phần gìn giữ non sông, cho dân lành hậu phương được hưởng những tháng ngày bình yên. Có lẽ tình yêu của Thoa đã đến với Tuệ được bắt nguồn từ lòng ngưỡng mộ ấy.

      Vì thế, trong thời gian Tuệ tạm ở nhà Thoa để chữa trị vết thương, nàng đã hơn một lần đến gặp vợ chồng Tuyên để bày tỏ mối quan tâm của mình đối với cuộc sống của Tuệ. Thoa cũng yêu cầu vợ chồng Tuyên giữ kín việc làm này của nàng không để cho Tuệ hay biết. Vợ chồng Tuyên rất cảm phục tình yêu chân thật và cử chỉ cao đẹp của Thoa.

      Để làm theo lời Thoa, vợ chồng Tuyên đã tìm thuê một căn nhà nhỏ, vách gạch mái tôn trong khu xóm của chàng cho Tuệ ở. Họ đã cùng nhau xếp đặt một chương trình để che dấu sự thật, Tuyên nhận làm trung gian đứng ra giúp đỡ Tuệ qua nguồn tài trợ bí mật của Thoa.

      Chiếc xe ôm chở Tuệ dừng lại bên lề đường, Tuệ rời xe , anh đi vào một ngõ hẻm chừng vài chục mét đã nhìn thấy địa chỉ của Tuyên, thấy Tuệ về Tuyên vui vẻ rót cà phê ra tách mời Tuệ, Tuyên nói:

      Tôi định chiều nay qua thăm anh , không ngờ anh lại về đúng lúc quá!

      Tuệ mỉm cười, nét mặt chàng hiện rõ những ưu tư, anh đáp:

      Đúng ra hôm nay tôi chưa về vì vết bỏng còn ướt , nhưng ở lại nhà Thoa lâu tôi cũng ngại.

      Tuệ nâng tách cà phê uống một hớp chợt nhớ lại câu nói của Tuyên vừa rồi, chàng hỏi:

      -À! Anh vừa bảo tôi về đúng lúc, nhà có việc gì thế ?

      Tuyên cố giữ nét mặt bình thường, anh chậm rãi trả lời:

      Số là ông chú tôi có người con trai ở Pháp nó bảo lãnh ông sang chữa bệnh, nên chú tôi bảo tôi xem có bạn bè nào tử tế nhờ họ đến ở trông nhà dùm, tôi chợt nghĩ đến anh và chiều nay tôi định qua gặp anh để nói về việc đó. Nghe Tuyên trình bày, Tuệ ngồi yên như đang suy nghĩ , một hồi lâu Tuệ hỏi Tuyên:

      -Ông chú của anh khi nào đi Pháp và ông sẽ ở lại bao lâu ?

      Tuyên thản nhiên trả lời.

      Chú tôi đã rời Việt Nam hơn tuần nay, hôm qua vợ tôi có qua nhà quét dọn sạch sẽ, nhà tuy nhỏ nhưng đủ tiện nghi, anh qua xem sẽ biết, còn về thời gian lưu lại Pháp chắc phải nhiều năm.

      Thấm thoát đã trên mười năm Tuệ bặt tin với Thoa từ khi chàng đến ở căn nhà này. Đôi khi Tuệ muốn hỏi Tuyên về tin tức của Thoa nhưng chàng lại thôi, vì với khoảng cách thời gian qua chắc Thoa đã quên chàng. Tuệ cũng thường hỏi thăm sức khoẻ của ông chú Tuyên bên Pháp, lần nào Tuyên cũng bảo Tuệ cứ yên tâm ở đây, vì sức khoẻ của chú Tuyên chưa thể về được.

      Phần Thoa, nàng yên phận sống an vui bên người em trai của nàng như những ngày chưa gặp Tuệ. Có khác chăng, Thoa đã cố gắng làm việc nhiều hơn để có thêm điều kiện tài chánh giúp cho Tuệ qua trung gian của vợ chồng Tuyên.

      Nhờ ơn trời chiếu cố, tiệm may của Thoa ngày một đông khách, ngoài những thợ may phụ giúp, Thoa là chủ tiệm cũng bận suốt ngày, nhất là trong những tháng cuối năm.

      Nhờ đó, sau hợp đồng thuê nhà 3 năm, nàng đã mua căn nhà nhỏ ấy cho Tuệ ở vĩnh viễn mà Tuệ không hề hay biết. Vì thế dù có vất vả Thoa cũng rất tự hào và mãn nguyện vì nàng đã âm thầm thực hiện được hoài bão của mình, nó cũng chính là niềm thao thức của Tuệ. Hơn nữa, ngoài tình yêu chân thành Thoa dành cho Tuệ, anh xứng đáng để nhận được tấm lòng qúy mến và chia sẻ của người khác.

      Vào năm ngoái trong dịp tình cờ, Tuệ gặp lại người bạn cũ ở hải ngoại về, người ấy cho Tuệ biết một tin vui: chính quyền việt cộng hứa với một giới chức của nền Đệ Nhị Cộng Hòa, là họ sẽ chỉnh trang lại khu nghĩa trang Quân Đội Biên Hòa. Nghe tin này Tuệ đã chắt chiu được một số tiền nhỏ để đi xe lên Biên Hòa vào sáng hôm nay cũng nhằm vào ngày 30/4.

      Tuệ muốn được một lần nhìn lại cảnh cũ với bao thương tiếc ngậm ngùi, để nghe tim mình sống lại khúc hùng ca của nền dân Chủ Tự Do đã một thời thăng hoa giữa lòng đất Mẹ, để tận mắt nhìn thấy những ngôi mộ tại Nghĩa Trang Quân Đội được chỉnh trang trong danh dự, được tôn trọng đúng qui cách dành cho người Chiến Sĩ Quốc Gia đã bỏ mình vì Tổ Quốc, và cũng để lòng mình lắng xuống những cơn đau từ ngày Quốc Hận..

      Nhưng chàng đã hoàn toàn thất vọng vì lời hứa suông. Trước mặt Tuệ, khu Nghĩa Trang Quân đội sau mấy mươi năm không được chăm sóc, giờ đây đã trở thành một bãi tha ma hoang phế. Chàng đau lòng lê bước trên lối đi đầy cỏ dại dẫn tới lễ đài “Chiến Sĩ Trận Vong” anh dừng lại lấy một bó hương trong xắc đeo vai và bật lửa, Tuệ trân trọng nâng nén trầm hương ngang mặt, đôi mắt chàng nhắm lại tưởng nhớ đến các anh linh chiến sĩ. Qua làn khói mong manh, tâm hồn chàng chợt trở về với phút giây rung cảm, anh thì thầm:

      Hôm nay ngày 30/4, Tuệ bước chân đến đây để tìm về một quá khứ đau thương, nơi đó những trang sử oai hùng đã hơn một lần được tô thắm bằng máu đào của các anh. Những trang sử ấy tuy đã khép lại với một định mệnh không mong chờ, nhưng chính khí can trường của các anh luôn là niềm tự hào biết bao cho Dân Tộc Việt Nam (không cộng sản)? Và sự hy sinh cao cả của những người chiến sĩ VNCH không bao giờ bị lãng quên trong lòng ngưỡng mộ và biết ơn của hơn 40 triệu dân miền Nam yêu nước sau Ngày Quốc Hận 30/4/75.

      Nơi đây Tuệ xin gởi lại nén hương lòng để ghi nhớ ngày “VIỆT NAM BUỒN THẢM”, ngày ấy các anh đã chẳng tiếc mạng sống của mình để vun đắp cho cây “TÌNH YÊU TỔ QUỐC” được xanh tươi.

      Tình yêu đó xin “GỞI VÀO THIÊN THU” như ánh trăng rằm vằng vặc giữa đêm khuya, như ngọn đuốc thiêng muôn đời vẫn cháy sáng trong những tâm hồn còn thao thức đến vận mệnh đất nước của chúng ta.

      Tuệ xin bái chào vĩnh biệt. Nói xong chàng giữ thế nghiêm, đưa tay nâng ngang tầm mắt và phắt tay xuống trong tư thế yên hùng của người chiến sĩ Quốc Gia.

      Tuệ lần bước ra hướng cổng tam quan đi xuống đồi. Bên tai chàng tiếng côn trùng nỉ non những liên khúc thê lương, như tiễn chân người về với quạnh hiu bên nỗi sầu vong quốc! Một cảm giác buồn mênh mang vừa chiếm trọn tâm hồn, Tuệ chép miệng đọc một vần thơ hoài cổ:

      “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc”(Bà Huyện Thanh Quan)

      Chợt có tiếng chân dẫm lên xác lá vàng khô, từ phía dưới một người con gái ôm bó hoa trắng, nón lá che khuất nửa phần khuôn mặt đang tư từ bước lên trước mặt chàng, trong thảng thốt nàng kêu lên:

      Anh Tuệ !

      Tuệ giật mình dừng lại, chàng không khỏi ngạc nhiên khi nhìn cô gái trông rất quen… Nhưng chỉ trong giây phút, Tuệ ngỡ ngàng thốt lên:

      Thoa !

      Bốn mắt nhìn nhau như đưa nhau vào kỷ niệm, Tuệ cảm thấy bàng hoàng, nhịp tim chàng đập mạnh. Đôi mắt Thoa vẫn mơ buồn như ngày nào, áo dài lụa tím ôm sát thân mình thon thả của nàng làm nổi bật những đường cong tuyệt mỹ. Thoa tươi cười và tiến đến bên Tuệ với một cử chỉ thân mật nàng nói:

      Lâu qúa ! Anh có khoẻ không?

      Trước vẻ ân cần của Thoa, Tuệ không tránh khỏi mặc cảm cho thái độ trốn chạy của mình trước đây, tuy nhiên chàng đã lấy lại bình tĩnh để trả lời Thoa:

      -Anh vẫn khỏe, em vào đây thăm mộ ai ?

      _ Em đi viếng mộ bia của ba em. Em định chiều nay sẽ đến thăm anh.

      Tuệ nghe Thoa nói, chàng không thể hiểu được ý định của Thoa, Tuệ tự hỏi: Làm sao Thoa biết được nhà mình ? Hơn 10 năm không găp, hôm nay Thoa bảo sẽ đến thăm với chủ đích gì ?

      Bao nhiêu ý nghĩ làm Tuệ thấy lúng túng, dù sao Tuệ cũng không thể chạy trốn Thoa mãi được, anh nói \:

      - À nếu không có gì trở ngại mời Thoa đến nhà anh chơi, chúng ta sẽ gặp lại sau Thoa nhé!

      Thoa cúi mặt bước lên vài bậc cấp, bỗng nàng quay lại gọi:

      -Anh Tuệ !

      Nghe Thoa gọi Tuệ liền quay lại, chàng đứng chờ Thoa đang bước xuống gặp chàng. Thoa dịu dàng lấy ra trong xắc tay của mình một phong thư dày cộm, nàng đưa cho Tuệ và nói:

      - Tiện đây em xin gửi anh phong thư này anh về xem sẽ rõ.

      Nói xong Thoa bước vội lên đồi, trong khi Tuệ còn đứng ngẩn ngơ hồn anh như lạc vào cõi mộng. Cử chỉ ngượng ngùng của chàng lúc này trông thật đáng thương!
      Tuệ thầm nghĩ: “Đây chắc là tâm sự của mười năm xa cách, cũng có thể là Thoa sắp lên xe hoa” ? Những câu hỏi cứ dồn dập trong trí tưởng khiến Tuệ càng bước nhanh hơn. Chẳng mấy chốc Tuệ đã đến mặt đường và đón xe về nhà. Tắm rửa xong, Tuệ liền bóc thư ra xem với một cử chỉ hấp tấp, chàng hy vọng sẽ được nhìn lại những giòng chữ thân quen với tâm tình đáng yêu của người em gái thuở nào.

      Nhưng sự thật đã đi ngược với dự đoán của Tuệ, bên trong phong bì là một số giấy tờ liên quan đến địa chỉ chàng đang ở, Tuệ mở to mắt cố nhìn cho chính xác, trước mặt chàng là một bản gốc giấy chủ quyền nhà Thoa đã đứng tên mua căn nhà Tuệ đang ở, kèm theo là giấy “uỷ quyền vĩnh viễn” cho Tuệ được ở căn nhà này và được toàn quyền xử dụng như một người chủ. Bên dưới có chữ ký của 2 nhân chứng là Tuyên và Thanh. Cùng với một số giấy tờ thuế nhà đất và hợp đồng thuê nhà 3 năm trước đây. Tất cả các giấy đêu có dấu thị thực của đương kim chính quyền. Tuệ ngồi lặng người trước những giấy tờ chứa đầy tấm lòng cao quí của Thoa.
      Chàng không ngờ người con gái có vóc dáng mảnh mai ấy đã âm thầm làm được một việc lớn ngoài sức tưởng tượng của chàng. Chợt Tuệ vừa chạm đến một tờ giấy mỏng, Thoa viết:

      “Anh Tuệ thân mến!

      Có lẽ em đang làm phí thì giờ của anh đây, xin anh tha lỗi!

      Vì hoàn cảnh không cho phép lâu hơn, em xin mạo muội viết ít dòng này gửi anh.

      Em và Huy sẽ đi Hoa Kỳ vào tối nay theo giấy bảo lãnh của Hạnh. Những giấy tờ em vừa gởi đến anh, xin anh xem đó như một món qùa lưu niệm của một người em gái đã hơn một lần nghĩ đến anh trong cuộc sống cô đơn của mình! Thế nhưng tất cả đều là định mệnh phải không anh ?

      Nhân dịp này em xin gởi đến anh lời cầu chúc an mạnh trên quê hương yêu dấu với một trái tim luôn tự hào vì TÌNH YÊU TỔ QUỐC”

      Thoa…

      Tuệ bàng hoàng buông rơi bức thư trên bàn, chàng thẩn thờ nhìn qua song cửa. Nắng chiều vừa loé lên những tia sáng cuối cùng của một ngày tươi đẹp, gợi chàng nhớ lại những kỷ niệm đã qua khi còn ở nhà Thoa.

      Ngoài việc chăm sóc chu đáo cho vết thương Tuệ được chóng lành, Thoa còn có tài nấu nướng. Những bữa cơm chiều họp mặt là những giây phút thân mật và đầy hạnh phúc, cũng là dịp để Thoa tỏ bày lòng quí mến của nàng đối với Tuệ. Nàng thường gắp những món ăn để vào chén Tuệ với một cử chỉ ân cần.

      Hình ảnh của những bữa cơm chiều ấy, có bao giờ được sống lại trọn vẹn trong lòng Thoa không ? Giờ thì càng xa vắng hơn ! Nàng như cánh chim vượt trùng khơi bay về một khu rừng xanh mát.

      Tuệ, người ở lại với trời bơ vơ !

      Trong thinh lặng rất lâu, có lẽ Tuệ đang ôn lại những kỷ niệm ban đầu của một đêm mưa, để gởi hồn vào thương nhớ xa xăm…Bất giác Tuệ chép miệng: “ Xin những may lành và hạnh phúc luôn đến với người em gái tôi yêu, trên miền đất tự do”.

      Tiếng động cơ từ đâu bay qua dưới vòm trời xanh thẳm, Tuệ ngước nhìn chỉ thấy những vì sao lấp lánh dưới nền trời bao la, chợt một ánh sao vừa ló dạng đã vụt đổi ngôi về phía trời xa, để lại không gian u buồn một thiếu vắng mênh mông, một mối sầu ly biệt mà ngàn năm mây bay vẫn không vơi những ngậm ngùi./.

      Đoàn Minh Chiếu

      https://www.facebook.com/photo.php?f...type=3&theater

      Comment


      • Chuyến Vượt Biển Kinh Hoàng

        Chuyến Vượt Biển Kinh Hoàng
        Hồi ký - Topa



        Hình minh họa

        Đêm nay là đêm rằm nên trăng sáng hơn mọi đêm, một điều xem ra có vẻ bất lợi cho chuyến vượt biển của chiếc ghe dài mười ba thước và bề ngang hai thước sáu mươi phân mà, chỉ trong giây lát nữa đây thôi sẽ chở theo những con người khốn khổ phải bỏ quê hương để ra đi, trong đó có tôi.Tuy nhiên, tôi tin tưởng sẽ không có chuyện gì xảy ra để có thể ngăn cản lòng quyết tâm của chúng tôi, vì cũng tại nơi này, trong những ngày tháng qua đã có trên mười chuyến ghe đưa những đoàn người khốn khổ ra đi và đã đến bến bờ bình an, bởi vì chúng tôi có tiền, vàng, mà công an biên phòng Việt Cộng thì lại rất khao khát muốn có.

        Từ ngày tôi được tham gia vào công việc đưa những con người khốn khổ ra đi, những con người mà vị Tổng Thống của nền Đệ Nhị Cộng Hòa miền Nam Việt Nam đã từng cảnh báo trước: Một khi đất nước bị mất vào tay của cộng sản rồi là bị mất tất cả. Mất quê hương miền Nam thân yêu, mất gia đình, mất tài sản, mất nhân phẩm và, có khi mất luôn cả mạng sống…

        Cũng tại nơi đây đã có hơn mười chuyến ra đi và không có một chuyến nào bị những trở ngại hay bị những thảm cảnh xảy ra trên biển cả. Bây giờ đang là mùa xuân và chỉ trong năm tuần lễ nữa thì cái Tết cổ truyền lần thứ sáu, cái Tết năm 1981 của dân tộc, của đồng bào miền Nam, của đồng bào miền Bắc, sẽ trở lại trên quê hương sau ngày bị bức tử vì quân đội Việt Nam Cộng Hòa phải đầu hàng theo lệnh của vị tướng không có tài và cũng không có một chút kiến thức về chính trị nhưng lại ham muốn quyền lực: Tướng Dương Văn Minh.

        Đêm nay tôi quyết định phải ra đi, không thể chần chừ thêm được nữa trước khi quá trễ. Và như vậy, tôi tin rằng dù chuyện gì có xảy ra tôi cũng sẽ không đón cái Tết lần thứ sáu trên quê hương.

        Năm mùa xuân đã đi qua, năm cái Tết cũng đã trôi qua trong sự khốn khổ và nghẹn ngào dưới sự đọa đày của người chiến thắng cùng màu da và tiếng nói xem ra là đã quá đủ cho tôi rồi.

        Tại sao đêm nay khi phải rời bỏ quê hương mà trong lòng tôi lại rất hớn hở và không một chút lưu luyến hay muộn phiền? Ra đi khi không biết nơi mình sẽ đến với nhiều nguy hiểm đang chờ đợi, vậy mà mọi người và tôi vẫn háo hức ra đi tuy trong thâm tâm ai ai cũng nghĩ rằng, điều đó đã đem lại ít nhiều đau khổ.

        Nhưng, thật ra thì không còn cách chọn lựa nào khác tốt hơn.

        Trong đời mỗi một con người của chúng ta thường sẽ có nhiều chuyến đi, sẽ có rất nhiều lần rời bỏ, thay đổi, những nơi đã sống qua với ít nhiều kỷ niệm buồn vui. “Trong đời sống nhiều lúc chúng ta phải lựa chọn, nhưng, không có sự chọn lựa nào lại không đem đến khổ đau.” Câu danh ngôn mà tôi đọc được khi xưa vẫn luôn văng vẳng bên tai.

        Đêm nay tôi đang ngồi đây, trong buồng lái dã chiến của chiếc ghe, tôi nhìn đoàn người đang bồng bế dìu dắt nhau bước lên ghe lớn từ những chiêc ghe nhỏ gọi là tắc-xi, đồng thời tôi cũng nghe rõ ràng tiếng sóng vỗ bập bùng vào thân ghe mà lát nữa đây chiếc ghe này sẽ đưa chúng tôi ra khơi và đi đến đâu thì chưa một ai trong chúng tôi có thể tiên đoán trước được.Tôi đưa tay lên làm dấu thánh giá và bỗng đâu hình ảnh những người thân yêu ruột thịt của tôi năm nào đã bị thảm sát trong một lần Việt Cộng tấn công vào xã, cái xã nghèo và nhỏ tí xíu đã hoàn toàn bị san thành bình địa.

        Cái xã tọa lạc trong thành phố có con lộ định mệnh số 7 mà sau này khi miền Nam khởi sự rút quân và đi trên con lộ đó, để rồi quân và dân đã bị Việt Cộng thảm sát, rồi đưa đến một cuộc bại trận sau đó không bao lâu. Hình ảnh những người thân yêu của tôi hiện ra trong đầu làm tôi nhớ lại một thuở thật thanh bình trên quê hương miền Nam thân yêu mà tôi đã cùng vui cùng sướng khổ với gia đình trong mái tranh nghèo nàn nơi vùng đất mới vừa được khai hoang theo chương trình khẩn hoang lập ấp của vị Tổng Thống Đệ Nhất Cộng Hoà miền Nam Việt Nam.

        ***

        Mùa mưa năm xưa xa xôi ấy, mùa mưa năm một ngàn chín trăm sáu mươi hai, trên con đường trơn trợt giữa núi rừng, và tôi, một thằng nhóc con mười tuổi ngồi trong chiếc xe đò của hãng xe Sanh Hòa đi từ Pleiku về Sàigòn. Lần đầu tiên trong cuộc đời tôi đã biết thưởng thức một bản tình ca mà tôi sẽ không bao giờ quên được, đó là bản Mưa Rừng và hình như được trình bày qua tiếng hát của nữ ca sĩ Thanh-Thúy thì phải.Tôi buồn thật nhiều khi nhớ lại hai năm về trước tôi cũng phải rời xa nơi chôn nhau cắt rốn, phải rời xa một số bạn nhóc cùng trường và cùng xã để lên Đà-Lạt theo học trong một trường nội trú…

        Pleiku ngày ấy còn quá hoang sơ với núi và rừng rậm bao la… toàn đất đỏ. Con đường chính của thị xã rất hẹp. Khi có hai chiếc xe chạy ngược chiều nhau thì một chiếc phải ngừng lại để chiếc ngược chiều chạy qua rồi chiếc kia mới được chạy.

        Vào năm tôi học lớp ba trường tiểu học Pleiku tôi đã vô cùng thích thú khi được người bạn Thượng học cùng lớp “mời” tôi về buôn Thượng để chỉ lại những gì mà tôi đã học được cho các em trong buôn làng vì đã không có điều kiện đến trường. Nhớ lại ngày đầu tiên theo chân người bạn Thượng, tôi thật không ngờ người bạn này mỗi ngày phải đi bộ một quãng đường quá xa để đến trường. Tối hôm đầu tiên trong nhà người bạn Thượng tôi đã được ăn một bữa cơm mà chắc chắn tôi sẽ không bao giờ quên được trong cuộc đời.

        Khi tất cả mọi người quây quần bên cái bếp lửa đặt giữa nhà sàn, thì ba của người bạn Thượng của tôi vói tay lấy cái ống tre đặt trên cao xuống và rồi ông lấy trong ống tre đó ra một gói thức ăn nhỏ được gói trong một cái lá lớn có lông nhỏ li ti; bỏ vào trong bếp lửa để nướng. Cơm thì đã được nấu chín từ lúc nào tôi không rõ và cũng được gói trong một cái lá rất lớn có nhiều lông nhỏ li ti giống như cái lá gói thức ăn. Khi gói thức ăn đã được nướng chín thì mọi người cùng bốc thức ăn trong cái gói đó và ăn với cơm – Người Thượng trong thời gian đó hoàn toàn không dùng đũa hay muỗng…. Cho đến hôm nay cái mùi của gói thức ăn đó tôi vẫn còn nhớ mãi tuy thời gian trôi qua cũng đã trên năm mươi năm rồi; chỉ vì cái mùi của nó quá xá thúi. Nó thúi lắm! Thúi kinh khủng! Thúi tàn nhẫn!

        Lúc đó tôi còn nhỏ quá nên phản ứng của tôi cũng rất tự nhiên và không lịch sự. Người bạn Thượng thoáng nhìn tôi và anh hiểu ra nên anh đứng lên và đi nhanh đến cái ổ gà có con gà mẹ đang ấp những quả trứng, anh đỡ con gà lên và lấy một quả trứng, anh để quả trứng vào trong cái ca nước và đặt lên bếp để làm món trứng luộc chấm muối cho tôi ăn cơm… Hai ngày kế tiếp cũng cùng một thực đơn đó.

        Trẻ em Thượng trong lớp rất thích tôi vì hiếu kỳ. Có lẽ vì tôi là “người da trắng” đầu tiên mà các em Thượng được gặp chăng? Để đáp lại lòng ưu ái mà các em đã đặc biệt dành cho tôi, tôi đã “rộng tay” cho các em rất nhiều điểm vào hai môn học toán và chính tả mà tôi phụ trách. Những ngày trong buôn Thượng tôi thích nhất là đi ra suối nhìn các cô gái Thượng tắm. Lúc đó tôi còn quá nhỏ nên không hề có một ý nghĩ tà đạo nào mà chỉ hiếu kỳ, vì, khi các cô gái Thượng tắm họ không kỳ cọ giống như tôi. Các cô gái Thượng dùng một khúc cây ngắn, nhỏ và tròn để kỳ đất trông rất là lạ mắt.

        Ngày tôi xa rời nơi tôi đã sống với nhiều kỷ niệm của tuổi thơ, tôi không còn nhớ là ngày đó tôi đã gặp và từ giã những ai, nhưng, tôi nhớ là tôi buồn nhiều lắm… chứ không như đêm nay. Đêm nay tôi cảm nhận là phải bằng mọi cách xa rời nơi mà tôi đã có những tháng ngày làm việc và rong chơi với nhiều kỷ niệm trong đời.
        Tôi sợ sẽ bị bắt lại để phải sống với những con người luôn mang sự căm thù trong tận đáy lòng bởi tôi không có cùng một ý thức hệ.

        Chiếc ghe rời bến vào khoảng ba giờ sáng với hai người có nhiệm vụ hướng dẫn chiếc ghe ra cửa biển Vũng Tàu; ra khỏi khu vực gọi là “đèn trắng”. Hai người này không ngờ tôi cũng đi đêm nay nên hai người cố gắng thuyết phục tôi ở lại để “đánh” thêm vài chuyến nữa rồi hãy đi nhưng, chí tôi đã quyết nên tôi cũng cố gắng thuyết phục hai người cùng đi. Cuối cùng hai người đã nhảy xuống con sông lớn trên đường dẫn ra biển để bơi vào bờ khi tôi sơ ý nhìn đi nơi khác. Bốn con mắt nhìn tôi đầy giận dữ và căm thù khi cái đèn pha trong tay anh Thiếu tá Hải-Quân Phan Chánh Cương chiếu ngay mặt hai người. Tôi cũng sẽ không bao giờ có thể quên được bốn ánh mắt đó khi tôi còn hiện diện trong cuộc đời này.

        Anh Phan Chánh Cương đã cố gắng lèo lái chiếc ghe ra đi nhưng anh không quen con đường này, vì vậy vào khoảng hơn bốn giờ sáng thì chiếc ghe bị mắc cạn.
        Chúng tôi đã cố gắng chống sào để ra khỏi vùng bị nạn nhưng vô ích. Chiếc ghe dài mười ba thước vẫn nằm yên không nhúc nhích. Mệt mỏi, chán nản và lo sợ, nên tôi đã tiêu hủy hết những chứng từ có liên quan đến chiếc ghe và đến những người có liên hệ với tôi trong tổ chức. Khoảng gần năm giờ sáng chúng tôi đã cố gắng thử thời vận một lần chót theo lời đề nghị của chú Gao – chú em lái ghe nhỏ đưa khách ra ghe lớn – bằng cách chạy qua chạy lại bề ngang của chiếc ghe.

        Đức-Chúa Giêsu. Đức-Mẹ Maria. Đức-Phật Quán-Thế-Âm Bồ-Tát từ bi đã cứu chúng tôi! Chiếc ghe đã chòng chành chuyển động mỗi lúc mỗi nhiều hơn nên tôi đề nghị với anh Cương:

        – Anh cho máy nổ và thử chạy lùi để chuyển qua hướng khác được không anh Cương?

        Anh Cương đã làm theo lời đề nghị của tôi và chiếc ghe đã chạy thoát vùng mắc cạn.

        Lúc này trời đã quá sáng tỏ để chúng tôi nhìn thấy từ phía trong bờ có hai chiếc tàu nhỏ chạy ra về hướng chúng tôi và… những người đứng trước mũi của hai chiếc tàu đó đang phất cờ và bắn vài phát súng chỉ thiên.

        Anh Phan Chánh Cương nói:

        – Họ ra lệnh cho mình phải ngừng lại, nếu không họ sẽ bắn thẳng vào ghe.

        Tôi nói với anh Cương:

        – Anh cứ cho máy chạy hết tốc lực đi và nếu phải chết thì chúng ta cùng chết chứ không thể để bị bắt lại.

        Một lần nữa anh Cương lại làm theo đề nghị của tôi. Chiếc ghe ngóc cao mũi và phóng thẳng về phía trước với vận tốc tối đa của nó.Tôi đứng dang hai tay gác trên cái mái chỗ làm phòng lái và nhìn về phía trước. Tôi hít một hơi thật dài cho không khí vào đầy hai cái lá phổi. Đã bao năm tháng qua, đây là lần đầu tiên tôi thật sự được hít thở không khí của tự do!

        Có một anh thanh niên lạ đến đứng bên cạnh tôi, anh nhìn biển một lúc rồi quay nhìn tôi và nói:

        – Biển yên quá, hy vọng họ sẽ không đuổi theo kịp được mình.

        Tôi nhìn anh và đề nghị:

        – Anh hãy giúp chúng tôi nói với mọi người dưới hầm ghe là ai nằm ở đâu thì nằm yên ở đó chứ đừng có lên trên này nguy hiểm lắm.

        Khi anh chàng thanh niên vừa quay lưng đi và chui xuống hầm ghe thì tôi cũng vừa chợt nhận ra lời đề nghị của mình quá thừa thãi. Những người nằm dưới lòng ghe, phần thì mệt vì thiếu ngủ, phần thì say sóng vì ghe chạy quá nhanh nên mọi người vẫn nằm yên tại chỗ… như chết.

        Khoảng một giờ trưa thì chúng tôi không còn thấy hai chiếc ghe của biên phòng rượt đuổi theo nữa. Chúng tôi bị rượt đuổi hơn năm tiếng đồng hồ. Anh Phan Chánh Cương cũng vẫn đang cho chiếc ghe chạy với vận tốc tối đa để tránh những chiếc ghe đánh cá quốc doanh đang lởn vởn chung quanh.

        Gần bảy giờ tối. Lúc này màn đêm đã phủ chụp lên vạn vật nhưng chiếc ghe thì vẫn lao thẳng về phía trước. Chiếc ghe đang phóng ngon trớn thì bất ngờ cái máy ghe bỗng “ho” lên khục khặc vài tiếng rồi không chịu chuyển động nữa. Tôi phải tạm cầm lái để anh Cương và người phụ thợ máy cố gắng mò mẫm trong ánh sáng yếu ớt của cái bóng đèn nhỏ wat để sửa chữa cho máy nổ lại. Trong lúc mọi người đang hồi hộp thì bỗng tôi nhìn thấy ngọn sóng biển đột ngột dâng lên thật cao và đồng thời gió thét ầm vang cả một vùng biển rộng.

        Đây là lần đầu tiên trong đời tôi nhìn thấy sóng biển cao như vậy. Ngọn sóng đã đưa chiếc ghe lên cao – lên thật cao – rồi thình lình hạ thật thấp xuống làm đáy của chiếc ghe va chạm vào mặt nước biển và phát ra cái âm thanh thật hãi hùng mà tôi tưởng chừng như chỉ trong một vài lần va chạm như vậy nữa là chiếc ghe sẽ bị bể tan ra từng mảnh nhỏ rồi chìm xuống đại dương. Những ngọn sóng tiếp nối nhau như muốn phủ chụp lên chiếc ghe của chúng tôi làm cho tôi phải nhắm mắt lại và đồng thời tôi nghĩ: Không ngờ cuộc đời tôi lại chấm dứt như thế này, ở đây, giữa biển khơi.

        Lúc này không phải chỉ có riêng một mình tôi mà tất cả mọi người trong ghe không còn một ai dám nhìn những ngọn sóng nữa… ngoài anh cựu Thiếu tá Phan-Chánh-Cương vì anh đang phải cầm lái. Tôi nằm co rút người lại trong phòng lái, bên cạnh anh Cương và cầu nguyện. Tôi không còn can đảm nữa khi nghĩ chỉ trong giây lát nữa đây thôi là tất cả mọi người, và tôi, sẽ bị những ngọn sóng dữ kia nhận chìm xuống đáy biển.

        – Anh Ba dậy cầm lái cho tôi một lúc. Tôi mệt quá rồi. Tôi không thể chịu nỗi nữa rồi.

        Anh Cương vừa nói vừa lay tôi dậy. Tôi đã thiếp đi lúc nào không biết. Tôi đã ngủ được một giấc.

        – Bây giờ là mấy giờ anh Cương?

        – Hơn mười hai giờ đêm.

        – Tôi phải giữ lái như thế nào?

        – Anh cứ giữ như tôi đang để. Bão vẫn còn mà máy thì đã chết nên cũng không thể làm gì hơn
        được nữa.

        Tôi ngồi dậy và cầm lái. Nếu có ai hỏi, trong đời tôi lúc nào là lúc mà tôi thấy kinh hoàng nhất, thì có lẽ là lúc này đây. Tôi đã hơn một lần chạy trong vùng lửa đạn chiến tranh nhưng tôi không kinh hoàng. Tôi đã một lần bị một tên Việt Cộng kề súng vào đầu tôi hăm dọa bắn khi tôi định nhảy khỏi toa xe lửa trong một lần đi buôn vì chính sách đại sai lầm ngăn sông cấm chợ của tên Tổng Bí Thư ngu xuẩn Lê Duẫn. Dù quá sợ nhưng tôi vẫn nhảy và chẳng may tôi bị an ninh tóm cổ khi chạy vào ngõ cụt… tôi cũng chưa kinh sợ nhiều.

        Nhưng, đêm nay với những ngọn sóng quá xá cao, ngọn sóng đã đưa chiếc ghe lên thật cao rồi hạ thật nhanh và thật mạnh xuống làm đáy ghe đập thật mạnh xuống mặt nước biển mà mỗi lần như vậy trái tim tôi, ngực tôi, như bị tay lực sĩ nào đó đấm thật mạnh vào làm tôi cứ bị đau nhói lên. Tôi đã quá kinh hoàng và sợ hãi nên tôi gọi anh bạn thanh niên đã nói chuyện lúc ban sáng với tôi khi bị rượt đuổi, lại ngồi với tôi. Có hai người tôi bớt sợ phần nào. Chúng tôi hút thuốc thật nhiều vì gió lạnh, và, dĩ nhiên cũng vì quá sợ hãi.

        Mọi chuyện rồi cũng qua. Sóng biển đã không còn những cơn giận dữ nữa. Ánh mặt trời cũng đã bắt đầu ló lên ở phía bên trái của chiếc ghe. Anh Cương đã thức dậy. Anh nhìn vào hải bàn và tỏ ý hài lòng với tọa độ mà anh đã tính. Anh nói:

        – Với vận tốc và thời gian mà chiếc ghe đã chạy trước khi bị chết máy, tôi bảo đảm với anh Ba Hùng là chúng ta đã qua khỏi đảo Côn Sơn rồi.

        Tôi quay qua nói với người thanh niên đã ngồi bên cạnh tôi suốt đêm:

        – Anh đi gom lại những túi thức ăn và những cây mía xem mình còn lại bao nhiêu.

        Một lát sau anh thanh niên đem lại vài túi xách nhỏ và cho biết:

        – Khi bị rượt, các túi thức ăn đã rớt xuống biển nhiều, còn lại đây chẳng có bao nhiêu.

        Tôi lấy trong những cái túi thức ăn đó ra ba cái bánh chưng nhỏ. Một cho anh Cương, một cho anh thanh niên, và một cho tôi. Chúng tôi pha café và cùng ăn uống với nhau.

        Khi mặt trời đã lên khá cao, tôi chui xuống lòng ghe để kêu người thợ máy dậy sửa máy. Người thợ máy không thể nào nhúc nhích được nữa vì anh ta quá say sóng và ói rất nhiều. Anh ta chỉ có thể hé mở được một con mắt thôi.Vâng, đúng là anh ta chỉ hé mở được có một con mắt thôi, và, anh thều thào trong cổ họng yêu cầu chúng tôi khiêng anh đến bên cái máy. Đến bên cái máy rồi anh ta cũng không thể cử động tay chân nỗi nữa. Anh nằm đó nhắm hai con mắt lại và chỉ dẫn người phụ máy cùng hai anh em chúng tôi phải làm những gì theo lời anh. Sau khi chúng tôi đã làm tất cả mọi động tác theo lời anh, và, sau khi đã thử cho máy nổ rất nhiều lần, nhưng vô hiệu. Cuối cùng anh thợ máy nói:

        – Cái “rờ-le” đã bị cháy vì bị quần áo cuốn vào cây láp làm tung nước vào đó. Em đã quên mang theo cái “rờ-le sơ cua” nên không còn cách nào khác nữa!

        Tôi nhìn anh Cương. Anh Cương nhìn tôi. Chúng tôi không nói gì với nhau. Anh Cương chui ra khỏi hầm máy. Tôi cũng chui ra theo anh. Ngay lúc đó tôi nghe tiếng một người đàn ông trong lòng ghe la khóc rất lớn:

        – Bố đã giết con rồi con ơi! Giời ơi là giời! Tôi giết con tôi rồi!

        Tôi chui lại vào trong lòng ghe với sự bực tức và nói thật lớn với người đàn ông đang khóc:

        – Anh kia! Anh không được làm mọi người hoang mang và lo sợ nghe không! Tại sao anh phải khóc? Nếu chết thì tất cả cùng chết chứ có riêng gì gia đình anh đâu. Anh làm gì trước đây?

        Người đàn ông nhìn tôi thoáng chút ngạc nhiên nhưng rồi ông cũng trả lời:

        – Dạ… trước đây tôi là Trung úy thông dịch viên mới đi cải tạo về.

        – Thôi… anh đừng làm ồn nữa. Kể từ hôm nay anh lãnh nhiệm vụ phát nước cho mọi người.

        Còn anh kia! Tôi chỉ tay về phía một người đàn ông trung niên và khá to con.

        – Trước kia anh làm gì?

        – Tôi là Đại úy bộ binh cũng mới đi cải tạo về.

        – Từ nay nhiệm vụ của anh là… phát cơm cho mọi người nghe.

        Phân công xong tôi chui ra khỏi lòng ghe. Tôi đến bên anh Cương. Anh Cương đang cầm trong tay những món đồ nghề đi biển, anh nói:

        – Với sức trôi của chiếc ghe mà tôi đã đo được thì khoảng… mười ngày nữa là ghe mình sẽ trôi vào đất Thái Lan.

        Mười ngày nữa ? Mười ngày nữa thì làm sao có đủ thức ăn và nước uống cho chừng này người? Mà chiếc ghe này có bao nhiêu người ? Tôi nghĩ vậy và nhìn quanh để tìm người phụ giúp. Hướng trước mặt tôi có một người đàn ông có dáng vẻ rất quê mùa và rất đáng nghi ngờ. Tôi ngoắc anh ta lại và hỏi:

        – Anh làm gì trước đây ở…Việt-Nam?

        Thật bất ngờ khi nghe anh nói:

        – Tôi là Trung úy An-Ninh Quân-Đội.

        – Anh có giấy tờ gì đem theo không?

        – Dạ có!

        Anh lấy từ trong bóp ra một tờ giấy mà anh đã cẩn thật để vào trong mấy lớp nylon và đưa cho tôi xem. Tôi cầm và đưa qua cho anh Cương. Anh Cương nhìn vào một lúc nhưng anh không nói gì mà chỉ gật đầu như xác nhận. Tôi nói với anh Trung úy An-Ninh quân đội:

        – Từ nay anh giữ trật tự trên ghe này. Bây giờ anh đi kiểm cho tôi xem trên ghe mình có tất cả bao nhiêu người nhé.

        Khi ghi lại ký ức về chuyến đi này tôi đã giận tôi vô cùng. Tôi giận tôi vì đã quên hẵn tên ba người cựu sĩ quan của quân lực Việt-Nam Cộng-Hoà đó. Những người đã cùng tôi đi trên chiếc ghe mang số SS 1050 IA trôi dạt đến bờ biển Mã Lai ngày 03/02/1981. Trong tận cùng trái tim tôi, tôi vẫn luôn nhớ về các anh, những người đã góp sức để giữ cho chiếc ghe không bị hỗn loạn cho tới ngày đến được bến bờ tự do.

        Ngày đầu tiên xem như chúng tôi đã tạm sắp xếp xong mọi trật tự trên ghe. Tôi đã dọa là sẽ quăng xuống biển những ai làm mất trật tự. Ngày đầu tiên tôi cho phát nước một ngày hai lần. Một lần mỗi người hai nắp “bidon” của quân đội Việt-Nam Cộng-Hoà. Không ai được hơn quy định đó, kể cả anh Cương và tôi. Tôi cho gom các bao khoai lang lại và chia ra làm mười phần, cho mười ngày, mỗi ngày ăn một lần. Anh Trung úy an ninh quân đội cho tôi biết đã đếm đi đếm lại rất nhiều lần và con số chính xác là một trăm mười ba ( 113 ) người hiện diện trên ghe.

        ***

        Đến hôm nay thì chiếc ghe của chúng tôi đã trôi được bảy ngày rồi. Nồi khoai lang bây giờ khi nấu lên nó có một màu đen và… kinh khủng quá! Vào ngày thứ năm tôi đã cho rút phần phát nước xuống mỗi ngày một lần, mỗi lần mỗi người cũng chỉ được một nắp “bidon” thôi. Chúng tôi đã tháo tấm bạt che trên mui ghe ra làm buồm. Có một điều thật không thể hiểu được là từ khi “giương buồm” lên thì chiếc ghe tự động quay đầu và trôi theo tư thế lùi. Hễ tháo “ buồm” ra thì chiếc ghe trôi theo tư thế thuận. Cuối cùng thì anh Cương cũng quyết định là “giương buồm” vì dù sao chiếc ghe cũng trôi nhanh và theo hướng mong muốn, tuy phải trôi theo thế lùi.

        Trưa ngày trôi thứ bảy.

        Anh Phan-Chánh-Cương bỗng tươi tỉnh nét mặt khi anh nhìn vào ống dòm và báo là có một chiếc tàu đang chạy về hướng chiếc ghe của chúng tôi. Sau một lúc, anh nói lớn như muốn cho mọi người cùng nghe:

        – Có chiếc tàu đang chạy về hướng chúng ta và có lẽ là chiếc tàu thuộc toán cấp cứu của Tây Đức.

        Khi chiếc tàu đến cách chiếc ghe của chúng tôi một khoảng cách đủ để chúng tôi nhìn thấy những người trên chiếc tàu đó là những người có nước da ngâm đen và… quấn xà rông. Anh Cương không còn nét mặt “hồ hởi phấn khởi” như lúc ban đầu nữa nhưng anh cũng không nói gì. Người thuyền trưởng bên chiếc tàu đó muốn nói chuyện với thuyền trưởng của chiếc ghe chúng tôi. Anh Cương với cương vị đó nên anh đã qua bên chiếc tàu gặp tên thuyền trưởng. Một lúc sau anh Cương trở về và cho biết là người thuyền trưởng bên chiếc tàu muốn cứu chúng tôi để chở vào bờ. Họ yêu cầu mang tất cả hành lý qua tàu của họ.

        Tất cả mọi người đã qua hết bên chiếc tàu “cấp cứu” và được đối xử rất tử tế như cho thức ăn và nước uống. Đang khi mọi người còn vui vẻ vì tin rằng đã được cứu thì một tên trong bọn họ bắn chỉ thiên một phát súng và yêu cầu tất cả theo hàng một đi vòng chiếc tàu từ đầu ra cuối rồi vòng về chỗ cũ. Một trăm mười hai người – Anh Cương được miễn – đi vòng từ đầu mũi tàu ra đến phía sau tàu là có một bọn năm tên đã đứng sẵn ở đó để khám xét và lột sạch những gì mà bọn chúng nghĩ là đáng giá. Khi đã lột sạch những gì mà bọn chúng lột được, bọn chúng ra lệnh cho những con người khốn khổ chúng tôi trở về lại chiếc ghe và bố thí nửa thùng phuy nước, một bao gạo và khá nhiều cá rồi sau đó chiếc tàu “cấp cứu” lại thẳng hướng ra khơi.

        Nhiều người trong chúng tôi đã chửi thề và nguyền rủa bọn cướp biển là tàn ác… nhưng tất cả cũng rất vui vì đã được một bữa cơm rất ngon, đúng nghĩa là cơm!
        Ba anh cựu sĩ quan có nhiệm vụ trên ghe đã hăng hái làm tròn nhiệm vụ! Sau một tuần không có cái gọi là cơm, chiều nay tất cả chúng tôi đã tận hưởng được một bữa cơm ngon nhất trong đời!

        Trưa ngày trôi thứ tám.

        Từ xa xuất hiện hai chiếc tàu với nhiều lá cờ đủ màu sắc đang tiến về chiếc ghe của chúng tôi. Khi hai chiếc tàu đến gần, chúng tôi nhận biết ngay đây cũng là bọn cướp người Thái Lan. Bọn cướp rất đông vì chúng đến một lúc hai chiếc tàu và đứa nào mặt mũi cũng rất dữ tợn. Bọn chúng với mã tấu và súng ngắn đã tràn qua ghe của chúng tôi và bắt đầu cướp phá. Bọn cướp tháo gỡ những bộ phận của chiếc máy ghe và mang qua tàu của bọn chúng. Bọn chúng bắt tất cả đàn bà con gái qua tàu của bọn chúng và phát cho mỗi người một cục xà bông rồi bắt thoát y đứng tắm trần truồng trên sàn tàu. Ai không chịu tắm là chúng đá vào người.

        Sau khi những người đàn bà khốn khổ kia tắm xong, lập tức bọn cướp cùng chia nhau hãm hiếp ngay tại sàn tàu. Một trong hai tên thuyền trưởng đã “may mắn” dẫn một cô gái thật đẹp người Huế vào phòng riêng. (Sau này tôi được biết cô gái Huế đã tốt nghiệp đại học môn Anh văn và chưa lập gia đình. Khi lên trại tỵ nạn, cô gái Huế phụ trách dạy môn Anh văn).

