>
August 23, 2019

Login to your account

Username *
Password *
Remember Me
Thép Luyện Đã Thành Gươm

Đào Vũ Anh Hùng

 


(Viết cho khóa 1/73 Hoa Tiêu Trực Thăng)

Họ kéo nhau đến thăm tôi, trước ngày bốc thăm nhận Phi đoàn phục vụ. Đó là những tân sĩ quan Hoa tiêu mới ra trường. Sáu tháng học bay, học địa huấn ở Phi đoàn chúng tôi. Một tháng chưa đầy thanh toán giai đoạn hai quân sự. Hơn nửa năm trời khổ nhọc không kể một chuỗi thời gian trước đó vất vưởng nằm chờ mòn mỏi ở Nha Trang và một tháng về Cần Thơ làm quen với nghiệp phi hành trên chiếc U-17. Bây giờ, họ đã gỡ bỏ cấp bậc Sinh viên sĩ quan chĩu nặng trên vai, thay bằng cặp lon Chuần Úy dễ thương và thêm cánh bạc lấp lánh trên ngực áo kể từ sáng ngày thứ bảy 9-3 ngày mãn khóa linh đình buổi lễ thiêng liêng thoát xác...

Thiếu Tá Nguyễn Du và tôi
 
WingmanF5
Trần Hữu Kim



"So much owed by so many to so few" 
Winston Churchill



Phi-vụ chót trong ngày 30/4/1972 của Phi-đoàn 528 Hổ-cáp gồm có: Th/tá Nguyễn Du Scorpion 111 leader, Th/úy Kim wingman cất cánh từ Đà-nẵng và đến vùng trời Quảng-Trị vào khoảng 4 giờ. Sau khi liên-lạc với L-19, phi-tuần phải chờ ngoài biển 15 phút B-52 thả bom phía tây của target.

Tháng 6 năm 1971, tôi và 3 tên lính mới tò te mới ở Huê-Kỳ về, lò dò vào Phi-đoàn Hổ-Cáp 528 trình-diện Sĩ-Quan Trưởng Phòng Hành-Quân. Ông Đại-úy trẻ măng, gầy gầy, đẹp trai, mặc áo bay cam, đầu ông đội cunt-hat với kính pilot gài trên nón. Ông ngồi ngã người ra sau, hai chân để trên bàn Đ/úy Du nhìn 4 thằng pilot sữa tụi tôi đứng chào nghiêm chỉnh trình-diện, ông cười cười: "Thôi nghỉ đi, đứng nghiêm làm quái gì, tụi mình cùng là dân cà-chớn chống xâm lăng mí nhau cả, mấy ông gọi tôi bằng anh Du hay Đ/uy Du cũng được. Các ông đi kiếm Đ/uý Hiển đầu bạc để huấn-luyện hành-quân, mấy ông check out lẹ lẹ đi, phi-đoàn tổng cộng chỉ có 17 người cần mấy ông lắm”. Đến lúc này tôi mới dám nhìn kỹ hơn, ngực áo ông tên Du, trên bàn có bảng khắc chữ Nguyễn Du.

Dư âm Tết Nguyên-Đán 1972 như còn vấn vương nơi lòng ngưòi Dân, Quân vùng Hoả-Tuyến, bên bờ sông Bến-Hải. Thì đúng 35 ngày sau, sáng 30 tháng 3 , năm 1972. Một cơn bão-lửa-đạn từ bên kia Bến-Hải, đổ ập xuống đầu những người Dân, Quân vô tội, với cả chục ngàn đại pháo, tập kích vùng giới tuyến DMZ. 

Võ-Nguyên-Giáp đã triển-khai "Quả Đấm Thép" mà chúng thường huênh-hoang "Đánh cho Mỹ cút, Nguỵ nhào" với trên 40 ngàn quân chính-quy, trên 400 xe tăng T-54 & PT-76 và hơn 100 đại pháo và các súng phòng-không đủ loại, đồng loạt xua quân vượt qua cầu Hiền-Lương, xâm lăng Nam Việt-Nam. 

Nhân vội vã bước lên tàu, bên cạnh những hành khách rời cao nguyên đất đỏ leiku, trên chuyến bay C 47 chiều cuối tuần, bên cạnh anh là một cô gái Huế, cô hay nhìn lên bộ áo bay đã ngả màu của anh. Trên hàng ghế dựa hai bên thân tàu, mọi người ai nấy đã vào ghế ngồi, và thắt giây an toàn, con tàu tiến dần ra phi đạo. 

Có lẽ ai cũng biết sau 1975 người việt hải ngoại tập trung chủ yếu ở những nước như Mỹ, Canada, Pháp, Anh và cuối cùng là Úc, Hongkong…Những dòng tâm sự sau là của một bút ký người Việt sống tại Mỹ và sự ngạc nhiên thú vị của tác giả khi lần đầu đặt chân đến xứ Úc.

Bắt đầu dòng nhật ký.

Xứ Úc Thòi Lòi Đi Dễ Khó Về - Trịnh Thanh Thuỷ

Tôi không biết tại sao người Việt ở Úc lại đặt tên cho xứ này là Xứ Thòi Lòi. Có lẽ tại xứ này có nhiều cá thòi lòi là một loại cá bống trắng hay sao đó mà ngay hôm đến Úc, ghé thăm nhà bạn tôi, trong bữa cơm đầu tiên, trên bàn ăn, tôi đã thấy có mặt đĩa cá thòi lòi tẩm bột chiên.

