Thông báo

Collapse
No announcement yet.

Tướng Vùng Vịnh Schwarzkopf Kể Lại Trận Đức Cơ Tháng 8/65

Collapse
X

Tướng Vùng Vịnh Schwarzkopf Kể Lại Trận Đức Cơ Tháng 8/65

Collapse
 
  • Filter
  • Giờ
  • Show
Clear All
new posts

  • Tướng Vùng Vịnh Schwarzkopf Kể Lại Trận Đức Cơ Tháng 8/65

    Tướng Vùng Vịnh Schwarzkopf Kể Lại Trận Đức Cơ Tháng 8/65
    Vương Hồng Anh/Việt Báo

    * Đức Cơ, tháng 8/1965 và trận chiến lớn nhất ở Cao nguyên:

    Từ hạ tuần tháng 6/1965, Cộng quân gia tăng áp lực tại một số tiền cứ ở phía Tây và Tây Nam tỉnh Pleiku, trong đó có căn cứ biên phòng Đức Cơ. Đến đầu tháng 8/1965, Cộng quân khởi động cuộc tấn công cường tập vào tiền cứ này. Đây là 1 trận đánh lớn nhất tại Cao nguyên trong tháng 8/1965. Ngay sau khi nhận được báo cáo, bộ tư lệnh Biệt khu 24 (chỉ huy lực lượng VNCH tại Kontum- Pleiku) lúc bấy giờ đã khẩn báo cho bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 để xin lực lượng tiếp cứu. Vào thời gian này Quân đoàn 2 được Bộ Tổng tham mưu tăng phái 1 chiến đoàn Nhảy Dù gồm 2 tiểu đoàn do thiếu tá Ngô Xuân Nghị chỉ huy, do đó, chiến đoàn này đã được điều động nhảy vào Đức Cơ để tiếp cứu đơn vị trú phòng. Ngày 5 tháng 8/1965, chiến đoàn Nhảy Dù đã được trực thăng vận xuống khu vực kế căn cứ Đức Cơ, giao tranh đã diễn ra quyết liệt giữa chiến đoàn Nhảy Dù và các đơn vị Cộng quân.
    Một trong sĩ quan Hoa Kỳ tham dự trận tiếp cứu căn cứ Đức Cơ vào tháng 8/1965 là đại úy Norman Schwarzkopf- năm 1991 ông là đại tướng tư lệnh lực lượng Hoa Kỳ và Đồng Minh tại mặt trận Vùng Vịnh năm 1991 với biệt danh là tướng Sa mạc, đã kể lại về diễn tiến trận chiến này trong một hồi ký được phổ biến trong KBC. Do bài hồi ký rất dài nên chúng tôi đã sắp xếp lại thành 2 phần, có đối chiếu với các bản tin chiến sự hàng ngày do Khối Thông tin-Giao tế Dân sự/ Tổng cục Chiến tranh Chính trị QL/VNCH phổ biến cho báo chí. Sau đây là phần đầu của hồi ký chiến trường của vị đại tướng lừng danh này.

    * Đại úy Schwarzkopf và chiến đoàn Nhảy Dù tại Cao nguyên:

    Tháng 7-1965, chiến đoàn của chúng tôi (đại úy Schwarzkopf) được giao phó nhiệm vụ khai thông và bảo vệ Quốc lộ 19 nối liền từ vùng duyên hải lên Pleiku. Trước khi sang Việt Nam tôi thường nghe rất nhiều người bàn tàn là quân nhân Việt Nam kém sức chịu đựng, nhưng khi đi hành quân với họ tôi thấy đó là một sai lầm. Chính tôi mới đi một đoạn ngắn mà mồ hôi nhễ nhại, trong khi đó người lính Nhảy dù đeo trên lưng cả 100 pound đạn dược lương thực mà vẫn cười đùa rất vui vẻ. Nhiệm vụ của tôi là liên lạc, hướng dẫn yểm trợ phi pháo, tản thương và tiếp tế vì tất cả các phương tiện trên đều do Không quân Hoa Kỳ yểm trợ.
    Sau khi khai thông Quốc lộ 19 vào cuối tháng 7, bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 ra lệnh cho chiến đoàn chúng tôi hành quân đẩy lùi Cộng quân quanh căn cứ biên phòng Đức Cơ, vì quân trú phòng đã bị vây hãm từ mấy tháng qua và có thể thất thủ. Theo lệnh hành quân của bộ Tư lệnh Biệt khu 24 và cố vấn soạn thảo thì chiến đoàn Nhảy Dù gồm 2 tiểu đoàn sẽ được trực thăng vận vào bãi đáp phía Đông Bắc Đức Cơ để tấn công từ hướng Tây tới biên giới rồi sẽ chuyển về hướng Nam bọc Đức Cơ. Bãi đáp sẽ được phi cơ oanh kích liên tục trong 20 phút trước giờ đổ quân, cuộc hành quân sẽ được phi pháo và pháo binh yểm trợ theo yêu cầu, lực lượng trừ bị là 1 tiểu đoàn Biệt động quân.
    Chúng tôi có 48 giờ để chuẩn bị đơn vị. Sáng hôm đó, trong khi thiếu tá Nghị, chiến đoàn trưởng lo ban lệnh hành quân cho đơn vị, tôi đến Trung tâm Hành quân Quân đoàn 2 để phối kiểm lại việc yểm trợ hỏa lực thì được sĩ quan phụ trách trả lời là không hay biết gì về cuộc hành quân nào ở Đức Cơ cả. Tôi đọc lệnh hành quân cho ông ta nghe, ông nhấn mạnh là ông cũng không nhận được đơn xin không yểm của Biệt khu 24 là nơi ban lệnh hành quân, hơn nữa nếu cuộc hành quân khai diễn vào ngày hôm sau thì cũng không kịp vì cần 48 giờ để trù liệu kế hoạch. Hỏi về pháo binh thì tôi được biết chỉ có 1 khẩu súng cối ở Đức Cơ với 20 quả đạn, thêm vào đó tiểu đoàn Biệt động quân trừ bị cũng không sẵn sàng từ 3 đến 4 ngày sau. Chúng tôi dùng trực thăng đi thám sát vùng hành quân để ghi nhận bãi đáp mới biết là không có một bãi đáp nào như đã ghi trong mệnh lệnh hành quân và chúng tôi tìm thấy một bãi trống cách Đức Cơ 15 dặm. Tôi bắt đầu bực bội vì vị tư lệnh Biệt khu 24 và Cố vấn chỉ phổ biến lệnh mà không hề theo dõi, kiểm soát vấn đề có được thi hành hay không. Lúc đó là 7 giờ tối và chiến đoàn sẽ bắt đầu hành quân vào sáng hôm sau.
    Tôi gặp thiếu tá Ngô Xuân Nghị, chiến đoàn trưởng và cho ông biết những ghi nhận của tôi, mắt ông mỗi lúc mỗi to hơn. Ông hỏi ý kiến của tôi, tôi đề nghị xin hoãn lại cuộc hành quân 48 giờ để kịp bổ khuyết các thiếu sót. Ông ta đồng ý trình về bộ Tư lệnh Sư đoàn Nhảy Dù đồng thời trình với tướng Vĩnh Lộc, tư lệnh Quân đoàn 2.

    (Chú thích của VB: Chuẩn tướng Vĩnh Lộc nhận chức tư lệnh Quân đoàn 2 ngày 20/6/1965, ông là 1 trong những vị tướng được thăng cấp rất nhanh, chỉ trong vòng 3 năm, đã 4 lần được thăng cấp: thăng đại tá 2/11/1963, 8 tháng sau thăng chuẩn tướng, khi đang giữ chức tư lệnh Sư đoàn 9 Bộ binh; tại Cao nguyên, với chức vụ tư lệnh Quân đoàn 2, trong vòng 16 tháng, được thăng 2 cấp: thiếu tướng (cuối tháng 10/65), trung tướng cuối tháng 10/1966).