        Đến nửa khuya bọn cướp biển thả những người đàn bà khốn khổ về lại chiếc ghe sau khi cho mỗi người một hộp sữa.

        Cũng như chiếc tàu trước, hai chiếc tàu này cũng cho ghe chúng tôi gạo, nước, cá tươi và cá khô.

        Từ khi được thả trở về lại chiếc ghe cho đến sáng, những người đàn ông chúng tôi phải bị nghe tiếng âm thanh rên la thật buồn não của những người đàn bà xấu số. Không chỉ những người đàn bà khóc mà có cả tiếng đàn ông khóc nữa. Trên ghe có khoảng bốn chục người đàn bà, cộng thêm khoảng gần bốn chục tiếng khóc của những người đàn ông kèm theo nên âm thanh đó rùng rợn và buồn thảm vô cùng giữa biển khơi im lắng.

        Ngày trôi thứ chín.

        Sáng hôm nay anh Cương và tôi rất ngại nhìn cũng như nói chuyện với những người đàn bà. Hầu hết những người đàn bà đã lên mui ghe ngồi… phơi nắng. Một số người đã tỏ ra như có kinh nghiệm nên họ đã bôi dầu máy tàu lên mặt và khắp người. Nhìn những người đàn bà lúc này thật buồn cười mà tôi không dám cười. Chú Gao, tên của chú em ở xã Phước-Hòa thuộc tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu làm nghề đưa khách vượt biên từ ghe taxi ra ghe lớn, và cũng là người đã đề nghị chạy qua chạy lại sàn ghe hôm bị mắc cạn; đến bên tôi và kể lể với gương mặt như khóc:

        – Anh Ba Hùng biết hôn, em thương con bồ của em lắm, em hỏi cưới nó thì ông già nó nói nó mới mười bảy tuổi đợi sang năm đủ mười tám thì cho cưới. Em thương nó quá nên rủ nó đi vượt biên luôn. Đụ mẹ không ngờ mấy thằng Thái Lan nó hưởng trước em. Đụ mẹ tụi nó chứ!

        Sáng sớm ngày trôi thứ mười.

        Anh Cương bây giờ không còn ống dòm để nhìn xa nữa. Tất cả đồ nghề dùng đi biển đã bị bọn cướp lấy mất. Anh lại gần tôi và chỉ tay về phía bên phải. Nhìn theo cánh tay anh, từ xa có ba chiếc tàu đang chạy đến. Khi ba chiếc tàu đến gần hơn tôi thấy những chiếc này cũng có treo nhiều lá cờ đủ màu sắc như những chiếc trước. Ba chiếc tàu cặp gần hai bên hông chiếc ghe của chúng tôi. Bọn chúng kêu anh Cương qua tàu của bọn chúng nói chuyện và hỏi có vũ khí, tiền bạc, để trả cho bọn chúng thì bọn chúng sẽ kéo vào bờ. Anh Cương trình bày hiện trạng của chiếc ghe vượt biển vừa dứt lời thì lập tức bọn chúng rú lên như khỉ giả nhân rồi tràn qua ghe của chúng tôi.

        Một màn cướp phá tàn khốc lại diễn ra. Lần này bọn cướp đến với ba chiếc tàu nên sự cướp phá dĩ nhiên là tàn bạo hơn. Có những tên cướp đã hãm hiếp những người đàn bà ngay trong lòng ghe. Một số phụ nữ thì bị dẫn về tàu của bọn chúng. Bọn chúng vừa lôi kéo phụ nữ vừa nhảy vừa hú cứ y như những con khỉ đột.Tôi nhìn thấy chú Gao đang ôm cô bạn gái đã bất tỉnh vì quá sợ hãi. Thân hình cô bạn gái của chú Gao quá nhỏ, nhỏ như đứa bé con và hơn nữa đã được bôi khắp thân thể dầu mỡ của máy ghe nên những tên cướp đã… tha.

        Buổi chiều cùng ngày, bọn cướp thả những người đàn bà về lại ghe và cũng cho thức ăn và nước uống.

        Ngày trôi thứ mười một.

        Khoảng giữa buổi trưa có một anh thanh niên thật trẻ tuổi đến bên tôi và hỏi:

        – Anh Ba Hùng ơi, anh có đọc truyện người tù khổ sai Papillon chưa?

        Quyển sách rất nổi tiếng của tác giả Henry Charriere tôi đã đọc qua rất nhiều lần.Tôi chưa hiểu anh chàng này muốn gì thì anh chàng đã tiếp:

        – Papillon đã vượt ngục trong điều kiện hết sức khó khăn và rồi đã thành công. Ở trên ghe này có nhiều những can nhựa trống, em xin anh cấp cho em những can không đó và ít nước uống để em thả trôi vô bờ trước. Em sẽ thông báo cho Cao ủy biết để Cao ủy cho người ra cứu.

        Đề nghị quá táo bạo và… quá hấp dẫn! Tôi bàn qua với anh Cương và mọi người trên ghe. Tất cả đều đồng ý và sau đó tôi quyên góp được nửa “bình ton” chanh và đường. Tôi cấp cho anh chàng “Papillon” hai “bình ton” nước, cột mười can nhựa lớn lại với nhau và đặt lên trên đó một miếng ván. Anh Cương viết một lá thư tiếng Anh và bỏ vào một cái chai đậy nắp lại thật kín, cột vào cánh tay anh “Papillon”. Khi chiếc bè làm gần xong thì có một anh chàng khác đến xin tháp tùng theo anh “Papillon” và anh “Papillon” xin tôi cho hai người cùng đi chung cho vui. Tôi đồng ý.

        Khi chiếc bè được thả xuống với hai anh chàng bên trên thì nước ngập ngang lưng quần của hai anh nhưng hai anh đã yêu cầu tháo giây cột giữa chiếc bè với chiếc ghe để hai anh ra đi. Khi giây đã được tháo ra khỏi chiếc ghe thì rõ ràng chiếc ghe tuy lớn, nhưng đã trôi qua mặt chiếc bè. Chiếc bè có lẽ đang đứng một chỗ chứ không trôi vì chiếc ghe đã trôi qua mặt chiếc bè rất xa. Chúng tôi đã hỏi lại là có thay đổi ý kiến gì không thì hai cánh tay của hai anh chàng đưa lên cao vẫy vẫy ra dấu từ giã chúng tôi.

        Khi chiếc bè được thả xuống với hai người bạn trẻ bên trên thì lúc đó trời còn sáng lắm vì đang là buổi trưa. Khi hai cánh tay của hai người bạn trẻ ra dấu từ giã chúng tôi thì khoảng năm phút sau – Tôi nghĩ không quá năm phút – trời bắt đầu âm u và giông tố nổi lên ầm ầm báo trước một cơn bão sẽ đến. Lúc này thì không còn cách nào nhìn thấy hai người bạn trẻ đó nữa rồi. Cơn bão đã kéo đến thật nhanh, rồi sóng to gió lớn nổi lên cuồn cuộn y như ngày đầu ra đi. Tôi không còn can đảm để nhìn những ngọn sóng tàn bạo đó nữa. Tôi nhắm mắt lại vì sợ hãi và rồi một giấc ngủ đã đến với tôi. Giấc ngủ với những cơn ác mộng kinh hoàng!

        Ngày trôi thứ mười hai.

        Sáng nay không ai nói với ai về chuyện hai người bạn trẻ của ngày hôm qua. Mọi người đều hiểu rằng hai người bạn trẻ đã không qua được cơn bão quá lớn như ngày đầu ra khơi. Phải chăng hai người bạn trẻ đó đã hy sinh cho mọi người được sống? Có ai đó đã nêu ra con số một trăm mười ba người trên ghe là con số không may mắn. Những người theo đạo Phật thì đang xầm xì về những cái gọi là hiện tượng. Tôi làm dấu thánh giá và đọc kinh cầu cho linh hồn hai người bạn trẻ đó. Tôi tin một cách xác quyết là Đức Mẹ sẽ giúp chiếc ghe đến bến bờ bình an, mặc dù có nhiều khó khăn.

        Theo lẽ thì tôi đã đi trong chiếc ghe của tôi chứ không phải chiếc ghe này. Trước đó, tôi thường đến cầu nguyện ở nhà thờ Fatima Bình-Triệu. Trong lời cầu xin tôi có khấn: “Nếu Đức Mẹ thấy việc con ra đi sẽ có những trắc trở thì xin Đức Mẹ hãy làm những trở ngại xảy ra trước để con không phải đi.” Trước ngày dự tính ra đi trên chiếc ghe của tôi, tôi đã cho kéo chiếc ghe đó lên ụ và cho bọc nhôm xung quanh lườn ghe. Tôi trang bị một chiếc máy mới và thật mạnh.

        Đến hôm ra đi, khi mọi người vào hết trong lòng ghe thì có người lên tiếng, trong ghe có nhiều nước. Tôi cho thợ máy nổ máy để bơm nước ra. Thật không thể ngờ được, một cái máy thật mới có thể nói là hoàn hảo nhất và vừa ý nhất trong các cái máy, thế mà đêm ấy không làm sao cho nó chuyển động được. Trời bắt đầu sáng tỏ dần và tôi phải ém người lên bãi vắng thôi. Khi mọi người đã tản mác lên các bãi vắng thì cái máy lúc này bỗng dưng chịu nổ. Tôi cho người tài công lái chiếc ghe ra biển để tìm chỗ rỉ nước và sửa chữa. Trưa hôm đó, từ Sàigòn, tôi bàng hoàng nhận được tin là chiếc ghe của tôi đã bị chìm ở ngoài khơi vì cái lỗ rỉ nước bị nước phá càng lúc càng lớn hơn và không thể nào trám lại được.

        Ngày trôi thứ mười ba.

        Đã hai ngày trôi qua tạm coi như bình yên vì không bị một vụ cướp nào.Chiếc ghe vẫn trôi theo thế lùi như lúc ban đầu. Nhiều người đã lên trên sàn ghe nằm hoặc bơi lội xung quanh chiếc ghe. Có người thanh niên đến bên tôi thủ thỉ:

        – Có mấy chiếc ghe ở ngoài xa kia, mình hãy nổi lửa lên để gọi họ lại… cướp đi anh Hùng.

        Tôi nhìn người vừa nói và phản đối:

        – Anh điên sao? Anh không sợ cho mấy người đàn bà à?

        Lúc đó có mấy chị đang nằm trên sàn ghe vội lên tiếng:

        – Kệ nó anh Hùng à! Cứ đốt lửa lên kêu tụi nó lại cướp rồi tụi nó sẽ cho mình gạo, nước và cá. Mình cũng không còn nhiều thức ăn.

        – Các chị không sợ… bị à?

        – Còn gì nữa mà sợ anh Hùng! Nó… xong rồi thì mình sẽ có ăn để cầm cự chứ!

        Tôi quay mặt nhìn về hướng các chiếc ghe đang ở ngoài xa và thầm nghĩ: “Nếu sau này mà mọi người đến được bến bờ tự do là nhờ ở sự hy sinh của các người đàn bà này.” Tôi đồng ý cho đốt lửa trong cái thùng phuy. Cái thùng này giờ đây có hai công dụng. Một, để nổi lửa lên cầu cứu các tàu lớn của Tây phương và tàu cướp. Hai, dùng để chứa nước nếu tàu cướp cho.

        Lửa vừa lên thì có một chiếc tàu từ xa chuyển hướng chạy về phía chúng tôi. Chúng tôi đã chuẩn bị sẵn sàng để đón nhận những điều kinh khủng sắp xảy đến. Các người đàn bà thì đã lấy dầu mỡ bôi khắp thân mình và mặt mũi.

        Cảnh cướp phá và hãm hiếp lại diễn ra khi chiếc tàu đánh cá của bọn cướp Thái Lan cặp sát vào chiếc ghe đi tìm tự do của chúng tôi. Lần cướp này thì người bạn gái của chú Gao không thoát được nữa. Bọn cướp quá hung bạo! Có lẽ vì bọn chúng, sau khi lục soát đã không cướp được gì nên tỏ ra giận dữ. Bọn chúng cởi trần truồng chạy nhảy trên chiếc ghe như những người đang lên cơn điên. Gặp người đàn bà nào là chúng hiếp ngay tại chỗ, bọn chúng không có một chút gì là e thẹn.
        Tiếng khóc la vang inh ỏi, tiếng đánh đập người để tra khảo của, rồi tiếng van lạy bọn cướp khi bọn chúng đập phá ghe… cùng hòa chung với tiếng cười và tiếng la tiếng hét của bọn cướp tạo thành một thứ âm thanh hoảng loạn mà tôi chưa bao giờ được nghe qua, chưa bao giờ được chứng kiến cảnh tượng hãi hùng này.

        Mọi chuyện rồi cũng lại qua! Ngày hôm đó anh Phan Chánh Cương và tôi không còn thiết gì đến cơm và cá nữa. Tàn nhẫn quá! Vô nhân đạo quá! Không thể tưởng tượng nỗi lại có ngày được chứng kiến cái cảnh dã man tàn bạo này! Ba lần cướp trước đây bọn cướp tỏ ra rất tôn trọng anh Cương trong vai thuyền trưởng, nhưng, lần này thì bọn cướp đã đánh anh Cương và nhiều người đàn ông để khai thác của. Dĩ nhiên tôi cũng bị bọn chúng đấm đá tơi bời hoa lá. Khi bọn cướp đang hành động thì có một anh chàng kêu tên một người bạn là Nam, lập tức tên Thái Lan thuyền trưởng kê súng vào đầu anh ta và hỏi : “Mày biết tiếng Thái Lan?” Dĩ nhiên tên thuyền trưởng hỏi bằng tiếng Thái. Anh chàng nọ ú ớ, anh Cương phải thông dịch cho tên thuyền trưởng hiểu. Tên thuyền trưởng Thái Lan nói với anh Cương là hắn tưởng anh chàng nọ xin nước. Như vậy tiếng Thái Lan, nước gọi là nam! (Đúng 100%)

        Ngày trôi thứ mười bốn.

        “Lại một chiếc tàu cướp đến!” Anh Cương chán nản nói với tôi. Bây giờ là vào khoảng giữa trưa.

        Khi chiếc tàu Thái Lan xáp đến, tên thuyền trưởng người Thái sau khi nói chuyện với anh Cương, hắn đã nhốt tất cả một trăm mười người – Anh Cương được miễn – xuống hầm cá. Sau này anh Cương nói lại với tôi là, khi mọi người bị nhốt hết xuống hầm cá thì bọn cướp đã qua ghe lục soát rất kỹ. Lục soát xong, chúng kêu từng người một lên và khám xét kỹ. May mắn quá, bọn này không hãm hiếp một người phụ nữ nào. Ai bị khám xong thì được trở về lại ghe. Trước khi bỏ đi, bọn này cũng cấp cho ghe chúng tôi gạo, cá và. . . nam!

        Chiều đến thì anh cựu trung úy an ninh quân đội cho tôi biết là trên ghe mất một người. Chúng tôi yêu cầu tất cả đàn ông lên sàn ghe để kiểm người. Lúc đó thì có một bà xẩm già lên tiếng:

        – Thằng con tôi nó giấu trong mình nó ba cây và trốn ở lại trong hầm cá của chiếc tàu hồi trưa rồi.

        Tôi hỏi bà xẩm già:

        – Tại sao con bà trốn lại trong hầm cá?

        – Với ba cây mà nó giấu trong mình, nó sẽ đưa cho tàu đó để được đưa vào bờ.

        Khoảng thời gian ba tháng trên đảo, ngày tôi đi định cư, Cao Ủy tị nạn vẫn chưa có tin tức gì về người con của bà xẩm già.

        Ngày trôi thứ mười lăm.

        Từ sáng sớm, một vài người thanh niên đã tự động nổi lửa khi nhìn thấy từ xa một chiếc tàu đang kéo lưới. Khi chiếc tàu đến gần thì những người thanh niên đến đánh thức anh Cương và tôi dậy. Chiếc tàu đang kéo lưới đã quăng dây qua cho chúng tôi để chúng tôi cột chặt vào ghe. Chiếc tàu chạy trước kéo lưới và kéo theo chiếc ghe của chúng tôi. Ông thuyền trưởng của chiếc tàu có lẽ là người Trung Hoa. Ông cũng quấn xà rông. Ông đứng khoanh tay nhìn chúng tôi một lúc rồi ra dấu cho hai người bơi qua tàu của ông. Ông dẫn hai người đó vào nhà bếp và chỉ cho hai người chỗ nấu cơm để nấu cho tất cả người trên ghe của chúng tôi ăn. Ông cũng cho kêu thêm hai người nữa qua tàu ông để chuyền nước về ghe đồng thời ông cũng liệng qua ghe những lon thuốc lá thơm. Hơn mười ngày không được hút, chúng tôi đã “rít” những hơi thuốc cho thật đầy lồng phổi. Có vài người đã… nằm thẳng cẳng vì bị say thuốc.

        Khi những thùng cơm và cá đã được chuyển qua ghe của chúng tôi. Ông thuyền trưởng tốt bụng vẫy tay ra dấu từ giã chúng tôi rồi cắt dây và cho tàu chạy thẳng ra khơi.

        Chiều cùng ngày hôm đó, một chiếc tàu cướp chạy về hướng chúng tôi. Lại cướp và hãm hiếp! Đến khuya thì bọn cướp bỏ đi sau khi cũng cho gạo, cá và… nam!

        Ngày trôi thứ mười sáu.

        Chiều hôm nay chúng tôi nhìn thấy từ xa có một lằn ngang dài thật nhỏ màu vàng. Chúng tôi với những con mắt không còn trong sáng, không còn tinh tường nữa nên không biết đó là cái lằn gì. Bao nhiêu sự suy đoán được đưa ra với nhiều hy vọng.

        Đang nhìn về phía trước và bàn tán nên không một ai để ý có một chiếc tàu cướp từ phía sau đã đến gần ghe của chúng tôi. Những người trên chiếc tàu này cố làm ra vẻ hiền lành và thân thiện. Người thuyền trưởng của chiếc tàu đó nói với anh Cương là hắn chỉ cần có hai (2) lượng vàng thôi thì khi đêm xuống hắn sẽ kéo chiếc ghe của chúng tôi vào bờ. Ông ta cố làm ra vẻ thật thà khi nói với anh Cương:

        – Khi vào đến bờ rồi thì nhớ đừng khai là tàu tôi kéo nhé, nếu tiết lộ thì tôi sẽ bị bắt đó.

        Người Quốc Gia của chúng ta dù sao cũng là những con người lương thiện! Vì bản chất lương thiện nên mới bị gạt năm Mậu-Thân và sau đó là… một tháng học tập. Qua lời nói và thái độ quả quyết của anh Phan-Chánh-Cương, mọi người chỉ trong có mười phút đã gom góp đủ số vàng mà tên thuyền trưởng đòi hỏi. Sau khi anh Cương thông báo đã gom đủ số. Tên thuyền trưởng nói cứ giữ đó để khi nào vào gần bờ thì giao cho hắn.

        Năm giờ sáng ngày trôi thứ mười bảy.

        Cô gái Huế tốt nghiệp đại học môn Anh văn là người từ đầu đã chiếm một chỗ nằm trước mũi ghe, nơi để thùng chứa nước nguyên thủy của chiếc ghe. Tại nơi đó, cô đã giấu được những món nữ trang mà bọn cướp không thể nào tìm ra được. Tin ở sự quả quyết của anh Cương, cô gái Huế đã đóng góp ba chỉ vàng.

        Sáng sớm hôm nay khi thấy chiếc tàu cướp quăng giây qua chiếc ghe, cô nhìn đồng hồ mà cô còn giữ được. Cô nghĩ: “Tại sao tụi này không kéo vào ban đêm như tụi nó lo sợ mà lại kéo vào lúc này? Hay là… ” Vừa khi cất giấu xong cái đồng hồ và những món nữ trang thì bọn người trên chiếc tàu cướp kia, lúc này không còn một chút gì là thân thiện nữa. Bọn chúng nhảy qua ghe của chúng tôi và bọn chúng bắt anh Cương đưa vàng rồi thẳng tay đánh đập tất cả mọi người để mong lấy thêm vàng. Bọn chúng đang cướp phá thì từ bên tàu của bọn chúng có một tên chạy ra nói gì đó, thế là tất cả bọn cướp đang ở bên ghe của chúng tôi lập tức nhảy hết xuống biển lội qua tàu của bọn chúng và chạy mất.

        A! Cái lằn màu vàng mà mọi người thấy hôm qua, bây giờ đã hiện ra rõ ràng hơn, đó là dãy cát của bờ biển.

        Mười giờ sáng ngày trôi thứ mười bảy.

        Dãy cát đã hiện ra rất rõ ràng. Anh Cương cho biết đây là bờ biển của Mã-Lai chứ không thể của Thái-Lan được. Thôi thì của nước nào cũng được miễn là đừng của Việt-Nam là vui rồi. Tất cả mọi người hầu như đã lên hết trên sàn ghe. Có những chiếc xuồng nhỏ của những người dân đi câu cá chạy ngang qua ghe của chúng tôi và còn vẫy tay chào rất là… thân thiện.

        Mười một giờ ba mươi ngày trôi thứ mười bảy.

        Từ trên trời có một chiếc trực thăng từ xa bay đến lượn hai vòng trên ghe của chúng tôi và rồi nó đáp xuống một trại binh nằm cạnh bờ biển cách đó không xa lắm.

        Mười hai giờ ba mươi phút ngày trôi thứ mười bảy.

        Đúng mười hai giờ ba mươi phút của ngày trôi thứ mười bảy, chiếc ghe của chúng tôi… bị mắc cạn trên bờ biển của Mã-Lai-Á. Tôi là người sau cùng lên bờ. Vì ảnh hưởng vật lý của những ngày trên ghe nên khi chạy được vài bước tôi bị té nằm sõng soài trên bãi cát. Những người đàn ông lúc này cũng đã lên hết trên bãi cát. Một số đang lo cho những người phụ nữ vì họ không còn đủ sức để bước đi nữa. Họ nằm nửa người trên cát nửa người dưới nước. Nhìn những người đàn bà đó bây giờ trông chẳng khác gì những bộ xương cách trí mà ngày còn cắp sách đến trường học sinh nào cũng nhìn thấy và học qua. Họ tiều tụy quá sức. Nhiều người không còn sức để đứng lên và bước đi… Nhưng, chính những con người đáng thương đó đã hy sinh, đã chịu đựng tủi nhục để tất cả mọi người trên ghe có được miếng ăn để có sức sống cho đến ngày hôm nay.

        ***

        Cuộc chiến ý thức hệ do miền Bắc chủ xướng với vũ khí của Nga Tàu đã ngưng từ lâu, nhưng, cuộc chiến vẫn chưa tàn. Thời gian trôi qua nhanh như mũi tên bay, vậy mà giờ đây trên quê hương Việt-Nam thân yêu vẫn còn cảnh đói nghèo và bất công. Người Việt-Nam vẫn phải tìm đủ mọi cách để rời bỏ xóm làng, rời bỏ ruộng đồng, rời xa nơi chôn nhau cắt rún… để tìm sự sống nơi xứ người. Nhưng, người Việt-Nam thì vẫn còn chia rẽ và hận thù mà chỉ khi nào cái đảng cộng sản Việt Nam man rợ không còn nữa thì người Việt Nam mới hết thù hận và hết chia rẽ!

        Giờ đây một trăm lẻ chín người trên chiếc ghe mang bảng số SS 1505 IA hiện đang ở đâu trên khắp quả địa cầu này? Những ai còn và những ai đã ra đi vĩnh viễn?

        Chúng ta rồi đây lần lượt cũng sẽ mất tất cả!

        Mất gì ? Chắc Chắn Một Điều, Chúng Ta Sẽ Không Bao Giờ Để Mất Quê Hương và Mất Tình Người Việt Nam. /.

        Hồi ký - Topa (Hòa-Lan)

        https://vantuyen.net/2016/08/13/topa...en-kinh-hoang/

        Comment


        • Nhờ Anh

          Nhờ Anh
          Ngô Tấn Nghĩa


          Hình minh họa

          Hai chữ “NHỜ ANH“ hay “NHỜ ĐẠI TÁ“ đã đem lại cho Bình Thuận sự an ninh và phát triển cho dân trong tỉnh, thốt ra không phải chỉ từ người dân mà cả các cấp Quân, Cán, Chính, không chỉ trong tỉnh nhà mà đã được loan truyền qua các tỉnh khác, đến cấp chánh phủ. Thêm vào đó Cố vấn Mỹ cũng báo cáo hàng ngày theo hệ thống của họ.

          Nên trường hợp Bình Thuận đã được các giới nêu lên làm đề tài nghiên cứu và học hỏi. Đặc biệt là cuối năm 1973, đại sứ Williams Colby, thuộc cơ quan CIA, ngưòi có trọng trách cho nhiều chương trình quan trọng tại Việt Nam, đã có thơ mời tôi qua Mỹ nói là để tham quan các Thống đốc Tiểu bang Mỹ nhưng sự thật hoàn toàn khác hẳn vì thời gian đó là lúc Quốc Hội Mỹ tranh cãi về giải pháp - “Cúp viện trợ và tháo chạy khỏi Việt Nam” nên ông Colby muốn đem tôi làm nhân chứng sống chứng minh cho sự thành công của chương trình PHÁT TRIỂN & VIỆT NAM HOÁ CHIẾN TRANH, hầu chinh phục Quồc Hội Mỹ yểm trợ cho các chương trình của ông được tiếp tục.

          Tuy nhiên qua năm 1974, mặc dầu việc du hành đã được sẵn sàng nhưng phải bị hủy bỏ vì các lý do sau:

          #1 - Tôi được tiết lộ là Quốc hội Mỹ đã biểu quyết “trói tay” TT Nixon, không được đơn phương viện trợ cho bất cứ nước nào nếu không có sự đồng thuận của Quốc Hội, dầu chưa công bố rõ ràng là quyết định cắt hết viện trợ cho Việt Nam.

          #2 –Con trai lớn cuả tôi, Ngô Quang Lý, Đại úy phi công, chuyên trách theo dõi, chụp hình các đoàn xâm nhập của Cộng sản, máy bay đã bị bắn hạ trên bầu trời Bến Cát.

          #3 - Mặc dầu phía Mỹ cứ hối thúc là nên đi nhưng Tổng Thống không chấp thuận viện lẽ tình hình rất sôi động, sự vắng mặt của tôi trong ba tuần lễ sẽ có tác dụng không tốt, trong khi đó Tổng Thống đã gởi qua Mỹ một Phái đoàn của Hạ viện do dân biểu Đinh Văn Đệ , Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng hướng dẫn qua cầu viện, xin số tiền rất khiêm tốn là ba trăm triệu cho đạn dược, xăng và phụ tùng tạm đủ đề cầm cự nhưng cuộc cầu viện lần cuối cùng này đã hoàn toàn thất bại.

          Trên đây là tóm lược vô đề cho bài “NHỜ ANH” vì hai chữ này là một khích lệ, là một huy chương quí giá nhất cho đời binh nghiệp của tôi, dầu là Bảo Quốc Huân Chương cũng chỉ là một bằng tưởng lệ treo trong nhà nhưng câu NHỜ ANH là một bằng tưởng lệ nói lên bao lời cảm kích, cám ơn thốt ra từ các cấp hàng ngày, và ngay cả bây giờ, bốn chục năm sau cuộc chiến trong những lần gặp mặt trong hội hè, hoạt động cộng đồng, đồng hương Bình Thuận tôi vẫn được nghe những lời “TUYÊN DƯƠNG” này và những bản tuyên dương có thể đọc được trong những tập san ÂN TÌNH, đặc biệt trong ÂN TÌNH V, Người lính già 229 đã nêu câu hỏi “BẰNG VÀO CÁI GÌ” mà Đại tá Tiểu khu trưởng Ngô Tấn Nghĩa đã lập được kỳ công này !? “Đây không phải là câu hỏi của Người lính già 229 mà thôi nhưng là của tất mọi nơi, mọi cấp và mọi giới".

          Cho tới nay tôi vẫn không thể viết lên trang sử này vì còn kẹt một số nhân chứng đã giúp tôi rất nhiều về tình báo vẫn còn sống tại Phan thiết cho tới cuối năm 2012 .Giờ đây tôi thấy không còn vướng víu vào những liên hệ này nữa nên có thể bộc lộ tâm tình, nói lên bí quyết để thành công ,với những tình tiết bí mật mà một số nhân vật đã cộng tác với tôi.

          Bài viết có thể dài nhưng vì trong khuôn khổ một đề tài cho tập san Ân Tình nên tôi sẽ hết sức ngắn gọn nhưng không để thiếu nhiều chi tiết.

          1 -SỰ CHỈ ĐỊNH BẤT NGỜ - Chưa bao giờ việc chỉ định một sĩ quan đi đảm nhiệm chức vụ Tỉnh/Tiểu khu trưỏng lại có thể quyết định mau chóng chỉ sau cuộc họp cấp Quân đoàn với 2 bộ tham mưu Mỹ Việt kéo dài 3 giờ đồng hồ. Đó là một ngày vào tháng 10 năm 1969, dưới sự chủ tọa của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.

          Như thưòng lệ, tôi là Trưởng Phòng 2 lên mở màn buỏi họp cao cấp Mỹ Việt bằng thuyết trình về tình hình địch bằng ngoại ngữ (được T.Thống cho phép ). Trong phiên họp T.Thống đã tiết lộ mục đích buổi hội là thảo luân với các Tướng Việt Mỹ về chương trình “VIẸT NAM HÓA CHIẾN TRANH” . Vào giờ giải lao, Tổng thống hỏi tôi sao từ 5 năm qua tôi vẫn thấy anh còn ở Pleiku mà ít có sĩ quan nào ở lâu như vậy, tôi thưa rằng tôi không muốn xin thuyên chuyển vì đây là vùng hỏa tuyến mà tôi đã làm việc rất hữu hiệu với chuyên môn tình báo điện tử, phối hợp chặt chẽ với ngành tình báo Hoa Kỳ đem lại kết quả khích lệ cho Quân đoàn. Kế đó là cuộc họp riêng giữa cấp tưóng Việt Mỹ và Tham Mưu Trưởng Quân Đòan để thảo luận về chưong trình Việt Nam Hóa và phối trí các lực lượng cùng cấp chỉ huy các đơn vị và các Tiểu Khu Trưởng.

          Sau cuộc họp quan trọng này và sau khi T.Thống ra về thì tôi đựơc Trung tướng Tư lệnh vùng cho hay là tôi được chỉ định đi làm Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trửơng Bình Thuận. Trung tướng kêu Phòng Tổng Quản Tri liên lạc với Phủ Thủ Tướng và Phòng Tổng Quản Tri Bộ Tổng Tham mưu để làm lệnh thuyên chuyẻn và Nghị định. Thật là tiếng sét bất ngờ, tôi rất ngạc nhiên với cảm súc lẫn lộn vui mừng và lo ngại. Vui vì đây là một chức vụ có tầm cỡ ngang hàng với một Tư lệnh cấp Sư đoàn mà theo bình thường thì tôi chẳng thể nào “vói tới” nhưng nay với hoàn cảnh khó khăn hiểm trở tôi lại phải là người tiền phong – lo ngại vì tôi biết chắc đây là một nhiệm vu bất khả thi ( mission impossible ) vì đã 5 năm là Trưởng Phòng 2 Quân đoàn, tôi đã cùng Phòng 3, phối trí lượng tăng cường và yểm trợ cho các Tiểu khu thì hai Tiểu khu nặng nề nhất là Bình Định ở phía Bắc và phía nam là Bình Thuận - tại hai Tỉnh này ngày nào cũng có giao tranh, tấn công các đồn lẻ tẻ, các đòan Xây Dựng Nông Thôn, Nghĩa Quân và đôi khi cấp đại đội ĐPQ cũng bị tổn thất khá nặng nề trong các cuộc phục kích,có khi ngay sát nách thị xã .Với hoàn cảnh này tôi vô cùng lo ngại biết rằng khi tới Bình Thuận thì tất cả các đơn vị chính qui của các Trung đoàn chính qui đóng quân tại miền Bắc Bình Thuận, các lực lưọng Mỹ, gồm đơn vị đặc biệt, chiến xa, trong pháo và không quân yểm trợ đóng tại miền nam Bình Thuận với sự trợ lực hùng hậu của Hải quân Mỹ, chạy dài theo bờ biển sẽ rút hết.

          Vì ngày nhận nhiêm vụ đã quá gần Tết tôi cố gắng xin đáo nhậm sau Tết. Trong suốt thời gian trước khi lên đường tôi rất băn khoăn lo ngại không biết rồi đây tôi sẽ đối phó ra sao? Mấy đêm gần như không ngủ, ngồi trước bản đồ Bình Thuận với những điểm VC chốt, thu thuế, những khúc Tỉnh lộ, Quốc lộ không thể lưu thông, xe đò phải nằm ụ, đời sống của giới chuyên chở đã bị khó khăn, mọi di chuyển từ Bắc vào Nam Tỉnh phải dùng đường biển. Từ năm 1966, tôi cũng đã theo dõi tình hình chính trị và tôn giáo đa dạng tại Bình Thuận - tại đây ta phải chiến đấu với thù trong, giặc ngoài, tất cả những biến cố tranh đấu, biểu tình bạo động, diễn ra tại Miến Trung, tại Huế đều diễn ra tại Bình Định và Bình Thuận. Những vi Tỉnh trưởng /Tiểu khu trưởng khi về đáo nhậm các tỉnh này đều bị coi là “bọn tàn dư, tay sai của Mỹ-Thiệu về để đàn áp phật giáo”.

          Tôi không có người quen thuộc tại Bình Thuận nên không có tin tức và người có thể góp ý kiến, may sao đã kiếm được mối dây liên hệ với Bình Thuận là lúc đó con gái học tại trường dược cho biết có ông thầy người Bình Thuận là giáo sư Trương Văn Chôm tôi lập tức xin gặp giáo sư để làm quen, giáo sư rất vui vẻ cởi mở và khi tôi tiết lộ rằng tôi có nhiệm vụ lo cho an ninh và phát triển tỉnh Bình Thuận nên cần có được những nhân sĩ địa phương để cộng tác lo cho dân thì giáo sư tỏ ra rất tán thành ý kiến này và tiết lộ rằng ông có ông anh vợ là một cư sĩ Phật Giáo có uy tín trong cộng đồng Phật Giáo là ông Bảy Hoành và ông sẽ giới thiệu tôi cho ông này. Không đầy một tuần sau tôi gặp ông Bảy Hoành tại Sài Gòn . Việc đầu tiên của tôi là tấn công “Tình cảm” bộc lộ tâm tư của người “Phật tử” có “cơ duyên” ra phục vụ đồng bào Binh Thuận. Tôi hứa liên lạc mật thiết với Phật Giáo, lắng nghe ý kiến của đồng bào để áp dụng đường lối thích hợp. Anh Bảy tỏ ra rất hoan hỉ tiếp đón đề nghị của tôi với niềm hân hoan khi chia tay, riêng về phía tôi cũng rất mừng đã đặt căn bản để hòa dịu hy vọng vô hiệu hóa chiến tranh chống “giặc trong”.

          Trước khi đáo nhậm Tỉnh và Tiểu khu tôi đã thảo luận rất kỹ càng với Cố Vấn của P.2, người đã cùng tôi áp dụng mọi kỹ thuật tinh vi của điện tử để chụp hình, theo dõi các vị trí đóng quân, mọi sự xâm nhập di chuyển của địch và xin phi tuần B52 trải thảm xuống đầu địch. Chúng tôi đã đạt được kết qua vô cùng giá trị. Tôi trình bày giờ đây tôi phải đi lãnh trọng trách khó khăn mà các đơn vị chính qui của Việt Nam cũng như các đơn vị yểm trợ hùng mạnh của Mỹ sẽ rút đi nên chỉ còn mong đợi vào sự hỗ trợ của tinh báo kỹ thuật. Họ rất hoan hỷ để yểm trợ với sự tham gia của mọi đơn vị chuyên môn, họ là thành phần đầu tiên tiết lộ cho tôi biết là nơi mà tôi tới sẽ có đơn vị tình báo Hải Quân với các chiến hạm của Hạm Đội 7 chạy dọc theo bờ biển Việt Nam với những khẩu hải pháo có tầm xa có thể bao trùm toàn lãnh thổ Bình Thuận, họ hứa sẽ biệt phái cho tôi một chuyên viên để phối hợp khi cần biết rằng về kỹ thuật tôi đã tham dự hai khóa tình báo Mỹ tại Okinawa Nhật và khóa Tình báo cao cấp cho đồng minh tại Fort Hollabird tại Hoa kỳ.

          Ngày đáo nhậm Bình Thuận đã đến, trên máy bay tôi băn khuăn lo lắng, thấy tương lai còn mờ mịt, tự hỏi có phép lạ nào có thể giúp đảo ngược được tình thế như vậy, nhưng thôi hãy cương quyết ôm hai chữ “CHẤP NHẬN” vì “DANH DỰ và TỔ QUỐC” và tin tưởng vì không còn cách nào khác ngoài sự dấn thân.

          Cảm tưởng đầu tiên khi đặt chân tới Tỉnh thấy đây đâu phải là Tòa Tỉnh mà là một tiền đồn vì chung quanh toàn là bao cát chất cao nghệu và hàng rào kẽm gai chằng chịt chung quanh, ngăn cách các nơi làm việc giữa Văn Phòng Tỉnh và Trung Tâm Hành Quân Tiểu Khu mà vị tiền nhiệm khi qua lại đã dùng xe jeep với cận vệ sẵn sàng trong tư thế chiến đấu.

          Trong những ngày bàn giao, ngoài giờ thảo luận tôi đã ra ngoài đi thăm dân cho biết sự tình, quan sát các hoạt động hàng ngày, tới chiều tối đi ra vòng đai thị xã và đã chứng kiến những đoàn người về thị xã ngủ cho được an toàn. Những đoàn xe Honda chở đôi, chở ba, trên xe có đủ loại màu sắc: binh sĩ, cảnh sát, cán bộ XDNT, kể cả cấp Trung và Đại Đội Trưởng. Ngày sau thuật lại chuyện quan sát cho anh tiền nhiệm nghe, anh khuyên tôi nên thận trọng và muốn ra tới cầu Phú Hài thi hãy cần xe cơ giới yểm trợ. Tuy nhiên, tôi vẫn đơn phương tiếp tục du hành quan sát những ngày kế tiếp. Những nhận định này đã giúp việc thiết kế được sát với hoàn cảnh hơn.

          QUAN NIỆM HÀNH QUÂN – Quan niệm rằng ta không thể có cơ thắng thế về quân sự vì các lực lượng yểm trợ đã bi lấy đi theo chương trình VNHCT khiến binh sĩ bị giao động về tinh thần chiến đấu vì khi lực lượng hùng hậu còn ta vẫn bi thụ động mà nay lực lượng yểm trợ không còn nữa nên địch sẽ lên tình thần và sẽ tăng cường tấn công và phá hoại. Vì lý do chính yếu và thực tế đó tôi phải chuyển qua chương trình “GIẢI ĐỘC”, nói cách khác là “PHẢN TUYÊN TRUYỀN” nhưng giải độc hay phản tuyên truyền đã là công việc hàng ngày của các cơ quan chính phủ và quân đội chỉ đem lại những kết quả khiêm tốn nay với tình thế đặc biệt khẩn cấp tôi phải nâng lên thành chiến tranh cân não hay chiến tranh Ý THỨC HỆ và muốn thi hành ý nguyện này tôi phải là người dấn thân hướng dẫn thi hành . Lúc này người dân và quân đều mù mờ vế ý thức chống cộng nên cộng sản đã dùng chiêu bài “CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC” để tuyên truyền lôi cuốn gây tác hại đáng kể cho ta.

          Kế hoạch đã định , tôi ra lệnh triệu tập cuộc họp “CẤP TRƯỞNG” nghĩa là bên Hành Chánh, Xã Ấp cũng như quân đội ĐPQ + NQ + CS và XDNT bất cứ người nào chức vụ có chữ trưởng đều được mời. Cuộc họp đã có được trên 2500 người tham dự. Trong buổi họp kéo dài tôi đã trình bày rõ tình hình và hoàn cảnh hiện tại và nói rằng nếu ta không có sự thay đổi dấn thân thì tình hình càng ngày càng bi đát hơn hiện nay với các trục lộ giao thông bị bế tắt, CS công khai thu thuế nhiều nơi, viêc chuyển vận từ Nam lên Bắc phải dùng ghe thuyền, đêm thì các đồn bót co rút trong đồn, ngoài âp CS mặc tình thao túng, tôi cũng không giấu giếm là các lực lượng chính qui và Mỹ sẽ rút đi hết rất gần đây mà ta phải tự lực cảnh sinh vậy chúng ta phải đặt nặng tinh thần trách nhiệm và hy sinh hướng về các ấp dùng chiến thuật của CS là “GIẶC LÙI TA TIẾN, GIẶC TIẾN TA LÙI” để phản công chúng nhưng ta quyết không lùi mà chỉ có tiến. Tôi biết các em đã có số người bị giao động, tinh thần hoang mang nhưng các em sẽ không bị cô đơn vì tôi là người xung phong đi với các em đến các ấp, bất kể gần xa, hẻo lánh sẽ có sự hiện diện của tôi trong giờ phút khẩn trương.

          Những ngày sau buổi hội ,tôi bắt đầu thực hành liền, bất thần tới những đồn cấp Trung đội và Đại đội khi vừa xẩm tối, vì bất thần đơn vị chạy tán lọan thay quân phục để vào hàng trình diện, trong những ngày đầu có những đơn vị bị thiếu quân số đáng kể nhưng rồi tiếng báo động truyền khẩu đã loan đi tới các đơn vị khác cho nên những ngày sau đó sự vắng mặt đã giảm thiểu . Tôi tỏ ra thân thiện, thương yêu binh sĩ và tâm tình, thăm viếng vỗ về, ủy lạo các cấp nên chẳng bao lâu các em đã tặng cho tôi biệt hiệu “ÔNG GIÀ” độ lượng đầy tình thương. Sau này tôi đi ngủ ấp binh sĩ không còn sợ sệt mà tỏ ra mừng rỡ.

          Trong khi tôi kiểm tra đơn vị và tâm tình với các em quân nhân thì giàn loa phóng thanh được thiết trí, đầy đủ cho cả ấp nghe sau khi đồng bào đi làm đồng áng về vừa cơm nước xong là tôi bắt đầu lên tiếng vấn an đồng bào và chiến sĩ trong xã, ấp, buổi nói chuyện nhấn mạnh về đề tài CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC.

          Anh chị em ấp……..thân mến, tôi Đại tá Ngô Tấn Nghĩa, Tỉnh trưởng Bình Thuận, đêm nay về ấp thăm và tâm tình cùng anh chị em, để chia sẻ nỗi niềm tâm sự, giải toả những thắc mắc, khó khăn và bực tức mà đồng bào phải chất chứa trong lòng, không dám tỏ cùng ai, đó là nguồn gốc nảy sanh ra sự căm thù, oán hận. Vi vậy nên tôi đã quyết đi từng ấp và tất cả các ấp trong tỉnh để hoàn thành nhiệm vụ.

          Tôi biết đồng bào đang gánh chịu một cổ hai tròng,CS đã sách nhiễu ,bắt đóng góp quá nhiều để nuôi quân và nhất là cho qũy CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC . Vi vậy tôi thấy rất quan trọng nêu ra đây một số câu hỏi rất thực tế và giản dị để đồng bào hiểu được sự láo khoét cuả chúng.

          Nước nào đã đánh bại nhóm quân phiệt Đức -Nhật đề chấm dứt chiến tranh thế giới lần thứ hai ? Sau chiến tranh các nước Á châu đã được đã được trả lại độc lập cho xứ sở họ và đã củng cố nền độc lập , bẩu cử tự do nhưng tại sao HCM lại bắt dân tộc ta phải tiếp tục chém giết nhau, phải cưỡng nhận chế độ Cộng sản, tiêu diệt tất cả những ai không theo chúng, hãy kiểm điểm lại ấp mình đây đã bao nhiêu ngưòi bị áp sát, bắt cóc và bao nhiêu gia đình giờ này còn tang chế.

          Ta hãy nhìn kỹ tấm gương sáng tại 2 nước láng giềng là Nam Hàn và Nhật Bản .Nhật Bản là tội phạm chiến tranh, đã chiếm đóng hà khắc trên nhiều nước Á Châu kể cả Việt Nam ta nhưng khi bị Mỹ đánh bại rồi Mỹ đã không chiếm cứ, đô hộ Nhật mà trái lại đã giúp cho Nhật nhân tài, kỹ thuật chuyên môn để sản xuất đủ mọi thứ từ máy thâu thanh nhỏ cầm tay tới xe hơi, cơ giới hạng nặng và bất cứ những gì nước Mỹ có thì Nhật cũng sản xuất được mà sản xuất mạnh ngang hàng với Mỹ nhưng sức tiêu thụ lại mạnh và mau hơn vì giá thành lại rẻ hơn đồ Mỹ nên chẳng bao lâu sau chiến tranh nước Nhật đã thành một cường quốc kinh tế sắp hạng nhất nhì trên thế giới. Tại vùng thôn quê hẻo lánh này giờ này quí vi hãy ngó chung quanh nhà, thấy tất cả vật dụng ta dùng, từ máy thâu thanh lớn nhỏ, máy truyền hình đến những món lớn như Honda, máy cày phương tiện phổ thông di chuyển tất cả đều sản xuất từ Nhật Bản.

