• Nghệ Thuật Dùng Người - Phạm Văn Bản

    Thử bàn thêm vào mục “Lời Hay Ý Đẹp” của Tiếng Vọng Trẻ: “Dùng người như dùng cây, chớ vì một vài chỗ mục mà bỏ cả cây to (Kinh dịch).” Dùng người nghĩa là chúng ta biết cách phối trí nhân sự trong tổ chức để dùng người nào việc nấy. Nếu không hiểu nguyên tắc phối trí nhân sự thì làm sao có người để mà chúng ta lãnh đạo điều hành? Nếu không hiểu nguyên tắc dùng người, thì lấy người đâu để mà mà phân công phân nhiệm? Không có lãnh đạo, không có tổ chức thì không có thành công. Dù chúng ta có tài, có khả năng lãnh đạo, có khả năng tổ chức mà thiếu khả năng phối trí nhân sự thì cũng thất bại mà thôi.

    Đề cập tới năng lực phối trí nhân sự hay phát huy nghệ thuật dùng người, chúng ta thường nghe câu nói ngắn gọn, “Dụng nhân như dụng mộc.” Nhìn lại lịch sử nhân loại thì thấy việc dùng người mỗi thời mỗi khác. Dùng người còn tùy thuộc vào vai trò, nhiệm vụ, lãnh vực chuyên môn. Thuật dùng người cũng tùy thuộc vào thời điểm, vào những lãnh vực hay ngành nghề, mà chúng ta cần linh động, hay biến cải sao cho hợp thời hợp lúc và hữu dụng.

    Theo thuật dùng người của Ngô Khởi, một trong hai binh gia Trung Quốc thời xưa là Tôn Tử và Ngô Tử, gọi là lý thuyết dụng binh Tôn Ngô Binh Pháp. Khởi làm tướng, ăn mặc đều giống như binh sĩ cấp thấp, ngủ không trải chiếu, đi không dùng xe, tự tay bọc lương thực và mang theo như lính, đồng cam cộng khổ với ba quân… chớ không bắt lính hầu hạ, không tham quan nhũng nhiễu, không dĩ công vi tư hoặc ăn cắp tài sản quốc gia mà làm của riêng… Một hôm có người lính trẻ bị nhọt xưng đau đớn, tướng Ngô Khởi liền dùng miệng mình mà giúp lính hút mủ độc của mụn nhọt. Mẹ người lính ấy khi được tin thì bà òa lên khóc. Có người hỏi, “Con bà làm lính mà được tướng lãnh hút nhọt cho khỏi, thì là điều mừng cớ sao bà khóc?” Mẹ lính ấy trả lời, “Không phải tôi thấy con mình được tướng lãnh yêu mà khóc. Năm xưa Ngô Công cũng đã hút mủ cho cha nó, và chồng tôi ông ấy đã chiến đấu hết mình đến phút hy sinh và bỏ thân trên đất địch. Nay tới lượt Ngô Công cũng hút mủ cho con ông ấy, thì tôi biết sớm muộn gì nó cũng chết như cha nó ở nơi nào, vì thế mà tôi khóc thương cho nó!”

    Tiếp đến mỗi khi quan sát việc thành công thì chúng ta không thể dùng thước tấc, dùng sức mạnh hay mức độ hiểu biết trong trường ốc của mình, mà đo lường… Chúng ta chỉ có thể đo lường bằng đánh giá mức độ tư tưởng. Tư tưởng lớn thành công cao, tư tưởng nhỏ thì thành công thấp.

    Có bao giờ chúng ta lắng tâm để suy nghiệm đoạn đường đời của mình đi qua, như cuộc sống gia đình xã hội hay nghề nghiệp trong quá khứ cũng như hiện tại. Và lần có nào đó, chúng ta đã đánh giá thấp khả năng của người khác, mà rồi khiến mình trở thành thân bại danh liệt?


