PDA

View Full Version : Truyện ngắn Truơng Kim Báu



Bao Vu
12-28-2015, 10:29 PM
Viết Về Những Người Bạn Thân của Phi Đoàn 524 Thiên Lôi
Trương kim Báu


http://hoiquanphidung.com/uploadhinh/hqpd3/HQPD_1365658924.JPG

Từ ngày quen các anh trong lễ hội Tổ Quốc và Không Gian do Không Quân tổ chức, những đêm sau chuyến bay hay những lần được biệt phái về, trừ các anh đã có gia đình, còn lại những anh độc thân của phi đoàn 524, phòng khách nhà em luôn ầm vang tiếng cười vui vẻ, không đủ chỗ cho các anh ngồi bên những dĩa trái cây hấp dẫn mà các anh thay phiên nhau mang đến..

Một lần có phi vụ đặc biệt, bốn người các anh lâm vào không chiến với bọn Tàu hay Liên Xô (dẫn đầu là chiếc số 1 với Bùi Gia Định "biệt hiệu là Định lắc ", chiếc số 2 với Nguyễn Văn Dọng "biệt hiệu là Mộ địa", chiếc thứ 3 với Ngô Đức Cửu "biệt hiệu Cửu chà", chiếc thứ tư với Nguyễn Đình Toàn "biệt hiệu Toàn đờn"). Sáng đó, em lên sân thượng sớm để chờ nghe tiếng động cơ. Bốn chiếc máy bay sắp hàng lướt ngang qua rồi nghiêng mình lượn lại, sau đó mới bay thẳng ra đi. Cả ngày em hồi hợp chờ trông tin tức. Đêm đến, các anh trở về với nét mặt tỉnh bơ không biểu cảm, nhưng chẳng thấy anh Toàn. Phải hai, ba lần em gặng hỏi, các anh mới trả lời: "Toàn đã gãy cánh rồi! Đang tìm xác!" Em đã khóc cho đớn đau lắng đọng, cho sự hụt hẫng tận cùng được các anh giấu kín trong tim. Cũng như em đã từng ràn rụa nước mắt khi biết tin từng Đại Bàng gãy cánh trong Phi đoàn 524, những cánh chim đã từng ngồi la liệt thuở nào trong phòng khách nhà em.

Mỗi lần Dọng đi biệt phái ở Pleiku, các anh Toàn, Dự, Cứ thay phiên nhau lịch sự an ủi và săn sóc cho em.

Toàn có tiếng hát rất hay nên gặp em là cất giọng: "Tôi xa Hà Nội năm lên 18 khi vừa biết yêu...". Dự mới yêu người đẹp tên Ái Liên nên nhờ em thêu tên Ái Liên vào ngực áo. Vừa thêu xong tên người đẹp, Dự mặc ngay chiếc áo vào và tay luôn vuốt nhè nhẹ nồng nàn lên tên người yêu dấu. Cứ, vừa làm quen với một nữ sinh Trung Học, hẹn hôm nào sẽ đưa cô ấy đến thăm em. Dọng cũng mang một chiếc áo... rách đến nhờ em thêu dùm. Cầm áo trên tay, em hiểu ngay Dọng cố tình khoét lỗ. Em mua ren có hình quả tim ẩn hiện trong mây cùng hoa lá, rồi luồn vào để lấp đầy lỗ hỏng. Khi trả lại áo cho anh, các bạn cười ầm như vỡ chợ, bởi họ hiểu em đã đọc được ý nghĩ thầm kín trong anh. Anh lầm lì phớt tỉnh, hát nho nhỏ những lời tình tứ: "Tôi yêu em, tôi yêu em từ nghìn thu...." Anh tiếp tục làm hề cho tiếng cười em trong đêm đó ròn rã không ngừng.

Có một buổi trưa, Định diện thật thanh lịch đến nhà, hối em lên xe anh ấy. Định chở em đi và ngừng trước một căn nhà rất bề thế, kín cổng cao tường, rồi kêu em tiến vào nhà ấy. Căn nhà của Như Ý, của người đẹp mà Định đã yêu thầm. Thấy em lưỡng lự, Định hỏi:

- Ngày xưa Báu học trường nào?

- Lê Quý Đôn, em trả lời.

Định vò đầu:

- Tại sao không học trường Võ Tánh? Như Ý học trường Võ Tánh mà.

Đoạn, Định chở em ra Hòn Chồng. Tụi em cùng im lặng ngắm trời mây. Tuy hiện diện nơi này, em vẫn hiểu trái tim Định đang ở một nơi có người con gái mang tên Như ý. Nên em tìm cách cho Như Ý và Định quen nhau. Nhưng cha mẹ của Như ý không bằng lòng, vì đời quân nhân mỗi ngày đối diện cùng mạng sống cheo leo trong đường tơ kẽ tóc, họ sợ con gái mình trở thành góa phụ khi tuổi hãy còn xanh.

Chủ nhật là ngày em đến Dòng Tu Kín ở Đồng Đế để dâng thuốc men và thực phẩm cho một Soeur đang bệnh nặng. Các nữ tu dù đau đến chết cũng không được ra khỏi bức tường nhà Dòng. Tới lượt Nguyễn Đỗ Toàn (biệt danh " Toàn gật") canh giữ em, nên sau khi xong việc, tụi em dạo chơi trên bờ biển Đồng Đế. Toàn hỏi:

- Báu thích ăn bưởi không? Bưởi Biên Hòa đó.

Em reo vui:

- Bưởi Biên Hòa không chua, ngon lắm! Con gái Biên Hòa trắng, đẹp và hiền hòa nữa.

Toàn tâm sự:

- Ba má Toàn giới thiệu cho Toàn một cô gái Biên Hòa, nhà có vườn bưởi. Khi nào ba má gọi Toàn về xem mắt, Toàn mời các bạn, Báu đi luôn nhé!

Dọng ơi! Nhớ không anh? Có một đêm các anh tề tựu ngay phòng khách nhà em nói cười ròn rã. Thình lình ông anh của em bước vào miệng hơi nồng men rượu, vụt hỏi:

- Các bạn đông, vui quá! Vậy ai là người yêu của em gái tôi?

Định đứng lên chào theo kiểu nhà binh:

- Đại úy Bùi Gia Định, Phi đoàn 524 Thiên Lôi xin trình diện, là người yêu của cô út. (Lúc đó Định chưa lên lon Trung Tá).

Tiếp theo là Trung úy Nguyễn văn Nhị, Trung úy Nguyễn Đình Toàn, Thiếu úy Đinh Quang Cứ ...vv...vv... Sau cùng là Trung úy Nguyễn văn Dọng. Ông anh em cười ha hả:

- Chịu thua các anh luôn!

Ông anh của em liền thân mật mời các anh vào ngày chủ nhật, ra đảo, lên chiếc du thuyền mà anh vừa mới tậu. Anh có tiếng là một bác sĩ chịu chơi nhất Nha Trang.

Bất cứ sinh hoạt nào của các anh cũng đều có em tham dự, như đá banh em cũng đi xem. Em trang điểm thật kỹ với chiếc áo dài mới may, từ trên lầu bước xuống. Trong phòng khách, Định, Toàn và Dọng đang đứng gần đó, em xoay người một vòng và hỏi xem em có đẹp không? Có tiếng cười to của Đinh Xuân Ninh:

- Báu hỏi 3 người đó vô ích, hỏi anh đây nè. Bởi thằng Định bao giờ cũng lắc, thằng Toàn bao giờ cũng gật, thằng Dọng là mộ địa nên bao giờ cũng trả lời không.

Em xịu mặt bởi chẳng có một lời khen. Thấy em giận, Dọng đến gần rót nhẹ vào tai em:

- Em là thiên thần của các anh, nên lúc nào em cũng dễ thương và đẹp.

Một buổi sáng đến nhà, Dọng bảo hôm nay là ngày vô cùng đặc biệt, em phải mặc thật gọn gàng để Dọng chở em vô phi trường, lên máy bay đi dạo. Lần này dưới đôi cánh phi cơ không có mang theo đạn rocket và bom. Anh ngồi trong phòng Pilot chánh, lái vòng thành phố Nha Trang. Em đội mũ bay ngồi hàng Pilot phụ nên nghe được tiếng nói của đài kiểm soát. Dọng giảng cho em hiểu ấn nút nào thì nghe được tiếng nói của tất cả máy bay, và ấn nút nào thì chỉ có 2 người nghe thôi.

Từ trên cao nhìn xuống, em đã vô cùng cảm động! Quê hương mình thành phố với biển xanh đẹp như bức tranh thủy mặc đầy sống động! Bãi biển trắng phau êm đềm lặng lẽ, đang phủ một chiếc áo tinh khôi ấn tượng. Những hải đảo hoang sơ thơ mộng, Tháp bà Ponaga là một điêu khắc kiệt tác Chămpa. Và chiếc Cầu đá là bến cảng, nơi xuất phát những chuyến du lịch kỳ thú cho khách thập phương tham quan biển đảo.

Thình lình cầm tay em, anh thốt lời cầu hôn, làm em bậc khóc! Em chỉ im lặng gật đầu! Phi cơ vừa đáp, bạn anh túa ra đỡ em bước xuống rồi ôm chúc mừng em được gia nhập người của Phi đoàn 524.

Sự cầu hôn này là cả một sự sắp đặt của các anh. Với em, đó là một đặc ân hiếm quý, là một bất ngờ mà cả cuộc đời, em không bao giờ quên được. Em đã tự nhủ với lòng mình từ ngày ấy, là khi làm vợ anh, em sẽ chẳng mè nheo, em sẽ yêu anh chung thủy và Phi đoàn 524 là một phần đời trong trái tim em.

Sau khi đám hỏi, các bạn dành sự riêng tư cho chúng mình. Anh thường nói: "Tình cảm mình thật lạ lùng! Lúc chưa đám hỏi thì bạn bè luôn vây quanh. Nay Thùy Nhiên lại theo sát một bên. Chưa lần nào anh ôm em cho thật chặt, sao mình lại có đứa con 2 tuổi rồi". Đó là đứa cháu gái đầu lòng của gia đình em, rất được quý mến cưng yêu. Chiều nào cháu cũng bắt mẹ tắm rửa thay quần áo đẹp đứng chờ ở cổng, để anh chở em và cháu đi chơi.

Thuở nhỏ Thùy Nhiên đẹp lắm! Mỗi lần mình hẹn nhau, cháu ngồi yên trên bàn tự vui chơi với đôi bàn tay xinh xắn của mình và không bao giờ đòi hỏi bất cứ điều gì. Thiên hạ qua lại trên đường nhìn xuyên qua khung kính, cháu là con búp bê sống động. Ai hỏi, cháu đều có một câu trả lời trước sau như nhất: "Con của Báu-Dọng". Mình qua Úc, cháu cũng tìm cách qua theo. Anh luôn xem cháu là con gái đầu lòng của mình và rất mực thương yêu.

Có lần, anh cõng cháu trên vai, giăng hai tay cháu thẳng ra làm phi cơ, rồi anh chạy dưới biển, nghiêng cánh bên này bên kia. Cháu và anh cười vang dội biển xanh trong. Anh sà xuống nơi em đang ngồi, nói máy bay hạ cánh. Anh nằm dài sát bên em, Thùy Nhiên cũng bắt chước kê đầu lên ngực anh. Ôi! Hạnh phúc trần gian thấm sâu trong từng tế bào rộng mở, em hiểu được tại sao nhân thế mãi chìm đắm luân hồi.

Đám cưới xong, sau tuần trăng mật từ Đà Lạt mình trở về, anh ôm thau áo quần ra giặt giũ cho em. Vì quá mệt nên anh tiến về mái hiên nằm hút thuốc trên chiếc võng đu đưa, mắt hướng về em đang phơi đồ trưa chói chang ánh nắng. Bỗng bạn bè ào tới rũ mình đi ăn. Thấy hoạt cảnh này, một tiếng hét thình lình vang dội:

- Dọng! Mày muốn tụi tao giết mày, phải không? Sao mày hành hạ con nhỏ như vậy?

Các bạn anh chạy đến giành làm tất cả, cho em vào bóng mát nghĩ ngơi. Một anh nhanh nhẹn vào nhà rót cho em ly nước lạnh. Dọng nheo mắt nhìn em cười tinh nghịch. Thích lắm phải không em? Được các bạn anh ủng hộ mà, phải không?

Từ ngày qua Úc, sau khi dùng cơm xong, mỗi thứ bảy gia đình mình ngồi lại cùng nhau trò chuyện. Dọng thường hỏi em:

- Những ngày anh đi tù, em sống ra sao?

Em chỉ cười và trả lời:

- Anh đã dạy em đừng nhớ dĩ vãng, chẳng hướng tương lai. Luôn sống trong hiện tại. Nhưng anh cứ thắc mắc tại sao các con mình không chịu ăn cháo? Bây giờ em kể anh nghe: Sau năm 75, rất nhiều gia đình không có gạo ăn. Với đồng lương quá ít ỏi của em, lương ngân hàng không được vào biên chế vì lý lịch đen. Tiền lãnh được em chu cấp cho cha mẹ, thuê nhà, nuôi con vv...nên thường phải ăn cháo những ngày chưa mua được gạo bằng giá chính thức. Các con sợ cháo vì tối đói bụng không an giấc được. Hôm đó, bé Ly hỏi: "Chiều nay ăn cơm phải không me?" Phong nhìn đôi mắt to đen của bé đang chờ đợi câu trả lời của mẹ, thương quá nên Phong nhanh nhẩu liền: "Ăn cơm bé ơi!". Bé reo cười và khoe cùng Tiến: "Chiều nay mình ăn cơm".
Gạo chỉ đủ nấu cháo cho cả nhà ăn, nay nấu cơm thì chỉ có 2 con ăn thôi. Chị năm, Phong và em nhịn đói. Chị năm nằm nhà chịu trận. Em và Phong lên xe, đạp đi cho qua cơn hành đói.

Dọng ơi! Nay anh nằm trong bệnh viện. Các bạn không quân anh Nguyễn Phúc Hưng, anh Bùi văn Đích, anh Vũ văn Bảo, thay phiên nhau chở em mỗi buổi sáng vào nhà thương thăm và cho anh uống thuốc. Các anh ấy nói:

- Con đường Heatherton dẫn vào bệnh viện đang được sửa chữa, chỉ còn lại một lane thôi. Em đã có tuổi, tâm không an vì lo cho chồng, nên các anh không yên lòng để em tự lái xe.

Ngày xưa các bạn trong Phi đoàn 524 đã thay phiên nhau canh chừng, giữ em là của riêng anh trong mỗi lần anh đi biệt phái. Bây giờ, các bạn anh cũng giúp em cho chúng ta không bị mất nhau.

Anh nằm đó, em kề bên, sờ tay lên gương mặt xanh xao vàng vọt của anh. Cảm giác quá khó chịu bên trong làm anh từ chối. Em than thở:

- Rờ một chút cũng không cho.

Sợ em giận nên anh nhỏ nhẹ:

- Thôi thì em cứ rờ đi, chỗ nào cũng được.

Em thương Dọng quá! Đớn đau như vậy mà vẫn chiều em! Sau đó, anh kêu các con niệm Phật, và bảo: "Chúng mình cùng niệm Phật nha em!" Em nhắm mắt lại niệm liên tục nên không hay tử thần đã cướp anh đi rồi! Thùy Nhiên luôn hướng về anh nên cháu thấy anh mở mắt nhìn mọi người thân yêu lần cuối, môi mấp máy điều gì không rõ rồi ung dung ra đi nhẹ nhàng theo tiến trình sanh diệt vô thường. Thùy Nhiên gọi em 2 lần nhưng em vẫn không nghe, cháu phải kề tai em nói nhỏ: "Chú Dọng đã chết rồi!" Em mở mắt ra nhìn mới hay anh đã nhắm mắt thật rồi! Em không còn đọc được ý nghĩ trong đôi mắt biết nói của anh được nữa!

Dọng ơi! Em đã không khóc lúc xa anh, cũng như chưa từng chảy nước mắt suốt những ngày sau đó lúc tang lễ ở nhà quàn. Ngay cả buổi đọc điếu văn trước lễ di quan của anh, em cũng an nhiên, vì nước mắt đã chảy ngược vào trong trái tim em tan nát, dù gặp ai em cũng nói: "Không sao! Hãy yên lòng về tôi!"

Làm sao nói hết được cảm giác bơ vơ lạc lõng của em suốt hành trình còn lại của cuộc đời! Ngày anh đi tù, mỗi lần nhớ anh, em vẫn ấm lòng, bởi anh vẫn còn đâu đó của em. Giờ đây, em phải lội ngược dòng bão lũ cuối đời, vì anh là người Thầy dạy em biết sống tùy duyên thuận pháp, đừng hoang phí đời mình trong tử sinh mờ mịt. Anh là tri kỷ nên hiểu và dắt dìu em trong từng bước chân khập khiễng bôn ba tất bật của riêng em. Anh là người bạn thân, biết khôi hài cho em vui mỗi khi em vương trầm thống trong lòng.

Xin tạ ơn đời vô lượng! Đã cho em một người chồng tuyệt vời như thế! Biết nghiêng vai gánh hết cho em bao đa đoan bếp núc trong nhà. Biết làm cơn gió lộng, thổi tan đi nóng bức đời em. Biết truyền cho em bài học sâu xa về Đạo, học hạnh của đất, để âm thầm lắng nghe Tâm nhẫn, hướng tương lai về cõi vĩnh hằng.

Xin cảm ơn cái chết của anh, cho em thấu hiểu vô thường, cho Tâm Bồ Đề em thêm kiên cố! Dọng ơi! Tuy em hiểu mình chưa bao giờ mất nhau, ta và thế giới chưa bao giờ rời nhau trong gang tấc, nhưng xin cho em chút thời gian đi anh! Tin em đi Dọng! Sẽ có một ngày mình gặp lại nhau, là cùng hội ngộ trong nguồn cội chân nguyên bao la quang rạng.

Các bài viết khác của Trương Kim Báu:
- Lời Hứa
- Phi Vụ Cuối Cùng
- Số Mệnh
- Anh Em
- Hội Ngộ
- Xả Tang

Phòng Trực
08-22-2017, 12:00 AM
Tôi đang sửa lại bình hoa trong phòng khách, nghe tiếng ồn của các con.
- Me ơi có kết quả kỳ thi lớp 12 rồi. Kết quả của con mà chị cứ đòi xem trước.
- Của em thì để em mở, hai mẹ con mình vào đây, me cần nhờ con gái chút việc.
Tất cả các gia đình tỵ nạn nào cũng đều muốn con mình học hành tử tế để sau này có một tương lai tốt đẹp. Như thế hệ đầu tiên, qua Úc không giám đi học lại dù ngày xưa ở Việt Nam đều là dân trí thức, một phần lo cho gia đình ở đây, một phần lo thêm 2 bên nội, ngoại ở quê nhà. Người ở lại đều hy vọng được sự giúp đỡ tinh thần lẫn vật chất từ người ven trời hải ngoại.
Gia đình chúng tôi không ngoại lệ, muốn con cố gắng học nên tôi hứa.
- Con ráng học, thi lớp 12 điểm cao vào được những ngành nghề rồi me sẽ thưởng.
- Muốn gì me cũng thưởng hết hả ?
- Đúng vậy, nhưng từ 500 đô trở xuống.
Đi chùa về, đêm đã xuống nhưng khí hậu vẫn oi nồng nóng bức, hai vợ chồng tôi ra ngồi nơi mái hiên trước nhà hy vọng đón những ngọn gió mát rong chơi về muộn, con trai đến ôm mẹ và nói.
- Con muốn me mua thưởng cho con một con chó.
- Tại sao lại một con chó? Sao không mua máy hát, áo quần, giày v.v.
- Con chỉ muốn nuôi một con chó.
Tôi ngồi thừ người ra. Ngày còn bé tôi nuôi đủ loại thú, đến lúc thấy chúng phải được hòa đồng cùng thiên nhiên theo bầy, tôi thả cho chúng tự do hết, chỉ còn con chó không biết phải thả đi đâu nên giữ lại.
Năm 75 tôi sống ở Sài Gòn, chị Hương người đã theo tôi hồi nhỏ, chó phải về quê theo chị, chó bỏ ăn rồi chết.
Từ đó tôi tự hứa không bao giờ nuôi bất cứ con vật nào nữa. Chồng tôi hạ giọng:
- Em à, em đã hứa với con thì phải giữ lời. Em không muốn nuôi các con vật là chuyện của em. Đây là việc phải giữ lời hứa, là con trai nuôi chứ không phải em nuôi.
Con trai chỉ hình con chó cho tôi coi, đó là giống Doberman đẹp, khôn, giữ nhà rất giỏi. Những người nuôi giống đó họ cho rằng cắt tai, cắt đuôi và thiến mới đẹp.
Tôi ra điều kiện cùng con trai, nếu nuôi chó thì không được cắt tai, cắt đuôi, và không được thiến. Chó cần có tai để nghe, đuôi chó là thứ ngôn ngữ để chúng giao lưu tỏ tình thân ái. Thiến chó là mình làm tổn thương thân xác nó.


https://hoiquanphidung.com/uploadpics/hqpd417/1503360019-10-doberman-facts-710x533.jpg

Con trai bằng lòng những điều kiện tôi đưa ra, mua giống chó nguyên gốc không lai nên giá hơi đắt. Ba đứa con tôi rộn ràng chuẩn bị tất cả các thứ cho chó, kể cả đặt tên. Đó là con chó con vừa dứt sửa mẹ, nó mập ú, lông vàng đậm thật dễ thương. Các con tôi chuyền tay nhau bồng ẵm không rời, nhà vui hẳn ra theo tiếng rộn rã cười nói xôn xao.
Đêm đó Dobi nhớ mẹ la cả đêm chẳng dừng. Có lẻ vì uống sữa tươi lạ bụng nên nó đi cầu, phòng học trở thành bãi chiến trường vào buổi sáng hôm sau. Dĩ nhiên con trai tôi phải lo chuyện quét chùi dọn sạch. Vậy là phải đi mua thuốc rải để Dobi đi cầu ở một nơi nhất định.
Dobi được gởi học trong trường huấn luyện như phải biết vâng lời người săn sóc, bảo ngồi, đứng, đi hay cho phép ăn thì mới được ăn, khi người lạ đã vào nhà mà không có chủ ở nhà, thì phải biết giữ người ấy lại, không cho ra khỏi nhà nhưng đừng cắn, chỉ hù dọa thôi. Trừ khi nào chủ về ra lệnh cắn, thì nó mới cắn và luôn luôn cắn ở cổ.
Một hôm, Thầy Thiện Tâm, trụ trì chùa Hoa Nghiêm đến nhà chúng tôi, Dobi vô cùng thân thiện trườn lên mình Thầy, rồi nó thật vui mừng cùng Thầy nằm lăn trên thảm cỏ xanh đùa giởn, làm Thầy cười vang thoải mái, nụ cười hồn nhiên của tình bạn trong veo, không hề có giai cấp giữa đạo trong đời và đời trong đạo.
Thời công phu sáng của tôi, bao giờ Dobi cũng đòi vào, lúc đầu tôi sợ Dobi làm ồn nên không cho vào. Dobi cào cửa sủa và kêu la, thấy nó làm dữ quá, tôi bèn cho vào và dặn.
- Me đọc kinh, con phải thật yên lặng.
Dobi hiểu ý, đến gần nơi tôi ngồi trong im lặng. Xong buổi lễ, tôi đứng dậy và Dobi cũng đứng lên theo.
Những lúc tôi làm vườn Dobi luôn kề cận một bên, tôi bỏ cỏ vào trong giỏ có quai xách, sai Dobi đem đến đổ ở góc vườn để ủ phân. Ồ! Thật không ngờ! Dobi làm đúng, từ đó nó là phụ tá của tôi.
Một buổi sáng ra làm vườn, tôi tìm không ra cuốc, cào cỏ nhỏ.
- Dobi, con có thấy cái cuốc và cào cỏ nhỏ của me không?
Thật ngạc nhiên, Dobi vào chuồng cắn đem ra.
Những buổi tối trời nóng, tôi thường nằm võng ở trước hiên nhà, Dobi theo tôi nằm sát bên dưới. Tôi hỏi:
- Dobi, con là ai mà kiếp này mang thân chó ?
Tiếng rên rỉ của Dobi làm tôi nghẹn ngào cho vô minh bao phủ cuộc đời! Chúng sanh mãi chập chùng luân hồi sanh tử khôn nguôi trong a tăng kỳ kiếp!
Một hôm tôi làm vườn ở sau nhà, chồng tôi đi ra phố sẽ về ngay nên không đóng cổng. Có người di dân ở đầu đường mỗi ngày đi qua thấy vợ chồng tôi ông đều chào, hôm nay ông vào tận sau vườn.
- Tôi muốn gặp chồng bà.
- Chồng tôi đi vắng.
- Con trai bà đâu ?
- Cháu đi làm xa.
Ông bước đến gần tôi, nhìn vào mắt ông tôi có cảm giác không an toàn, tôi kêu:
- Dobi! Dobi!
Lúc đó Dobi đem cỏ đến ở góc vườn, nó cảm được tiếng gọi không bình thường của tôi. Dobi chạy thật nhanh đến đứng sát bên tôi, và gầm gừ nhe răng, người đàn ông kia vội đưa hai tay lên, miệng luôn nói OK, OK và bước thụt lùi dần. Tôi cầm giây trên cổ Dobi lại vì nó làm dữ quá, tôi sợ ông đó té ngã thì phiền lắm. Dobi từ đó theo sát tôi hơn.
Một hôm Dobi bỏ ăn chúng tôi đưa đi bác sĩ, chi phí trên 3.000 Aud vì phải cần ca phẩu thuật.
Chiều đó, đi chùa mà lòng tôi buồn lắm! Thường lệ, mỗi khi thời kinh xong, một nhóm phật tử quen thân đều tụ họp xuống nhà bếp, Thầy trò ngồi chuyện trò, bàn tính việc chùa. Đôi khi Thầy mời ăn cháo do Thầy đích thân nấu, thầy nấu cháo ngon lắm, cháo trắng ăn cùng trái olive kho, ngon vô cùng! Thầy nhìn và hỏi tôi:
- Sao thấy chị buồn quá, có chuyện gì ?
Tôi nói về bệnh của Dobi và giá tiền phải trả nếu đi mổ. Thầy nói:
- Tiền hơi đắt so với người Việt mình để chữa bệnh cho con vật, nhưng nó cũng là thành viên trong gia đình, thầy nghĩ anh chị nên chữa cho nó.
Rồi thầy lấy từ túi áo tràng ra một bì thư.
- Có người mới cúng dường thầy, chị cho thầy phụ tiền bác sĩ của Dobi.
Chúng tôi cảm ơn thầy và không giám nhận, nhưng nhờ thái độ bao dung cùng lòng từ thênh thang trải rộng của thầy, chúng tôi mạnh dạn đem Dobi đi chữa trị. Dobi nằm nhà thương một tuần lễ, bị ung thư ruột vào thời kỳ cuối, mỗi ngày chúng tôi đều đến thăm.
Sáng đó bác sĩ kêu chúng tôi đến liền để từ giã Dobi. Nghe tiếng chúng tôi, Dobi mở mắt và như muốn đến sát chúng tôi mà không thể nào lết gần lại được, bác sĩ phải phụ giúp. Chúng tôi ôm đầu vuốt ve và nói cùng Dobi những lời yêu thương sau cuối rồi đọc kinh cho nó. Bác sĩ mời ra làm thủ tục và ký giấy nhờ ở đó chôn cất Dobi.
Đã biết có duyên mới trùng ngộ, thế mà tôi đã đem lòng tính toán đối đãi với Dobi khi nó bệnh. Nhờ câu nói của thầy Thiện Tâm, "Nó cũng là một thành viên trong gia đình". Thầy đã cho chúng tôi một bài học tình thương, không so đo trong những bất toàn của thế gian sinh tử, vô thường là bài học giúp tôi nhận chân được đâu là tham sân si vướng mắc trong tôi. Nếu không có lời nói và cử chỉ sẻ chia đạo hạnh hồn nhiên của thầy thì sau này chúng tôi sẽ ân hận vì ngày đó mình đã không hết lòng với chú chó thân yêu.

Phòng Trực
08-28-2017, 07:19 PM
https://hoiquanphidung.com/uploadpics/hqpd417/1503947864-Thienloi524.jpg

Phi Vụ Cuối Cùng
Trương kim Báu

Anh Vũ văn Bảo Không Quân email hỏi tôi về tin tức anh Ngô văn Trung, biệt hiệu Trung gà, bay A37, phi đoàn 524, có người nhờ anh tìm. Anh Trung đã ra người thiên cổ, đã nằm sâu trong lòng đất mẹ Việt Nam từ năm 75 rồi, sao bây giờ mới có người tìm anh.
Như một cuộn phim, đầu óc tôi quay về năm 75.
Tháng 3 năm 75, tôi đem các con theo ngân hàng Việt Nam Thương Tín di tản vào Sài Gòn. Sau đó, bao gia đình của 524 cũng được lệnh di tản nên lần lượt họ ra đi hết, chỉ còn các anh ở lại Nhatrang và Phanrang.
Dọng vào Sàigon, trên người chỉ có bộ đồ bay. Dọng ôm tôi:
- Có lệnh bỏ Nhatrang rồi!
Trong giọng nói của anh, tôi nghe như có pha nước mắt. Chúng tôi ôm nhau và im lặng để nghe tim mình rướm máu! Mất thật rồi! Còn đâu Nhatrang quê hương yêu dấu! Nơi tôi đã sanh ra rồi khôn lớn. Tất cả đều để lại nơi chôn nhau cắt rốn, Thầy cô, bè bạn, người thân! Tôi nhớ từng con đường, từng hàng cây, từng viên gạch.
Tối đó, Dọng đưa tôi đến nhà bác gái, mẹ của chị Quý, vợ anh Ngô Đức Cửu cùng phi đoàn, anh chị vào Saigon và ngụ ở đấy.
Bốn người chúng tôi ngồi bên nhau không nói nên lời. Anh Cửu lên tiếng:
- Chị Dọng, Nhatrang của chị vẫn còn nguyên.

Lệnh ban ra chuyến bay này gồm Trung tá Bùi Gia Định (có vợ người Nhatrang là chị Đồng Minh, tiếp viên hàng không), Thiếu tá Đinh Xuân Ninh (có vợ cũng người Nhatrang là chị Chiếu Xuân, con dân biểu Lê Bá Chẩn), Thiếu tá Nguyễn văn Dọng (cũng có vợ Nhatrang là chị), Thiếu tá Ngô Đức Cửu (vợ người Saigon, cưới nhau rồi ra ở Nhatrang từ ngày đó đến nay, nên Nhatrang cũng là quê hương của chúng tôi).
Anh Cửu nói tiếp, giọng thật trầm buồn:
- Hôm nay, bay phi vụ cuối cùng trước khi bỏ Nhatrang, lần đầu tiên trong đời phi công, chúng tôi không tuân theo lệnh trên ban xuống. Nhatrang có trung tâm huấn luyện Không Quân, trung tâm huấn luyện Hải Quân, trung tâm huấn luyện Hạ Sĩ Quan ở Đồng Đế. Chúng tôi bay theo quốc lộ số 1, ra Dục Mỹ. Huấn luyện khu Dục Mỹ gồm có 3 trường:
- Trường Lam Sơn huấn luyện và bổ sung cho các đơn vị Bộ Binh.
- Trường Biệt Động Quân (bao gồm Nhảy dù và Thủy Quân Lục Chiến) huấn luyện quân nhân là hạ Sĩ quan và Sĩ quan.
- Trường Pháo Binh huấn luyện Sĩ quan, hạ Sĩ quan thuộc binh chủng Pháo Binh.