          Tấm gương thứ hai với hoàn cảnh rất giống Việt Nam ta đó là nước Triều Tiên với hai vùng gọi Nam Hàn và Bắc Hàn .Hai phần đất này cũng được độc lập tự do sau Đệ nhị thế chiến năm 1945 nhưng 2 Miền có hai ảnh hưởng khác nhau, Bắc Hàn thì thiên về Cộng sản Nga –Tàu , trong khi Nam Hàn cương quyết giữ thể chế tự do thân phương tây nhưng chỉ được 5 năm sau tức năm 1950 tháng 6 - Quân Trung cộng đã xúi Bắc Hàn phải “GIẢI PHÓNG NAM HAN” để CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC với quân của hai nước dùng chiến thuật biển người tràn xuống Miền Nam như nưóc lũ chỉ trong mấy ngày đã chiếm được thủ đô Hán Thành và đang tiếp tục tiến về nam gần tới điểm cuối cùng ra biển thì Mỹ đã kịp thời phản công, lộ quân Mỹ dưới quyền Tư lệnh tướng MacArthur đã đổ bộ cắt ngang giữa Nam và Bắc Hàn, đánh xuống tiêu diệt đại bộ phân liên quân Trung Cộng -Bắc Hàn và tiếp tục đánh ngược lên Bắc, cuộc chiến qua lại đã kéo dài ba năm 1950 -1953, rốt cuộc Bắc Hàn phải cố thủ tại vĩ quyến 38, ranh giới cũ nhưng đã sát hại trên hai triệu dân. Rồi 17 năm sau cho tới hiện tại, Bắc Hàn với chế độ cộng sản độc tài hà khắc khiến dân Bắc Hàn phải chịu khốn đốn và hàng triệu người chết đói triền miên năm này qua năm khác ngay cả trong hiện tại trong khi đó Nam Hàn đã thành quốc gia có nền kinh tế, kỹ nghệ gần theo kịp với Nhật Bản. Đó là những bằng chứng cụ thể, trước mắt, không thể chối cãi.

          Mong đồng bào lắng nghe, ngay cả cán bộ CS , giờ này có thể các anh ở trong hay ngoài ấp hãy nhìn thẳng vào thực tế, suy nghĩ cho chín chắn và sâu xa , nhìn rõ sự thật và hãy trở về làng cũ lo cho gia đình và cha mẹ. Bài tâm sự này của tôi sẽ được in ra rất nhiều bản, được phổ biến rộng rãi không những trong các ấp mà sẽ được rải trên các vùng rừng núi trong toàn tỉnh. Tôi thiết tha kêu gọi sự hồi tỉnh của các anh, tôi biết các anh còn đắn đo, nghi kỵ sợ bị lường gạt kêu gọi các anh về rồi bị hãm hại nhưng tôi bảo đảm với các anh đây là lời gọi tâm huyết, các anh có thể cầm thơ kêu gọi của tôi tới bất cứ nơi nào xã, ấp hay thị xã và cho hay rằng các anh đáp lời mời cuả tôi về thăm bà con trong 15 ngày ,hay nhờ bà con liên lạc trước với tôi ,trong dịp này các anh có quyết định ở lại luôn hay tự do trở về lại chiến khu.

          Rồi lời tâm huyết với bốn chữ CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC đã được rải trên các mật khu trong toàn tỉnh ,trong khi đó tôi đã phối hợp các cơ quan đến các ấp lo Dân Sự Vụ, nhất là lúc chương trình NGƯỜI CÀY CÓ RUỘNG vưà mới được ban hành . Lần lượt dù ngày hay đêm tôi đã đi qua được hết 173 ấp trong toàn tỉnh. Kết quả kêu gọi của tôi đã thành công bất ngờ nhưng rất bí mật và âm thầm . Không ai ngờ là các là các bô lão tại Phan Thiết thường ngày không ưa chính quyền và tới văn phòng tỉnh với vẻ mặt sát khí đằng đằng nay lại tới tâm tình với Đại tá Tỉnh trưởng, thì ra các cụ thổ lộ là có thằng cháu muốn đáp ứng lời kêu gọi cuả Đại tá trở về và tôi đã bảo đảm với nó là lời kêu gọi cuả Đại tá rất thành khẩn và tôi sẽ bảo đảm cho nó.

          Tới đây thì tôi lại dùng xảo thuật khác nói tôi sẽ giúp các cháu nhưng cần phải lo an toàn cho nó vì nếu nó về thẳng Phan Thiết thì sợ VC sẽ ám hại gia đình nó nên tôi đề nghị các ông là cho cháu về Sài Gòn, tại một đia điểm như Cầu Ông Lãnh , nơi lui tới của các ghe cá, mắm của Phan Thiết rồi mình sẽ kín đáo gặp nó , ở đó tôi sẽ nghe nó nói tại sao nó muốn về và tinh thần của những người còn lại như thế nào ? Thế rồi những cuộc gặp đã được sắp đặt, mỗi tháng tôi phải về Sài Gòn.

          Tôi đã cố giữ bí mật bằng cách cho tài xế và con trai Lễ đi du hí, tôi tự lái xe đi tới chỗ hẹn với 2 cảnh sát chìm của Ty Cảnh Sát quận 5 theo dõi ngầm từ xa xa. Mặc dầu bảo mật tối đa nhưng bất ngờ cũng bị lòi đuôi vì các cụ tới nhà tôi tình cờ gặp tài xế và anh hỏi: Thưa Đại tá có việc gì mà có các ông như Năm Tho, Phan Vũ Lộc v.v. tới tìm Đai tá ? - đó là chuyện lạ đối với chú tài nhưng tôi chỉ phớt tỉnh trả lời vì các ông có hứa khi có dịp đi Sài Gòn sẽ ghé thăm thôi. Trong dịp gặp gỡ với những cán bộ muốn hồi cư tôi vận dụng hết tình cảm để thâu đưọc những chi tiết quí giá như: những đêm phát thanh ở ấp của tôi rất hữu hiệu, CS cứng họng không thể có lập luận phản biện, chúng đã ra lệnh cho các cán bộ hạ tầng địa phương rút về vùng an toàn, các đồng đội phải dòm ngó nhau di chuyển cặp kè chận đứng mọi sự đào ngũ nhưng có nhiều trường hợp đào ngũ đã xảy ra.

          Tinh thần bộ đội giao động vì các cuộc pháo kích quá chính xác, lại thường xuyên hơn trước kia nên chúng nghi có nội gián phải di đông bất ngờ. Các mũi công tác bị tổn hại nhiều vì mìn tự động, sợ đến nỗi khi xâm nhập ấp phải đem theo một xấp giấy trắng dễ thấy ban đêm, người tiền đạo phải rải trên đường xâm nhập vô ấp và khi đi ra cũng phải ngó theo đường cũ nhưng vẫn bị chạm mìn. Hiện tình họ rất lúng túng, hoang mang, giao động. Lúc này là lúc tôi “đầu độc” trở lại đưa ra những tin kinh hoàng như: “anh biết tại sao pháo kích lại quá chính xác không vi tôi được trang bị nhiều máy điện tử tối tân thí dụ như máy phát giác những điểm nóng, chỗ nào có đóng quân là có nấu nướng, máy tầm nhiệt sẽ phát hiện điểm nhiệt lên trên màn hình ,thêm vào đó cũng có máy theo dõi sự di chuyển của các đoàn quân hay tiếp tế dầu đêm hay ngày nên đã làm tê liệt được mọi mưu toan tấn công. Tinh thần như vậy còn đâu ý chí tấn công mà chỉ lo chạy. Bình thuận được an toàn ngày đêm là vậy.

          Trên đây là sơ kết thành tích trong sáu năm cho Bình thuận, nhưng một con én làm sao đem lại được muà xuân.tôi đã thành công nhờ sự cộng tác chân thành của mọi giới và các tôn giáo.

          a-QUÂN ĐÔI – Đoàn kết keo sơn với tinh thần kỷ luật cao độ,mặc dầu có số sĩ quan xuất thân từ các khóa đàn anh tại trường VÕ BỊ QUỐC GIA như Trung tá Phong khóa 3, Trung tá Út khóa 7, Trung tá Luông khóa 8, một khóa với Thiếu Tướng Phú, Tư Lệnh Quân Đoàn. Tôi thuộc khóa 9 nhưng sắp về tuổi tác tôi lại là người cao niên và giàu kinh nghiệm hơn hết.

          b -HÀNH CHÁNH – Tôi đã có được những Đốc sự, trẻ tuổi, can đảm dấn thân, hăng say tham gia mọi công tác dân sự và hành quân theo quân đội. Có lần để thay thế ông phó Tiên xin thuyên chuyển về Bình Dương, Bộ Nội Vụ gởi ra một Đốc Sự cao niên, ông đã đi nhiều tỉnh và tại Bộ Nội Vụ, có gốc lớn ở Trung ương mà tỉnh nào cũng phải vị nể. Bắt đầu làm việc được hai tháng, một hôm ông đem chồng giấy tờ qua văn phòng tôi và bắt đầu đòi hỏi điều kiện, ông nói Đai tá ủy nhiệm cho tôi ký giấy tờ để tôi có thể “Lo” cho Đai tá, tôi trả lời ông “ Cám ơn ông phó, khỏi cần lo cho tôi vì tôi muốn ký những giấy tờ gì thuộc về quyền hạn và trách nhiệm của Tỉnh trưởng.

          Tôi không dám phán đoán về chữ lo mà ông sử dụng vì nó có thể bao hàm dụng ý khác nhau, nhưng ngày sau tôi bay vào trình với Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm xin thuyên chuyển ông phó vì ông không có khả năng đi hoạt động với tôi tại xã ấp, Thủ tướng chỉ hỏi tôi một câu bây giờ anh đề nghị ai? Tôi trình ra tên ông Phạm Ngọc Cửu, Chánh Văn Phòng, người tôi đã quan sát từ ngày nhậm chức và trước đó đã có nhiều thành tích xông pha cho Bình thuận. Thủ tướng ra lệnh cho ông Chánh Văn Phòng gọi Bộ Nội Vụ làm lệnh. Kể từ đó ông phó đã phối hợp, điều hòa nền hành chánh với với các ty sở với sự đoàn kết khăng khít giữa các ngành chuyên môn, phối hợp nhịp nhàng và thương yêu giữa các Đốc Sự trẻ tuổi.

          c -TÔN GIÁO – Tôn giáo thì nhiều nhưng không phức tạp ,từ ngày đầu tôi đáo nhậm đã đi từng đơn vị chính như nhà thờ, chùa Phật và chùa Chàm và đâu đâu tôi cũng đưọc sự đón nhận thân tình. Phía ngưòi Hoa được phép tổ chức “RƯỚC ÔNG” một tục lệ cổ truyền nhưng họ không được phép thực hiện từ nhiều năm qua, nay họ được phép làm lễ mà lại được RƯỚC ÔNG vào cả tòa tỉnh họ vui mừng xiết kể, tôi không ngại đêm tối và an ninh tôi đã tới chủ tọa cuộc đấu bóng rổ với Chợ Lớn. Với giới ngư phủ, mỗi khi có cá ông “lụy” tôi đều tới tham dự lễ phát tang, chôn cất.

          Khi tới Phan thiết anh Bảy Hoành đã ân cần giới thiệu tôi với các giới có uy tín với Tỉnh hội Phật giáo. Món quà đầu tiên cuả tôi là số thực phẩm CARITAS được đem tới chùa Tỉnh hội tặng cho Phật tử. Tại sao lại có việc trái khoáy như vậy? vì tôi đã bay ra Nha Trang trình với Đức cha (Hồng Y) Nguyễn Văn Thuận kế hoạch hài hòa tôn giáo của tôi làm sao vô hiệu hóa vấn đề TRANH ĐẤU, xuống đường. Nghe xong Đức cha rất đồng ý và ngài đã vượt qua giới hạn của Tòa thánh, chấp nhận lời thỉnh cầu của tôi. Đức cha đã có cảm tình với tôi từ trước từ sau ngày Tổng thống Diệm bi thất xủng, tôi đã lo cho gia đình ngài và khi người em ruột ngài là Thiếu tá Nguyễn Linh Tuyên, một sĩ quan Quân cụ bị đày đi Pleiku với lệnh cho đi đơn vị tác chiến nhưng khi tới Pleiku tôi đã bảo lãnh đi theo tôi làm tại Phòng 2.
          Với Tỉnh hội Phật giáo tôi leo thang hơn nữa bằng cách tiết lộ kế hoạch thiết trí tượng Phật bà cao 12m trên lầu Ông Hoàng, tượng dơ tay, đăm chiêu nhìn ra biển lo âu, như sẵn sàng đón nhận, độ trì cho những đứa con ngư phủ trong lúc gặp phong ba bão táp.

          Khi pho tượng đã hoàn thành bên Tỉnh hội đề nghị mời bên Ấn Quang ra khánh thành tôi cũng tán thành. Buổi lễ an vị tượng đài đã được diễn ra vô cùng long trọng với hàng ngàn Tăng Ni và Phật tư cung nghinh. Các bạn bè trong Sài Gòn rất lo ngại cho tôi hỏi tại sao dám gồng mình như vậy không sợ bị “bay” sao ? Tôi nói tôi có bổn phận nắm dân tạo hậu thuẫn càng nhiều càng tốt.

          Cộng sản tỏ vẻ tức tối về vụ này đã tung tin đầu độc vào Trung ương xuyên tạc việc làm của tôi nhưng đa số đều tán thành cho đây chỉ là một xảo thuật chính trị được tán đồng. Cộng sản vẫn không chịu buông tha, chặt đầu này chúng mọc đầu khác, không bao lâu sau đó chúng đã xúi học sinh trường Phan Bội Châu đi rải truyền đơn kêu gọi nhân dân chống chánh quyền và kêu gọi tham gia phong trào CHỐNG MY CỨU NƯỚC, hai học sinh đã bi Cảnh sát bắt, Ông Cò Nhị đã cho tôi hay là đám này hoạt động do xúi giục mà không có tổ chức đằng sau, trong lúc đó thầy Vĩnh Giêng đã xăng xái theo dõi diễn tiến cuộc điều tra nhưng hậu ý không phải là để lo cho học trò mà có ý tìm kẽ hở nếu học sinh bị tra tấn hay bi xử tù thì sẽ có phong trào sinh viên xuống đường chống chánh quyền đàn áp sinh viên. Nhưng tôi đã biết nguồn gốc đấu tranh của thầy nên lạnh lùng trả lời còn đang đợi cuộc điều tra kết thúc.

          Bất ngờ cho dân chúng Phan thiết là tôi đã trả tự do cho hai học sinh bằng cách tập họp toàn trường PBC với tất cả các thầy cô và học sinh lại để nghe hát bài CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC trước khi trả tự do cho hai học sinh này với lý do các em học sinh ngây thơ đã bị bọn CS lợi dụng nhưng chính quyền không nỡ trừng phạt các em, e sẽ cắt đứt tương lai thăng tiến của các mầm non cho thế hệ mai sau. Nghe đâu hai học sinh này cũng có mặt tại Mỹ. So sánh với thực tạị ngày nay ta nhận thấy trường hợp của sinh viên Phương Uyên ngày nay mà CS hành hạ và truy tố đã làm vang dội thế giới với mọi thất lợi cho chúng.

          Đối với Công giáo bất cứ hoạt động ở ấp nào tôi cũng đến thăm nhà thờ hàn huyên vớí các Cha tôi cũng đã yểm trợ trong các ngày lể,có vài Cha như Gò Bồi,Thuận Nghĩa , nhất là cha Thiện Gíáo, trước những ngày lễ Cha đều tới Đại tá : Đại tá ơi, giáo dân đi làm ngoài rẫy phát hiện được VC cấp Tiểu đoàn đóng cách đây vài cây số , biết rằng thầm ý Cha chỉ muốn che dù trước khi mưa nhưng tôi cũng vui vẻ trả lời Cha cứ yên chí đêm thánh lễ thế nào cũng có Đại tá Tỉnh trưởng tham dự và rồi tôi đã đến và được phường “TRẮC” dàn chào danh dự. Đối với Công giáo không hề có chuyện gì xảy ra xích mích với chánh quyền và đã sống với nhau như một gia đình. Tôi là vị Tỉnh trưởng đầu tiến đạt cho được một dân biểu Công giáo.

          Năm 1972 thì số giáo dân Bình thuận đã thêm được 5000 người đó là đồng bào từ Cambodia chạy về do Phủ Khẩn hoang lập ấp gởi tới dưới sự dẫn dắt của hai linh mục, một Việt là cha Sanh và một Mỹ là cha Devlin.

          Tôi không thể không nhắc đến trường hợp đặc biệt của cha Mỹ vì ngài là người khuyết tật nhưng đầy lòng bác ái, tình nguyện qua Việt Nam để cứu giúp những đứa con đau khổ. Khi tới Bình Thuận ngài đã từ chối sống trong căn cứ bảo đảm với đoàn Cố Vấn mà nhất định sống với con chiên ngay tại khu rừng khẩn hoang cách thị xã 3 cây số, chỉ trong một trailer thiếu tiện nghi đủ mọi thứ. Đây là mồi nhử cho Cộng sản vào giết hoặc bắt cóc ngài. Biết vậy tôi đã dùng ngài để nhử Cộng sản vào để tiêu diệt, sắp đặt hàng rào chiến lược bằng mìn claymore gài với đường giây nối nhau bao ấp trong khi chỉ có một Trung đội lo an ninh trong. Hàng rào mìn là hệ thống Ấp Chiến Lược rất nguy hiểm cho CS, vì chỉ thiết trí sau khi đã đi tuần vùng xung quanh và khi về mới thiết trí hàng rào mìn. Quả nhiên CS đã mắc bẫy, hai lần trước chúng còn mang được thây đồng đội đi đến lần thứ ba chúng phải bỏ lại 5 xác chết vì không còn dám vào để lôi thây.

          Cho tới ngày di tản, cố vấn tỉnh đem xe ra đón ngài lên máy bay về Sài Gòn, ngài nhất định từ chối và nhứt định ở lại chết với con chiên. Ngài tới trình bày kế hoạch di tản với con chiên bằng cách đề nghị với tôi là mình gom hết lực lượng và dân chúng thành một đoàn quân vĩ đại và đi chuyển bằng chân (đưòng bộ) về Sài Gòn, tôi trình bày với ngài là không thể được vì khu Rừng Lá và Định Quán địch đã chiếm và chốt rất gay go, nếu mình tới đó sẽ rớt vào hoàn cảnh di tản cuả Quân Đoàn II qua Phú Bổn. Ngài đã khóc vì phẫn uất đưa cho tôi xem bài thơ “CHỬI MỸ - MỸ ƠI ĐỪNG NGOẢNH MẶT – AMERICA ! DON’T TURN BACK” . Rồi ngày 10 tháng 4 năm 1975, cố vấn đòan đã được lệnh bắt và áp giải ngài lên trực thăng bay về Sài Gòn.

          Về tới Saigon ngài lại trốn ra ngoài sống với dân chúng trong khi đó những ngày chót radio Sài Gòn của Việt Mỹ ra rả kêu suốt ngày đêm tìm cha Devlin vẫn bặt tăm nhưng cuối cùng ngài cũng đã bị bắt và chở về Mỹ. Về tới Mỹ vẫn một lòng nhớ tới đàn con chiên đang bơ vơ dưới gông cùm CS, ngài liền tình nguyện qua Thái Lan để lo cho đồng bào Việt Nam tỵ nạn tại trại Sông Khả mãi đến năm 1989 vì quá già và bịnh hoạn ngài đã trở về quê nhà và qua đời tại Utah.

          Đối với sắc tộc Chàm, tôi cũng chia sẻ đồng đều thăm viếng như các tôn giáo khác, tôi rất thương mến các “CẢ” và ngược lại cũng được các “CẢ” quí mến, đã đi sâu vào các chùa tham dự các lễ quan trọng,cũng tham gia đám ma của dân tộc Chàm, theo tục lệ chôn người nằm xấp mà dân bản địa nói là khi nào có xét đánh thì thây sẽ được lật ngửa trở lại. Tôi nhớ mãi những nụ cười cuả các Cả, nhất là cả Tào và cả Thường Hòn mỗi lúc tôi tới thăm chùa đều nói “Đại tá rất thực tế”. Tôi không hiểu thế nào là thực tế, có lẽ mỗi khi tới thăm chùa tôi “dúi” chút ít gọi là để cúng kiến và tu bổ chùa.

          Đảo Phú Quí là nơi xa đất liền xưa nay vẫn ít có vị Tỉnh trưởng thăm viếng vì muốn liên lac phải dùng ghe thuyền, sóng gió bất thường nên rất khó khăn cho việc tải thương, bệnh nhân cần cứu cấp cũng như sản phụ gặp khó khăn trong khi sinh nở, đã có những trường hợp phải tử vong. Tử khi về Bình thuận nhờ có sự ngoại giao mật thiết với Cố vấn đòan Mỹ, tôi đã nhờ cung cấp trực thăng của USAID để thực hiện những cuộc viếng thăm đảo để tiếp tế, chở phái đoàn y tế lo sức khoẻ cho đồng bào, lúc đầu có Mỹ đi theo chứng minh là họ sử dụng vi họ tính mỗi giờ trực thăng trên trời phải chi phí 400 đô la, sau lần hồi tôi được sử dụng tự do vì sự kính nể của họ đối với sự hoạt động hăng say và tận tình của tôi.

          Năm sau tôi đã được biệt phái một trực thăng của Không Quân Việt Nam để dùng làm máy bay chỉ huy, tôi đi thăm Phú Quý thường hơn và mỗi lần đều chở về tỉnh những cán bộ ,nhân viên, bệnh nhân và sản phụ, trực thăng đã trở thành phương tiện thông thường cho người dân trên đảo, mỗi khi có trường hợp khẩn trương đều ới ông “GIÀ” nên tôi đã tạo được nhiều thiện cảm và biết ơn của người dân ngoài đảo. Vì quá thương tiếc nên sau ngày tháng tư,1975, khi bị đày đọa trong tù người dân Phú Qúy vẫn còn kể cho nhau những chuyện hoang đưòng nào là ĐT Nghĩa vẫn còn chỉ huy anh em trong vùng Bình Tuy - Bình Thuận, nào là cán binh Cộng sản nói là vẫn còn thấy trực thăng ĐT Nghĩa bay trên đầu v.v.

          Tôi đã mời Tổng thống Thiệu ra thăm dân tình ngoài đảo, và trong lúc hàn huyên tôi đã đề nghị kiến thiết đảo, thành môt phi trường bao hết chiều dài của đảo, phi trưòng này sẽ có tác dụng cho các công ty dầu hoả lập văn phòng điều hành và phi trưòng có thể sử dụng như một Hàng không Mẫu hạm cố định, chứa các phóng pháo cơ cho đơn vị không quân đồng minh, có thể dùng căn cứ này để đi trừng phạt địch quân trên các nước liên bang không cần phải mướn những căn cứ chiến lược như Utapao ỏ Thái Lan,Phi Luật Tân v.v. Tỉnh sẽ có nguồn lợi vĩ đại, có thể chi viện lớn cho quốc gia, nhưng Tổng thống nói là đã quá muộn màng.

          Chuyện dài Bình Thuận còn quá nhiều nhưng trong bài này chủ yếu chỉ để trả lời câu hỏi hiếu kỳ của đồng bào và chiến hữu: BẰNG CÁI GÌ MÀ ĐẠI TÁ TIỂU KHU TRƯỞNG NGÔ TẤN NGHĨA LẬP ĐƯỢC KỲ CÔNG NÀY? Trong bài ngắn gọn “CHUYẾN SĂN ĐÊM” người lính già 229 đã cô đọng những diểm chính trong kế hoạch của tôi như: Khi về nhậm chức năm 1969, việc đầu tiên của Đại Tá Nghĩa là bằng mọi gíá phải lập lại an ninh trong toàn lãnh thổ Tính. Con đường QL1 xuyên qua Bình Thuận được khai thông hoàn toàn vào năm 1970 những xe đò có thể hoạt động trở lại, những đoàn quân xa di chuyển hàng ngày không còn bị phục kích. Đời sống người dân trong Tỉnh trở lại bình thường.VC bị đẩy lui về các mật khu của chúng. Cũng chừng đó đơn vị cơ hữu chiến đấu nhưng dưới sự chỉ huy quả cảm, biết dấn thân mình tới các tiền đồn heo hút. Sự có mặt của vị đầu Tỉnh là liều thuốc kích thích tinh thần binh sĩ chiến đấu lên cao độ. Họ không còn cảm giác bị bỏ rơi, vì biết cấp chỉ huy cao cấp của mình cũng đang có mặt nơi nào đó, nơi tiền đồn heo hút, hoặc đang có mặt ở một thôn xã hẻo lánh như La Gàn, Lương Sơn, Chợ Lầu, Cây Số 25, Gió Ngàn Phương hay Vĩnh Hảo.

          Những đêm thăm viếng bất ngờ như thế làm cho các đơn vị trưởng địa phương không dám lơ là bỏ đơn vị, và quân số phải luôn luôn đầy đủ trong tư thế sẵn sàng chiến đấu.Trong đời binh nghiệp tôi chưa thấy vị chỉ huy nào phục vụ tân tụy như thế. Tôi đã chứng kiến nhiều lần Đại tá đến với đơn vị tôi âm thầm lặng lẽ, nhiều lúc vào tám, chín giờ tối làm các vi Tiểu đoàn trưởng hoăc Liên đội trưởng phải ngạc nhiên. Sau khi ông đi qua Chợ Lầu bằng chiếc Jeep do con trai Lễ lái, anh cũng là ngưởi cận vệ tin cẩn của cha mình, cùng với hai âm thoại viên. Đường từ Chợ Lầu đến Phan Rí Cửa phải băng qua Quán Mía, Khu ba Liêm Bình, khi trời xụp tối vạn phần nguy hiểm, thế mà ông vẫn đi một cách bình thường.

          Một lần vào mùa hè năm 1971. Đại tá đến Yếu khu Phan Rí Cửa bất thần khoảng 8 giờ tối. Đại úy Nguyễn Đình Thụy, Liên Đội Trưỏng 2/8 ĐP hỏi Đại tá và anh em tùy tùng có ăn gì chưa, Đại tá trả lời không cần lo và ông nhắc lại chỉ thị của ông mối khi tới thăm đơn vị là với “HAI KHÔNG = Không dàn chào và không ăn uống vì lý do “bất ngờ và bảo mật”. Đại Tá hỏi tình hình bố phòng khu vực thế nào nhất là khu Lâm Lộc, Thưọng Văn. Dĩ nhiên Liên Đội Trưỏng phải nói là rất tốt, các mũi đột nhập vào Lâm Lộc đã bị chận đứng, với 4 Trung đội Nghĩa quân bảo vệ Lâm Lộc và Đại đội 730 /ĐPQ bảo vệ Hội Tâm thật an toàn. Đại tá rất lấy làm hài lòng và nói hôm nay tôi muốn đi săn tại dốc Hội Long….Nếu đổi lại tôi với cương vị của ông tôi không dám đi săn như vậy; Nghe anh em Nam Bình thuận kể lại, có lần ông đã cùng TT Nguyễn Văn Thiệu đi săn ở cây số 25. Thú thật tôi áí mộ sự can đảm của hai vị vô cùng. (hết trích )

          Nói tới cây số 25, sở dĩ tôi vào rừng đó nhiều lần vì tôi đã đặt đựợc vị trụ trì ở đó theo dõi và báo cáo đồng đều cho nên tôi mới mạnh dạng mời TT Thiệu đi để chứng kiến việc làm tình báo cao siêu. Có lần tôi ra lệnh cho Đại úy Sâm Đại đội 290 ĐPQ hành quân tảo bạch hóa khu CS25, Đại úy Sâm tỏ vẻ ngại ngùng, không phải vì sợ địch nhưng nói rằng em ngại vì em là người Công giáo nếu vào tảo thanh trong chùa e có phản ứng bất lợi, tôi bảo đảm đây là theo lời yêu cầu của chính vị trụ trì trong chùa, ông tiết lộ là không chịu nỗi VC vì chỉ có 7 thằng ở đây có 4 tiểu liên và 3 súng trường để đón nhận tiếp tế và đoàn xâm nhập đổ bộ lên đây và bọn này có nhiệm vụ làm liên lạc hướng dẫn về mật khu ĐĂNG GIA, nhưng bọn này rất hỗn xưọc, ăn cả gạo và rau cỏ của nhà chùa trồng, nhiều khi còn bắt thầy khiêng vác phụ nữa, cho nên vì uất ức thầy muốn tiêu diệt tụi nó. Tôi cũng đã cho thày biết là Hải quân Mỹ đã toan san bằng chùa nhưng tôi không cho, nói là phải để làm mục tiêu theo dõi, hơn nữa theo đức tin của ngưòi VN thì phá chùa hay nhà thờ là điều cấm kỵ. Vụ này Đại úy Sâm đã trường thuật trong tập san Ân tình trước, đọc giả có ít ngưòi để ý và đã hỏi tôi và tôi đã xác nhận.

          Hồng nào mà chẳng có gai, mề đay nào không có mặt trái, đâu phải lúc nào cũng được thuận buồm suôi gió , nên trong nhiệm vụ vào rừng vuốt râu cọp làm sao tránh khỏi lúc bị cọp vồ, trường hợp của tôi cũng không là ngoại lệ, trong những lúc mạo hiểm ở Bình Thuận tôi đã nhiều lần bị tấn công điển hình nhất là:
          Khi đi hoạt động tại ấp Bình An và Bình Lâm xã Tùy Hoà Quận Thiện Giáo là hai ấp sôi động nhất của quận, luôn luôn có mặt VC hoạt động ngày đêm, đặt mìn , ám sát, thu thuế công khai nên tôi đã đặt ưu tiên hoạt động tại hai ấp này. Trong lúc đi thăm từng nhà dân do đoàn trường CBXDNT Nguyễn Phương hưóng dẫn thì VC ở ngoài rào ấp nhắm bắn sẻ ,tôi vô sự nhưng tội nghiệp anh Phương đi xong xong với tôi đã bi tử thương. Tôi vẫn ở lại xã và sáng ra yêu cầu đồng bào trước khi ra đồng nghe tôi nói chuyện.

          Sau khi ca bài Chống Mỹ Cứu Nước, tôi vận dụng hết tình cảm nói lên điều thực tế địa phương, thấy người dân tỏ vẻ thấm thía có người đã chảy nước mắt nên tôi biết tôi đã chinh phục được nhân tâm. Cũng tại Thiên Giáo trong năm 1970 trong cuộc hành quân trong quận, trong khi tôi theo dõi hành quân tôi leo đứng trên một đống rơm để dùng ống nhòm theo dõi cuộc tiến quân, tôi đã đứng trên đống rơm khá lâu mới di chuyển, và chỉ sau đó chừng vài chục phút chiếc xe bò phải leo qua đống rơm để ra đồng chở lúa thi xe bò đã bị mìn nổ tung, đây có thể là mìn chống chiến xa nên con người tôi không đủ nặng để đủ sức ép cho mìn nổ.

          Lần kế đó trong khi đi dời một ấp độc nhất ở phiá bắc tỉnh ở La Gàn quận Tuy Phong , một ấp gai góc nhất trong tỉnh ở cách xã trên ba cây số vào trong rừng sâu VC hoàn toàn kiểm soát ngày đêm, các Tỉnh trưởng tiền nhiệm đã nhiều lần tính đời về gần xã nhưng đã bị dân biểu địa phương phản đối với nhiều lý lẽ mị dân, phi lý nhưng tới phiên tôi, tôi đã quyết định dứt khoát là phải dời để lo cho dân. Ngày tôi quyết định khởi sự và trong khi chạy gần vào ấp tôi đã bị phục kích và trái B40 bắn trực diện cũng chỉ sớt qua mà không gây thương tích, ngay cả xe cố vấn chạy kế sau cũng vô sự.

          Trái B40 thứ nhì bắn trực diện tại mật khu Lê Hồng Phong cũng không gây thiệt hại. Thật ra thì hiếm có bao giờ vị Tỉnh trưởng nào lại đi hành quân trong mật khu Lê Hồng Phong nhưng tôi quả quyết đi vì lúc đó tôi được tin tình báo cho biết là VC sẽ có mặt tại mật khu này để tiếp nhận và hộ tống một số cán bộ cao cấp từ Miền Bắc đưa vào Quân khu 6 đóng giáp ranh giữa Lâm Đồng và Bình Thuận. Sau khi đụng độ không lâu cách khoảng đó không xa Thiết Vận Xa bị xụt hầm, ta không để ý và vẫn tiếp tục đi nhưng sau này được biết là dưới hầm đó đã có 41 thằng chết ngộp, nhưng không có tên cán bộ mới xâm nhập nào. Năm tên cán bộ xâm nhập đã được tàu ngầm Nga đưa đi lọt và đổ lên mật khu. Tin này đã được đăng trên tờ Quân Đội Nhân Dân tại Hà Nội.

          Trong những lần di chuyển về Sài Gòn để tiếp súc với dân hồi chánh tôi luôn luôn thay đổi màu xe và di chuyển thất thường nhưng có một lần tôi đã bị phục kích ở Rừng Lá , lúc tôi đi vào thì dung chiếc xe đen của tỉnh nhưng lúc ra về tôi có mời một bạn ra chơi, anh đã dùng xe màu trắng . Khi ra đi tôi ngồi trong xe trắng và xe đen chạy theo, ra khỏi Sài Gòn nửa chừng tôi ngừng lại trước một quán dọc đường, đợi đến khi xe du lịch chạy tới khá đông, tôi xen vào giữa đòan xe, cho xe đen chạy trước, đằng sau tôi còn mấy xe đen trắng chạy sau, khi qua Rừng Lá xe tôi chạy trước, qua khu rừng thì VC nổ súng vào mấy xe sau nhưng tôi không biết có xe nào bị nạn không? Vì đây là ngoài ranh giới Bình Thuận nên không thể đoán chắc VC đã phục kích mình hay không.

          Trực thăng rớt – Tôi còn nhớ ngày Thứ sáu 13, ngày xui xẻo nhưng năm nay lạ thường là có ba ngày Thứ sáu 13 trong một năm nhưng làm sao tránh được khi phải đi hội tại Quân đoàn .Trên đường về cùng ngày khi còn cách ranh giới Bình Thuận khoảng nửa giờ thì trực thăng bị bể ống dầu phi công cho tôi hay có thể bị nguy hiểm nhưng nếu trực thăng chết máy thi cố gắng cho hạ bằng cánh quạt được, tuy nhiên cũng cố gắng bay dọc theo trục lộ, khi về tới Sông Mao thì trực thăng không còn bay nổi phải rớt xuống nhưng may thay rớt trên một vũng xình kế cạnh con rạch chạy theo Sông Mao, vô sự và gọi đơn vị địa phưong chở về, trực thăng hủy tại chỗ.

          Trong đời quân ngũ, không biết bao nhiêu lần gặp nạn nhưng không có khi nào gặp trực diện như thời gian ở Bình Thuận. Trước khi đi Bình thuận hai tháng cũng đã gặp một tai nạn nhưng cũng từ xa bắn tới. Ở Pleiku trong một ngày Chúa nhật, đơn vị Mỹ tai Dakto thông báo cho Quân đoàn là đã hạ sát nhiều tên CS Bắc Việt và thu được rất nhiều tài liệu, Tham Mưu Trưỏng Quân đoàn cho Phòng nhì và Phòng ba đi khai thác. Bên Phòng 3 có hai sĩ quan Mỹ, bên Phòng 2 thì có tôi và Cố vấn Mỹ. Khi bay lên đến Dakto thì trời mây mù bao phủ không thấy đưọc khoảng trống để đáp, phi công tìm mãi mới thấy được lỗ trống và hạ cánh xuống căn cứ, rồi phi công nói rằng thời tuyết xấu bao phủ anh sẽ bay về Kontum và khi xong thì gọi hắn ta trở lại đón.

          Xế chiều trời có vẻ quang đãng, bốn chúng tôi ra bãi đáp đợi, cách 20 phút khi trực thăng tới thì một quả pháo 130 ly cuả CS bắn trúng ngay địa điểm chúng tôi đứng, sau tiếng nổ tôi thấy cố vấn cuả tôi nằm rạp xuống đất tôi tưỏng anh nằm để tránh viên đạn kế tiếp nhưng anh đã bị trúng mảnh đạn cứa ngay cổ và cuống họng nên đã từ trần, tôi may mắn có lẽ là nhờ lùn mà mảnh đạn có thể bay cao hơn nên tôi thoát chết, tôi rất thương tiếc một Trung tá dễ thương, vừa hết nhiệm kỳ làm tùy viên quân sự ở Nga Sô, về hưởng những ngày phép với gia đình và khi hết phép được chỉ định đi Việt Nam và đã tới với tôi, tôi rất thương tiếc anh và cũng chỉ biết an ủi “Âu cũng là định mệnh”.

          Đôi khi tôi cũng tin ở Định mệnh nhưng vì nhiệm vụ phải liều, liều đây không có nghĩa là liều lĩnh mà là liều chết hy sinh cho lý tưởng cố đạt được mục tiêu đề ra, tôi cũng có bạn là Đại tá Đặng Hữu Hồng, Tỉnh trưởng Quảng Đức người cũng liều, gan dạ nhưng vì định mệnh anh đã bị hy sinh khi liều mình dẫn đoàn quân đi tiếp viện.

          Tôi cũng liều trong các công tác tình báo , Hải quân Mỹ đã rải bằng trực thăng những máy dò điện tử xuống nhiều vùng trong tỉnh,có ngày họ đã giao những máy điện tử (sensors) cho mình đi rải nhận định rằng mình sẽ rải chính xác hơn họ .Cố vấn trưởng cho hay là chiều nay Hải quân sẽ gởi vào một trực thăng do phi công của đội cảm tử (Navy seal) lái vào Tiểu khu để chở sĩ quan đi hướng dẫn mục tiêu các mật khu, trực thăng tới Cố vấn nhờ tôi chỉ định sĩ quan đi hướng dẫn, tôi vỗ ngực, nói người sĩ quan đó là tôi, thế rồi tôi và con trai Lễ mang máy truyền tin lên trực thăng đi thi hành nhiệm vụ, thấy thế Cố vấn Phillip Cook cũng nhảy lên theo. Suốt hai giờ quần thảo qua các mật khu, phải bay sát ngọn cây, nhiều chỗ VC đã bị bất ngờ, còn nằm trên võng, máy bay “rẹt” qua bỏ chạy. Những máy điện tử này, giống y hệt như một khúc cây, có lá cũng một màu với lá cây rừng nên dầu có đi tìm cũng khó phát giác được. Rồi kế đó đêm đêm ta nghe những trái đại bác hạng nặng nổ trên các mật khu nhưng ngưòi dân đã nhàm chán với những tiếng nổ hàng đêm chẳng ai cần biết là ở đâu và là gì ?.

          Ban ngày thì VC cũng không được yên thân, những đợt phản lực A 37 của không đoàn “Ó ĐEN” từ Phan Rang, từng đoàn 4 chiếc tung hoành trên các mật khu vùng nào cũng là vùng oanh kích tự do ,cứ vài ba ngày dân Phan thiết lại chứng kiến những đoàn phản lực,với những tiếng kêu xé trời nhào thẳng xuống tòa tỉnh làm như để thanh toán một mục tiêu chỉ định nhưng trong máy truyên tin chỉ phát ra những lời báo cáo “ Bố ơi ! nhiệm vụ thi hành xong chúng con chào bố” lời nói rất cảm động và dễ thương và chỉ trong khoảng khắc đoàn phản lực lấy lại cao độ và biến mất dạng về hướng Phan Rang.

          KẾT LUẬN - Với tuổi già gần kết liễu cuộc đời , an hưởng cuộc sống thanh bình nơi đất tạm dung, đôi khi hồi tưởng lại tôi vẫn tiếc những ngày nào oai hùng chống giặc, có những đêm nằm mơ tôi vẫn thấy đang hành quân diệt cộng tại tỉnh nhà và tỉnh dậy đã vô cùng tức giận kẻ gọi là đồng minh nhưng đã phản bội ,trong lúc túng quẫn họ đã bán rẻ danh dự họ và giết hại một quân đội hùng mạnh của chúng ta. Trong khi bán nước Việt Nam, TT Nixon và Kissinger đã hy vọng rằng nếu bang giao kinh tế với Trung Cộng họ sẽ có nguồn lợi khổng lồ so với hàng trăm tỷ đã tổn phí cho chiến tranh VN, Nixon đưa ra những thí dụ ấu trĩ như nếu dân Trung Cộng mua một bàn chải đánh răng, một viên Aspirin cho trên môt tỷ dân thì cũng đã có trên một tỷ đồng lợi nhuận và mơ tưởng một nền kinh tế vĩ đại và trong cuốn Beyond peace (viễn ảnh hoà bình) Nixon tiên đoán sau này Trung cộng sẽ trở lên một cường quốc kinh tế.

          Tiên đoán này đến nay tỏ ra đúng nhưng với Mỹ thì cả là một thảm bại, những sản phẩm của Mỹ đã cung cấp công thức cho Trung cộng và Trung cộng đã sản xuất bán lại cho Mỹ và toàn thế giới với giá rẻ mạt nên ngày nay TC đã lắm tiền nhiều bạc đi mua nhiều nuớc trên thế giới. Mỹ trái lại nghèo mạt nhưng vẫn tiêu sài như công tử nhà giàu vẫn dùng tiền nợ đi mua chuộc các nước giàu, nghèo trên thế giới, không tiền đi cho nhưng phải vay mượn để cho nên nay đã mắc nợ các nước đàn em và nhiều nhất là Trung cộng tất cả lên tới trên một ngàn tỷ đô la, cho tới năm nay Quốc hội Mỹ vẫn chí chóe về việc được phép tăng nâng cao tột đỉnh mức nợ và nhiều phen đã xiểng niểng trong vấn đề phá sản, và nếu bị phá sản thì những gì sẽ xảy ra ?...

          Ngày nay đã sáng mắt ra, vội vàng tuyên bố trở lại Thái Bình Dương, nhưng hãy nhìn kỹ nanh vuốt Trung cộng đã bấu tới đâu ?! tiền “Chú Ba” vung ra không hạn chế, hãy nhìn xem chỉ một việc xúi Cambodia không ra thông cáo chung sau khi bế mạc hội nghi các nưóc Á Châu để tránh việc tố cáo với Tổ chức Quốc Tế -Trung Cộng chiếm biển đông bất hợp pháp, Trung Cộng đã dúi cho Cao Miên tám tỷ đô la với lý do là món nợ vay không hoàn trả. Cứ đà này thì con cháu chúng ta sẽ phải bị nướng dã man trong một cuộc chiến tranh thế giới thứ ba.

          Thời gian trôi quá mau nay đã 40 năm, đành rằng Bình Thuận chúng ta cũng bị lôi theo định mệnh cuả đất nước bị xoá nhòa nhưng chúng ta người chiến sĩ kiên cường của Bình Thuận vẫn hãnh diện ngửa mặt với những gì chúng ta làm cho Bình Thuận, vẫn tin tưởng chính nghĩa quốc gia là lý tưởng, nhờ sự dã man mọi rợ của CS đối với dân lành nên ngày nay ta vẫn thấy không thế nào chúng tồn tại được vì ngưòi dân đã phẫn uất tới cực độ. Đúng như lời nhận xét của tướng pháp Vanuxem, người đã chạy đôn đáo trong giờ phút cuối cùng tháng tư 1975 để tìm giải pháp cứu Việt Nam, ông nhận định rằng muốn giải phóng Việt Nam thì hãy để CS chiếm trọn và cai trị đất nước, khi đó người dân sẽ thấy rõ CS là gì, chúng sẽ tàn ác, độc đoán vơ vét dân sẽ nghèo khổ, chúng hết đường tuyên truyền, người dân sẽ nổi dậy và tiêu diệt chúng. Sự tiên đoán này nay đã thể hiện đúng như dụ trù và nay chúng ta cần yểm trợ cho người dân trong nước và ngày trở về sẽ đầy hứa hẹn ,tôi chỉ tiếc là không thể sống đến ngày đó để dự ngày khải hoàng ca cùng các chiến hữu.

          Từ ba năm nay năm nào tôi cũng từ giã chiến hữu nói đây là năm chót nhưng hết năm Thượng đế lại “gia hạn” cho tôi thêm năm nữa, khi còn lái xe,tập thể dục, đi lại không khó khăn thì tôi không thể không đi tìm các em được, nhưng năm nay thì thật tình là năm chót, với tuổi 90 bước qua 91 thấy quá yếu, đi đứng không còn vững chãi như xưa nên dầu Thượng đế có gia hạn thêm cho năm nữa thì cũng không còn nghị lực đi nữa, tôi đã tham dự buổi họp với hội Thân hữu Binh Thuận/Houston tháng ba năm nay 2013, tôi rất thích dự hội này vi thành phần tham dự gồm số đông các vị cao niên, một số sĩ quan thuộc các cấp Quân, Cán, Chính, những người đã chứng kiến những gì tôi đã làm cho Bình Thuận và cũng các vị này đã ban cho tôi bản Tuyên Dương “NHỜ ANH”.

          Tạm biệt chiến trưòng và quí chiến hữu.

          Ngô Tấn Nghĩa

          https://www.facebook.com/photo.php?f...type=3&theater

          Comment


          • Bên Những Bờ Rừng

            Bên Những Bờ Rừng
            Phan Minh


            Hình minh họa

            Nhân vội vã bước lên tàu, bên cạnh những hành khách rời cao nguyên đất đỏ leiku, trên chuyến bay C 47 chiều cuối tuần, bên cạnh anh là một cô gái Huế, cô hay nhìn lên bộ áo bay đã ngả màu của anh. Trên hàng ghế dựa hai bên thân tàu, mọi người ai nấy đã vào ghế ngồi, và thắt giây an toàn, con tàu tiến dần ra phi đạo.

            Nhân nhìn đồng hồ, như một thói quen mỗi lần tàu cất cánh. Cô gái hỏi anh trong tiếng ồn của máy bay đang bắt đầu tăng tốc độ để cất cánh, chàng không nghe rõ câu hỏi, nhưng nhìn theo cử chỉ của cô gái, chàng trả lời: " 3 giờ 02 phút thưa cô".

            Con tàu cố gắng vươn lên để lấy cao độ, hành khách bị lôi theo độ dốc của con tàu, mái tóc thề của cô gái bị gió đưa về phiá sau, che một phần áo bay đã bạc màu của chàng, trông thật dễ thương. Chàng để yên và ngửi thấy mùi thật êm dịu của tóc nàng. Cô gái quay lại xin lỗi, với vẻ thẹn thùng. Nhân mở đầu câu chuyện trong tiếng ồn của máy bay đang rền ở bên ngoài.

            - Cô về đâu? ...

            Cô gái đáp ngay như đã sẵn sàng từ lâu:

            - Dạ em về Huế, thế còn anh?...

