• Tướng Ngô Quang Trưởng và Lữ Đoàn 369 TQLC Tại Phòng Tuyến Mỹ Chánh - Vương Hồng Anh

    Tổng lược tình hình chiến sự tại phòng tuyến Mỹ Chánh trong 3 ngày đầu tháng 5/1972

    Như đã trình bày, sau khi Sư đoàn 3 Bộ Binh và các binh đoàn tăng phái triệt thoái khỏi Quảng Trị vào ngày 1 tháng 5/1972, Cộng quân đã áp lực nặng lên tuyến phòng thủ của Lữ đoàn 369 Thủy Quân Lục Chiến ở Mỹ Chánh ở phía Nam, cách thị xã Quảng Trị khoảng 15 kn đường chim bay. Ngay từ chiều ngày 1/5/1972, bộ chỉ huy Lữ đoàn 369 TQLC đã có cuộc họp khẩn cấp để bàn kế hoạch ngăn chận CQ tại tuyến Mỹ Chánh. Lực lượng chính của Lữ đoàn là Tiểu đoàn 2, Tiểu đoàn 5 và Tiểu đoàn 9 TQLC. Từ tối 2 tháng 5/1972, Cộng quân đã tấn cộng cường tập vào tất cả các vị trí trọng yếu của lữ đoàn này.

    Sáng ngày 3 tháng 5/1972, được sự yểm trợ của Không Quân Việt-Mỹ, các đơn vị của Lữ đoàn 369 TQLC đã đẩy lùi được các đợt tấn công bằng chiến xa và Bộ binh CQ. Riêng tại tuyến chiến đấu của Tiểu đoàn 9 TQLC, các tổ chống chiến xa bằng M 72 của tiểu đoàn và Không quân chiến thuật đã bắn hạ hơn 20 chiến xa địch quân. Chiều ngày 3 tháng 5/1972, theo kế hoạch của bộ chỉ huy Lữ đoàn, các tiểu đoàn TQLC thống thuộc đã rút về phía Nam sông Mỹ Chánh và lập tuyến phòng thủ dọc theo bờ sông từ Đông lên đến núi ở phía Tây. Trước khi Quân đoàn 1 khởi động cuộc tổng phản công tái chiếm Quảng Trị thì phòng tuyến Mỹ Chánh trở thành tuyến đầu của QL/VNCH ngăn chận CSBV.



    Trung Tướng Ngô Quang Trưởng & Chuấn Tướng Bùi Thế Lân & Đại Tá Ngô Văn Định - Quảng Trị 1972


    * Câu chuyện giữa Cố vấn Hoa Kỳ và Lữ Ðoàn Trưởng 369/TQLC tại bờ Nam sông Mỹ Chánh
    Sau khi cụm tuyến Quảng Trị bị vỡ, các sĩ quan cố vấn Hoa Kỳ cạnh các đơn vị TQLC đã tỏ ra lo ngại về những tổn thất kế tiếp cho các Tiểu đoàn và Lữ đoàn Cọp Biển, nhưng khi chứng kiến sự chiến đấu với đầy quyết tâm của Lữ đoàn 369 TQLC tại Mỹ Chánh, họ đã yên lòng và tìm cách để yểm trợ thật hữu hiệu cho các đơn vị TQLC trong nỗ lực chận đứng cuộc tiến quân về hướng Nam của các trung đoàn CSBV.

    Theo tài liệu của cựu Đại Tá Phạm Văn Chung, nguyên Lữ đoàn Trưởng Lữ đoàn 369 TQLC, vào lúc 8 giờ sáng ngày 3 tháng 5/1972, trong khi CQ ngớt pháo kích, Thiếu Tá Bob Sheridan Cố vấn Lữ đoàn với vẻ mặt nghiêm trang đến gặp vị Lữ đoàn Trưởng và hỏi:
    – Sir, mọi người đều bỏ lùi về phía Nam hết, còn Lữ đoàn mình thì sao?

    Đại Tá Chung trả lời:
    – Lữ đoàn 369 TQLC là một Lữ đoàn giỏi, chúng ta không đi đâu hết, với sự yểm trợ hỏa lực của các anh, chúng tôi sẽ ngăn chận địch tại đây, không một tên VC nào có thể qua sông này được.
    – Sir yên tâm tôi có thể nói với Sir rằng hôm nay Sir có trong tay một hỏa lực mạnh nhất vùng Đông Nam Á.