Còn Sình lầy và Mưu Sinh huấn luyện ròng rã 42 ngày cho các binh chủng khác. Những quân trường này cung cấp Sĩ quan và hạ Sĩ quan chuyên môn cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Nhatrang là thành phố với bãi biển đẹp và thơ mộng. Đó cũng là nơi có nhiều trung tâm đào tạo nhân tài ưu tú của Việt Nam, những trái tim nóng bỏng vì lòng yêu nước vô biên, họ bảo vệ từng tấc đất, từng hải lý của quê hương, họ chỉ muốn hoàn thành trách nhiệm trong thời ly loạn . Bay từ Nhatrang ra Ninh Hòa, Dục Mỹ, Khánh Dương, những tỉnh miền Trung mà Cộng sản chưa vào chiếm đóng, nhìn xuống thấy đồng bào mình bồng bế nhau đi. Chị có biết không, họ di chuyển bằng mọi phương tiện. Lính và dân cùng ngồi trên những chiếc xe nhà binh, người ta cũng ngồi xếp đống nhau trên mui những chiếc xe chở chuyên hành khách, xe Honda cũng chất người lên mà chạy. Chúng tôi bay thật thấp, thấy đồng bào mình vẫy tay vui mừng, họ đâu biết rằng chúng tôi được lệnh phải thả bom sập cầu. Đồng bào sợ chế độ cộng sản tìm về cùng một giới tuyến với Việt Nam Cộng Hoà, nên họ đang di tản. Làm sao chúng tôi có thể đang tâm phá sập cầu! Họ đã quá khốn khó rồi! Không thể làm cho họ khổ hơn. Đó là đồng bào ruột thịt của mình mà. Phi công chúng tôi mỗi ngày ra đi là để bảo vệ quê hương chứ không thể hủy hoại quê hương. Từ trên cao nhìn xuống, quê hương mình đẹp quá!
Cầu Xóm Bóng Nhatrang trong bình minh thật đẹp, tháp Bà Ponagar một nền văn hóa của Champa di tích oai nghiêm, bãi biển trải dài sóng biếc mộng mơ, Cầu Đá râm ran nụ cười của ngư dân chất chứa sự ân cần thân thiết. Nơi nào cũng đáng yêu và tràn đầy kỹ niệm. Bay qua các trung tâm huấn luyện, lòng dâng lên niềm thương nhớ những ngày từ giã ghế nhà trường để bước vào đời lính. Nơi đó đào tạo nghề chuyên môn cho chúng tôi song song với tác phong của người lính trong tình yêu thương đồng bào và đất nước. Ngày ra trường, tất cả các trung tâm đều có điểm giống nhau là những khóa sinh phải quỳ xuống thệ nguyền, không màng tánh mạng, đem thân mình chở che cho Tổ Quốc thiêng liêng.
Cuối cùng, 4 chiếc chúng tôi đều trút bỏ tất cả những trái bom xuống biển cả xa khơi. Tôi biết các chị sẽ khóc nhiều, kể cả vợ tôi, và sẽ giận hờn nghiêm trọng nếu chúng tôi làm Nhatrang của các chị bị tổn hao.

Những giọt nước mắt đã chảy dài thay lời cảm ơn sâu sắc. Các anh đã giữ gìn Nhatrang không sứt mẻ trước khi được lệnh rời bỏ Nhatrang. Hôm sau Bùi Gia Định đến nhà chúng tôi, vì có lệnh đưa vợ con của những người trong phi đoàn di tản.
- Chị Dọng, hỏi anh của chị xem tình hình hiện giờ ra sao?
Tôi có ông anh họ làm phụ tá đặc biệt cho thủ tướng, anh ấy cũng yêu nước, cả gia đình đều ở lại và anh cũng đi tù miền Bắc.
Anh Định nói nếu nước nhà không phải về tay cộng sản thì những phi công đều muốn ở lại để đem tài sức mình xây dựng quê hương, vì đào tạo một phi công vô cùng tốn kém.
Những người bạn của tôi, những chàng trai hào hùng, những trái tim đầy nhiệt huyết và một tấm lòng yêu quê hương tha thiết, mỗi ngày các anh cất cánh ra đi, tung bay bốn phương trời hầu bảo vệ từng tấc đất, tôi hiểu và kính trọng các anh.
Chúng tôi đều ở cư xá không quân. Nhà anh chị Cửu và anh chị Định gần nhau, nhà chúng tôi thì ở phía trong. Tối nào các anh cũng đến nhà chúng tôi tề tựu, mỗi người cầm trong tay một tờ báo để xem và không nói với nhau một tiếng nào. Riêng bọn đàn bà chúng tôi tâm sự với nhau đủ chuyện. Sau này anh chị Ninh dọn về villa của cha mẹ ở đường Yersin, bây giờ đã biến thành khách sạn 5 sao của nhà nước cộng sản.
Thời thế đã đổi thay, những chàng trai có trái tim một lòng vì nước thương dân đã vào tù nơi miền Bắc. Cộng sản không dùng những nhân tài, các anh không còn cơ hội đem sức mình để dựng xây đất nước.
Vì các anh muốn góp tài góp sức để làm lợi ích quê hương nên các anh ở lại. Chúng tôi, những người vợ cũng là dân Việt, chúng tôi cũng muốn góp một bàn tay nên chúng tôi cùng ở lại.
Ôi Bùi Gia Định! Một thiên tài! Lúc còn ở ghế nhà trường anh là một sinh viên y khoa, nhưng anh xếp bút nghiêng theo việc đao binh. Anh nhỏ tuổi nhất trong 4 người mà cấp bậc anh cao nhất. Anh bay giỏi và thả bom chính xác, anh đã diệt không biết bao nhiêu chiếc xe tăng của địch. Trên áo bay vẽ một ngôi sao là anh hạ một xe tăng. Anh bay giỏi đến nỗi Bộ Tư Lệnh Không Quân bắt anh phải nghĩ bay đi dưỡng sức ở Đalat vì sợ anh hăng quá sẽ gãy cánh . Gần mười năm anh mới được ra trại tù, vậy mà khi qua đến đất nước tự do anh học lại và lấy được mảnh bằng Tiến sĩ. Những năm lao tù miền Bắc, các anh đã hiểu người cộng sản và các đối xử giữa người với người ra sao rồi.
Đàn bà chúng tôi ở lại quê nhà sau năm 75 tuy không ở nhà tù nhỏ như các anh, mà ở nhà tù lớn hơn một chút, đến giờ này vẫn không trách giận các anh mà còn yêu kính các anh hơn.
Dọng và Định đã ra đi rời cõi điêu linh hay trở về một nơi an bình thật sự, chẳng còn gì toan tính cho cuộc đời này. Quê hương đó là cả thế giới bao la đại đồng, chỉ còn sự hài hòa ung dung trong tình thương hồn nhiên thanh tịnh.
Ninh và Cửu vẫn còn đây, các anh vẫn liên lạc hỏi thăm nhau. Tấm lòng các anh vẫn rộng như bầu trời các anh đã bay qua, chữ Tổ Quốc và Không Gian nay không còn trên áo các anh mà đã khắc sâu vào trái tim, đã in dấu ấn đậm đà trong tiềm thức. Một thời qua, các anh từng quên luôn bản thân mình, quên cả thân bằng quyến thuộc như vợ con để đem hết khả năng làm tròn nghĩa vụ, bổn phận của quân nhân trong thời chiến.
Thời thế đã đổi thay nhưng mấy chị em vợ của những chàng phi công ngày nào vẫn liên lạc, hỏi thăm lo lắng giúp đỡ nhau trong mọi tình huống, để rồi nhìn nhau với những nụ cười trên khóe mắt của tuổi xế chiều, trong ánh bình minh đầy màu sắc trên bãi cát trắng phau đượm mùi hương của sóng gió. Mọi việc không còn gì cả, nhưng NhaTrang vẫn là của chúng mình. NhaTrang vẫn mãi ở trong lòng chúng mình phải không các bạn thương mến của tôi.

Phòng Trực
09-05-2017, 08:31 AM
Thấm thoát đã gần sáu mươi mùa lá đổ, Tuyết Mai và tôi từng là đôi bạn thân thời trung học. Giờ đây kẻ còn người mất, tôi xin kể một hồi ức thương yêu với bạn, Đặng Tuyết Mai, người của công chúng, một thời là đệ nhất phu nhân của Việt Nam Cộng Hòa.


https://hoiquanphidung.com/uploadpics/hqpd417/1504600193-AbF6NNJS9Bn4v0N.jpg

Chúng tôi chuẩn bị ăn tối chợt có bà chủ của xưởng gỗ ở quốc lộ số 1 Nha Trang xuất hiện. Chồng bà là đảng viên của Quốc Dân Đảng đã bị Việt Minh ám sát, nên bà đưa Tuyết Mai và con trai tên Tri vào Nam, một mình lo dựng nghiệp. Bà vô cùng đài các sang trọng, nét dịu dàng đằm thắm và quý phái làm tôi hơi choáng trước chiếc áo dài nhung đen thanh lịch với mái tóc quấn quanh đầu, vẻ cổ kính của miền Bắc Việt Nam. Bà xin anh tôi giấy chứng nhận Tuyết Mai bị bệnh không thể đến trường nhập học đúng ngày. Tuy đã biết nhau trước đây, nhưng Mai và tôi thân hơn từ hôm ấy.

Tuyết Mai học trường Convent des Oiseaux ở Đalat, mỗi dịp tết hay nghĩ hè Mai đều về Nha Trang tìm tôi, hai đứa bàn chuyện gió mây trên trời dưới đất rồi đi ăn quà vặt, rồi cùng nhau đạp xe thư giản dọc theo bờ biển để nghe tiếng sóng vỗ về thơ mộng.

Trước khi chia tay, Tuyết Mai dặn tôi:
- Nhớ viết thư cho Mai, nếu ăn món gì ngon thì nhớ quẹt vào trong thư và tả cho Mai nghe, ở nội trú không được ăn các món mình thích đâu.

Tình bạn cứ diễn ra đều đều như vậy. Vào năm chúng tôi cùng học đệ tứ (lớp 10), Tuyết Mai đạp xe đến tìm trong lúc tôi đang học bài thi.
- Mai muốn đi xem bói coi kỳ thi này mình đậu không? Mai biết chỗ, 2 đứa mình cùng đạp xe đi nhé.

Chỗ Mai chỉ là ông thầy mù ở Cây Dầu Đôi cách Nhatrang 3 km. Vừa đến nơi, thầy kêu chúng tôi ngồi nghĩ mệt, uống nước. Mai nhường cho tôi xem trước. Thầy bỏ 4 đồng xu vào cái mu rùa nhỏ, hỏi tuổi tôi và nói muốn coi gì? Thầy lắc mu rùa vài lần rồi đổ ra dĩa, lấy tay mò trên mỗi đồng xu, đoán chuyện thi cử cho tôi.

Đến phiên Mai ông cũng làm như vậy, nhưng ông lắc đổ ra nhiều lần và ông nói thật kỳ lạ quá, cháu này mạng quý, sẽ có chồng danh tiếng nhất Việt Nam, cháu rất nổi tiếng, đừng bao giờ sửa sắc đẹp trên mặt, sẽ phá đi quý tướng.

Vừa bước ra khỏi cửa nhà thầy mù, tôi cười rộ lên vì người nổi tiếng nhất nước Việt nam lúc ấy là tổng thống Ngô Đình Diệm, chẳng lẽ Mai kết hôn với tổng thống Diệm. Tôi thích thú ghẹo Mai rồi đạp xe thật nhanh, vì phía sau Mai đang rượt theo phản đối, nhờ thế đường về Nhatrang ngắn lại.

Cả hai đứa cùng bàn về vụ coi bói, ông mù thật vì cặp mắt sụp mí xuống thì làm sao thấy Mai đẹp mà nói có tướng quý và kết hôn với người nổi tiếng nhất Việt Nam, chúng tôi càng không tin dù Tuyết Mai thật duyên dáng mỹ miều, nhất là miệng cười thật tươi với bản tánh hồn nhiên phúc hậu.

Năm sau Mai chuyển về học trường Peter Lycer Nhatrang gần bãi biển. Mỗi chiều tan học từ trường Lê Quí Đôn chúng tôi đạp xe đến trường Pháp, Mai đứng đấy chờ rồi hai đứa chạy xe dọc theo bãi biển, có khi cùng uống một ly nước mía hay ăn chè v...v... rồi mạnh ai nấy về nhà.

Thi tú tài xong, Mai vào chiêu đãi viên hàng không, chúng tôi ít có dịp gặp nhau. Thỉnh thoảng bận việc xuống phi trường, tôi đều gặp mẹ của Mai, bà đem thức ăn tẩm bổ cho con gái, lúc đó tôi mới thấy được Mai. Mỗi lần được nghỉ phép, Mai về Nhatrang thăm nhà rồi tìm tôi hay nhắn tôi xuống nhà Mai chơi.

Rồi Mai kết hôn với ông Nguyễn Cao Kỳ và bắt đầu nổi tiếng thật. Lần đó, Mai đi Nhật về có ghé thăm và tặng tôi một con búp bê Nhật thật đẹp.

Một lần tình cờ gặp nhau trên đường phố Lê Lợi Sài Gòn, Mai nhất định mời tôi đến thăm tổ ấm của Mai ở Tân Sơn Nhất, và lần sau, Mai đem đứa con gái là Kỳ Duyên đến khoe.

Rồi tôi có gia đình, chồng tôi là phi công phản lực. Những lần ông Kỳ ra Nha Trang đều mời người các phi đoàn ra ăn sáng ở bãi biển và tối đến tổ chức những buổi dạ vũ chung vui. Chồng tôi biết Mai và tôi quen nhau từ nhỏ nhưng anh không muốn tôi tham dự ăn uống hay hòa vào những buổi dạ vũ, vì lúc đó chung quanh Mai rất đông bạn bè quan khách. Vã lại, vợ chồng tôi trân quí từng ngày bên nhau, thời chinh chiến mạng sống anh quá đỗi mong manh! Mỗi sáng chúng tôi luôn ôm nhau thật chặt trước khi anh rời nhà, bởi chúng tôi đều hiểu rằng biết đâu buổi chiều anh sẽ không về nữa, có thể anh sẽ gãy cánh bất cứ lúc nào, nên tôi tôn trọng ý kiến của chồng.
Có lần vợ chồng tôi đang ăn ở tiệm phở Chutt Cầu Đá Nhatrang, là tiệm phở gà nổi tiếng nằm trong lòng chợ, khi chợ chiều tan quán mới mở cửa tới khuya, thì Vợ chồng Mai bước vào. Lúc đó ông Kỳ là phó Tổng Thống mà cũng là tư lệnh Không Quân. Chúng tôi tay bắt mặt mừng, ông rất thương binh chủng Không Quân và sống rất có tình với bạn bè lẫn cấp dưới, cũng như Mai đối với bạn bè trước sau như nhất, Mai thường nhắn lời hỏi thăm tôi và đôi khi gởi tí quà.

Năm 75, ông Kỳ hẹn các anh phi công phản lực đến bến Bạch Đằng để cùng nhau di tản.
Ngày ông Kỳ mất chồng tôi ngồi im lặng thật lâu, nét mặt anh buồn vời vợi cũng như tôi khi nghe tin Tuyết Mai đã ra đi, tôi đã cảm nhận sự mất mát quá chân tình và nhớ lại những kỷ niệm ấm áp ngày xưa, dù sau này chúng tôi ít liên lạc với nhau.

Ông thầy bói đã nói với chúng tôi rằng mọi người sanh ra đều có số mệnh định sẵn. Bên đạo Phật thì người sanh ra thế nào là do duyên nghiệp, giàu nghèo đẹp xấu là do nghiệp do túc duyên mỗi người đã tạo ra từ đời trước để đúng lúc đúng thời là trổ quả. Cũng có biết bao nghiệp do mình mới tạo ra kiếp này và quả trổ liền. Số mệnh có thể chuyển do trí tuệ nhận thức ra rằng nghiệp chỉ là bài học cho mình thấy ra nhân quả, từ đó mới có sự tiến bộ cho bản thân phát triển lòng từ, vì chỉ có lòng từ mới vĩnh tồn giữa trời đất bao la vi diệu.

Phòng Trực
09-21-2017, 05:42 AM
Trời mưa từ sáng đến giờ không dứt, dường như có bão tố ở đâu. Tôi hết đọc truyện lại đi lên đi xuống thang lầu. Anh tôi bận việc nên phải ra đi, có lẽ hiện giờ anh đang ở phi trường.
Chú Lan và chú Thái là hai người làm vườn trong nhà, hôm nay đến dọn sạch khu đất đã trồng bắp thời gian qua, và bón phân để trồng loại khác, nhưng mưa dai dẳng nên hai chú cứ ngồi chơi cờ.
- Hai chú đánh cờ mãi không chán sao? Con muốn tắm mưa.
- Không được đâu cô! Cô lớn rồi! Chạy ra đường tắm mưa kỳ lắm!
- Không phải vậy. Con muốn nhờ hai chú lên sân thượng, lấp kín dùm con mấy chỗ để nước không chảy ra, thành cái hồ cho con bơi trong đó.
- Ô! Được! Được! Chúng tôi đi liền.
- Con thay áo tắm rồi lên phụ 2 chú nha!
Trời bắt đầu mưa lớn nhưng nước vẫn chưa lên được đầu gối. Tôi vẫn tắm, có lúc nằm dài trên mặt nước như nàng tiên cá, cất cao giọng hát hòa cùng tiếng mưa rơi làm nhạc đệm.
Cánh cửa sân thượng bật ra. Anh tôi đang đứng đó mĩm cười. Nước có lối thoát nên ào xuống thang lầu như một dòng thác nhỏ, ướt hết giày và hai ống quần của anh.
Anh nghiêm mặt lại, giọng ra lệnh:
- Em đi tắm, gội đầu, thay quần áo và sưởi ấm người lại.
Anh rầy hai chú.
- Nếu máy bay không đình chỉ, tôi không về kịp thì nhà này sẽ hư hại nặng, vì không thể chứa lượng nước nhiều như vậy trên sân thượng. Hai chú hiểu không? Tại sao hai chú lớn lại đi nghe lời con bé?
Tôi hối hận vì làm hai chú bị la, nhưng không ai giận tôi cả. Tôi bước ra vườn, phụ hai chú săn sóc những cụm hoa và thu hoạch mấy luống khoai lang, loại khoai đặc biệt này mẹ rất thích, tuy củ nhỏ nhưng vô cùng ngọt.
- Nhà chỉ có hai anh em, tôi bỏ em ở nhà hoài, thấy ngại quá!
Đó là lời anh nói với người bạn, vô tình tôi nghe được. Nên để anh yên lòng đi chơi, gần cuối tuần tôi xin phép anh về quê của Bích, hay xem ciné cùng Yến ... v...v...
Hôm ấy, anh rất vui khi thấy tôi có ý đi ciné cùng Yến. Thật ra Yến đang có hẹn riêng, nên tôi cũng đi ciné nhưng lại đi một mình. Từ rạp bước ra, tôi uống ly nước mía, Sơn (học cùng lớp) cũng đang ở đó, chúng tôi cùng nhau đi về.
Nhà Sơn ở khuất bên trong con đường. Còn nhà tôi nằm trên góc ngã ba, anh tôi đang đứng trên lầu nhìn xuống, sẽ thấy rõ tôi cùng Sơn song bước trở về, trong khi tôi đã xin phép cùng đi với Yến.
Lúc đó, có chiếc xe hàng to đậu ven đường. Tôi kêu Sơn cùng trốn sau chiếc xe cho anh tôi không nhìn thấy. Hai đứa ngồi chồm hổm núp sau xe, tôi nhắm mắt lại. Hồi lâu mở mắt ra, chiếc xe đã chạy đâu mất, hai đứa vẫn còn ngồi dưới đường lánh mặt anh tôi. Mắc cở quá! Quay qua tôi nhằn Sơn.
- Sao bạn không kêu tôi? Xe chạy rồi! Ngồi kỳ quá hà!
- Thấy bạn ngồi và nhắm mắt, tôi cũng làm như bạn, đâu biết xe chạy lúc nào.
- Thôi bây giờ mạnh ai đi về nhà nấy.
Băng qua đường là đến trước nhà. Vừa lên lầu thấy anh ngồi đó đọc báo, tôi hỏi như muốn khóc.
- Hồi nảy anh thấy gì không?
- Thấy gì?
- Thật anh không thấy gì?
- Anh đọc báo. Chờ em về, rủ đi biển. Em vào thay áo, anh em mình đi chơi.
Anh đưa tôi đi biển. Hai anh em dạo gần bờ nước, anh cầm giày và ví cho tôi. Anh bảo:
- Có đi chơi cùng bạn trai, khi dạo trên biển phải đi phía trong, để người con trai dẫn đầu, đưa họ cầm giày và ví cho mình. Còn đi phố, lúc nào cũng phải đi phía bên tay mặt của bạn. Vì họ phải có bổn phận bảo vệ phái nữ. Hôm đó, anh đưa tôi đi ăn nhà hàng sang trọng, dạy tôi cách ngồi, cầm dao, nĩa, muỗng, cách ăn uống và xắt từng miếng thịt thế nào.
Một hôm, anh vào phòng, thấy tôi và chị Hương đang chơi búng dây thun.
- Em sửa soạn, anh chở em đi dự tiệc. Tiệc này do nhóm con nuôi của ba tổ chức, lâu lắm tất cả mới họp mặt được một lần.
Anh quay lại.
- Nhớ ăn mặc thật đẹp.
Tôi cười.
- Em mới may áo dài xanh, để em đưa anh coi, đẹp lắm!
- Còn áo nào nữa không?
- Ồ, áo này không đẹp hở anh?
- Đẹp! Đẹp! Em nhớ trang điểm.
- Em đâu có gì để trang điểm.
- Chờ anh một chút!
Một lúc quay về, anh đổ ra đầy bàn son phấn, nước hoa, rất nhiều viết kẻ mắt, môi.
- Anh mua nhiều quá! Toàn là tiếng Anh! Em không biết cách dùng!
- Không sao! Anh giúp em.
- Chị Hương ngồi làm mẫu cho cô nghe.
Chị Hương rất sợ anh. Nếu tôi kêu chị không chịu đâu.
Anh bắt đầu đọc. Thứ này bôi lên mặt trước, sau, thứ này nữa, bôi lên mắt, phía trong, phía ngoài, lên môi, vẽ màu này phía ngoài, màu kia ở trong, vẽ vành môi, đánh son, thêm màu bóng.
- Ồ! Đã xong! Còn thử các loại nước hoa thôi.
Xong rồi! Nhìn chị Hương và tự nhiên anh thụt lùi lại. Thấy vậy tôi vội nhìn chị và bật cười ha...ha...ha...
Chị Hương cầm chiếc gương lên soi mặt mình và Chị cũng cười ...ha...ha... Hai đứa không cách nào nín cười được. Tôi trang điểm cho chị không đẹp thêm, mà là để nhát ma con nít.
- Thôi! Em khỏi trang điểm gì hết! Thay quần áo, anh đưa đi.
Đó là một ngôi nhà 2 tầng rất lớn, nằm ngay đường biển.
Anh đại tá Lam Sơn và anh đại tá Trần văn Hai đứng chờ bên ngoài, thời ấy hai anh chưa lên tướng. Anh Lam Sơn coi bên lực lượng đặc biệt. Năm 75 anh không di tản, anh bị đi cải tạo, trở về cũng không chịu đi theo diện HO, anh mất ở Saigon.
Anh Trần văn Hai đang coi trung tâm huấn luyện Dục Mỹ. Năm 75 anh không di tản, không đi cải tạo mà anh chọn cái chết.

Hai anh thường đến nhà tôi chơi, và vào ngày giỗ ba, lúc nào cũng có mặt, các anh là con nuôi của ba tôi.
Anh Lam Sơn ăn nói rất khéo. Nhìn tôi.
- Út ơi, em trong sáng, giản dị nhưng rất đẹp!
Rồi anh Lam Sơn quay qua anh tôi có ý trách thầm.
- Mày để con bé ăn mặc thường quá!
Anh Hai chỉ cười và nắm tay tôi dẫn vào nhà.
Đông thật! Có mấy người chạy đến. Anh Lam Sơn giới thiệu nhưng tôi không nhớ rõ, chỉ nhớ anh Đỗ Cao Trí lúc đó là đại tá, sau này lên tướng và mất trước năm 75.

Hôm sau anh Lam Sơn ra nhà tôi, anh đưa tôi 2 giỏ đầy quần áo mới, những bộ dạ hội thật sang trọng của các mệnh phụ phu nhân. Thấy không hạp với mình nên tôi đem trả lại, mắt anh tôi ánh lên niềm vui. Sau đó, hai anh nói chuyện với nhau bằng tiếng Pháp.
Đi học về tôi ghé vào phòng mạch, để anh nhờ vợ của bạn đưa tôi đi phố, may và sắm quần áo, vì cách ăn mặc của chị tuy đơn giản nhưng đẹp và sang trọng.
Lúc ra về, khi lấy xe, anh đứng lại bên người đàn bà chất phát quê mùa, tay bế một đứa con gái nhỏ, anh chăm sóc và nói chuyện vô cùng thân mật.
Thấy tôi ngạc nhiên, anh kể người đàn bà đó nghèo lắm, phải nhịn ăn mới có tiền đi xe lên chữa bệnh cho con. Nên anh lo chỗ ăn ở cho họ và chữa bệnh không lấy tiền, lúc nào bé đó lành bệnh thì về.
- Tại sao lại nhịn đói? Em còn biết nấu cơm, sao bà ấy không lấy gạo nấu cơm ăn mà nhịn đói?
- Em không hiểu đâu, lớn thêm chút nữa em sẽ hiểu.
Rồi anh bắt qua chuyện khác.
Anh lập gia đình, di chuyển vào Sài Gòn được bốn năm. Hôm đó, mẹ vào thăm tôi và ở lại suốt một tuần. Mẹ dọn dẹp nhà cửa, nhất là phòng của anh. Từ lúc anh đi, mẹ cứ giữ lại phòng anh như cũ, thỉnh thoảng chị Hương hay vú vào lau bụi thôi, nay chính tay mẹ làm tất cả từ trong phòng tắm đến tấm trải giường, đến cả bình hoa trên bàn viết của anh.
Chiều tôi về, thấy nhà sáng và đẹp ra, bàn tiệc đã bày sẵn, Vú nói con đi tắm rồi ra ăn cơm.
Tắm xong, bước tới cửa thì Vú nắm tay tôi lại, nhìn ra thấy mẹ và anh đang ôm nhau, tôi chỉ nhìn phía sau, đôi vai anh run lên, dường như anh đang khóc, mẹ vuốt tóc anh.

Say men đời rong ruổi khắp trần gian
Quên bóng mẹ đang chờ con từng phút.
Con vấp ngã mới nhận ra điều duy nhất
Trên đời này không ai bằng mẹ được đâu
Hàn Long Ẩn

Vú kéo tôi vào phòng. Tôi hỏi vú chuyện gì vậy? Vú chỉ nói anh không được hạnh phúc trong hôn nhân.
Có tiếng mẹ kêu ra ăn cơm. Hôm đó anh vui vẻ và ăn thật nhiều. Anh nói món này do mẹ làm, món kia là vú làm, chị bếp làm, tôi phục tánh sâu sắc của anh.
- Con bé này tệ quá! Không phân biệt được ai nấu. Vú nói.
- Đến bây giờ vẫn không có bạn trai. Vú không yên lòng về em con. Không biết lúc nào mới trưởng thành.
Mẹ cười, vì mẹ biết, tôi đã kể cho mẹ nghe chuyện tình cảm của tôi rồi.
- Vú đừng lo! Hãy để em con tự nhiên.

Hãy là hoa, xin hãy khoan là trái
Hoa nồng hương và trái lắm khi chua.

Về lại nhà, anh thường tổ chức đi chơi ngoài trời. Anh tập tôi cỡi ngựa. Tập đoàn bác sĩ Nha Trang tổ chức đến mộ bác sĩ Yersin thắp nén nhang, dâng bó hoa vào ngày sinh nhật hay ngày giỗ của ông, vì ông là người sáng lập ra viện Pasteur Nha Trang năm 1898. Có tuần ra đảo, anh và các bạn lặng người dưới nước để bắn cá, cuộc đi nào anh cũng cho tôi tham dự và còn được rủ bạn theo.
Chị dâu (vợ anh) thường gởi thư cho anh và mỗi tháng anh đều nhờ tôi đi gởi tiền cho chị. Vú nói anh chị vẫn thương nhau nhưng ở gần thì không hạp.
Đến ngày lễ cưới của chúng tôi, anh lo các thứ từ chọn nhà hàng, quần áo cô dâu, chú rễ (vì chồng tôi đang ở xa, khi về đến Việt Nam là đám cưới liền nên anh phải lo dùm tất cả). Vậy mà khi rước dâu và tối đãi tiệc, anh lại bận bệnh nhân không dự được.

Ngày tôi dọn ra ở riêng, anh cứ năn nỉ vợ chồng tôi mỗi ngày về ăn cơm, anh quá cô đơn mà tôi không hiểu. Chồng tôi muốn hai đứa có đời sống riêng, nên điều đình một tuần chúng tôi về ăn cơm với anh 2 lần và anh đến nhà chúng tôi ăn cơm 1 lần, anh vui lắm!
Đến ngày tôi sanh đứa con đầu lòng, hôm ấy là ngày mà những phi đoàn phản lực đều ra Đà Nẵng, dưới sự chỉ huy của tướng Nguyễn Cao Kỳ để Bắc phạt (thả bôm miền Bắc).
Chồng tôi chở tôi ra nhà hộ sanh từ sáng sớm, có mẹ, anh, Vú và thuê thêm 1 người nữa để nuôi tôi sanh, tất cả đều vui vẻ. Trong người bắt đầu khó chịu, chồng tôi đi bay lần này không biết có còn về để nhìn được mặt con không, tôi vừa đau trong tim, vừa đau ở bụng, nhưng ngoài mặt vẫn giữ nét bình thản như chẳng có gì lo.

Tối đó tôi sanh một bé gái. Anh, mẹ và vú lúc nào cũng bên tôi. Hôm sau, chồng tôi về cùng 3 người bạn thân, các anh vẫn còn mặc áo bay trên người làm tôi cảm động.
- Các bác đến thăm em bé đây. Vì không đến trình diện thì mẹ bé sẽ lo, sợ đại bàng gãy cánh, mà không dám hỏi ... Ha ...Ha ...
Anh mời chồng tôi và các bạn đi ăn, gọi là khao quân.

Từ nhà hộ sanh về, mẹ nhất định đưa mẹ con tôi về ở nhà anh để mẹ săn sóc dễ. Hôm cúng đầy tháng, anh đề nghị vợ chồng tôi ở luôn đừng về lại cư xá không quân, vì nghe tiếng khóc của em bé sẽ làm không khí trong nhà vui hẳn lên.
Lúc đó, tôi vẫn chưa hiểu được nỗi cô đơn của anh nên chúng tôi lại dọn về tổ ấm nhỏ của mình.

Đến tháng 3 năm 75, tôi phải theo ngân hàng di tản vào Sài Gòn, gặp anh để gởi lại chị Hương, người theo tôi từ lúc nhỏ và một con chó cũng theo tôi từ thời con gái. Anh vui vẻ nhận hết và còn dặn chồng tôi đi bay về ghé nhà ăn cơm.
Rồi 30 tháng 4 năm 75 mất nước, chồng tôi đi tù miền Bắc, mẹ tôi bị ghép tội tư sản dân tộc và cấm không được ra khỏi làng. Chị Hương viết thư kêu tôi về gấp vì chính quyền đến bắt anh, đuổi chị và chị bếp ra để họ niêm phong nhà. Chị ôm con chó nhỏ của tôi về nhà mẹ.
Tôi gởi con lại Sài Gòn, nhờ chị chồng trông coi và tìm mua vé xe chợ đen (sau 75 việc di chuyển thật khó khăn. Từ tỉnh nàyqua tỉnh khác muốn mua vé xe rẻ phải có giấy giới thiệu của cơ quan).
Xe chạy suốt đêm, sáng đến Nha Trang. Tôi vội đến nhà người bạn thân, hoàn cảnh cũng như tôi, muốn thăm anh nhưng không có giấy phép. Chị hỏi tôi có tiền không? Tôi móc hết tiền ra. Chị đếm rồi nói sẽ mua cho tôi một vé xe giá chính thức về lại Sài Gòn. Còn đi thăm anh và về quê thăm mẹ thì có người chở dùm tôi đi, số tiền này chỉ đủ lo lót để vào thăm anh thôi.
Tôi gặp anh ngay ngày hôm đó chỉ được 30 phút, tôi không có một món quà nào cho anh cả. Câu đầu tiên tôi nói cùng anh:
- Em biết tại sao người đàn bà nhà quê đó nhịn đói rồi.
- Tội nghiệp em tôi quá!
Rồi anh dặn tôi đủ điều và bắt tôi phải hứa. Phải chung thủy cùng chồng. Phải thương người ngã ngựa.
Đó là lần cuối cùng tôi gặp lại anh. Sau này nghe tin anh chết trong tù. Mẹ xin đem xác anh về chôn cất. Mãi đến mấy năm sau tôi mới trở về.

Đứng trước mộ anh, tôi thắp một nén nhang và ngồi đó suốt buổi chiều trong ánh nắng tàn tro. Em đã mất anh rồi!!!

Phải bước qua bao nhiêu dâu bể cuộc đời, em mới hiểu được nỗi cô đơn cùng cực của người anh chung máu mủ, mới hiểu được tấm lòng của anh dành cho đứa em gái dại khờ này.

Thiên đàng rộng mở thênh thang, như trái tim anh luôn mở rộng cùng tha nhân trong cảnh khốn khó cơ hàn của họ. Em tin chắc anh của em sẽ đến được cõi yên bình vĩnh cửu.