            Tiếng cô gái thật tươi vui, Nhân nhìn kỹ hơn qua vai nàng, đôi mắt tròn với hàng lông mi đen dài, sóng mủi thon và đặc biệt làn môi như những quả đào đang mùa.

            Nhân trả lời:

            - Tôi cũng về Huế, nhưng chắc là không còn xe để ra Huế, khi tàu về đến Ðà Nẵng chiều nay.
            Nàng trả lời nho nhỏ:

            - Dạ ...

            ***

            Nhân nhìn ra bên ngoài - nghĩ ngợi mông lung. Chàng nghĩ về những ngày ra Pleiku, nơi vùng đất đỏ, có đồi Cù-Hanh, có con phố nhỏ thật dịu hiền. Những chiều trong cơn lạnh của núi đồi cao nguyên, chúng bạn của Nhân thường hay ra phố, để tìm vui bên ly cà phê đen của quán "Dinh Ðiền", hay đi bách bộ trên con đường dốc đỏ, nhìn theo bóng của các cô gái vùng Tây Nguyên đang tha thướt với những chiếc áo dài.

            Nhân nghĩ về mấy tháng trước hồi còn ở Cần Thơ, phi trường Bình Thủy, nơi chàng đã sống bốn năm, bên dòng sông Hậu, với bao nhiêu vui buồn, với những chuyến bay đêm, những sớm mai bay dọc theo những hàng dừa xanh hai bên bờ kinh, băng qua những cánh đồng lúa. Nhân và các bạn của chàng thường cất cánh khi mọi người đang còn ngủ yên, để đến những điểm hẹn, trước lúc bình minh. Rồi những ngày ghé lại Tô Châu, Hà Tiên, bay dọc theo con kinh Vĩnh Tế. Có lúc ghé về Cà Mau, U-Minh nơi những đầm đầy những cây tràm, cây đước.

            Có một lần chàng đã thả toán tại mủi Cà Mau; phần đất cuối cùng của dải đất hình chử "S". Từ trên trời cao nhìn xuống một màu xanh tươi của vùng đồng bằng với những làn sương mai đang còn lảng vảng trên mặt đất.

            Trong khung cảnh thanh bình đó, cũng đang ẩn dấu những trận chiến khốc liệt, và bao người tranh nhau từng tất đất chiếm ngự.

            Chợt cô gái quay lại hỏi:

            -Anh đang nghĩ gì mà có vẽ đăm chiêu như thế?

            Cô ta đang chăm chăm nhìn vào khuôn mặt thiếu vắng nụ cười của Nhân, chàng trả lời:

            -Tôi đang nghĩ về những ngày ở vùng đồng bằng sông Cửu Long.

            Chàng và cô gái thật ngượng ngùng khi chưa biết được tên nhau, rồi chàng lên tiếng:

            -Tôi tên Nhân, thế còn tên cô?

            Cô gái có phần dạn dĩ hơn.

            -Dạ em tên Hoá...

            Nàng nói tên mình một cách rất tự nhiên và đang theo dõi người đối diện. Có lúc nàng bắt gặp ánh mắt của Nhân nhìn nàng, Hoá tỏ vẻ thẹn thùng, rồi cả hai bắt đầu những mẩu chuyện về mình, Hoá hỏi:

            -Anh Nhân mới ra Pleiku?

            Chàng trả lời trong niềm luyến tiếc:

            -Vâng tôi ra Pleiku đã 3 tháng!... Thế còn Hoá?

            Hoá cho biết nàng có người anh là một sĩ quan ngành Quân Cảnh Tư Pháp (QCTP), đang đóng tại Pleiku, anh Trương Hữu Lạc trưởng phòng QCTP Pleiku, Hoá nói:

            -Em ghé thăm anh chị của em, và ở chơi với họ hơn một tháng; sau khi tan trường ở Huế.

            Nhân cũng là học sinh của Huế, sau ngày Mậu Thân, chàng tình nguyện vào Quân chủng Không Quân để trở thành một Phi Công.Hoá đã bắt đầu dạn dĩ hơn, và câu chuyện mỗi lúc một vui hơn, rồi nàng quay qua hỏi Nhân:

            -Anh Nhân có thường về thăm Huế không?

            Nhân lắc đầu không nói, chàng nhớ ra mình đã ít về Huế, hầu như mỗi năm chỉ một lần. Chàng đã về Huế trước khi thuyên chuyễn lên Pleiku, lần này với lý do đặc biệt nên chàng lại được ghé thăm nhà 15 ngày trước khi trở lại đơn vị.

            ***

            Trong tiếng ồn của con tàu chiều nay, Nhân im lặng nghĩ về một chuyến bay hai tuần trước đây (vào trung tuần tháng 6 năm 1974). Ngày đó chàng và Phương, một hoa tiêu về nước sau chàng nhưng đã lên Pleiku sau ngày về nước, còn chàng thì về trình diện Vùng IV, phục vụ nơi vùng đồng bằng sông Cửu Long. Số giờ bay của chàng trội hơn Phương, nhưng vì mới ra vùng cao nguyên nên Nhân phải ngồi ghế hoa tiêu phụ. Khi bay, Phương ngồi ghế hoa tiêu chính. Phương đã dí dỏm nói với Nhân khi ngồi vào ghế lái:

            -Anh hôm nay là IP (huấn luyện viên) của Phương đấy nhé.

            Nhân mỉm cười, vì ghế trái dành cho những IP (Instructor Pilot) của ngày nào tại các trường bay bên Mỹ; mà Phương và chàng đã trải qua trong thời gian huấn luyện hồi 69-70. Hôm ấy Phương và Nhân là phi hành đoàn thứ ba trong phi vụ thả toán. Trời vừa lờ mờ sáng cả đoàn trực thăng bay về đáp tại căn cứ thuộc lực lượng Lôi Hổ cạnh Biển Hồ trên đường đi Chu Pao. Trông nét mặt mọi người, ai nấy đều rất nghiêm trọng, vì tình hình hai toán Lôi Hổ vào lòng địch trước đây đã bị bắt, toán thứ ba vừa hoàn thành nhiệm vụ, thì bị phát giác, và đang trốn quanh căn cứ của Bộ Tư Lệnh tiền phương của địch; nằm sát biên giới Việt Lào.

            Phương và Nhân vào phòng hành quân để tham dự buổi thuyết trình của sĩ quan quân báo. Ai nấy đều im lặng, vì sứ mạng hôm nay là bằng mọi giá phải bốc cho được toán thám sát thứ ba này. Toán sáu người này, sáng nay đã liên lạc về cho biết là họ đã hoàn thành nhiệm vụ, nhưng suốt đêm qua đã phải ẩn náu quanh các trại của địch quân tiếp cận biên giới.

            ***

            Những tháng cuối năm 1971, Nhân đã có dịp bay những phi vụ với các toán Lôi Hổ từ căn cứ B-15 tại Quãng Lợi. Họ được đưa lên phi trường Lộc Ninh, để thả xuống vùng tiếp cận biên giới Việt Miên. Ðây là lần đầu Út và Nhân tham dự vào việc thả toán. Út, một người đàn anh về phi đoàn trước chàng, trước đó Út và Nhân đã cùng bay với hợp đoàn của Mỹ, cho nên hai người không thấy có gì nghiêm trọng cả. Họ từng bay chung với một hoả lực hùng hậu, có hai chiếc Cobra, và hợp đoàn hai chiếc UH-1, với một OH-6 mà chàng thường gọi là máy bay hột vịt, đây là một loại máy bay rất hữu dụng trong môi trường, vừa có thể oanh kích và bắt sống.

            Trên vòm trời lúc ấy, còn có một máy bay điều động C&C và một máy bay thám thính L-19 để đánh trái khói. Út và Nhân thường băng qua biên giới để vào vùng Chipu phiá Bắc của Lộc Ninh hơn 60 dặm. Nhân chẳøng thấy có một chút e ngại nào, có lẽ vì "điếc nên không sợ súng chăng" ?... Bây giờ Út đã ra đi, còn Nhân thuyên chuyển ra Pleiku.

            Tuần trước tại căn cứ Lực Lượng Ðặc Biệt này, Nhân đã được một anh em biệt kích cho chiếc áo tránh miểng lựu đạn, và chỉ cách lấy bột của lựu đạn cay, bỏ vào hộp đựng phim để phòng hờ cho việc mưu sinh. Hôm nay trở lại người anh em trong toán trinh sát đó vẫn còn đây, và đang chờ đợi cho chuyến nhảy toán kế tiếp. Những người lính thám sát này rất trẻ và vào lứa tuổi của em trai chàng. Trong khi những bạn đồng trang lứa với họ, đang vui sống phè phởn trong các đô thị, còn họ thì lặn lội trong chốn rừng đầy hiểm nguy, và không có dịp để nghĩ về tương lai của chính mình. Họ là những người lính âm thầm hoạt động trong những rừng sâu núi thẳm. Sau vài chuyến nhảy toán, họ được về thành phố sống vội, rồi trở lại căn trại nhỏ hẹp này để chuẩn bị đi vào lòng đất địch.

            ***

            Hợp đoàn trực thăng cất cánh lên Kontum, chờ đợi phi vụ bay vào vùng biên giới. Ban truyền tin vẫn chưa nhậân được tín hiệu của toán sáu người đang len lỏi trong đám rừng già, nơi địch quân đang trú đóng. Mọi người được lệnh nghĩ để ăn trưa. Vị sĩ quan tiền sát cho biết: "Chắc đến 1 hay 2 giờ nửa mới có kế hoạch bốc, khi toán người này ra đến gần bãi đáp." Cả đoàn rủ nhau ra phố để dùng cơm trưa, sau đó Phương rủ anh em vào một quán nước nghèo nàn bên góc phố, uống cà phê để được tỉnh táo.

            Hôm ấy Phương tâm sự thật nhiều với Nhân, Phương đã tỏ bày những nỗi niềm của anh từ ngày anh xa vắng Sài Gòn, nơi người bạn gái anh hằng thư từ, và giao du trong những chuyến về phép. Phương nói về một mối tình của một cô nữ sinh, với anh.

            Anh cùng cô bạn gái ấy, từng một thuở ở mái trường Ðại Học với nhiều lần hẹn hò. Giờ đây với nghiệp bay trên vai, anh hẹn với người bạn gái ngày anh thuyên chuyển về lại Thủ Ðô. Ngày ấy cũng là lúc em học xong Ðại Học Sư Phạm. Họ đã ước hẹn một tương lai thật đẹp với nhau. Lúc ấy, nàng đi dạy học và chàng quay về với nàng sau mỗi chuyến bay.

            Họ sẽ sống với nhau đầm ấm bên các con của họ. Ðó cũng chính là những hình ảnh Phương và người bạn gái từng mong đợi. Họ sẽ thực hiện được ước mơ này, trong chuyến đổi về Sài Gòn vào dịp cuối năm này của Phương. Trong phi đoàn, Phương là người có một vóc dáng rất thư sinh, khuôn mặt với nước da trắng và nụ cười trên môi, anh được bạn bè quí mến, và tâm hồn luôn nghĩ về những niềm ước mơ của một nếp sống hạnh phúc thanh nhàn.

            Hôm nay Phương và Nhân nhận lãnh phi vụ bay vào lòng địch để bốc toán thám sát sáu người. Ðáng lý ra, người bay chiếc số hai của phi vụ này là Huyên, nhưng hồi 1 giờ trưa Huyên đã nhận lệnh cất cánh đi tiếp tế tại một tiền đồn gần biên giới phía Tây Bắc Kontum. Phương và Nhân cùng xem lại các dụng cụ phi hành đem theo: chiếc bản đồ có đánh dấu toạ độ, và chiếc radio cấp cứu.

            Tuần trước Nhân tìm cách đổi chiếc radio của mình, vì chỉ chiếc radio cũ chỉ có phát, nhưng không nghe được tín hiệu. Phòng Tiếp Liệu Cấp Cứu Phi Hành không có radio khác để thay thế, nên anh đã tiếp tục đi bay với radio không nhận được tín hiệu Ðúng 3 giờ chiều, khi sĩ quan tiền sát báo cáo là, đã nhận được tin tức toán trinh sát đang trên đường tiến về phiá mục tiêu.

            Nhân cất cánh rời phi trường Kontum. Trên vòm trời ngoài chiếc C&C của Ðại Úy Hoàng, còn có chiếc U-17 của sĩ quan tiền sát, hai chiếc GunShip, chiếc slick của Trung Úy Minh và Tuấn đi lead, chiếc của Phương và Nhân đi số hai. Nhân rời phi trường Kontum được 15 phút, bay về hướng biên giới Việt Lào, phiá Bắc của tiền đồn Charlie nơi Tr/tá Nguyễn Ðình Bảo đã ở lại vào mùa hè đỏ lửøa 1972.

            Nhân tiến sâu vào những vùng núi cao của dãy Trường Sơn, bên dưới phi cơ là những khu rừng dày đặc. Lâu lâu chàng thoáng thấy vài cánh chim đang bay lượn trên vòm trời hoang vắng này. Nhân đang tiến dần đến tọa độ điểm hẹn, tiếng của Ðại Úy Hoàng gọi trong vô tuyến:

            -Số hai, vị trí bãi đáp bên phải của anh.

            Nhân trả lời:

            -Số hai, nghe năm.

            Phương bảo Nhân: "Tôi thấy dấu trái khói trên bãi đáp bên phải của tôi, bác để tôi đáp cho...", Nhân trao cần lái cho Phương.

            Khi con tàu đang hạ dần cao độ, Nhân nghe tiếng đạn AK-47 từ phiá dưới đất bắn lên, Phương báo cáo:

            -Có ground fire!...

            Bên kia vô tuyến Ð/uý Hoàng đáp lại:

            -Số hai, có sao không?... Vào đáp đi!

            Phương trả lời:

            -Số hai, không sao. ... Nhận lệnh vào đáp.

            Tiếng đạn bắn lên đã ngưng, con tàu tiếp tục tiến về hướng trái khói, và giảm dần tốc độ. Bãi đáp là một mảnh đất trống nằm lọt trong những rừng cây trên triền núi cao. Nhân thấy thêm một trái khói nữa vừa tung ra trên bãi đáp, và lố nhố những người lính thám sát đang đứng cạnh một thân cây mục giữa Bãi đáp. Trong suốt đoạn đường vào bãi đáp thật yên tĩnh, một thứ yên tĩnh rất đáng lo , vì lực lượng địch quân đang trú đóng quanh đây, và nơi này cũng là nơi gần bộ chỉ huy của họ.

            Con tàu chưa chạm đất hẳn, sáu người lính Lôi Hổ vội vàng nhảy lên. Phương đang giữ tàu ở vị thế Hovering, và tiếp tục cất cánh. Nhân quan sát các đồng hồ, xong nhìn lên những thân cây cao trước con tàu. Ðấy là những thân cây cao chừng 30 mét , con tàu cố gắng ngoi lên khỏi đọt cây trong tư thế nhấc thẳng vội vã, Nhân vừa thở xoà khi vừa ra được khỏi bãi đáp.

            Cùng lúc đó, có tiếng nổ chát chúa của đạn phòng không đang bắn trực xạ vào tàu, chàng nghe những tiếng bốp bốp bên phiá của Phương ngồi. Nhân thấy một lổ hổng thật lớn nơi cửa kính trước mặt của Phương, con tàu như khựng lại.

            Chàng nhìn thấy Phương đã buông cần lái và đầu cúi gục xuống. Nhân chụp vào cần lái như một phản ứng tự nhiên, chàng cố kéo cần lái để nâng mũi chiếc tàu lên. Con tàu không còn sức nâng, cần Collective và Cyclic cứng ngắc. Hệ thống Hydraulic chắc đã bị trúng đạn!... Con tàu tiếp tục lao xuống, Nhân cố kéo cần lái để bình phi. Hệ thống thủy điều đã bị phá vở nên cần lái trở nên nặng nề và rất khó điều khiển. Sau khi bình phi được rồi, con tàu lại đâm đầu xuống.

            Mọi người trên tàu nhốn nháo, ai nấy đều ở trong trạng thái kinh hoàng.

            Một thoáng suy nghĩ qua nhanh, Nhân cố gắng đưa con tàu áp vào núi, bề mặt vòng cánh quạt song song với độ dốc của núi. Con tàu cứ thế lao tới, và trước mặt là một thân cây to cao.

            Hai cánh quạt chính chặt vào cây, cánh quạt trước đã nổ tan tành, thân tàu đã xen vào thân cây. Càng đáp bên trái vừa chạm đất, thân tàu bên ghế phải của Phương gác tựa vào thân cây, đồng thời là tiếng hú của máy thật lớn!...


            Hình minh họa

            Sáu anh Lôi Hổ vội vàng nhảy ra khỏi tàu, kéo cả Ðại (Cơ phi) và Tài (Xạ thủ) theo họ. Phương vẫn ngồi gục đầu trên ghế bay, Nhân tiếp tục lo tắt máy để hy vọng tắt đi tiếng ồn.

            Chàng tắt nút xăng và mọi nút khác bật vào vị trí OFF, nhưng tiếng máy vẫn hú vang cả một vùng rừng, nghe ghê rợn như một con thú bị cắt tiết.

            Nhân nhìn qua Phương một lần nữa, rồi chàng tháo nịt an toàn bước ra phiá sau, kéo theo cái túi bay. Từ phiá đằng sau ghế ngồi của Phương, chàng chồm lên phía trước Phương, cố gắng tháo dây nịt an toàn cho người bạn của mình. Nhân dùng hai tay xốc nách Phương và rán hết sức để kéo Phương ra, sau mấy lần cố gắng, nhưng không làm sao nhấc Phương ra khỏi chiếc ghế bay được.

            Nhân nhìn quanh để tìm người giúp, nhưng chung quanh chỉ còn lại mỗi mình chàng. Hai người cơ phi và xạ thủ cũng đã vội vàng đi theo các anh Lôi Hổ. Nhân đành bó tay, và có ý nghĩ rằng chính Phương đã không muốn chàng liên lụy trong hoàn cảnh gian nguy này.

            Nhân nhìn lại Phương lần cuối, rồi quyết định lui bước ra phiá cửa sau để ra khỏi tàu!...

            Khi đã ra khỏi tàu, Nhân quan sát kỹ tình trạng của con tàu, chiếc cánh quạt đuôi vẫn còn đang quay tít. Một cành cây đã đập vào phần sau máy cạnh ống khói, có lẽ đó là lý do tại sao tàu không tắt máy được. Nhìn ra bờ rừng thì cây cối dày đặc, tầm nhìn không quá 10 mét. Nhân lần bước tiến lên tìm một lối đi, chợt chàng nhìn thấy một cây súng cá nhân AR-15 không có đạn. Ai đó đã bỏ lại trên lối đi, Nhân cũng không màng lượm lên. Ði được một khoảng thời gian, cái túi bay trên tay chàng trở nên nặng nề, vì trong túi bay Nhân đã để dây nịt, dao, cây súng cá nhân P-38, cùng nón bay.

            Ðể khỏi vướng bận chàng chỉ lấy ra chiếc radio rồi dấu chiếc túi bên lối đi, như trút đi một gánh nặng. Nhân tiếp tục bước lên dốc núi, với đầu trần và chiếc áo bay Nomex hai mảnh trên người. Càng lúc chàng càng bước xa dần tiếng máy hú bên dưới triền dốc. Nhân cố chen qua đám rừng già, leo lên dốc được một khoảng khá xa. Tiếng hú vẫn còn ở bên dưới chân núi vọng lên.

            Chàng len lỏi tiến bước, bỗng thấy trước mặt một khoảng trống thật rộng. Nhân nhận ra một thân cây mục ở giữa trảng, chàng nhớ lại đây chính là bãi đáp mà trước đó hơn 20 phút Nhân đã bốc toán Lôi Hổ. Nhận ra vị trí này, Nhân vội nép mình sau một bụi trúc tương đối rậm, và nhìn ra khoảng trống quan sát. Trên vòm trời có tiếng của chiếc U-17 đang bay trên một độ cao. Chàng chợt nhớ tới cái radio trong túi quần, Nhân lôi nó ra và mở máy liên lạc.

            -Mayday, Mayday, Mayday, Lạc-long 389 gọi Thiên-Sứ (danh hiệu của chiếc U-17 trên vòm trời) - Nếu bạn nghe được tiếng của tôi, xin lắc cánh. ...

            Nhân lập lại một lần nữa, thì thấy chiếc U-17 lắc cánh. Chàng cởi chiếc áo bay, để cởi chiếc áo lót màu trắng có loang vết máu của Phương văng vào người chàng, lúc Phương bị trúng đạn. Nhân vội mặc lại áo bay, vừa kéo chiếc áo lót trải trên một khoảng trống để cho chiếc U-17 định ra vị trí của chàng trên bãi vừa đáp.

            Chiếc U-17 xuống thấp và nhận ra vị trí của chàng. Nhân bắt đầu báo cáo tình trạng của chàng dưới đất:

            -Phương đã chết trên ghế lái, và xác còn ở lại trên tàu - Sáu anh Lôi Hổ đã dẫn theo Ðại và Tài, còn chỉ một mình tôi đang nằm cạnh bãi đáp. Khi chàng vừa nói tới đây thì thấy bên kia bờ rừng có bóng bốn người bước ra, Nhân vội thâu lại chiếc áo lót vào ngực, vặn nhỏ máy vô tuyến và gọi chiếc U-17:

            -Thiên Sứ, yêu cầu bạn rời khỏi vùng để giữ an ninh cho tôi và các người bên dưới.

            Gọi xong Nhân tắt máy, chiếc U-17 nghe điều này, vội vã rời khỏi vùng. Bốn người lạ từ bên kia bờ rừng đang tiến dần ra giữa trảng. Họ chia nhau ngồi trên khúc cây khô, rồi bắt đầu trò chuyện và chờ đợi. Nhân quan sát từng người trong bọn họ, chàng thấy người nào đầu tóc cũng được húi cao như mái tóc của lính tại Bộ Tư Lệnh, cùng với áo vàng quần xanh vải kaki Nam Ðịnh. Trên tay họ đang cầm súng cá nhân AR-15 loại ngắn nòng, dành cho những người lính Lôi Hổ. Nhân tự nhủ:

            " Ðám này chính là những người lính Bắc Việt!... " Chàng vội nằm sát xuống đất không động đậy, mắt vẫn theo dõi những bóng người giữa bãi đáp. Không còn nghe tiếng máy bay ở trên trời nữa, bốn người lạ này vẫn ngồi chờ một hồi lâu. Bỗng dưng hai người trong bọn họ đứng dậy, và đi ngược dốc tiến về bờ cây để lùng tìm. Hai người này vừa đi vừa chĩa mũi súng vào các bụi cây, họ đi cặp theo bià của trảng, và dần đi về hướng bụi trúc nơi Nhân đang núp.

            Tiếng hú của chiếc máy bay bên dưới đồi vẫn còn vọng lên, nghe thật ghê rợn. Hai người lạ này, càng lúc càng tiến tới gần nơi Nhân ẩn núp. Trong tay của Nhân chỉ có chiếc radio cấp cứu!... Chàng không có vũ khí để tự vệ, thì làm sao để đối phó đây? ... Những ý tưởng vút nhanh trong đầu Nhân:

            " Chắc là không còn hy vọng gặp lại gia đình nữa rồi!... Hoặc là bị bắn hay bị bắt như số phận của hai toán lính Lôi Hổ kia!... Có ai ngờ rằng chàng nằm lại nơi bìa rừng này!... Chắc là Mẹ chàng sẽ không còn nước mắt khi nghe hung tin này, ..." Nhân vẫn không quên mỗi lần về phép, Mẹ chàng thường ngồi tựa cửa sổ nhìn ra sân, như chờ đợi bóng dáng đứa con đầu lòng của Mẹ. Ðôi mắt mẹ chàng nhạt nhoà lệ, đã khóc oà lên khi nhìn thấy chàng từ đầu ngõ.

            Hai người lính Bắc Việt càng lúc càng tiến gần đến chỗ chàng nằm. Phiá bên kia bụi trúc có tiếng bước chân sột soạt, mỗi lúc một gần. Nhân như điếng cả người, thân thể chàng như dí xuống sát mặt đất, mắt vẫn không rời hai bóng người đang tiến lại gần. Chàng cúi sát mặt xuống nghe ngóng và chờ đợi, bỗng có tiếng từ giữa trảng vọng lên:

            -Các đồng chí chờ chúng tôi.

            Hai tên lính Bắc Việt quay trở lại trảng phía dưới đồi, để nhập cùng với đồng bọn. Nhân từ từ thở nhẹ, mắt vẫn không rời bốn bóng người đang vội vã hướng về con dốc phía dưới, nơi chiếc UH-1 đang hú lên vì mất đi đôi cánh. Bọn họ không ngờ rằng, vẫn còn có một người đang quan sát họ từng giây, từng phút.

            ***

            Chờ cho bốn người kia đi đã khá xa, chàng đứng dậy và đi ngược lên về phía bên kia đồi. Chàng cảm thấy khát nước, nên với tay kéo các đọt trúc, cắn vào phần non, trắng, của lá tre, nhắp từng giọt nước hiếm hoi trong các đọt tre non này. Một lúc sau, chàng nhắm hướng Ðông-Nam (hướng Kontum) tiếp tục đi. Thuở nhỏ Nhân đã học được từ kinh nghiệm Hướng Ðạo, “dùng vết rêu trên thân cây để định hướng” bây giờ là lúc chàng áp dụng bài học mưu sinh thoát hiểm đường rừng.

            Nhân nhớ lại ngày nào tại vùng rừng Savannah bên Mỹ, chàng đã cùng đám bạn học khoá mưu sinh thoát hiểm đường rừng. Kết thúc cuộc thực tập mưu sinh thoát hiểm, mọi người cùng được ăn món cháo rắn do mấy anh Cán bộ đãi, sau một ngày tập dợt mệt nhọc. Rừng ngày đó thưa thớt, tầm mắt có thể thấy xa 50 mét, còn rừng Trường-Sơn thì dày đặc, 10 mét đã không còn thấy lối đi!...

            Nhân mò mẫm qua đến được ngọn đồi thứ hai, bỗng chàng nghe nhiều tiếng lựu đạn nổ về phía con tàu. Chàng chẳng biết chuyện gì đang xảy ra cho số phận của Phương?... Nhân lại tiếp tục lội trong đám rừng già. Có những khoảng rừng mây gai góc, Nhân phải tiến bước bằng cách đưa lưng ra phiá trước chịu đựng, để xông qua đám rừng mây phủ khắp lối đi này. Những cây gai hồng trong rừng móc vào mảnh vải Nomex chàng mặc trên người, nhưng chiếc áo bay vẫn dai dẳng chịu đựng như ý chí kiên trì của chàng.

            Nhân vừa vượt qua khỏi khu rừng mây, thì thấy ngay trước mặt một bờ rừng thật trống toàn những thân tre. Chàng thấy quá trống trải nếu phải băng qua khu rừng tre này. Nghĩ vậy, Nhân tiếp tục bước cặp theo bờ rừng viền bên ngoài. Bên dưới những gốc tre, không một loại cây con nào có thể mọc, lá tre rụng trắng cả một bìa rừng. trong lúc đang tiến bước Nhân chợt nhận ra một cửa hầm cũ; phủ cây lá um tùm, chàng rụt rè bước qua cửa hầm.

            ***

            Nhân chợt nghe đâu đó có tiếng suối nước chảy. Càng tiến lại gần, chàng nhận thấy những dấu đất đen, dấu vết của một sinh vật nào đó đã chuồi trên các lá tre khô trắng, để lộ ra các lớp đất đen bên dưới. Nhân tiến lên thận trọng hơn, mon men theo những dấu vết này, chàng còn nhận ra có một dấu vết, dường như ai vừa chôn một cái gì đó cạnh bên lối đi, không được khoả lấp kỹ lưỡng. Càng tiến bước, chàng càng nhận ra có nhiều dấu chân ngay hướng trước mặt mình. Bất chợt, chàng nghe có tiếng sạt sạt phía trước, Nhân vội cúi thấp người xuống vừa ẩn núp vừa quan sát. Chàng nhận thấy có nhiều bóng người thấp thoáng phiá trước.
            Chàng đếm được tất cả là 7 người, và quan sát những người này từ đầu đến chân. Tất cả bọn họ đầu để tóc dài, và thắt một miếng vải xanh kaki, trên lưng có mang túi ba-lô và nhiều bình biđông nước. Nhìn xuống đất, chàng nhận ra các dấu giày của lính Cộng Hoà, Nhân quyết định nằm rạp xuống, và gọi vọng lên phiá trước:

            -Các anh Lôi Hổ ơi, ... Trung Úy Nhân đây, chờ tôi đi với....

            Nhân nghe một loạt tiếng đạn lên nòng, những bóng người phía trước chàng đều ngồi xuống trong tư thế sẵn sàng tác xạ, mũi súng hướng về phiá chàng, quơ qua, quơ lại. Nếu họ thấy bất cứ một di động nào, là họ sẽ nổ súng ngay. Nhân nằm sát đất, không động đậy, chờ một giây lát, rồi chàng lại lên tiếng gọi một lần nữa:

            -Các anh Lôi Hổ. ... Trung Úy Nhân đây, ... chờ tôi đi với.

            Trong rừng tiếng bị dội cho nên họ không định hướng được nơi xuất phát của âm thanh. Hai người đi sau cùng của toán là Ðại và Tài nhận ra tiếng của Nhân, nên Ðại đã la lên:

            -Trung Úy Nhân đây rồi, ... Ðừng bắn, đừng bắn...

            Lúc ấy Ðại đứng hẳn dậy, trong khi các người khác vẫn ghìm súng hướng về phiá tiếng vọng với tư thế sẵn sàng bóp cò nếu có gì nguy hiểm.

            Nhân cất tiếng gọi lần thứ ba, rồi từ từ đứng lên. Ðại và Tài nhận ra Nhân, hai người ùa lại phía chàng và la lên:

            -Ðừng bắn, đừng bắn...

            Mọi người hú vía, vì trong rừng già, bất cứ một vật gì nghi ngờ lay động, vật này cũng có thể là mục tiêu để mọi người bóp cò. Ðại và Tài còn đeo cây Colt-45 của họ, còn Nhân thì đã để cây súng P-38 của mình trong tuí bay, cái tuí bay này đã nằm lại bên một bìa rừng!....

            Trưởng toán Lôi Hổ là một Chuẩn Úy mới ra trường, anh Liêm xuất thân từ trường Sỹ Quan Trừ Bị Thủ Ðức. Gặp Nhân mọi người rất mừng, và tỏ bày ân hận là suýt nữa đã bóp cò. Người Chuẩn Úy trưởng toán còn cho biết đây là chuyến nhảy toán thứ ba của anh từ ngày ra đơn vị, anh lo lắng hỏi Nhân:

            -Liệu có ai đến bốc mình không Trung Úy?

            Nhân nhìn đồng hồ, đã 5:30 giờ chiều rồi, chàng nói:

            -Các anh yên tâm. Ở nhà sẽ tìm cách bốc chúng ta ngay chiều nay.

            Nhân nói như một phản ứng tự nhiên, và chàng chẳng biết sự thực sẽ được như vậy hay không?

            Người trưởng toán thám sát đưa cho chàng bình bi-đông nước và dặn dò:

            -Trung Úy uống từng ngụm nhỏ, và từ từ thôi, nếu không ông sẽ bị ngất xỉu đó. Chàng nhận bình bi-đông nước và làm theo lời của người trưởng toán, chợt Nhân nhớ ra các tiếng nổ lựu đạn, lúc nãy chàng nghe khi còn ở trong rừng, chàng hỏi:

            -Sau lúc tàu rớt khoảng 1 tiếng, tôi nghe nhiều tiếng lựu đạn nổ về phía con tàu đang hú. Các anh có nghe thấy các tiếng nổ này không? Người trưởng toán kể lại:

            -Ðó là tiếng lựu đạn do tụi em ném. Chúng em được lệnh phải trở lại tàu để tìm bốc Trung Úy, nhưng khi tiến gần tới con tàu, tụi em thấy có bóng bốn người đang đứng cạnh tàu, nên đã tung cả chục trái lựu đạn mini, bởi vậy Trung Úy mới bắt kịp tụi em, chứ không tụi em đã rút ra xa rồi. Nhân buột miệng:

            -Thì ra là thế!...

            Mọi người tiếp tục di chuyển băng qua một ngọn đồi đầy những giây leo chằng chịt. Cả bọn cũng khá vất vả, và đang dần đi xuống dốc để đi qua một ngọn đồi khác. Chợt mọi người thấy có một con đường mòn trước mặt. Tất cả tìm cách băng qua con đường mòn này, các anh trong toán thám sát chuẩn bị theo lệnh của người trưởng toán, Nhân, Tài và Ðại cùng bám sát theo người Chuẩn Úy trẻ tuổi này. Anh Trung Sĩ nằm núp gần con lộ nhất, từ chỗ núp anh chọi một hòn đá ra giữa đường và chờ đợi.

            Mọi người đều im thin thít. Nhân quan sát con lộ, đây là một con đường đất đỏ, do xe Công Binh đã xén núi mở đường, bề ngang con lộ đủ để hai chiếc xe cam-nhông có thể chạy ngược chiều nhau. Một bên bờ vách đất đỏ cao nghệu, còn bên kia là vực núi. Sau vài lần chọi đá dò dẩm mà không thấy một động tĩnh, cả toán bắt đầu rời chỗ núp, cùng leo lên con đường đất đỏ.

            Tài và Ðại đi theo người thứ ba và thứ tư leo lên đường, Nhân đi theo người trưởng toán cùng người cận vệ. Anh trưởng toán cùng với Nhân leo lên bờ tường đất trước mặt, hai ngón tay Nhân còn đeo lủng lẳng cái bình bi-đông nước, chàng cố gắng bám vào các rễ cây để leo lên. Leo được 2/3 bức tường đất, Nhân làm tuột mất bình bi-đông nước;!... Chiếc bi đông lăn ra ở giữa lộ, phía sau lưng chàng không còn ai bên dưới cả. Nhân nhìn qua anh trưởng toán, anh ra dấu, đừng bận tâm nữa, Nhân gật đầu hiểu ý và tiếp tục leo lên theo người trưởng toán và anh cận vệ của anh.

            Vượt khỏi bờ tường đất xong cả đoàn lại nhắm hướng Ðông-Nam tiến bước. Chưa đầy 10 phút sau cả bọn phải dừng lại vì cơn mưa lớn đang kéo tới. Mọi người chia nhau ngồi dưới các gốc cây để trú mưa, anh trưởng toán cùng ngồi chung với Nhân dưới một gốc cây to. Cơn mưa trút nước xối xả, cả bọn ngồi co quắp lại cho đỡ ướt và đỡ lạnh. Nhân nhìn những giọt nước mưa chảy dài trên các lá cây trước mặt, chàng nghĩ bâng quơ về các chuyện vừa xảy ra trước đó.

            Người Chuẩn Úy trưởng toán ngắt điếu thuốc Captain làm hai, trao cho Nhân một nửa và cùng châm lửa hút. Chàng rít một hơi thật dài, như thêm hơi ấm, để chống lại cái rét mướt của núi rừng. Tinh thần chàng cảm thấy sảng khoái, một thứ thú vị mà chàng không thể nào quên. Cơn mưa vẫn dai dẳng trút nước, Nhân co ro tìm hơi ấm qua nửa điếu thuốc được chia sẻ của người bạn đồng hành.

            Bỗng dưng có tiếng xe đang chạy bên dưới, người trưởng toán ra dấu hiệu cho cả bọn ngồi im, và cố nép sát vào gốc cây để tìm sự che chắn. Bên dưới có một đoàn xe đang chạy, đoàn xe này bỗng dưng dừng lại. Nhân nghe có tiếng súng AK lên đạn, và tiếng người quát lên vọng về phía bức tường đất nơi còn để lại các vết giày và chiếc bi-đông lăn ra giữa lộ. Bọn chàng ngồi co rút bên các gốc cây và không rời chỗ núp. Có tiếng AK nổ lên hằng loạt trong cơn mưa vẫn nặng hạt.
            Ðiếu thuốc đã tàn từ lúc nào trên tay chàng, Nhân ngồi cạnh người trưởng toán, chàng tin tưởng về sự đối phó của toán người trẻ này. Nhân chỉ biết sơ qua trong thời gian thụ huấn quân sự ở trường, và chưa bao giờ đụng trận để có những kinh nghiệm như các bạn trẻ này.

            Khi đi rừng họ rất giữ kỷ luật, và rất rành rẽ về bổn phận của mình. Tài và Ðại cũng bám sát theo các bạn đồng hành đầy kinh nghiệm này, trong tay thủ sẳn cây Colt-45 của mình. Mười phút sau có tiếng máy xe rú ga hằng loạt súng bắn lên. Rồi đoàn xe lại tiếp tục lăn bánh, may cho bọn Nhân là bọn chúng không leo lên, lần theo dấu vết để lục soát và truy lùng. Anh trưởng toán ra dấu cho cả bọn tiếp tục hành trình trong cơn mưa chiều, nhờ cơn mưa và rừng rậm nên sự di chuyển có phần an toàn hơn. Người trưởng toán đưa chiếc radio cấp cứu của anh cho Nhân và nhờ gọi máy bay, chàng vừa bật nút công tắc lên đã nghe tiếng:

            - .....Yêu cầu các bạn lên tiếng nếu không chúng tôi sẽ quay về.

            Nhân vội đáp lời:

            -Mayday, Mayday, Mayday, Lạc Long 389 nghe bạn rõ.

            Mọi người ai nấy mừng rỡ, anh Chuẩn Úy lo lắng hỏi Nhân:

            -Liệu họ có bốc mình ngay chiều nay không Trung Úy?...

            Chàng gật đầu đáp:

            -Hy vọng có chúng tôi ở đây, họ sẽ cố gắng bốc ngay chiều nay.

            Chiếc máy bay L-19 đã nghe được tín hiệu của chàng, nên hỏi tiếp:

            -Các bạn có thấy chiếc tàu bay nào trên không phận không? Nhân đáp lại:

            -Chúng tôi đang ở bên duới, phiá cánh bên phải của anh.Nhân kêu mọi người:

            -Mọi người trải các tấm panô vải màu cam lên trên các tàng cây để đánh dấu vị trí của mình. Xong Nhân gọi:

            -Bạn có thấy những tấm vải panô màu cam chúng tôi đánh dấu không?

            -OK... Chúng tôi đã nhận ra vị trí của bạn.

            Chiếc L-19 reo lên trong chiếc radio tìm cứu, Nhân nói tiếp :

            -Các bạn trên L-19 cho biết chỉ thị đi!...

            Nhìn con tàu như cánh chuồn chuồn trên vòm trời chiều ảm đạm dưới cơn mưa, Nhân xót xa thương cảm cho những người bạn đang xả thân đi vào vùng binh lửa, để cứu vớt bạn đồng đội mình.

            -Lạc Long, yêu cầu các bạn tiến về hướng Tây 50 mét, xong rẽ phải và chờ chỉ thị kế tiếp.Nhân thấy trời sắp tối rồi, nên vội đáp :

            -Lạc Long nghe năm. Nhưng tôi yêu cầu bạn bay thấp, và định hướng cho chúng tôi di chuyển thì nhanh hơn. Bạn nghe rõ trả lời?... Sau vài phút chờ đợi, chiếc L-19 bay thấp qua đầu Nhân để chỉ hướng ra bãi bốc. Mọi người cùng chạy vội theo hướng chỉ dẫn này. Bãi bốc là một vùng đất khá rộng, chung quanh còn thấy các hố bom. Nhân và mọi người lựa một chỗ khá trống trải để làm bãi đáp.

            -Lạc Long, bạn cho thả trái khói để trực thăng đến bốc các bạn

            -Lạc Long, nghe năm trên năm.

            Người trưởng toán Lôi hổ nghe theo liền tung ra trái khói đỏ, rồi một người nữa tung thêm một trái khói đỏ khi nghe tiếng trực thăng tiến lại gần.

            -L-19, chúng tôi đã đánh dấu khói đỏ tại bãi đáp.

            -Lạc Long, trực thăng đã thấy bãi đáp. Chúc các bạn An Lành trở về.

            -L-19, cám ơn sự giúp đỡ của bạn.

            Nhân quay lại nhìn những người đồng hành với mình, Ðại và Tài bám sát kế bên, trong khi đó toán Lôi Hổ canh gác bãi đáp. Nhân nhìn đồng hồ đã 7 giờ 50 tối, chỉ cần 10 phút nữa là trời sẽ tối hẳn, sẽ không còn sự an toàn để việc thực hiện việc tìm cứu như thế này. Nhân e ngại nhìn chiếc trực thăng đang tiến vào bãi đáp chật hẹp, bên dưới nhiều cây con lô nhô chĩa ngang chĩa dọc. Chiếc trực thăng tìm cứu từ từ hạ xuống, nhưng vẫn giữ ở vị thế hovering, để cả chín người cùng leo lên: Nhân, Tài, Ðại và sáu anh lính Lôi Hổ sau cùng đã lên tàu. Các anh em cơ-phi và xạ thủ trên tàu clear chung quanh để tàu cất cánh, và họ cũng không quên bắn hằng loạt đạn M60 vào bìa rừng, để uy hiếp.

            Nhân nhìn qua ghế lái thấy Trung Úy Nguyễn Ðình Minh, trưởng phi cơ và Lâm Minh Tuấn hoa tiêu phó. Khi tàu lấy được cao độ an toàn, Minh báo cáo trên vô tuyến xong rồi trao cần lái cho Tuấn. Minh nhìn mọi người tươi nụ cười hiền hòa. Minh quay ra sau bắt tay Nhân và Chuẩn Úy Liêm trưởng toán Lôi Hổ đang đứng sau lưng ghế lái. Tàu đổi hướng đi thẳng về Pleiku thay vì về đáp tại Kontum.

            ***

            Miêng mang trong những kỷ niệm, Nhân quên cả thực tại, thời gian và không gian, quên cả sự hiện hữu của các hành khách trên chuyến C47 chiều nay. Bên cạnh anh cô Hoá vẫn thăm dò những cử chỉ và chờ đợi, rồi nàng cất tiếng:

            - Anh đang miêng mang chuyện gì mà nét mặêt buồn vậy?...Nhân như được đánh thức trở lại với thực tại, và đáp lời cô gái:

            - Tôi đã nghĩ về sự mất mát trong chiến tranh, và những chia cách của những người tình của “Lính”, và gia-đình của họ qua một phi vụ hai tuần trước đây.

            - Anh kể lại cho Hoá nghe với.

            Chàng gật đầu như thoả thuận. Chàng hứa hẹn với Hoá là sẽ kể trong những ngày ghé Huế, về những kỷ niệm trong phi vụ ấy, một chuyến bay với bao hiểm nguy, đã mất đi một người bạn - một chiến hữu và một con tàu. Chiếc C47 bắt đầu giảm tốc độ và chuẩn bị để đáp, con tàu sau khi lượn một vòng qua thành phố đã hạ cánh đáp nhẹ nhàng trên phi đạo, và đang tiến qua taxiway để vào đậu cạnh khu hàng hoá của trạm Hàng Không Quân Sự Ðà Nẵng. Hành khách theo nhau xuống tàu, Nhân chợt thấy một chiếc xe pickup màu xanh Không Quân chạy ra, chàng nhận ra Trung Úy Kim, một người bạn cùng khoá 7/68 Không Quân, anh cho xe chạy gần lại. Nhân nói nhỏ với Hoá:

            - Hoá chờ một chút, để tôi nhờ anh Kim đưa chúng mình ra phố. Nàng gật đầu, và cố nán lại gần bên chàng thay vì đi theo những hành khách để đi vào trong.

            Kim thấy Nhân cùng cô gái nên reo lên chào hỏi:

            - Anh Nhân khoá 7/68 KQ đó phải không? Nhân trả lời:

            - Nhân đây, Anh khoẻ không?

            Kim gật đầu và nói:

            - Anh chị đứng đây chờ tôi một chút nghe, để tôi ghé qua nói với phi hành đoàn, đểø cho hành khách lên, và họ sẻ bay trở về lại Sài Gòn ngay.

            Nhân ghé qua Hoá nói:

            - Anh Kim là bạn cùng nhập ngũ vào Không Quân, và hiện là trưởng trạm Hàng Không Quân Sự của phi trường Ðà Nẵng.

            Nàng cúi đầu chào:

            - Hoá chào anh Kim.

            Kim chào và tiến về phiá phi hành đoàn vừa xuống tàu. Nhân hỏi thăm nàng:

            - Chiều nay em về đâu?

            Hoá trả lời:

            - Em định ghé lại nhà người bà con ở đường Phan Thanh Giản, và sáng mai em đón xe ra Huế, còn anh?... Chàng trả lời:

            - Tôi đi thăm mấy người bạn, và hẹn gặp lại Hoá tại Huế.Hoá viết điạ chỉ của gia-đình ở Huế trên tấm giấy nhỏ và đưa cho chàng:

            - Ðây là điạ chỉ của em ở Huế, khi anh ra Huế mời anh ghé thăm.Chàng nhận mảnh giấy nhét vào túi áo bay và nói:

            - Ngày mốt anh (bổng dưng chàng đổi cách xưng hô) ghé lại được không?

            Nàng trả lời:

            - Dạ được, em sẽ chờ anh...Chàng hứa hẹn:

            - Anh sẽ đưa em đi thăm vùng Kim-Long, Thiên-Mụ và ghé quán bánh bèo bên dưới chân đồi Thiên-Mụ.Nàng cũng không quên nhắc chàng:

            - Và nhớ kể lại chuyến phi vụ làm anh buồn nữa nghe, em chờ anh đó.Nhân gật đầu và đưa tay ra – như lối bắt tay của lính – Hoá cũng đưa tay ra bắt và họ ngầm như có một thoả ước. Nhân thấy xe của Kim tiến lại gần chào nói:

            - Nhân và chị lên xe, tôi đưa ra phố...

            Nhân và Hoá gật đầu cảm ơn, và ngồi vào băng ghế phía trước với Kim, xong chàng lên tiếng hỏi Kim:

            - Anh ở lại làm việc trể quá vậy!