    Vì thực ra, cá nhân kia nếu phân tích từng điểm thì chưa chắc người ấy đã có nhiều điểm hơn ta… Đó là trường hợp của Tổng Thống Hoa Kỳ Gerald Ford, không nhìn thấy tài năng của Đại Tướng Norman Schwarzkopf, con sư tử của chiến tranh Vùng Vịnh Ba Tư. Vị chỉ huy tuyệt vời của chiến dịch “Bão Tố Sa Mạc,” một cuộc chiến đã chứng tỏ có nhiều cái nhất. Qui mô nhất, vũ khí tối tân nhất, đối thủ hung hăng nhất, khối tôn giáo đông đảo nhất, và đã kết thúc chiến dịch này nhanh nhất. Ngoài ra, chỉ huy cũng khó khăn nhất, vì cuộc chiến luôn luôn có sự hiện diện, kiểm tra của cả hệ thống thông tin liên lạc qua báo chí, truyền thanh truyền hình Hoa Kỳ và các nước đứng hàng đầu thế giới… Từ ngàn xưa tới hôm nay, nhân loại mới được thấy lần đầu tiên theo dõi và thưởng lãm hình ảnh của Chiến Tranh Vùng Vịnh trên TV.

    Câu chuyện xa xưa, tưởng rằng đi vào dĩ vãng! Nhưng cách dùng người và hành động đánh giá người thấp của Tổng Thống Gerald Ford đã ảnh hưởng tai hại không ít đến sự nghiệp chính trị của ông. Vào thượng tuần tháng giêng năm 1974, lúc quyền lực Hoa Kỳ bị thách thức ở khắp nơi trên thế giới, Norman Schwarzkopf là một tướng trẻ hăng say nhiệt tình, có đầy năng lực năng và được đề nghị làm phụ tá quân sự cho tổng thống. Công việc bổ nhiệm ngày ấy còn đang tiến hành, thì bỗng dưng lại bị bãi bỏ! Để rồi chờ đợi mãi tới hơn 15 năm sau, Đại Tướng Norman Schwarzkopf mới có cơ hội giúp ông thi thố tài năng ở chức vụ Tư Lệnh, trong cuộc chiến Vùng Vịnh Ba Tư.

    Như thế, cách dùng người của Tổng Thống Gerald Ford với vị tướng trẻ tài ba này, đã chứng tỏ tồng thống có tầm nhìn hẹp, thấp, và tư tưởng nhỏ! Từ cách đánh giá khả năng thấp ấy nó đã ảnh hưởng đến mức độ không thành công của ông trong cuộc tái tranh cử ngày đó.

    Dù cho dùng người thì mỗi thời mỗi khác. Chúng ta nghiệm lại thuật dùng người của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, người lãnh đạo toàn quân toàn dân và đánh tan giặc xâm lăng Mông Cổ, một đoàn quân hùng mạnh vào bậc nhất thế giới thời bấy giờ. Ngài đã tỏ lòng với quân sĩ dưới trướng, như sau:

    “… Ta đây đến bữa quên ăn, giữa đêm vỗ gối, nước mắt đầm đìa hai má, lòng đau như cắt, thường căm hờn chẳng được ăn thịt, lột da, nhai gan, uống máu quân thù. Ví dầu một trăm thân ta phải phơi thây nơi đồng cỏ, một ngàn thây ta bọc trong da ngựa cũng không bằng. Các ngươi theo ta đã lâu ngày, nắm giữ binh quyền, không có áo, ta lấy áo cho mặc, không có ăn ta lấy thức ăn cho ăn, chức quan nhỏ ta cho lên chức, lương ít ta cấp thêm bổng lộc, đi dưới nước ta cho thuyền, đi trên bộ ta cho ngựa, khi gặp việc binh đao cùng nhau sống chết, khi thắng lợi nghỉ ngơi cùng nhau cười nói vui mừng…”

    Trong Binh Thư Yếu Lược, ngoài những cách hướng dẫn về thiên văn, địa lý, chọn tướng, đạo làm tướng, và những điều thiết yếu cho việc dụng binh, Đức Hưng Đạo Vương còn dạy cách dùng người. Ngài chia cách dùng người ra làm 3 cấp: Dùng Quân, Dùng Tướng, và Dùng Chủ Tướng.

    1. Dùng Quân

    Dùng quân thì phải biết xử dụng những kẻ: mưu trí, dũng cảm, tham lam lẫn những kẻ ngu ngốc.
    - Những kẻ mưu trí thì thích lập công.
    - Những kẻ dũng cảm thì thích thực thi chí hướng của họ.
    - Những kẻ tham lam thì thích chạy theo lợi lộc.
    - Những kẻ ngu ngốc thì không nhìn thấy cái chết.
    Và tùy theo tính tình của từng người mà dùng họ, đó là phép dùng người vi diệu của Tướng dùng Quân.