Phòng Trực
10-20-2017, 06:51 PM
Hội ngộ
Trương kim Báu

Taxi đang chờ, các con cháu vẫn mãi dặn dò, mỗi người một tiếng.
Tôi phì cười: "Làm gì mà lo quá vậy, đây là Việt Nam quê hương của mẹ mà, taxi cũng là người quen, mẹ sẽ về đúng giờ, yên lòng nhé!"
Tôi vội lên xe, sở dĩ ai cũng lo lắng vì tôi đã già và cách đây mấy tháng, tôi đã trải qua một sự mất mát lớn lao, người bạn đời vừa ra đi.
Mấy chục năm trời xa nơi chôn nhau cắt rún, nay các con cháu đưa tôi về thăm lại quê hương, hy vọng cho tôi còn chút kỹ niệm thuở xưa, vơi đi nỗi buồn hiện hữu.
Xuống xe, tôi đi bộ. Đây rồi cổng trường ngày ấy, nơi đã đánh dấu những ngày đẹp nhất của tuổi học trò. Tôi đứng bên rào nhìn vào sân cỏ.

Ngày nhập học lớp bảy, bà vú bắt tôi phải mặc chiếc áo đầm trắng, tóc cột lên cài 2 cái nơ: "Con đã lớn, lên trung học rồi, hôm nay phải mặc áo dài trắng, đội nón lá và mang đôi guốc mộc".
Tôi nói gì thì nói, vú vẫn làm theo ý mình. Hình như trên đời này, tánh các bà vú đều như vậy và những bà vú đều .... mập. Ngày còn trẻ các bà phải khỏe mạnh mới được thuê làm vú nuôi trẻ, thời gian qua, các trẻ đã lớn thì các bà vú càng ...... mập ...... hơn.
Sáng nay vú nhất định đưa tôi tới trường, rồi vú còn hiên ngang đưa tôi vào tận lớp. Từ đó tôi có biệt danh là "thực dân". Trên bảng đen, không biết bàn tay tài hoa nào đã vẽ một chiếc xích lô, có một bà thật mập ngồi, bên cạnh là một cô bé mặc đầm, áo phấp phới tung bay. Vừa thấy hình ảnh này, vú định xuống văn phòng thưa, nhưng thấy đôi mắt tôi long lanh ngấn lệ, vú đã bỏ qua. Và vú không đưa tôi đến trường nữa. Tôi đi chung với cô bạn ở cùng đường. Cô này người tuy nhỏ nhắn nhưng rất xinh. Thế là trên bảng, lại vẽ hình chiếc xích lô, một người mặc đầm kế bên một người nhỏ xíu, bên dưới có mấy hàng ghi chú (thực dân và chuột lắc đi học).
Trong trường, các bạn không kêu tên chúng tôi mà chỉ kêu bằng biệt danh. Sau này, chúng tôi mới biết tên tác giả của những hình vẽ là anh chàng học cùng lớp, ngồi sau 2 bàn chéo bên tay mặt tôi. Mỗi khi tôi quay đầu nhìn phía sau, là anh chàng đưa 2 tay lên làm dấu, ý nói mắt tôi to như hai con ốc bươu Các bạn ưa chọc, tôi thì mau nước mắt, vì vậy tôi có nhiều biệt danh như: thực dân, ốc bươu và mít ướt. Nhưng anh chàng này, cũng bị các bạn cho biệt danh là "nôn". Chúng tôi không biết sao lại có tên đó nhưng nghe mọi người gọi thì mình cứ gọi theo.
Nghĩ đến chuyện xưa, tôi bật lên cười và tự nhiên miệng vọt ra tiếng: "Anh chàng nôn này!"
Tôi giật mình, khi bên tôi có tiếng "dạ" thật to. Tôi quay lại, có một cặp nam nữ đang đứng gần tôi từ lúc nào, tôi không hay.
Tôi mở to đôi mắt để nhìn, có tiếng la lên: "Thực dân! Thực dân! Đúng là thực dân rồi! Tôi, "nôn" đây, vợ tôi nè!"
Thì ra chàng "nôn" ngày xưa, bây giờ là một ông già tóc đã muối tiêu.
Sự vui mừng ập tràn đến, tôi bật cười ha hả và vẫn giọng điệu của cô học trò nhỏ ngày xưa: "Ôm chặc như vậy, không phải vợ, chẳng lẽ bà hàng xóm hay sao?"
Giọng nôn hấp tấp" "Nhìn đi! Nhìn kỹ đi! Vợ nôn là ai?"
Tôi chưa kịp nhìn thì người đàn bà đã gỡ tay ôm của chồng, lao thẳng vào người tôi. Giọng la lên như có nước mắt: "Chuột lắc đây, thực dân, chuột lắc đây!"
Chúng tôi ôm nhau, rồi thả ra để nhìn nhau cho kỹ, rồi lại ôm nhau. Trên đôi má chuột lắc đã đầm đìa nước mắt. Tôi ôm vai cô bạn và chuột lắc ôm cánh tay tôi như ngày xưa. Nôn cười thật to, nhìn chuột lắc: "Kìa, gặp thực dân là quên cả chồng".
- Sao hai người gặp nhau? Ngày xưa chúng tôi ghét nôn, vì nôn ưa chọc phá mọi người mà.
- Tụi mình vào quán nước kia đi! Nôn nói tiếp: "Hai người ngồi yên để tôi bấm vài bô hình đã".
Rồi nôn kể: "Bạn bè ai cũng biết tôi là lính biển mà, nên năm 75 lính biển phải theo tàu ra khơi. Trên tàu lúc đó dân chúng ngồi ở tầng dưới và ngồi cả trên boang tàu. Chúng tôi phải lo phát thức ăn và giúp đỡ những người bị say sóng. Tàu chạy được 3 ngày. Lúc đó tôi đang đi, thì có vật gì cản dưới chân, tí nữa là té rồi! Thì là cái chân của ai cố ý để ra, nhìn kỹ mặt thì là chuột lắc".
Tôi lên tiếng: "Sao dám cản chân người ta, lỡ lầm thì sao, hở chuột lắc?" Lúc này bạn tôi mới liếng thoắc lên tiếng: "Sao lầm được, cái bảng tên trên ngực áo, rồi nhìn cái mặt chắc chắn mới dám chứ bộ".
- Tôi đi một mình, chuột lắc cũng một mình, gặp lại bạn học cũ trong hoàn cảnh này, chúng tôi mừng như bắt được vàng. Ngày lên đảo, đám cưới chỉ có 2 đứa trước mặt là biển, trên đầu là trời, dưới chân là đất.
Chuột lắc không có áo mới, không có nhẫn cưới.
- Ô, cần gì, hai bạn có những kỷ niệm của một thời trung học, có mái trường chung, có thầy cô giáo, có bạn bè, là các bạn giàu quá rồi!
Cả ba đều cười vui vẻ. Nôn khoe: "Chuột lắc học lại cũng làm nghề cũ". - Vẫn y tá hả?
- Ừ, còn sanh cho 5 đứa con cho tôi nữa, trai gái đều có.
Thật bái phục cô bạn của tôi.
- Những năm sau này, chúng tôi đều về hưu, ở nhà phụ đưa đón các cháu đi học, và dạy tiếng Việt cho chúng. Nôn lại nói tiếp: "Mỗi năm chúng tôi cũng có đi đây đó. Năm nay, chuột lắc cứ đòi về Việt nam, tôi rất ngại, mình đi quá lâu. Chúng tôi mới về hôm qua.
- Tôi cũng mới về hôm qua.
Chuột lắc reo lên: "Thật là kỳ diệu! Vậy mà sáng nay chúng mình lại gặp nhau ở trước cổng trường xưa". Giọng chuột lắc lại có nước mắt hoà vào. Nôn lên tiếng: "Bây giờ chuột lắc có thêm một biệt hiệu nữa giống với thực dân rồi!"
- Biệt hiệu gì? Mít ướt, tại sao?
- Vì cô nàng hay khóc, nhớ nước, nhớ nhà, nhớ làng xóm, nhớ cha mẹ, nhớ trường, nhớ bạn bè ...v...v...
Tôi choàng tay ôm cô bạn thật chặt thông cảm cùng bạn. Chuột nhắc lên tiếng: "Lúc ở đảo, chúng tôi có hỏi thăm về thực dân. Tại sao không đi ngày ấy? Cánh chim và gia đình ưu tiên 1 mà. Sau này lại qua Úc?"
Thấy mắt chuột vẫn còn ướt, tôi cười to và nói: "Thực dân ăn bo sửa nhiều quá, ở lại ăn khoai mì cho biết với người ta. Còn cánh chim, Anh đã bay về tổ ấm rồi, nơi đó có một sự bình yên tuyệt đối. À, tại sao đi Úc hả, vì mê con kangaroos và con koala. Hai con vật lúc nào cũng đem con theo bên mình, giống người đàn bà Việt Nam" .
Tôi choàng tay xoay người chuột lại, mặt đối mặt, tôi cụng đầu 2 đứa vào nhau .
- Chuột nghĩ coi, lấy năm của 3 đứa cộng lại những ngày xa quê hương hơn cả 100 năm, ấy mà vừa về lại quê nhà, ngày trước, ngày sau mình gặp nhau, có phải là kỳ duyên không? Tại sao phải chảy nước mắt hoài?
Nôn lên tiếng: "Phải đó, mình nhắc đến kỹ niệm xưa đi! Tôi đố tại sao lớp mình có tấm màn đen kéo qua tấm bảng đen?"
Tôi đưa tay lên: "Tôi nhớ. Đó là ngày thầy Võ Hồng kêu tôi lên trả bài vạn vật. Tôi nghĩ mình mới được kêu trả bài tuần rồi, chắc tuần này thầy không kêu, nên không học bài. Thầy bắt vẽ cái hoa chẻ đôi rồi phải ghi chú chỗ nào là nhụy, phấn, noãn, hạt v...v... Các bạn ở dưới nhắc, mỗi người một tiếng, tôi quýnh lên ghi lung tung, thầy lắc đầu khi nhìn trên bảng. Lần sau đến giờ thầy Đào dạy anh văn, Thầy kêu chị Thúy ngồi cuối lớp lên bảng viết trả bài, chị một tay cầm phấn, tay kia để trên bảng đen, chắc chị thừa biết tay mình quá đẹp, tay chị thật trắng với các ngón thon dài, móng tay lại sơn màu hồng nhạt. Có nhiều tiếng hít hà vang lên từ bàn con trai. Không biết anh chàng nào quên đang là giờ học, hút gió 1 tiếng. Thầy Đào giận đập giày trên bệ gỗ và miệng luôn la: "Everybody, please be quiet! Quiet!"
Sau buổi hợp giáo sư, là lớp mình có cái màn đen ở trên bảng. Nôn lên tiếng: "Chính nhờ có cái màn đen, nên khi lên bảng thì kéo lại, không còn được nhắc bài nữa, bọn con trai tụi này sợ quê, nên thi nhau học bài, nhờ vậy mà đứa nào cũng nên người".
Đến phiên chuột lên tiếng: "Thực dân, nhớ bạn và Yến dành một anh chàng không?"
- Nhớ, nhớ. Chuột kể đi!
- Ngày nào vào lớp bọn mình cũng thấy một miếng giấy để chính giữa 2 bạn. Vừa nhìn thấy, em bịt 2 tai lại, và nhảy la khi có viên pháo nổ gần: "Anh rất thích em!"
Chuột nói tiếp: "Thực dân nè, cứ dành anh chàng thích mình". Chuột nhái giọng tôi.
- Chắc chắn là anh chàng thích mình, vì con trai thích con gái tóc dài, mà mình tóc dài nè.
- Yến nói bạn đâu phải con gái. Ra chơi là bạn và chuột lắc chuyên môn chơi trốn bắt, chạy tùm lum, con nít chứ con gái gì. Ta mới là con gái.
Nhớ không? Hai bạn viết giấy để ở bàn muốn thấy mặt người trong mộng, có giấy trả lời: "ngày mai anh sẽ đứng ở cửa sổ mặc áo trắng, trên túi áo có cài một bông hoa cẩm chướng đỏ".
Hôm đó 3 đứa học mà trông mau hết giờ, để nhìn ra cửa sổ.
- Thực dân nè, bạn lén nhìn trước, rồi xây vào nói: "Chắc anh chàng thích Yến thật, mình nhìn ra mà anh chàng không thèm nhìn mình, cứ nhìn chỗ khác.
Yến vội nhìn ra và cũng xây vào nói: "Tao cũng vậy, anh chàng cũng không nhìn tao".
Chuột vừa cười vừa nói: "Đến khi mình nhìn ra, thì mới biết mắt anh chàng lé, nhìn tức là không nhìn, không nhìn tức là nhìn".
- Là sao không hiểu. Chuột lắc giảng tiếp: "Thì nhìn cây cà mà thấy cây ớt , thực dân hiểu chưa?"
Chuột tiếp: "Vậy mà mấy tháng sau thấy anh chàng đi cùng cô bên tứ A. Anh chàng học giỏi có tiếng đó nha".
Nôn lại cười to, tụi con trai lớp mình, cũng đi để giấy các lớp khác vậy.
Không hẹn mà tôi cùng chuột lắc à lên một tiếng thật to .
Nhìn đồng hồ thấy gần giờ hẹn cùng các con. Tôi nói: "Mình hẹn nhau sẽ gặp lại một lần nữa trước khi chúng ta rời Việt Nam trở về quê huong thứ hai, nơi đó đã cưu mang chúng ta. Ai liên lạc được cùng các bạn cũ thì hẹn giùm luôn".

Phòng Trực
10-28-2017, 11:47 AM
XẢ TANG
(cho thiếu tá Nguyễn văn Dọng, Pháp danh Minh Liên)
(Phi đoàn 524)
Trương kim Báu (Vợ)


https://hoiquanphidung.com/uploadpics/hqpd1017/1509191205-NguyenvanDong.jpg
Thiếu tá Nguyễn văn Dọng (hình do gia đình gởi)

Nghe tiếng nói từ đầu giây bên kia nửa vòng trái đất của người chị chồng gọi:
- Gần đến ngày xả tang của chồng em rồi đó. Xuống nhờ Thầy ở chùa làm lễ em nhé.
- Thưa chị mới 2 năm. Phải để đúng 3 năm mà.
- Nói 3 năm nhưng thật ra chỉ đúng 2 năm tròn là 3 năm méo, do tục lệ từ xưa của ông bà để lại.
- Dạ, em sẽ làm theo lời chị.
Đó là người chị chồng thương yêu tôi như ruột thịt. Ở chung lo cho mẹ con tôi lúc giàu sang, cũng như lúc khổ nghèo chị không bỏ tôi, luôn cận kề an ủi, thương yêu, lo lắng cho chúng tôi mọi thứ.

Chồng tôi mất vào một ngày mùa xuân của xứ Úc. Đến nay mùa xuân nữa lại về. Trời Melbourne của tiểu bang Victoria ấm áp, đủ loại hoa thi nhau đua nở, những chùm màu tím nhạt của loài hoa Tử Đăng do chồng tôi trồng đang ngược đầu xuống nở rộ trong hai chậu to trước sân nhà. Màu hoa giống màu chiếc khăn quàng cổ mà ngày xưa khi người mặc áo bay đồng phục màu cam. Những chàng phi công của Phi đoàn 524 bắt buộc phải choàng khăn màu tím có in hình chiếc phản lực cơ A37.

Xả tang hay để tang với tôi cũng đều như nhau, vì sự nhớ thương vẫn tròn đầy. Ngày chồng tôi mất, tất cả mọi người đều dặn tôi không được khóc để anh ấy ra đi nhẹ nhàng. Tôi tuân theo tất cả, ngay khi lên đọc bài tiễn đưa anh lần cuối mặt tôi vẫn trơ ra với mắt khô ráo, trong khi mọi người và cả các con tôi đều ràn rụa. Chỉ riêng mình tôi không khóc, ai cũng khen tôi giỏi vì nước mắt đã chảy ngược vào tim tôi hết rồi. Sự kềm chế đã làm tôi khô héo.
Căn nhà trở nên rộng và lạnh lẽo thênh thang! Đêm đêm tôi không ngủ được. Phải đọc kinh. Lấy tiếng kinh để kềm chế những giọt nước mắt. Đến khi mệt quá thì thiếp đi. Mở cửa nhìn vào phòng anh, chiếc giường mênh mông vắng bóng! Trở lại phòng mình và nằm xuống, kỷ niệm lại hiện về!

Mỗi đêm vào giờ này anh bước thật nhẹ vào phòng tôi tắt niệm điện, hôn lên trán rồi kéo mền đắp cho tôi. Lúc nào tôi cũng giả bộ ngủ say để anh được yên lòng. Bây giờ lại hối hận sao lúc đó tôi không ôm và hôn lại anh, tựa đầu vào vai anh. Để bây giờ tôi thèm một nụ hôn, thèm cầm bàn tay ấm áp của anh, thèm nghe những lời nói ngọt ngào hay hờn mát cũng được. Nhưng không còn dịp nữa rồi!
Nay nhìn thấy anh cười nhưng không ra tiếng. Tay anh vẫn để trên vai tôi nhưng không còn tìm được hơi ấm. Mắt vẫn nhìn nhưng không hiện ra được những gì muốn nói. Vì anh nói bằng mắt nhiều hơn lời. Đó chỉ là những tấm hình chụp chung. Những kỷ niệm đã qua!
Anh ra đi để lại trong tôi sự cô đơn nhớ thương tủi hờn, cho tôi sống như một cái bóng lẻ loi sầu tủi.
Để tự lừa dối mình, tôi để gối và phủ mền lại như có anh đang ngủ mỗi lần nhìn vào phòng anh. Tôi nói thầm với chính mình, anh đang ngủ đừng lay anh dậy. Tôi khờ khạo chơi trò trẻ con, tưởng rằng tự đánh lừa được mình. Nhưng càng cố quên thì lại càng nhớ nhiều. Muốn chữa lành mụt ghẻ phải rửa thật sạch vết thương và bôi thuốc vào mới được.
Tôi qua phòng anh, kê đầu nằm trên gối anh, đắp mền của anh mà ngủ để thấy sự cô đơn tột cùng và tự nhìn thấy nỗi đau của chính mình, không né tránh hay tự lừa dối mình nữa.
Gặp ai tôi cũng vui vẻ để không ai nhìn thấy vết thương đang đau nhói trong tôi. Phải tự chữa lành và một mình tự đứng dậy. Tôi nghĩ ở nơi nào đó anh đang nhìn tôi và khuyến khích.

Hôm nay là ngày xả tang anh trong chánh điện của chùa Hoa Nghiêm. Người tham dự rất đông ngồi dưới bồ đoàn và trên những dãy ghế, một số phải đứng vì không còn chỗ ngồi. Với sự hiện diện của quý thầy, quý sư cô và các con, bạn không quân, bạn trong ban trị sự, bạn ngày xưa, bạn đạo cùng bà con thân thuộc ...v...v...

Ai cũng nhớ đến anh. Mọi người tự tay làm hay mua những thức ăn anh thích đem đến chùa, trước cúng Phật và sau là cúng anh. Mọi người đều mừng rỡ ôm nhau vì lâu ngày có dịp đến chùa lễ Phật và đọc cho anh một thời kinh.
Các con quỳ trước bàn thờ dâng cơm và nước theo lời chỉ dẫn của từng câu kinh. Các con tủi thân nhớ lại những ngày được cha chăm sóc cho nên đều khóc. Giờ này những giọt nước mắt của tôi mới rơi trước mặt các con. Hai năm rồi không thể chảy vì sợ các con buồn, sợ anh quyến luyến mà không siêu thoát.

Đám xả tang diễn ra một cách thành kính trang nghiêm trong từng câu kinh được mọi người đem hết lòng thành mà tụng. Tiếng chuông mỏ nhịp nhàng hòa vào những lời kinh làm không khí thêm long trọng nhiệm mầu.
Sau buổi lễ, kính mời quý thầy quý sư cô và tất cả mọi người xuống hall. Ai cũng tự chọn người quen để ngồi gần, ăn tối bên nhau, nói cười chuyện trò vui vẻ, nhắc đến những đức hạnh của anh cũng như những điều anh đối xử với từng người, không khí vô cùng thân mật.
Với Thầy trụ trì, Cha tâm linh của đại gia đình chúng con, con biết nói sao để diễn tả niềm xúc động thẳm sâu tận đáy tim của mỗi thành viên trong đại gia đình chúng con, khi Thầy đã đại diện cho Minh Liên, Pháp danh của anh, ân cần hỏi thăm từng người có mặt dưới Hall đêm ấy. Thầy ơi, biết bao kỷ niệm xa xôi thắm thiết ngày xưa giữa Thầy và đại gia đình chúng con đã trôi đi theo định luật vô thường, nhưng với gia đình chúng con, Thầy mãi là Người đầu tiên dẫn dắt chúng con biết sống thế nào là đạo giữa đời thường, cho chúng con bước đi vững chắc giữa trường học ta-bà này.

Cô Thảo ngồi gần tôi, cô nói về Minh Liên, nhắc lại việc tu hành và nhiều kỷ niệm với anh.
Cô nói anh là người biết sống, dùng tuổi trẻ để phụng sự đất nước, lo bảo vệ quê hương tổ quốc. Thời thế đổi thay, anh vào tù nhìn ra sự vô thường rồi biết chọn con đường cho tuổi già. Dành hết thời gian tu hành và giúp chùa, dịch kinh. Sống mà biết mình đang sống và biết phải làm gì.


Minh Liên một đóa sắc son.

Ngày xưa giang cánh phiêu bồng
Người con đất Việt Lạc Hồng tung bay.
Rồi ngày trang sử đổi thay.
Anh về chuyển bánh Pháp thay cuộc đời.
Nhất tâm Kinh chép, dịch lời.
Truyền rao hành đạo, không rời phút giây.
Xuôi tay viên mãn trọn đầy.
Nương thuyền Bát Nhã quy vầy thiền môn.
Minh Liên một đóa sắc son...
(Tác giả Thảo Phạm)

Ngày xả tang đã được các thầy làm lễ hoàn tất, tình yêu thương không hề vơi đi mà càng tràn đầy thêm vì tôi đã trải nghiệm được cuộc sống này trong những ngày không còn anh ở tuổi xế chiều, và hiểu được tình yêu anh đã dành cho tôi. Anh đã chuẩn bị cho tôi một hành trang để ngày về cùng đất mẹ không bị bỡ ngỡ lo sợ vì biết sống trong tỉnh thức. Sống là tu, tôi phải như anh cùng theo bước chân Phật tự nghìn xưa.
Tôi đã nhìn thấy được mùa xuân hiện đang trên đất Úc, vẻ đẹp của từng bông hoa rực rỡ khoe màu. Nghe được tiếng gió thì thào, ánh nắng chiếu sáng rạng ngời giữa đất trời bao la như đang bao bọc che chở cho tôi, tôi không còn cô đơn, tôi đã hòa nhập được với chung quanh, anh và tôi không hề xa cách hay mất nhau bao giờ. Niềm tin lại trở lại trên nụ cười, trên đôi môi tôi như ngày thơ bé.

Người Ở Lại

Dìm trong dòng lệ phôi pha
Dìm trong ký ức nhạt nhòa tìm quên
Thôi thì một kiếp nhân duyên
Mấy ai khôn định giữa triền, triều xô
Tình anh lịm kín tim cô
Mang theo tôi hẹn…. ước, bờ hư vô
Viễn miên cõi mộng, ơ thờ
Nhà hoang đêm vắng….. huyễn chờ, đan… mong
Chắc anh đã hiểu nỗi lòng
Ngại se sợi rối, thương đong trao người
Gối chăn anh… thắm châu rơi
Buộc tim xô trắng… quấn lời tình câm
Cô liêu… nay sống âm thầm
Chôn bên đời lặng, nuốt đầm… lệ vay
đường trần ta… ngã… chia hai
Niết bàn nơi ấy mong ai… nguyện cầu
hai năm tang xả qua mau
khóc anh lần cuối tạ nhau…ân tình…
Tử đằng hoa tím lung linh
nhắc khăn quàng cũ, mắt nhìn cười… tôi…
(Tác giả Thảo Phạm)

Phòng Trực
11-13-2017, 08:41 PM
Đọc qua ba nhân cách lớn của cụ Trần văn Hương, vị tổng thống cuối cùng của niềm nam nước Việt lòng tôi cảm kích vô cùng. Nhớ lại những ngày sau khi miền nam đổi thay chế độ, biết bao gia đình đi vào con đường huyệt tận, thân nổi trôi như cánh bèo dạt về vùng khô cháy, sống chết chỉ là trò chơi của ách nước tai trời. Chúng tôi, những nhân viên ngân hàng vô cùng may mắn, được giữ lại làm việc tại trung ương 79 Hàm Nghi Sài Gòn, là trụ sở chính, nhờ vậy chúng tôi ít bươn chải hơn và có dịp tiếp xúc với những nhân vật tên tuổi lớn trong chính phủ miền nam, hoặc đối diện trước những người nổi tiếng mà ngày trước chúng tôi chỉ được thấy qua báo chí ảnh hình.
Ngày đó, tôi không biết nhiều về giáo lý của Đức Thế Tôn, không hiểu gì luật nhân quả trong kiếp nhân sinh, không biết khi giúp người thì được gọi là gieo trồng ruộng phước. Tôi làm những điều tốt vì mình bị quá nhiều khổ sở khó khăn, thấy họ cũng cùng hoàn cảnh thiếu thốn trăm bề, cùng là dân miền nam như mình và cũng bị gian truân mất hết, nên dẫu chân tiếp tục bước trên đường dài mõi mệt, tôi giúp gì được cho ai thì kể như đã đem đến cho họ ít nhiều an ổn. Chính vì thế mà những bạn bè cùng làm việc chung 10 tầng lầu của Việt Nam Thương Tín rất thương và tin tưởng tôi .


https://hoiquanphidung.com/uploadpics/hqpd1017/1510605831-t-v-huong-n-ut-2w.jpg

Tôi gặp được cụ Trần văn Hương khi cụ vào ngân hàng nộp giấy tờ xin rút ít tiền trong trương mục của cụ để chi dùng. Có lần người cháu của cụ là nhân viên làm việc nơi đây, nhờ tôi bán dùm cặp ngà voi từ xưa còn lưu lại, cụ đã từng trưng bày mỹ thuật vật ấy nơi phòng khách của mình. Ôm cặp ngà voi được bọc trong bao vải cẩn thận, lòng tôi xót xa vô hạn. Tôi không muốn trao cặp ngà voi ấy cho lái buôn hay những người có tiền mà thiếu lòng nhân hậu, ít ra họ cũng phải biết trân trọng đồ cổ, nhất là món đồ của một vị tổng thống vừa mất nước sa cơ.
Lúc đó tôi muốn giữ lại cặp ngà nhưng hoàn cảnh không cho phép, vì tôi cũng xác xơ túng thiếu. Ngại làm trầy hoặc hư hao nên tôi ngồi xích lô đến gặp người bạn cũng từng làm việc trong ngân hàng ngày xưa. Nay anh đã mở một văn phòng kiến trúc, nơi đó quy tựu những bàn tay tài hoa trước năm 75 cũng như tất cả những họa viên tài giỏi, những người mà chế độ mới không dùng vì họ không hiểu được giá trị của nhân tài. Tôi ôm bộ ngà voi đi vào mà nước mắt trào tuôn vì tư cách lịch sự tao nhã của người mua và sự nâng niu trân quý của anh với món đồ kỹ niệm. Nét mặt cảm động của anh đã nói lên phút nao lòng quay quắt của đời người rồi cũng nhòa nhạt tàn phai, nhưng tim anh đang có một cụ Trần văn Hương tiết tháo chính nhân quân tử, xứng đáng là vị tổng thống cuối cùng của niềm nam nước Việt. Cảm ơn anh thật nhiều! Anh Cao Hữu Tùng kiến trúc sư Việt Nam Thương Tín! Sau này khi rời Việt Nam anh cũng đem theo cặp ngà voi đó, là một kỷ niệm vô giá với cụ Hương.
Hôm sau tôi gặp cụ và được cho một hộp kẹo chocolate, đó là lộc quá lớn với tôi nên muốn chia cho mỗi người một viên kẹo để cùng nhau thưởng thức. Ngậm vị ngọt trong miệng như tình thương mà cụ luôn dành cho quê hương và dân tộc. Tôi đem hộp kẹo đến văn phòng kiến trúc, một căn biệt thự nguy nga trên dưới lầu đều có bàn làm việc. Đến giờ nghĩ bạn bè thường họp lại bên nhau, ai cũng có chữ sư hay sĩ đi kèm theo tên họ. Đàn bà chúng tôi cũng thân thiện bên nhau, chỉ có 4 người: vợ của anh Tùng, vợ của cậu anh Tùng (chồng bà là phi công phản lực cùng phi đoàn với chồng tôi, hiện ở tù), một chị làm ngân hàng cùng tôi (chồng thuộc binh chủng nhảy dù đã tử nạn trong trận mùa hè đỏ lửa) và tôi, chồng cũng đi tù. Anh Tùng từng nói với tôi:
- Thưa chị, bây giờ cuộc sống khó khăn quá, phần đông các bà vợ ngụy đều không thể trọn vẹn chờ chồng, xin chị hãy sống như một người đàn bà xưa trọn vẹn chờ chồng và một lòng chung thủy, để sau này tôi có thể theo gương đó mà dạy dỗ các con tôi. Và ai đó nếu có nói các bà vợ ngụy đều hư hết thì tôi sẽ nói còn một người vẫn một dạ thờ chồng là chị.
Tôi đã hứa với người bạn tốt đó. Bạn nào có biết lòng tôi chỉ một dạ sắc son, thề nguyện trọn đời chỉ duy nhất chờ chồng, đâu cần phải nói ra.
Trên lầu của phòng vẽ họa đồ hôm nay đầy đủ tất cả những khuôn mặt thân quen. Anh Tùng bước vào cùng với một người đàn ông lạ, anh giới thiệu đây là thương gia đã bị đánh tư sản mấy lần, bây giờ không còn gì hết. Tan sở trên đường đi ra đón xe bus, âm vang từ sau lưng tôi:
- Thưa bà.
Tôi quay lại và vô cùng ngạc nhiên khi nhận ra đó là người đàn ông hôm qua đã gặp ở văn phòng của anh Tùng. Lúc tôi trao viên kẹo, người này nâng niu và giữ mãi trên tay.
- Anh cần gì ?
- Tôi đói bụng quá!
- Anh muốn ăn gì ?
- Tôi thèm một tô phở ở đường Pasteur.
Một nơi xa xôi rừng thiêng nước độc, biền biệt trong trại tù cải tạo, chồng tôi cũng hay sớt chia phần ăn cho những người đói khổ ngoài rào, dù anh vẫn lao động vất vả với tấm thân gầy hao đầy vơi và luôn thương nhớ vợ con. Ý nghĩ về chồng bất ngờ nổi dậy làm đau nhói con tim, tôi bước lên xe bus và bảo người đó đi theo. Đến nơi tôi không ăn mà chỉ ngồi đợi ông dùng cho xong tô phở, vì thật ra tôi không có nhiều tiền. Lương tôi phải nuôi một người chị chồng (thấy tôi nghèo quá chị không nỡ bỏ rơi tôi) và 2 con còn nhỏ. Tôi là người lớn tuổi nhất và nghèo nhất trong 4 người đàn bà đến văn phòng anh Tùng hôm đó. Tại sao ông này không chọn ai mà lại chọn tôi nhỉ. Cứ mỗi chiều ông đều đón tôi với thái độ lễ phép, thật ít nói và lúc nào cũng đói. Ông không trả nổi tiền một vé xe bus và đòi ăn thứ này rồi thèm ăn thêm thứ khác. Tôi nhịn phần ăn sáng của mình để dành tiền bao ông. Tôi nghĩ đàn bà là phải hy sinh cho chồng con, nhưng nay người bạn này nghèo đói quá nên giúp được thì tôi cứ giúp, đến khi nào chẳng giúp được nữa thì đành nói tiếng không. Có hôm ông muốn tôi đưa ông đi xem lá số tử vi và tướng số, là nơi mà mọi người trong nhóm khen hay và ai cũng đều đến đó rồi. Tôi than thầm trong lòng, ông có biết là đắt tiền lắm không. Nhưng rồi tôi cũng đưa đi và vui vẻ ra ngồi một chỗ riêng, tôi không muốn dính vào đời tư của ông nên để ông được tự nhiên. Mỗi khi đến văn phòng kiến trúc, tôi và ông cùng đi, chẳng ai thắc mắc hay bàn tán gì về chúng tôi cả.
Một chiều tan sở mọi người cùng đến văn phòng kiến trúc trên lầu đã được dọn thật sạch sẽ gọn gàng ngăn nấp, tất cả đều an tọa dưới sàng. Anh Tùng dắt 2 em nhỏ một gái một trai khoảng 16 tuổi vào. Trước kia các em học trường quốc gia âm nhạc nhưng nay không còn được tiếp tục học. Anh muốn giúp đỡ các em, vì tế nhị không muốn cho 2 em biết nên anh mang hai em tới hát và đàn cho cả nhóm nghe. Lâu lắm rồi mới nghe lại những bản nhạc rúng động hồn tôi, các em đàn hát chơi vơi đưa chúng tôi ngụp lặn về khoảng trời xưa cũ, một thời sum vầy huyên náo với tình bằng hữu chấp cánh bay cao. Bốn người đàn bà chúng tôi đều cảm động, ngăn không được lệ trào nên len lén đưa khăn lên lau những giọt nước mắt muộn màng. Chiều nay người đàn ông đó cũng đón tôi, trong tay là một bọc lớn:
- Thưa bà, mình ghé qua chợ trời được không?
- Ông muốn bán gì ?
- Áo lạnh.
Chợ quần áo nằm ở con đường sau lưng ngân hàng. Chúng tôi cùng đến đó, và ông đã bán xong chiếc áo.
- Hôm nay tôi bao bà. Tôi muốn ăn một bữa cơm Việt Nam.
Chúng tôi đến quán cơm bà Cả Doai, nơi đó nổi tiếng những món ăn thuần túy Việt Nam. Ăn xong ông mua một con vịt quay và bánh mì gởi về cho các con tôi. Ông đưa cho tôi một miếng giấy nhỏ có ghi địa chỉ.
- Đây là địa chỉ của tôi ở Đài Loan. Sáng mai tôi và gia đình sẽ rời Việt Nam bằng máy bay, bà nhớ cất thật kỹ, bất cứ lúc nào thoát ra khỏi VN là phải liên lạc cùng tôi liền, nhớ nha.
Tôi kể cho anh Tùng nghe và đưa anh xem tờ địa chỉ.
- Chị cất đi. Anh đó là người Tàu bị đánh tư sản mấy lần. Anh ấy có 2 bà vợ. Anh giàu lắm! Vẫn còn của, ở Đài Loan cũng có cơ sở nhưng để qua mặt công an theo dõi nên anh bám theo chị xin ăn. Tôi không dám nói vì sợ chị biết thì chị sẽ không giúp.
Rồi dùng đủ mọi phương tiện trong nhóm chúng tôi lần lượt ra đi. Kỳ này người đón tôi là Đinh Xuân Ninh, cậu của anh Tùng, người phi công phản lực cùng phi đoàn với chồng tôi. Chúng tôi ra nhà hàng Mỹ Cảnh ở bến Bạch Đằng ngồi uống nước, tôi nói với anh vài hôm nữa tôi sẽ đưa các con tôi vượt biên, đây là người quen tổ chức có tính cách gia đình. Vừa khi đó một chiếc máy bay lướt ngang đầu, anh nhìn lên với ánh mắt buồn rười rượi! Lòng tôi chùng xuống trong nỗi niềm thông cảm bời bời của một loài chim đã gãy cánh đường mây. Đôi mắt đó làm tôi mất ngủ cả đêm. Sáng hôm sau, đến gặp vợ chồng anh Ninh và tôi nhường chuyến vượt biên cho họ. Trong tay là điện tín báo gia đình anh Ninh đã đến bờ bến tự do, tôi đi tìm anh Tùng cho hay. Anh mừng lắm và nói với tôi:
- Chị cũng nên tìm chỗ nào chắc chắn mà đem hai cháu vượt biên, tôi cũng sẽ đi. Bây giờ trong nhóm chỉ còn chị và tôi thôi.
Biết trước người bạn cuối cùng trong nhóm cũng sẽ ra đi. Hôm đến văn phòng kiến trúc, nhân viên thân tín của anh Tùng trao cho tôi lá thư anh Tùng để lại với một số tiền. Lá thư nắm chặt trong tay nhưng tôi không dám đọc vì tôi biết chắc mình sẽ khóc dọc đường. Tôi muốn về nhà ngay, tôi muốn ôm hai con, muốn ôm người chị chồng, người đã luôn bên cạnh tôi, lúc tôi giàu sang cũng như lúc tôi thật cơ hàn nghèo khổ. Với tôi, chị không phải là chị chồng mà là người thân ruột thịt máu mủ của tôi. Chị tin tôi, hiểu tôi và những người bạn của tôi chị đều thân thiện cả. Bạn bè đã ra đi tìm tự do hết rồi! Tôi tự bảo lòng nhất định phải kiên cường trong thời gian chờ đợi. Quả thật những khó khăn đã hun đúc rèn luyện tôi phải trực diện với vai trò người vợ, người mẹ cho được chu toàn. Đôi khi lủi thủi lẻ loi trong vạn biến hóa của đời thường, tôi hay tự an ủi mình rằng đó mới là một đoạn đời thi vị chứa đầy đủ cung bậc của tình cảm bi thương buồn tủi, để sau này tuổi già bóng xế, ít ra mình cũng còn chút gì gọi là một thời để nhớ.