            Kim đáp lại:

            - Anh chị biết không, giờ giấc của chúng tôi bất thường lắm, chúng tôi tùy thuộc vào phương tiện theo các chuyến bay ghé đáp và rời Ðà Nẵng, để xếp đặt di chuyễn hàng hóa, quân nhân và gia-đình.Kim nói tiếp:

            - Tôi đã liên lạc máy và cho hành khách ra tàu rồi. Nhân thấy một xe buýt chở hành khách tiến về chiếc C47. Kim nán chờ cho đến khi các hành khách lên tàu xong, chiếc C47 đóng cửa và mở máy cất cánh lúc ấy Kim mới cho xe chạy, chàng quay qua:

            - Xin lổi Nhân và chị nghe, tôi đã bắt hai người phải chờ, anh chàng cũng dí dỏm:

            - Lâu quá hôm nay mới được làm tài xế cho ông bạn phi-công và chị đây!...Nhân xoay qua:

            - Anh xong việc chưa? Nếu xong chúng ta ghé ra phố chơi được không anh Kim?...Kim trả lời:

            - Tôi sẽ đưa anh chị đi!...

            Hoá xen vào:

            - Xin anh cho Hoá xuống đường Phan Thanh Giản, để hai anh chuyện trò lâu ngày gặp lại!...Nhân cũng phụ hoạ vào:

            - Anh Kim, chắc Hoá cũng mệt với chuyến bay vưà rồi, anh chiều theo ý của cô, sau đó chúng ta đi phố.

            Kim Tiếp:

            - Tiếc quá, mấy khi gặp được Nhân và chị đây!...

            Nhân tiếp lời cho Hoá:

            - Không sao, còn nhiều dịp mà - phải không Hoá?...Kim cho xe rẽ qua đường Phan Thanh Giản, Hoá chỉ một căn phố gần ngã tư, Kim hiểu ý và tấp vào lề; dừng lại trước căn phố. Nàng cất tiếng:

            - Hoá chào tạm biệt; hai anh đi chơi vui nghe, Hoá chào anh Kim...

            Nhân vói tay qua mở cửa xe, Nàng và Nhân bước xuống. Nàng quay qua Nhân:

            - Ngày mốt em chờ anh tại nhà mẹ em ở Huế, anh nhớ nghe?...

            Nhân gật đầu, đưa tay ra bắt, cô nàng cũng đưa tay ra bắt và siết nhẹ với đôi mắt long lanh, và nụ cười hiền hoà. Chờ cho cô gái khuất vào trong nhà xong, Nhân lên xe, Kim cho xe chạy ra bến Bạch Ðằng và đậu bên một quán cặp bờ nước. Hôm ấy cả hai đã có dịp chuyện trò về những buồn vui của đời lính, về thân phận của mình trong từng vị trí hiện hữu, Kim cũng kể lại những cảm nghĩ vui buồn, và nhất là những mất mát mà anh đã chứng kiến trong những trận pháo kích vào phi trường vào đơn vị của anh. Hôm nay gặp lại bạn cũ họ đã vui tạm qua một chầu rượu, đễ rồi sau đó ai nấy trở lại với thực tại, với bổn phận và trách nhiệm của mình.

            ***

            Trong hơi men Nhân nhìn ra bờ nước nơi những ánh đèn chập chờn, chàng lại đắm vào những miêng mang của phi vụ hiểm nguy trước đây, nhìn qua bóng đêm nơi xa kia là dảy Trường Sơn, phiá xa xa thành phố nhà nhà đã lên đèn. Trên trời cao những vì sao đã lấp lánh, bên dưới là dãy Trường Sơn, với những bờ rừng âm u đang chìm khuất trong bóng đêm đen như mực.

            Nhân vẫn không tưởng tượng được phi vụ hiểm nguy ấy là có thật. Trung Úy Phan Văn Phương đã vĩnh viễn nằm lại dưới cánh rừng âm u kia. Ở Sàigòn, vào lúc này, vẫn còn một cô giáo đang chờ đợi Phương trở về, với lời ước hẹn sẽ cùng xây tổ ấm nơi phố thị vào dịp hoán chuyển cuối năm. Giờ đây người Không quân tác chiến này không bao giờ thực hiện được lời ước hẹn này với cô!...

            Chiến tranh và số mệnh đã lấy đi tất cả những ước hẹn của Phương và một cô giáo đang mong chờ Phương. Chiến tranh cũng đang thản nhiên lấy đi một người bạn hiền của Nhân, và đang đổ sự tang tóc oan nghiệt đến gia đình Phan Văn Phương!.... Trung uý Phan Văn Phương bình thản, xuôi tay trong con tàu của mình, sau một phi vụ không hề biết trước được lúc kết thúc. Phan Văn Phương để lại sinh mạng của mình ở chiến trường Tây Nguyên, như bao anh hùng của thời đại, Nguyễn Ðình Bảo, Nguyễn văn Ðương, và nhiều người khác nữa ...

            Những anh hùng không tiếc một điều gì cho đất nước, cho dân tộc, cho những chiến tích muôn đời nơi vùng biên giới này. Nguyện cầu cho Phan Văn Phương sẽ hoá thành một loài chim trên vòm trời xanh thật an bình. Nơi vùng trời này sẽ không còn hận thù, không còn những nổi niềm đau xót về đất nước, về thân phận con người, về số phận quá mong manh trước chiến tranh và bom đạn điêu linh.

            Phan Minh

            https://www.facebook.com/photo.php?f...type=3&theater

            Comment


            • Chuyến Bay Cuối Cùng Phi Đoàn A-37

              Chuyến Bay Cuối Cùng Phi Đoàn A-37
              Thiên Lôi 524


              Hình minh họa

              Tám giờ tối 28 tháng tư 1975, sau bữa cơm chiều vội vã ở một câu lạc bộ gần khu gia binh TSN, tôi trở về ụ đậu phi cơ đầu phi đạo 07 phải nơi tạm trú ba phi đoàn 524, 534, 548 di tản về từ căn cứ Phan Rang, bước xuống xe tôi thấy các nhân viên phi đạo đang bận rộn kéo các A37 trang bị đầy bom đạn từ trong vòm trú ẩn ra đậu hàng ngang dài phía trước cách ụ năm chục bộ Anh (50 Feet). Tôi bước đến hỏi Trưởng phi đạo tại sao dời phi cơ ra khỏi ụ? Anh ta trả lời theo lệnh Trung tá Kỹ thuật và Bộ Chỉ Huy Hành Quân. Tôi vào phòng trong ụ, nhắc điện thoại gọi Trung tâm hành quân, thì sĩ quan trực cho biết hình như lệnh của Bộ Tư Lệnh KQ hay Bộ Tổng Tham Mưu gì đó, tôi phát cáu, giũa anh một câu: Anh là Sĩ quan trực mà không biết lệnh lạc rõ ràng là như thế nào ? Anh có biết hồi chiều phi đạo 07 bị dội bom không ? Anh ta cầu hòa trả tời: Thưa thiếu tá, em thấy cũng vô lý thật, nhưng lệnh trên đưa xuống, em phải thi hành, nếu Thiếu tá muốn bìết rõ thì hỏi Đại tá Ước. Tôi cúp phôn rồi bấm số Đại tá Ước nhưng không có ở phòng giấy.

              Tôi ra lại bãi đậu, nói với Trưởng phi đạo di chuyển phi cơ trở lại vòm trú ẩn, nhưng anh nói: Thiếu tá nói với xếp em, em mới thi hành được. Tôi gọi điện thoại cũng không ai trả lời. Đang đứng phân vân suy nghĩ, làm cách nào để liên lạc được môt vị có thẩm quyền hỏi cho ra lẽ lệnh của ai để yêu cầu di chuyển phi cơ về vị trí cũ. Sơn "húc" tiếc nuối vừa nói vừa chỉ tay bên kia hàng rào kẽm gai: “Đêm qua Thiếu tá đừng cản em thì đám CS Võ Đông Giang đã ra người thiên cổ rồi, còn đâu mà cho kế hoạch để đám thằng Trung mang A37 từ Phan Rang về bỏ bom TSN hôm nay!”.

              Đêm 27 tháng tư tôi tập họp tất cả hoa tiêu 524 ăn tối ở câu lạc bộ gần trung tâm Truyền Tin điện tử, Sơn lên sân khấu bỏ túi cầm microphone và đề nghị tôi về lấy phi cơ bỏ bom Camp Davis nơi đồn trú các phe quân sự bốn bên, thật ra lúc đó chỉ còn độc nhất một bên là CS Bắc Việt mà thôi. Tôi chạy nhanh lên kéo Sơn xuống vỗ vai nói: “Chuyện đâu còn đó, từ từ rồi tính!”. Sơn vùng vằng kéo tay tôi ra vừa khóc vừa nói: “Không còn thì giờ nữa đâu Anh Tư ơi! Sau này Anh sẽ tiếc!”. Bây giờ đứng nhìn một hàng dài A37 bom đạn xăng nhớt đây đủ im lìm chờ đợi; một ý nghĩ thoáng qua trong đầu tôi hay là nói Sơn vào lấy nón bay đi số hai cùng tôi cất cánh hai A37 lên thanh toán mục tiêu Camp Davis xong dọt đi Utapao.

              Chuyện đánh trúng cái barrack đó tôi tin tưởng Sơn và tôi lượm một cách dễ dàng như những phi vụ bay đêm tự do lượm công voa chở tiếp liệu của Bắc Việt trên đường mòn phía nam Pleime tháng 9 năm 1972. Tuy nhiên ở địa vị Trưởng phòng Hành quân tôi có nên làm không? Những trái bom 250 cân Anh vừa nổ chiều nay trên phi đạo TSN giờ lại nổ cạnh Bộ Tư Lệnh KQ? Sau đó chúng tôi sẽ dọt đi để lại mấy chục anh em phân vân xáo trộn nằm trực trong nhà vòm cuối phi đạo! Chưa kể đến ngàn ngàn chiến hữu và gia đình đang đồn trú trong căn cứ TSN. Tôi gọi Sơn lên xe chạy đi tìm Đại Tá Thảo và Trung Tá Cả. Hết câu lạc bộ Mây Bốn Phương đến các quán cơm trong khu gia binh cũng không thấy các vị đó ở đâu. Tôi đành quay trở lại biệt đội.

              Sơn nhảy nhanh xuống xe chạy vào biệt đội xách hai cái nón bay ra, giục tôi vào xách dù ra phi cơ. Tôi đứng lặng nhìn Sơn lắc đầu vừa nói: “Không thể trút bom xuống Camp Davis được! Hành động này chỉ ăn miếng trả miếng cho hả giận chứ có lợi lộc gì đâu?”. Bước vào phòng hành quân phi đoàn nhìn thấy anh em tụm năm tụm ba rầm rì những biến cố xảy ra mấy ngày qua; nào việc di tản bên DAO, những chuyến C130 bên hậu trạm, đám anh em Đà Nẵng kẹt lại bị thằng Trung ép ngồi ghế trái có phi công Mig ghế mặt canh chừng oanh kích phi đạo TSN chiều nay. Thấy Trung tá Khôi đang đứng nói chuyện với Tuấn cuối góc phòng, tôi xáp lại hỏi: “Trung tá có biết Đại tá Thảo ở đâu không?”.

              Anh trả lời: “Có lẽ Ông đi ăn tối với Cả và Thi chưa về”. Tôi hỏi Khôi: “Anh có biết tại sao tất cả phi cơ kéo ra khỏi ụ không?”. Khôi trả lời, “đâu có biết, chắc phải có lệnh trên, kỹ thuật mới di chuyển”. Nhưng phi cơ trang bị bom đạn, xăng nhớt đầy đủ đậu sát cánh nhau như thế có phần không ổn cho lắm. Sơn mang dù xách nón bay tới: “Sơn đi một mình nghe Anh Tư”. Tôi nực lên quát: “Không thể được Sơn ơi, có lên thì lên tất cả”. Trung tá Khôi nhìn tôi rồi hỏi: “Mục tiêu nào vậy?”. Khôi vừa nói vừa vỗ vai Sơn đừng nóng, hiện tình chưa đủ căng thẳng sao bạn?

              Tôi tự hào trong hàng ngũ phi công khu trục Không Lực Việt Nam Cọng hòa nhất là Không đoàn 92 có PĐ 524, 534, 548; cho đến giờ phút này 22:18 tối 28 tháng tư 1975 tất cả phi công đều có mặt ứng chiến đầy đủ không thiếu một ai. Ngoại trừ Thiếu tá Chấn, Thiếu tá Liễn, Trung tá Thi và Thiếu tá Tứ, bay bốn A37 , hai trang bị bom nổ 500 lbs, hai trang bị CBU, ra căn cứ Phan Rang phá hủy phi đạo và Bộ Chỉ Huy đang chiếm đóng hầu tránh CS có thể kế hoạch lần thứ hai oanh kích TSN.

              Suốt đêm tất cả anh em ba phi đoàn chờ đợi điều động cất cánh nhưng tuyệt nhiên không một tiếng chuông điên thoại reo, không khí oi bức ngột ngạc; mọi người mệt mỏi suốt ngày bao nhiêu xáo trộn xảy ra, nào đưa gia đình di tản ngoài hậu trạm, nào phi cơ đám Nguyễn thành Trung mang từ Đà Nẵng vào Phan Rang lấy nhiên liệu lên bom đạn về oanh kích phi đạo TSN, không cho các phi cơ có đường bay di tản.

              Nửa đêm tôi lả người thiếp đi lúc nào không hay. Đến khi nghe tiếng còi hụ báo động liên hồi. Tôi chụp điện thoại hot line phòng hành quân chiến cuộc được biết có pháo kích; tôi hỏi cần phi tuần khẩn không? Sĩ quan trực trả lời chưa có tọa độ. Rồi chúng tôi nghe tiếng nổ lớn đàng trước ụ bên cạnh. Tiếng hét Trung tá Cả: Tất cả ra sau ụ nhanh lên. Trời tờ mờ sáng, liếc nhìn đồng hồ gần ba giờ sáng 29 tháng tư. Những trái pháo kích đầu nghe từ phía trái lần lượt gần lại và cuối cùng trúng một phi cơ, sau đó tiếng nổ ầm ầm liên tục trong màn lửa ngợp một góc phi trường. Mười mấy năm thả bom đây là lần đầu nghe bom đạn nổ; chát chúa dây chuyền, phi cơ bốc cháy theo. Sơn khiều vai tôi: “Anh Tư thấy chưa, chúng nó điều chỉnh pháo kích từ Camp Davis”.


              Hình minh họa

              Ngồi bịt tai chịu trận đàng sau bức tường dài cao hơn mười thước Anh. Tôi nôn nóng lom khom đến cuối bức tường ló mặt ra nhìn phía trước bãi đậu, một cảnh tượng hoang tàn đang hủy diệt trước mắt, hơn năm chục chiếc A37 đang bốc cháy khói lửa ngút ngàn. Tôi quay trở lại tựa lưng vào tường sắt lạnh, đầu óc chùn lại. Những cánh thép A37 là huyết mạch của ba phi đoàn khu trục Phan Rang. Giờ đây hơn trăm phi công chiến đấu bằng tay không ư? Thế là hết! Cuộc chiến bên ta đã lâm vào ngõ cụt. Hèn gì cả đêm hôm qua không có một phi tuần nào được điều động cả. Trung tá Khôi và Cả hỏi Đại tá Thảo: “Giờ tính sao sư phụ?”. Không đoàn trưởng trả lời: “Đợi sáng hết pháo kích di chuyển anh em về Bộ Tư Lệnh Không Đoàn 33 rồi tính!”. 5 giờ 40 sáng, vẫn còn những trái pháo kích rớt rãi rác khắp phi trường. Chúng tôi vẫn ngồi tựa lưng bức tường sau ụ, hướng về phía bắc. Có mấy chiếc vận tải và U17 cất cánh quẹo trái phía Gò Vấp để lấy hướng tây đi Bình Thủy hay Utapao? Phòng không xịt lên liên tục. Một chiếc AC119 trúng cao xạ gãy làm đôi trước mắt chúng tôi.

              Cảnh tượng thật bàng hoàng, anh em nhìn thấy lắc đầu bùi ngùi cho số phận những người có mặt trên tàu định mệnh đó. Sáu giờ mười lăm, mặt trời ló dạng. Đạn pháo thưa dần. Chiếc pick up và chiếc shuttle bus phòng dù xà tới bên hông phải ụ cuối. Tiếng Đại tá Thảo: “Mọi người lên xe”, nhanh như chớp tất cả chen lên đầy hai chiếc van. Trực chỉ Bộ chỉ huy Không đoàn 33. Đến nơi Đại tá Thảo xuống xe đi vội vào cửa, vài phút sau chạy ra; nhảy lên xe tiếp tục chạy về Bộ Tư Lệnh. Đến nơi các phòng vắng lặng không còn ai cả. Dọt trở lại sân cờ Không Đoàn 33 Đại tá Thảo tuyên bố tạm thời tan hàng, anh em rán tìm lấy phương tiện di tản.

              Mọi người xuống xe nhưng chạy về đâu bây giờ? Tan hàng. Nghe thảm thiết quá. Một trong những đơn vị chiến đấu kiên cường nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, giờ đang bị bó tay, tước đoạt phương tiện duy nhất để chiến đấu. Lệnh ai sắp hàng ngang trên năm chục chiếc A37 cánh liền cánh, xăng nhớt, bom đạn trang bị đầy đủ để hủy diệt? Nếu không cho chúng tôi chiến đấu thì cũng để chúng tôi có phương tiện ra khỏi vòng đai đang bủa quanh phi trường chứ ?!!! Chúng tôi đâu có nản chí đầu hàng? Chúng tôi đâu có rã ngũ ? Cho đến sáng 29 tháng tư tất cả phi công khu trục Không Đoàn 92 đều có mặt, từ Không Đoàn Trưởng trở xuống, không thiếu một ai!

              Nếu có ý đồ đào ngũ chúng tôi đã theo lời mời của vị Đaị úy Trưởng phi cơ C130 của Không Quân Hoa Kỳ hôm 23 tháng tư ngày tiễn vợ con lên phi cơ di tản. Lúc bước ra khỏi ramp, anh ta nói: “Why don't you stay with us?”. Tôi cười và trả lời: “Cám ơn đề nghị của anh. Tôi phải ở lại chiến đấu”. Anh ta lắc đầu và nói cho tôi vừa đủ nghe: “War is over!”. Tôi vẫy tay chào mọi người rồi lên xe chạy về phòng Hành quân gần đầu phi đạo 07R. Đang đứng tần ngần chưa biết đi đâu thì Lê Vàng xà tới chiếc lambretta giục tôi lên xe, vừa chạy Vàng vừa nói cứ chạy khắp parking thấy tàu nào nổ máy thì nhảy lên đi theo chứ ở đây chịu trận sao? Chạy ngược chạy xuôi thấy được chiếc C 47 trên đường vội vã tiến về đầu phi đạo 07, Vàng tống ga đuổi theo nhưng thấy phi cơ taxi càng nhanh không có vẻ ngừng lại bốc mình, vả lại nhìn qua các khung cửa nhỏ thấy lúc nhúc chật cả tàu.

              Vàng quay xe trở lại. Chạy qua bãi tha ma A37 của chúng tôi, quá thảm não, không muốn nhìn. Camp Davis bên tay mặt làm tôi sôi máu, giá nghe Sơn đêm qua không chừng tình thế có thể khá hơn hôm nay? Ít ra cũng hả giận và còn ít phi cơ để anh em get out! Trong quân ngũ nhiều khi tuân thủ kỷ luật quá cũng không chắc là đúng mà còn tai hại đến đồng đội. Giây phút suy tư qua lẹ khi Vàng lắc xe vào bên trong chưởi thề: “Nó muốn cất cánh ngược chiều trên taxi way”. Tôi đưa tay vẩy vẩy; chiếc L19 cắt ga quay trở lại, Vàng xà xe vào nhìn lên phi cơ thấy có hai người, phi công ngoắc tay gọi lên. Vàng lắc đầu nói với tôi: “Cậu lên đi”. Tôi rời yên xe nhảy lên lom khom chung ghế với người ngồi phía sau. Vàng tống ga dọt mất. Pilot lại cất cánh cũng trên taxi way nhưng lần này đúng hướng.

              Tôi khom người trên đầu hoa tiêu. Phi cơ lên gần cuối phi đạo bắt đầu quẹo trái phía bắc Gò Vấp. Tôi la lên: “Quẹo mặt, quẹo mặt, quẹo về phía Sài Gòn. Vì sáng nay tôi chứng kiến phòng không bắn lên từ hướng đó. " May quá Thiếu tá!", Hoa tiêu trả lời nhưng vẫn quẹo theo ý tôi. Tôi bảo lấy cao độ chui mây hướng 240 độ. Anh ta nói không biết bay phi cụ. "Anh bay tôi nhìn phi cụ", tôi trả lời. Lên năm ngàn bộ ánh sáng chan hòa. Hoa tiêu bình phi. Trời thủ đô hôm nay mây mù phủ kín như báo hiệu một cơn bỉ cực bắt đâu giáng xuống cho miền Nam thân yêu.

              Tôi hỏi anh định đi đâu. Anh nói: “Không biết nên đi đâu Thiếu tá”. Rồi anh ta tiếp, anh vừa ra trường bay Nha Trang về phi đoàn chưa được xác định hành quân, người chung ghế phía sau với Thiếu tá là em ruột của em 16 tuổi. Tôi quay qua nhìn hành khách trẻ xúng xích trong chiếc áo bay quá cỡ có lẽ của anh đưa cho mặc. Tôi nói có hai nơi chúng ta có thể đến là Bình Thủy, Sư đòan 4 KQ hay Côn Sơn nơi tập trung di tản bằng đường thủy. Thiếu tá quyết định đi đâu thì em đến đó. Tôi nghĩ đi Cần Thơ hơn vì ở đỏ còn ba phi đoàn A37, bên căn cứ Trà Nóc còn có mấy phi đoàn trực thăng. Tôi nói anh cứ giữ cấp 240 đi Cần Thơ. Mười lăm phút sau Tân An trước mặt, bầu trời quang đãng không một cụm mây; nguyên miền Nam trải dài dưới cánh bạc, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ, Sóc Trăng... miền đất trù phú, ruộng vườn xanh ngát, sông lạch hiền hoà không lẽ rồi đây một sớm một chiều thay tên đổi họ?

              Năm mươi phút bay, sông Bassat hiện trước mặt tôi nói với hoa tiêu qua tầng số Bình Thủy xin chỉ thị đáp. Sau khi nhận đầy đủ chi tiết, chàng phi công vào chiều gió xuôi rồi quẹo phải 180 độ vào cận tiến chỉnh mũi phi cơ thẳng phi đạo, chiếc L19 từ từ xuống thấp cuối cùng lước nhẹ trên đường bay. Chạy đến giữa, đài kiểm soát cho lệnh đổi qua tầng số dưới đất, và được lệnh taxi theo chiếc pick-up xanh Follow Me về bãi đậu gần cổng vào phi trường.

              Chúng tôi lần lượt xuống phi cơ; thì một xe jeep Quân Cảnh chạy tới; người Trung sĩ này ngày trước đóng ở Nha Trang tôi và anh ta quen nhau; anh chào tôi rồi nói: "Thưa Thiếu tá, lệnh Ông Tướng tất cả phi cơ các nơi về, đậu tại đây; đổ xăng nhớt đầy đủ và chỉ được cất cánh khi có phi trình của Hành quân Chiến cuộc". Rồi anh kể cho tôi nghe sáng nay mấy Ông Khu trục AD5 và AD6 làm náo động cả phi trường. Tôi hỏi anh ta có xe cho chúng tôi mượn đi ăn trưa, đói bụng quá. Anh bảo tôi vào trạm gác anh sẽ kiếm cho tôi phương tiện. Năm phút sau anh chạy đến một chiếc jeep và nói với tôi một tiếng rưởi phải trả lại xe. Tôi trả lời cám ơn nhiều lắm và hứa về đúng giờ.

              Tôi hỏi tinh hình Cần Thơ. Anh nói vẫn còn yên nhưng không nên đi xa quá. Sau khi ra dấu cho hai bạn đồng hành về từ TSN lên xe, tôi lái ra cổng chạy được một đoạn đường nhìn thấy có quán ăn hai bên, tôi ngừng lại nhìn quanh có vẻ tốt. Trong quán một vài bàn có mấy quân nhân trang phục Không quân ăn trưa trễ đang ngồi nói chuyện. Chúng tôi chọn một bàn góc trái . Sau khi gọi ba dĩa cơm tấm sườn đặc biệt có hai trứng ốp la và ba ly trà đá lớn. Tôi nói với chàng pilot L19, Cần Thơ có vẻ còn yên nhưng tình hình mỗi lúc mỗi thay đổi rất lẹ; tuy nhiên đến đây là tốt rồi. Ăn xong vào phi trường tôi sẽ bàn với anh chương trình kế tiếp chúng ta sẽ làm gì. Chúng tôi ngốn ngáo đĩa cơm nóng hổi, hai miếng sườn cốt lét nướng vàng và trứng gà thơm phức mùi bơ; nốc hết nửa ly trà đá, như chưa bao giờ được ăn ngon như vậy, có lẽ để quá đói và mấy hôm ở TSN đầu óc căng thẳng ăn uống bất thường, thêm vào đó cơm tấm sườn nướng Cần Thơ có tiếng ngon nhất nước.


              Hình minh họa

              Xong bữa ăn trưa chúng tôi trở lại căn cứ. Vào trạm Quân Cảnh trả xe, bắt tay cám ơn và đưa cho anh bạn Không đoàn 62 ngày trước cây thuốc Salem đầu lọc tôi hỏi mua lúc trả tiền ở quán nhậu. Anh ta cười và nói: “Thiếu tá khách sáo quá làm em tổn thọ sớm”. Tôi vỗ vai anh: “Hân hạnh cho ta có người bạn tốt như anh!”.

              Ba chúng tôi bách bộ về Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn. Qua bãi đậu phi đoàn quan sát; tôi đứng lại hỏi người phi công L19: “Anh có bản đồ miền Nam không?”. Anh ta rút trong túi dưới bên mặt ra một tấm tỉ lệ 500000 và nói: “Tấm này được không Thiếu tá?”. Tôi trải ra trên nền xi măng và nói: “Nếu chúng ta còn gặp nhau thì không có gì trở ngại; nhưng lỡ không gặp nhau lại thì anh nhớ là cất cánh Bình Thủy lấy cấp 300 độ trực chỉ Utapao, trời tháng này tốt; anh cứ ôm theo bờ biển ba tiếng sau sẽ thấy phi đạo lớn, chính đó Utapao". “Em không nói được tiếng Anh Thiếu tá", viên Thiếu úy cắt ngang tôi. "Cần gì liên lạc với đài không lưu, anh quan sát cờ gió hoặc nhìn phi cơ đáp hoặc cất cánh là biết phi đạo đang xử dụng, xong bay vào trên ngàn bộ lắc cánh, đài sẽ biết vô tuyến hư họ sẽ chớp đèn xanh cho anh ưu tiên vào đáp". Anh có thắc mắc gì nữa không?, tôi hỏi . Anh lắc đầu và xếp bản đồ bỏ lại túi. Tôi nói bây giờ chúng ta lên trình diện Tướng Tần. Anh ta xin phép ghé vào phi đoàn quan sát tìm gặp mấy người bạn cùng khóa về đây mấy tháng trước. Tôi bắt tay anh nói cám ơn, hy vọng chúng ta gặp lại.

              Bước vào cửa lớn Bộ Tư Lệnh SĐ4KQ, gặp Nhân PĐ534, anh nói đu theo trực thăng về đây hồi 11 giờ, cũng có ý định vào trình diện ông Tướng. Hai chúng tôi đợi chánh văn phòng ba phút thì được Tướng Tần gọi vào gặp. Ông Tướng hỏi tình hình TSN và Bộ Tư Lệnh KQ xong Người nói: “Hai anh xuống gặp Đại Tá Ninh và đưa note này cho ông”. Tướng Tần trao tôi tấm giấy. Chúng tôi chào xong đi về Không Đoàn 74 CT, lúc gần đến nơi thì gặp Đại Tá Ninh lái xe vào chỗ đậu. Sau thủ tục chào kính tôi đưa note của Tướng Tần; Đại Tá Ninh hỏi: "Khoẻ không Cửu, lâu lắm mới gặp anh". Tôi cám ơn và trả lời vẫn bình thường.

              Nhớ lại mười năm trước, 1965, lúc đó Đại úy Ninh Biệt đội trưởng Khu trục Phi Hổ ở Pleiku, được giao trọng trách cùng Đại úy Lạc về Không Đoàn 62 CT thành lập Phi Đoàn Thiên Lôi 524. Nguyễn Huy Bỗng, Trần Văn Nghĩa, Hoàng Dự và tôi xung phong rời Cọp Bay 516 về Nha Trang bổ sung quân số. Giờ đây mười năm sau, 29 tháng tư 1975, Đại Tá nói: “Tốt lắm, hai anh vào giúp tôi PĐ A37”; Đại Tá kéo chúng tôi vào giới thiệu với anh em trẻ 520. Xong ông rời phòng Hành quân. Các hoa tiêu vây quanh tôi và hỏi tình hình Sài Gòn. Tôi thuật lại cho họ nghe những biến chuyển xảy ra mấy ngày qua. Anh em nói cho tôi nghe tâm trạng, bàng hoàng, lo lắng sau mấy hôm khác lạ xảy ra trong các Phi đoàn, nhất là biến động sáng nay trên bầu trời căn cứ. Lệnh Tướng Tần truyền xuống để trấn an quân sĩ. Phi trường Bình Thủy đã xao động càng nghẹt thở thêm. Xe Quân Cảnh tuần tiểu liên miên chạy lòng vòng các bãi đậu phi cơ.

              Tôi nhìn lên bảng phi lệnh và hỏi suốt ngày chưa có phi tuần nào cất cánh hả? Anh em lắc đầu. Vẻ mặt mọi người chán nản. Không khí có vẻ trầm lặng mang theo sự ngột ngạc nôn nóng. Họ nhìn nhau như muốn nói ra một điều gì trong tâm trí nhưng ai cũng ngại ngùng phát biểu. Tôi ngồi xuống ghế và ra dấu cho anh em cũng tìm chỗ an tọa. Rồi bắt đầu lên tiếng: “Nói cho anh em rõ, Bộ Tư Lệnh KQ đã bỏ ngõ. Trung tâm Hành Quân KQ cũng không còn hoạt động. Tôi nghĩ giờ này Sài Gòn đã bị CS tiến chiếm rồi. Bắt đầu bây giờ nếu có phi vụ điều động thì anh em phụ trách phi tuần nào cứ cất cánh lên target đánh xong đi thẳng Utapao không quay trở về nữa. Chắc các anh đã biết, từ Binh Thủy đi Utapao hướng 300 rồi chứ gì? Khoảng 45 phút là đến. Anh em nên lấy bản đồ ra kiểm soát lại và ghi các chi tiết, tầng số tower... Các bạn trẻ giờ đây rộn ràng hơn và đi lấy túi check list với bản đồ ra kiểm lại lần cuối. Nhìn họ, nhìn dấu bút ghi chép khoanh tròn lớn căn cứ Hoa Kỳ bên Thái Lan tôi biết họ cũng đã sữa soạn kỹ lưỡng đầy đủ từ trước rồi.

              Nãy giờ tôi mãi nói chuyện với các bạn Thần Báo thì Nhân 534 bốc điện thoại gọi tìm mấy người quen ở Cần Thơ. Lát sau Nhân đến bảo tôi mượn xe chở anh ta ra phố cho anh gặp người quen. Tôi nói giờ phút này mà bạn còn luyến tiếc gì nữa. "Anh nói dưới này còn yên ổn lắm, tôi đi nửa tiếng sẽ trở về liền". Tôi trả lời: “Đại Tá Ninh căn dặn coi giùm anh em A37, mình đâu bỏ Phi Đoàn đi được?”. Anh đáp ngay: “Tôi đánh cá với bạn đi tới tối về vẫn không có gì xảy ra đâu, Bộ Tư Lệnh, Bộ Tổng Tham Mưu, Trung Tâm HQKQ đã im tiếng còn ai để xin phi vụ yểm trợ ? Vả lại mình đi một chốc thì về chứ có dọt đâu mà lo không hoàn tất trách nhiệm?”. Tôi nhìn vẻ mặt ra chiều năn nỉ của anh rồi cũng xiêu lòng. Tôi nói với Sĩ Quan trực mượn chìa khóa xe pick-up đưa Thiếu tá Nhân đi sẽ về ngay. Kéo hộc lấy chìa khóa, viên Thiếu úy trẻ giao cho tôi và nói: Xe đậu bên mặt cửa ra vào.

              Lên xe chạy một khoảng đến Phi Trường Trà Nóc, Nhân bảo quẹo vào để anh nhờ mấy bạn Trực thăng đưa ra phố. Tôi định ngừng xe trước phi đoàn cho Nhân xuống xong sẽ dọt về ngay thì anh bạn của Nhân chạy Honda tắp vào và nói: “Mày mới xuống hả, tao vừa gặp Đại tá Thảo, Đại tá Ân, Trung tá Cả bên văn phòng Đại tá Bá”. Nhân giục tôi: “Mình phải qua trình diện mấy ông chứ?”. Tôi nhìn Nhân vừa nói vừa tống ga chạy về Bộ Chỉ Huy Căn cứ: “Trình diện gì nữa, hồi sáng Đại tá Thảo đã tuyên bố tan hàng, tự tìm phương tiện di tản rồi mà?”. Gặp được cấp chỉ huy thoát khỏi gọng kềm CS đang siết dần TSN, tôi cũng lấy làm mừng; sẵn dịp cũng nên chào Đại tá Bá xếp cũ mấy năm trước ở Phan Rang. Một chốc bảo Nhân: “Tôi phải về Phi đoàn 520, hơn 45 phút rồI”. Nhân gật đầu nói: "Gặp lại sau”.

              Bảy giờ tối, một Thiếu úy thấy tôi ngồi xem truyền hình đến hỏi: “Ăn gì chưa Thiếu tá?”. Tôi lắc đầu, anh đề nghị chở tôi ra quán nhậu trước cổng. Tôi nói : Anh đi ăn tối đi, nếu tiện nhờ anh mua giùm ổ bánh mì gà. Tôi rút ra tờ năm trăm đưa nhưng anh không nhận.

              Suốt đêm 29 rạng sáng 30 mọi người không ngủ, thao thức đợi phi vụ. Thỉnh thoảng nghe đại bác nổ và nhiều loạt súng nhỏ nhưng tuyệt nhiên phi trường Bình Thủy vẫn hoạt động bình thường, các ụ parking đèn sáng trưng, các chuyên viên kỹ thuật vẫn cắm cúi sửa tàu, tiếng động cơ A37 thỉnh thoảng nổ đều theo nhịp test của trưởng phi cơ. Tôi đứng nhìn phi đạo trong đêm, nghĩ đến các đầu não chiến đấu đã tự tan hàng, chỉ còn lại vùng bốn lẻ loi chiến đấu được bao lâu? Đạn dược, xăng nhớt, cơ giới... còn lại đủ chống cự không?

              Mười giờ sáng đài truyền hình phát sóng các Tướng, Bộ trưởng của chính phủ Big Minh kêu gọi toàn quân bỏ súng rời đơn vị trở về nhà. Hiệu triệu của Tổng Thống "ba ngày" chỉ thị các Binh đoàn, công sở bàn giao tất cả cho "Quân Giải Phóng miền Nam".

              Thế là Căn cứ Bình Thủy cũng tự động tan hàng. Chưa qua mười phút, cảnh rã ngũ xảy ra nhanh đến nổi tôi nhìn ra bãi đậu phi cơ vắng lặng, không còn quân cảnh, không còn chuyên viên kỹ thuật. Tôi rất thán phục anh em A37 Cần Thơ, có nôn nóng nhưng rất trật tự có thể nói là lịch sự. Tôi lên tiếng vì nhu cầu tất cả Hoa Tiêu A37 phải rời Việt Nam, anh em bắt cặp lấy, mỗi phi cơ phải đi được ba người, không dù nón, không hành lý, ngoại trừ Phi Công bay ngồi ghế trái phải đội helmet để liên lạc và tất cả phi cơ bay cao độ maximum 12 ngàn bộ không cần dưỡng khí. Tôi là người đầu tiên quăng cái cặp samsonite đựng nhiều kỷ vật qua hàng rào kẽm gai. Thế là anh em lần lượt tự động nhảy lên phi cơ.
              Một Thiếu úy chạy đến hỏi tôi: “Còn vợ em làm sao Thiếu tá?”. Tôi quay qua đẩy anh ta và vợ lên chiếc tàu gần ụ bên đã có phi công ngồi ghế trái.Thấy mọi người đã an vị, không còn ai trên parking, tôi nói với Thiếu tá Danh, chúng ta cũng lên tàu chứ? Khi ngồi trên ghế mới thấy đa số phi cơ bình điện yếu không mở máy được. Tôi bảo Danh nhảy xuống giúp tôi đẩy chiếc APU (Auxiliaire Power Unit) qua cắm vào phi cơ gần nhứt; nhưng loay hoay hoài cũng không làm sao nổ máy "boost" bình điện được.

              Nắng miền nam bắt đầu nóng, tôi tự giận mình bay mấy ngàn giờ mà không biết start APU, tệ thật! Kịp lúc đó Thiếu tá Kim, người bạn cùng khóa 63A, Liên Đoàn Trưởng Kỹ Thuật chạy lambretta đến gọi tôi: "Cửu cho "moi" đi với!". Tôi mừng quá và chụp tay anh: "Chắc chắn anh phải đi, start APU dùm coi". Kim đưa hai ngón tay bấm, tiếng nổ dòn APU vang lên, tôi giục Kim và Danh đẩy máy "boost” đến tất cả phi cơ bình yếu cho phi công mở máy. Gần chiếc cuối tôi thấy chỉ có hai người ngồi, Tôi nói Kim lên ngồi ké. Rồi tôi nói với Danh còn chiếc nữa ta có thể lên tàu.

              Lúc trở lại phi cơ, tôi ra dấu cho Danh mang dù nón oxygen đầy đủ vì không có ai nữa để cho đi. Vả lại chúng tôi phải lên 25 ngàn bộ để liên lạc trước với Utapao tower. Vừa taxi ra khỏi ụ thì thấy Mậu và một người bạn chạy vespa gọi: “Cửu, cho "moi" đi với!”. Tôi nhìn thấy còn chiếc A37 đậu ụ cạnh. Tôi chỉ cho Mậu và người bạn lên bay chiếc đó. Bấm interphone nói với Danh hy vọng họ không cần APU. Dù sao chúng tôi cũng phải đợi cho họ mở máy taxi ra mới lăn bánh theo.

              Khi phi cơ line up đầu phi đạo, nhìn lại căn cứ lần cuối vắng vẻ không thấy một bóng người. Tôi mang tâm trạng bùi ngùi, luyến tiếc phải bỏ ra đi nơi một thời sinh động náo nhìệt. Bao kỷ niệm hiện về, những sáng tinh sương phi tuần nối đuôi nhau rầm rộ bay vào không gian đi chu toàn nhiệm vụ Bảo Quốc Trấn Không, những buổi chiều sầu thảm khi hay tin một cánh chim đã lìa đàn đền nợ nước. Những đêm thức trắng vần vũ trên trời tây cover cho các bạn trực thăng vào kéo đồng đội lên trong thửa ruộng xanh phía bắc phố thị Tân An.

              Danh kéo tôi về thực tại: "Cất cánh được chưa Cửu?". Tôi gật đầu ra dấu tống ga 100%. Danh đưa phi cơ lên thẳng đứng. Cao độ kế quay vùn vụt, mấy phút sau phi cơ bình phi 25 ngàn bộ, hướng 300. Tôi lắc cần lái đồng thời qua interphone nói với Danh, tới phiên tôi bay. Danh buông tay để tôi điều khiển phi cơ. Trên tầng số guard tôi nghe được nhiều phi cơ trực thăng "may day" với các chiến hạm Hải quân Mỹ xin xác định tọa độ, hướng bay để vào đáp. Vô tuyến ồn ào như họp chợ. Tôi đưa tay vặn qua tầng số tour Utapao, thì đã nghe anh em bắt đầu liên lạc nhưng không nghe được vì họ phải bay thấp và còn quá xa. Tôi xen vào : “Xin các A37 yên lặng!”. Tôi bắt đầu gọi đài Utapao báo cáo trong vòng 25 phút nữa, khoảng bốn chục phi cơ A37 xin chỉ thị vào đáp. Utapao Tower: "Welcome Sir, runway 18 headwind 10 miles, vibility 25 miles, altimeter setting 29.92 reporting each flight when ready for landing. Thunder 524 Roger”. Tôi báo lại chi tiết cho anh em, mọi người bấm nút gọi cho biết nhận rõ.

              Đến Hà Tiên đánh mấy vòng ngắm phố thị, ruộng vườn. Tôi nói với Danh nhìn quê hương lần cuối đi trước khi qua không phận Cao Miên, chắc phải lâu lắm mới có dịp được thấy lại. Danh mỉm cười: “Anh đang di tản hay bay du hành cross country đây?”. Rời không phận Việt Nam, tôi nói Danh cầm cần lái tiếp tục trực chỉ Utapao.


              Hình minh họa

              Đến căn cứ Thái Lan sát bờ biển Danh xin chỉ thị đài vào đáp. Danh lướt nhẹ trên phi đạo 18 và để phi cơ chạy đến cuối đường bay thì tower cho tầng số ground, quẹo mặt đã thấy chiếc pick-up Follow-Me đợi sẵn, taxi theo họ đến bãi đậu tạm khoảng trăm feet từ runway thì hai airmen nhảy xuống xe, một ra dấu full stop, tắt máy, một quăng hai khúc gỗ chặn bánh phải. Xong anh ta đến chào tôi rồi đưa giấy bút yêu cầu điền vào tên họ phi hành đoàn, số đuôi phi cơ từ đâu đến cùng lúc đó người lính KQ Hoa Kỳ cầm hộp sơn xì xóa mất lá cờ sau đuôi. Sau đó họ mời chúng tôi xuống tàu lên xe pick-up để họ đưa vào bàn đón tiếp, họ cũng không quên nhắc nhở chúng tôi vì điều luật an ninh căn cứ vũ khí và nón bay được để lại sau thùng xe để chuyển vào kho.

              Đến bàn ghi tên họ lần nữa rồi được phát một cái khăn tắm, hộp xà phòng, kem bàn chải đánh răng. Bàn bên cạnh có các thức uống, bánh ngọt. Mấy anh em đến trước đang nhâm nhi cà phê trò chuyện, mỗi người mang một tâm trạng, trên nét mặt đăm chiêu nhưng có phần thư thả hơn hồi sáng; hết còn cảnh bồn chồn ngồi đứng không yên. Thời tiết Thái Lan nóng bức như Cần Thơ mặc dù ở đây sát bờ biển. Thấy vòi nước trên bãi cỏ cạnh văn phòng tôi tiến tới mở ra đưa hai tay hứng nước vụp vào mặt.

              Nhóm hoa tiêu Bình Thủy thấy tôi vẫy tay chào, vài bạn đưa ngón trỏ lên có ý nói chúng ta hoàn tất di tản tốt. Một thiếu úy từ Đà Nẵng về Cần Thơ kéo tôi ra một góc dúi vào tay hai tờ trăm đô la, tôi ngạc nhiên nhìn rồi đút trở lại túi anh ta; anh phân trần: “Em ở Mỹ mới về một tháng, còn một ngàn rưởi, Thiếu tá giữ mà xài!”. Tôi nói cám ơn anh, nhưng bây giờ có nhu cầu gì mà cần đến tiền bạc. Đêm hôm qua anh có nói chuyện, vừa đổi về SĐ 1 KQ chưa được check out hành quân thì phải chạy. Tôi nói với anh yên chí, Bình Thủy tương đối yên, phi cơ còn đầy đủ, tất cả chúng ta sẽ rời Việt Nam an toàn.

              Quá mệt mỏi tôi ngồi bệt xuống sàn xi măng bãi đậu, lấy chiếc khăn tắm vừa lãnh cuộn tròn làm gối, ngã người đánh một giấc cho đến khi nghe tiếng phi cơ, tôi choàng tỉnh nhìn lên bầu trời thấy chiếc L19 lắc cánh. Tôi nghiêng mặt chống tay đứng thẳng dậy hướng về đài kiểm soát, “green light" chớp chớp, tôi tự cười thầm thỏa mãn: “Hai anh em nhà họ rồi chứ ai vào đây nữa!”. Chiếc phi cơ quan sát tà tà một phần ba runway mới chạm bánh, đến cuối phi đạo quẹo mặt, taxi theo "Follow-Me" cho đến bãi đậu chung với các tàu vận tải cách chỗ đứng chúng tôi ba trăm thước. Phi cơ tắt máy, tôi nhìn hắn ta bước ra rồi đến người em và thêm một vị mặc áo chùng đen, có lẽ là một linh mục? Lúc họ xuống xe pick-up, đi về bàn làm giấy tờ theo chỉ dẫn ra dấu của người lính Hoa Kỳ, tôi tiến lại vỗ vai, hắn ta quay lại thấy tôi mừng quá: “Đúng như Thiếu tá nói, ba tiếng bay thì nhìn thấy phi trường Utapao, em vào lắc cánh đèn xanh bật cho vào đáp ngay. Tôi định hỏi vị linh mục đó anh gặp ở đâu nhưng thấy anh ta loay hoay làm giấy tờ tôi bước về chỗ cũ. Mấy anh em Cần Thơ giục tôi vào ghi tên cho kịp chuyến bay tới đi Guam.

              30 tháng tư 2005, ba mươi năm sau. Nhân ngày họp mặt Khu Trục, tôi ngồi viết lại "đoạn đường” đã qua này để cám ơn trên đã cho tôi gặp nhiều bạn tốt, tôi mới hoàn thành được chuyến đi mang nhiều ý nghĩa của đời mình. Tuổi quá lục tuần, trí nhớ bắt đầu sức mẻ đến nổi tên họ những người bạn đã gặp cũng đi Utapao). Trong khi gần trăm hai mươi Phi Công Khu Trục Phan Rang tại TSN từ 20 đến sáng 29 tháng tư không một phi công khu trục bay khỏi phi trường bằng A37 đi Thái Lan cả, vì tất cả A37 như phần trên đã viết, “Lệnh ai kéo phi cơ ra khỏi ụ để cho VC pháo kích rạng sáng 29 tháng tư?”. Nực cười nhất là một số quân nhân phía ta sau này viết lại tháng tư đen cũng vấp những lỗi lầm y như vậy, có lẽ họ có đọc "The fall of Saigon" rồi "copy" lại chăng?không còn nhớ. Trong ý nguyện viết lại khúc chuyện xưa này cũng mong ước được hội ngộ với anh em ngày trước.