    Trong khi hai người đối thoại qua điện thoại, tôi có thể nghe được tiếng la hét của tướng Vĩnh Lộc vì đề nghị hoãn của thiếu tá Nghị. Khi rời điện thoại ông nhìn tôi lắc đầu và cho hay là chúng tôi phải đến nhà của tướng Lộc để dự buổi họp vào lúc 10 giờ đêm. Chúng tôi được hướng vào một căn phòng trang hoàng gần giống như một tòa án quân sự. Tướng Lộc, các tướng tá của ông cùng với Cố vấn Quân đoàn ngồi một bên, phía đối diện có hai ghế, một cho thiếu tá Nghị và một cho tôi.
    Tướng Lộc mở đầu cuộc họp một cách khá gay gắt. Ông hỏi thiếu tá Nghị nguyên nhân nào khiến chúng tôi không chịu đi hành quân vào ngày mai. Thiếu tá Nghị trả lời là chỉ đình hoãn hành quân theo đề nghị Cố vấn Hoa Kỳ, nên ông Lộc quay sang đại tá Hoa Kỳ, cố vấn trưởng của ông và ông này hướng về phía tôi hỏi:
    - Tại sao đại úy lại bảo họ không hành quân vào ngày mai"
    - Thưa đại tá vì chúng tôi không có phi pháo yểm trợ. Chúng tôi đã phải chuyển đến một bãi đáp hoàn toàn mới nên chúng tôi cũng chưa có kế hoạch tấn công mới và cũng không có cả trừ bị luôn. Tôi trả lời như thế.
    Ông ta nói:
    - Đừng quan trọng hóa vấn đề, chỉ có 2 tiểu đoàn VC. Nguyên nhân chính mà anh nói là anh hoàn toàn không có không yểm là không đúng. Nếu các anh gặp khó khăn thì tôi sẽ chuyển phi cơ từ các chỗ khác tới yểm trợ các anh, và đó là nguyên tắc điều hành công tác của chúng tôi.
    - Thế còn việc phi cơ oanh kích bãi đáp trước khi trực thăng đổ bộ. Tôi cố gắng giữ giọng của tôi thật bình thản.
    Ông ta trả lời gay gắt:
    - Anh không cần thứ đó, vì chẳng có ai ngoài đó hết cả.
    Tôi trả lời: Thưa đại tá tôi vẫn nghĩ là không có sự yểm trợ đầy đủ của Không quân.
    - Được rồi bây giờ đại úy cho tôi biết như thế nào là yểm trợ đầy đủ" Ông hỏi tôi nhưng đôi mắt cau lại và nhìn về phía trước, nên tôi cũng bắt đầu nổi nóng.
    - Thưa đại tá, khi cái thân xác của tôi ngoài mặt trận thì tôi muốn hàng trăm phi cơ B 52 bay lượn trên đầu thì mới gọi là đầy đủ. Tuy nhiên bây giờ tôi có thể chấp nhận một số lượng nhỏ bé hơn, nhưng không thể chấp nhận con số không.
    Tôi mới sang Việt Nam khoảng tháng rưỡi và chưa ở ngoài mặt trận, nhưng tôi biết tướng Vĩnh Lộc cũng như đại tá Cố vấn trưởng của ông ta ép buộc chúng tôi phải thi hành mệnh lệnh của các vị này là không đúng nguyên tắc. Mặt khác tôi đến đây để làm cố vấn thì tôi có trách nhiệm phải nói rõ sự thật, nhưng ông cố vấn Quân đoàn vẫn tiếp tục làm tới và một điều ông ta buộc tôi tội là việc làm của tôi vừa qua đã gây phiền hà cho nước Hoa Kỳ, nhưng tôi hiểu rằng chính ông ta đã làm phiền hà và cũng chính cá nhân cùng với những cộng sự viên của ông chưa hề ở đơn vị trực tiếp chiến đấu nên không hiểu biết về những khó khăn của các đơn vị mà chỉ làm việc tại các bộ Tham mưu ở địa phương với công tác thúc đẩy thực hiện các cuộc hành quân. Cuối cùng ông ta nói:
    - Một điều chắc chắn là tôi thấy đại úy không phù hợp với nhiệm vụ cố vấn này của ông nên tôi quyết định thay thế ông.
    - Thưa đại tá, tôi rất tiếc đại tá không phải là cấp chỉ huy trực tiếp của tôi nên ông không có quyền và chỉ có một người duy nhất có thể cất chức tôi là Cố vấn trưởng Nhảy Dù của tôi mà thôi.
    Ông ta nổi nóng, la lớn và ra lệnh:
    - Điện thoại cho tôi nói chuyện trực tiếp với cố vấn trưởng Nhảy Dù của anh ta.
    Lúc đó đã 11 giờ 30 đêm nhưng cuối cùng họ đã liên lạc được với đại tá Naughton ở Sài Gòn. Ông lắng nghe và ghi nhận những điều cả đôi bên trình bày rồi trả lời đại tá Cố vấn trưởng Quân đoàn 2 như sau:
    - Bộ Tư lệnh Lữ đoàn Nhảy Dù Việt Nam hoàn toàn ủng hộ thiếu tá Nghị và cá nhân tôi cũng đứng phía sau đại úy Schwarzkopf. Tất cả chúng tôi đều đòi hỏi phải đình hoãn cuộc đình quân lại 48 giờ.
    Sáng hôm sau đại tá Naughton tới Pleiku để tự tìm hiểu nội vụ và ông xác nhận tôi đã làm đúng. Đại tá Naughton có một lối xử sự rất đẹp của một cấp chỉ huy là ông đề nghị thăng cấp thiếu tá tại mặt trận cho tôi và được thượng cấp chấp thuận ngay nên ông gắn cấp bậc mới cho tôi tại chỗ. Cuối cùng chúng tôi có 72 giờ chuẩn bị cuộc hành quân chứ không phải chỉ có 48 giờ như đã yêu cầu mà còn gặp nhiều phiền hà nữa. Bãi đáp là phi đạo trực thăng bên căn cứ Đức Cơ và chúng tôi có đầy đủ Không yểm dự liệu. Thế nhưng khi trực thăng đáp xuống vẫn bị pháo kích mà bộ Tham mưu ở Pleiku vẫn khẳng định là chỉ có 2 tiểu đoàn Cộng quân và họ đã gây bực bội cho tôi rất nhiều.