Phòng Trực
12-03-2017, 11:44 PM
https://hoiquanphidung.com/uploadpics/hqpd1017/1512103007-9nt.jpg


Chiếc taxi thả tôi xuống cách xa cư xá, người tài xế hẹn 1 giờ sau đến đón tôi. Trước khi cho xe chạy anh còn dặn tôi nên cẩn thận, nếu ai có hỏi nhất định đừng nhận là Việt kiều.
Đầu đội nón lá, tôi ăn mặc như người dân quê, tay cầm một cái bao, một que dài để lượm lon và giấy.
Buổi sáng mặt trời vừa lên, những tia nắng rạng rỡ nhuộm cả đại dương, từng đợt sóng long lanh và những đám mây viền màu vàng óng ánh. Lòng thương biển cũng tròn đầy như ngày còn thơ ấu khi mỗi sáng thức dậy, biển trời vàng rực một màu.
Gió mát quá! Mấy chục năm rồi, hôm nay tôi trở về tìm lại chút kỷ niệm của một thời hạnh phúc để thêm sức mạnh cho những ngày xế chiều lẽ bóng.
Tôi băng qua đường nhìn lối vào Phi Trường, thấy tấm bảng đề Khu Quân Sự, có gắn chiếc máy bay nhỏ một bên.
Đi ngang dãy nhà sát bên đường, trong đó có nhà bác sĩ An, lòng tôi reo vui khi đến hàng rào của cư xá. Chân bước thật chậm nhè nhẹ thương yêu dâng tràn, xin mắt đừng nhỏ lệ, hãy bình tỉnh nhìn và nhớ lại từng căn nhà của bạn bè một thời cùng quay quần nơi đấy.
* Đúng là căn nhà này của anh Vũ Liễn 524. Tối hôm đó các anh trong phi đoàn đến nhà tôi chơi và nhắc đến anh Liễn, nói chị Liễn còn nhỏ lắm nay lại có em bé, hiện cháu đang bị sốt, ở đây không có người thân.
Tôi đem chuyện đó nói cùng anh tôi, hai anh em sống với nhau từ nhỏ nên có chuyện gì tôi đều kể với anh. Không ngờ sáng sớm anh đưa một số thuốc, kêu tôi đem xuống cho cháu bé và nói bác sĩ dặn cách dùng.
Anh Liễn vào xem chị và cháu bé dậy chưa để đưa tôi vào nhà chơi. Nhưng họ còn ngủ, tôi xin đi về thì anh kêu tôi chờ một chút, anh trở ra tay cầm 2 củ cà rốt, anh ăn một, đưa tôi một.
- Báu làm con thỏ đi, nhà không còn gì ăn hết.
Vị ngọt của cà rốt năm xưa nay như còn trong tôi, cảm ơn anh Liễn đã cho tôi một chút kỷ niệm thân thương để nhớ.
* Nhà anh chị Triển. Trước 75 chị Triển đi dạy ở dưới Cầu Đá, tôi đi làm trên phố. Chúng tôi ít gặp nhau nhưng sau ngày mất nước, chúng tôi thường liên lạc cùng nhau. Anh Triển và anh Dọng đã đi vào trại tù rồi, chị từ giả tôi trở về Nhatrang để trình diện Ty Giáo Dục. Ba mẹ con chị bơ vơ, không bà con, không nhà cửa, chính quyền lại đổi chị đi dạy thật xa. Sáng đi sớm bằng xe lửa chiều tối mới về, hai đứa con thơ ở nhà trọ, tôi đau cùng nỗi đau của chị.
Sau những năm ở tù về, anh Triển và anh Nhị thường viết thư cho tôi. Anh Triển kể những chịu đựng tủi buồn cực khổ khi đạp xe đi làm ở Hàm Tân, Anh Nhị về quê tận trên Thành. Khi nhà có trái mít chín, anh Triển đạp xe lên Thành để anh em gặp nhau, cùng thưởng thức những múi mít ngọt lịm cho đời vơi cay đắng và chia xẻ muôn ngàn khó khăn buồn tủi khi những cánh chim đã bị cắt đi đôi cánh.
Anh Nhị hỏi tôi:
- Báu có biết gió vào nhà trống là nghĩa gì không ?
Anh Nhị ơi! Nay tôi cũng đã trải qua những thăng trầm của cuộc đời, không còn ngơ ngác như ngày còn bé. Nét thật thà của anh, người miền quê Nhatrang, tôi làm sao quên được. Tôi đã là con dâu của 524, tôi hiểu và thương các anh nhiều, mình đã là đại gia đình.
Ngày anh đi tù, nhìn chị thương thật nhiều nhưng tôi không dám nói. Chị xơ xác, không nơi nương tựa. May mà chị đưa các cháu về lại quê nhà, vụ tạm trú và hộ khẩu làm chúng tôi, những người đàn bà ở lại Sài Gòn, điên đảo.
* Đây rồi căn này của Bùi Gia Định. Tôi và Định có chút liên hệ mà cành nông bắn hoài không tới. Nguyên ba dượng của Định là tướng Lam Sơn, anh Lam Sơn lại là con nuôi của ba tôi.
Vợ Định là Đồng Minh, mà Đồng Minh với tôi lúc nhỏ ở cùng phố Phan Bội Châu Nhatrang, hai nhà sát vách nhau, chúng tôi từ bé có nhiều kỷ niệm nên những ngày ở cư xá thường chạy qua lại với nhau.

Các anh Thiên Lôi 524 mỗi đêm đều tụ ở phòng khách nhà tôi nói cười vui vẻ để quên đi những nguy hiểm mà mỗi ngày các anh phải đương đầu. Ngày tết, anh Định ra nhà tôi, lúc đó tôi và vài cô bạn sắp đi chùa, anh xin theo. Nhìn bộ đồ bay anh mặc, chúng tôi kêu anh về thay quần áo khác, anh giận nên không thèm đi. Ngày đó còn khờ quá, tôi không hiểu được nỗi buồn cô đơn xa nhà vào dịp lễ hay tết của những người lính, mà chỉ biết đi chùa phải ăn mặc đẹp thôi. Ra tù là Định liên lạc cùng tôi, các anh sống có lý tưởng nên muốn ở lại phụng sự đất nước. Cao quý thay cho tấm lòng những người con của mẹ Việt Nam, nhưng được đổi lại bằng tù đày, khổ sai, đói và đói.
Đồng Minh về Nhatrang cũng không ở yên cùng phường khóm, bị kêu đi lao động kinh tế mới và cũng chịu bao nhiêu cay đắng của người vợ lính tàu bay. Có dịp vào Sài Gòn, Đồng Minh đều đến thăm tôi, chị em tâm sự.
* Kìa là nhà anh chị Bùi văn Đích, anh bên Trung Tâm Huấn Luyện. Anh dạy bay L19, sau này qua Úc chúng tôi rất thân nhau, gặp ở chùa và cùng làm công quả.
* Nhà anh chị Cần, tôi gặp chị Cần ở chợ trời, chúng tôi tay cầm tay nước mắt tuôn trào. Chị vất vả từ phiên chợ lúc nào cũng sẵn sàng gom hàng mà chạy nếu không thì công an tịch thu, hàng mất vốn cũng không còn.
* Kế là nhà anh Võ Ý. Gặp anh ở nhà anh chị Trí (nhà thơ Duy Năng). Chào nhau nhưng chưa bao giờ nói chuyện cùng anh.

Một buổi trưa theo thường lệ, những người có liên hệ với Không Quân, chúng tôi đem phần ăn của mình cùng nhau ngồi ăn trưa ở lầu 4 Ngân hàng Việt Nam Thương Tín Trung Ương, cùng nhắc đến người thân. Trưa nay có thêm 2 cô bé ngày trước tốt nghiệp Kinh tế Đalat đã thực tập ở VNTT Nha Trang, nay đến xin việc. Một cô nhắc thật nhiều về anh Võ Ý và một cô nhắc về anh Võ Quang Thẩm. Đặc biệt là 2 cô này có 1 quyển sách (chỉ được nhìn không được cầm đến quyển sách nên tôi không biết tên sách) trong đó có hình anh Võ Ý mặc đồ bay cười rất tươi, dưới có ghi lý lịch và hình anh Võ quang Thẩm mặc đồ lễ đội nón xanh Không Quân có ghi lý lịch. Thật là vui một cô bé mê tiếng hát và một cô bé mê lời văn.Tôi xin mượn quyển sách nhưng hai cô bé không cho, tôi dọa đem theo bên người coi chừng gặp công an là nguy. Hai cô cho tôi xem giỏ xách đã được mướn may một chỗ an toàn cho quyển sách, đó là bảo vật của hai cô bé.
Hôm sau chúng tôi được xem quyển Thế Giới Tự Do chưa kịp phát hành. Trong đó có hình anh Dọng rất nhiều, cũng như các anh trong 524 đều có mặt. Chúng tôi trân quí chuyền tay nhau, đó là niềm vui, một động lực giúp chúng tôi vượt qua những khó khăn buồn tủi. Thời gian ấy sách báo và ca nhạc không có, sống rất khô khan, thèm đọc một tờ báo hay nghe một bài hát cho cuộc sống bớt nặng nề khó thở.
Chúng tôi được chị Yến, chị của anh Nguyễn Ngọc Yên 524, cho biết chị Ngà vợ anh Bông hẹn ngày giờ xuống Phú Lâm gặp chị để đưa đi nghe hát chui, nhưng cả nhóm xuống họp mặt rồi cuối cùng không nghe được vì bị bể.
* Cổng chính vào cư xá đây rồi, bây giờ có nhiều lớp kẽm gai che lối vào, vọng gác vẫn còn chỉ vắng bóng người lính gác. Vài bước nữa là thấy nhà anh chị Nguyện. Hôm anh Nguyện rớt máy bay, nhiều ngày ở trong rừng dù bị thương nặng nhưng anh cố bò ra quốc lộ và được cứu. Anh Dọng có đưa tôi đến nhà thăm anh chị, sau này mấy lần gặp chị Nguyện ở SàiGon, chị có nói về việc làm ở sở chị và lo lắng nhiều.
* Kể bên là nhà anh chị Nghĩa, chị Nghĩa là Thu Cúc làm cùng Ngân hàng với tôi. Hôm đó không biết ai gọi điện mà chị Cúc biết có một chiếc A37 cất cánh và bị cháy, người phi công không biết là ai, sống chết ra sao? Chị Cúc xin phép giám đốc rồi hối tôi ra xe chị lái nhanh vào phi trường, trên đường đi chị nói:
- Hai đứa mình cùng cầu nguyện cho người phi Công đừng chết.
Dọc đường chúng tôi chỉ biết cầu nguyện, không nói với nhau lời nào.
Xuống xe, chị Cúc nắm tay tôi cùng đến phòng hành quân của 524, nhưng chưa vào tới thì có anh nào đó (giờ không nhớ) ra: - Người bị thương là Vĩnh Thọ đã đưa đi nhà thương rồi, hai chị yên lòng về làm việc.
Trên đường về chị Cúc lại nói.
- Anh Vĩnh Thọ không chết, mừng quá! Anh chưa có gia đình.
Những ngày ngân hàng kết toán sổ sách đều đóng cửa, tôi luôn nghe chị Cúc hát chỉ một câu lập đi lập lại "Cái trâm em cài là do tình nhân em biểu đó".
* Nhà anh chị Ngô Đức Cửu. Anh Cửu và anh Dọng mỗi đêm đều đến nhà nhau, mỗi người 1 tờ báo và rất ít nói chuyện. Tôi và chị Quý, vợ anh Cửu thì nói đủ đề tài. Chủ nhật, chị thường lái xe đưa tôi đi ăn ở chợ Đầm Nhatrang, có khi 2 gia đình rủ nhau ra ngay bãi biển trước cư xá tắm. Con gái nhỏ của 2 nhà đi học cùng trường, ngày nào anh Dọng đi biệt phái thì chị Quý đưa tôi đi làm, các con tôi kêu anh chị là ba má Cửu.
* Kế là nhà anh chị Đạt, tôi gặp anh Đạt ở cư xá lần nào anh cũng chê.
- Sao mà Báu mập quá vậy?
- Tôi đang có em bé trong bụng.
Sanh xong gặp lại anh.
- Báu sanh rồi vẫn còn mập.
Một hôm anh chở vợ, chị Giang ra khám bệnh, anh gởi chị cho tôi để về đi bay.
Anh tôi khám bệnh cho chị Giang rồi bảo tôi kêu người làm đi mua một tô phở, bắt chị Giang phải ăn hết, uống thêm một ly nước cam tươi, ngủ một giấc chờ anh Đạt ra chở về.

Dãy nhà độc thân đây rồi. Ngày đó vào một chiều thứ sáu, các cô ở ngân hàng 5 người chất lên một xe vì anh Dọng đi biệt phái, các cô bắt tôi bao ăn phở Chutt rồi mới cho tôi về. Khi chạy ngang nhìn thấy các anh độc thân của 524 leo lên mái nhà ngồi hóng gió mát. Các cô thích quá, rủ các anh đi ăn phở luôn.
Tôi la lên:
- 5 người đầy xe rồi, ngồi chỗ nào nữa ?
- Ngồi hai tầng.
- Trời đất, chị có 2 con rồi đó.
Một cô quay kính xuống và hét lên:
- Có vợ Mộ Địa ngồi trên xe, chút nữa trả chị về, tụi em đến đón các anh. Cô lái xe nói.
- Mỗi ngày em đều đem tiền ngân hàng gởi vào ngân khố, em đang tìm một anh không quân nào có máu ăn cướp như em, để hai đứa ôm tiền đi xây hạnh phúc.
- Đừng nói đùa kiểu đó.
- Ha ha bà chị ơi nhát quá! Đùa một chút cho vui mà.
Một đêm, công an đập cửa nhà tôi vào xét nhà để tìm cô lái xe ngày xưa. Sau 75, ai không được giữ lại làm việc ở Sài Gòn đều bị đưa về chi nhánh tỉnh, cô lái xe vẫn còn độc thân một mình ở tỉnh lẻ, đã lấy một số tiền lớn của Ngân hàng để lo cho người vượt biên thoát hoàn cảnh khổ đau. Khi nhận được tin cô đến bờ bến tự do rồi, tôi mới thở phào nhẹ nhõm vì sợ cô bị bắt lại thì không biết hậu quả ra sao?
Buổi sáng thật đẹp, những đám mây ửng màu vàng trôi trôi, tự nhiên tôi nhớ đến Chiếu Xuân, vợ của anh Đinh Xuân Ninh trong 524. Ngày trước gia đình ông dân biểu Lê Bá Chẵn danh giá, các cô con gái đều nổi tiếng là người đẹp.
Anh Thông, chi nhánh Qui Nhơn, đến thăm tôi chào trước khi phải về trình diện chi nhánh cũ.
- Sao chị cũng có chồng đi cải tạo mà còn cười?
- Tôi ở trọ nhà anh Kiến Trúc Sư của Ngân hàng. Có một bà nghe đâu chồng cũng đi cải tạo, ông đó cũng bay A37 Nhatrang, tối tôi đi về bất cứ giờ nào cũng thấy bà đó ngồi nơi hành lang trên lầu mà khóc. Anh có biết tên chồng bà không ?
- Không biết, tôi không dám đến gần bà, tôi cảm tưởng bà ấy gần điên rồi.
Tôi vội lấy giấy viết vài chữ nhờ anh trao dùm, ghi tên, địa chỉ và nơi tôi làm, hẹn gặp nhau sau giờ làm việc.
Tôi nghĩ cho dù người đó là vợ của bất cứ anh nào trong 524, tôi đều muốn gặp. Vì là đại gia đình rồi, an ủi nhau để cùng vượt qua những nỗi khổ khi nước mất nhà tan.
Sáng sớm mai trong giờ làm việc, Chiếu Xuân đến tìm tôi, em không nói gì, nước mắt và cách em ôm tôi đã nói lên tất cả, em là người đàn bà chới với, đó là cách diễn tả mà tôi thường chọc đùa em sau này. Từ đó mỗi đêm em đều đưa cháu Chouchou lên nhà tôi ngủ. Những đêm đầu gần như em không ngủ, tôi ra ngồi cùng em, cầm tay em thương yêu dỗ dành như một em gái nhỏ của mình. Từ hôm đó tôi tự ra lệnh cho chính mình, phải thật khỏe, giờ này trên vai tôi không phải chỉ có 2 con và 1 chị chồng mà thêm 1 em gái và 1 đứa cháu.
Chúng tôi luôn sát bên nhau, em còn trẻ và đẹp quá. Tôi phải bảo vệ em, vì có chiến dịch cám dỗ những người đàn bà có chồng đi cải tạo. Chính quyền mới biết rằng sự khổ sai, bỏ đói không giết các anh chết được, chỉ chết khi người đầu ấp tay gối phản bội mình trong khi mình ngã ngựa. Tôi nói cho em biết nhiều việc và khuyên em phải thật khỏe mạnh về thân cũng như tâm để cùng tôi vượt qua cái hoạn nạn của những người đàn bà như chúng tôi.
Bị tách xa lìa tất cả, cha mẹ, anh chị em và cả chồng, người đã từng chia xẻ buồn, vui, sướng, khổ cùng mình, nay phải một mình đối phó mọi việc ở ngay chính trên quê hương, mà những kẻ muốn giết hại tương lai và hạnh phúc của mình lại là chính quyền đương thời, tôi hứa không bao giờ bỏ em và người chị này sẽ là bờ vai cho em nương tựa khi sóng gió cuộc đời.
Tôi đi vòng trở lại cư xá, đứng nhìn vào hy vọng thấy được nóc nhà hay cây trứng cá ở phía sau vườn nhà tôi, có lẽ bây giờ các cành đã vươn cao.
Nhà chúng tôi ở tận phía trong, từ cổng đi thẳng vào quẹo mặt ở cuối đường sát hàng rào Phi Trường. Đó là một villa được cấp cho 3 gia đình sĩ quan. Nhà chúng tôi 2 phòng rộng và dài, chồng tôi xin ván ép và nước sơn về ngăn phòng phía trước làm hai phòng khách và phòng ngủ, phía sau có sẵn phòng tắm nên để thêm bếp gaz, phòng ăn. Kê thêm cái cái giường cho chị Hương, người theo hầu tôi từ nhỏ, về ở, vì chị không muốn xa tôi.
Chúng tôi cùng thêu 2 chiếc máy bay A1 Skyraider và A37 trên khung cửa lưới để ngăn 2 phòng ra riêng biệt. Nhà trở nên đẹp sáng sủa, đó là tổ ấm của chúng tôi. Như 2 con chim cùng nhau tha những bông hoa đẹp về làm tổ của mình. Chồng tôi mắc thêm một cái võng bên hiên nhà, thật tuyệt vời vào những buổi chiều nằm du đưa nhìn lên mây trời.
Má tôi vào thăm, bà năn nỉ chúng tôi ra phố ở, nhưng tôi hiểu chồng tôi, nên để mẹ và chồng cùng vui, tôi nói:
- Anh ấy là loài chim, mà chim phải sống quay quần cùng đoàn. Má đừng lo, rồi có một ngày chúng con sẽ nhờ má về nhà cửa, tiền bạc v.v...
Nhà chúng tôi nhìn qua bên mặt là nhà ông bà Phạm.
Đứng nhìn vào phía trong lâu quá, tôi sợ lỡ có ai đến hỏi thì phiền.
Biển, biển đang ở trước mặt cũng cần ghé thăm vì nơi đó rất nhiều kỷ niệm. Đôi chân trần đi trên cát, hai chân tôi lún sâu trong cát ấm như được cát âu yếm vuốt ve. Phải lội nước như ngày xưa, nước cũng ấm tràn vào đẫm hai chân, vóc một bụm nước vào hai tay. Bất chợt gió ào đến hất tung cái nón lá ngụy trang ra khỏi tôi, tôi hoảng hốt chạy đuổi theo.
Dường như gió nhìn ra đứa con của Nhatrang ngày nào, đã từng nằm lăn trên cát, nhảy đùa cùng sóng biển, hét cười ầm vang một góc trời, gió đùa giỡn, nón lá bay rồi ngừng, tôi mấy lần bắt hụt. Gió thì thầm thương yêu an ủi, cát thở dưới chân tôi, tôi quỳ xuống ôm lấy cát, biển cất tiếng hát, ôi tiếng hát ru tôi ngủ ngày thơ bé, mây như đứng lại che trên đầu, tất cả đến cùng với tôi.
Tôi quên hẳn tuổi già, quên thân phận mình, hai tay dang rộng chạy trên cát, cất tiếng cười dòn tan. Một mình vui cười đùa giỡn, tôi nghe được những lời thương yêu từ biển, biển tạt những giọt vào người tôi, gió thỉnh thoảng lại hôn trên mặt mũi tôi, cát ôm hai chân tôi không muốn rời, bầu trời đẹp hắn ra những đám mây vàng trôi lửng lờ, tôi đã trở về và có tất cả.
Xin cảm những người bạn đã làm nên kỷ niệm. Xin cảm ơn tất cả những người cùng ở cư xá Không Quân ngày xưa.

Phòng Trực
01-19-2018, 12:24 AM
Đây là lần đầu tiên bốn người chúng tôi được phép gia đình cho đi Đalat chơi 2 tuần trong dịp nghỉ hè. Còn đến mấy hôm nữa lên máy bay mà chiều nào 3 bạn cũng đến nhà tôi dự định đủ thứ chuyện.
Minh Châu lên tiếng:
- Mẫu Đơn ơi, kỳ này đi chơi bạn không được mặc áo dài trắng nữa nha.
Hải Yến:
- Đúng đó, áo dài trắng chỉ để đi học thôi. Đi chơi phải mặc quần tây, áo đầm.
Tú Anh:
- Tại sao bạn không được mặc áo dài trắng Mẫu Đơn biết không?
- Mẫu Đơn đâu có biết.

Bốn chúng tôi học cùng lớp 11 nhưng Mẫu Đơn nhỏ tuổi nhất, hiền nhất và cũng đẹp nhất. Mọi nét trên gương mặt không có gì đặc biệt nhưng mắt, mũi, miệng đó hài hòa vào nước da trắng nuột thì lại là một mỹ nhân phúc hậu tuyệt vời tinh khiết, ngơ ngác và thật ngây thơ với chiếc áo dài trắng tha thướt cao gầy nên có biệt danh là Búp Sen Trắng.
Xe vào phi trường Nhatrang hơi sớm, chúng tôi lên nhà hàng ở tầng lầu một uống nước chờ máy bay Air Việt Nam. Ngày trước nơi đó là chỗ của người Pháp trú ngụ thường có những buổi dạ vũ thâu đêm vịnh nguyệt thưởng hoa.
Đang tìm bàn trống bỗng một người đứng dậy nhường chỗ cho chúng tôi, anh mặc thường phục nhưng kiểu cách nói chuyện với những chàng phi công ngồi gần đó, biết anh tên Khải, bay khu trục cơ A1 Skyraider. Hôm nay anh được nghĩ dưỡng sức 2 tuần ở Đalat.
Chúng tôi đến Đalat ngụ trong ngôi biệt thự của anh tôi, do vợ chồng người bà con làm quản gia săn sóc nhà cửa, nhà có sẵn xe hơi nhưng chú quản gia và 4 chúng tôi đều không biết lái.


https://hoiquanphidung.com/uploadpics/hqpd1017/1516321383-A1.jpg

Sáng nay cả bốn chúng tôi ra chợ Hòa Bình mua trái cây, lại gặp anh chàng Khải phi công đến làm quen.
- Nghỉ phép lần này chúng tôi gồm 3 người, nhưng hai bạn kia có mục đích riêng rồi.
Minh Châu hỏi:
- Anh biết lái xe không ?
- Biết. Các anh lái máy bay được thì xe nào cũng lái được hết. Mướn anh làm tài xế đi! Năm nào anh cũng được lên đây nghĩ dưỡng sức 2 lần, anh biết nhiều thắng cảnh ở đây lắm!

Bắt đầu từ hôm đó anh vừa là tài xế vừa là hướng dẫn viên cho chúng tôi. Sáng anh chạy vespa đến nhà rồi lấy xe đưa chúng tôi đi thăm hồ than thở, đồi thông hai mộ, thác cam ly, suối vàng, vườn mận, vườn hoa hồng, sân đánh gù, cưỡi ngựa... Có đêm đưa chúng tôi đi uống cà phê nghe nhạc, đứng sắp hàng mua bánh mì pagette nóng dòn trong tiết trời lạnh băng thật hấp dẫn khẩu vị. Hôm nào dì năm, vợ chú quản gia, làm món ăn ngon đặc biệt chúng tôi liền mời anh ở lại dùng cơm. Anh bày cách để vào lò sưởi những củ khoai lang hay đậu phộng mà không bị cháy, anh kể cho chúng tôi nghe về đời lính và những chuyến bay đại bàng vẫy vùng xé mây cỡi gió nơi lưng chừng trái đất. Học sinh chúng tôi thời đó nam hay nữ đều đọc qua quyển Đời Phi Công của Toàn Phong nên nam sinh có mộng ước sau này sẽ theo nghề phi công, những chàng trai thiên thanh khí phách hiên ngang ưu tú.

Sáng nay tôi đang còn mơ màng trong giấc ngủ, giọng ngâm nho nhỏ của Mẫu Đơn bên tai, tôi nằm yên thưởng thức:

Lặng nghe sóng hát tình ca
Lúc trầm khi bổng ngân nga biển trời
Dạt dào sóng nói bao lời
Yêu bờ nhiều lắm ngàn đời chẳng phai

Nha Trang sóng biếc trải dài
Đảo xanh một dải khiến ai nao lòng
Nắng chiều ươm sắc vàng ong
Đắm mình xuống biển tan trong sóng tình
...................................... (Đặng Minh Mai)

Minh Châu và Hải Yến chạy ào vào phòng nên Mẫu Đơn ngừng lại. Hai bạn leo lên giường lùa tôi và Mẫu Đơn vào giữa. Hải Yến nói:
- Yến và Minh Châu đang bàn về tương lai, những nghề tụi mình sẽ chọn khi xong lớp 12. Yến sẽ chọn học làm cô giáo, Châu sẽ học bác sĩ, Mẫu Đơn cũng học bác sĩ.
Châu vừa cười vừa nói:
- Mẫu Đơn không được học bác sĩ.
- Tại sao ?
- Vì Mẫu Đơn trắng quá, còn Châu lại đen nên người ta sẽ kêu bác sĩ trắng, bác sĩ đen mà quên mất tên chúng mình.

Thật ra nước da Minh Châu ngâm đen nhưng rất có duyên, bạn có đôi mắt to lấp lánh, lông mi dài cong thật đẹp, bạn rất thương Mẫu Đơn ngây thơ nên hay chọc.
- Vậy Mẫu Đơn học nghề như Hải Yến .
Yến lại nói:
- Không được. Bạn mà làm cô giáo thì học trò đến học hết, Yến sẽ thất nghiệp.
- Mẫu Đơn dạy con nít học mà.
- Cũng không được luôn, vì con của Yến sẽ kêu Mẫu Đơn là mẹ và tan trường Yến đến đón nó sẽ không chịu về nhà.
Thấy Mẫu Đơn sắp khóc, tôi lên tiếng:
- Học ngân hàng với Tú Anh.
- Không. Mẫu Đơn không thích đếm tiền.
- Làm ngân hàng vui lắm! Người đến gởi tiền vì họ dư tiền nên rất vui! Ai đến rút tiền, có tiền trong tay họ cũng vui nữa.

Chúng tôi lo tán dóc quên luôn giờ khắc. Dì năm vào gõ cửa nói có anh Khải đến, mới nhớ hôm nay đã hẹn anh đến đây ăn sáng rồi anh đưa chúng tôi đi chụp hình.
Chúng tôi trang điểm thay quần áo thật nhanh để còn ăn sáng, không để anh Khải chờ lâu. Hôm nay Mẫu Đơn diện áo đầm trắng, tóc gắn 2 chiếc nơ màu xanh nhạt lung linh, những sợi nubang dịu dàng buông lơi thả dài đậu xuống bờ vai lênh đênh mềm mại. Tất cả đều ồ lên vì bạn như một nàng tiên, không ai mặc màu trắng đẹp tinh khôi như bạn. Ba chúng tôi đều biết anh Khải rất thích Mẫu Đơn nhưng anh vô cùng tế nhị, anh hiểu tình bạn thân thiết của chúng tôi nên dù có cảm tình đặc biệt với Búp Sen Trắng, anh vẫn đối xử đồng đều, không săn sóc một mình Mẫu Đơn và cũng không nói chuyện riêng. Tánh lịch sự của anh làm chúng tôi nể phục và mến những anh chàng phi công nhiều hơn.