              Những Anh em đã từng cùng nhau vì lý tưởng tự do, vẩy vùng trên Không Gian đất Việt. Thời trai trẻ mang sứ mạng được Tổ Quốc quê hương giao phó, chúng tôi đã hãnh diện chiến đấu đến cùng, luận thành bại ngoài tầm tay quân đội. Cũng bài viết này xin nhắc lại cho ký giả "salon" David Butler, mấy tuần cuối tháng tư 75, quanh quẩn trong các bar, hộp đêm Mỹ gom góp tin tức chiến sự từ các cọng sự viên tòa đại sứ, DAO,... kể lại để dựng đứng những tin thất thiệt trong cuốn "The fall of Saigon": Trang 380, David viết, “April 29, 04:00 tại TSN tất cả các Phi Đoàn A37 đã cất cánh di tản.

              Written by Thiên Lôi 524
              Sunday, 12 July 2009 06:51

              https://www.facebook.com/photo.php?f...type=3&theater
              Last edited by BachMa; 05-05-2019, 08:58 PM.

              Comment


              • Những Người Tù Áo Hoa

                Những Người Tù Áo Hoa
                Phạm Gia Đại


                Hình minh họa

                Thời gian ở trong tù quả thật đúng nghĩa là thời gian chết.

                Khoảng thời gian vô bổ, vô nghĩa vì không biết lấy cái gì để lấp đi được hết cái khoảng trống đó hay làm sao để giết đi được hết cái thì giờ thừa thãi đó. Đâu phải nó chỉ là mười ngày hay một tháng như lời tuyên truyền lừa bịp của Quân Quản thành phố khi Sài Gòn đã mất, mà nó kéo dài lê thê và pha lẫn với những máu, nước mắt và mồ hôi của hàng trăm ngàn người tù chính trị hết năm này qua năm kia hình như không có giới hạn về thời gian nữa.

                Lúc tôi còn ở trại cô nhi Long Thành, hơn ba ngàn người hầu hết là dân sự trong các Phủ Bộ của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) đang ở trong tù. Sau mười ngày, rồi sau một tháng trôi qua không động tĩnh thì họ cũng không còn biết bám víu gì vào ngày tháng nữa và thời gian chỉ còn là một khoảng trống không vô tận.
                Cái chính sách "khoan hồng nhân đạo" của Đảng và Nhà Nước Cộng Sản đối với các viên chức chế độ cũ đã bị rơi cái bộ mặt giả nhân giả nghĩa khi sau một tháng rồi mà vẫn giam giữ các "cải tạo" viên.

                Chính sách đó đã biến miền Nam thành một nhà tù lớn nhất thế giới.

                Những người dân miền Nam , nhất là các quân dân cán chính chế độ cũ VNCH qua một thời gian ngắn sống dưới chế độ Cộng Sản, bắt đầu hiểu lờ mờ thế nào là Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN); và khi mà thức ăn dành cho súc vật là bo bo cũng không có đủ cho những người tù lao động khổ sai nữa thì mọi người bắt đầu nhìn thấy một hiểm họa đói kém và một tương lai đen tối đang đổ ụp xuống trên quê hương mình.

                Có điều chúng tôi đều không hay và đều không hề biết rằng những khoảng thời gian ấy là những tháng ngày hiếm có mà còn được những giây phút thoải mái và thong dong một chút trước khi bị đưa ra miền Bắc XHCN, bị ném vào "hỏa ngục" trên trần gian - là những trại "tập trung cải tạo" với nhiều hình thức lao động khổ sai khác nhau- đang được từ từ dựng lên như nấm khắp Nam chí Bắc VN, dập khuôn theo các trại ở Siberia hay Tân Cương.

                Những buổi chiều tại trại cô nhi Long Thành, chúng tôi chẳng biết làm gi hơn là cứ lững thững đi bộ dọc theo các con đường đất nện chung quanh các căn nhà chỉ còn là cái xác, không cửa sổ mà cũng chẳng có cửa ra vào.

                Một số thì ngồi trên gò đất cao nhìn ra hướng xa lộ chạy về thành phố vừa nhớ về gia đình vợ con vừa tự hỏi tại sao lại ra nông nỗi này?

                Tại sao lại cả một chế độ đang Tự Do no ấm trong miền Nam chui hết cả vào tù như thế này? Tại sao hầu như tất cả những thành phần tinh hoa của VNCH đều vào trong cái rọ này hết? Ai, những ai là người đã gây ra cái thảm trạng này, chúng tôi chăng?

                Câu hỏi đó cứ mãi xoáy vào trong đầu tôi và có lẽ cũng trong đầu mọi người đang ở chung quanh tôi bởi vì chúng tôi đã mất một miền Nam trù phú thịnh vượng và văn minh văn hóa vào tay bọn người mà trước kia VNCH gọi nó là loài quỷ Đỏ từ miền Bắc vào, vừa vô tôn giáo vừa vô tổ quốc, vừa nghèo đói vừa gian manh, tàn bạo, đầy thủ đoạn và xảo quyệt.

                Nhưng loài quỷ Đỏ gian manh xảo trá đó lại là kẻ chiến thắng và chúng tôi văn minh văn hóa hơn mà lại là kẻ thất trận.

                Điều nhức nhối là nằm ở chỗ đó, và mỗi thời gian qua đi trong tù thì chúng tôi lại học được những kinh nghiệm mới và hiểu rõ hơn về cái gọi là XHCN - là cái xã hội dậy cho con người ta bề ngoài phải sống dối trá thì mới có thể tồn tại được.

                Trong khi từ ngàn xưa chúng ta đã bị ảnh hưởng nhiều từ hai luồng triết học của Khổng giáo và Phật giáo. Sau ngày di cư vào Nam chúng ta còn được học Công Dân Giáo Dục và Đức Dục tại trường học. Các môn trí dục đó đều dậy chúng ta trở thành những con người vừa có tài năng vừa có đức hạnh, ngay thẳng, thành thật và biết thương người.

                Đem hai lối sống đối chọi nhau như vậy ra cân đo, một đàng Cộng Sản chỉ biết một điều là chém giết và phá hoại không nương tay tất cả mọi thứ trên đường chúng đi để cướp chính quyền bằng mọi thủ đoạn - và một bên chúng ta những người Quốc Gia đã hành động như những người quân tử có lòng nhân đạo và không biết phòng bị đối với kẻ tiêu nhân - thì chúng ta đã hiểu vì sao Việt Minh đã thành công trong việc âm thầm hay công khai thủ tiêu hầu hết các nhà cách mạng trong các phong trào và đảng phái yêu nước thời chống Pháp và họ đã cướp được chính quyền.

                Sau năm 1954 đất nước bị chia hai và khi Hiệp Định Genève ký chưa ráo mực, CSVN vẫn dùng một sách lược như cũ, theo đúng lời dậy bảo của quan thầy chúng là Nga-Tầu, là phát động cuộc chiến võ trang, xé bỏ ngay Hiệp Định mà chúng vừa ký kết để xua quân xâm nhập trái phép vào miền Nam qua vùng Phi quân sự và sử dụng cả đất Lào và Miên cho đường chuyển quân của chúng.

                Trong tù, anh em có lúc nói chuyện với nhau rằng nếu ngày trước hành quân bắt được tên VC hay Bắc Việt nào bắn bỏ hết thì chúng đâu còn lực lượng đâu mà tấn công chúng ta nữa? Nhưng là người Quốc Gia chúng ta thượng tôn luật pháp đâu có thể làm thế được. Cho nên chỉ giam giữ tù binh VC một thời gian, cho một bản án, rồi lại thả và chúng lại trốn vào bưng, như cóc bỏ dĩa vậy.

                Thời gian còn ngoài Bắc, có những em bé chăn trâu hay những trẻ đang mót lúa trên đồng nhìn thấy chúng tôi thì lạ lắm. Vài hôm sau quen dần thì mon men lại gần hỏi chúng tôi biết đọc chữ hay sao khi có vài anh cầm trên tay cuốn sách. Bởi Các em và các dân làng bên đều bị tiêm nhiễm sự tuyên truyền của Cộng Sản rằng các lính "Ngụy" chỉ biết ăn gan hút máu người mà thôi.

                Thế rồi vài anh đã chỉ cho các cháu tập đọc và cách giữ gìn vệ sinh tránh bệnh tật nữa và các em bé này khi về tới làng loan truyền lại rằng các người tù này rất hiền lành và tử tế chứ không hung dữ như các cán bộ huyện xuống tuyên truyền đâu, và mỗi lúc đội chúng tôi đi lao động bên ngoài trại thì các em lại mon men đến gần vì rất thích nghe các chú kể truyện trong Nam.

                Những ngày mà đội được điều về sửa sang hay xây lại cái sân hay gian trái của nhà tay trưởng trại là Thiếu Tá Dũng thì cậu bé cháu nội của tay trưởng trại này mới lên bẩy thường khệ nệ vác ra cái điếu cầy, ít thuốc lào cho các chú hút thuốc "giải lao" cho vui.

                Nó thường nhìn trước sau không có ai là bê nguyên bình rượu Mai Quế Lộ của ông nội nó ra cho các chú mỗi người tu một hớp, rồi ngồi bên cạnh há hốc mồm ra nghe một cách say sưa các chú vừa lao động vừa kể chuyện đời xưa trong Nam, những chuyện lạ lắm nó chưa từng được nghe bao giờ.

                Hỏi là lớn lên cháu thích làm gì thì nó trả lời không do dự:

                -"Cháu muốn làm các người tù áo hoa như các chú"

                -"Tại sao không muốn làm cán bộ như ông nội con đó?"

                -"Tại vì tù áo hoa có nhiều quà lắm. Mỗi lần thăm nuôi là một xe đầy quà à!."

                Chúng tôi dù đang trong hoàn cảnh lưu đầy cũng không nhịn được và phá ra cười.

                Sau khoảng hai tuần lễ sửa chữa nhà cửa cho tay trưởng trại này xong thì những người tù áo hoa này không còn có dịp gập lại chú bé con dễ thương đó nữa, nhưng vẫn không thể nào quên được tình cảm thương mến mà chú bé đã dành cho các anh em trong đội xây dựng nhất là hớp rượu Mai Quế Lộ hiếm có trong hoàn cảnh đó.

                Dân làng chung quanh cũng quen gọi chúng tôi là tù áo hoa vì mặc đồ treillis, còn bà vợ của tay trưởng trại này thì gọi chúng tôi là "những tù quốc tế":

                -"Các anh cứ đưa tiền đây cho tôi, tôi sẽ mua trứng gà và thịt thà cho. Ăn vào cho nó khỏe chứ các anh là tù quốc tế mà sợ gì tụi nó".

                Tụi nó ở đây là đám cán bộ an ninh và trực trại và những anh em tù nhân cả bên hình sự và chính trị được cho chức vụ như tự giác, thi đua luôn đứng lục xét từng người tù một ngay tại cổng trước khi cho nhập trại, nếu họ có gì nghi ngờ.

                Bà ta nói thì rất là mạnh miệng nhưng có lần trong đội thường cử ra một anh làm "sĩ quan liên lạc" để đi lấy hàng về, khi vừa đến cửa nhà tay trại trưởng thì anh định kêu bà đem hàng ra thì thấy ông ta ngồi lù lù cạnh cái bàn đang rít điếu thuốc lào, còn bà vợ ở phía sau thì xua tay rối rít. Anh "sĩ quan liên lạc" này vội dọt lẹ.

                Hôm sau gập bà ta lấy hàng thì bà phân bua:

                -"Các anh không biết chứ ông ấy cứ hay lên lớp tôi là mua bán “móc ngoặc” như thể là làm ăn không tôn trọng nội quy và làm ông ta mang tiếng. Hôm qua tôi bèn nói cho ông ta biết rằng nếu tôi không làm ăn buôn bán thế này thì lấy đâu ra ngày ngày thịt lợn luộc cho ông ấy ăn, rượu Mai Quế Lộ cho ông ấy nhắm?"

                Bà vợ tay trại trưởng này tuy người gầy đét như que củi và hàm răng thì cả một tiểu đội trú mưa cũng còn dư nhưng được cái không hiểu sao rất là tốt với những người tù áo hoa này, có thể vì họ sẵn sàng mua hàng với bất cứ giá nào dù là cao hơn nhiều so với ngoài chợ, miễn là có hàng cho họ để bù vào cái khẩu phần ăn quá thiếu thốn.

                Vậy mà trong một thời gian dài bà ta cũng đã giúp cho chúng tôi rất nhiều trong dịch vụ cung cấp "chất tươi" - để chỉ các loại thịt và nhất là trứng gà.

                Hễ có con gà nào vừa đẻ là bà ta dành dụm lại thành một chục để bán cho tù chính trị và chỉ bán cho tù chính trị mà thôi. Có anh em hỏi tại sao không bán cho tù hình sự thì bà chỉ lắc đầu không nói nhưng chúng tôi hiểu ngầm là bà chỉ tin tưởng vào đồng tiền của người tù áo hoa thôi.

                Mãi cho đến khi các gia đình trong Nam ra thăm nuôi chúng tôi được thường xuyên hơn thì những dịch vụ buôn bán của bà vợ tay trại trưởng này mới thưa dần đi.
                Dù thời gian đã xóa nhòa đi nhiều kỷ niệm nhưng tôi vẫn không bao giờ quên được cái dáng gầy đét như cây sậy và đôi chân trần nứt nẻ của bà vợ tay trưởng trại này và cái tay bà khua khua trên không khí:

                -"Các anh không biết chứ ngày xưa tôi là hoa khôi trong làng cho nên ông ấy mới mê tít đi mà cưới hỏi đấy."

                Dầu sao cũng phải công nhận là bà ta có cái Tâm khá thành thật và không hề bị ảnh hưởng bởi luận điệu tuyên truyền của Nhà Nước XHCN nên đối xử với chúng tôi có chút tình người.

                Những hôm mua được "hàng" từ nguồn cung cấp của bà vợ trưởng trại này, và qua mặt được sự khám xét ở cổng trại để đem "hàng" vào được trong trại yên lành là những thời gian "vàng son" của người tù.

                Chúng tôi chia nhau có thể năm mười người một con gà luộc để có một bữa ăn cho bõ ghét. Nằm ngay trước mặt tôi là một anh bạn khác đội, pilot ngày xưa và cao lớn. Anh ăn rất khỏe bởi thế lại là người đau khổ nhất mỗi khi nhận phần ăn chưa đầy một bát bo bo hay lưng bát cơm. Thấy tôi nhỏ con nên anh thường hay qua đổi cơm lấy bo bo để ăn cho nó nặng bụng hơn một chút vì bo bo vỏ dầy ăn vào thì lâu tiêu hơn là cơm nên có cảm giác đỡ đói hơn.

                Hôm ấy, anh dành tiền và mua được nguyên một con gà và buổi tối sau khi vào buồng, anh mượn cái chậu thau phát cơm của buồng để đựng con gà, bầy nó nguyên con ra trước mặt để làm một bữa đánh chén có một không hai cho thỏa những ngày bụng xẹp lép quanh năm.

                Tôi ngồi ngay trước mặt anh ở sàn trên nên không muốn cũng phải nhìn qua sàn bên kia từ đầu đến cuối, từ lúc anh bắt đầu ngồi xuống chiếc chiếu, sắn tay áo lên bê cả con gà lên, nghĩ sao lại bỏ xuống rồi chỉ bẻ một cái cánh ra nhấm nháp trong khi cặp mắt thì lim dim lại như để tận hưởng cái khẩu vị êm ái và ngọt ngào đó.

                Nhìn cách anh chậm rãi "xơi tái" con gà một cách ngon lành mà tôi không nhịn được cười, dù là vui vì bạn mình có một bữa no nê để trả thù cái đói kinh niên đáng nguyền rủa cứ bám chặt lấy người tù. Thình lình anh mở mắt ra nhìn thấy tôi bèn chỉ vào chiếc đùi gà, tôi lắc đầu chỉ vào phần thịt gà mà tôi vừa chia được.
                Sau hai tiếng đồng hồ anh mới xong bữa tối. Bình thường thì chỉ vài phút đồng hồ là chúng tôi ăn xong phần ăn của mình bởi chỉ có độc nhất ít bo bo hay khoai tây nhỏ bằng ngón tay út hay lưng chén cơm, không có canh, không có cả nước muối hay rau cỏ gì nên thanh toán rất nhanh.

                Anh rửa qua loa cái chậu thau, bỏ nó ra gần cửa xong leo lên giăng mùng chui vào giấc ngủ đến thật êm đềm. Tối đó tôi tin là anh ngủ rất say không nhiều mộng mị. Người tù đó vừa có một ngày vui bất ngờ, một bữa ăn thịnh soạn như trên trời rơi xuống, và ngày mai muốn ra sao hãy tính sau.

                Vài năm sau khi vào trại thì họ phân phát cho chúng tôi các bộ đồ treillis mầu hoa rừng của QLVNCH trước kia, một phần để tiết kiệm ngân quỹ, mặt khác cũng có thâm ý để cho chúng tôi mặc quấn áo đó như là QLVNCH đang bị chúng giam giữ vậy.

                Thiên bất dung gian cho nên họ không ngờ rằng với bộ treillis mầu hoa rừng đó của các binh chủng TQLC, Nhẩy Dù, BĐQ, các người tù đã đi khắp đó đây trong núi rừng trùng trùng điệp điệp của Hoàng Liên Sơn chặt cây đem về cho trại - và vô hình chung QLVNH như bừng sống lại giữa núi rừng từ miền trung du lên các tỉnh miền thượng du.

                Trong mắt của dân làng nhất là dân tộc thiểu số qua những lần tiếp xúc tuy ngắn ngủi với các người tù chính trị chế độ cũ thì họ nhận thấy những người tù này hoàn toàn khác hẳn so với những tù hình sự và dân chúng bắt đầu gọi chúng tôi là "người tù áo hoa" từ đó để phân biệt với tù hình sự. Tù áo hoa là những con người hiền hòa dễ mến và hay giúp đỡ không phải là hình ảnh những kẻ giết người, ăn gan người như tuyên truyền.

                Khi ra Bắc được khoảng hai năm thì vào một ngày cuối Thu, trời chợt chuyển lạnh thình lình rồi mưa xuống xối xả như thể bao nhiêu nước trên trời đều tuôn xuống vùng núi rừng hoang vu này.

                Nước từ trên nguồn cũng tháo xuống qua thung lũng, qua khe núi, từ trên rừng đổ về. Chỉ mấy ngày sau là cả vùng ngập lụt trong nước trắng xóa. Những ngôi làng dân tộc thiểu số người Thái chìm trong biển nước. Hoa mầu mất sạch và nương rẫy đều biến mất dưới làn nước trắng xóa, trâu bò xổng chuồng và bị nước lũ kéo phăng đi.

                Nước cuồn cuộn đổ về tàn phá xóm làng, cả một vùng mênh mông không còn gì ngoài nước lũ, sức nước xoáy về quả thật là ghê gớm như cơn thịnh nộ của trời đất. Tất cả hầu như không còn gì dưới dòng nước trắng đục.

                Miền Bắc nhất là các vùng mạn ngược của đồng bào thiểu số vốn dĩ đã nghèo xác xơ, quanh năm suốt tháng chỉ trông chờ vào hoa mầu và nương rẫy bây giờ tay trắng. Dân làng đứng trước một nạn đói không thể tránh được.

                Địa phương thì nơi nào lo nơi đó và họ không hề quan tâm đến dân làng, nhất là khu vực làng của những sắc dân thiểu số.

                Những người tù áo hoa bảo nhau nhập cuộc.

                Hàng ngày mỗi khi ra lao động đi ngang qua khu vực làng mạc bị thiên tai, người cái áo, người cái quần, cái mùng hay đôi dép, lon Guigoz, cái nón lá và ngay cả khẩu phần ăn ít ỏi của họ nữa, góp lại và kín đáo bỏ lại bên gốc cây còn khô ráo và chỉ cho dân làng đến lấy về dùng.

                Một thời gian sau, khi qua được thiên tai đó, mỗi lúc dân làng người dân tộc, thấy những người tù áo hoa lao động đi qua khu vực làng xóm thì họ chạy ra, bồng bế con cái và chắp tay lại cúi đầu xá những người tù này từ xa như xá những ông thần của họ vậy. Họ đem ra nải chuối, củ khoai củ sắn bỏ bên cạnh các gốc cây, nhưng những người tù trong mầu áo hoa rừng đó đều ra hiệu cám ơn, khoát tay và bảo nhau không nhận - bởi thấy người dân làng họ nghèo quá, nghèo đến độ mà những người tù thân còm cõi trong hoàn cảnh lưu đầy nhìn thấy cũng còn phải xúc động.

                Nói về con người giam giữ con người thì trong lịch sử bốn ngàn năm của chúng ta, các vua chúa thời xưa cũng dựng lên nhiều loại ngục thất dành cho các kẻ tạo phản hay để trừ khử những thành phần chống lại triều đình, nhưng chưa bao giờ lại có một hình thức kỳ lạ và quái dị như các trại tập trung "cải tạo" như Cộng Sản VN du nhập vào từ các nước "quan thầy" của họ là Nga-Tầu để giam giữ nhiều trăm ngàn người dân một lúc.

                Cho nên trong trại tôi ở miền Bắc có một bác rất là hiền lành và ít nói tên là Vỹ, người quắc thước để râu bạc phơ. Bác thuộc về bên đảng phái nên bị đi "cải tạo", có hôm ngay tại "hiện trường" lao động bác đã quá bực tức vì cái án tập trung "cải tạo" vô hạn định này mà la lên rằng:

                -"Tôi cũng đã bị ở tù nhiều lần trước kia nhưng chưa bao giờ thấy cái tù nào nó kỳ quặc như lần này."

                -"Ông Trời không biết có thấu không chứ tôi hết chịu nổi cái tụi này rồi.".

                Bác cứ la inh ỏi cả một góc khu vườn trồng rau cải bẹ xanh, bác bỏ cả cái cuốc cái thúng mủng bên cạnh mà đập tay đập chân xuống đất mà la đến khản cổ. Nhưng chỉ có chúng tôi nghe thấy mà thôi vì tay quản giao lấy xe đạp chạy đi mất từ sáng nên không xẩy ra chuyện gì.

                Bởi thế khi mà chúng tôi bước vào trại tập trung, chính mình cũng không ngờ rằng mình đang mang bản án còn hơn tù chung thân vì tập trung - là hình thức sao chép nguyên bản lại từ Liên Xô - có nghĩa là không có thời gian hạn định và họ muốn giam giữ đến bao giờ thì giam.

                Người tù không hề được ra trước tòa để biện minh cho mình, không hề được thông báo cho biết hạn tù là bao lâu và không bao giờ có quyền thắc mắc.

                Cứ hết hạn ba năm thì trên Bộ Nội Vụ của họ tự động chồng thêm ba năm nữa và người tù không hề hay biết.

                Một điều người tù có thể biết là tù nhân chỉ là một công cụ sản xuất để "làm ra của cải vật chất cho trại" qua cái từ ngữ lừa bịp là "lao động vinh quang" với một khẩu phần ăn nếu chỉ ngồi không, không phải lao động ngoài nắng mưa giá rét, thì cũng khó mà tồn tại.

                Cứ lao động cứ "vinh quang" như vậy cho đến hơi thở cuối cùng và được cho một bộ ván sáu miếng rồi khênh lên nghĩa trang trên ngọn đồi là xong một kiếp người.

                Một điều rất oái oăm và đau lòng là khi sống người tù chẳng bao giờ được ăn một bữa ăn tương đối no bụng nhưng khi nằm xuống thì được đặt trước mộ một bát cơm trắng đầy và một quả trứng gà luộc. Chỉ ngay tối hôm đó chưa qua ngày hôm sau thì bát cơm và quả trứng ấy cũng biến mất và chỉ còn lại nấm mồ đơn sơ nhiều khi cũng không có cả tấm bia mộ đề tên người quá cố.

                Giòng đời vẫn cứ trôi và ngàn năm mây vẫn bay và người tù vẫn kéo lê cuộc đời lao tù, sống dở chết dở.

                Quả thật chẳng có gì chán nản và dễ mất tinh thần hơn là ở tù dù là tù chính trị, chẳng thế mà ông bà ngày xưa đã nói "nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại" và "nhất tội nhì nợ". Thời gian này là thời gian chết trong đời sống mỗi ngày của người tù, nó như kéo họ xuống đáy sâu của hỏa ngục, mà họ vẫn cứ phải lê bước đi cho đến hết con đường buồn thảm đó, không có cách nào khác.

                Lâu lâu, vào những dịp lễ Tết thì trại lại thả một số người, khi thì vài anh lúc thì vài chục người và những người không có tên thì tiếp tục trong bốn bức tường và ở lại trong một tâm trạng buồn chán hơn và mất tinh thần hơn.

                Mục đích họ có những đợt thả, dù là nhỏ giọt, là nhằm thúc đẩy những người tù "cải tạo" tích cực hơn, nhưng trên thực tế thì hiệu quả lại ngược chiều vì mọi người đều nhận thấy một sự thực là bản án nặng hay nhẹ, ở tù lâu hay mau chính là dựa vào lý lịch chứ không hề dựa vào sự "cải tạo" nào cả.

                Những người trong các "diện" liên quan đến tình báo, ANQĐ, cảnh sát đặc biệt thì chẳng hề thấy tên mình trong danh sách được thả sớm bao giờ.

                Thêm vào đó là những đợt Bộ Nội Vụ xuống trại thẩm vấn liên tục, mỗi đợt kéo dài hàng tháng. Họ bắt người tù đa số là nằm trong các "diện” nêu trên phải nhận tội trong các bản gọi là "Tự Khai".

                Tôi cũng nằm trong số đó và họ đã thẩm vấn không biết bao nhiêu lần, mỗi lần cách nhau chỉ vài tháng cũng một nội dung như vậy.

                Bắt người tù khai đi khai lại một câu chuyện bao nhiêu lần, khai vừa xong thì lại nhận được một sấp giấy và cái bút chì bắt khai lại vì chưa đủ “thành khẩn”. Ban đầu thì chúng tôi những người bị thẩm vấn lấy làm rất khó chịu và suy nghĩ rất nhiều vì không biết họ muốn cái gì, nhưng dần sau này hiểu ra cách “làm Việc” của họ nên cứ bản cũ sao chép lại là xong dù họ có hài lòng hay không cũng vậy.

                Phương pháp thẩm vấn của họ đều giống nhau là tìm mọi cách khủng bố tinh thần người tù, rồi dụ dỗ để khai ra càng nhiều tội càng tốt chứng tỏ lòng “ăn năn hối cải” của mình để được "khoan hồng" sớm.

                Nhưng thực tế, bản án dành cho người đó đã có sẵn.

                Họ bắt khai nhiều lần để xem có vô tình khai ra điều gì mới hay không, bởi thế khi khai xong lần đầu thì tôi kín đáo viết lại vào nhiều chỗ khác nhau các chi tiết để ghi nhớ lần sau khai đúng như vậy.

                Phải ghi lại nhiều chỗ và phải viết tắt vì thường xuyên họ có đợt kiểm tra “đôt xuất” chỗ nằm và tư trang. Tôi rút kinh nghiệm vì có lần họ bất ngờ xộc vào buồng hỏi chỗ nằm của tôi để kiểm tra “nhạc Vàng”. May mà tôi hay nằm trên góc sàn từng trên nên kịp thời tẩu tán hai cuốn Kinh Phật trước khi tay trực trại leo lên bắt đổ hết mọi thứ trong ba lô ra. Có thể họ đã thấy tập chép tay các bài hát của thời VNCH mà tôi cho anh bạn buồng bên cạnh mượn. Cuối cùng chẳng tìm được gì, họ chỉ nói vài câu cảnh cáo rồi leo xuống.

                Để rút kinh nghiệm cho việc đấu trí với cách thẩm vấn của họ nên mỗi buổi chiều, chúng tôi các người được gọi ra "làm việc" trong lúc đi bộ trước sân thường trao đổi với nhau.

                Anh Quang 'sừng", người thợ thật khéo tay tạc các bức tượng Phật và tượng Chúa, hay các kỷ vật bằng sừng trâu đã kể cho tôi nghe khi ra thẩm vấn ban sáng là tay cán bộ thẩm tra hỏi anh ý như khoe về “chính sách khoan hồng" của họ:

                -"Anh nhận xét sao về chính sách này mà nhà Nước đã tạo cơ hội cho các anh?" Anh Quang bình tĩnh trả lời một cách thản nhiên:

                -"Tôi chỉ biết rằng trong chế độ VNCH chúng tôi trước kia nếu giam giữ mà không có án thì còn hơn là tù chung thân, bị tù mà còn bị lao động như vậy là tù khổ sai, bị đưa ra khỏi miền Nam là lưu đầy."

                Tên cán bộ bị khựng lại và đổi qua đề tài khác.

                Phần tôi khi ra "làm việc", tay cán bộ của Bộ Nội Vụ tóc đã hoa râm rót chén trà nóng mời tôi theo thủ tục, châm điếu thuốc lá hút rồi hỏi có vẻ mỉa mai là tôi có lúc nào nghĩ rằng trước kia như vậy mà nay ngồi ở đây hay không. Tôi trả lời nhẹ nhàng rằng nếu biết như vậy thì tôi đã đi từ lâu chứ không có ngồi như ngày nay ở đây đâu. Tôi cũng cho họ biết rằng họ đã chiếm được miền Nam, họ có thể kiểm chứng nhiều nguồn tin nhưng tôi chẳng có gì cần phải dấu diếm như họ kết tội tôi; còn như nếu mà họ cứ không tin thì tôi cũng đành chịu chứ khai tới khai lui cũng chỉ có thế mà thôi.

                Suốt bốn năm đầu, vừa đói khát vừa xuống tinh thần vì lo nghĩ đến gia đình lại chồng thêm cái mất ngủ do những buổi "làm việc" liên tục và căng thẳng với Bộ Nội Vụ của họ nên chúng tôi sa sút thấy rõ nhưng vẫn trước sau khai như một.

                Có lẽ thấy cũng tốn thời gian mà không khai thác được gì thêm nên từ đó họ bỏ hẳn không còn xuống "làm việc" nữa.

                Không biết có phải nghiệp chướng tù đầy của chúng tôi đã được Trời Đất thuyên giảm cho hay không, hay vì chúng tôi đã nhẫn nhục chịu đựng mọi gian khổ thử thách một cách can trường, mà cùng lúc với việc họ không xuống trại làm nhức đầu chúng tôi nữa thì gia đình cũng được tin cho vào trại thăm nuôi để mở ra một chương hoàn toàn mới và nhiều thay đổi lạ kỳ cho người tù.

                Chị Liên, bà chị con bác Phán, từ Hà Nội vào thăm tôi lần đầu tiên và hai chị em sau một phần tư thế kỷ gập lại nhau thì chị vẫn giả lả nói những lời khuôn sáo rỗng tuyếch như khuyên tôi cố gắng lao động, chấp hành tốt nội quy, nhưng khi thấy tên cán bộ bỏ ra ngoài cửa thì nắm lấy tay tôi nói:

                -"Sao em gầy thế, chị nhớ hồi chị ra thăm Ba Mợ ở Hải Phòng trước khi Ba Mợ di cư vào Nam thì em bụ bẫm lắm. Em phải cẩn thận giữ sức khỏe nhe, còn lâu đấy!". Rồi chị lau nước mắt ra về.

                Các chị con bác Phán, bác là chị Cả và Ba tôi là thứ Hai nhưng là trưởng tộc, vẫn mang ơn Ba Mẹ tôi vì ngày xưa khi gia đình Ba Mẹ tôi giầu có ở cái dinh thự lớn nhất nhì Hải Phòng thì Mẹ tôi rất biết ăn ở và có lòng thương người kể cả họ hàng và ngay cả các chị vú nuôi chúng tôi cũng xem Ba Mẹ tôi như gia đình của các chị vậy.

                Ngày xưa thì tình cảm rất là gắn bó giữa người vú nuôi và người con trong gia đình, người vú được coi trọng như là người mẹ thứ hai vậy. Nhiều khi các chị vú thương chúng tôi quá đến nỗi Mẹ tôi dục dã mãi mới bịn rịn về thăm quê ngày Tết hay giỗ chạp.

                Ngày mà Ba Mẹ tôi khá giả bắt đầu từ căn nhà mà Mẹ nói là "nở hậu" ở đường Cát Dài thì Mẹ tôi cũng đón về nuôi luôn hết gia đình Bà Hai của ông Đốc khi ông mất, để trả lại ơn ngày xưa trên Yên Bái lúc Ba Mẹ tôi còn hàn vi cũng nhờ ông Đốc lúc đó mở phòng mạch cưu mang một thời gian.

                Mẹ tôi thường cho tài xế đi đón các chị con bác Phán từ Hải Dương ra Hải Phòng chơi, và mỗi lần như vậy thì Mẹ tôi lại dắt các chị đi mua sắm áo quần, vòng vàng, giầy dép đủ thứ, và được đi ăn ở những hiệu ăn sang trọng nữa nên các chị rất quý mến Mẹ tôi.

                Khi quyết định di cư vào Nam thì Ba Mẹ tôi để lại hết ngôi dinh thự này cùng tất cả tài sản xe cộ cho gia đình người chị ruột là bác Phán vì bác trai không muốn bỏ xứ ra đi. Vì lý do đó mà gia đình bác Phán nhất là các chị vẫn mang ơn Ba Mẹ tôi, các chị gọi Ba Mẹ tôi là Cậu Mợ nhưng mà thương cũng như Bố Mẹ ruột mình vậy.

                Khi Mẹ tôi nhờ chị Liên đi dò đường trước để vào trại thăm tôi thì chị nhận lời ngay dù là lúc đó dân chúng ngoài Bắc họ rất sợ dính vào chính trị nhất là di thăm tù chính trị từ trong Nam.

                Đến khi Mẹ tôi và em Tuyết kế tôi ra Bắc thăm tôi lần đầu tiên thì các chị con bác Phán đón tiếp Mẹ tôi như bà hoàng.

                Các chị hỏi Mẹ tôi thích ăn gì để đãi cơm, Mẹ tôi nghĩ Hà Nội cũng như Sài Gòn nên nói là bún chả. Báo hại các chị chạy khắp Hà Nội để mua ít than quả bàng về mới quạt được mẻ thịt nướng. Khi biết ra thì Mẹ tôi cứ xin lỗi mãi vì có ra tận ngoài Bắc thì mới hiểu được cái nghèo khổ thiếu thốn và sự túng quẫn nó như thế nào mà người dân đã phải sống dưới chế độ XHCN từ năm 1954 đến bấy giờ là một chín bẩy chín.

                Trong thời gian tôi ở tù kể ra thì cũng có nhiều quý nhân giúp đỡ ngoài các anh chị con bác Phán. Một ông anh rể bên vợ tôi lúc đó ở Hà Nội cũng vào thăm tôi và nói thẳng rằng:

                -"Anh có bạn quen ở Bộ Nội Vụ và anh có nhờ họ xem dùm hồ sơ của em và thấy ghi trên đó là CIA." Anh ngừng một chút rồi nói tiếp:

                -"Anh vào thăm em lần này để cho em biết, nếu không lo thì anh sợ em sẽ phải ở rất lâu đấy. Em hãy nói với Mẹ em đi nếu chịu thì anh sẽ lo cho."

                Tôi nhìn anh một lát. Lúc đó tôi đã gập Thầy Tâm là người thầy đã dậy cho tôi về đạo Phật và về nghiệp lực. Trong lòng tôi suy nghĩ rất nhanh, tôi bèn nói với anh:

                -"Cám ơn anh đã vào thăm em. Em biết ở nhà em bây giờ bán hết rồi các xe cộ và cả các bộ vest cũng bán luôn. Mẹ em thì chẳng còn tiền sau khi anh Hai và cậu em út của em đi vượt biên bị bắt lại. Thỉnh thoảng Mẹ em gom được ít tiền gửi qua bưu điện vào đây cũng là quý lắm rồi, làm gì còn "cây" nào nữa đâu mà "chạy". Họ nghi em là CIA thì đành chịu thôi biết làm sao”.

                Tôi vào trại kể lại cho thầy Tâm nghe, thầy nói tôi đã quyết định như thế là đúng và cứ chuyên tâm niệm Phật. Từ đó tôi kiên nhẫn đếm từng ngày qua đi trong bốn bức tường trong khi học hỏi thêm về đạo Phật, quan sát nhận xét và thâu thập kinh nghiệm qua những người bạn tù mà tôi quý mến.

                Các điều chúng tôi phán đoán việc thả nhanh hay chậm là do lý lịch chứ không do "cải tạo" tốt hay xấu dần dần càng sáng tỏ.

                Có những anh vừa bị kỷ luật xong thì vài bữa sau có tên tha về, cho nên sự tuyên truyền của họ về "khoan hồng", về "cải tạo" thành người công dân tốt đều tan ra mây khói. Không còn ai tin nữa; và anh em mỗi người đều tự cố gắng giữ gìn sức khỏe cho con đường lưu đầy còn dài thăm thẳm trước mắt.

                Đến lúc đó thì chúng tôi mới bàng hoàng nhận ra một sự thực đau lòng là mình trước kia chống Cộng mà kết cuộc lại thì chính mình cũng không hiểu Cộng Sản là như thế nào.

                Nếu biết thực chất của Cộng Sản tàn bạo, vô tổ quốc, vô tôn giáo và vô dân tộc và người Cộng Sản chỉ cần có cái chủ nghĩa xã hội của họ mà thôi thì chúng tôi sẽ chiến đấu đến cùng chứ không chịu nghe theo lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh để rơi vào tay họ như thế này.

                Phạm Gia Đại
                (Trích hồi ký NHỮNG NGƯỜI TÙ CUỐI CÙNG )

                https://www.facebook.com/photo.php?f...&theater&ifg=1

                Comment


                • Chuẩn Tướng Trần Quốc Lịch (phần I)

                  Chuẩn Tướng Trần Quốc Lịch
                  Ngày N Của Lữ Đoàn 2 Dù

                  khieulong


                  Chuẩn Tướng Trần Quốc Lịch

                  Lữ đoàn trưởng Trần Quốc Lịch và 5 tiểu đoàn Nhảy Dù tại mặt trận Quảng Trị Hè 1972

                  Như Việt Báo (VB) đã trình bày trong bài viết về cuộc chiến Mùa Hè 1972 tại Quảng Trị, vào đầu tháng 5/1972, trước áp lực nặng nề của 3 sư đoàn Cộng quân, lực lượng bộ chiến VNCH tại phòng tuyến Quảng Trị đã triệt thoái khỏi thị xã tỉnh lỵ để bảo toàn lực lượng. Ngay sau đó, Lữ đoàn 368 Thủy quân Lục chiến đã lập phòng tuyến tại bờ Nam sông Mỹ Chánh nhằm chận đứng cuộc tiến quân của CSBV. Ngày 8 tháng 5/1972, bộ Tổng tham mưu QL/VNCH đã điều động 5 tiểu đoàn Nhảy Dù thống thuộc quyền điều động của Đại tá Trần Quốc Lịch, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 2 Nhảy Dù tăng viện cho lực lượng phòng thủ tuyến bờ Nam sông Mỹ Chánh mà cầu chính bắc ngang sông này nằm trên Quốc lộ 1 cách thị xã Quảng Trị khoảng 20 km đường bộ về hướng Nam của tỉnh lỵ này. Trước khi tiếp ứng cho mặt trận Trị-Thiên, Lữ đoàn 2 Nhảy Dù dưới quyền chỉ huy của Đại tá Trần Quốc Lịch đã tham chiến tại chiến trường Bắc Kontum từ giữa tháng 3/1972 đến ngày 20 tháng 4/1972, sau đó về Sài Gòn để tái chỉnh trang, chuẩn bị hành quân ra phía Bắc Quân khu 1.

                  Đại tá Trần Quốc Lịch, xuất thân khóa 4 phụ Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, phục vụ tại binh chủng Nhảy Dù từ khi mới ra trường, lần lượt giữ các chức vụ chỉ huy cấp đại đội, tiểu đoàn (tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3 Nhảy Dù), lữ đoàn. Tháng 9/1972, Đại tá Trần Quốc Lịch được bổ nhiệm giữ chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh, được thăng Chuẩn tướng vào đầu tháng 11/1972, tiếp tục giữ chức vụ nói trên đến tháng 11/1973. Sau đây là bài viết về trận chiến của 5 tiểu đoàn Nhảy Dù tại quận Hải Lăng, Quảng Trị, do Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 2 Nhảy Dù Trần Quốc Lịch chỉ huy. Phần này dựa theo chiến sử của Sư đoàn Nhảy Dù, bài viết của cựu Trung tướng Ngô Quang Trưởng dành cho Trung tâm Quân sử Lục quân Hoa Kỳ, tài liệu của tác giả Trương Dưỡng, một số bài viết trong KBC và tài liệu riêng của VB.

                  Phòng tuyến của Lữ đoàn 2 Nhảy Dù

                  Sau khi đến Huế, toàn bộ Lữ đoàn 2 Nhảy Dù đã được giao trách nhiệm phòng ngự hướng Tây của bờ Nam sông Mỹ Chánh. Vào giữa tháng 5/1972, Cộng quân đã mở nhiều đợt tấn công bằng chiến xa và bộ binh vào tuyến phòng thủ của đại đội 111 thuộc Tiểu đoàn 11 Nhảy Dù nhưng đã bị thảm bại: nguyên 1 tiểu đoàn chiến xa và 1 tiểu đoàn chủ lực của CQ bị loại ra khỏi trận chiến.

                  Đầu tháng 6/1972, Cộng quân lại mở trận trận tấn công vào cụm tuyến phòng thủ của toàn Tiểu đoàn 11 Nhảy Dù bằng chiến xa và bộ binh. Sở dĩ các chiến xa của CQ qua sông dễ dàng là vì công binh địch quân đã làm một cầu ngầm, nước chỉ sâu đến cổ chân, với độ dốc bờ sông khoảng 30 độ. Cộng quân núp sau các chiến xa xe T 54, PT 76 và thủy xa BRT-85 cố tiến về tuyến phòng thủ của Nhảy Dù. Ngay trong đợt đầu, binh sĩ Nhảy Dù đã hạ ngay 2 chiếc T 54 bằng súng chống chiến xa M 72 và XM 202 bốn nòng.

                  Để triệt hạ hỏa lực chiến xa của CQ, Thiếu tá Lê Văn Mễ, tiểu đoàn trưởng 11 Nhảy Dù đã yêu cầu Pháo binh tác xạ đầu đạn chạm nổ, từ trên không chụp xuống, với phương thức hỏa yểm này, có thêm 2 chiến xa CQ bị bắn cháy, thành phần CQ tùng thiết phải rút về hướng bờ sông. Đoàn chiến xa còn lại của CQ cũng tháo chạy trong hỗn loạn, đã đâm húc vào nhau, nhiều chiếc bị lật trên sông. Thấy đối phương hốt hoảng lui binh, tiểu đoàn trưởng 11 Nhảy Dù cho lệnh binh sĩ rượt theo truy kích. Các chiến binh Nhảy Dù phóng nhanh ra khỏi các hố chiến đấu, đuổi theo địch quân qua khỏi bờ sông phía Bắc mới quay trở lại.

                  Trong trận đánh này, trên 100 Cộng quân bị hạ, 5 bị bắt tại trận. Theo cung từ, những tù binh này thuộc trung đoàn 66 CSBV. Về chiến xa CQ có 4 bị bắn cháy, 7 chiếc bị bỏ lại sau khi các tổ Cộng quân trên xe đã nhảy xuống chạy về hướng sông, 9 chiến xa bị lật nghiêng ở gần bờ. Chỉ trong vòng 16 ngày, tiểu đoàn 11 Nhảy Dù đã bắn cháy 46 chiến xa (số chiến xa trang bị cho hơn 2 tiểu đoàn thiết giáp CQ), riêng trong trận chiến giữa tháng 5/1972, tiểu đoàn này đã bắn cháy 26 chiến xa T54. Về phía lực lượng Nhảy Dù, tiểu đoàn 11 bị tổn thất 20 chiến binh, trong đó có thiếu úy Trần Văn Lý. Sau đó, bộ chỉ huy tiểu đoàn đã đặt tên anh cho ngọn đồi vừa xảy ra trận đánh.

                  Ngày N của cuộc phản công

                  Ngày 28 tháng 6/1972, trong kế hoạch phản công tái chiếm Quảng Trị, Lữ đoàn 2 Nhảy Dù điều động 5 tiểu đoàn tiến quân ở phía trái của Quốc lộ 1 về hướng Tây, (Thủy quân Lục chiến ở phía phải về hướng Đông). Theo kế hoạch, đúng 5 giờ sáng ngày nói trên, tiểu đoàn 1 và tiểu đoàn 2 Nhảy Dù đã vượt sông Mỹ Chánh. Bị tấn công bất ngờ, Cộng quân ở bờ sông phía Bắc đã kháng cự yếu ớt và sau đó tháo chạy về tuyến sau, bỏ lại nhiều vũ khí nặng, trong đó có cả các giàn pháo phòng không trang bị đại bác 57 ly có ghế ngồi cho xạ thủ quay vòng để bắn. Tiểu đoàn 1 Nhảy Dù do Thiếu tá La Trinh Tường chỉ huy, đã tịch thu được 14 xe phòng không và nhiều vũ khí cá nhân và cộng đồng khác, bắt tại trận 5 tù binh.