(Nguyễn Phúc Sông Hương là bút hiệu của Thiếu Tá Nguyễn Phúc, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1/48 SĐ18BB trong trận chiến Xuân Lộc, tháng Tư 1975. Anh và gia đình hiện cư ngụ tại Sacramento, California)

Khoảng ba giờ sáng đêm 20 rạng ngày 21 tháng 4, từ trên căn cứ pháo binh Núi Thị hướng nam thị trấn Xuân Lộc 5 cây số, Thiếu Tá Nguyễn Hữu Chế, Tiểu đoàn trưởng TĐ 2/43 thấy đèn pha xe sáng rực trên những ngã đường trong thành phố. Chế cảm thấy đây là một sự việc khác thường bởi vì đã mười một giờ đêm, từ khi chiến trận bùng nổ, Xuân Lộc luôn ngập chìm trong bóng tối, thỉnh thoảng loé sáng bởi đạn pháo địch rót xuống mà thôi. Chế vội gọi máy liên lạc với bộ chỉ huy Lữ đoàn 1 Dù đơn vị mà TĐ thuộc quyền tăng phái thì được biết đó là những đoàn xe của quân CS đang vào Thị xã.

Tôi bước xuống phi trường Cù Hanh, Pleiku vào một buổi trưa đầu năm 1968. Trời nắng nhẹ, cùng vài cơn gió thoảng qua làm lay động các bụi cỏ lau bên rìa phi đạo và tạo thành âm thanh lao xao liên tục khiến tôi có cảm giác dễ chịu. Tôi được chỉ định về Trung Đoàn 3 Thiết Giáp, mà bộ chỉ huy đóng tại đây, để phục vụ. Những tháng ngày kế tiếp, tôi quay cuồng cùng đơn vị. Từ mờ sáng tới khi trời chập choạng tối, tôi chỉ thấy con đường 14, với rừng và núi. Thời gian sau tôi thường cùng đơn vị di chuyển theo đường 19 từ Qui Nhơn lên. Sau khi vượt qua đèo Măng Jang cao ngất, trước mắt tôi là không gian bao la. Tôi mới cảm thấy được thiên nhiên hùng vĩ của vùng cao nguyên này, đối nghịch với kích thước nhỏ nhoi của con người.

Trí nhớ của tôi thường bội bạc. Hoặc thiên vị. Trong cuộc sống, có biết bao nhiêu sự kiện đã ghi sâu vào ký ức của tôi. Và cũng vô số sự kiện khác trôi qua đời tôi như nước trôi đầu vịt, không để lại dấu vết gì. Lại có những chi tiết tôi cho là đáng nhớ, chẳng hạn, khi đã khôn lớn, lần đầu tiên cầm vô-lăng lái chiếc xe hơi, nhưng tôi không thể nào nhớ được đấy là xe hiệu gì, đi đâu, lúc nào, đi với ai, với mục đích gì. Trong khi đó, ký ức về người đàn bà thành phố lỡ bước vào một nơi rừng rú lại thường trở lại với tôi rất rõ nét. 

 



(Nguồn: Báo Tiếng Dân)
FB Trương Nhân Tuấn


Cuộc chiến Việt-Trung 1979, mở đầu từ ngày 17 tháng 2 năm 1979 và chấm dứt ngày 5 tháng 3 năm 1979, giới hạn trên địa bàn các tỉnh biên giới phía Bắc của VN. Học giả nước ngoài gọi cuộc chiến này qua nhiều tên khác nhau. Một số gọi là “chiến tranh biên giới – la guerre des frontières”. Điều này không sai vì địa bàn cuộc chiến chỉ giới hạn ở các vùng biên giới. Tên này cũng được đặt cho cuộc chiến Campuchia tháng 12 năm 1978. Nguyên nhân cuộc chiến VN-Campuchia bắt nguồn từ các tranh chấp về biên giới, lãnh thổ. Một cuộc chiến tranh vì vậy cũng có thể mang tên “mục tiêu” của các bên tham gia cuộc chiến.

Phía CSVN gọi đó là cuộc chiến “xâm lược”: “Chiến tranh xâm lược ngày 17-2-1979 là đỉnh cao của những hành động thù địch của lãnh đạo TQ”.

Tôi tốt nghiệp K25/ TVBQGVN vào cuối năm 1972. Ra trường, tôi chọn binh chủng Biệt Động Quân.

Thuở ấy, như bao nhiêu người trẻ tuổi khác, lòng tôi mơ chiến trận. Gần nhất, tôi mơ được là một trong những năm mươi hai Tiểu Đoàn Trưởng của binh chủng Biệt Động Quân. Về sau tôi mới biết có những con đường khác rộng rãi hơn, bởi vì hoàng hậu của chiến trường là các Sư Đoàn Bộ Binh chớ không phải là Biệt Động Quân. Tuy nhiên, sự lựa chọn trên đã mang đến cho tôi một cơ hội lịch sử của cuộc đời: Tôi là sĩ quan cuối cùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tốt nghiệp trường Ranger School của Hoa Kỳ.

Who´s online

We have 41 guests and no members online