Anh yêu Mẫu Đơn nhẹ nhàng như những làn gió vân du đồng xanh bát ngát, như mây xanh quấn mềm quanh sườn núi hay vắt trên bầu trời quê hương năm tháng anh bay qua, anh thầm lặng mà không vội vã, anh trao tình yêu cho Búp Sen Trắng một cách vô cùng ưu ái nâng niu để Búp Sen Trắng thấy tình yêu thiêng liêng mầu nhiệm, anh thăng hoa thời gian bên nhau đẹp như khúc nghê thường chơi vơi bình yên dịu ngọt.

Sau chuyến đi Đalat về, 3 chúng tôi tìm mọi cách cho anh và Búp Sen Trắng có cơ hội gặp nhau. Mẹ Mẫu Đơn mất đã lâu, người kế mẫu là bạn thân của mẹ, bà yêu thương và lo lắng cho Mẫu Đơn hơi quá nên trở thành nghiêm khắc.
Những lúc 4 đứa ngồi ở biển chờ anh Khải đi bay về để trao Mẫu Đơn cho anh, chúng tôi thường đùa.

- Hay là Mẫu Đơn đừng vào đại học, hãy tìm một trường nào dạy làm vợ mà học. Anh Khải đẹp trai cao ráo, không quân kiểm tra sức khỏe của anh, mắt, mũi, miệng, răng, tai và bộ đồ lòng lại hoàn toàn khỏe mạnh, thì Mẫu Đơn học bác sĩ làm gì.

Nói xong là ba chúng tôi cười ngặt nghẽo rồi chạy ra ba ngã để Mẫu Đơn đứng lóng ngóng không biết đuổi theo hướng nào bắt lại, tiếng reo vui rộn rã hòa cùng biển trời mây nước.

Đôi khi 4 đứa rủ nhau đến nhà anh, bác gái là người đàn bà gương mẫu, chồng chết từ lúc còn trẻ mà ở vậy nuôi con. Bác rất thương Mẫu Đơn, bác nói cô bé đẹp phúc hậu. Chúng tôi đều hỏi:
- Còn con thế nào.
Bao giờ bác cũng cười và nói.
- Các con đều đẹp cả. Tuổi 18, 19 là tuổi trăng tròn, sáng nhất, đẹp nhất!

Anh Khải treo hình chúng tôi đầy phòng khách, có cả tấm hình 4 đứa nằm gối đầu trên vai, trên lưng nhau thật tự nhiên thân mật, hoặc nắm tay nhau từ trên đồi chạy xuống.

Hải Yến có dáng đẹp, anh đợi lúc Hải Yến bước qua chiếc cầu nho nhỏ, tay e ấp dịu dàng nhẹ nâng tà áo trong vạt nắng vàng là anh chụp, hoặc Hải Yến đưa bó hoa hồng lên cao, chúng tôi nhón gót lên cùng nhau dành giựt.

Minh Châu có đôi mắt đẹp mơ như sao trời, anh chụp Minh Châu ngã người ra sau, đôi mắt huyền long lanh biết cười cùng chiếc miệng sen hồng duyên dáng.

Tôi có bàn tay đẹp, anh chụp lúc hai tay tôi ôm quả dưa hấu như vỗ tròn niềm vui đan nhau quấn quít, màu xanh đen của dưa làm nổi màu trắng của những ngón tay thon dài ngà ngọc.

Và Mẫu Đơn đang ngồi ôm đầu gối vì đi mõi chân, anh đến gần kêu tên, cô bé giật mình nghiêng đầu nhìn lên ngơ ngác hiền thục nguyên trinh, anh bấm máy hình liên tục rồi lựa ra một tấm hình thật đẹp. Các anh phi công mỗi ngày đều bay trên bầu trời cao rộng nên cực kỳ lãng mạn, anh thích nét thánh thiện nên chúng tôi muốn cười nói gì cũng được, vẫn có những hình ảnh mảng mầu kỳ ảo vô biên.

Anh rủ chúng tôi cùng đến nhà Mẫu Đơn để anh xin gia đình Mẫu Đơn cho một lời hứa như đính hôn, rồi anh sẽ đợi ngày Mẫu Đơn học xong. Chúng tôi nghĩ anh sợ Búp Sen Trắng nở, hương thơm bay tỏa ra ngan ngát, ong bướm nghe mùi thơm tìm đến.
Gia đình Mẫu Đơn không hứa hẹn gì cả, chỉ nói Mẫu Đơn còn nhỏ, nhưng sau đó chúng tôi biết là họ không bằng lòng. Lý do:

1/ Anh không còn đủ song thân (dù là ba anh là một người yêu nước có tiếng ở trong Quốc dân đảng, bị Việt Minh ám sát).
2/ Nhà anh nghèo.
3/ Anh là một phi công, mạng sống quá mong manh, chết sống không biết lúc nào (anh là con một và còn mẹ già, anh được miễn đi lính, nhưng giòng máu yêu nước từ cha ông truyền lại quá mạnh nên anh phải đi bảo vệ đất nước).

Anh đến nhà Mẫu Đơn xin mấy lần đều bị từ chối, lần sau cùng anh đưa bác gái đến cũng được trả lời Mẫu Đơn còn quá nhỏ. Chúng tôi sợ anh nản lòng nhưng anh nói dù chướng ngại bao lâu, anh vẫn không nản lòng, anh chỉ sợ mạng sống anh không còn lúc đó anh mới đầu hàng.

Anh chẳng ngại thời gian đâu
Chỉ cần em hứa bao lâu cũng chờ..!
Nhớ em anh viết vần thơ
Câu thương câu nhớ câu chờ đợi em
( Thanh Tâm)

Khải chưa bao giờ này sinh ý nghĩ oán trách gia đình Mẫu Đơn không chấp nhận mình, anh hiểu chính anh còn dám hy sinh thân xác mình cho quê hương yêu dấu, thì cha mẹ nào cũng muốn con mình có được người chồng đầy đủ vật chất lẫn tinh thần để bảo bọc con của họ vững bền hạnh phúc.

Gia đình bắt Mẫu Đơn đi du học để quên mối tình đầu, chọn Canada hay Nhật tuỳ ý. Mẫu Đơn chọn Nhật Bản, chúng tôi kêu chọn Canada nhưng bạn chỉ cười và không nói gì. Hôm đưa bạn ra sân bay để đi du học có anh Khải, chúng tôi ngạc nhiên khi thấy hai người sắp rời nhau lại không buồn. Sau này mới hiểu các anh Không Quân bay loại Skyraider hay A 37, F5, mỗi 6 tháng phải đi Nhật thử độ cao 1 lần. Mẫu Đơn đã biết và có kế hoạch rồi, dẫu người nơi góc biển trông đợi kẻ cuối chân mây nhưng vẫn còn bên nhau mỗi năm 2 bận.

Rồi tháng 3 năm 75 miền Trung cao nguyên Kontum, Ban Mê Thuộc bị bỏ trống, dân chúng ào xuống Nhatrang. Còn người dân Nhatrang thì tìm phương tiện đi vào miền nam. Những năm sau này gia đình Mẫu Đơn làm ăn thất bại, vé máy bay Air Việt Nam lại không mua được dù có tiền. Mẹ anh Khải đã mất, anh đến nhà Mẫu Đơn, đưa cả gia đình di tản vào Sài Gòn, rồi qua Mỹ.

Dù chưa bao giờ biết đầu hàng trước thử thách chông gai, nhưng đôi khi Khải sợ tình yêu của mình cũng đi vào huyền thoại trái ngang như cung trầm chỉ còn lại dư hương mênh mang thương nhớ, không ngờ anh cũng có một mái ấm hoàn toàn hạnh phúc với cha mẹ cùng vợ đẹp giỏi giang, ngây thơ trong trắng để anh nâng niu như kho báu, như biệt danh mà các bạn đã đặt BÚP SEN TRẮNG vô vàn thanh khiết, hai dòng sông rồi cũng hòa vào một ở nơi cho vẹn tròn mơ ước.

Anh tặng em một tình yêu trọn vẹn
Em giang tay nhận lấy cất vào tim
Cảm ơn anh tình nồng trao nhau đó
Em mơ màng hạnh phúc chẳng có tên. (Thơ Ngọc Dung)
Trương kim Báu

Phòng Trực
01-23-2018, 08:21 PM
Tháng mười hai ở Úc bắt đầu của mùa hè cũng là mùa holiday, trường học và các cơ sở được nghĩ ngơi. Ngày dài ra vì mặt trời lên rất sớm nhưng nắng chiều lại trể tràng, 9 giờ đêm vẫn còn sáng chói với bầu trời trong xanh cùng những đám mây bềnh bồng thơ mộng.
Nhân dịp cuối năm, chùa Quang Minh tổ chức khóa tu xuất gia gieo duyên ngắn hạn, giới luật như người xuất gia thật sự trong 3 tuần lễ để chia phước hồi hướng đến thân nhân của mình.
Từ ngày được ngồi trên chiếc A1 SKYRAIDER bay trên bầu trời Nhatrang để nhận lời cầu hôn của Dọng, khi máy bay vừa đáp các anh chạy ào ra đỡ xuống và chúc mừng tôi đã gia nhập vào gia đình Thiên Lôi, tôi đã tự hứa phải sống thật xứng đáng với tình cảm các anh sắp đặt, giúp đỡ cho cuộc tình chúng tôi thật nên thơ lãng mạn.


https://hoiquanphidung.com/uploadpics/hqpd1017/1509191205-NguyenvanDong.jpg
Thiếu tá Nguyễn văn Dọng (hình do gia đình gởi)

Để trọn vẹn với tình yêu của chồng và lòng tin của các anh, tôi là người đàn bà Việt Nam truyền thống, xem các anh trong phi đoàn Thiên Lôi 524 là người thân. Những lúc các anh ở trong tù, chúng tôi đã thay các anh làm việc hết sức mình, vì chúng tôi cũng là con cháu hai bà Trưng Triệu, nên giặc đến nhà đàn bà phải đánh.
Nhìn hình ảnh các anh trong phi đoàn 524 mà anh chị Ngô Đức Cửu mới gởi cho tôi, những khuôn mặt thân quen ngày đó, nay có người đã nằm xuống, có người vẫn còn mạnh khỏe. Lúc xưa các anh đều trẻ đẹp oai hùng trong bộ đồ bay, khăn quàng cổ, súng dao đầy đủ, miệng cười toe toét, phần đông chưa lập gia đình.
Nhớ đến những kỷ niệm xưa, không biết ngoài bay bổng ra, anh Cửu có nhận thêm chức vụ gì trong Phi đoàn không, vì một hôm anh Cửu và anh Thời qua nhà tôi đem 2 con cá lóc to và nhiều cua lắm, tất cả đều còn sống. Tôi là dân biển, chỉ ăn cá biển còn tươi nhưng đã chết. Giờ nhìn thấy cá sống, tôi rất sợ.
- Báu nướng trui cá hay hấp cũng được, cua thì rang muối, chiều anh em ra ăn.
Hai anh đi rồi tôi than thầm: "Đúng là các anh Thiên Lôi! Các anh có biết con gái rất sợ những con vật còn sống, làm sao dám giết đây!"
Tôi đem đến tiệm chú Ba Mập người miền Nam có quán ở đường Hoàng tử Cảnh rất quen thân, nhờ chú lo dùm.
Rồi một lần anh Nhị đến, anh cười rất tươi, anh đưa một bao to, mở ra tôi hét lên:
- Thịt gì mà máu không vậy?
- Thịt nai, bên trực thăng cho phi đoàn mình.
Anh đi cùng với anh Nhị lên tiếng:
- Báu xào lúc lắc là được.
Tôi nhìn anh Nhị, anh hiểu ý tôi:
- Người miền Nam nói là xào lúc lắc, nhưng dân Nhatrang mình thì là xào với củ hành.
- Ồ, thì ra vậy.
Lần này không dám đem đến tiệm chú Ba Mập nữa, vì lần trước chú không lấy tiền. Tôi đem đến tiệm Dân Thiên, đó là tiệm ăn tàu nổi tiếng, gần rạp ciné Tân Tân, đường Độc Lập.
Rồi đến phiên Dọng, hôm đó anh không bay đến rủ tôi đi ăn trưa, vừa lúc ấy chú Thái người làm vườn của gia đình tôi đem đến một quầy chuối.
Dọng vui mừng nói:
- Chuối vừa chín tới, Báu xào dừa cho các bạn cùng ăn.
Nhatrang lúc đó ít ai bán món này, chuối chỉ biết luộc, ăn chín hay ép làm chuối khô.
Lần này tôi đem đến tiệm Song Oanh ngay trên đường Trần Quí Cáp nhờ làm, bà người Nam rất dễ thương và đẹp người.
Mấy ngày sau thì anh Ninh đến, anh móc tiền từ túi áo bay ra, để trên bàn.
- Báu nấu dùm nồi chè bà ba, lâu không được ăn, thèm quá!
Tôi chưa bao giờ ăn loại chè này, đang suy nghĩ không biết nhờ ai nấu dùm. Hôm trước bà chủ Song Oanh biết nấu cho các anh Không Quân, bà cũng không lấy tiền nay làm sao dám nhờ.
Anh Ninh nhìn tôi cười cười, tay hốt lại số tiền trên bàn.
- Không biết nấu phải không? Để anh nhờ người khác.
Không biết các anh bay bổng giỏi ra sao mà được thưởng. Cấp trên cho trực thăng chở tất cả các anh trong phi đoàn vào Ba Ngòi ăn gỏi cá và đi Đà Lạt ăn sáng, những đặc ân đó đều có tôi dựa hơi tháp tùng.
Nhớ lại ngày đó hai anh Dọng và Nhị ra nhà tôi buổi sáng, nhờ đi hỏi các shop Ấn Độ ở đường Độc lập những mặt hàng nào có thể mua vô, vì các anh trong phi đoàn phải đi Nhật thử độ cao, muốn mua vài thứ đem về kiếm chút lời. Tất cả shops ở Nha Trang đều trả lời chỉ khi nào thấy đồ đẹp thì họ mới nhập vào.

Tôi nhờ anh Dọng mua dùm mấy cái khăn quàng cổ, vì mỗi lần đi cởi ngựa hay đi ra các hòn đảo, tôi muốn điệu một chút, sẵn làm quà tặng cho má tôi và bà vú luôn. Anh Nhị mua toàn đồ bật lửa phụ tùng xe Honda, vì có người quen nhờ, anh tưởng đó là hàng quý hiếm. Anh Dọng mua toàn là khăn quàng cổ. Và ông Lạc chỉ huy phi đoàn 524 mua luôn hai loại đó.

Các anh đem về Sài Gòn, có hai cửa tiệm không nhận hàng vào nên mắc cở không đi hỏi thêm nữa, đem về Nhatrang. Nhìn các món hàng tôi thương các anh quá, tháng ngày chỉ lo đánh giặc, lo tiếp cứu quân bạn, lo giữ gìn bờ cõi quê hương, có dịp đi nước ngoài cũng muốn kiếm tí tiền cho vui nhưng các anh thật vụng về và thiệt thà quá đỗi!

Bao nhiêu năm nay tôi muốn cảm ơn các anh đã một thời cho tôi nhiều kỷ niệm đẹp, giúp tình yêu chúng tôi, cũng như chỉ bày cho tôi thưởng thức nhiều món ăn miền Nam.


https://hoiquanphidung.com/uploadpics/hqpd1017/1516738748-20180120_182514.jpg

Bây giờ tuổi đã xế chiều. Sẵn dịp chùa mở khóa tu, tôi muốn đem chút công đức tu hành chia phước đến các anh, những người còn trên đời thì được mạnh khỏe hạnh phúc. Những người đã nằm xuống trở về nơi an lành, một cõi bình yên thật sự.
Chùa Quang Minh nằm trên đồi cao, cách xa nhà tôi một giờ lái xe, do một số kiến trúc sư của trường đại học Victoria Úc Châu thiết kế. Chùa rất lớn được xây kiểu hình tròn với nhiều mái cong lớn nhỏ khác nhau góp lại, bên ngoài dưới hầm còn thêm ba tầng nữa.
Tôi có mặt ở chùa Quang Minh 7 giờ sáng, được các sư cô đọc những lời ban phước trong lúc cạo tóc cho, rồi chỉ cách đắp y và học những bài kệ.
Lễ truyền giới vào buổi tối ở chánh điện lầu hai. Hai bên tượng Phật Thích Ca Mâu Ni thật to là tượng Quán Thế Âm và tượng Địa Tạng nhỏ hơn, cả ba tượng đều được phết vàng sáng rực. Chung quanh trong chánh điện trên những cái bệ sát vách, tượng Bồ tát rất nhiều.
Chúng tôi được truyền giới trong không khí trang nghiêm, đèn mở sáng ngời. Nhiều bình hoa to được trang trí mỹ thuật bên những dĩa trái cây thơm ngát. Chuông trống Bát Nhã cùng nhiều loại khí cụ hòa nhau tạo thành âm thanh vi diệu với sự có mặt của 13 vị Tăng truyền giới.
Chúng tôi vừa đắp y miệng vừa đọc bài kệ:

Đại tai giải thoát phục
Vô tướng phước điền y
Phi phụng trì giới hạnh
Quảng độ chư quần sanh
Nam mô cà sa tràng bồ tát

Nghĩa là:
Lành thay áo giải thoát
Là ruộng phước không tướng
Mặc kính đúng giới hạnh
Rộng độ hết chúng sanh.

Bây giờ những tu sinh mang dáng dấp của tu sĩ đầu tròn áo vuông, quỳ xuống nhận giới luật.
Trước mặt cũng như chung quanh đều có Phật và Bồ tát vô hình chứng minh, tạo thành oai lực thánh thiện tôn nghiêm cho nước mắt tôi rưng rưng thành giọt. Trong 13 vị Tăng (ở Úc và trên thế giới đến) gồm có 5 vị hòa thượng. Đặc biệt, có một vị hòa thượng đã từng đi tù cải tạo 12 năm ở miền Bắc, đã từng chia xẻ khổ đau cùng những người lính các anh.
Giới luật của một sadi phải giữ thật nghiêm ngặt. Sáng mới thức dậy là phải đọc thầm những bài kệ như đánh răng, thay áo, đi đứng, uống ăn, chào hỏi, nhất nhất đều đúng và đều nghĩ đến cứu độ chúng sanh. Sống chánh niệm trong tứ oai nghi, nên khi vọng tưởng nổi lên là hay biết liền nên vọng tưởng biến mất, còn có nghĩa là một chúng sanh đã được độ.
Đúng 5 giờ sáng vào công phu và 10 giờ đêm mới được về phòng nghỉ. Trong một ngày, thời khóa khít khao như tụng kinh, kinh hành, ngồi thiền, học giáo lý, nghe giảng pháp, ăn cũng phải đúng cách và im lặng, chỉ được nghĩ 1 giờ giữa trưa.
Tôi nghĩ đến các anh, ngày vào lính, các anh cũng phải cắt tóc ngắn, phải giữ luật, tập đi đứng, ăn uống, cách chào. Các anh cũng qua thời kỳ huấn nhục để trở thành người lính của Việt Nam Cộng Hòa có tư cách lẫn trách nhiệm và bổn phận đạo đức với một trái tim biết yêu thương đồng bào.
Để những tu sinh có thể vượt qua những khó khăn theo chương trình tu học, các thầy dạy cho chúng tôi Phát Bồ Đề Tâm. Đó là một năng lượng rất mạnh để chính mình thoát ra sự lười biếng. Bồ Đề Tâm như gió lớn, không sợ chướng ngại khó khăn, vì mình và vì người thân mà tu.
Đạo Phật là đạo từ bi tri huệ, con đường của quả Phật, cứu vớt chúng sanh hữu duyên bằng trí huệ và từ bi và bằng tâm vô ngã đời đời.
Những buổi chiều tu sinh thiền hành ở những con đường trên khắp khuôn viên chùa, nhìn thấy toàn cảnh Melboure bên dưới, từng bước chân thảnh thơi nhẹ nhàng an lạc khoan thai thong thả trong chiếc áo tu, nắng vẫn còn hòa nhập không gian chiếu soi từng bước chân đi mà không đến, những bài hợp ca vô ưu đượm mùi thiền vị có Phật trong tâm đang nhoẻn nụ cười vi tiếu.
Hạnh phúc trong thực tại thật giản đơn khi ta biết buông xã vạn duyên. Những người tu sống thật an nhiên tự tại, phải chăng vì họ đã hiểu có sợi dây liên hệ vô hình giữa mình và vũ trụ bao la.

Khóa tu đã kết thúc. Tôi không biết đã chia phước, trả ơn cho các anh được những gì hay là mang thêm ơn nữa. Các anh là một động lực mạnh mẻ cho tôi cố gắng dự khoá tu dù tuổi đã già, nhưng sau những ngày tu tôi học được nhiều và tìm ra nhiều điều hữu ích.
Tuổi già của tôi không cô đơn vì tôi đã có bạn bè xưa luôn quan hệ thân mật như ngày nào, chúng ta luôn là duyên thuận thảo giữa biển đời uyên náo. Tôi xin trân quý những giây phút tôi còn hiện diện trên thế gian này, vì các bạn đã cho tôi niềm vui hồn nhiên thời trẻ dại.

Phòng Trực
02-19-2018, 11:25 PM
Xuân lại về trên đất Úc cho những người Việt xa quê hương bớt thương nhớ quê nhà. Có những kẻ đã âm thầm kết bao cánh hoa mai trang đài cùng hoa đào rực rỡ trên cây cảnh trong chùa Hoa Nghiêm, cho Phật tử tới chùa vui với mùa xuân đang nẩy lộc.


https://hoiquanphidung.com/Pictures/TKB1.jpg

Năm 1983 chồng tôi ra khỏi tù cải tạo cả gia đình đã vượt biên , đến được bờ bến tự do và được nhận vào nước Úc này, đêm giao thừa của mùa xuân đầu tiên xa Việt Nam, tôi đã bật khóc thật nhiều vì nhớ cha mẹ, nhớ nhà, nhớ làng xóm, nhớ nước non, dù mình tự ý bỏ quê hương trốn đi trong đêm tối với tâm cang rối bời vì lo sợ bị bắt lại trên chiếc thuyền nhỏ mong manh bất chấp hiểm nguy. Ấy thế mà nay ở được xứ sở thanh bình trong đêm trừ tịch, lại nhớ thương và vọng về quê nhà và với nước mắt cứ mãi đoanh tròng.
Có một chùa Việt Nam nhỏ ở rất xa, gia đình tôi cố tìm đến. Ôi! Người Việt mình đông quá, nói tiếng Việt vang vọng rộn ràng! Những cây hoa vạn thọ gần gũi thân thương làm sao ấy, nước mắt lại tuôn trào. Thì ra không phải chỉ một mình gia đình tôi biết nhớ quê nhà, mà gần như những người đi chùa hôm đó điều nhớ quê hương cả, dù ở miền Trung hay miền Nam, giọng nói Bắc, Trung hay Nam thì cũng cùng một mẹ Việt Nam. Con phải bỏ mẹ mà đi đó là điều không ai muốn, nhưng biết làm sao đây! Khi mình ở lại chính trên quê hương mình thì lại không được chấp nhận. Nhìn một bà vuốt ve bông vạn thọ, tôi biết bà đang nhớ quê, lòng thương cảm dâng tràn, ý nghĩ chợt đến, có cách nào mỗi độ xuân về tôi sẽ đem mùa xuân đến cho mọi người.


https://hoiquanphidung.com/Pictures/TKB2.jpg

May mắn là chùa Hoa Nghiêm ở vùng Springvale được thành lập năm 1987, do một nhóm Phật tử, mỗi người cho mượn 500 đồng để đủ tiền đặt cọc mua. Đó là ngôi nhà tôn nhỏ ở số 22 Princess Ave, Springvale, ngôi nhà gỗ 3 phòng lụp xụp vì đã quá cũ kỷ, gian phòng khách chật hẹp được lấy làm nơi thờ phượng. Ở cuối phòng đối diện với tôn tượng Đức Thế Tôn là nơi thờ hương linh Phật tử và hương linh quá vãng, tuy đơn sơ gọn gàng nhưng không kém phần trang nghiêm thanh tịnh.
Ngày khánh thành chúng tôi mừng đến rơi lệ, vì thời đó ở vùng Springvale này chưa có ngôi chùa nào của người Việt.


https://hoiquanphidung.com/Pictures/TKB3.jpg

Phải nói chùa Hoa Nghiêm được tạo lập đã đáp ứng đúng nguyện vọng của giới Phật tử ở vùng Đông Nam Melbourne nói chung, riêng với chúng tôi và gia đình thì ... hình như có một cơ duyên nhiệm mầu nào đó, đã đưa đẩy chúng tôi khắn khít với ngôi chùa mang tên Hoa Nghiêm từ đó.
Mừng rỡ vô cùng và lòng sung sướng rạt rào, tuy mùa xuân đầu tiên chùa chỉ có những chậu hoa vạn thọ cũng đủ ấm lòng Phật tử xa quê. Đêm giao thừa đón xuân ở chùa, thầy trụ trì cùng Phật tử đều là những người mới đến Úc, cùng một tâm trạng, thương và hiểu nhau nên lòng ai cũng chan hòa hạnh phúc trên quê hương thứ hai trong không khí ấm cúng của đêm giao thừa với miệng cười tươi và mắt không còn vương lệ.


https://hoiquanphidung.com/Pictures/TKB4.jpg

Không khí sinh hoạt ở chùa có một chút gì đó vừa cởi mở thân thiện, vừa đậm tình Thầy trò và các phật tử đối với nhau cũng thành thật ôn nhu trong đại gia đình tâm linh hải ngoại. Mối thân tình đó đã được giữ gìn và duy trì mãi cho đến hôm nay.
Thuở đó, chồng tôi đưa rước tôi, Thầy Nhật Tồn và sư cô Như Tài đi học Anh văn. Sư cô tạm ở chùa đến khi mở được ngôi chùa Ni ở vùng Noble Park.
Mùa xuân năm ấy, ngoài những chậu vạn thọ, thầy Nhật Tồn có một ít hoa mai, chúng tôi tìm một cành cây khô gắn nụ biếc mai hoàng anh mang vào chánh điện, Phật tử hân hoan chụp hình kề bên nhành mai giả đó.


https://hoiquanphidung.com/Pictures/TKB5.jpg

Năm 1990, thầy Nhật Tồn đi du học Đài Loan, thầy Thiện Tâm được đổi về chùa Hoa Nghiêm để thay thế. Sau khi học xong, thầy Nhật Tồn về chùa Phước Huệ Sydney và đổi tên lại là Thích Phước Ân.
Mai nở ngày càng nhiều hơn khi các mùa xuân sau này đến, vì chúng tôi tìm nhiều cành khô để gắn hoa mai trong chánh điện và ở ngoài sân. Khi cành khô không còn, chúng tôi chặt luôn những cây tươi ở vườn nhà.
Có một lần, anh Tám Hòa (nay anh đã về nơi đất Phật) và tôi đi chặt cây để gắn hoa mai, đi rất xa, những cành cây được cột lại và chở sau xe để kéo về chùa. Trên đường đi, hai anh em đều niệm Phật vì sợ bị phạt bởi không biết cách ràng buộc cây cho đúng luật, về đến chùa anh em chúng tôi mới thấy nhẹ nhõm trong lòng.


https://hoiquanphidung.com/Pictures/TKB6.jpg

Chùa Hoa Nghiêm được dời về địa điểm mới ở 444 - 448 Springvale Road ngay mặt tiền của con đường chính, hoa mai hoa đào vẫn rộ mỗi độ xuân về, việc chặt cây kéo về thật khó khăn và vất vả nên sau này chúng tôi nghĩ ra cách gắn hoa trên cây tươi trong chậu, chỉ cần lặt lá là xong.
Ban đầu chỉ có hai anh em, anh Hòa và tôi, bây giờ được các người trẻ giúp, các cô khéo léo và lẹ làng hơn. Thế là mỗi độ xuân về, chúng tôi lặt lá để gắn hoa mai, hoa anh đào. Chùa là cả một mùa xuân của đất trời, quê hương nơi đây và cả trong trái tim mình.

Phòng Trực
03-19-2018, 10:48 PM
Chúng tôi ở trại tập trung trong vườn xoài cầu Rạch Ngòi, cách chợ Long Xuyên chừng 5 cây số, chỗ ở người Hoa đăng ký đi nước ngoài theo diện bán chính thức bằng đường biển, vì vậy chủ tàu lo giấy tờ cho chúng tôi thành người Hoa cho đúng luật.
Chị chồng tôi người Mỹ Tho nhưng chị ra Nha Trang ở cùng gia đình tôi từ ngày tôi sanh đứa con đầu lòng, Chị ở cùng chúng tôi lúc tôi giàu sang đầy đủ đến năm 75 tôi mất hết tất cả nhưng chị lúc nào cũng một bên tôi, vẫn thương yêu lo lắng săn sóc mẹ con tôi. Đối với tôi chị hơn cả ruột thịt những lúc buồn nản tuyệt vọng khó khăn đều có chị một bên, tôi có thể ôm chị mà khóc mà cười tự nhiên không còn phân biệt chị chồng, với tôi chị rất quan trọng. Tôi đưa chị và 2 con theo ngân hàng Việt Nam Thương Tín Nhatrang di tản vào Saigon, chồng cũng đang tù ngoài miền Bắc.
Chúng tôi ở Long Xuyên cả năm nay rồi, dự định xuống ở 1 tuần lễ là đi nhưng giờ chót công an đòi thêm vàng, chủ tàu không chịu, tàu bị đình lại không biết lúc nào mới ra khơi. Chủ tàu cứ hẹn 5 tây, 10 tây, 15 tây v... v... đến nỗi ai cũng nói ông chủ đang chơi trò 5, 10 với khách.

Nếu các con vẫn ở trại tập trung, không hưởng được một cái tết dù còn hiện diện trên quê cha đất tổ, cảm giác bơ vơ lạc lỏng chợt đến se lòng tôi quặn đau. Hôm nay là 30 rồi, muốn cho chúng biết nhiều về quê hương xứ sở, phong tục tập quán của nước nhà, tôi bàn cùng chị chồng tôi.
- Tàu chưa đi bây giờ nên mình về quê ăn tết, để ngày nào đó những đứa trẻ còn nhớ được cái tết truyền thống của dân tộc mình.

Chuyến đi này có tôi, chị chồng và hai con nhỏ. Chị mừng ra mặt khi biết tôi quyết định về Mỹ Tho quê chồng ăn tết. Đoàn chúng tôi lúc này lên đến 5 người vì có Phong, tôi mới nhận là em cũng là người Việt đi cùng tàu.
Xe chở khách về Sài Gòn đã khởi hành từ sáng sớm, nên Từ Long Xuyên chúng tôi phải đi xe lôi ra Bắc Vàm Cống, qua Cần Thơ rồi lên phà Mỹ Thuận. Từ đó chúng tôi đi xe từng chặn, từng chặn, chạy đua cùng thời gian, phải làm sao kịp để đón giao thừa.
Rồi cũng tới Mỹ Tho, từ bến xe chúng tôi đi bộ thêm 3 cây số nữa mới đến nhà. Trước 75, gia đình chồng tôi ở gần Ty Điền Địa, cùng con đường với nhà vợ tổng thống Thiệu. Sau 75, chính phủ đều trưng dụng tất cả khu nhà đó, ba mẹ chồng tôi bắt buộc về quê xây căn nhà trên miếng vườn ông bà để lại. Lối về nhà phải đi ngang nghĩa địa, khí u tịch đượm hoàng hôn lặng lẽ quá nên 5 người chúng tôi vừa đi vừa chạy. Đến nhà, con trai tôi chạy một mạch vào trong.
- Thưa ông bà nội, con mới về.
- Ồ! Cháu nội tôi, nước mắt mẹ già tuôn trào.
Ông nội cũng nghẹn ngào. Cô út gạt lệ, lên tiếng.
- Nhà vừa mới rước ông bà xong, mời tất cả đi rửa tay rồi ăn cơm luôn.
Má gói bánh tét định mùng 3 kêu em đem xuống cho các chị đó.
- Út để chị coi lửa nồi bánh tét cho.
- Dạ, vậy em và chị Năm xào kẹo chuối.