    Kỳ sau: Phần 2 của hồi ký: Chiến đoàn Nhảy Dù nhập trận Đức Cơ

    Source:https://vietbao.com/a49189/tuong-vun...-co-thang-8-65

    Chiến Đoàn Dù Tiếp Cứu Tiền Cứ Đức Cơ Tháng 8/65

    Như đã trình bày, đầu tháng 8/1965, Cộng quân khởi động cuộc tấn công cường tập tiền cứ biên phòng Đức Cơ. Để giải tỏa áp lực của CQ và tiếp cứu đơn vị trú phòng, 1 chiến đoàn Nhảy Dù gồm 2 tiểu đoàn do thiếu tá Ngô Xuân Nghị chỉ huy-đang tăng phái cho Quân đoàn 2, đã được điều động tiếp cứu Đức Cơ. Ngày 5 tháng 8/1965, chiến đoàn Nhảy Dù đã được trực thăng vận xuống khu vực kế căn cứ Đức Cơ, giao tranh đã diễn ra quyết liệt giữa chiến đoàn Nhảy Dù và các đơn vị Cộng quân. Tham dự cuộc hành quân tiếp ứng này, cố vấn của chiến đoàn là thiếu tá Norman Schwarzkopf-vừa được đặc cách thăng cấp mặt trận vào đầu tháng 8/1965; năm 1991 là đại tướng tư lệnh Lực lượng Hoa Kỳ và Đồng Minh tại Vùng Vịnh, đã nỗ lực can thiệp với các đơn vị Không quân Hoa Kỳ yểm trợ cho chiến đoàn Nhảy Dù về hỏa lực Không quân chiến thuật và các phi vụ tiếp tế tải thương khẩn cấp, ông cũng đã chia xẻ với các người bạn Nhảy Dù VN những gian khó ngoài chiến trường. Khi trở thành một danh tướng, ông vẫn nhớ rất rõ diễn tiến của trận chiến Đức Cơ và đã ghi lại chi tiết trong cuốn hồi ký của ông.
    Trong số trước, chúng tôi đã giới thiệu với bạn đọc phần 1 bài hồi ký của đại tướng Norman Schwarzkopf nói về các khó khăn của chiến đoàn Nhảy Dù trước khi nhập trận và sự chống trả mạnh của CQ khi các đơn vị Nhảy Dù nhảy xuống bãi đáp kế bên căn cứ Đức Cơ. Sau đây là phần 2 của bài hồi ký, được biên tập dựa theo bản dịch đã được phổ biến trong tạp chí KBC năm 1994.