                  Cánh quân của tiểu đoàn 2 Nhảy Dù do Thiếu tá Nguyễn Đình Ngọc chỉ huy, vượt sông ở phía trái đã tấn công ngay vào bộ chỉ huy của trung đoàn 203 chiến xa CSBV. Trận đánh diễn ra lúc trời tờ mờ sáng, toán gác tiền đồn của CQ vừa đổi phiên thì bị một tiểu đội Nhảy Dù tấn công chớp nhoáng, cả toán tháo chạy. Cùng lúc đó, hai đại đội của tiểu đoàn 2 Nhảy Dù đánh thẳng vào tuyến phòng thủ của đơn vị CQ bảo vệ bộ chỉ huy. Vừa tràn vào mục tiêu, chiến binh Nhảy Dù xung phong triệt hạ các cụm kháng cự chính. Bị tấn kích bất ngờ, toàn cụm tuyến phòng ngự của địch quân bị vỡ, cả đơn vị bảo vệ và thành phần chỉ huy hốt hoảng chạy về tuyến sau, bỏ lại 3 chiến xa T 54 máy vẫn đang nổ và đèn còn chiếu sáng. Tiểu đoàn 2 Nhảy Dù này đã tịch thu được hơn 10 khẩu súng cối 61 và 82 ly còn đang để nguyên tại vị trí trên tuyến bố phòng của địch quân. Hai ngày sau, các chiến xa này được binh sĩ Nhảy Dù lái đưa về căn cứ Quyết Thắng (bộ tư lệnh hành quân Sư đoàn Nhảy Dù) ở cây số 17 trên đoạn từ Huế ra Quảng Trị.

                  Ngày 1 tháng 7/1972, cuộc hành quân của lữ đoàn 2 Nhảy Dù bước vào giai đoạn 2. Tiểu đoàn 9 và tiểu đoàn 11 Nhảy Dù được trực thăng vận đổ quân xuống phía Bắc sông Nhung, con sông nhỏ này chạy qua Trường Phước, Mai Đằng, Thượng Xá để vào sông Thạch Hãn (sông chính đi ngang thị xã Quảng Trị). Trong cuộc tiến quân này, tiểu đoàn 11 Nhảy Dù tiến quân ở phía phải, tiểu đoàn 9 ở phía phía trái. Sau đó, tiểu đoàn 7 Nhảy Dù cũng nhập trận để cùng với đơn vị bạn triệt hạ các cụm tuyến phòng ngự của CQ bên bờ sông Nhung.

                  Trong 3 ngày liên tiếp kể từ khi xuất quân, các cánh quân Nhảy Dù ở phía Tây quận Hải Lăng đã đụng độ với các đơn vị Cộng quân cơ động sư đoàn 304 CSBV. Do nhiều khu vực trọng yếu của quận Hải Lăng bị Cộng quân chiếm giữ từ ngày 2 tháng 5/1972 sau khi Quảng Trị thất thủ, nên đối phương đã bố trí quân trấn đóng ở các xã gần quốc lộ 1, đoạn từ Trường Sanh ra Diên Sanh, với hệ thống công sự kiên cố và giao thông hào liên hoàn quanh vòng đai Diên Sanh, quận lỵ quận Hải Lăng. Tại nhiều vị trí, chiến binh Dù đã đánh cận chiến với binh lính CSBV để chiếm mục tiêu. Không quân đã yểm trợ mạnh cho các đơn vị Dù trong các trận giao tranh quyết liệt với Cộng quân từ sáng đến tối. Tuy nhiên, hệ thống phòng không của Cộng quân dày dặc, khiến việc tiếp tế tải thương của các các phi đội trực thăng VNCH gặp nhiều khó khăn.

                  Mục tiêu trọng điểm đầu tiên của lữ đoàn 2 Nhảy Dù là tái chiếm quận lỵ Hải Lăng, quận cực Nam của tỉnh Quảng Trị. Từ đó, theo lệnh của lữ đoàn trưởng Trần Quốc Lịch, các đơn vị Nhảy Dù tiến về thị xã Quảng Trị theo kế hoạch tấn công như sau: một đơn vị sẽ tái chiếm khu vực La Vang ở phía Tây, một cánh quân thứ hai sẽ tiến vào ngã ba Long Hưng gần thị xã, để tái chiếm quận lỵ Mai Lĩnh. Riêng mục tiêu ở phía Tây, nỗ lực chính là Tiểu đoàn 11 Nhảy Dù. Đơn vị này được lệnh phải tái chiếm La Vang, cách thị xã Quảng Trị khoảng 5 km về phía Tây.

                  Ngày 1 tháng 7/1972, các đơn vị Dù còn cách thị trấn Diên Sanh (quận lỵ quận Hải Lăng) khoảng 3 km. Để tiến vào Diên Sanh, lữ đoàn 2 Dù phải triệt 2 trung đoàn Cộng quân đang bố trí trên một phòng tuyến có chiều ngang hơn 4 km. Để cản bước tiến của Nhảy Dù, Cộng quân đã pháo liên tục vào lộ trình tiến quân. Khi các đơn vị Dù dừng lại bố trí, thì súng cối của Cộng quân từ các vị trí ở tuyến sau bắn dồn dập, làm thành một hàng rào pháo chận phía trước. Đồng thời Cộng quân đã điều động 1 tiểu đoàn đặc công tổ chức các cụm chốt chận cách Diên Sanh khoảng 2 km về hướng Nam quận lỵ. Cứ thế trận chiến kéo dài đến suốt ngày 1 tháng 7/1972. Với kinh nghiệm trận địa chiến và được sự yểm trợ của Pháo binh và Không lực Việt-Mỹ, lữ đoàn Nhảy Dù đã phá được một số vị trí tiền tiêu của Cộng quân.

                  Đến tối ngày 1 tháng 7/1972, một đơn vị của lữ đoàn 2 Nhảy Dù đã chiếm được một số công sự phòng ngự của địch. Tuy nhiên các ngõ yết hầu trọng điểm tiến vào quận lỵ vẫn còn bị CQ tổ chức chốt chận cố thủ. Cộng quân tiếp tục pháo súng cối vào khu vực bố trí quân của các đại đội Nhảy Dù. Để giành thế chủ động, lực lượng Nhảy Dù đã mở cuộc tấn kích đêm. Giao tranh đã diễn ra ác liệt dưới ánh hỏa châu soi sáng của Không quân Việt-Mỹ. Ngày 2 tháng 7, lực lượng Lữ đoàn 2 Nhảy Dù đã làm chủ chiến trường.

                  vietbao.com
                  khieulong

                  Comment


                  • Chuẩn Tướng Trần Quốc Lịch (phần II)

                    Tổng thống Nguyễn-văn-Thiệu bán vũ khí cho Việt cộng
                    và nỗi oan khiên của Chuẩn tướng Trần-quốc-Lịch

                    Nguyễn Văn Tín

                    Chuẩn Tướng Trần Quốc Lịch, thời kỳ nắm chức Tư Lệnh Sư Đoàn 5 sau Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, bị qui tội cho một đoàn xe chứa đựng quân trang, quân cụ bán cho Việt Cộng ở vùng tỉnh Phước Long. Ông bị đưa ra tòa án quân sự, bị giáng xuống chức đại úy và bị cầm tù cho đến ngày mất nước.


                    Chuẩn Tướng Trần Quốc Lịch

                    Đầu đuôi câu chuyện không đơn giản như người ta từng biết. Hai người nhân chứng và nạn nhân của sự vụ còn sống là Chuẩn Tướng Trần Quốc Lịch, hiện sống ở California và Thiếu Tá Nguyễn Văn Tước, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 5 Tiếp Vận, hiện sống tại Falls Church, Virginia. Độc giả có thể kiểm chứng sự thể với hai người này. Đại Tá Nguyễn Chí Hiếu, phụ tá của Tướng Lịch, vì dính líu vào vụ này, bị phạt giáng xuống cấp bậc thiếu úy thì đã mất ngày 5 tháng 12 năm 2007 tại Canada.


                    Đại Tá Nguyễn Chí Hiếu

                    Tại sao Chuẩn Tướng Lịch lại to gan giám phạm một tội tầy trời như vậy: bán súng ống cho địch. Vào thời đó, người ta nghĩ là ông cần tiền để nuôi bệnh cờ bạc của ông. Nhưng sự thật không phải vậy. Ông làm vậy là làm kinh tài cho phe nhóm tham nhũng của Tổng Thống Thiệu. Người đưa môi giới cho đoàn công voa này là bà Sáu Huyết, một bà cô của Tổng Thống Thiệu.

                    Việc chuyển giao hàng quốc cấm này được nhân viên Phòng 7/ Tổng Tham Mưu theo dõi chụp hình. Các hình ảnh tang chứng được giao cho Đại Tá Lưu Yểm, Tỉnh Trưởng Phước Long. Đại Tá Lưu Yểm không thông báo cho Quân Đoàn III mà báo cáo thẳng lên Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm là cậu của Đại Tá Yểm.


                    Đại Tá Lưu Yểm

                    Sau khi sự việc đổ bể, Chuẩn Tướng Lịch ̣được Tổng Thống Thiệu bao che không bị đưa ra tòa mà chỉ bị thuyên chuyển về làm Chánh Thanh Tra Quân Đoàn IV.

                    Bẵng đi gần một năm, một hôm, sĩ quan chánh văn phòng thông báo cho Chuẩn Tướng Lịch là có Tổng Thống gọi điện thoại muốn nói chuyện. Chuẩn Tướng Lịch trước khi bốc điện thoại văng tục và gọi Tổng Thống là “thằng hời” (thằng chàm). Ngay sau đó, Chuẩn Tướng Lịch bị đưa ra tòa án quân sự xử vụ buôn bán vũ khí cho địch xảy ra từ năm xưa trước.

                    Chắc là Chuẩn Tướng Lịch phải lấy làm ngạc nhiên khi đọc những hàng chữ này, sao mà – ngoài ông và chánh văn phòng của ông - có một người thứ ba nghe được ông xúc phạm đến Tổng Thống, khiến cho ổng nổi cơn thịnh nộ trả thù vặt một cách thật là quá oan uổng.

                    Nguyễn Văn Tín
                    Ngày 30 tháng 6 năm 2015
                    generalhieu.com
                    Nguồn:
                    http://www.generalhieu.com/lich_oan_khien-u.htm

                    Comment


                    • VNAF Class 72A ✈

                      VNAF Class 72A
                      Last edited by BachMa; 06-01-2019, 03:38 AM.

                      Comment


                      • Ðôi Mắt Phượng

                        Ðôi Mắt Phượng
                        Nguyễn đạt Thịnh


                        Hình minh họa

                        Tôi là một quân y sĩ ra trường năm 1974; đơn vị đầu tiên, cũng là đơn vị cuối cùng của tôi, là một tiểu đoàn Nhẩy Dù. (Xin bạn đọc cho phép tôi được bất chấp văn phạm, viết hoa hai chữ “Nhẩy Dù”, vì đó là những chữ tôi thương yêu nhất.)

                        Tôi lập gia đình năm 22 tuổi, ngày còn là một sinh viên quân y. Mẹ tôi bảo “chờ ra trường, có việc làm, có lương nuôi vợ, rồi hẵng cưới vợ.” Tôi biết mẹ tôi có lý, nhưng tình yêu cũng không vô lý. Tình yêu thúc dục tôi cưới Phượng ngay. Nàng quá đẹp! Thằng Quỳnh, thằng Khương, thằng Ðịnh, những đứa bạn cùng lớp bảo tôi, “Phượng đẹp ngây ngất.”

                        Phượng là nữ sinh đệ nhất Trưng Vương; nàng cũng yêu tôi nhưng xin một năm đính hôn để học hết trung học. Tôi chờ. Một năm dài được chia thành 52 tuần lễ ngắn hơn, đánh dấu bằng 52 ngày chủ nhật chúng tôi gặp nhau.

                        Không phải là một nhà văn, tôi không mô tả được nét đẹp của Phượng. Tôi chỉ biết là Phượng rất đẹp, và nhất là có một sức hút dễ sợ; chỉ cần gặp Phượng một lần là không người đàn ông nào quên được nàng.

                        Xin đừng hiểu lầm Phượng là “típ” người nở nang, ăn mặc khêu gợi. Sức hút của Phượng là sức hút ngầm do duyên dáng, do tình ý, chuyển đi từ đôi mắt. Ðôi mắt thật là tình. Mẹ tôi phán là đôi mắt lẳng lơ. Tôi không thích hai chữ này vì nó làm mất đẹp cặp mắt trữ tình của Phượng.

                        Trước hôn nhân tôi mê mệt với đôi mắt ấy. Sau hôn nhân tôi khổ sở, bực bội cũng vì đôi mắt ấy. Không một người đàn ông nào, dù chỉ gặp Phượng lần đầu, không có cảm tưởng đã yêu nàng và tình yêu của họ không bị nàng hất hủi. Ít nhất Phượng cũng không xua đuổi, không vô tình với họ. Tôi mất một số bè bạn cũng vì Phượng, vì một vài lần gặp Phượng, chạm mắt với Phượng cũng đủ để họ thầm nghĩ là tôi đã mọc sừng.

                        Dĩ nhiên vợ tôi không thể có tình ý với tất cả mọi người, nhưng cái khổ là đôi mắt đắm đuối của Phượng không nhìn mọi người một cách thản nhiên như người ta nhìn những vật vô tri quanh mình.

                        Giờ này, vợ tôi không còn trên cõi đời trần tục nữa tôi mới thấm thiá hiểu được một việc rất giản dị, rất tầm thường là không tạo ra đôi mắt của chính mình. Phượng không có trách nhiệm gì về những đổ vỡ đôi mắt gây ra. Chỉ có tác giả đôi mắt đó, ông Thợ Tạo, mới đúng là người tôi oán trách.

                        Ði đôi với cặp mắt tình tứ là một đồng tiền rưỡi (một ở bên má trái, và một nửa ở cạnh môi dưới) trên khuôn mặt tươi như hoa, trắng mỏng manh. Cái đồng tiền rưỡi ấy, dù chỉ có đồng rưỡi, cũng đủ ma lực giết người. Xin hiểu hai chữ “giết người” theo nghĩa trắng của nó. Chỉ riêng tôi biết cũng đã có 2 người chết đuối trong cái vũng thịt sâu không đầy nửa ly này.

                        Một trong 2 người xấu số là bạn thân của tôi. Nó tự bắn vỡ toang đầu ngay trên bậc cửa nhà tôi. Lá thơ tuyệt mạng trong túi nó chỉ có mấy chữ “hình dung em đang nằm trong tay một người đàn ông khác, anh không còn can đảm sống nữa.” Tôi cũng không bao giờ đủ can đảm để tìm hiểu xem vợ tôi có nằm trong vòng tay nó không. Hai giòng chữ nó viết không cho phép tôi hiểu khác được.

                        Tôi chạy trốn trước mọi ngờ vực. Tôi quan niệm đã không tránh được bão cát thì thà vùi đầu xuống cát để không còn biết tới giông bão bên ngoài nữa. Tôi hèn nhát? Có thể, nhưng tôi làm gì hơn được? Không chỉ yêu thương vợ, tôi vẫn còn say mê vợ tôi sau 3 năm chăn gối.

                        Mẹ tôi, chị tôi đề quyết vợ tôi đã cho tôi ăn bùa mê, thuốc lú. Tôi hiểu quan điểm những người thân của tôi. Tôi hiểu cả định mệnh của tôi, của vợ tôi, và của cả những người say mê vợ tôi nữa.

                        Tôi vừa nói tôi hiểu định mệnh của vợ tôi. Ðiều đó cần được giải thích rõ hơn. Đôi khi tôi nghĩ Phượng cũng đáng trách, nhưng trong đa số những đổ vỡ quanh nàng, Phượng chỉ thụ động, đáng thương. Phượng sợ và tránh né tất cả mọi gặp gỡ. Những buổi liên hoan của đơn vị tôi, những cuộc họp khóa, họp bạn của tôi, luôn luôn Phượng cáo bệnh hay tìm cớ bận con để không tham dự.

                        Cũng như tôi, Phượng sợ hậu quả của những cuộc giao tiếp, sợ cái bản chất đa cảm, đa tình của chính mình. Không phải là một người đàn bà trắc nết, vợ tôi thật sự chỉ là nạn nhân của bản ngã.

                        Sở dĩ tôi phải dài lời nói về vợ tôi như vậy, là để người đọc hình dung được cái ray rứt, khổ sở của tôi trong 14 tháng tù khổ sai được cộng sản đánh bóng bằng hai chữ “cải tạo.”

                        Cũng như mọi sĩ quan cấp úy khác, tôi bị cộng sản lừa bằng cách chơi chữ. Trên đài phát thanh, chúng kêu gọi binh sĩ trình diện và đem theo 3 ngày ăn. Sau 3 ngày học tập, thành phần binh sĩ được ra về yên ổn. Tiếp theo đó, chúng kêu gọi các sĩ quan cấp úy trình diện với 10 ngày tiền ăn. Chúng tôi tin tưởng, hoặc ít ra chúng tôi cũng mong mỏi là thời gian cải tạo chỉ kéo dài 10 ngày. Ðó là cái lầm của tôi, cái ảo tưởng đưa đến chỗ tự diệt của mọi cán bộ chỉ huy.

                        Cộng sản hiểu rằng mặc dù nhất thời thất trận, lực lượng quân sự của miền Nam vẫn còn là một đe dọa nghiêm trọng đối với nền thống trị mà lúc ấy chúng mới rắp tâm đem đặt lên lưng người dân Nam Việt. Một triệu quân nhân bị đặt vào hoàn cảnh thất thế vì những lừa đảo, phản phúc chính trị, những dốt nát chiến lược đã bị những mũi dùi tấn công của 15 sư đoàn Bắc Việt xé thành từng mảng nhỏ. Muốn ngăn ngừa sự kết hợp lại của những mảng quân lực, cộng sản chủ trương đánh vỡ đầu rắn: chúng phải tiêu diệt bằng mọi giá hệ thống cán bộ chỉ huy của QLVNCH. Trong 3 ngày học tập, chúng đối xử hết sức nhã nhặn lễ độ với anh em hạ sĩ quan, binh sĩ. Không một hình thức hành hạ giam cầm, không một lời nói nặng, một đe dọa.

                        Sau 3 ngày học tập binh sĩ đem loan truyền với chúng tôi cái tin tưởng học tập qua loa, ra về đúng kỳ hạn. Ðiều đó làm đa số sĩ quan cấp úy chúng tôi yên lòng khăn gói lên đường với 10 ngày tiền ăn. Nhiều anh lười, không đem theo cả mùng mền, tính ngủ nhờ với bạn bè cũng đủ qua khoảng thời gian 10 ngày ngắn ngủi.

                        Dĩ nhiên là chúng tôi đã lầm. Chỉ ngay sau khi cái bẫy xập xuống đầu chúng tôi, cộng sản trắng trợn vứt bỏ mặt nạ “đại đoàn kết dân tộc, xóa bỏ hận thù.”

                        Bài học đầu tiên chúng tôi được nghe qua giọng nói hằn học căm hờn của một anh cán bộ quản giáo Bắc Việt. Anh ta oang oang bảo chúng tôi, “Các anh quên hết địa vị xã hội của các anh đi. Kể từ ngày hôm nay, vợ con các anh sẽ ngửa tay xin nhân dân từng hột cơm và vài tháng sau vợ các anh chỉ còn nước đi làm đĩ để sống.”

                        Chúng tôi thắc mắc về thời gian 10 ngày, hắn cười khẩy, vẻ mặt câng câng, đểu cáng, “Các anh chỉ có 10 ngày ăn thôi ư? Ðừng lo, cứ ăn hết 10 ngày đó đi đã. Sau đó ăn bám vào sức sản xuất của nhân dân.”

                        Trước mỗi cửa phòng giam, cộng sản cắc cớ bắt chúng tôi phải dán lên khẩu hiệu “Không có gì quý bằng độc lập, tự do.” Cán bộ Việt Cộng còn phụ giải “người đi trên sa mạc thấy không có gì quý bằng nước uống. Các anh sẽ thấy đối với các anh thì không có gì quý bằng tự do.”

                        Ðề cao cái giá của tự do trong nhà giam quả là việc làm vừa châm biếm, vừa độc ác. Nhưng không phải chỉ trong nhà giam tôi mới thấm thía hiểu tự do là quý. Sau này ra khỏi trại cải tạo, sống trong cái nhà giam lớn hơn là nguyên cả Miền Nam Việt Nam tôi càng thấy rõ không phải chỉ một mình tôi, mà cả 20 triệu người dân Nam Việt đều đang khắc khoải giữa sa mạc thống trị, thèm khát ngụm nước tự do.

                        Xin trở lại với trại cải tạo và với vợ tôi. Tôi bị giam 2 tháng hơn thì một buổi chiều nghe loa gọi lên văn phòng. Tôi tái người, nghĩ ngay đến những vụ thủ tiêu, biệt giam, thường xẩy ra đối với những thành phần cộng sản gọi là ngoan cố.

                        Bản chất hiền lành, tôi không ra mặt chống đối bọn giảng viên, quản ngục. Cái tội của tôi chỉ là không nuốt trôi được mớ lý thuyết rẻ tiền, lẩm cẩm của cộng sản. Nhưng đối với chúng, đó không phải là một khinh tội. Tôi lo lắng chờ đợi một hình thức trừng phạt vì trọng tội trí thức.

                        Lên đến văn phòng, tôi được một anh binh ba Bắc Việt, mặt non choẹt, đưa vào phòng chính ủy. Và tôi đã chết đứng khi thấy Phượng trong đó.

                        Giọng đầy cải lương, nhân vật số một của trại giam bảo tôi, “Xét thành tích học tập tốt của anh, nhân dân đặc biệt cho anh được nhận sự chăm nuôi của gia đình.”

                        Tôi học tập tốt? Thật là mai mỉa. Những âm thanh giảng huấn chan chát của bọn cán bộ cộng sản đối với tôi không một mảy may khác những tiếng cuốc đất trong giờ lao động sản xuất. Tôi đoán hiểu cái lý do đã khiến “nhân dân đặc biệt cho phép” tôi được nhận sự thăm nuôi của gia đình.

                        Cặp mắt nẩy lửa vì giận, tôi nhìn Phượng. Vợ tôi đã đến cái nước đi làm đĩ như bọn cộng sản tiên đoán rồi ư? Phượng cũng nhìn tôi, đôi mắt vẫn tình tứ, nhưng buồn thăm thẳm và ướt đẫm. Những giọt lệ lăn dài trên đôi má nhưng mịn màng, làm lòng tôi se thắt. Tôi thèm bước tới, ôm Phượng vào vòng tay, và hôn dài trên đôi mắt đắm đuối ấy. Nhưng dĩ nhiên ngoại cảnh không cho phép tôi làm việc tôi thường làm đó.

                        Vợ tôi nghẹn ngào, “Bé Mai nhớ anh lắm.”

                        Bé Mai! Ðứa con gái 2 tuổi của tôi, báu vật của vợ chồng tôi! Tôi đứng khựng như trời trồng trước cái hình ảnh nhỏ bé, thương yêu mà vợ tôi vừa gợi ra.

                        Suốt 10 phút gặp gỡ, tôi không nói được một lời nào với Phượng cả. Cổ họng tôi nghẹn cứng, rồi bên tai tôi văng vẳng thật xa có tiếng nói của tên chính ủy: “Thôi, xách đồ ăn về phòng đi, tuần sau lại được thăm nuôi nữa.”

                        Ðêm đó tôi không chợp mắt. Tôi hình dung những chuyện đã xẩy ra giữa vợ tôi và tên chính ủy cộng sản trước khi tôi được dẫn vào và sau khi tôi bị đưa ra khỏi văn phòng hắn. Tôi không tin đã có gì quá đáng trong phòng làm việc. Nhưng sau đó hắn có thể đến nhà tôi hay bảo vợ tôi đến một chỗ nào đó.

                        Tuần sau và những tuần kế tiếp, Phượng đều đều đến thăm tôi, mỗi lần đem theo một món ăn mà trước kia tôi ưa thích. Tôi nuốt những món khoái khẩu mà có cảm tưởng như mình đang ăn rơm khô, không mùi, không vị. Mỗi lần thăm viếng chúng tôi được nói chuyện với nhau 10 phút. Toàn những chuyện bâng quơ. Cả hai đứa chúng tôi đều không dám đả động tới điểm ngờ vực đau xót của tôi.

                        Có lần Phượng nói với tôi bằng cái giọng thiết tha nhưng nghiêm trọng, “Em chỉ xin mình tuyệt đối tin tưởng là em yêu mình. Suốt đời em, em chỉ yêu có một mình mình. Mặc dù những gì đã xẩy ra hay sẽ xẩy ra thì tình em yêu mình vẫn mãi mãi là sự thật duy nhất.”

                        Qua tâm linh, tôi biết Phượng nói thật. Tôi muốn quên những việc đáng buồn đã xẩy ra. Quên không được, tôi cố gắng bào chữa cho Phượng. Nhưng ghen tương, ích kỷ, cũng không phải là những cảm nghĩ nhỏ trong lòng người chồng.

                        Những cuộc thăm viếng kéo dài được 4 tháng thì một hôm Phượng bảo tôi, “Tuần sau em về Long Xuyên với má. Sống ở thành phố, không có sinh kế gì hết.”

                        Tôi hăng hái khuyến khích vợ tôi xa lìa Saigon . Ít nhất về ruộng sống với mẹ Phượng cũng đỡ phải lo 2 bữa ăn hàng ngày, cái lo to lớn của người thị dân sau ngày bị giải phóng.

                        “Mỗi tuần được gặp em là niềm an ủi lớn cho anh,” tôi bảo vợ. “Nhưng cái nhìn ngờ vực, khó chịu của 2,000 anh em đồng đội, đồng cảnh trước việc anh được ưu đãi làm anh khổ sở. Anh muốn chịu chung những đầy ải với họ.”

                        Tuần sau Phượng không đến thăm tôi nữa. Cuộc sống khổ sai không hạn định trở thành dài hơn vì thiếu sự chia cắt của những tiêu mốc ngắn hạn. Tôi trở lại vị trí của cái máy người, vô tri giác, không phản ứng, bảo đi thì đi, bảo học thì học, bảo lao động thì lao động.

                        Những bạn nào đã sống trong trại cải tạo của Việt Cộng hẳn đồng ý với tôi là cộng sản đã thành công trong việc làm chúng tôi mất hết tri giác. Không vui, không buồn, không hy vọng, thất vọng, không mong chờ bất cứ một điều gì nữa. Cuộc sống hàng ngày như một bộ máy được điều động bằng những tiếng còi, những khẩu lệnh. Phần ăn quá đói làm tất cả chúng tôi tìm được cái khôn ngoan của loài vật: không làm một cử động thừa, không nói một câu thừa để không phí phạm bất cứ một phần thật nhỏ nào cái sinh lực còn le lói trong xác người.

                        Chính trong trạng thái vật vờ của một xác chết chưa chôn ấy, tôi nhận được giấy phóng thích. Cầm tờ giấy chấm dứt cuộc sống tù ngục của mình trong tay, tôi dửng dưng như cầm một tờ truyền đơn học tập. Nói dửng dưng cũng vẫn chưa đúng. Tôi không ý thức được những thay đổi tờ giấy mang lại cho tôi. Nhẩn nha nhơi từng hột bắp của bữa ăn trưa đói khổ, tôi nghe cơ thể khoan khoái với chút bồi dưỡng ít oi. Trái bắp có trong tay vẫn quý hơn hai chữ “tự do” mới viết trên giấy.

                        Một cán bộ bảo tôi, “Chiều nay anh khỏi lao động. Về sửa soạn nóp, chén trả lại nhà kho.”

                        Khỏi lao động, một tin mừng khác. Tôi trở về căn phòng giam hôi hám nhưng mát rượi như một thiên đàng so sánh với cái hỏa ngục lao động sản xuất mà các bạn tôi đang chịu đựng ngoài trời.

                        Bốn giờ chiều, Phượng đón tôi ngoài cổng trại giam. Người vợ đài các của một bác sĩ mặc cái áo bà ba vải bông và cái quần đen, đứng vịn một chiếc xe đạp đàn ông cũ kỹ. Có thể tôi sẽ ít ngỡ ngàng hơn nếu từ trong thế giới tù ngục bước ra được gặp lại thế giới cũ của mình với xe honda, với áo dài. Tôi đang bước vào một thế giới hoàn toàn khác lạ sau chưa đầy 2 năm mất nước.

                        Thế giới bên ngoài nhà tù không phải ít khe khắt, ít đọa đầy. Suốt một năm trời, tôi phải sống trong chế độ “quản chế của nhân dân”. Tôi xin giải thích những chữ văn hoa này. Chế độ “quản chế của nhân dân” có nghĩa là tôi phải làm mọi không công, phải sợ sệt tất cả mọi người. Bất cứ ai trong phường cũng có quyền phán xét là tôi chưa giác ngộ, cần học tập thêm, là tôi lại đi tù nữa.

                        Tôi cúi mặt trước tất cả mọi người, dù đó chỉ là một đứa con nít. Tôi vâng dạ, tôi tuân lệnh, không cần biết lệnh đến từ đâu. Một bà hàng xóm gọi tôi đến coi chứng bệnh cho thằng con tám tuổi. Sau khi quan sát kỹ mọi triệu chứng, tôi bảo bà là con bà bị thương hàn và không có cách nào hơn là đưa nó đi bệnh viện. Bà quắc mắt, “Anh đi học tập ra mà còn như vậy đó hả? Nhân dân có quá nhiều nhu cầu để bệnh viện thừa chỗ trống cho một đứa con nít nóng lạnh. Anh không biết cách nào khác nữa sao?”

                        Tôi đề nghị bà đừng cho con ăn gì hết để ruột không hư. Bà ta cáu kỉnh nạt, “Lang băm tư bản.”

                        Sau khi tôi về không hiểu bà có nghe lời tôi khuyến cáo không, nhưng rất may là đứa trẻ lành bệnh. Suốt nửa tháng trời tôi hồi hộp lo sợ: cái chết của đứa trẻ vì thiếu thuốc, thiếu chăm sóc có thể đưa tôi trở lại trại cải tạo như không.

                        Nguồn an ủi của tôi là số người thiếu ý thức như bà hàng xóm mà tôi vừa kể tương đối rất ít. Đa số dân Saigon sống trong một tình đoàn kết ngấm ngầm nhưng khắng khít. Một bà cụ dúi cho tôi gói gạo nhỏ qua câu nói chí tình, “Bác sĩ phải ăn thêm mới sống nổi, tôi già rồi, thiếu thốn chút đỉnh cũng không đến nỗi nào.” Bà vợ của một công chức còn đang tù tội cho tôi đôi giầy. Ông hàng xóm sát vách cho cái áo.

                        Nhưng mọi nguồn vui của tôi đến từ Phượng thì nàng cũng là nguyên nhân của mọi buồn khổ. Phượng làm đĩ ra mặt, không còn e dè gì tôi nữa cả. Vợ tôi không chỉ tống tình cán bộ cộng sản để thăm nuôi tôi nữa, mà xuống đến tận chân thang của xã hội. Mỗi ngày, vài lần, những anh phu xích lô đến gọi Phượng đi khách. Những lần đầu tiên Phượng còn ngượng với tôi, nhưng sau quen dần, nàng chỉ bảo tôi, “lát em về.”

                        Phần tôi, tôi vẫn phải tình nguyện xung phong trong mọi công tác nặng nhọc của phường như hốt rác, quét đường, trồng cây, thông cống... Tôi xung phong để được chấm điểm, xung phong để khỏi trở lại lao tù cải tạo. Ðôi khi nghĩ quẩn tôi cho rằng đi tù mà còn tự do hơn chế độ nhân dân quản chế.

                        Thêm một lần nữa, tôi tuyên dương sự thành công của cộng sản. Chúng đã hoàn toàn đập tan uy thế của giới chỉ huy, giới trí thức miền Nam . Suốt một năm ra khỏi tù, tôi không được phép làm bất cứ một việc gì cả. Nói một cách khác, tôi phải ăn bám vào đồng tiền vợ tôi ngày ngày bán thân tạo ra. Sau 31 năm, nghĩ lại tôi vẫn rùng mình khiếp sợ.

                        Tôi xin độc giả ngưng đọc một phút để hình dung cái nhục nhã của tôi, của tất cả giới trí thức miền Nam . Tôi không đủ can đảm để nói bất cứ câu gì với vợ tôi về việc làm của nàng. Cả hai chúng tôi cúi đầu, chịu phép trước guồng máy xã hội mới.

                        Nếu một ngày tù dài bằng một ngàn năm sống tự do thì 365 ngày bị trói tay, thất nghiệp, sống đói khổ dưới quyền quản chế của nhân dân, và nhìn vợ đi làm đĩ chắc phải dài hơn sự hiện hữu của cả hệ thống vũ trụ.

                        Giữa hai vợ chồng tôi nẩy sinh ra một tình trạng ngượng ngập khó tả. Ít khi tôi dám nhìn thẳng vào mắt Phượng, và gần như không bao giờ tôi dám nói với nàng chuyện gì khác hơn là những câu đối thoại tầm thường quanh sinh hoạt nho nhỏ trong nhà.

                        Thỉnh thoảng bà mẹ vợ tôi lén lút đem được ít gạo, ít thịt lên cho chúng tôi. Qua những cuộc tiếp tế lậu này, tôi khám phá thêm được một bí mật: vợ tôi không hề về Long Xuyên với mẹ như nàng đã nói với tôi. Phượng đã làm gì, ở đâu, trong 7 tháng trời tôi nghĩ nàng về quê sống với mẹ? Cả đến câu hỏi này cũng chưa lần nào tôi dám hỏi Phượng. Tôi trốn chạy một sự thật phũ phàng nào nữa đó sẽ đến, nếu Phượng phải trả lời tôi.

                        Tối 30 tháng Chín 1978, sau khi theo một anh xích lô “đi khách” về, Phượng kéo tôi vào phòng trong cùng với bé Mai. Trên bộ ván thay cho cái giường nệm đã đi vào chợ trời từ hai năm trước, Phương mở gói thịt quay ra rồi bảo tôi, “Mình ăn với em.”

                        Từ sau ngày mất nước đây là lần đầu tiên tôi lại được nhìn thấy miếng thịt quay; Phượng lăng xăng bới cơm, và vợ chồng con cái chúng tôi ăn uống ngon lành như chưa bao giờ được ăn ngon đến như thế.

                        Những đó không phải là điều ngạc nhiên duy nhất của tôi. Ăn uống xong, vợ tôi kéo từ trên đầu tủ xuống một gói giấy: bên trong là một bộ đồng phục thanh niên xung phong. Tay chân run rẩy, Phượng trải bộ quần áo lên mặt bộ ván, rồi giọng nói cũng run rẩy nàng bảo tôi, “8 giờ sáng mai, mình mặc đồng phục này đứng đón tàu ở bến Bạch Ðằng.”

                        “Ðón tầu? Ðể đi đâu?”

                        Không trả lời câu hỏi của tôi, vợ tôi chỉ lập cập nói, “Em đã đóng đủ 10 cây cho họ rồi.”

                        Mười cây vàng! Tôi choáng váng với con số lớn khiếp đảm đó.

                        “Vàng đâu mà em có đến 10 cây?” Câu hỏi buột miệng không nuốt trở vào được nữa, tôi chỉ còn biết nhìn vợ tôi, câu xin lỗi ngầm chứa trong ánh mắt. Phượng cũng nhìn tôi, đôi mắt thăm thẳm tình tứ trên khuôn mặt vẫn còn đẹp dù đã gầy đi và dạn dầy phong trần.

                        Sau một phút im lặng, nàng nghẹn ngào, “Em không biết mình có tin hay không, nhưng sự thật lúc nào em cũng yêu mình.”

                        Tôi ôm Phượng vào long. Giữa một xã hội thù hận, cái bóng mát yêu thương nhỏ bé thật là vô giá. Mặc dù Phượng chưa nói, nhưng tôi cũng đoán hiểu mục đích vượt thoát của chuyến đi ngày mai, và hiểu 10 lượng vàng, giá của chuyến đi là kết quả của những canh dài Phương đem thể xác ra cho thiên hạ dầy vò để góp nhặt từng đồng hầu mua tự do cho tôi.

                        Cổ nghẹn lại, tôi không nói được một tiếng nào cả. Tôi vừa sung sướng trước những bằng chứng hiển nhiên của một mối tình to lớn, bền chắc, vừa xấu hổ nhận những hy sinh nhục nhã của vợ.

                        Phượng bảo tôi, “Em chỉ đủ tiền đóng cho mình, nhưng em với con vẫn đi theo mình.” Nàng giải thích cho tôi hiểu chuyến tầu vượt thoát là tầu thầu việc chuyên chở thanh niên xung phong đi làm rừng ở cửa Cần Giờ. Sáng mai, tôi sẽ cùng với 30 người nữa, đội lốt thanh niên xung phong xuống tầu tại bến Bạch Ðằng. Ðàn bà, trẻ con đi đường bộ xuống ngã ba Ðồng Chanh, chờ tại đó và sẽ đổ lên tầu. Họ là những người đi lậu, không đóng vàng.

                        “Người ta đi lậu nhiều lắm,” Phượng bảo tôi. “Em cũng trà trộn vào đám người đó. Không lẽ người ta xô mình xuống sông. Sợ gì?”

                        Tôi sợ. Rùng mình tôi nghĩ đến cảnh “người ta xô vợ con tôi xuống sông”, nhưng có sợ tôi cũng không giải quyết được cái khó không tiền và đành theo mọi xếp đặt của Phượng.

                        Ðêm đó tôi trằn trọc không ngủ, Phượng cũng không ngủ. Vào khoảng gần sáng nàng hỏi tôi, “Mình đã đủ tin vào tình em yêu mình để tha thứ hết mọi việc cho em chưa?”

                        “Anh tin. Anh yêu mình.”

                        “Em còn một tội nữa, chưa thú nhận được với mình.”

                        Trong bóng đêm, tôi lặng thinh lo lắng. Ngần đó bất hạnh chồng chất vào một cuộc sống ngắn ngủi, cay cực, còn chưa đủ nữa hay sao.

                        Vợ tôi thở dài, “Lúc đó em còn khờ quá nên chuyện mới xẩy ra. Em phải nói dối mình là em về Long Xuyên với má. Thật ra em không muốn mình buồn.”

                        Dù vợ tôi chưa nói ra, nhưng tôi cũng đoán hiểu.

                        “Em có con?” tôi hỏi.

                        Rúc đầu vào ngực tôi, vợ tôi thút thít khóc, “Mình tha cho em.”

                        Ðứa con chỉ là hậu quả đương nhiên của những việc làm mà tôi đã nhìn vợ tôi hàng ngày đi theo những bác phu xích lô để làm. Bây giờ tôi lại hiểu mục đích cao cả của việc làm đê tiện đó. Tôi thương Phượng hơn là trách nàng.

                        “Ngày mai em muốn cho con cùng đi?”

                        “Nếu mình đồng ý.”

                        Dĩ nhiên tôi đồng ý; đồng ý đưa những người thân nhất đời mình vào chuyến đi địa ngục, vào vòng tay tử thần..

                        CÒN TIẾP PHẦN CUỐI

                        Nguyễn đạt Thịnh

                        https://www.facebook.com/photo.php?f...type=3&theater

                        Comment


                        • Ðôi Mắt Phượng - (Phần cuối)

                          Ðôi Mắt Phượng
                          (Phần cuối)
                          Nguyễn đạt Thịnh


                          Hình minh họa

                          Trước 5 giờ sáng hôm sau, trong bộ đồng phục thanh niên xung phong, tôi chở Phượng và bé Mai trên chiếc xe đạp mà mấy tháng trước Phượng đã dùng để đón tôi ra khỏi trại tù cải tạo. Mặc dù giờ hẹn là 8 giờ, nhưng tôi vẫn đi sớm để hàng xóm đừng để ý đến bộ đồng phục của tôi. Hơn nữa, Phượng còn ghé Phú Nhuận, nơi nàng gởi nuôi thằng Vinh, đứa trẻ ra đời trong thời gian tôi ở tù.

                          Mọi việc xuôi lọt và tương đối dễ dàng. 7 giờ sáng tôi đến điểm hẹn. Nhiều người cũng mặc đồng phục như tôi đã có mặt. Nhìn thái độ ngỡ ngàng, dè dặt của họ, tôi hiểu họ cũng như tôi, ngoài bộ áo thanh niên xung phong, chúng tôi không xung phong làm gì hết.

                          Phượng bảo tôi, “Mình chờ ở đây, em qua Tân Thuận đón đò máy.”

                          Nhìn vợ lưng đai một đứa con, chở đứa thứ nhì trên thanh ngang xe, ra sức đạp chiếc xe cót két, tôi nghe đứt ruột. Nửa tiếng đồng hồ sau tôi xuống tàu, chọn chỗ ngồi ngay bên hông, hy vọng giúp đỡ Phượng đưa con lên. Khoảng 8 giờ 45, tàu đến ngã ba sông Ðồng Chanh.

                          Bốn chiếc đuôi tôm xáp lại, đàn bà trẻ con ồn ào dành nhau leo lên. Tôi đỡ bé Mai trên tay Phượng, rồi kéo Phượng, tay còn bồng thằng Vinh lên theo. Cuộc đổ bộ của khoảng 70 đàn bà, trẻ con lên tàu không những đã công khai mà còn ồn ào, hỗn độn, tranh dành, la lối, đính chánh hùng hồn cái huyền thoại gán cho cộng sản một hệ thống an ninh bao trùm và hữu hiệu. Hàng chục khách thương hồ và ít nhất là 4 người tài công đuôi tôm đã chứng kiến và chắc chắn cũng đã biết mục đích của chuyến đi, nhưng cộng sản vẫn không bắt buộc được họ khai báo, phản phúc đồng bào ruột thịt.

                          Mười rưỡi, tàu ra đến cửa biển Cần Giờ, và trưa hôm đó quê hương thương yêu chỉ còn là một vệt dài dậm hơn mầu biển. Ðến lúc này các “giới chức” trên tàu mới hò hét chửi mắng những người vượt thoát lậu. Họ bảo chỉ dự trù lương thực và nước uống cho những người có ghi tên và có góp vàng. Những người khác sẽ không có khẩu phần.

                          Phần ăn và nhất là phần nước uống ít oi của tôi được chia làm 4. Bao tử trống nhưng tâm tư vợ chồng chúng tôi tràn đầy hạnh phúc. Vợ tôi ngồi sát bên tôi, tay ẵm thằng Vinh, bé Mai nằm gọn trong lòng tôi; đầu vợ chồng tôi đội chung một cái áo, vừa làm nón cho người lớn, vừa làm mái nhà cho trẻ con.

                          Ngồi bó rọ trong cái cảnh mà nếu được nhìn thấy, chắc mọi người phải gọi là địa ngục trần gian, vợ chồng tôi bàn chuyện thiên đàng mộng tưởng. Cái thiên đàng của chúng tôi rất giản dị: bất cứ nơi nào cho tôi được đem sức đàn ông ra đi làm, làm bất cứ việc gì để nuôi vợ, nuôi con.

                          Tôi bảo Phượng, “Anh sẽ làm việc, làm ngày, làm đêm, để không bao giờ em và con còn phải thiếu thốn khốn khổ nữa.”

                          “Em thương mình,” Phượng thủ thỉ bên tai tôi. “Không bao giờ em còn làm mình buồn nữa.”

                          Tất cả những cam kết, hứa hẹn, dự tính đẹp như mộng ấy, chúng tôi đem ra làm thức ăn để đánh lừa cơn đói. Khẩu phần của tôi mỗi bữa khoảng 2 chén cơm chỉ vừa đủ cho 2 đứa nhỏ. Phượng và tôi nhắp một đầu đũa để cầm hơi.

                          Qua đến ngày thứ 3, vì đói quá, khi đi lãnh cơm tôi thò tay vào nồi, vừa bốc thêm một nắm cơm vừa nói, “Cho tôi xin thêm chút cơm.”

                          Một quả đấm bay vào mặt tôi; yếu đuối sau 14 tháng bị giam cầm đói khổ, yếu đuối sau 3 ngày thiếu cơm, thiếu nước, tôi té ngửa dưới sức mạnh của quả đấm trời giáng.

                          “ÐM quân ăn cướp. Ðã đi lậu mà còn đòi ăn nữa hả.”

                          Quả đấm tuy đau, nhưng tôi vẫn mừng vì cà mèn cơm chưa đổ. Bưng cà mèn đầy cơm hơn nhờ bốc thêm được một nắm về mái lều to bằng manh áo. Tôi sung sướng nhìn Phượng được ăn thêm miếng cơm thứ nhì. Tôi an ủi vợ, “Mình đi được 3 ngày rồi, nhiều lắm 2 ngày nữa cũng phải đến Thái Lan hay Mã Lai.”

                          Héo hắt cười, Phượng nhìn tôi. Tôi muốn thuyết phục cho vợ yên lòng, nhưng chính giọng nói của tôi cũng không vững.

                          Mũi tàu vẫn hướng về phía Nam , điều làm tôi thắc mắc. Mặc dù không có cả đến một tấm địa đồ nhỏ trong tay, nhưng tôi vẫn mường tượng được vị trí của Thái Lan và Mã Lai so với Việt Nam . Tôi góp ý với những người điều khiển tàu là nên cho mũi tàu chếch thêm về hướng Tây Nam . Tôi chưa nói dứt lời, một ông vạm vỡ nạt ngang, “Anh biết gì mà nói.”

                          Ðến ngày thứ 5 của chuyến hải hành, vợ tôi lả đi vì đói, vì mệt và say sóng. Phượng dựa vào thành tàu, mắt nhắm nghiền, đầu gục xuống.
                          Tôi van xin ông ngồi cạnh nửa thước khoảng trống để vợ tôi có thể ngả lưng trong thế nằm co quắp. Hai đứa bé không còn khóc được nữa. Tiếng khóc của chúng trở thành những tiếng rên nho nhỏ.

                          Tôi mò xuống bếp tán tỉnh xin phụ việc. Khoản thù lao tôi mong mỏi chỉ là mỗi bữa một chén nước cơm cho trẻ con uống. Chúng không còn sức để nhai và nuốt vật cứng nữa. Một ông “giới chức” hất hàm hỏi tôi, “Trước kia anh làm nghề gì?”

                          Dĩ nhiên việc đi cải tạo không phải là một nghề, mà cũng không phải là việc đem ra khoe được, tôi đành khai, “Thưa ông, tôi làm bác sĩ.”

                          “Biết chích không?”

                          “Dạ biết.”

                          Thế là tôi biến thành thầy Hai chích dạo. Bà vợ ông giới chức bị bệnh đái đường; ông đem theo một xách thuốc cần thiết cho bà, nhưng thiếu thầy Hai chích. Ðường lên, bà nằm mê man từ 2 ngày nay. Tôi được đưa vào khoang để chích insuline cho bà. Bữa đó không những có được chén nước cơm, mà trong cà mèn còn thêm được một miếng thịt.