Ba mẹ con tôi ngồi canh nồi bánh tét, trời se lạnh nhưng trong lòng ấm cúng. Lần đầu tiên được đẩy củi vào lò cho lửa cháy to, hai con tôi vô cùng thích thú, ngọn lửa bập bùng theo tiếng cười vang của chúng. Bà nội bước đến trao mấy củ khoai lang và chỉ cho hai cháu cách lùi vào tro nóng, bà nhìn 3 mẹ con tôi ăn khoai mà tình thương lai láng chìm trong đáy mắt. Mẹ kéo chiếc ghế đến ngồi gần, khuôn mặt mẹ hằn những vết chân chim và tóc đã bạc phơ. Cả một đời vất vả vì chồng vì con, đến tuổi này đúng ra phải được nghĩ ngơi để đàn cháu con nuôi dưỡng, thế mà vẫn còn những giọt lệ lăn trên đôi gò má nhăn nheo, nghĩ đến những đứa con trai ở trong lao tù nơi miền Bắc xa xôi và các cháu sắp ra đi, biết bao giờ gặp lại. Tôi thương mẹ quá, mẹ lúc nào cũng hy sinh cho thế hệ sau này, ngay cả chuyến đi này cũng là ý của mẹ muốn cháu nội có một tương lai sáng sủa.

Mẹ ơi ! tóc chiều đã bạc
Biết đâu. . . . . . . . mai nhỡ vô thường.
(Thơ Như Nhiên)

- Má kể sự tích bánh chưng, bánh dầy cho tụi con nghe đi.
- Ừ để má kể.

Hai cháu nghe kể chuyện chạy đến dành nhau ngồi vào lòng bà nội. Sương xuống nhiều hơn trong màn đêm se lạnh, hoa bưởi hoa cau và hoa mai trước sân nhà quyện vào nhau tỏa hương tinh khiết làm tôi ngất ngây cảm động. Ba chồng tôi và em Phong đã sửa soạn bàn thờ treo phong pháo dính trên cửa ngõ, chị Năm và em út cũng đã hoàn tất chảo chuối xào dừa, bốn người không hẹn mà đều đến ngồi quanh nồi bánh tét, câu chuyện lại chuyền qua tai từng người. Hai con tôi lim dim nhưng không ngủ, đang thưởng thức nhiều mẫu chuyện hay trong tình thương bao phủ. Chúng đã đón nhận thâm tình ruột thịt từ ông bà cùng dòng họ trên mảnh đất quê hương trong đêm ba mươi tết, hình ảnh này sẽ khắc ghi mãi trong tim, đó là chất liệu đùm bọc cho con tôi vui sống bất cứ nơi nào.
Giao thừa đã đến! Mọi người đều có mặt ở ngoài sân trước, bên gốc mai già ngòi pháo được châm, tiếng pháo nổ dòn, hai con tôi bịt tai và chúng cười to sung sướng.
Cả làng, đầu trên xóm dưới ròn rã tiếng pháo giao thừa cho không gian bừng sáng, mọi vật thức dậy với sự giao thoa của trời đất thiêng liêng trong khoảnh khắc diệu kỳ, cảm giác bình yên hạnh phúc ngập tràn và lan tỏa mọi nơi. Tất cả đều im lặng để cảm nhận khí xuân ấm áp buồng tim và hòa mình cùng phút giây lắng đọng với thiên nhiên khoác chiếc áo tinh khôi rạng rỡ.
Các thành viên trong gia đình lần lượt lên thắp nhang trên bàn thờ để nhớ và cảm ơn nguồn cội của mình. Giao thừa đã trôi qua yên tĩnh, năm mới đến, ai cũng cầu một năm an lành hạnh phúc trong nghi ngút hương trầm tống cựu nghinh tân. Hai con được nhận lộc lì xì mừng tuổi của mọi người thân, cả nhà quay quần bên bàn cổ giao thừa.

Mưa xuân lất phất bay nhẹ rây từng màn mỏng trên cây. Giao thừa quê chồng tôi thật giản dị nhưng là hành trang quí báu mà chúng tôi mang theo suốt cuộc đời còn lại trong những năm tháng xa cách quê nhà.
Ngày đầu năm chúng tôi đều vào chùa Vĩnh Tràn lễ Phật, một ngôi chùa cổ tuy nhỏ nhưng đẹp và thật trang nghiêm. Bà Nội dạy chúng tôi:

- Gặp ai cũng phải chắp hai tay lại, đầu cuối xuống, miệng nói A DI ĐÀ PHẬT. Khi vào chánh điện cũng phải chắp hai tay lại để thể hiện sự cung kính khi đảnh lễ. Khi lạy phải khom lưng cúi người xuống buông bỏ cái ta ngã mạng.

Ôi những lời dạy bảo của mẹ già như thấm sâu vào tận trái tim. Cảm ơn những ngày ở bên mẹ với một cái tết yêu dấu nơi quê chồng.

Quê hương mỗi người chỉ một
Như là chỉ một mẹ thôi
Quê hương nếu ai không nhớ
Sẽ không lớn khôn thành người.
(Thơ Đỗ Trung Quân)

Phòng Trực
04-07-2018, 05:03 PM
https://hoiquanphidung.com/uploadpics/hqpd1017/1517489510-A-1H VNAF May-20-68.jpg

ĐINH QUANG CỨ -
CON ĐƯỜNG MANG TÊN ANH.
Trương kim báu.

Cô bạn tôi từ Đalat xuống Nhatrang nghĩ hè. Vòng quanh từ phòng đợi của Air Việt Nam rồi lên nhà hàng trên lầu, tôi cũng chưa thấy bạn. Mấy chiếc A1 SKYRAIDER đang đáp xuống phi đạo giữa vòm trời thoáng đãng biếc xanh. Tôi mê hình ảnh tuyệt vời của máy bay hạ cánh trên mảnh đất quê hương hoặc cất cánh ra đi cỡi mây bồng bềnh xuyên lục địa hay cõng gió vù vù qua đại dương ngàn đời đọng sóng. Một phần nữa là trong phi đoàn 524 có những người bạn của tôi hiện diện.
Bất chợt, một người áo bay màu cam quàng khăn cổ tím nhạt, tay cầm mũ, nai nịt súng, gươm tươm tất, bước nhanh đến chỗ tôi đứng và ôm chằm lấy tôi.
- Cứ đây.
Tôi vẫn không nhận ra ai, dù anh đã xưng tên Cứ. Nhìn kỹ lại tôi mới nhận ra Đinh Quang Cứ, người bạn chung lớp với tôi suốt một một thời trung học. Gương mặt anh rất sáng với mái tóc hơi quăn, hiền và học vô cùng chăm chỉ, anh ngồi bàn đầu bên dãy nam sinh.
Lâu rồi chúng tôi không liên lạc, bây giờ dáng anh thật chuẩn, cao và đẹp trai, rất oai phong trong bộ đồ bay màu cam, màu chỉ dành riêng cho dân khu trục, anh là phi công khu trục A1 Skyraider.
Từ đó mỗi đêm Cứ cùng các bạn đến nhà tôi chơi, nhưng tôi và anh không có dịp để nói chuyện riêng.
Hôm nay thứ bảy, Cứ tới một mình để rủ tôi đến thăm thầy Vỏ Hồng, là thầy dạy Vạn Vật và Việt Văn lớp 7 của chúng tôi. Thầy hiền lắm! Học trò cũ đều rất thương và thường tới thăm thầy nên muốn liên lạc cùng bạn bè ngày xưa, hỏi thầy là biết hết tin tức của nhau. Khi cô mất, thầy ở vậy một mình sống cuộc đời gà trống nuôi con. Các em đều đi học nơi xa, thầy cô đơn giữa căn nhà trống trải, vắng bàn tay chăm sóc của cô, một cảm giác xót xa dâng ngập lòng khi nhìn Thầy mặc chiếc áo cũ sờn vai, tôi sẽ tặng Thầy chiếc áo len vừa mới đan xong. Cứ nói:
- Tụi mình đi ăn nha! Rồi mình đến thăm thầy và mời thầy ra biển uống nước dừa, ngắm trời biển nhắc lại chuyện xưa, thầy chắc chắn thích lắm! Vã lại, tướng Kỳ ưu tiên cho anh em bên khu trục buổi trưa được ăn cơm trong câu lạc bộ miễn phí, phần ăn đúng tiêu chuẩn để có sức khỏe đi bay. Ngày trước, tướng Kỳ cũng là dân khu trục và đã từng bay những phi vụ Bắc phạt, nên ông thông cảm cuộc sống mong manh, lối sống bạc mạng của dân khu trục, tiền hết mà lương chưa lãnh, bụng trống đi bay là chuyện rất thường.
- Nhưng đem bạn đến ăn có được không?
- Oh! Thì phải trả tiền thôi! Nhưng đừng lo! Tướng Kỳ chịu chơi lắm! Nếu mời bạn gái chỉ trả nữa giá thôi.
- Còn người già thì sao?
- Ha ha ha ..... Dân khu trục không thấy ai mời người già vào ăn ở câu lạc bộ hết. Chắc phải trả nguyên giá. Ha ha ha .......
Thầy mừng và cảm động lắm nhưng thầy bị cảm nên không đi biển cùng chúng tôi được. Tôi nói với Cứ:
- Không có thầy, chúng mình ngồi dưới bãi cát như ngày còn nhỏ nha! Bạn còn nhớ năm đệ thất lớp mình không được điểm làm vườn mà còn bị phạt không?
- Nhớ chứ. Bị cấm túc sáng thứ bảy ở trong lớp để chép phạt từ 9 giờ đến 12 giờ trưa.
- Chép câu: "Phải yêu thương thiên nhiên", bạn nhớ không?
- Bên con trai bọn này kêu trồng cây phượng, cây bàng hay cây dừa, ít tưới nước hơn mà bên con gái không chịu, cứ đòi trồng đủ loại hoa để cuối cùng không đủ nước hoa chết hết. À, mà sao hoa chết bên con gái khóc dữ vậy, sợ bị phạt hở ?
- Không phải sợ bị phạt, mà vì thương hoa thôi.
Im lặng, chúng tôi thả hồn về thời thơ ấu, chợt Cứ lên tiếng:
- Đố bạn tại sao Cứ đi Không Quân ? Nhờ bạn đó.
- Nhờ mình ?
- Bạn còn nhớ dịp nghỉ hè năm lớp 9 không, Cứ về Ninh Hoà, bạn về Hòn Khói, tình cờ chúng mình cùng một tuyến đường nên ngồi gần nhau, thấy bạn say mê đọc truyện, đọc xong bạn tặng Cứ quyển sách luôn. Đó là quyển Đời Phi Công. Trong lớp chúng mình có Võ Thi ở Vạn Giả cũng vào Không Quân, nhưng Võ Thi bên quan sát, còn mấy bạn nữa mà Cứ chưa gặp, không biết bạn có cho các bạn ấy quyển Đời Phi Công như cho Cứ Không?
- Ồ .... ồ.......
Cứ và tôi vẫn thường xuyên liên lạc, lúc ấy khoảng năm 1967 thì phải, Cứ khoe mới làm quen được cô nữ sinh trường Nữ trung học Nhatrang, hẹn chiều chủ nhật đưa bạn gái đến giới thiệu cùng tôi. Tôi chuẩn bị đón nàng của Cứ thật chu đáo hầu tạo tình thân mật đậm đà, với hoa đủ loại cùng trái cây tươi tôi trang trí phòng khách thật đẹp để mừng cho Cứ sắp bước vào quãng đời hào hoa lãng mạn.

Chiều đó, tôi đợi mãi nhưng chẳng thấy người, chẳng thấy được nàng của Cứ mà có tin máy bay Cứ bị bắn bốc cháy từ trên cao. Không có một cánh dù nào bung ra trong lửa đỏ! Cứ đã thực hiện phi vụ cuối cùng chính xác để cứu được quân bạn đang bị bủa vây và một tiền đồn quan trọng thoát vòng nguy hiểm, rồi anh lặng im nghe đất thở, anh vĩnh viễn bay vào thiên thu ngủ một giấc ưu tú khôn tìm. Cứ đã dũng cảm tung cánh sắt giữ bầu trời và tấc đất quê hương được yên bình êm ấm rồi tự do phơi phới trả lại nhân gian kiếp đời kiêu hùng phiêu bạt.

Một buổi chiều vào phi trường, mình tôi đi trên con đường mang tên Đinh Quang Cứ, chúng mình đã cùng chia nhau thưởng, phạt vui buồn của thời thơ ấu, giờ đây chỉ còn lại dư âm, còn lại Đinh Quang Cứ của hồn thiêng sông núi. Tôi không khóc nhưng nước mắt cứ tuôn trào, có nhịp tim nào đang nức nở thương tiếc nhớ anh.
Anh Cứ ơi ! cuộc đời như một viên đá, anh đã quyết định biến viên đá thành viên ngọc sáng ngời, anh đã hy sinh mạng sống để bảo vệ tổ quốc quê hương. Anh đã ra đi nhưng mãi mãi anh vẫn sống trong bản tình ca Không lực oai hùng!

Phòng Trực
04-09-2018, 07:11 PM
LOÀI CHIM CHƯA CHẤP CÁNH
Trương kim Báu.

http://hoiquanphidung.com/uploadhinh/hqpd3/HQPD_1365658924.JPG

Con dâu, con gái và cháu gái, ba chị em rủ nhau đi shop, vì đầu năm các shop giảm giá nhiều mặt hàng. Các con mua tặng tôi một cái áo kiểu mới nhất năm 2018, loại áo rộng, mềm, rất hạp cho người lớn tuổi, vừa sang vừa đẹp để mặc với quần tây. Nhìn chiếc áo tôi thấy kiểu quen quen nên vội tìm trong vali đồ kỷ niệm, đem ra cái áo ngày nào do một chàng phi công trẻ may tặng năm 1983, lúc tôi sắp rời trại tị nạn Thailand.
Tôi gặp em trên chuyến tàu vượt biển, ra khỏi hải phận Việt Nam một ngày là bị hư máy nên tàu bắt đầu trôi. Tôi đi cùng con gái nhỏ và mấy người bà con. Vì lớn tuổi nhất trong nhóm nên sáng, chiều tôi đều lên mũi tàu thắp nhang cầu nguyện cho máy tàu được sửa xong để tàu hướng về bờ bến tự do v.v...
Mỗi lần lên mũi tàu tôi đều thấy một chàng trai ngồi đó đứng dậy lễ phép chào.
Tôi thầm nghĩ người trẻ này có gương mặt điển trai, cao ráo như những người hùng Không Quân. Tôi nói ý đó với người em họ, cô ấy cười:
- Chị có chồng Không Quân nên thấy ai dễ nhìn, có dáng dấp cao to, thanh nhã đều nghĩ giống không quân. Dưới mắt chị cái gì đẹp và oai vệ đều là của không quân, biết đâu anh chàng đó là Hải Quân nên lúc nào cũng lên mũi tàu ngồi để nhìn sóng biển.
Rồi chúng tôi được tàu Mỹ cứu vớt, em và một cô nữa làm thông dịch viên. Những thuyền nhân phải khai lý lịch ngay trên tàu trước khi được chuyển vào trại tị nạn.
Chúng tôi phải ở trại tị nạn Thailand trong một khu riêng biệt được gọi là khu tàu vớt với hàng rào bao bọc chung quanh. Bốn dãy nhà đối mặt nhau, chính giữa là một sân nhỏ, nhà được gọi là V. Tôi và các người trong nhóm đi chung ở V2, em ở V3, hai góc nhà cách nhau một đường đi 2 mét. Tất cả V đều lợp mái tôn, nền đất, không có vách mà cũng không có cửa, chỉ có mười cây trụ dựng để chống đỡ mái tôn.
Những người lính Thái quan sát rất kỹ đến dân tỵ nạn, nhất là khu tàu vớt, vì vậy chúng tôi phải tập họp bất cứ lúc nào dù là nửa đêm. Buổi chiều, nếu ai đến hội trường trễ sẽ bị họ dùng roi đánh. Vừa chạy trốn cộng sản được nay lại gặp lính Thailand! Thật ghê sợ! Nhưng vì mới đến trại chúng tôi không biết trình báo cùng ai.
Mỗi chiều tôi đều đi chùa, em cũng đi chùa, chúng tôi ít nói chuyện với nhau. Có một lần lính Thái kêu tập họp, từ chùa tôi chạy về hội trường chậm quá nên bị lính Thái đánh, có một người chạy đến làm bộ té nằm trên che cho tôi trận đòn.
Hôm đó tôi mới biết tên và lý lịch của em. Em tên La Xuân Khai, là một phi công phản lực học lái A37 và về nước đầu tháng 3 năm 1975. Em được bổ nhiệm ra vùng 2 ở Phi đoàn 524 Phanrang, nhưng thực tế vẫn chưa được sự vụ lệnh, mỗi ngày phải đến Tân Sơn Nhất trình diện. Em là loài chim chưa được chấp đôi cánh, chưa được bay trên bầu trời quê hương ngày nào cả. Em mơ ước được bay, đem thân trai bảo vệ đất nước, được như đàn anh vẫy vùng ngang dọc, em chưa trình diện phi đoàn nhưng tự xem mình là người của 524 và em cũng bị chế độ cộng sản đưa đi học tập cải tạo 4 năm. Khi được ra tù, gia đình kêu em đi học nghề may để chuẩn bị cho tương lai khi đến nước thứ ba.
Nay em gặp tôi trong hoàn cảnh tị nạn, em nghĩ bổn phận đàn em trong 524 dù chỉ là danh nghĩa, cũng phải thương yêu giúp đỡ lo lắng cho nhau. Gia đình em đạo Phật nên em hiểu được có duyên mới hội ngộ, lại cùng một binh chuẩn và phi đoàn với chồng tôi, em âm thầm bảo vệ người thân của đàn anh, dù chưa một lần gặp mặt các anh.
Hình ảnh sáng chiều tôi đứng trên mũi tàu thấp nhang cầu nguyện, em cảm động và nhớ đến mẹ già ở quê nhà cũng đang cầu nguyện đêm ngày cho em đến được bờ bến tự do.
Em xin tôi nhận em làm em để em giúp đỡ săn sóc tôi khi những người bà con tôi đã rời trại để qua Phi Luật Tân học Anh văn và chờ qua Mỹ. Không cần biết lý lịch có liên hệ với Việt Nam Cộng Hoà hay không, được tàu Mỹ vớt thì ai cũng được Mỹ chấp thuận cho đi.
Trại Thailand chỉ còn lại những người xin đi nước khác. Tôi và con gái đi Úc vì chồng tôi và con trai vượt biên trước đã sang Úc mấy tháng rồi. Lúc này V2 thật vắng vẻ, còn mẹ con tôi và người em con của cô tôi đi cùng đứa con gái nhỏ, cũng đang chờ đến Canada đoàn tụ với chồng đã vượt biên trước.
Bên V3 còn lại một mình em vì em xin đi Canada, có người chị bên đấy.
Ở trại trị nạn rất phức tạp vì có nhiều người Việt qua lâu chưa được định cư, họ tìm mọi cách để rời trại và muốn ghép form cùng những người được ưu tiên đi các nước tự do khác. Còn người Thái họ cũng muốn xuất ngoại, dù nước họ không bị cộng sản lãnh đạo.
Ai cũng biết những người không đi Mỹ vì đều có gia đình ở nước thứ ba và chắc chắn có tiền do thân nhân cung cấp.
Em đem tiền của tôi và cô em họ ra gởi ở ngoài trại nhờ các cô người Mỹ dạy Anh văn cất giùm. Em làm thông dịch nên ra khỏi trại mỗi ngày, em xin phép nhờ người mua giùm những đồ cần thiết làm nhà, tự ngăn một căn phòng cho chị em tôi và 2 bé gái vào ngủ an toàn trong đêm tối.
Em hướng dẫn giúp chị em tôi ghi tên đi học may để làm quen với máy móc tân tiến vì những năm sau 75, người dân miền Nam chỉ còn biết chạy từng miếng ăn, mỗi ngày sống trong lo sợ, đau khổ, chịu dựng và câm nín.
Em khuyến khích tôi vào lớp học Anh văn, hãy mạnh dạn tập nói và đặt câu hỏi mới tinh tường. Mỗi buổi sáng, em rủ bốn người chúng tôi cùng em ra tập thể dục do các cô giáo Mỹ dạy, mỗi chiều cùng nhau đến chùa.
Một hôm em xin phép đưa chúng tôi ra khu chợ ngoài vòng rào trại tị nạn. Từ lúc mất nước chúng tôi mất luôn niềm vui đi dạo phố phường, khi ra đường luôn đề phòng bị móc túi hay cướp giật.
Nay ở nước Thái được một ngày đi dạo vui chơi, cười nói và ăn uống theo ý thích (ở trong trại tị nạn mỗi ngày được phát 1 trứng vịt luộc không có nước mắm hay xì dầu gì cả), may mà có em mua giùm thức ăn bởi chồng tôi gởi tiền qua.
Hôm đó em lựa vải để may tặng tôi và con gái mỗi người một bộ quần áo trước khi rời trại. Em chọn màu hồng và màu xanh thật nhạt, mềm mại ngọt ngào như những đám mây các anh đã từng bay qua. Ôi! Em chưa được chấp đôi cánh như đàn anh mà trong tim em đã có những đám mây xanh hồng lộng trời cao ngất ngưỡng.
- Em muốn chị thật đẹp khi gặp lại anh, vì chị là vợ không quân mà.
Em vẽ kiểu và tự cắt, mượn máy may bên Cao Ủy. Khi mặc áo vào mới có dịp ngắm mình trong gương, đã già đi nhiều. Bao năm nay đầu óc không yên, lo nghĩ mọi điều. Chồng tù, con không được đến trường, lo việc làm, hộ khẩu ... cứ sợ bị đuổi đi kinh tế mới ...v. v... Tôi quên nhìn vào gương và không còn nghĩ đến nhan sắc của mình.
Ngày tôi rời trại, em xin được đưa tôi đến trại chuyển tiếp ở Bangkok, em nói qua đến Canada em sẽ học về may vẽ thời trang.
Mấy năm sau em đã nổi tiếng, chàng phi công trẻ không được chấp đôi cánh để bay trên vòm trời bảo vệ quê hương yêu dấu, nhưng với tánh nghệ sĩ sẵn có trong những chàng phi công, em đã dùng đôi bàn tay tài hoa của mình để vẽ và may những chiếc áo thời trang quí phái phục vụ cho mọi người mà giới điện ảnh và ca sĩ ưa thích. Em đã làm vẻ vang người tị nạn. Cuộc đời em đã rẽ về một hướng khác, đất nước xa lạ đã mở vòng tay đón em, tương lai không còn mờ mịt như chính trên quê hương nơi em sanh ra đã vứt bỏ, cầm tù, không phải một mình em mà là cả bao nhiêu tuổi trẻ và nhân tài của miền Nam.
Tôi thật cảm ơn chế độ Việt Nam Cộng Hòa, nơi đó đã sanh những công dân tốt, huấn luyện những người lính biết Tổ Quốc, Danh Dự và Trách Nhiệm.
Tôi cũng biết ơn binh chuẩn Không Quân, nhờ họ mà những tháng ngày ở trại tị nạn có người âm thầm bảo vệ tôi. Một binh chuẩn mà trong đó tất cả đều nêu cao tình huynh đệ, họ có một tấm lòng rộng mở và đẹp như bầu trời họ từng bay qua dù là đã thành loại chim quí rồi hay còn là những loài chim non chưa được chấp đôi cánh cao vời gió lộng.

Phòng Trực
04-16-2018, 11:02 PM
VÙNG TRỜI NGÀY ẤY
(Viết theo lời kể của một người bạn)
Trương kim Báu

Tôi thua Nam 2 tuổi, nhà chúng tôi chỉ cách một hàng rào thấp ngăn vườn cây và cùng nhau đi học, tôi bên trường Nữ và Nam học trường Nam tiểu học. Hai trường xây chung trên một khuông đất thật rộng không có hàng rào ngăn cách, học sinh Nữ và Nam đều ra chơi ở sân trước, còn sân sau mênh mông để đá banh và dành cho 2 trường cấm trại.
Ba tôi đưa đón các bạn nên tan trường Nam phải đi vòng theo hàng rào hướng về phía cổng chính bên trường Nữ. Ai cũng nghĩ sai lầm rằng tôi và Nam là anh em ruột thịt vì chúng tôi có nhiều điểm giống nhau như da trắng, mắt to, mặt mày sáng sủa. Mẹ tôi và mẹ Nam là đôi bạn thân, ba Nam có chức phận trong ngành quân đội, ba tôi bên hành chánh, tình cờ ba mẹ tôi mua nhà gần nhà ông bà nội của Nam.
Mẹ Nam thường nói những cặp trẻ này chơi thân quá, lớn lên có cặp nào thương nhau thì hai nhà làm sui gia. Mẹ tôi cười, tôi và Nam đều là út nên được cưng chiều.
Tôi thích ba Nam khi ông mặc đồ lính, trông ông đẹp trai, mạnh khỏe và thật oai hùng. Nhưng khi người anh bà con tôi tới chơi, anh là phi công thì tôi thích bộ đồ bay hơn, vì một ngày tôi đọc được quyển Đời Phi Công của Toàn Phong thì tôi mê binh chuẩn Không Quân. Tôi ước mơ mình sẽ là nữ phi công, tôi nói với Nam như vậy.
Anh cười.
- Con gái nước mình chưa cho học lái máy bay, anh sẽ làm Phi Công bay thế em.
Chúng tôi bắt đầu sưu tập hình ảnh máy bay và chở nhau vào phi trường nhìn máy bay lên xuống. Những đêm cuối tuần ra sân ngồi nhìn trăng sao, khi có một chiếc máy bay đèn trên đôi cánh chớp chớp bay qua, chúng tôi thích thú và bắt đầu mơ mộng.
Chúng tôi lớn lên, Nam vào Sài Gòn học ngành y. Hai năm sau, 1962 tôi cũng vào theo học dược. Hôm đó, Nam và tôi đang ngồi ở công viên trước nhà đường Hàn Thuyên gần nhà Thờ Đức Bà, có 2 chiếc Air SKYRAIDER bay ngang qua rồi vòng lại, một chiếc từ trên cao lao thẳng xuống dinh Độc Lập rồi bay vút lên, chiếc sau cũng lao xuống bay lên, chúng tôi tưởng các phi cơ đang biểu diễn vì ở Nhatrang mỗi năm Không Quân đều tổ chức biểu diễn ở trên bãi biển.


https://hoiquanphidung.com/uploadpics/hqpd1017/1524592563-images.jpg

Nghe tin tức mới biết hai phi công Phạm Phú Quốc và Nguyễn văn Cử thả bom. Tôi đã khóc vì sợ các anh bị tù, Nam bỏ học an ủi dỗ dành tôi. Hai chúng tôi thương quí và thần tượng hai người hùng đó dù chưa một lần gặp mặt.
Rồi năm sau Nam nộp đơn xin vào Không Quân, hai đứa đi ăn mừng. Tôi nói:
- Ngày xưa có gái giả trai ra đánh giặc, ngày nay nếu không có vụ khám sức khỏe em cũng sẽ cắt tóc ngắn, mặc đồ con trai gia nhập không quân cùng anh.
- Yên trí, anh sẽ bay phần anh và phần em nữa.
Ở nơi xa anh học bay tập làm loài chim quí, loài chim tôi rất yêu. Ở quê nhà tôi chăm chỉ học hành, mình sẽ là tổ ấm lý tưởng nhất để khi cánh chim cần nghĩ ngơi thì có nơi về. Đã là chim thì phải được tự do, phải bay nhảy, đôi cánh được giang rộng ôm bầu trời xanh biếc. Và nếu đôi khi cánh chim vướng những sợi mây hồng đó là chuyện thường tình. Vườn hoa đẹp mà có đàn bướm bay quanh mới tăng thêm vẻ đẹp của hoa, bướm phải được vui chơi, nhìn ngắm nhưng bướm không được làm rơi những cánh hoa.
Năm 1965, Phạm Phú Quốc một loài chim quí đã gãy cánh, tôi lại khóc, lần này không có Nam một bên để cùng chia xẻ nỗi buồn, Nam viết thư thật nhiều về an ủi tôi.
Ngày đón anh về nước, lòng chúng tôi nở hoa vui mừng, hai đứa đều lớn, tôi cũng đã ra trường. Nam trong bộ đồ bay anh đẹp oai hùng. Nam cười vui và hát chọc tôi: "Trong đôi mắt em, phi công là tất cả".
Anh được về phi đoàn chiến đấu ở miền Trung, gần giới tuyến 17 nơi chia đôi đất nước. Cánh chim đã tung bay trên vùng trời của quê hương từ đó.
Lâu lâu Nam về thăm nhà, chúng tôi không đủ ngày giờ kể cho nhau nghe nhiều chuyện, nhất là những phi vụ, lúc còn bé anh hứa sẽ kể cho tôi nghe khi đã thành loài chim quí.
Tôi cũng là loài chim nhưng không biết bay, loài chim không có cánh nhưng rất yêu bầu trời trong xanh bao la.
Năm 1968, Lưu Kim Cương, một loài chim quí cũng ra đi, tôi lại khóc dù tôi cũng chưa một lần gặp mặt. Nam về vì biết tôi buồn, anh ôm đàn và hát với giọng thật ấm, trầm, anh hát rất hay.

"Anh nằm xuống sau một lần đã đến đây.
Đã vui chơi trong cuộc đời này.
Đã bay cao trong vòm trời đầy.
Rồi nằm xuống,không bạn bè,không có ai
................
Anh nằm xuống cho hận thù vào lãng quên
Như cánh chim, bỏ rừng, như trái tim bỏ tình
.................
Vùng trời nào đó anh đã bay qua?
Chỉ còn lại đây những sáng bao la.
......................
Anh nằm xuống, như một lần vào viễn du.
Đứa con xưa đã tìm về nhà.
Đất hoang vu khép lại hẹn hò.
................
Xin cho một người vừa nằm xuống
thấy bóng thiên đường cuối trời thênh thang".
(Trịnh Công Sơn)

Tôi khóc và anh hát tiếp.