    * Chiến đoàn Nhảy Dù và thiếu tá Schwarzkopf tại Đức Cơ:

    Người đầu tiên mà tôi (cố vấn Schwarkopf) gặp khi vừa xuống bãi đáp (cạnh căn cứ Đức Cơ) là 1 trung úy của Quân đội Hoa Kỳ, anh ta tự giới thiệu là cố vấn của trại. Gặp anh, tôi nhận ra rằng có lẽ trên đời tôi chưa gặp một người nào có niềm vui hơn anh ta vì trại của anh đã bị bao vây nhiều ngày và có thể bị thất thủ bất cứ lúc nào nếu không được giải cứu.
    Ngày hôm sau, chúng tôi bắt đầu tiến quân theo như dự trù, đơn vị tiền phong bị chận đánh gây tử thương cho 3 quân nhân Nhảy Dù. Khi trực thăng vào tiếp tế đạn theo yêu cầu của chúng tôi, sau khi đem đạn xuống thì binh sĩ bắt đầu đưa thi hài lên trực thăng nhưng phi công đẩy xuống không chịu chở, thấy vậy tôi phóng tới leo lên càng phía phi công hỏi nguyên do thì anh phi công nói không dám chở thi hài vì máu và phân sẽ dính xuống sàn. Tôi nói với anh ta là cần phải đem các thi hài này, nếu không chúng tôi phải khiêng theo. Viên phi công trả lời là anh ta không cần biết và không chịu chở. Tôi nghĩ nếu những thi hài này là người Mỹ thì chắc chắn không có gì để tranh luận và anh phi công đã chở ngay, khiến tôi cảm thấy quá chua xót. Tôi nói cho anh ta hay là tôi sẽ không bước khỏi càng trực thăng nếu họ không chịu chở và phi cơ sẽ không rời khỏi nơi đây. Còn nếu anh ta cất cánh mà tôi bị rớt xuống thì anh ta phải chịu trách nhiệm hoặc tôi sẽ bắn anh ta. Tôi biết là tôi chỉ dọa nhưng cuối cùng phi công đã chịu chở. Tôi đâu có nghĩ là chỉ với hành động nho nhỏ của tôi đã đi sâu vào tinh thần của những người chiến binh Việt Nam vì họ thấy một người Mỹ bất chấp nguy hiểm để lo cho họ và tin này đã được truyền về Sài Gòn tới tai tướng Dư Quốc Đống-tư lệnh Nhảy Dù và tất cả Cố vấn.
    Chúng tôi tới biên giới sau một đêm dừng quân phòng thủ. Ngày hôm sau đổi hướng tiến về phía Nam theo như lệnh hành quân. Đang di chuyển trong khu rừng quá rậm rạp thì có tiếng súng nổ, nhưng có muốn cũng không thể tránh né vào chỗ nào cả và cũng chẳng thấy gì hết. Tiếng nổ khởi động tác xạ của súng cối địch nghe liên tiếp và chắc chắn hướng về phía chúng tôi nhưng tất cả các chiến binh Nhảy Dù VN tỏ ra rất bình tĩnh. Nếu chúng tôi không về tới trại Đức Cơ mà phải ở lại giữa rừng thì địch quân sẽ điều động lực lượng tăng cường để tấn công trong đêm hoặc trễ lắm là sáng hôm sau. Cuối cùng chúng tôi cũng về tới căn cứ, với hơn 40 người chết và gần 100 bị thương.
    Tôi liên lạc với Pleiku nhiều lần yêu cầu tản thương nhưng đều bị từ chối với lý do rất nguy hiểm cho phi cơ khi vào vùng phải bay qua khu vực có quá nhiều phòng không. Nhưng trung úy Earl S. Van Eiweegen nghe biết tin này tại một quán rượu ngoài Pleiku đã tình nguyện vào tản thương cho chúng tôi. Khi phi cơ xuất hiện, phòng không địch bắn lên dữ dội nên tôi nghĩ là Van Eiweegen và 3 nhân viên trong phi hành đoàn của anh khó có thể đáp xuống phi đạo được. Nhưng cuối cùng anh đã đáp xuống và phi cơ bị trúng đạn khá nhiều và bị chảy dầu. Trong lúc chờ đợi phi cơ tới, phi đạo bị pháo kích rất nhiều, thêm một số binh sĩ bị thương cũng được sắp xếp để tải thương luôn. Phi công đã tỏ ra rất bình tĩnh, anh ngồi trên màn hỏa lực phòng không của địch bắn dữ dội và phi cơ bị hư nặng nên phi công đã bay thẳng về Sài Gòn thay vì về Pleiku. Tôi nghĩ đó cũng là một điều rất tốt vì các thương binh sẽ được săn sóc chu đáo hơn. Đó là một chuyến bay rất nhân đạo, can đảm phi thường của phi hành đoàn...