    – Anh nói gì tôi không hiểu?
    – Tôi vừa nhận được lệnh là tất cả 30 phi vụ B 52, tất cả Không Quân Chiến Thuật ngoài Hạm đội 7, các căn cứ bên Thái Lan và tất cả Hải Pháo dưới tàu ngày hôm nay Sir là cấp chỉ huy được ưu tiên số 1. Vậy muốn đánh đâu xin cho tôi rõ.

    Nhận được sự yểm trợ hỏa lực mãnh liệt như vậy, Lữ đoàn 369 nhanh chóng chọn ngay khoảng 20 mục tiêu cho B 52 oanh tạc như: các vị trí nghi ngờ là kho tiếp vận, điểm trú quân của CQ, các cơ sở chỉ huy cấp bộ cao của đối phương quanh khu vực gần Quốc Lộ 1 phía Bắc sông Bến Hải, cùng các mục tiêu khu vực sát Quốc Lộ 9 (từ Đông Hà lên đến Lào), cửa ngõ chuyển quân của csBV từ đường mòn Hồ Chí Minh (trong địa phận Lào) xuống các đỉnh cao ở phía Tây Quảng Trị.

    Không Quân Chiến Thuật được tự do đánh phá tất cả các mục tiêu di động. Các phi công được tự do không kích, oanh tạc khi phát hiện có sự di động dưới đất mà không cần phải liên lạc hỏi lại bộ chỉ huy hành quân ở khu vực mà họ tăng phái, ngoại trừ các làng mạc, thị xã giới hạn từ bờ Bắc sông Thạch Hãn đến sông Thạch Hãn. Từ phía Nam sông Thạch Hãn đến cầu Ô Khe, Không Quân Chiến Thuật oanh kích theo yêu cầu của đơn vị bạn dưới đất và có sự liên lạc trên tần số Không - Lục để điều chỉnh và hướng dẫn mục tiêu.




    * Trung tướng Ngô Quang Trưởng, Ðại tá Phạm Văn Chung và Lữ Ðoàn 369/TQLC
    Ngày 3 tháng 5/1972, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã ký sắc lệnh bổ nhiệm Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Quân đoàn 4, giữ chức vụ Tư Lệnh Quân đoàn 1 thay thế Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm. Tiếp đó, ngày 4 tháng 5/1972, Tổng Thống Thiệu bổ nhiệm Đại Tá Bùi Thế Lân, Tư Lệnh Phó Sư đoàn TQLC, giữ chức Tư Lệnh Sư đoàn này thay thế Trung Tướng Lê Nguyên Khang (24 ngày sau Đại Tá Lân được vinh thăng Chuẩn Tướng). Ngay sau khi nhận chức, Trung Tướng Trưởng đã bay thị sát chiến trường ở khu vực bờ Nam Mỹ Chánh.

    Theo lời kể của Đại Tá Phạm Văn Chung, Trung Tướng Trưởng đã bất thần đáp trực thăng xuống ngay bộ Chỉ huy nhẹ của Lữ đoàn 369, lúc đó Đại Tá Chung đang bận áo thun do trời quá nóng, ông không kịp chào đón vị Tư Lệnh Quân đoàn 1 theo đúng nghi thức quân cách. Đại Tá Chung chào Tướng Trưởng và xin lỗi vì không biết trước nên không tiếp đón nghiêm chỉnh. Trung Tướng Trưởng vui vẻ gật đầu, sau đó vị tân Tư Lệnh Quân đoàn 1 yêu cầu Đại Tá Chung trình bày tình hình và diễn tiến các sự kiện đã xảy ra sau khi Sư đoàn 3 BB và các đơn vị tăng phái triệt thoái khỏi Quảng Trị.