"Ngày xưa khi anh vừa khóc chào đời.
Mẹ yêu theo gương người trước chọn lời.
Đặt tên cho anh anh là Quốc.
Đặt tên cho anh anh là nước.
Đặt tên cho người,đặt tình yêu nước vào nôi.
Rồi anh nâng cao tổ quốc vào đời.
Tuổi xuân vươn trong lửa máu ngút trời.
VIỆT NAM đang đòi tự do hạnh phúc giống nòi
...............
Anh Quốc ơi ! Đàn chim chim quốc tung trời.
Gọi nhau đem nắng soi đời.
.............
Anh Quốc ơi! Tuổi xanh chấp cánh thênh thang.
Bình minh, lên chiếm không gian
đến hoàng hôn chan chứa tình thương.
Anh Quốc ơi! Gặp khi chinh chiến lâu dài
Người phi công giữa khung trời vẫn phải mang số phận con người.
(Tác giả Phạm Duy)

Nam cứ để tôi khóc. Khóc mệt rồi tôi tựa vào vai anh ngủ lúc nào không hay.
Năm 1972, mùa hè đó lửa, trong một phi vụ máy bay anh trúng đạn và bốc cháy, một cánh dù đã bung ra, nhưng không thấy Nam về, tin cho hay anh mất tích.
Bà nội lấy ngày Nam mất tích làm ngày cúng giỗ đầu tiên. Hôm đó tôi không chịu đốt nhang bàn thờ anh vì tôi không tin anh chết, có một người cũng như tôi không tin anh chết, đó là mẹ anh.
Đêm mơ màng tôi nghe như tiếng anh đang gọi tên tôi, tan nát cõi lòng, nhìn những cánh chim bay trong bầu trời, lòng chợt ấm.
Tình hình không yên, lệnh rút quân bỏ ngõ Kontum, Pleiku, Ban Mê Thuộc, Đà Nẵng, Nhatrang...v.v....
Gia đình Nam di tản nhưng ba anh là quân nhân nên không muốn đi, gia đình tôi cũng vậy, ba tôi ở lại. Riêng tôi muốn chờ Nam vì tôi không tin anh chết, tôi viện lý do tôi chỉ là người buôn bán không có gì phải ra đi.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, nhìn ba tôi và ba Nam, tôi hiểu được nỗi đau nhất trên đời như thế nào, không nỗi đau nào lớn hơn nỗi đau mất nước của một người con trai đã một thời bảo vệ, cống hiến, yêu tổ quốc, nay mất trong tức tửi.
Họ không khóc như tôi, chỉ ngồi yên, câm nín ,chịu đựng. Trên khuôn mặt nói lên trăm ngàn điều đau khổ, tim như bị xé nát, người biến thành tượng đá. Sau một đêm tôi không còn nhìn ra hai người cha, tóc hai người đã bạc trắng.
Nhà Nam bị tạm mượn vì không có người ở, tiệm thuốc của tôi bị trưng dụng, tôi may mắn được giữ lại làm nhân viên cho tiệm.
Tôi bắt đầu tìm tin tức của Nam theo sự chỉ dẫn của nhiều người. Đến năm 1978 tôi được giấy báo gởi 5 ký quà cho Nam.
Ba người thân đều ở miền Bắc mà mỗi người ở một nơi. Lúc đi thăm nuôi tôi tự an ủi, vì tôi không phải loài chim có cánh nên phải đi bằng đường bộ dù sao cũng là dịp nhìn ngắm quê hương.
Gặp Nam tôi khóc mà anh cười,tôi tưởng anh điên nhưng khi anh giảng cho tôi hiểu thì tôi càng khóc nhiều hơn.
- Anh rất mừng gặp lại em, thấy em còn khóc được, mà còn khóc nhiều như ngày xưa. Anh được ở chung cùng những người lính đủ binh chuẩn của miền nam, đó là những anh hùng, là những thiên tài, anh học được nhiều ở họ như lòng yêu nước, tinh thần người lính, thể diện, chịu dựng, nhẫn nhục, vị tha, đoàn kết, xử sự, chờ đợi, nhịn đói, thiền...v.v...
Anh còn học được cách nói chuyện ra dấu bằng tay như những người câm. Ở đây không được liên lạc cùng trại khác như trại người Mỹ, nhưng anh em ai cũng biết cách nói chuyện bằng tay, nên các anh thông tin cho nhau dễ dàng, và liên lạc cùng người tù Mỹ, thương và cảm ơn họ vì lý tưởng tự do mà đến xứ mình, nay tù, giam còng chịu bao nhiêu là cực khổ.
Nghịch duyên đưa anh đến trưởng thành, tập cho tâm anh thật vững chắc, tự tìm ra sự sống chính anh, chấp nhận những gì xảy ra trong hiện tại.
Tôi nghe anh nói mà tưởng mình vào chùa nghe vị thầy nào đó thuyết pháp. Nam còn hứa chắc sẽ về và một ngày nào đó và sẽ chắp đôi cánh cho tôi.
Năm 1986, tôi đưa tiển hai người cha đi đoàn tụ cùng gia đình theo diện bảo lãnh.
Cô tôi cũng là mẹ nuôi từ Úc về tìm tôi, cô muốn tôi qua Úc vì cô không có con, hiện cô có trang trại cần người thân phụ giúp.
Tôi làm tất cả giấy tờ cần thiết, năm 1989 Nam được ra tù và chúng tôi đến Úc.
Tôi đã thành loài chim biết bay, không được làm loài chim quí như các anh, bảo vệ quê hương tổ quốc, tôi là loài chim se sẻ bảo vệ hoa trái mùa màng.
Buổi chiều ở trang trại, không gian thoáng đãng, không khí trong lành, bầu trời xanh màu ngọc bích, từng đám mây trắng bềnh bồng trôi, những làn gió hiu hiu thổi đưa hương thơm cánh đồng hoa Lavender mới nở, cả không gian tràn ngập mùi hoa thơm dịu dàng làm nao nao lòng người. Những tia nắng vàng hoe như còn lưu luyến bịn rịn đổ dài trên những đường đi tràn xuống thảm cỏ xanh như rực sáng hơn, từng đàn chim đang bay về tổ, tất cả hoà lại không gian như cất tiếng hát, buổi chiều êm đềm thanh bình.
Tay trong tay, chúng tôi đi giữa những luống hoa. Nam kể cho tôi kỹ niệm của VÙNG TRỜI NGÀY ẤY và thương nhớ về quê hương VIỆT NAM yêu quí.

Phòng Trực
04-24-2018, 05:51 PM
CẮM TRẠI CÙNG LỚP VÕ VOVINAM ngày 14/4/2018
Trương kim Báu

https://hoiquanphidung.com/Pictures/HD7.jpg
Nữ sinh Gia Long học võ Vovinam tại sân Hoa Lư năm 1967.

Mùa thu ở Melboure năm nay nắng thật đẹp, thời tiết ít mưa nên không khí se se lạnh, gió hiu hiu cho khí trời dễ chịu, ở Springvale lá vàng chưa rơi nhưng hoa cúc đã bắt đầu dịu dàng hé những nụ tinh anh.
Lớp võ chùa Hoa Nghiêm tổ chức cắm trại cuối tuần cho các đoàn sinh thoải mái tâm hồn trước khi vào khoá học, sáng sớm thứ bảy xuất hành và chiều chủ nhật trở về.
Gia đình tôi 7 người, gồm có: tôi, con trai, con dâu, cháu nội, và 3 đứa cháu ngoại.
Trại nằm trên núi Dandenong, vùng đất này của Hướng Đạo Úc, với đầy đủ tiện nghi như nhà bếp, hội trường, phòng tắm, sân chơi, đồi núi và rừng. Có nhiều phòng ngủ cho từng gia đình, tùy theo số lượng thành viên, mỗi phòng chứa 4 giường hay nhiều hơn.
Một số lều được dựng lên để những đoàn sinh thích ngủ bên ngoài.


https://hoiquanphidung.com/Pictures/HD1.jpg


Lần này được 70 em võ sinh và phụ huynh đi theo ủng hộ cũng tương đương.
Sau khi thuê phòng, các đoàn sinh dựng lều vô cùng chuyên nghiệp. Tất cả tập họp ở hội trường và ăn sáng, bữa ăn có rất nhiều món do các phụ huynh đã chuẩn bị sẵn ở nhà nên chỉ hâm nóng lại, tùy ý cho ai muốn chọn món chay hay mặn.
Ăn xong bắt đầu phân chia đội. Mỗi năm đến tháng 12, tất cả các lớp võ Vovinam của toàn tiểu bang Victoria đều cấm trại chung. Anh Toàn, hướng dẫn lớp võ sinh, giải thích lý do lần này cấm trại riêng của lớp võ Springvale là vì Toàn muốn cho các em hiểu giá trị đích thực của một gia đình. Võ sinh sống có trách nhiệm phải có bàn tay thép cùng trái tim từ ái. Học võ phải biết nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, dũng khí phải đi đôi với nhẫn nại. Chân võ học là tinh thần nhân bản, không bao giờ kỳ thị tôn giáo và bình đẳng giai cấp trong xã hội nhân quần.


https://hoiquanphidung.com/Pictures/HD2.jpg

Tất cả võ sinh đều mặc đồng phục Vovinam, chào quốc kỳ, hát quốc ca Việt, Úc và Vovinam. Xong, giới thiệu ban quản trại: Nhà bếp (cảm ơn những người đã bỏ công sức lo ẩm thực cho đoàn sinh), ban giám khảo, ban kỹ luật và sức khỏe.
Trưởng trại khai mạc hô to:
- Vovinam!
Trại sinh cùng nhau đáp:
- Tiến!
Luật của trại: Không tiêu cực, không được tự nhóm lửa riêng, không uống rượu, không hút thuốc.
Trong trò chơi đại gia đình, tất cả mọi người đều được tham gia. Các đoàn sinh thi đua với nhau có phần thưởng riêng. Có máy karaoke cho phụ huynh thi hát cũng được thưởng.
Cách tập họp: Dùng nhiều dụng cụ như trống, phèn la và cách thổi mọc SOS. Các đoàn sinh phải hiểu biết để thực hành.
Đoàn sinh chia làm 7 đội, mỗi đội có một màu khăn riêng và các đoàn sinh cùng choàng lên cổ.

1/ Đội trưởng hô: NHÀ XÁM. Các đoàn sinh đáp lại: KIÊN
2/..................... NHÀ XANH DA TRỜI.....................THẮNG
3 ........................NHÀ ĐEN....................................HÙNG
4/........................ NHÀ VÀNG ................................DŨNG
5/ ................NHÀ XANH LÁ CÂY. ..............................NHÀ
6/.........................NHÀ MAROON.............................MẠNH
7/ ...........................NHÀ KEM....................................HÒA


https://hoiquanphidung.com/Pictures/HD3.jpg

Tất cả mọi người được phát tờ giấy ghi lời bài hát để buổi tối cùng nhau ca vang khi lửa trại được đốt lên.

“Anh em ta mau cố chất cây khô vào đây đốt chung
Đêm khuya nghe tiếng tí tách cây khô nổ vang giữa rừng
Dang tay nhau đứng vòng quanh lửa hồng
Trong khói xanh gió đưa bốc cao
Cùng cầm tay hát đều chân bước
Lửa thêm sáng tươi xua tan bóng đêm
Anh em ta đùa vui ca hát
Hát cho đời vui vui thật vui”.

Tất cả tập hợp ở sân cỏ rộng, phụ huynh nào có phận sự trong bếp thì khỏi tham gia.
Mỗi đội tự bịt mắt lại, chân gát lên nhau thành hàng như xe lửa và nghe tiếng còi là lếch trên cỏ, đoàn nào về sớm mà không té là thắng.
Đang vui cười la hò thì trời chuyển mưa, gió thật mạnh, những hạt mưa rừng mùa thu khiến mọi người rùng mình lạnh, tất cả di chuyển vào hội trường.
Nhiều phụ huynh mặc thêm áo, choàng khăn, đội nón len. Lúc này phải đổi lại những trò chơi từng khóm riêng biệt, từng đội thi vẽ có người ngồi làm mẫu, leo dây, đi luồng qua dây thật thấp, hai em cổng nhau ăn trái táo. Trò chơi liên tục không ngừng.
Trời vẫn mưa, không lớn lắm nhưng gió quá mạnh.
Nhà bếp đã bày sẵn nhiều thức ăn trên bàn, cơm được bới từng tô. Sắp hàng theo từng đội để lấy thức ăn, mỗi đội ngồi với nhau thành vòng tròn nhỏ. Ăn xong, các đội sinh tự lo thu dọn phần mình để vào nơi chỉ định. Các đội sinh được nghĩ 1 giờ trưa lo tắm rửa, khi nghe hiệu lệnh thì tập họp ở hội trường. Nhiều trò chơi khác nhau được tổ chức, luôn luôn sôi động. Mưa vừa tạnh là các em tập họp ở ngoài sân cỏ, tất cả đều chạy nhảy chơi giởn cùng nhau, v.v...


https://hoiquanphidung.com/Pictures/HD4.jpg

Trời mưa nữa, tất cả lại phải vào hội trường. Chiều đến rất nhanh nơi miền rừng núi, các em từng đội lặng im đi lấy thức ăn và ngồi theo gia đình mình.
Đặc biệt có anh Diệp Khôi Minh Hoàng là người hướng dẫn tất cả những đội Vovinam trên nước Úc đến thăm và ăn buổi cơm cùng đội võ Springvale.
Sau đó anh Hoàng tiếp chuyện cùng các đội sinh và phụ huynh, có một em trong ban hướng dẫn dịch ra tiếng Anh:
- Trời bên ngoài vẫn còn mưa, tất cả ngồi đây trong không khí ấm cúng này, có các em còn rất nhỏ cũng được gia đình mang theo, có em còn nằm trên xe đẩy, có em biết đi qua đi lại, đúng là một đại gia đình hạnh phúc. Anh rất mừng thấy các em càng ngày đến với võ Việt Nam càng đông, anh vui nhất là có nhiều phụ huynh theo ủng hộ tinh thần.
- Chùa Phật Đà trên Queesland, lớp võ rất mạnh có đến 200 đoàn sinh, phụ huynh trên đó cũng ủng hộ các em bằng cách đi trại chung như ở đây vậy.
- Các em có biết, muốn giỏi Võ phải làm sao?
- Phải quyết tâm, cố gắng và đều đặn. Tập võ là để rèn luyện thân thể mình khỏe mạnh, tập cho mình nhanh nhẹn, vận động thường xuyên để có một thân thể cường tráng đi theo tấm lòng rộng mở bao dung để xứng với thân thể của mình.
- Phải biết thương cha mẹ, người thân, đồng bào mình và thương tất cả mọi người.
- Các em thử cầm cái lon ra ngồi ở góc phố xin một ngày coi thử có ai cho gì không? Trong khi xin gì cha mẹ cũng cho mình cả.
- Cha mẹ nấu cơm mỗi ngày cho mình ăn, có lúc ngon có lúc không ngon, đó là lẽ tự nhiên, có cha mẹ lo cho là phước đức vô cùng. Bổn phận làm con phải làm vui lòng cha mẹ bằng cách ăn thật nhiều dù ngon hay dở, chăm lo học và học thật giỏi.
- Thưa các phụ huynh, xin cảm ơn các vị đi ủng hộ tinh thần các em, muốn cho con em mình giỏi mọi thứ và trở thành người tài người đức hạnh. Xin phụ huynh hãy đầu tư, hãy bỏ nhiều ngày giờ với các em, đóa hoa đẹp cũng cần sự chăm nom săn sóc và cộng thêm nhiều yếu tố mới thành bông hoa quí. Xin cảm ơn tất cả đã lắng nghe.

Tôi khoát lên người màu áo xanh hy vọng
Với niềm tự hào học võ Việt Nam
Ý chí đanh thép, khí phách anh hùng
Vovinam mãi vang danh võ Việt
Bàn tay thép với trái tim từ ái
Rèn luyện tinh thần, tu dưỡng tâm thân
Học võ Việt để yêu hơn nước Việt
Để tự hào là con cháu rồng tiên
Mang hoài bão vươn ra biển lớn
Vovinam vang bóng khắp năm châu.
(Môn sinh: Nguyễn Trung Hiệp)

Vì trời mưa nên đêm nay không đốt lửa trại bên ngoài được, từng đội lên diễn kịch về chủ đề gia đình.
Các em tự soạn, tất cả các đoàn viên trong đội đều có vai trong vở kịch. Có đội nói lên những thảm cảnh gia đình không hạnh phúc hoặc gia đình hạnh phúc ra sao, gia đình nhận nhiều con nuôi thì những em đánh lộn tranh giành, được người mẹ khuyên răn dạy bảo. Có đội đàn, hát và các em múa theo lời ca.
Cuối cùng là vỡ kịch của các anh trong ban hướng dẫn. Phân nửa các anh giả gái, mặc váy, mang tóc giả, các anh đóng vai nam thì ăn mặc sang trọng quý phái. Mọi người reo cười thoải mái, các đoàn sinh thích chí quá nên hò hét cười vang, tiếng vỗ tay không ngừng.
Cuối cùng là phụ huynh lên hát karaoke.
11 giờ đêm tất cả thành viên cùng vô phòng ngủ.


https://hoiquanphidung.com/Pictures/HD5.jpg

Những anh trong ban hướng dẫn chia nhau giờ trực suốt đêm, đi tuần và đi vòng những căn lều cũng như các căn nhà.
Sáng 6 giờ nghe hiệu lệnh tập họp, từng đội các em tập ngồi thiền, yên lặng theo dõi hơi thở trong hội trường. Sáng hôm nay trời tạnh mưa, tuy vẫn còn hơi lạnh nhưng không khí trong lành, các đoàn sinh tập thể dục theo hiệu lệnh hét to mạnh mẽ.
Anh Toàn muốn các em tự làm điểm tâm nên mỗi đội cử ra vài em được phân công vào bếp lo phần ăn sáng như chiên trứng và bacon. Phụ huynh làm thêm vài món nữa để các em có đầy đủ chất bổ dưỡng.
Ăn xong lại ra ngoài trời chơi chung với phụ huynh. Mỗi người cầm một cây dài có máng, làm sao cùng chuyền viên bi rồi bỏ vào 1 cái ly đặt dưới đất. Trò chơi thứ hai là bình trà đổ đầy nước, đội nào thổi nước bắn ra đầy ly trước là thắng v.v...
Trưa nay ăn theo kiểu Úc, bánh mì và nhiều loại thức ăn nóng, lạnh với rau, trái cây, sinh tố, chè.
Ăn xong đến phần tuyên bố đội nào thắng cuộc về vẽ, kịch, trò chơi, đố vui để học .v.v... Bên nào thắng, thì mỗi đội viên được choàng mề đay.
Còn phụ huynh, 2 người hay nhất lên hát thi lần nữa để xem ai được phần thưởng, người chấm thi lại là cô gái ngoại quốc không hiểu một chữ Việt nào cả, khiến cả hội trường nhốn nháo cười vang.
Mọi người chuẩn bị đồ đạc, các đội viên lo dọn dẹp vệ sinh, lượm rác, những đội sinh không có phận sự vẫn tập họp ngoài sân.
Tất cả vào hội trường tập họp, anh Toàn tuyên bố bế mạc trại, nói lời chúc mừng vì tất cả đều giữ đúng quy luật và đại gia đình sống đoàn kết trong tình thân ái tương trợ lẫn nhau, sau cùng ban tổ chức bắt tay nồng nhiệt cảm ơn từng phụ huynh.
Tôi đã được hưởng một cuối tuần vui vẻ trong đại gia đình, mọi người đều ý thức sinh hoạt chung trong trái tim thương nhượng, thân mật biết giúp đỡ lo lắng nhau. Thật may mắn cho các em được học võ để biết ngoài cách giúp đỡ mọi người còn phải là một người quân tử. Ngoài việc bảo vệ lẽ phải còn biết mang ơn những người đã giúp đỡ ta từng giai đoạn nào đó trong đời, nhất là cha mẹ đã cưu mang ta suốt hành trình dài đằng đẳng chưa bao giờ ngừng nghĩ. Khi hiểu ra lý lẽ đúng sai, phân biệt thiện ác, ta biết kính trên nhường dưới, nhất là giữ tròn lời hứa mới là người đạo đức.
Một thân thể khỏe mạnh, tinh thần tự lập, hiếu thảo thì BÀN TAY THÉP với TRÁI TIM TỪ ÁI mới sẵn sàng dấn bước vào đời.


https://hoiquanphidung.com/Pictures/HD6.jpg

Phòng Trực
05-20-2018, 11:47 AM
Mộ Địa Nguyễn Văn Dọng
Một cánh chim đã tìm về Cố Quận

Trương kim Báu

Biết đời mình rong rêu
Thì ngại gì mưa nắng
Biết nẻo về tang trắng
Ngại gì bàn tay không.

Đứng trước ngọn gió đông
Cười cành hoa năm cũ
Đôi khi mình du thủ
Để thấy mình mênh mông.

Biển dẫu động ngày đêm
Sóng tan về với nước
Ta một đời xuôi ngược
Thoảng bóng gầy khôn nguôi.

Nay mượn thân cát bụi
Sống trọn kiếp phù du
Bước ngang bờ hư thực
Ca lên lời thiên thu. (Thông Nhã)

***

Ở Melbourne mùa đông trở nên lạnh lẽo lẻ loi hơn khi cánh chim yêu dấu của tôi đã ra đi, nên tôi tìm đến Queesland có ánh mặt trời cùng tia nắng ấm để vơi đi nỗi cô đơn khắc khoải.

Ta giờ đây, ngồi ôn bao kỷ niệm
Sầu mênh mang thương nhớ cũng mênh mang
Tóc bạc màu tình cũng đang chết lịm
Sương rơi nhiều...buồn trắng cả không gian. (N.P. Ngọc An)

Mở vali, soạn một số giấy tờ cần thiết trước lúc rời nhà, tôi thấy một phong bì lớn từ Mỹ gởi cho anh. Từ năm 1963 đến 1973, rất nhiều giấy chứng nhận học Anh văn ở Mỹ và nhiều bằng lái máy bay như C47, T28, A1 Skyraider, A1 37.


https://hoiquanphidung.com/uploadpics/hqpd1017/1526816659-1458174878069.jpg

Ngày di tản vào Sài Gòn tôi chỉ đem Passport của anh, thẻ vào cửa ngân hàng của tôi và giấy khai sanh của 2 con. Tất cả đều để lại, vì tôi không nghĩ một lần ra đi là tất cả chẳng còn gì. Ngày anh đi cải tạo tôi cũng nghĩ 1 tháng rồi về, con gái nhỏ khóc khi đêm vắng hơi cha, tôi bày cho con mỗi chủ nhật đếm 1 ngón tay. Con đếm chưa hết 5 ngón tay thì ba sẽ về.

Người ta yêu cũng một chiều tạm biệt
Tiễn người đi mà lệ ứa hai hàng
Đời phi công vẫn một lòng tha thiết
Với non sông đang rũ một màu tang. (Nguyễn Phan Ngọc An)

- Me ơi ! con đếm đủ 10 ngón tay và luôn cả 10 ngón chân nữa, Ba đâu rồi ? Con muốn ba!

Bé khóc òa. Tôi ôm con, vừa đau lòng vừa mắc cỡ vì không ngờ con âm thầm đếm thật, bây giờ không biết dỗ dành bé sao đây? Anh đi tù thật rồi! Những địa danh anh ở sao xa lạ quá! Nào là Hoàng Liên Sơn, Hà Nam Ninh, Thái Sơn, Yên Bái Thái Nguyên. Quá khác so với những vùng trời quen thuộc anh đã bay qua như Pleiku, Kon Tum, Phù Cát, Tuy Hoà, Qui Nhơn v.v...

Em đang sống hay là đang tồn tại???
Mà mỗi ngày lại cảm thấy chênh chao
Nỗi nhớ anh như sóng biển thét gào
Cứ trào dâng trong lòng cao chất ngất. (Phương Tâm)

Những ngày anh trong tù miền Bắc, em ở lại miền Nam, mình cùng chung một dãy hình cong chữ S trên đất mẹ Việt Nam, nhưng trăm ngàn khó khăn khi thư từ qua lại. Ba tháng mới nhận được một lá thư, chữ anh không đầy trang giấy. Trong thư, những danh từ xa lạ học tập lao động, không có những lời nhung nhớ thương yêu, không có những cái hôn ở cuối thư cho vợ hiền. Em đã cố vui vì con, em như một loại hoa khô héo, cần không khí, cần tia nắng ấm, cần giọt nước, cần bàn tay săn sóc, cần ánh mắt, em cần anh.

Anh đã xa - phố không còn nắng
Chỉ mưa về réo gọi đời nhau
Bốn bức tường, không gian quạnh vắng
Ôm nỗi sầu ủ kín hồn đau

Ngày đã xa - đêm không còn mộng
Tiếng thở dài vang vọng giấc khuya
Loài thạch sùng nằm im bất động
Con nhện buồn giăng lưới bên kia. (Vũ Hữu Toàn)


https://hoiquanphidung.com/uploadpics/hqpd1017/1526816697-Nguyen van Dong.jpg https://hoiquanphidung.com/uploadpics/hqpd1017/1526816809-Nguyen van Dong (2).jpg

Em hiểu, là vợ của người phi công em không làm anh thất vọng, vì đã là hoa, không nhất định phải lẫy lừng khoe sắc, nhưng biết tỏa hương thơm ngan ngát cho đất trời.

Ở trong tù anh đã chịu muôn ngàn đau khổ vì đói khát và bệnh tật, vì làm việc rất nặng nề cộng thêm bị áp đảo tinh thần v.v... Thư anh gởi về xin nhiều loại thuốc bởi 2 chân anh bị sưng, ngứa, đau nhức, chảy nước vàng. Đầu, tay, chân buốt lạnh tê cóng và nứt nẻ, mỗi buổi sáng phải đi cưa gỗ trong rừng sâu. Em chạy tìm nhiều loại thuốc anh cần, đem ra bưu điện gởi không được vì không có phiếu gởi quà, em như người điên vì sợ bệnh làm anh ngã gục. Em đâu biết rằng người phi công như loại cây cổ thụ, có thể cành lá không tốt tươi nhưng rất kiên cường đứng thẳng. Em viết thư cầu cứu các cháu bên Pháp gởi thuốc thẳng đến trại tù cho anh, may mắn làm sao! Thuốc cũng đến được tay anh.

Tình ta đó, muôn đời câu bất diệt !
Đêm thu dài em viết những vần thơ
Gởi về anh nơi chốn ấy xa mờ
Bao ngày tháng ước mơ còn xa quá. (Nguyễn thị Liên)

Khi chuyển trại gặp một vị tuyên úy Phật Giáo ở cùng đội, anh học được cách sống thật giản đơn là loại tài sản của một bậc chân tu cao quý với khí chất hiếm hoi, không mấy ai có được. Từ đó anh bắt đầu đơn giản mọi nhu cầu, đơn giản trong cách nhìn nên lòng anh khoáng đạt, bao la. Anh bắt đầu niệm Phật theo từng hơi thở ra vào, theo từng động tác, từng bước chân nên việc vất vả nặng nhọc như hạ những cây to hay cưa xẻ gỗ lớn ra từng miếng, không làm anh chán nản, lo sợ, buồn phiền như những ngày trước, vì nay anh biết cách sống chánh niệm trong từng giây phút hồn nhiên, bằng lòng và chấp nhận hiện tại như một trãi nghiệm cuộc đời.

Trúc nương theo gió lay
Lòng trúc không xao động
Sự đời dẫu đổi thay
Tâm vẫn thường rỗng lặng. (Viên Minh)

Ở miền Nam em tình cờ biết được chỗ mua những phiếu gởi quà. Vậy khi em có tiền của người thân gởi về là anh có quà, anh sống lặng lẽ như một dòng nước qua bao thác ghềnh nhưng dòng nước vẫn trong suốt, thanh tịnh, hiền hòa. Như cuối năm 1973, cuộc di tản từ Kon Tum về Sài Gòn, anh được Không Đoàn cử là nhân viên điều hành cho dân chúng cao nguyên lên máy bay di tản. Đối diện cùng tháng ngày bấp bênh nội chiến của quê hương, không có giai cấp trong dòng máu cùng đỏ và nước mắt cùng mặn, nên khi dân giàu có đút lót bạc tiền mong giành quyền ưu tiên đi trước, anh đã dứt khoác từ chối sự hối lộ này.

Ngày ngày gần vị chân tu, lòng anh mở rộng thêm, anh chia phần ăn mình đến bạn bè cùng cảnh ngộ. Có một ngày anh chia phần quà em gởi cho một người đàn bà có bầu gầy yếu xanh xao đứng ngoài hàng rào kẽm gai, nơi anh đang bị tù.

Vô minh, minh cũng một vần
Rời trần ta lại vào trần thong dong
Biết đâu diệu hữu chân không
Làm người, làm Thánh cũng đồng chữ tâm. (Viên Minh)

Ở trong Nam, em cũng giúp đỡ những cán bộ già nua, nghèo khó họ
tập kết về. Em nghĩ họ cũng vì nước non nhưng họ đã đi lầm đường,
bây giờ là họ phải trả, nên em nhận đơn lấy lời phê rút tiền cho thân
nhân họ để người cán bộ già, nghèo kia sau những năm bỏ bê gia
đình nay ít nhất cũng làm được một điều tốt cho vợ con. Mọi người
đều nhờ bà con bên phe thắng trận làm đơn bảo lãnh người thân ở tù.
Gia đình 2 bên nội ngoại mình không có dòng họ bên kia, nên em tự
làm đơn bảo lãnh chồng mình, ai cũng nói em điên, ngụy quyền lại
bảo lãnh ngụy quân.

Anh ơi ! Đơn em làm cũng được thẩm quyền bộ nội vụ và bộ công an Hà Nội trả lời, gần như mỗi 2 tháng em làm lá một đơn, lúc tên em, tên ba, tên má, tên chị Năm, có khi tên các con, chỉ cần đưa ngân hàng nơi em làm và phường khóm xác nhận, có nhiều con dấu đỏ là được.

Mai anh về, quê hương mình còn đó
Hái dùm anh một nhánh cỏ bên đường
Để lên môi nhắm thử một tình thương
Có còn vị mặn mà như ngày cũ. (Hoa Độ)

Ngày anh được thả về cuối năm 1982, em đi làm về vác chiếc xe đạp lên tận lầu 2, nhà mình rộng quá nên chính phủ chia cho mọi người vào ở chung. Anh vội bước ra khi em vừa để xe dựa vách, nhìn em, ánh mắt anh nói lên muôn ngàn thương nhớ. Em ào đến, chúng ta ôm nhau, hai con cũng ùa vào, gia đình ta thành một khối.

Anh chỉ ở một đêm, 5 giờ sáng đưa anh ra bến xe sắp hàng mua vé để anh về Mỹ Tho thăm ba má. Anh ở lại nhà cùng ba má 1 đêm rồi sáng lại lên Sài Gòn, để ngay chiều đó chuẩn bị đi xuống tàu vượt biên. Anh hối hận vì biết ra đi lần này không bao giờ gặp lại má em, người mà anh thương như mẹ ruột. Trên đường từ Bắc trở về, túi không tiền, dù xe lửa có ngừng ở Nhatrang nhưng anh của em, là bác sĩ, đã chết trong tù rồi, nhà cũng mất luôn, không người quen và không có phương tiện, làm sao anh về tận Hòn Khói thăm má em được, má sẽ không trách anh đâu!

Con chẳng biết nói thế nào mẹ hiểu
Chẳng còn ai hiểu hết chuyện đời con
Non nước đó vẫn còn đầy dâu biển
Núi sông đây sao giữ được vuông tròn. (Trần Trung Đạo)

Anh quá ngạc nhiên khi thấy con trai mừng rỡ vì sắp vượt biên. Sao em dạy con trẻ hận thù? Anh nhìn em bằng ánh mắt trách buồn. Anh lầm rồi! Không phải con hận thù, lý do từ 75 đến nay, 2 con không được đến trường học bởi lý lịch ngụy quân của cha mẹ. Các con đang mơ ước một sân trường rộng có cây cao bóng mát trong tiếng chim líu lo chuốt giọng trên cành, nhất là có bạn bè thầy cô vui vẻ, không phân chia chế độ.

Anh đi cùng con trai và người em trai nuôi em mới nhận, vì sau chuyến vượt biên, em ấy không còn trở về nhà được nữa. Rồi tàu anh đã đến bờ bến tự do. Một tháng sau, 3 người rời trại tỵ nạn đến Úc, anh vội vã kiếm việc làm. Em và con gái cũng tìm đường vượt thoát, đúng 9 năm sau ngày mất nước, gia đình mình mới được đoàn tụ nơi nước Úc giàu lòng nhân bản.

Quê hương diệu vợi mờ nhân ảnh
Đất khách bao la gợi nỗi phiền
Trăn trở năm canh buồn viễn xứ
Biết ai ta gởi chút tình riêng! (Hoa Độ)



https://hoiquanphidung.com/uploadpics/hqpd1017/1526816717-Vo tu - chong lam cong qua.jpg

Anh không sống cho riêng anh mà chỉ lo cho mẹ con em và 2 bên nội ngoại ở quê nhà. Anh khéo léo tế nhị hướng dẫn cả nhà vào đường đạo, ăn chay trường, các con ra ngoài có quyền ăn mặn. Mỗi chiều, anh đều đưa em đến chùa đọc một thời kinh cùng Phật tử, đêm về anh giảng cho em những đoạn kinh mà em chưa hiểu. Anh biết nhược điểm của em hơn cả em nên cứ khuyến khích và chỉ cách em rèn luyện để tiến bộ. Anh đặt anh vào vị trí các con để hiểu chúng nhiều hơn. Các con có quyền tự chọn ngành và sự đam mê cho hợp với căn bản đạo đức, phải biết tôn trọng mọi người chính là tôn trọng bản thân mình.

Biết em thắc mắc vì ngày xưa anh nghiêm nghị và rất ít cười, đến nỗi các bạn trong phi đoàn 524 đặt biệt danh anh là Mộ Địa, nay sao anh lại vui vẻ và hay cười như vậy. Anh nói không có niềm vui nào bằng sự tự tại trong tâm hồn mình, một kiếp sống quá ngắn ngủi, bây giờ anh đã hiểu nên dể mỉm cười, đâu còn bận lòng chuyện thắng bại nữa. Sống thật với tất cả những gì ta có, biết nhìn thẳng vào hai mặt tốt xấu là bản chất trung thực của cuộc đời thì nội tâm mới không cầu toàn, nụ cười luôn rạng ngời vì biết thích ứng với sự vận hành của pháp mới là minh.

Trải qua những bước thăng trầm
Mới hay bậc trí giữ tâm làm đầu
An nhiên giữa cuộc bể dâu
Khổ đau nhẫn được, đạo mầu chẳng xa! (Viên Minh)

Năm 1985 Chùa Hoa Nghiêm ở vùng Đông Nam Melbourne thành lập ở Springvale vùng chúng mình ở, lúc đó nơi này còn vắng vẽ cô liêu, thầy trụ trì gồng mình vỡ đất sơ khai từng ngày biến chuyển tốt đẹp hơn khiến lòng người hớn hở hân hoan, nơi đây sẽ là nhà tâm linh, đủ tầm cở giúp thế nhân sống đời an lạc và độ các hương linh tìm đến bờ an nơi cõi tịnh.

Anh khuyến khích em và vợ chồng anh chị Bé, 4 người cùng trồng hoa Vạn Thọ bán mỗi độ xuân về, làm tiệc chay gây quỹ cho chùa và thành lập thư viện. Chùa mở tiệm cơm chay Thanh Tâm, anh không ngần ngại đưa hai vai ra gánh vác, bước đầu anh in những tờ quảng cáo rồi 4 người chia nhau đi bộ bỏ vào từng thùng thư của dân cư trong vùng, anh kiêm luôn thâu ngân viên một thời gian dài, sau đó anh chỉ vẽ tường tận cho sư cô Phước Tính thế anh.
Anh thường nói đã hơn nửa cuộc đời lo bảo vệ gian sơn tổ quốc là làm trọn bổn phận người trai thời loạn. Nay nước đã mất, tuổi đã già, mỗi người nên tận dụng thời gian này để khi nhắm mắt không còn tiếc nuối. Tâm anh thật sự luôn hướng về quê hương, về đất Phật.