    2. Dùng Tướng

    Dùng tướng thì phải trao quyền cho tướng, tướng nói tướng không thể dùng binh thì chớ dùng, tướng nói tướng có thể dùng binh thì dùng. Tướng nói có thể đuổi đánh quân địch thì phải đuổi đánh; tướng nói không thể đuổi đánh thì chớ đuổi đánh. Như thế quân pháp không rối loạn, quyền hạn không bị cản trở.

    Nhưng biết dùng tướng, trước hết phải biết chọn tướng. Muốn biết chọn tướng thì trước hết phải biết xét tướng. Những việc hiểu biết ấy đem lại sức mạnh thần diệu cho chủ tướng, cho nên làm chủ tướng không thể không xem xét cẩn thận việc khiển Tướng dùng Binh.

    3. Dùng Chủ Tướng

    Có hai loại tướng, một là dũng tướng, hai là mưu tướng. Dũng tướng dùng để đánh chỗ kiên cố, vây hãm trận địch, gây thanh thế. Còn việc lo liệu, sắp đặt kế sách hay tùy cơ ứng biến đối phó với địch quân, nếu không có tướng mưu trí thì không thành công. Nếu tướng chỉ cậy sức mạnh, gan dạ không thôi thì phải thua tướng mưu trí. Cho nên ngày xưa xây đàn, lên đài, nói chung phải mời tướng mưu trí để làm chỗ cậy trông cho dùng tướng. Do đó người làm chủ tướng không cần thiết phải biết thuật đánh kiếm, múa gươm, cưỡi ngựa, bắn cung… mà cần phải biết thông suốt các việc xưa nay.

    Vậy phải giao nhiệm vụ chủ tướng cho ai?

    Ta cần trắc nghiệm, thử thách xem phản ứng của họ, để biết viên tướng tài giỏi hay ngu tối mà giao quyền chỉ huy.

    * * * *

    Qua bài học của đông tây kim cổ nói trên, thì chúng ta có thể rút tỉa kinh nghiệm thuật dùng người và chia ra thành 3 cấp: kỹ thuật, xảo thuật và nghệ thuật.

    1. Kỹ thuật dùng người, là điều động, tổ chức nhân sự vào công tác, mục đích có tính toán mà không đặt tình yêu thương cũng như sự an nguy của người hợp tác với ta, như trường hợp Tổng Thống Gerald Ford.

    2. Xảo thuật dùng người, là xử dụng mưu kế, bày tỏ lòng yêu thương với người hợp tác, để họ sống hết lòng với ta, như trường hợp Ngô Khởi… nhưng sự yêu thương thường là đóng kịch giả dối nên dễ xử dụng và được nhiều lãnh tụ áp dụng.

    3. Nghệ thuật dùng người, là phong thái nghiêm minh, cung cách cư xử chí tình, liêm chính, ngay thẳng với tấm lòng yêu thương chân thật đối với người hợp tác hay thuộc quyền, như Đức Hưng Đạo Vương. Nghệ thuật dùng người là dùng cái cao cả nhất, cái nguyên tắc muôn đời muôn thuở của thuật dùng người.

    Với ba lối dùng trên, lối nào cũng giúp cho chúng ta thành công, nhưng muốn thành công theo chiều hướng tốt và danh thơm để đời, thì hãy cẩn thận loại bỏ kỹ thuật hay xảo thuật mà áp dụng nghệ thuật dùng người. Dù nghệ thuật dùng người có khó khăn, có chậm chạp hay phải kéo dài thời gian mới tiến được tới bước thành công. Người viết thiết tưởng rằng chúng ta nên chọn nghệ thuật dùng người, bởi đó là chánh đạo, là đường của các bậc chánh nhân quân tử, tư tưởng gia, triết gia, chính trị gia chân chính đã chọn và đã thành công.

    Để phát triển khả năng đọc tư tưởng của người, chúng ta có thể luyện tập 3 thói quen dưới đây:

    1. Quan sát: hãy xem xét bất cứ công việc gì, dù nhỏ hay lớn, có hoặc không liên quan đến ta.

    2. Phân tích: chia công việc ra nhiều phần nhỏ, và dùng lý luận thuận, nghịch để phân tích rõ ràng.

    3. Xét người: luôn đặt ta vào vai trò của người mà ta muốn phê bình hay chỉ trích với câu hỏi: Ta có dám đảm nhận vai trò của họ không? Ta có sẵn sàng làm tốt hơn vai trò đó không?