    Chúng tôi còn khoảng 20 thi hài đang nằm trên phi đạo và bắt đầu chảy nước, khi trực thăng đáp xuống chúng tôi phải tự đem lên vì phi hành đoàn không dám sờ vào, nước hôi thối chảy dính vào tay áo mặc dù tôi cố rửa nhiều lần nhưng vẫn không thể nào sạch được... Một vị tướng Mỹ cùng đến Đức Cơ với cố vấn Quân đoàn và rất nhiều phóng viên. Ông hỏi tôi về vấn đề ăn uống cũng như thư từ, tôi trả lời cho xong việc là mọi thứ đều tốt đẹp cả nhưng họ có biết đâu là chúng tôi chỉ có cơm với muối và lá rừng làm rau. Ông cũng không hỏi han về thiệt hại của đơn vị, thiệt hại của địch cùng những trở ngại khi gặp phải trong lúc hành quân, ngõ hầu có thể nghiên cứu hoàn chỉnh cho tương lai.
    Tôi rất vui vẻ trong suốt thời gian một năm làm việc với quân đội Việt Nam Cộng Hòa và tôi không muốn rời họ để ra đi, nên tôi đã viết đơn gửi cho bộ Tư lệnh Lục quân tình nguyện kéo dài thêm nhiệm kỳ phục vụ của tôi tại Việt Nam nhưng bị từ chối và ra lệnh cho tôi phải về làm việc tại West Point như đã được chỉ định.
    Ngày cuối cùng nhất là ngày buồn thảm nhất khi tôi chào từ biệt mọi người, nhất là đối với trung sĩ Hùng, một người đã phụ giúp và gần gũi với tôi trong thời gian làm việc với Nhảy Dù cả ở ngoài mặt trận cũng như ở hậu cứ. Nước mắt Hùng trào ra, anh đã khóc với tôi. Phải vô tư mà nói rằng trong suốt một năm dài làm việc với đơn vị Nhảy Dù tôi chưa hề thấy một quân nhân Việt Nam nào khóc, nhưng trung sĩ Hùng đã khóc với tôi khi từ giã. Khi phi cơ bắt đầu chạy trên phi đạo, các quân nhân ngồi xung quanh tôi đều vui mừng vì họ bắt đầu trở về sau một năm dài đùa rỡn với tử thần. Nhưng riêng với cá nhân tôi, tôi đã xúc động đến nghẹn ngào, nhất là khi nhìn qua cửa sổ thấy một đơn vị Nhảy Dù đang lên phi cơ để ra hành quân ngoài Miền Trung. Tôi cảm thấy quá xót xa vì phải rời xa những người mà mình đã cùng chiến đấu, và tôi cũng đã tự coi tôi là một thành phần trong đơn vị. Trong thâm tâm tôi có cảm tưởng đã bỏ rơi họ.

    * Đại tướng Norman Schwardkopf và những kỷ niệm đầu tiên khi mới đến Việt Nam:

    Cũng trong hồi ký chiến trường nêu trên, đại tướng Schwardkopf đã nhắc lại những kỷ niệm đầu tiên khi mới đến Việt Nam và những nhận xét của ông về binh chủng Nhảy Dù VNCH:
    Chúng tôi vừa đến phi trường liền được xe bus của quân đội đưa về tạm trú tại khách sạn Majestic nhằm sát bờ sông Sài Gòn cuối đường Tự Do. Cùng đi với tôi có anh bạn John bạn học ở West Ponit anh ta có một danh sách tên và địa chỉ những nhà hàng sang trọng tại Sài Gòn nên chúng tôi dự tính sẽ có một bữa ăn ngon để đánh dấu một ngày đầu tiên tới xứ này. Nhưng buổi tối chúng tôi đổi ý nên lên ăn ở trên sân thượng của khách sạn, thức ăn vừa được bày ra thì một tiếng nổ khá mạnh ở phía dưới. Mọi người đều nằm xuống sàn, riêng tôi và John lại đứng lên để quan sát nên được biết đó là trái mìn claymore do VC đặt tại Mỹ Cảnh, nhà hàng đứng đầu trong danh sách của John và phải chăng đây là sự chào đón chúng tôi.
    Ngày hôm sau một trung tá của phòng Nhân viên thông báo là tôi được lựa chọn bổ nhiệm vào công tác tham mưu làm việc tại Sài Gòn trọn nhiệm kỳ, nhưng tôi ngỏ ý muốn được đưa ra tiền tuyến hơn. Ban đầu ông ta nói không còn chỗ trống, nhưng sau cùng hỏi lại là tôi có đồng ý đi làm cố vấn cho đơn vị thuộc Sư đoàn 25 Bộ binh không, hỏi như vậy nhưng ông lại nêu ra trường hợp để cho tôi e ngại: một đơn vị của Sư đoàn này trong một cuộc hành quân khi rút lui đã bỏ rơi Cố vấn lại phía sau, thế nhưng tôi trả lời không có gì trở ngại đối với tôi vì tôi không muốn ngồi làm việc ở văn phòng ngày này qua ngày khác, nên tôi đồng ý đi Sư đoàn 25 BB.
    Ngày kế tiếp, khi tôi đang lãnh đồ tại trung tâm tiếp liệu thì Leroy người bạn cùng phòng ở trường Võ bị West Point tới, anh mặc quân phục ngụy trang, đội nón đỏ với huy hiệu Nhảy Dù VNCH mà anh là cố vấn, anh ta nói tại sao không cho anh ta biết khi tới Việt Nam và anh liền sắp xếp cho tôi gặp đại tá Naughton, cố vấn trưởng Lữ đoàn Nhảy Dù (vào thời gian này binh chủng Nhảy Dù còn ở cấp lữ đoàn, với 7 tiểu đoàn tác chiến, đến ngày 1 tháng 12/1965 được lên cấp Sư đoàn Nhảy Dù). Khi đại tá Cố vấn trưởng Nhảy Dù biết rằng trước đây tôi có phục vụ ở Sư đoàn 101 Nhảy Dù Hoa Kỳ và nói được tiếng Pháp nên ông cho biết là tôi rất thích hợp với chức vụ cố vấn cho một đơn vị Nhảy Dù, ông cũng liên lạc với bộ Tư lệnh MACV yêu cầu thay đổi lệnh bổ nhiệm trước, và tôi được bổ nhiệm làm cố vấn cho một chiến đoàn Nhảy Dù vừa thành lập.
    Nhảy Dù QL/VNCH là một binh chủng rất thiện chiến, đa số sĩ quan và hạ sĩ quan đều có khả năng kinh nghiệm chiến trường. Cố vấn đến rồi đi, ngược lại họ phải chiến đấu cả đời, khi thắng trận thì cố vấn được huy chương nhưng nếu thất bại thì người chỉ huy bị khiển trách, phải thẳng thắn nhìn nhận là các cấp chỉ huy Nhảy Dù giàu kinh nghiệm trận mạc, họ không cần đến sự cố vấn của chúng tôi.

    Source:https://vietbao.com/a48568/chien-doa...-co-thang-8-65

  • #2
    Một vài hình ảnh về Người hùng Norman Schwarzkopf




    Đức Cơ 1965: Đại úy Norman Schwarzkopf và một thương binh Dù



    Đại tướng William Westmoreland tới thăm căn cứ Đức Cơ; Đại úy Norman Schwarzkopf đứng giữa


    Đại úy Norman Schwarzkopf và Thiếu tá Ngô Quang Trưởng, lúc đó là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 5 Nhảy Dù.


    Về sau, trong hồi ký của mình, ông Schwarzkopf đã ca ngợi ông Ngô Quang Trưởng là "vị tướng tài giỏi nhất của QLVNCH"



    “Gấu sa mạc” - Đại tướng Norman Schwarzkopf, người hùng Chiến tranh vùng Vịnh
    ”.
    Last edited by Nguyen Huu Thien; 08-30-2020, 10:54 PM.

    Comment



    Hội Quán Phi Dũng
    Diễn Đàn Chiến Hữu & Thân Hữu Không Quân VNCH




    website hit counter

    Working...
    X