    Các chiến sỉ TQLC bên dòng sông Mỹ Chánh - 1972

    Đại Tá Chung đã thuyết trình cặn kẽ và cũng xin lỗi về sự thay đổi về chiến thuật trong ba ngày vừa qua mà không được lệnh của Quân đoàn, từ kế hoạch chuyển quân từ hàng dọc để phối trí thành hàng ngang như hiện nay, đồng thời vị Lữ đoàn Trưởng 369 TQLC cũng trình bày lý sao vì sao ông đã làm như vậy. Trung Tướng Trưởng khen Đại Tá Chung: Anh làm vậy rất đúng. Sau đó, vị Tư Lệnh Quân đoàn 1 hỏi Lữ đoàn Trưởng Lữ đoàn 369 TQLC:
    – Anh có thể nghĩ rằng mình có thể giữ được tại đây không?

    Đại Tá Chung trả lời: Thưa Trung Tướng, chắc chắn mình có thể chận đứng VC tại đây.
    Nghe Đại Tá Chung nói như thế, Trung Tướng Trưởng rất vui. Sau đó, Đại Tá Chung hướng dẫn Tư Lệnh Quân đoàn 1 quan sát trận địa. Trước khi ra về, Trung Tướng Trưởng đã gọi riêng Đại Tá Chung ra một gốc cây và thân mật hỏi:
    – Chung, tôi muốn Chung nói hết sự thật cho tôi đừng dấu diếm gì cả, liệu mình có giữ được vùng này không?

    Một lần nữa Đại Tá Chung mạnh dạn quả quyết nói với Trung Tướng Trưởng: Xin Trung Tướng yên tâm, mình chắc chắn sẽ chận địch tại đây.

    Đại Tá Chung đã từng hành quân dưới quyền chỉ huy của Trung Tướng Trưởng nên vị tướng này hiểu rõ khả năng của ông: khi Tướng Trưởng còn là Tư Lệnh Sư đoàn 1 Bộ Binh, thì ông là Tham Mưu Trưởng Lữ đoàn 258 TQLC (Đại Tá Tôn Thất Soạn là Lữ đoàn Trưởng Lữ đoàn này). Thời gian Trung Tướng Trưởng giữ chức Tư Lệnh Quân đoàn 4 tại miền Tây Nam Phần, Đại Tá Chung có nhiều lần điều động quân tăng phái cho Quân đoàn 4 để hành quân bảo vệ kiều bào Việt Nam ở Căm Bốt. Trung Tướng Trưởng xuất thân khóa 4 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức - khóa Cương Quyết, ra trường vào đầu tháng 6/1964 (cùng một đợt với khóa 10 sĩ quan hiện dịch Đà Lạt); Đại Tá Chung nhập ngũ sau Trung Tướng Trưởng vài tháng và được gọi theo học khóa 4 phụ Sĩ Quan Trừ Bị (khóa Cương Quyết 2), nhưng do trường Thủ Đức không còn chỗ, nên khóa này có khoảng 300 sinh viên sĩ quan (trong đó có ông) được gởi lên Đà Lạt theo học chương trình đào tạo sĩ quan trừ bị như ở Thủ Đư'c.


    Trở lại với kế hoạch phòng thủ tại tuyến thép Mỹ Chánh, sau khi ghé thăm Lữ đoàn 369 TQLC, Trung Tướng Trưởng trở về bản doanh bộ Tư lệnh Hành Quân Quân đoàn 1 đặt trong trại Mang Cá (trước 1972 là bản doanh của bộ Tư lệnh Sư đoàn 1BB). Ngày 4 tháng 5/1972, Trung Tướng Trưởng khởi động một kế hoạch tổng quát để giữ vững tuyến Mỹ Chánh và bảo vệ Huế. Nỗ lực chính chận địch ở hướng Bắc Thừa Thiên và khu địa giới hai tỉnh Quảng Trị - Thừa Thiên là Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến. Tại tuyến Mỹ Chánh, ngày 5 tháng 5/1972, Lữ đoàn 258 TQLC (Lữ đoàn Trưởng - Đại Tá Ngô Văn Định) được điều động án ngữ phía Tây Quốc lộ 1 từ sông Mỹ Chánh đến vùng núi, lữ đoàn 369 TQLC trách nhiệm phòng thủ phía Đông của Quốc lộ 1 ra đến bờ biển. Hai lữ đoàn này được lệnh chuẩn bị cuộc phản công vượt sông Mỹ Chánh vào trung tuần tháng 5/1972.


    Vương Hồng Anh [/COLOR]





website hit counter