    Bởi thế muốn xây dựng và phát triển Việt Nam tương lai, chúng ta cần học hỏi, trau dồi, rèn luyện, mở mang tầm nhìn của mình để có thành công lớn. Trên thực tế, đánh giá khả năng không phải là chuyện dễ, nhưng dù sao, muốn chính xác và ít sai biệt, chúng ta cũng cần tham khảo theo phương pháp sau đây:

    1. Lựa chọn ưu điểm

    Chọn ít nhất 3 khả năng, và 3 tính tốt của bản thân mà mình ưa thích nhất. Rồi nhờ vợ/ hoặc chồng, con cháu, bạn bè, thày cô… hoặc người đã thành công, để họ nhận xét và góp ý với mình.

    2. Lập bảng so sánh

    Sau đó, chúng ta viết ra tên 4 người đã thành công, rồi so sánh khả năng và đức tính của người đó có mà ta có. Chắc chắn chúng ta cũng có được một khả năng hay tính tốt nào đó, khi đem ra đối chiếu với người thành công kia.

    Dùng phương pháp đánh giá khả năng trên, chúng ta sẽ nhận ra được tầm cỡ của mình, và lúc đó chúng ta sẽ biết được khả năng của mình lớn hơn mình đã nghĩ.

    Trước khi từ bỏ hẳn mặc cảm thua sút, yếu kém do đánh giá khả năng thấp, tư tưởng nhỏ, hay tầm nhìn gần. Một lần nữa, chúng ta quay về quá khứ xét lại thần tượng một thời mà làm mình say mê ngưỡng mộ. Ví dụ, chúng ta xem thần tượng như một người xuất chúng, kiến thức uyên bác, nhìn xa trông rộng, mọi thứ đều nhất. Nói chung, chúng ta xem ông như một tự điển lớn.

    Rồi chúng ta dùng phương pháp đo lường, đánh giá khả năng và đức tính của ông đối chiếu với mình, xem thần tượng mình có phải là có tư tưởng lớn không, hay chỉ là cuốn tự điến lớn chứa những từ ngữ lớn, chớ không phải tư tưởng lớn. Trên thực tế, nhiều thần tượng đã thích dùng những lời đao to búa lớn, những câu văn khó hiểu, giàu âm thanh phô trương, và mang tính chất trình diễn. Khi chúng ta hiểu ra được những tính chất phô trương đó, thì không còn gì khiến mình bận tâm. Bởi đó là việc bình thường, sẵn có nơi những người mang tư tưởng nhỏ ở trong xã hội này.

    Trong hội thảo chúng ta đừng chú ý những câu văn bóng bẩy, lời nói chải chuốt… mà cần tập trung vào ngay những hình ảnh, tư tưởng của người diễn thuyết. Bởi vì lời nói, câu nói chính là vật liệu xây dựng tư tưởng, tư tưởng nhỏ hay lớn sẽ giúp chúng ta dễ dàng phát giác ra ngay.

    Ví dụ, khi chúng ta nghe một người nào đó nói: “Trời sắp chuyển mưa. Thôi đi vô nhà đi!” Nghe câu nói đó, chúng ta thấy trong đầu mình hiện ra hình ảnh vài ba người phải chạy vào nhà, vì trời mây đen vần vũ, sấm chớp kéo đến và sắp mưa.

    Và khi chúng ta nghe câu nói lịch sử của Triệu Trinh Vương, để đối chiếu lại vấn đề tư tưởng trên: “Ta muốn cỡi cơn sóng dữ, chém cá kình ở Biển Đông, chớ không khom lưng làm tì thiếp cho người.” Nghe câu nói này, trong đầu óc chúng ta ắt tưởng tượng ra hình ảnh của một vị nữ tướng oai phong lẫm liệt, mắt sáng như sao băng, giọng đanh thép thách thức kẻ thù… mà chính chúng ta cũng cảm thấy giòng máu nóng trong người mình xôi động.

    Xét qua hai câu trên, chúng ta sẽ phân biệt được tư tưởng nào là tư tưởng nhỏ hay tư tưởng lớn. Tư tưởng lớn tạo ra tính xác định, bước tiến tới, kích động tinh thần, và mang hình ảnh rõ nét. Người có tư tưởng lớn còn giàu lòng vị tha, không chấp nhất những chuyện nhỏ nhặt, và là người ngay thẳng, nhiệt tình, sống vì tha nhân quên mình.

    Tóm lại, chúng ta cần học hỏi và nhận biết về tư tưởng của người và phát huy nghệ thuật dùng người trong tổ chức cũng như phối trí nhân sự nhằm mang lại ơn ích cho chính mình, tổ chức mình và quê hương đồng bào.





website hit counter