                          Ðược dinh dưỡng, vợ tôi và 2 đứa trẻ cũng tỉnh táo hơn. Chiều hôm đó tôi lại có thêm một thân chủ: gia đình một người Trung Hoa nhờ tôi chăm sóc cho đứa con bị cảm nắng. Họ tạ thầy một hộp Sumaco, khiến bữa ăn chiều của chúng tôi có thể nói là thịnh soạn.

                          Cà mên cơm đầy ăn với cá hộp giúp Phượng đủ sức ngồi dậy săn sóc con. Hai đứa trẻ vẫn đuối, nhưng nhờ được uống nước cơm nên không đến nỗi bị lả đi như hôm trước nữa.

                          Sáng hôm sau tôi trở lại chích thuốc cho bà giới chức. Nhờ insuline làm tan đường, bà đã ngồi dậy được, tỉnh táo hơn. Uy tín lang băm của tôi gia tăng nhanh chóng, số thân chủ cũng gia tăng vì sau 5 ngày ngồi bó rọ phơi nắng, gần như tất cả mọi người đều cảm thấy mệt đuối, đau nhức, nhiều người sốt, cảm và ho.

                          Nỗi khổ tâm của tôi là trị bệnh không dược liệu. Đem kinh nghiệm 14 tháng giúp bạn tù trị bệnh bằng phương pháp kháng bệnh, tôi chỉ dẫn mọi người cách hô hấp, cánh tập trung tư tưởng để tự kỷ ám thị.

                          Nhờ hành nghề bác sĩ, khẩu phần của gia đình tôi trở nên sung túc hơn rất nhiều. Mỗi gia đình vượt biển đều có thủ theo một vài thứ thực phẩm khô, họ chia cho tôi một ít để thù lao bác sĩ.

                          Ðến ngày thứ 7, nhờ được ăn no hơn vợ tôi đã bình phục và hai đứa trẻ cũng tỉnh táo. Trưa hôm ấy chúng tôi gặp hoạn nạn: chiếc áo mái nhà của tôi bị gió biển cuốn đi, vợ tôi lục giỏ tìm cái áo khác ra căng lều. Lần này tôi có ý cột kỹ tay áo vào thành tầu.

                          Tối hôm đó, đang gục đầu trong thế ngủ ngồi tôi nghe như một biến chuyển lớn đang xẩy ra. Giật mình tôi thức dậy trong tiếng reo hò của mọi người.

                          “Tới rồi. Thấy đất rồi.”

                          “Cảm ơn Trời Phật. Chuyến đi quá dài nhưng rồi cũng đến.”

                          Giọng quát của một giới chức, “Ngồi cả xuống! Chạy tới, chạy lui, mất thăng bằng lật tàu chết cả đám bây giờ.”

                          Mọi người ngoan ngoãn ngồi trở xuống, nhưng tiếng ồn ào vẫn không ngớt. Người ta bàn tán, “Chắc là Mã Lai.”

                          “Có lẽ như vậy, vì nó là hòn đảo, chứ Thái Lan thì đã thấy lục địa.

                          “Không chừng Nam Dương.”

                          “Rất có thể là Úc.”

                          Vợ tôi nắm tay tôi bóp mạnh. Tôi nghe như những mừng vui của Phượng đang được truyền sang tâm hồn tôi mà không cần một lời nói.

                          Mọi người mừng vì chuyến hải hành 8 ngày đã đến đích. Cuộc hành trình của riêng tôi và Phượng đã kéo dài gần 4 năm, mà mỗi ngày là một cơn ác mộng bất tận cho cả 2 chúng tôi cũng đang chấm dứt với chuyến đi này. Nỗi mừng của chúng tôi, vì vậy mà to lớn hơn tất cả.

                          Chúng tôi mừng đến không nói được nên lời, không hò reo được như mọi người. Tôi ngồi yên, không buồn chồm lên nhìn hòn đảo mà tàu đang tiến vào nữa. Niềm vui của tôi đã quá đầy từ ngày bước chân xuống tầu, rời bỏ quê hương địa ngục, trên những bằng chứng xác nhận tình yêu tuyệt vời của Phượng đối với tôi. Không một người bạn đồng thuyền nào thỏa mãn bằng tôi.

                          Ông bạn ngồi cạnh gợi chuyện, “Hình như hòn đảo nhỏ quá.”

                          “Vâng,” tôi lơ đãng đáp.

                          “Không chắc đã có người trên đảo.”

                          “Vâng.”

                          Mũi tàu vẫn hướng vào hòn đảo cô đơn trong khi niềm lạc quan trên tàu lắng xuống. Khoảng cách thu ngắn dần làm mọi người thấy rõ kích thước nhỏ bé của hải đảo. Nhưng giữa khoảng ngàn trùng của đại dương nhấp nhô hòn đảo kia vẫn là đất, vẫn bảo đảm vững vàng.

                          Hơn nữa, nó cũng lớn tối thiểu bằng 20 lần con tàu dài 15 thước, rộng 3 thước với 140 người trong lòng tàu.

                          Ða số góp ý kiến nên ngừng lại đảo.

                          “Biết đâu bờ bên kia lại không có một làng chài lưới.”

                          “Ghé nghỉ ngơi một ngày, đi lại cho dãn gân; ngồi bó gối mãi, mỏi quá.”

                          “Có thể tìm nước ngọt, đánh cá tăng thêm thực phẩm trước khi tiếp tục đi nữa.”

                          Cuối cùng, những giới chức trên tầu quyết định cho tầu chạy một vòng quanh đảo để quan sát trước. Và đó là quyết định cuối cùng của họ với tư cách chỉ huy chiếc tiểu hạm tử thần. Mới chạy được nửa vòng đảo, tàu chạm đá ngầm, vỡ đáy, lật nghiêng qua 30 độ.

                          Phượng văng từ thành tàu bên này sang thành tàu bên kia, thằng Vinh tuột tay mẹ, rơi thẳng xuống biển. Trên đà nghiêng của con tàu, tôi phóng nhanh đến bên Phượng, trao vội bé Mai cho nàng và nhẩy xuống biển để chỉ vừa kịp nắm tay đứa bé chưa đầy năm, theo nó ngụp vào một đợt sóng lớn. Sóng đưa tôi và thằng Vinh vào gần bờ, và do đó tôi trở thành người đầu tiên đặt chân lên hòn đảo san hô thê lương, sau này biến thành nơi gởi xác của nhiều người trong chúng tôi.

                          Việc làm đầu tiên của tôi là bồng thằng Vinh đưa lên cao để vợ tôi nhìn thấy mà yên lòng. Cách bờ khoảng 15 thước, mọi người nhốn nháo; tiếng kêu khóc thật là thê thảm, nhiều người nhẩy xuống nước chạy vào bờ.

                          Sau khi bị vỡ đáy, con tàu mắc cạn đang từ từ trở lại thế thăng bằng, mặc dù vẫn còn hơi nghiêng. Những người trên tàu không đến nỗi phải bám cứng vào thành tàu để khỏi rơi xuống biển nữa.

                          Nhờ người coi chừng thằng Vinh, tôi lội xuống nước trở ra mạn tàu bồng bé Mai, và xách gói hành lý khiêm tốn của chúng tôi, rồi dắt Phượng lên đảo. Nhiều người khác cũng làm như chúng tôi. Họ lìa bỏ con tàu mà không cần biết là đi đâu, nhắm mắt đưa chân, như 8 ngày trước rời bỏ quê hương Việt Nam.

                          Ðó là sai lầm của chúng tôi. Hòn đảo san hô khô cằn, lởm chởm, không dung nạp chúng tôi. Tìm được một chỗ bằng phẳng để ngồi xuống cũng đã khó chứ chưa nói đến việc ngả lưng.

                          Sau gần một tiếng đồng hồ loay hoay tìm kiếm, tôi chọn được một hốc đá tương đối rộng rãi để định cư. Cái áo làm mái nhà đổi vai trò trở thành tấm chiếu cho trẻ con ngồi.

                          “Ðau đít quá ba ơi,” bé Mai nhăn nhó nói.

                          Tôi ẵm con lên, đặt nó ngồi trên bọc quần áo, rồi bảo Phượng, “Em coi chừng con, anh đi quanh tìm xem có con ốc, con sò nào không.”

                          Tôi ngỡ mình là người nhanh chân trong việc đi kiếm ăn, nhưng hơn chục người khác cũng đã lom khom trong các hốc đá tìm kiếm như tôi. Cái may của tôi là trong một kẹt đá nhỏ, tôi chụp được hai vợ chồng một chú tôm hùm khá to, mỗi con khoảng hai kí.

                          Phượng reo mừng, “đồ biển sẵn thế này là không phải lo đói nữa.”

                          Phượng lầm, mà tôi cũng lầm. Ðồ biển không sẵn như chúng tôi tưởng, hoặc ít ra thì đó cũng không phải là nguồn thực phẩm đủ cung cấp cho 140 người đói khát.

                          Tôi đi nhặt rác và rong biển về làm củi nướng tôm; tôi cũng tìm được một mảnh ván nhỏ cho Phượng ngồi. Bữa ăn đầu tiên trên hoang đảo, cách tìm thực phẩm, nướng và ăn bốc theo kiểu thượng cổ, vừa ngon lại vừa vui. Vợ chồng, con cái chỉ ăn hết một con tôm, con thứ nhì để dành.

                          “Em chưa thấy con tôm hùm nào lớn đến như vậy,” Phượng vừa chôn vỏ tôm xuống cát vừa bảo tôi.

                          Mới 6 giờ chiều, mặt trời còn cao mà gió biển nghe đã lạnh. Tôi lo lắng bảo Phượng, “Có bao nhiêu quần áo em lấy mặc hết cho con. Cả em nữa.”

                          Gói hành lý được mở ra, tắp hết lên người. Mỗi đứa trẻ mặc 4 áo, 3 quần. Phượng được 3 áo, 2 quần. Tôi mặc thêm cái sơ mi nữa ra ngoài bộ đồng phục chưa thay từ ngày đi.

                          Gia đình ông hàng xóm sát hốc đá nhà tôi định xuống tầu tránh lạnh nhưng bị đuổi trở lên. Một số thanh niên tổ chức chiếm độc quyền cư ngụ trên tầu. Họ cũng ngưng, không phát thực phẩm như trước nữa.

                          Ðêm hôm đó một người đàn bà chết, có lẽ vì quá lạnh. Chúng tôi xuống tầu mượn được một cây xà beng và một cái búa để đục đá chôn người xấu số. Ðó là người đầu tiên và người cuối cùng được chôn. Lý do thứ nhất khiến chúng tôi không chôn người chết nữa là vì đục đá làm mồ là một công trình quá khó mà lại không hiệu quả. Lớp đá vụn lấp xác chết không chặt được như đất nên chỉ một ngày sau mùi thối đã xông lên nồng nặc. Lý do thứ nhì chua chát hơn: người ta không muốn vùi đi mấy chục kí thịt của người chết trong lúc tất cả đều đói.

                          Xác chết đầu tiên tôi thấy bị xẻ thịt là xác một thiếu nữ trắng trẻo, xinh xắn. Tôi đang đi nhặt ốc thì nhìn thấy xác cô, khuy áo bị cổi banh ra, chỗ đôi nhũ hoa chỉ còn thịt lầy nhầy và mấy rẻo xương lồng ngực. Một tiếng đồng hồ sau, tôi trở lại, cô đã bị lột truồng, bắp vế, bắp chuối bị xẻo mất.

                          Tôi rùng mình. Suốt 2 năm chinh chiến tôi cũng đã chứng kiến nhiều cái chết ghê rợn do súng đạn gây nên, nhưng quả thật chưa một xác chết nào làm tôi khiếp đảm hơn.

                          Thượng Ðế ơi, người đã sinh ra con người như sinh vật khôn linh hơn mọi sinh vật khác, sao người lại còn bày ra những thử thách trớ trêu đó để làm gì? Ðể chứng minh là con người cũng không hơn gì loài cầm, loài thú ư?

                          Tôi trở về hốc đá với khuôn mặt chắc phải vô cùng sầu thảm. Nhìn tôi, Phượng bảo, “Mình đuối lắm rồi, để em đi kiếm thực phẩm thay mình.”

                          “Em không đi đâu hết,” tôi gạt phăng.

                          Vợ tôi nhìn tôi lo sợ. Có thể Phượng thấy phản ứng của tôi không bình thường, chưa bao giờ tôi gắt gỏng với nàng, ngay cả những lần nàng theo bác phu xích lô đi khách. Quanh chúng tôi, người ta phát điên, người ta đánh nhau chỉ vì những chuyện không đâu. Tình trạng tuyệt vọng, kinh hoàng làm chúng tôi thành hốt hoảng. Có thể Phượng nghĩ tôi cũng đang có những triệu chứng bắt đầu. Tôi an ủi vợ,

                          “Anh không muốn em đi đâu hết. Quanh chúng ta đang có trên 100 người mất tự chủ. Em phải ở cạnh anh.”

                          Thật ra tôi chỉ muốn tránh cho Phượng khỏi nhìn thấy xác người thiếu nữ không vú, không đùi. Kéo đầu Phượng gục vào vai, tôi vỗ về, “Rồi mọi chuyện sẽ khá hơn. Thế nào chẳng có một thương thuyền đi qua đây.”

                          Tôi nói để mà nói, nhưng tôi nghĩ Phượng không mấy tin, không mấy quan tâm đến những điều tôi nói.

                          Chúng tôi đã đói khát gần 1 tuần lễ. Quanh bờ biển không còn một cái vỏ hào nào nguyên vẹn. Người đầu tiên vừa đập vỡ con hào để lấy ruột, thì chỉ vài phút sau đã có người đến đập lần thứ nhì, hy vọng vớt vát một chút gì còn xót lại.

                          Ðến tuần thứ nhì không ai còn dấu diếm chuyện ăn thịt người nữa. Gần như tất cả mọi người đều đã ăn thịt đồng loại. Tệ hơn là họ không chờ nạn nhân chết hẳn mới xẻ thịt. Ðể thịt và ruột gan không lạnh tanh, họ xẻ thịt những người đang thoi thóp, ngắc ngoải. Xương và đầu người chết bị ném xuống biển, cám dỗ hàng bầy cá mập.

                          Nhìn những con cá hung hãn chồm vào đến tận bờ để chia phần thịt người, tôi bàn với ông hàng xóm phương pháp bẫy cá mập. Chúng tôi đào một vũng cạn, rồi lấy đá be bờ khá cao. Sườn vũng nước nghiêng vào bờ, bên trong sâu hơn bên ngoài bờ biển.

                          Mượn cái đầu của một bà lão vừa bị xẻ thịt, chúng tôi thả mồi chờ cá mập. Thời gian chờ đợi không lâu hơn 20 phút. Theo đà sóng một con cá mập nhỏ, khoảng trên dưới 40 kí, trườn vào bẫy.

                          Sóng rút ra, cá mập mắc cạn và chết ngay sau vài chục nhát búa và xà beng của chúng tôi. Chúng tôi lôi cá lên cạn xẻ thịt; khoảng vài chục người đến hôi món thịt cá mập. Việc xẻ thịt chưa xong, con cá mập thứ nhì đã lại trườn vào bẫy trước tiếng reo hò mừng vui của hơn 100 con người đói khổ.

                          Thịt cá mập béo ngậy và tanh rình, nhưng vẫn giúp chúng tôi tránh được ăn thịt người, và cái bẫy cá mập của tôi trở thành nguồn cung cấp thực phẩm khá dồi dào cho những nạn nhân mắc cạn.

                          Cái khổ của chúng tôi là trên đảo san hô không còn một thứ gì có thể sử dụng thay củi nữa cả; một vài người liều lĩnh xách búa ra định bửa tầu lấy gỗ, nhưng chỉ cần một phát súng bắn chỉ thiên của nhóm thanh niên khỏe mạnh, ăn uống đầy đủ, lại có võ khí, đang chiếm giữ con tàu, cũng đủ làm những người liều nhất trở thành khôn ngoan, lui nhanh vào bờ.

                          Cầm miếng cá sống, vừa xệu xạo cắn, Phượng vừa hỏi tôi, “Mình có còn tin được câu người ta thường nói ‘trời xanh có mắt’ nữa không?”

                          Tôi thở dài. Nếu quả trời có mắt thì cặp mắt đó đã nhắm lại từ 4 năm nay rồi. Bé Mai chỉ còn là một cái xác nhỏ xíu, gầy ốm, thoi thóp níu vào cuộc sống. Thằng Vinh khá hơn đôi chút, nhưng cũng nằm lả, đôi mắt gần như không bao giờ hé mở.

                          Tôi nhai miếng cá trong miệng đến thành nước rồi cúi xuống mớm cho con. Phượng thút thít khóc. Cũng như tôi, vợ tôi hiểu mạng sống của đứa con gái chúng tôi thương yêu, nâng niu, đang tàn lụi dần và sẽ tắt hẳn, khi gió biển, nắng cháy, và thiếu dinh dưỡng, cướp đi những sinh lực cuối cùng.

                          Bé Mai bỏ đi tối hôm đó. Ôm con trong tay tôi nghe hơi thở nó yếu dần, yếu dần trước khi tắt hẳn. Cơ thể của đứa con yêu thương vẫn mềm mại nhờ chút hơi ấm của tình phụ tử ủ ấp.

                          Tôi lặng đi ngồi ôm xác con trong gió biển cắt da. Khoảng một tiếng đồng hồ sau Phượng hỏi tôi, “Con có khá hơn không mình?”

                          Tôi hiểu nghĩa câu hỏi này: Phượng muốn biết bé Mai đã chết chưa, nhưng chữ “chết” ghê rợn không phát ra được trên đôi môi người mẹ.

                          Tôi lặng thinh để vợ tôi ngỡ là tôi đã thiếp đi trong mòn mỏi. Nhưng rồi tôi thiếp đi thật. Sức chống đỡ của cơ thể chỉ có giới hạn. Giữa những hoàn cảnh phi lý nhất, thể chất vẫn giữ nguyên những đòi hỏi bình thường của nó. Ôm xác con trong tay, ngồi giữa một cô đảo Thái Bình Dương, tôi ngủ ngon lành.

                          Tôi bị mặt trời nhiệt đới đánh thức. Mở mắt dậy trong ánh nắng chói lòa, tôi hốt hoảng nhận ra là bé Mai không còn nằm trong tay tôi nữa. Phượng cũng không thấy đâu cả. Tôi cất tiếng gọi vợ, tiếng sau lớn hơn tiếng trước, những tiếng cuối cùng trở thành tiếng gào kinh hoảng.

                          Những người chung quanh nhìn tôi. Cặp mắt họ không thiện cảm, nhưng cũng không ác cảm, mà chỉ là những cập mắt vô can mất hết khả năng xúc động. Cái khổ đau, bất hạnh của tôi, tôi cứ tự gánh lấy. Phần riêng của họ cũng đã quá lớn, họ không thể chia xẻ thêm với ai chút gì nữa cả.

                          Tay ẵm thằng Vinh, tôi phóng nhanh xuống bờ biển vừa chạy quanh đảo, vừa gọi Phượng. Vợ tôi ngồi xẹp trên một phiến đá, vẻ mặt sầu khổ. Ôm chầm lấy vợ, tôi hỏi, “Em đi tìm con?”

                          Vợ tôi không nói được một tiếng nào cả.

                          “Họ đã xẻ thịt bé Mai?” Phượng gật đầu rồi gục vào vai tôi thút thít khóc. Tôi lặng đi, tê tái.

                          Nguyên ngày hôm đó vợ chồng chúng tôi không nói thêm với nhau một câu nào nữa. Trước những đổ vỡ, thương đau toàn diện, chúng tôi không còn khả năng khóc than.

                          Sáng hôm sau, sau một vòng đi tìm thực phẩm thất bại như từ nhiều ngày nay, tôi trở về hốc đá và tình cờ khám phá ra nguyên nhân giúp bé Vinh còn tương đối mạnh khỏe: Phượng đang cho con bú. Tôi ngạc nhiên vì từ trước đến giờ Phượng không hề làm việc đó. Cả bé Mai cũng bú sữa bò từ khi mới lọt lòng.

                          Phượng bối rối nhìn tôi, trong lúc tôi nhìn bé Vinh: môi đứa bé đỏ lòm. Tôi kéo vú Phượng ra để thấy một vết cắt còn mới trên đầu vú. Tôi tìm thấy nhiều vết cắt khác ở đầu ngón tay, ở cổ tay người mẹ khốn khổ. Thở dài, tôi cúi đầu. Phượng đang trút tàn lực sang để nuôi một mầm sống. Việc làm vô cùng đáng kính phục đó chắc chắn sẽ làm tôi trở thành góa bụa sớm hơn.

                          Dĩ nhiên tôi không ngăn cản, cũng không phiền trách gì Phượng. Ðiều độc nhất tôi có thể làm là cố gắng hơn nữa trong việc tìm kiếm thực phẩm để nuôi Phượng và bé Vinh, nhưng số người đói khát thì đông mà số thực phẩm lại giới hạn nên gần như chúng tôi không còn tìm ra bất cứ một thứ gì, dù chỉ là cỏ, là cây, để nhai trong miệng.

                          Bốn ngày sau ngày bắt gặp Phượng cho con bú bằng máu, tôi tìm được một con cua khá lớn. Phượng ăn gượng gạo rồi lại nằm ngay. Vợ tôi đuối đến mức tôi phải xé từng miếng thịt cua, đút vào miệng cho nàng.

                          Suốt tuần sau, tôi chỉ tìm được vài con ốc. Nhìn những triệu chứng sắp chết của vợ, tôi nghe đứt ruột. Tôi không dám đi kiếm thực phẩm xa nữa, sợ người ta đến ăn thịt Phượng.

                          Hai ngày sau, đang nửa mơ, nửa tỉnh, tôi chợt nghe nhiều tiếng sung. Tiếp theo là tiếng reo hò. Bàng hoàng choàng dậy, tôi nhìn theo hướng nhìn của mọi người và thấy một chiếc tàu đang từ từ tiến lại.

                          Tim tôi ngừng đập. Cuối cùng trời vẫn còn có mắt. Chúng tôi sắp được cứu sống, và tôi vẫn còn Phượng, còn người vợ mà trong hoạn nạn tôi thấy tình yêu trở thành to lớn hơn, bền chặt hơn. Tôi sẽ lại được mê mệt, được khổ sở với cặp mắt đa tình của Phượng.

                          Trong tiếng reo hò của những người đồng cảnh ngộ, tôi cúi xuống thủ thỉ bảo vợ, “Hôm trước em hỏi anh có còn tin là ‘trời xanh có mắt nữa không’. Bây giờ anh trả lời em là anh tin. Anh tin cuối cùng rồi ông trời vẫn có mắt.”

                          Nhưng tôi đã lầm. Ðối với những kẻ bất hạnh, vô phước như tôi, ông trời (nếu có ổng) đã vĩnh viễn nhắm mắt, quay mặt đi.

                          Con tầu tôi đang nhìn theo là một ngư thuyền của Ðài Loan. Họ neo xa bờ chừng 2 cây số, rồi cho ghe nhỏ vào chở người đại diện của chúng tôi ra thương lượng. Cuộc thương lượng, nói trắng ra chỉ là một cuộc trả giá.

                          Người đại diện trở về cho chúng tôi biết tầu Trung Hoa đòi một số vàng lớn mới chịu cứu chúng tôi. Số người có vàng đề nghị chia số người Trung Hoa đòi hỏi trên đầu người; những kẻ trắng tay như tôi ngồi lặng thinh, dự thính.

                          Chiều hôm ấy người đại diện của chúng tôi trở ra ngư thuyền Trung Hoa với một phản đề nghị. Cuộc trả giá kéo dài cho đến tối, và ông ta ngủ lại trên tầu đánh cá. Sáng hôm sau ông trở lại với 3 người Tầu, và bắt đầu cuộc ghi danh, góp vàng.

                          Những người có vàng để góp lần lượt được xuống ghe máy để ra tàu trước cặp mắt thèm thuồng của chúng tôi. Khoảng xế chiều việc đưa những người góp vàng ra tàu hoàn thành. Người Trung Hoa chở vào cho chúng tôi một thùng cá và bảo, “Các anh ăn uống tạm tối nay.

                          Sáng mai chúng tôi sẽ vào chở tất cả ra tàu.”

                          Thì ra họ chỉ muốn làm khó dễ để lột một số vàng của những người có tài sản. Sáng hôm sau toàn bộ chúng tôi được chở ra tàu. Một thủy thủ Trung Hoa giúp tôi bồng bé Vinh, trong lúc tôi bồng Phượng xuống ghe.

                          Yếu đuối, tôi ngã mấy lần. Phượng mở mắt nhìn tôi, cặp mắt tình tứ, đắm đuối ngày xưa, giờ này đã mất thần.

                          Xuống tầu, tôi xin một ly sữa, đút cho Phượng, nhưng vợ tôi không còn nuốt được nữa. Tôi biết cơ thể nàng đã mất hết nước hydrate.
                          Giải pháp độc nhất còn lại là nuôi bằng nước biển, nhưng làm gì có thứ đó trên một ngư thuyền.

                          Phượng lịm dần và hơi thở thật sự tắt hẳn vào đêm hôm đó. Xác nàng bị chuồi xuống biển theo hình thức thủy táng.

                          Tôi dứt câu chuyện vào lúc 11 giờ sáng ngày 30 tháng Tư năm 2004, rồi bảo thằng Vinh, “Ba hứa ngày con học xong, ba sẽ kể lại câu chuyện về mẹ con cho con nghe. Ba đã thực hiện lời ba hứa.”

                          Nó bước đến trước ghế tôi ngồi, quỳ xuống, gục đầu lên đùi tôi, “Ba đau khổ nhiều quá!”. Lời nó nghẹn lại. “Con thương ba.”

                          Tôi vuốt tóc nó, “Ba thương con.”

                          “Con muốn vinh danh mẹ,” thằng Vinh bảo tôi. Năm đó nó 26, vừa ra trường thuốc Austin , và đang tập sự tại nhà thương Memorial Hermann, Houston, nơi tôi làm việc.

                          “Bằng cách nào?” tôi hỏi nó.

                          “Con muốn về Việt Nam để cùng bác sĩ Nguyễn Ðan Quế tranh đấu giải thể chế độ cộng sản dã man đã giết mẹ con, giết chị Mai, và làm ba buồn khổ suốt cuộc đời.”

                          “Môi trường tranh đấu tại hải ngoại thuận lợi hơn môi trường quốc nội,” tôi bảo Vinh. “ Tiếng nói của con sẽ lớn hơn, vì có một đối tượng rộng hơn, quyền hạn hơn.”

                          Nó nghe lời tôi, và giờ này bác sĩ Trần Phượng Vinh, con của bác sĩ Trần Quang trở lại trường đại học. Môn học mới của nó là điện ảnh.

                          Họa sĩ Thương Thương, hôn thê của nó đã vẽ xong từ năm ngoái bức tranh quảng cáo cuồn phim đầu tay: ÐÔI MẮT PHƯỢNG của tài tử kiêm đạo diễn Phượng Vinh.

                          Nó đóng vai Trung úy quân y của Sư Ðoàn Nhẩy Dù, Trung úy Trần Quang.


                          Nguyễn đạt Thịnh

                          https://www.facebook.com/photo.php?f...type=3&theater

                          Comment


                          • Chuyện vui cuối tuần

                            Xui
                            Cô gái đang tắm thì có tiếng gõ cửa:
                            - Có ai ở nhà không?
                            - Ai đấy?
                            - Tôi là Tuấn mù hàng xóm đây!
                            Thấy vậy, cô không mặc đồ, ra mở cửa:
                            - Có việc gì không anh Tuấn?
                            - Xin báo cho cô tin mừng. Tôi đã mổ mắt thành công rồi!



                            Điều Kiện
                            Một cô ca sĩ lớn tuổi kể với đồng nghiệp:
                            - Mình hát bài thứ hai thì có ông khách lên sân khấu đưa phong bì $500
                            - Ổng nói gì không?
                            - Có
                            - Ổng nói sao?
                            - Ổng nói: Nếu cô hát nữa thì tôi đòi tiền lại đấy!



                            Không Lo
                            Một tù nhân trẻ mới vào, tù cũ hỏi:
                            - Cậu lãnh án bao lâu?
                            - 10 năm.
                            - Cậu không sợ trong thời gian này vợ cậu bỏ cậu à?
                            - Không bao giờ có chuyện đó!
                            - Cô ấy yêu cậu đến thế cơ à?
                            - Không. Nhưng cô ấy bị kết án 12 năm.



                            Phản Tác Dụng
                            Hai vợ chồng đi ăn tối thì cô vợ chợt huých tay chồng:
                            - Anh có nhìn thấy người đàn ông đang tu rượu ở góc quầy bar đằng kia không?
                            - Thấy! Sao?
                            - Người yêu cũ của em đấy! Anh ta đã uống như thế này từ 10 năm nay rồi, kể từ khi chia tay với em.
                            - Đâu cần phải ăn mừng lâu đến thế!



                            Định Lý Đảo
                            Hai người bạn đọc sách trong thư viện. Một người khều:
                            - Câu này hay lắm “Tìm được một người bạn chẳng khác gì tìm được một kho báu”.
                            - Cũng có thể là như vậy. Nhưng nếu tớ tìm được một kho báu, lập tức sẽ có rất nhiều bạn.



                            Comment


                            • Nụ Cười Khó Hiểu Của Điệp Viên Vũ Ngọc Nhạ

                              Nụ Cười Khó Hiểu Của Điệp Viên Vũ Ngọc Nhạ
                              Bùi Anh Trinh



                              Huỳnh Văn Trọng (giữa) và Vũ Ngọc Nhạ đùa vui sau khi lãnh án 20 năm

                              Cố vấn của Ngô Đình Diệm ?

                              Vũ Ngọc Nhạ tên thật là Vũ Xuân Nhã, sinh năm 1928 tại Thái Bình. Thuở nhỏ có vài năm theo học trường dòng. Năm 1945 đang học cấp 2 tại Hà Nội. Tháng 12 năm 1946 quân Pháp đuổi Hồ Chí Minh lên rừng, Nhạ về Thái Bình tham gia kháng chiến chống Pháp. Năm 1951 được bầu làm thị ủy viên Thị xã Thái Bình.

                              Nhưng cũng năm 1951 Mao Trạch Đông cho dựng lại ĐCSVN, cố vấn Trung Quốc là La Quý Ba phát động chiến dịch thanh trừng thành phần “trí phú địa hào” trong tổ chức Việt Minh. Nhạ bị liệt vào loại “cường hào tôn giáo” cho nên năm 1952 Nhạ phải chạy về Phát Diệm tham gia tổ chức “Tổng bộ tự vệ Phát Diệm”, một tổ chức chống cộng của Công giáo.

                              Năm 1953 đăng ký làm thông dịch viên cho quân đội Pháp, mang lon Trung sĩ. Năm 1954 quân Pháp rút về nước, Nhạ theo chân quân đội Pháp về sinh sống tại ngoại ô Paris nhưng sau đó tìm cách sang làm việc cho Tòa thánh La Mã. Tại Tòa thánh ông làm việc rất siêng năng cần mẫn nên được Đức Giáo Hoàng ban cho phép “Chết lành” ( Một nghi thức của Công giáo, khi hấp hối không cần làm phép rửa tội ).

                              Năm 1955 về lại Việt Nam, làm thư ký đánh máy trong Ty Công chánh tỉnh Gia Định. Cuối năm 1958 bị Mật vụ Miền Trung phát hiện là cán bộ Việt Minh tại Thái Bình nên bắt giam vào trại tập trung Phú Cam, Huế ( Một hình thức trại học tập chính trị dưới thời Ngô Đình Diệm, nhằm tập trung và thanh lọc các phần tử nghi ngờ còn hoạt động cho Cộng sản ).

                              Tại trại Phú Cam, tất cả những ai được xác minh là đã hồi chánh thì được thả ngay, còn những người có lý lịch không rõ ràng thì phải chờ điều tra. Trong thời gian này Nhạ có dịp làm quen với Mười Hương và Lê Hữu Thúy là hai ông trùm tình báo của CSVN được cài lại Miền Nam sau Hiệp định Geneve 1954. Mười Hương và Thúy bị bắt trước Nhạ vài tháng.

                              Vào giữa năm 1961 Nhạ được thả, ông trở lại sinh sống tại Sài Gòn. Nhờ giấy ban phép “Chết lành” của Đức Giáo Hoàng, ông mon men tiếp xúc với Linh mục Hoàng Quỳnh và lần hồi chiếm được sự tin cậy của linh mục Quỳnh.

                              Cố vấn của Nguyễn Văn Thiệu ?

                              Năm 1965 Tướng Nguyễn Văn Thiệu lên nắm Chủ tịch Hội đồng lãnh đạo quốc gia, ông nhờ cố vấn chính trị Nguyễn Văn Ngân liên lạc với các đảng phái và đoàn thể để xin mỗi đoàn thể cử một người liên lạc với Văn phòng Chủ tịch để có thể thông báo cho Phủ chủ tịch những yêu cầu và nguyện vọng của đại diện dân chúng ( Tất cả có 43 đoàn thể ). Linh mục Hoàng Quỳnh đề cử Vũ Ngọc Nhạ làm người liên lạc giữa khối “Công giáo di cư” và Phủ chủ tịch.

                              Năm 1967 Tướng Nguyễn Văn Thiệu đắc cử Tổng thống, những liên lạc viên của các đảng phái hay đoàn thể ( gồm 43 người ) được biến thành “cố vấn chính trị của Phủ tổng thống” nhưng chỉ cố vấn riêng về đoàn thể của mình. Nghĩa là Vũ Ngọc Nhạ chỉ cố vấn về những vấn đề có liên quan tới “Khối công giáo di cư” mà thôi.

                              Các cố vấn đoàn thể làm việc trực tiếp với ông Cố vấn chính trị của Phủ Tổng thống là Nguyễn Văn Ngân nhưng thường ngày vẫn làm việc với đoàn thể của mình ở ngoài dinh Độc Lập; thỉnh thoảng cố vấn Nguyễn Văn Ngân mời các cố vấn đoàn thể vào họp trong dinh Độc Lập để nghe thông báo về một số chính sách mới của Chính phủ, hoặc để nghe ý kiến của dân chúng qua đại diện của các đoàn thể.

                              Sau trận Mậu Thân lực lượng vũ trang của Mặt trận giải phóng Miền Nam hoàn toàn tan nát, một số lãnh đạo nằm trong Trung ương Cục Miền Nam ( Võ Văn Kiệt, Trần Bạch Đằng, Mai Chí Thọ ) muốn tiếp xúc thẳng với giới lãnh đạo VNCH, họ cho người tiếp xúc với Tướng Dương Văn Minh ( qua Thiếu tá CSVN Dương Văn Nhật ), Trung tá Trần Ngọc Châu ( qua Đại úy CSVN Trần Ngọc Hiền ).

                              Và cho điệp viên Lê Hữu Thúy tiếp xúc thẳng với Tổng thống Thiệu qua Cố vấn chính trị Nguyễn Cao Thăng và ông Huỳnh Văn Trọng, là Phụ tá đặc trách Bình định phát triển của Văn phòng Tổng thư ký phủ Tổng thống ( Nguyễn Văn Hướng là Tổng thư ký phủ Tổng thống, ông Trọng là 1 trong 4 phụ tá của ông Hướng ).

                              Điệp viên của CSVN ?

                              Để tổ chức đường dây tiếp xúc, Cố vấn an ninh của Tổng thống Thiệu là Tướng Đặng Văn Quang biết được Vũ Ngọc Nhạ từng quen biết với trùm tình báo CSVN Mười Hương cho nên nhờ Nhạ tìm cách bắt liên lạc với Mười Hương. Kết quả Nhạ bắt liên lạc được với Lê Hữu Thúy là người đang phụ trách đường dây Huỳnh Văn Trọng. Thúy giao cho Nhạ nhiệm vụ làm giao liên giữa Huỳnh Văn Trọng và Thúy.

                              Đầu năm 1969 Trọng nhận được một bản “Kế hoạch Bình định phát tiển nông thôn năm 1969” do cơ quan Bình đình phát triển nông thôn ( CORDS ) của Hoa Kỳ soạn thảo. Trọng sao ra 1 bản rồi nhân dịp Nhạ vào Dinh Độc Lập họp, Trọng giao cho Nhạ mang tài liệu về cho Thúy ( Để gây tin tưởng ). Đây là thành tích đầu tiên và cũng là thành tích duy nhất của “điệp viên” Vũ Ngọc Nhạ.

                              Sau vụ tài liệu “Kế hoạch Bình định phát triển năm 1969” bị tiết lộ, CIA lần ra đường dây thẩm lậu tin tức từ trong dinh Độc lập. Và đến khi cảnh sát bắt Trần Ngọc Hiền, rồi công bố vụ CIA liên lạc với CSVN qua Trần Ngọc Châu và Trần Ngọc Hiền, thì CIA trả đũa bằng cách rình bắt Lê Hữu Thúy cùng với tổ chức hoạt động của ông ta gồm có 42 người, trong đó có “Cố vấn” Vũ Ngọc Nhạ.

                              Rốt cuộc chuyện siêu điệp viên Vũ Ngọc Nhạ và Huỳnh Văn Trọng chỉ là kết quả “chơi nhau” giữa và CIA và Phủ Tống Thống VNCH.

                              Trần Ngọc Hiền bị kết án 4 năm tù, Trần Ngọc Châu bị kết án 20 năm sau giảm xuống còn 10 năm. Huỳnh Văn Trọng và Vũ Ngọc Nhạ bị kết án chung thân, sau giảm xuống còn 20 năm. Nhưng cả 4 không bị giam tại trại tù Cộng sản ở Phú Quốc mà lại bị giam ở Côn Đảo. Tuy nhiên tại Côn Đảo cả 4 ông sống như nghỉ mát ở đảo chứ không phải ở trong tù.

                              Đến tháng 4 năm 1973 trao trả tù binh tại Lộc Ninh thì Ủy ban tiếp nhận tù binh của CSVN chỉ nhận Trần Ngọc Hiền chứ không nhận 3 ông kia bởi vì họ không phải là người của CSVN. Bí quá Tổng thống Thiệu phải nhốt cả 3 ông vào Chí Hòa nhưng điều kiện sinh hoạt không phải là tù. Được vài tháng thì thả Trọng và Nhạ, còn Châu thì mãi tới cuối năm 1974 mới thả.

                              Đến tháng 4 năm 1975 Châu được nhân viên CIA lên danh sách những người cần được đưa ra khỏi Việt Nam ( nhân viên CIA ) nhưng Trưởng nhánh Viễn Đông của CIA thời đó là Shackley bác bỏ, do đó Châu phải vào trại tù cải tạo vì là nhân viên của chế độ cũ. Vũ Ngọc Nhạ phải đi kinh tế mới Phạm Văn Hai, còn Trọng thì chạy thoát sang Pháp. Riêng Trần Ngọc Hiền thì sau khi trao trả tù binh bị tước hết cấp bậc, tước hết đảng tịch và bị trục xuất ra khỏi Đảng vì tội đã khai báo hết những bí mật của tổ chức (ĐCSVN) cho địch.

                              Trong khi đó cấp trên của Vũ Ngọc Nhạ là điệp viên thứ thiệt Lê Hữu Thúy cũng không khá gì hơn. Năm 1973 ông được trao trả cho CSVN nhưng ông chỉ nhận được quân hàm thượng úy và được cho ngồi chơi xơi nước. Đến năm 1975 thì ông bị tước đảng tịch và cho nghỉ việc vì tội làm lộ đường dây tình báo A.22 tại Sài Gòn. Mãi đến khi người ta phong thiếu tướng cho Vũ Ngọc Nhạ thì ông mới được phục hồi đảng tịch và được phong đại tá cho tương xứng với cương vị ngày xưa là cấp chỉ huy của Nhạ.

                              Thiếu Tướng tình báo ?

                              Về phần Vũ Ngọc Nhạ , sau 30-4-1975 ra trình diện chế độ mới, bị đưa đi “Phòng tình báo quân sự” để nơi đây xác minh lý lịch hoạt động của ông ta. Sau khi xác minh thì được nhận được giấy khen về thành tích nhưng đồng thời cũng nhận được quyết định “kỷ luật” vì tội làm đổ bể đường dây tình báo tại Dinh Độc Lập. Đây là một cách “phủi ơn” đối với Vũ Ngọc Nhạ, do đó ông ta và gia đình phải đi kinh tế mới Phạm Văn Hai.

                              Đến năm 1985 xưởng phim truyện Thành phố Hồ Chí Minh cho dựng bộ phim “Ván Bài Lật Ngữa” từ quyển tiểu thuyết cùng tên của ông Trần Bạch Đằng. Ông Đằng lên đài phát thanh xác nhận ông Nhạ là 1 trong 5 nhân vật cấu thành siêu điệp viên Nguyễn Thành Luân. Biết được chuyện này nhà báo Hữu Mai từ Hà Nội vào Sài Gòn tìm ông Trần Bạch Đằng để hỏi thăm về “điệp viên cố vấn của Tổng Thống Thiệu” . Ông Đằng dẫn Hữu Mai lên kinh tế mới Phạm Văn Hai gặp Nhạ.

                              Sau đó Hữu Mai về Hà Nội viết thành quyển tiểu thuyết “Ông Cố Vấn” nói về cuộc đời của ông Nhạ với nhiều sửa đổi, thêm thắt để cho có vẻ “có hậu”. Theo đó thì sau khi được Phòng tình báo xác minh lý lịch ông được thu dụng trở lại với cấp bậc Thượng tá, rồi sau đó thăng Đại tá (Chỉ là tiểu thuyết hóa chứ sự thực không có).

                              Đến năm 1992 có một ông cựu tướng tình báo Hoa Kỳ đến Sài Gòn để thiết lập bang giao giữa hai quốc gia. Ông tướng Hoa Kỳ ngỏ ý muốn gặp hai nhân vật tình báo CSVN mà ông ta rất ngưỡng mộ là Phạm Xuân Ẩn và Vũ Ngọc Nhạ. Chính quyền CSVN vội cho tìm Vũ Ngọc Nhạ từ khu kinh tế mới.

                              Sau đó ông Tướng HK ngỏ ý muốn được đi thăm Tướng Nguyễn Hữu An đang làm Hiệu trưởng Học viên quân sự tại Đà Lạt để trao đổi về quân sử chiến tranh Việt Nam. Cùng đi có cả Phạm Xuân Ẩn, Vũ Ngọc Nhạ. Tại Học viện quân sự Đà Lạt, Trung tướng Nguyễn Hữu An nhân danh Quốc hội CSVN gắn cấp bậc thiếu tướng cho điệp viên Vũ Ngọc Nhạ ( Giấy tờ ghi là Quốc hội đã chuẩn thuận năm 1988 ).
                              Đồng thời tại Sài Gòn, cấp trên của ông Nhạ là điệp viên thứ thiệt Lê Hữu Thúy được phong vượt cấp từ thượng úy (1973) lên đại tá.

                              Khi ông Nhạ trở lại Sài Gòn, ông Trần Bạch Đằng viết một bài báo kể rõ cuộc sống khó khăn của Thiếu tướng Vũ Ngọc Nhạ trên khu kinh tế mới và ông hô hào quyên góp giúp đỡ. Riêng Thành đoàn Thanh niên Cọng sản Thành phố Hồ Chí Minh bỏ tiền ra in lại cuốn tiểu thuyết “Ông Cố Vấn”, tiền lời bán sách sẽ giao cho gia đình ông Nhạ.

                              Chỉ là màn kịch được giàn dựng.

                              Ngày nay báo chí còn lưu lại bức hình ông Trọng và ông Nhạ cười rất tươi sau khi lãnh án 20 năm; lại còn bông đùa gởi lời thăm sức khỏe Tổng thống Thiệu (sic). Không ai hiểu nổi những bí ẩn đằng sau nụ cười và những lời bông đùa đó. Mãi cho tới năm 2009 cơ quan CIA đưa ra tài liệu “CIA and The Generals” thì sự thật mới được phơi bày:

                              Theo CIA thì chỉ có Huỳnh Văn Trọng mới là điệp viên Cộng sản nằm trong Dinh Độc Lập nhưng năm 1975 ông Trọng lại chạy sang Pháp, chứng tỏ ông ta không phải là điệp viên của CSVN. Như vậy cấp dưới của ông ta là Vũ Ngọc Nhạ cũng không phải. Trong khi đó tài liệu của CIA lại xác nhận người cọng tác với CIA trước Mậu Thân là ông Trần Bạch Đằng (!).

                              Đến năm 1986 Nguyễn Văn Linh lên làm Tổng bí thư; vì không ưa ông Kiệt cho nên ông ta cho phép tiết lộ một phần nào về chuyện ông Kiệt, ông Đằng lén bắt tay với CIA trước 1975, nhằm vận động không cho ông Kiệt làm Thủ Tướng sau khi Phạm Hùng qua đời. Vì vậy mà ông Đằng và ông Kiệt mới giàn dựng ra màn hỏa mù để hướng cho dư luận tin rằng Phạm Ngọc Thảo, Vũ Ngọc Nhạ, Huỳnh Văn Trọng là những người được hai ông cài vào Dinh Độc Lập với sự đồng ý của Lê Duẩn ( Lúc này LD đã chết cho nên chẳng ai biết có thật hay không ).

                              Tóm lại, nếu những người nói trên thực sự là điệp viên của CSVN thì ngay từ năm 1975 người ta đã đã phong tặng anh hùng và cho cải táng hài cốt của Phạm Ngọc Thảo cũng như phong tướng cho Phạm Xuân Ẩn, Vũ Ngọc Nhạ, Huỳnh Văn Trọng… chứ không đợi tới sau khi Lê Duẩn chết mới làm.

                              Bùi Anh Trinh

                              https://www.facebook.com/photo.php?f...type=3&theater

                              Comment


                              • Vì Anh Là Lính! ♥

                                Vì Anh Là Lính!

                                Comment



                                Hội Quán Phi Dũng
                                Diễn Đàn Chiến Hữu & Thân Hữu Không Quân VNCH




                                website hit counter

                                Working...
                                X