Chùa mở khóa tu trên núi hay dưới biển, anh là người 4 giờ sáng mang thức ăn từ chùa đến nơi tu để những tu sinh điểm tâm đúng giờ, anh ở lại cùng các Phật tử giúp 2 buổi ăn trưa và chiều cho hoàn tất, dọn dẹp xong anh trở về chùa báo cáo lại những điều cần thiết cho ban trai soạn, để chuẩn bị cung ứng thích hợp cho ngày kế tiếp đến khi mãn khóa tu.

Cảm ơn nhé! một đời gió nổi
Cuốn phăng tôi đến một chốn bên trời
Thế gian nhé!một lần xin sám tội
Quỳ nơi đây mà ôm siết con người! (Minh Đức Triều Tâm Ảnh)

Anh đã tìm cho mình con đường đi và cách sống, anh bỏ thuốc lá, không đi chơi, không uống rượu. Những ngày tết Nguyên đán, lễ Phật đản hay Vu Lan, anh và anh Bé hướng dẫn từng chiếc xe ra vào carpark. Dù nắng nóng hay rét căm căm vẫn chạy tới chạy lui giúp xe có nơi đậu vững vàng. Những buổi tối giao thừa, anh âm thầm đi chung quanh chùa xem xét, hầu sớm chặn đứng mọi biến động xảy ra để giữ cho không khí chùa được an toàn. Giao thừa xong, anh ở lại phụ thầy trụ trì cùng các Phật tử dọn dẹp, tháo lều, làm vệ sinh cho sân chùa thật sạch, đến 4 giờ sáng vợ chồng mình mới về nhà. Thế mà 9 giờ sáng mùng một tết mình đã có mặt ở chùa, cứ như vậy từ ngày chùa Hoa Nghiêm mới mở cho đến ngày anh ra đi.

Anh bày ra làm báo tường, bổn phận em là chụp hình những buổi lễ, các khóa tu và sinh hoạt của chùa. Anh Bé cảm hứng làm thơ từ những hình em chụp cho anh đánh máy ra, chị Bé cùng em trang trí thêm hoa và cảnh, vì vậy sau những buổi lễ chùa luôn có báo tường với những hình ảnh mới. Anh còn chọn hình những Phật tử làm công quả để làm DVD ghép nhạc cảnh, tặng riêng cho từng người, thêm CD Phật Pháp để khuyến khích họ thường đến chùa và hiểu về Đạo Phật.

Các anh em tôi mà tình Thầy nghĩa Đệ
Có nhớ nhau xin cạn một chung trà
Đời còn đẹp khi ta còn giọt lệ
Đời khổ đau nên sinh-tử-tình-ca! (Minh Đức Triều Tâm Ảnh)

Rất nhiều lần làm việc chung với anh chị Bé, anh giảng về chữ tu thật đơn giản làm sao, đó là biết rõ mình đang làm gì trong từng hành động thực tại hiện tiền, sáng suốt nhìn thái độ của tâm khi trực diện mọi hoàn cảnh để thấy ra hai mặt thiện ác chỉ là hai mặt của cuộc đời. Có như vậy mới trãi nghiệm được thế nào là thanh tịnh để biết cõi ta bà này đẹp một cách diệu kỳ.

Một phen buông hết ngôn từ
Buông luôn cả một chữ như trên đầu
Thong dong thực tại nhiệm mầu
Niết-bàn, sinh tử… biển dâu khác gì ! (Viên Minh)

Một hôm sư cô Huệ Thanh đưa ý kiến, em xin phép thầy trụ trì lập ra đạo tràng đi Kinh Hành Niệm Phật mỗi sáng chủ nhật, nhưng anh lại là người đứng ra phân việc theo khả năng từng người và dạy đánh Chuông Mõ, Khánh. Rồi chỉ từng bước đi thong dong cho thân, tâm, ý nhất như. Sau thời đi kinh hành anh mới xuống trực văn phòng, vừa bán Phật cụ vừa trả lời điện thoại và giải quyết những việc thông thường, để thầy có thời gian chu toàn buổi lễ.

Biết em thích hoa hồng, anh và các con đã chọn lọc hương thơm lộng sắc màu nồng ấm để thành lập vườn hoa hồng thắm trước sân nhà, cũng là quà của mấy cha con tặng để cảm ơn em những ngày tháng anh ở trong tù, cảm ơn em thân cò lặn lội, là một người đàn bà Việt Nam biết chu toàn bổn phận, từ đó ở xóm mình gọi biệt danh em là bà bảy hoa hồng.

Cám ơn Em người vợ ân cần
Đã chăm sóc thương anh bao ngày tháng
Dẫu giông tố bão bùng vùng sân hận
Tàn phá anh, em cuồng nộ bẽ bàng
Cám ơn tất cả mọi người là ánh sáng
Soi rõ đêm đen, cháy bỏng tâm hồn
Thù hay bạn cũng là vận mạng
Đốt lửa Tạ Ơn ngàn đoá hoa hồng (Trần Minh Hiền)

Anh tôn trọng niềm đam mê của em nhưng luôn luôn anh nhắc em đừng để thân mệt và đầu óc căng thẳng, phải tập ngồi thiền, nhìn tâm để thấy lời nói mình có thể mang đến hạnh phúc hay khổ đau cho người khác, luôn quay về tỉnh thức khi đối xử với tha nhân.

Ra đi khắp bốn phương trời
Tìm ai mỏi gót muôn đời còn xa
Ta về gặp lại tình ta
Dấu chân viễn mộng chỉ là phù vân! (Viên Minh)

Anh cùng ông trạng sư Đinh sĩ Trang bắt đầu dịch các Kinh Kim
Cang, Kinh Duy Ma Cật, kinh Pháp Hoa, kinh Pháp Cú (có phần tiếng
Anh và tiếng Pháp), kinh Lục Tổ Huệ Năng, Pháp Bảo Đàn kinh.

Những hành thiện trong quá khứ của anh và những lời kinh anh dịch vẫn còn đây, làm chứng nhân cho công đức vô lượng như tiếng chuông tỉnh thức giúp thế nhân chuyển mê thành giác.

Thắp lên một nén hương lòng
Phút giây sinh tử mênh mông bể sầu
Dương trần trắng cuộc bể dâu
Kim Cang vẩy mực rạng màu chân như.

Còn lời nào để nói về anh nữa đây, anh đã gồng gánh lo toan hết cho em những bữa cơm gia đình hạnh phúc, biết làm mái ấm cho em nương tựa để tránh cơn bão lũ cuộc đời, là người lái đò dạy cho em bài học sâu xa về Đạo, là ánh sáng quét sạch những mờ mịt của bóng đêm em, anh cứ mỉm cười cho em hiểu thế nào là tâm nhẫn, có biết sống thong dong ở cõi ta bà mới sâu sắc an nhiên đi về cõi tịnh.

Buông mình theo chiếc lá rơi
Phiền lao trăm nỗi thả trôi nước dòng
Qua bờ với chiếc đò không
Như con hạc trắng chơi rong kiếp người. (M. Đ. Triều Tâm Ảnh)

Hôm nay em ghi lại những điều anh đã làm cho em và cho mọi người, anh đã biết cách sống, đem hết cuộc đời của mình cống hiến cho Quốc Gia và Phật Pháp. Anh ra đi để lại bao nhiêu sự luyến tiếc của gia đình và mọi người.

Một ngày tình bỗng khói sương
Tôi về gom chút tàn hương cuối trời (Phạm Anh Dũng)

Đêm ngày em vẫn nhớ anh và đang theo bước chân anh để rồi một ngày ta gặp nhau dưới ánh hào quang của chư Phật.

Thu tàn rồi lại đông sang
Bước chân lữ khách dặm ngàn tha hương
Phút giây chợt thấu vô thường
Cúi đầu sụp lạy dặm trường đã qua. (Tâm Bửu)

Trương kim Báu

Phòng Trực
06-05-2018, 11:32 AM
ĐI BỘ QUYÊN TIỀN CHO HỘI NGHIÊN CỨU UNG THƯ NGỰC
Trương kim Báu

https://hoiquanphidung.com/uploadpics/hqpd1017/1528198157-image-0-02-06-09deb073cea64b1fbbebafd904d67d212ea6099d5afbdd0fe4 88c7a332930b88-V.jpg


Hôm nay là chủ nhật thứ nhì trong tháng 5 năm 2018, cũng là ngày Mother’s Day, ngày mà toàn nước Úc tổ chức cuộc đi bộ để quyên tiền cho hội nghiên cứu ung thư ngực.
Trời Queensland hôm nay rất đẹp, tia nắng ấm xua mất cái lạnh về đêm, những cơn gió nhè nhẹ làm con người cảm thấy phấn khởi và dễ chịu.
Con gái, cháu ngoại và tôi theo gia đình Phật tử Chánh Tâm đi bộ ủng hộ cuộc gây quỹ này.
Đúng 7. 30 am mọi người phải có mặt ở điểm hẹn BRISBANE ABC STUDIO, gần công viên SOUTHBANK. Đó là công viên bên bờ sông có những con đường với hai hàng hoa giấy chụm đầu vào nhau nở rực. Xuyên qua những bãi cỏ xanh, hoa lớn nhỏ đủ loại hài hòa vào nhau tỏa hương thơm ngào ngạt.

Một buổi sáng cuối tuần
Sương mai đọng gót chân
Nắng hiền hòa vẫy gọi
Đời nhẹ nhàng êm trôi

Cỏ xanh biếc quanh tôi
Hàng cây xinh khoe dáng
Bầu trời trong, mây sáng
Chân nhịp nhàng, thênh thang. (Mai Hồng Thu)

Cô đoàn trưởng của Chánh Tâm điểm danh số người có mặt là 70 như đã ghi tên trước, rồi đến trình ban tổ chức để lấy số thẻ cho mỗi người đeo trước ngực, đồng phục của Chánh Tâm là áo màu tím có thêu chữ Chánh Tâm, phụ huynh mặc áo màu hồng là đồng phục của ban tổ chức.

Đoàn chia đều ra 4 đội, gồm có phụ huynh, thanh nữ, thanh nam, thiếu nữ, thiếu nam và oanh vũ nữ nam để trên đường đi giúp đỡ lẫn nhau và cùng chăm sóc các em oanh vũ. Từng đội đến sắp hàng đi qua các lều để nhận chiếc nón và giỏ xách đều màu tím có khắc chữ HESTA. Và những lều khác là thức ăn đủ loại như chuối, các thứ trái cây làm thành nước uống, Yaourt và kem, bánh, donut, kẹo, hột chia v.v... Pharmacy cho các loại kem thoa tay, mặt v.v... Các nhà tài trợ khác cho ví, nón, hình dán, cột tóc v.v...Có nơi giữ đồ đạc để mọi người đi bộ khỏi mang nặng.

Đúng 8. 30 am, tất cả các đoàn thể tập trung ở điểm khởi hành, có hướng dẫn viên tập thể dục làm nóng cơ thể. Đài tivi quay phim, trên loa nói ý nghĩa của ngày Mother’s Day.

Ôm gối mộng xoay vòng tâm khảm
Cha Mẹ già hình cảm tim ta
Ghi ơn tình nghĩa bao la ...
Cám ơn người đã cho ta cuộc đời !(Kim Minh)

Bắt đầu khởi hành tôi đứng hàng phía ngoài, một cô làm trong đài tivi tiến đến tôi cười thân thiện và chúc vui vẻ. Có lẽ cô thấy một bà già Á châu với những sợi tóc bạc trắng nổi trên vành nón tím làm cô chú ý chăng?

Một lời khuyên răn, một câu an ủi
Dịu dàng như bóng mát của vòm xanh
Tôi cúi xuống níu dây giày siết lại
Tự tin hơn trên mỗi bước bộ hành (Lê Minh Quốc)

Nhiều người lớn tuổi đứng bên ngoài, chào con cháu hẹn gặp lại ở công viên để tổ chức Mother’s Day, loa vang vọng chúc mừng ngày của mẹ và tất cả mọi người. Một tiếng còi báo hiệu cuộc đi, sau lưng của một số người họ đeo hình người thân, mẹ, cha, vợ, chồng hay con cái, ghi những lời thương yêu như “I love my mum. We love you” v.v...

Cùng nhau là nghĩa tương tri
Có duyên hội tụ mấy khi trong đời.
Trên môi hé nở nụ cười
Sống vui, mạnh khỏe làm người nghĩa nhân (Phan Hạnh)

Đoàn người đi gồm đủ mọi sắc tộc, tiếng nói và hình dáng bên ngoài khác nhau, di dân đến đây mỗi hoàn cảnh nhưng hôm nay họ đã là người Úc, cùng một quốc gia hào phóng, họ thương yêu xứ sở lòng trắc ẩn nhân đạo thật tròn đầy, không còn phân biệt màu da và chủng tộc. Sáng nay gặp nhau thân mật, nói lời chào hỏi nụ cười dễ dàng trao nhau không e ngại, những bàn tay cùng nắm bàn tay góp phần xây dựng cho nước Úc thật tốt đẹp hơn.

Dâng Úc cả nụ cười, nước mắt
Đời cho ta khoảnh khắc buồn vui
Đoàn người lũ lượt về xuôi …
Có ta trong ấy ngoai nguôi cõi lòng

Đoạn đường dài 4. 50 km, trên đường đi qua nhiều người chờ đón chào xe cảnh sát, xe cứu thương đậu sẵn đề phòng chuyện bất trắc. Tất cả đi trong im lặng, nếu có nói chuyện họ nói rất nhỏ, tôi trân quí những giờ phút này và theo dõi từng bước chân mình chạm trên mặt đất.

Ta đi đi không có gì ràng buộc
Ta đi đi không hướng vọng tương lai
Ta đi đi quên cả tháng năm ngày
Ta đi đi từng bước chân trong hiện tại (Thích Phước Thái)

Mới đi ½ km thì một em Oanh Vũ nữ mỏi chân, chị thiếu nữ Chánh Tâm trong đoàn không nói tiếng nào ngồi xuống kề vai cổng em lên, cứ thế trong đoàn các anh chị lớn thay nhau cổng các em, một hình ảnh thật đẹp nói lên tinh thần trách nhiệm, tình đồng đội và sự đoàn kết thương yêu.
Nắng bắt đầu lên cao, con đường đi bằng phẳng không lên đèo xuống dốc nhưng với tuổi già, mồ hôi tôi cũng bắt đầu chảy. May quá, ra bờ sông một con đường rộng chạy dài dọc theo con sông, hàng cây dài bóng rập lối đi, gió thật mát làm mệt nhọc tiêu tan.

Nầy ai ơi cuộc sống
Sống không phải riêng ta
Sống trải rộng chan hòa
Sống thương khắp mới thật là an vui (Thích Phước Thái)

Bên kia bờ, những phố lầu cao là thành phố chính của Queensland, cách xa xa có một cây cầu bắt ngang qua. Đoàn người đi được 3 km thấy từng bàn hai bên đường là những ly nước mát lạnh, với cái vẩy tay và nụ cười mời gọi ai cũng ghé vào. Tay cầm ly nước, tôi uống từng ngụm nhỏ để cảm vị ngọt của nước thấm trong tôi như tình thương xứ sở này cưu mang bao bọc tôi từ khi được nhận vào. Ôi quê hương thứ hai của tôi tuyệt vời quá, đất rộng dân hiền với tấm lòng bao la, nhìn đâu cũng thấy thân thương, cũng thấy lòng nhân ái.

Quá khứ đã chết trong miền hoang dại
Và tương lai.. gạo sống chửa thành cơm.
Hiện tại này con trân quý, cảm ơn
Lòng thanh thản.. đời hoa thơm, trái ngọt. (Thích Tánh Tuệ)

Một người đứng trên lối đi cầm bản đưa lên cao cho biết còn ½ cây số là đến đích. Hai người già ông đẩy chiếc xe lăn chở vợ, ông bà ra đón đàn con cháu đi bộ. Cả gia đình líu lo ôm nhau, hai người già nhập vào đoàn cùng đi.

Tiếng kèn trống của ban nhạc hòa giọng hát cất cao chào đón đoàn người đến đích, tiếng reo vui trên máy của ban tổ chức đón đoàn người trở về, mỗi người được choàng một mề đay vào cổ. Tôi liên tưởng tới đoàn quân chiến thắng, họ chiến thắng được tính lười biếng và lòng ích kỷ của chính mình để cùng phụ một bàn tay diệt tế bào ung thư ngực.

Gia đình Phật tử Chánh Tâm tụ họp nhau trên bãi cỏ xanh, dưới những bóng cây sứ gần bên con đường hoa giấy đang nở rộ khoe sắc đỏ. Một số em đi lấy đồ ăn các em thích từ các căn lều, cô đoàn trưởng Chánh Tâm đang đứng chờ ông bà Thanh và cô Trinh, tình nguyện viên làm đồ ăn trưa cho đoàn. Phần ăn trưa được chuyền đến từng người là một hộp mì xào chay còn nóng với một bánh bông lan và trái quít to. Tất cả các em đều chắp tay cầu nguyện cúng Phật trước khi dùng.
Ông bà Thanh và cô Trinh nói vì hôm nay là ngày Mother’s Day, đáng lẽ phần tiền này mua quà cho mẹ nhưng họ lấy tiền mua thức ăn cho đoàn người đi bộ mong rằng nếu được chút phước báu nào thì dành hết cho mẹ.

Mẹ là tổ ấm mái nhà
Tình thương, cao cả, bao la, dạt dào
Lời mẹ dạy bảo ngọt ngào
Hiền từ, âu yếm, xiết bao ân tình
Mẹ là nắng ấm bình minh
Là bông hoa cúc đẹp xinh sáng ngời
Ơn mẹ biển rộng mây trời
Không gian ấp ủ cho đời con tươi. (Phan Huỳnh Vân Anh)

Nhiều gia đình các sắc tộc khác cùng ngồi trên bãi cỏ dưới những tàn cây họ chọn hưởng ngày mẹ vui vẻ. Nhóm nướng BBQ thì tới một nơi được chỉ định để mùi của thịt cá không làm lan tỏa ra làm mất đi mùi hoa hương tự nhiên.

Cỏ nào như lớp nệm êm
Cho đời hạnh phúc bồng bềnh phút giây
Ngồi đây hương cỏ ngọt say
Giữa trời thoảng gió lá bay vẫy chào.

Ban tổ chức làm tiệc và mời những bà mẹ đến dự, bốc thăm phát quà cho những người trúng có số mang trên ngực khi đi, Phật tử Chánh Tâm được mời đến nhận quà lưu niệm là một tấm huy chương vì đoàn đông nhất kỳ này, loa lại kêu xin mọi người đến chia bớt thức ăn như chuối, 400 cái bánh donut, vì thức ăn đủ loại còn quá nhiều, các lều phải dọn dẹp để về.

Các em phật tử cùng nhau chơi trò u môi, ca hát, đố vui.
Tôi nằm dưới thảm cỏ xanh để cỏ ôm vào lòng, trời ấm nhiều tiếng chim hót, mùi thơm của những loài hoa, thật bình yên lắng lòng để nghe lại những lời thỏ thẻ của bốn cháu nội, ngoại gọi từ Melbourne lên hôm qua. Chúng con gởi tiền ủng hộ bà ngoại đi bộ, đó là tiền lì xì hôm tết của tụi con. Bà ngoại ơi! Bà phải khỏe thật khỏe. Bà ngoại ơi, hết mùa đông bà về liền phải không? Bà nội ơi! Con yêu bà nhất trên đời. Bà ngoại ơi, con nhớ bà nhiều!

Con lập gia đình, bước vào ngã rẽ
Mẹ xẻ chia, những kinh nghiệm đời người
Cháu ngoại ra đời, mẹ sáng niềm vui
Cháu nội, vỗ về, à ơi sớm tối. (Trần Thảo)

Tôi đã dạy các cháu tôi một bài học về tình người, sự chia xẻ và bổn phận của người công dân trên xứ sở này không phải là lời nói mà bằng hành động của chính mình.
Xin cảm ơn xứ Úc tuyệt vời này đã cho tôi cuộc sống đầy đủ và bình yên ở tuổi già, bên tôi có nhiều tình thương bao bọc che chở.

Cảm ơn người rất nồng nàn
Cám ơn đời vẫn dịu dàng bao dung. (Ngọc Thùy Khanh)

***

Ghi chú:
Muốn vào đoàn đi bộ phải ghi tên trước và đóng một số tiền, tuổi còn lao động 35 Aud, tuổi già 25 Aud và trẻ em 20 Aud. Tiền đó cúng luôn cho hội.
Mỗi người đi bộ tự xin tiền trong gia đình, con cháu, bạn bè. Mỗi khi ai cho tiền, tên mình được vào Website nhưng ban tổ chức giữ, người đi bộ không được quyền lấy tiền từ website ra, nhưng vẫn biết tên và số tiền ai cho mình.


https://hoiquanphidung.com/uploadpics/hqpd1017/1528198141-IMG-20180513-WA0004.jpg

https://hoiquanphidung.com/uploadpics/hqpd1017/1528198174-image-0-02-06-95f2937aa04a4cb85b05cd4142058d4e29bd5fc152cb5c5248 e45865a8911098-V.jpg

https://hoiquanphidung.com/uploadpics/hqpd1017/1528198189-image-0-02-06-c6c755ec1f7fb28d16210cdeae8c23f1f65eeacaf8ce71c851 f6a07faeb57c62-V.jpg

https://hoiquanphidung.com/uploadpics/hqpd1017/1528198200-image-0-02-08-a4b83c66521aef98f2202811a4d8463b157a3633bc88a4d5c3 420edfef2444a9-V.jpg

Phòng Trực
07-11-2018, 11:12 PM
THƯ GỞI MẸ VIỆT NAM
Viết theo lời yêu cầu của người bạn cùng đi biểu tình
Ngày 10 tháng 6 năm 2018 ở BRISBANE
thuộc tiểu bang Queensland. Australia
Trương kim Báu

Mẹ Việt Nam ơi! Chúng con dân miền Nam đã bỏ quê mà trốn đi vào một đêm mưa gió trên một chiếc tàu nhỏ nhiều năm sau 1975. Chúng con đi mà lòng đau buồn vô hạn, nhưng ở lại trên quê hương nơi đất mẹ sanh ra thì không được coi là con người, những người lính của miền Nam thì bị tù đày nơi rừng sâu, nước độc, bị bỏ đói và làm việc rất nặng, vì tội làm tròn bổn phận của người dân miền Nam khi nội chiến hai miền. Những trẻ thơ con người lính hay công chức không được đến trường, tuổi thơ mất cả tiếng cười, mỗi đêm dân không được ngủ yên trong căn nhà của mình mà bị đánh thức nhiều lần, tâm thần lúc nào cũng căng thẳng, tù tội và nghèo đói rình chờ, chúng con đều biết xa quê hương, xa đất mẹ làm người lưu vong sẽ buồn ơi là buồn.
Chúng con luôn luôn hướng về đất mẹ và dạy các con cháu nhớ nguồn gốc, nói tiếng Việt, đọc và viết tiếng Việt, học lịch sử Việt Nam và hảnh diện mình là người Việt Con Rồng Cháu Tiên.
Mẹ ơi ! Mấy đêm ngày nay nước mắt chúng con, những đứa con xa đất mẹ ở khắp các nơi trên thế giới đã chảy,vì biết tin những người anh em cùng một mẹ Âu Cơ đang sống trong lòng quê hương VIET NAM không còn trân quí mẹ. Những người anh em đó muốn cắt ba vùng Vân Đồn miền Bắc, Bắc Vân Phong miền Trung và Phú Quốc miền Nam cho người Trung Quốc thuê đất 99 năm.
Mẹ ơi! Đất là của tổ tiên chúng con bao nhiêu đời dựng nước và giữ nước, nước mình nhỏ ở gần nước Tàu phương Bắc lớn nhưng họ luôn luôn muốn chiếm lấy nước mình, vì vậy nước Việt bị Bắc thuộc lần 1 rồi lại Bắc thuộc lần 2.
Đến tháng 2 năm 40 giữa thời Bắc thuộc thứ 2, hai bậc nữ nhi con gái của mẹ đã phất cờ khởi nghĩa đánh cho Tô Định giặc Tàu phải thua, toàn dân không chịu được chính quyền đô hộ của Đông Hán thời đó dùng biện pháp khắc chế, đồng hóa, gắt gao, bốc lột, hà khắc đối với người Việt.
Hai vị nữ anh hùng của dân tộc đoạt được 65 thành, lập ra quốc gia với kinh thành MÊ LINH ,làm vua xưng là TRƯNG NỮ VƯƠNG hay gọi là TRƯNG VƯƠNG. Dành được độc lập tự do cho nước nhà việc đầu là miễn thuế 3 năm cho dân.
Đến năm 248 bà TRIỆU ẨU tên thật là Triệu thị Trinh cũng gọi là Triệu Quốc Trinh, lúc đó mới 20 tuổi tài sắc vẹn toàn, bà đã khởi nghĩa ở chân núi Tùng, Phú Điền, Thanh Hoá đánh quân Ngô bên tàu đang cai trị nước Việt một cách hà khắc, độc ác, siêu cao thuế nặng, bắt lên núi lấy ngà voi xuống biển mò ngọc trai, dân tình trăm bề khốn khổ.
Bà TRIỆU có một sắc đẹp rất yêu kiều, nhiều người muốn kết duyên nhưng bà không muốn mà còn nói:
Tôi muốn cởi cơn gió mạnh, đạp ngọn sóng dữ
Chém cá kình ở ngoài biển đông.
Đánh đuổi quân Ngô, cởi ách nô lệ cho nhân dân.
Khi bà khởi nghĩa lòng dân vui mừng, lũ lượt từ mọi nơi về dưới trướng của bà. Già trẻ trai gái đều đủ, có bài hát ru con được truyền tụng.
Ru con, con ngủ cho lành
Để mẹ gánh nước rửa bành con voi
Muốn coi lên núi mà coi
Coi bà Triệu tướng cưỡi voi, đánh cồng
Túi gấm cho lẫn túi hồng
Têm trầu cánh phượng cho chồng ra quân.
Mẹ ơi! Xin mẹ hảnh diện vì năm 938 đứa con trai của mẹ là Ngô Quyền đã đại thắng quân Nam Hán do Lưu Hằng Tháo cầm quân. Trận Bạch Đằng, trận đấu này chấm dứt 1000 năm Bắc thuộc, nước Việt bị giặc Tàu đô hộ. Tổ tiên chúng con đã anh hùng dành lại độc lập và tự do cho toàn dân.
Núi sông nước Nam thì vua Nam ở
Cương giới đã ghi rành rành ở trong sách trời
Cớ sao lũ giặc bạo ngược kia dám đến xâm phạm?
Hết nước tàu phương Bắc đến quân Mông Nguyên Mông Cổ không để yên cho dân tộc Việt, họ lại đem quân qua xâm lấn lần thứ 1. Năm 1285 Trần Bình Trọng liều chết đánh chặng giặc Mông Nguyên lại, để cứu vua Trần. Lúc đó Trần Bình Trọng mới 26 tuổi,
Thà làm quỷ nước Nam.
Chứ không thèm làm Vương đất Bắc.
Câu nói của Trần Bình Trọng lưu lại muôn đời, vinh hoa phú quí không mua chuộc được lòng yêu nước, đã gạt tình riêng để làm tròn nhiệm vụ của người trai, lòng yêu nước của người dân Việt sáng ngời.
Năm 1283 quân Mông Nguyên đánh nước Việt lần thứ 2, Trần Hưng Đạo được phong Quốc Công tiết chế thống lãnh quân đội cả nước, trên cương vị này ông lãnh đạo quân sĩ chận đánh quân xâm lược Thoát Hoan.
Năm 1288 quân Mông Nguyên trở lại đánh nước Việt lần thứ 3. Trần Hưng Đạo dùng kế cũ của Ngô Quyền đánh bại hoàn toàn thủy quân của các tướng Phàn Tiếp, Ô Mã Nhi trong trận Bạch Đằng nước Việt thắng trận này rất vẽ vang, quân Mông Nguyên không còn giám xâm lăng nước Việt nữa.

Đây Bạch Đằng giang sông hùng dũng của nòi giống Tiên Rồng
Giống Lạc Hồng Nam Bắc Trung.
Mây nước thiêng liêng còn ghi chép rành
Thời liệt oanh của bao người xưa trung chánh
Vì yêu quốc gia vui lòng hiến thân
Liều mình ra tay tuốt gươm bao lần
Dòng nước trắng xóa dưới trời quang đãng
Từ xưa nêu cao tấm gương anh hùng
Dù có sấm sét bão bùng mưa nắng
Bạch Đằng giang vẫn cho nòi giống soi chung.
(Bài hát Bạch Đằng Giang, tác giả Lưu hữu Phước, lời Nguyễn thành Nguyên)

Rồi nước Việt lại rơi vào tay người PHÁP, bị đô hộ 100 năm có rất nhiều người con của mẹ đứng lên khởi nghĩa 1904 như Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp, Phan Đình Phùng v. v.
Khởi nghĩa năm 1930 Nguyễn Thái Học, hai chị em Cô Giang Cô Bắc v.v.
Những người trai ở thế hệ chúng con cũng luôn luôn bảo vệ từng tấc đất, từng hải lý, chúng con tâm niệm TỔ QUỐC, DANH DỰ, TRÁCH NHIỆM lên trên hết. Dù sống trên quê hương hay nơi đất khách thì đất mẹ vẫn là thiêng liêng nhất, chúng con luôn hướng về quê hương và đem hết sức mình truyền dạy con cháu lòng yêu nước, hy vọng một ngày nào trời sẽ quang đãng, ánh sáng chói rực xua tan những đám mây đen không còn, đàn chim Việt viễn xứ sẽ bay về đất mẹ, những bàn tay nắm lấy bàn tay xây dựng để thành một nước mạnh, vươn mình lên thành con Rồng cùng các nước bạn ở vùng trời Châu Á.
Mẹ ơi! Bốn triệu người dân Việt rời đất mẹ bằng nhiều cách và lưu lạc khắp năm Châu, còn biết bao người đã bỏ thây ở rừng sâu hay biển cả.
Ngày nước nhà thống nhất, người anh em miền Bắc của chúng con không mở rộng trái tim đón lấy những người anh em miền Nam để cùng xây dựng lại quê hương. Sau những năm tháng dài nội chiến triền miên, mà người miền Bắc trả thù, gạt đi học 1 tháng mà bỏ tù nhiều năm, có người đến 14 hay 15 năm mới được thả về, chiếm lấy nhà cửa, bắt đi vùng kinh tế mới, phá luôn nghĩa địa của người lính niềm Nam, lấy hận thù làm phương châm cai trị.
Ngày 12 tháng 4 năm 1861, nước Hoa Kỳ hai miền Nam và Bắc cũng nội chiến, nhưng khi bên miền Nam đầu hàng ngày 9 tháng 4 năm 1865, vị tư lệnh miền Bắc là tướng Ulysses. S Grant ra lệnh nghiêm cấm các sĩ quan và binh sĩ trực thuộc không được tỏ ra bất cứ hành động nào vô lễ với tướng Robert E. Lee tư lệnh miền Nam bại trận.
Lá cờ rách của miền Nam thua trận treo tại thủ đô RICHMOND bây giờ là bảo vật hào hùng của bảo tàng viện hàng đầu, ở Mỹ coi hình ảnh tướng Lee của niềm Nam là một vị anh hùng.

Trả lại đây cho nhân dân tôi
Quyền tự do, quyền con người
Quyền được nhìn, được nghe, được nói
Quyền được chọn chân lý tự do
Quyền xoá bỏ độc tài độc tôn.
..........
Trả lại đây quyền chính đáng của người dân
Dân biết chọn gì cho mình
Cho thái bình non nước VIỆT NAM.
(Bài hát Trả lại cho dân, tác giả Duy Quốc Nam)

Thế hệ thứ nhất bỏ nước ra đi nay đã già, nhưng mẹ ơi! Càng già thì càng nhớ quê hương hơn, nhớ đất mẹ quay quắt, chúng con mong một ngày quê nhà được thanh bình tự do, chúng con về lại làng quê xưa, bà con đón chào, muôn chim reo vui, đêm trăng quay quần ca hát bên ánh lửa hồng, đi trên cánh đồng lúa xanh tươi ngửi được mùi thơm của lúa, nghe lại tiếng hát câu hò của trai gái vào mùa gặt, được ăn lại những món ăn thơm hương tình ruộng đồng.
Thế hệ thứ hai chúng con thật giỏi đã từng làm vẽ vang Dân Việt ở nhiều nước trên thế giới về nhiều lĩnh vực.
Thế hệ thứ ba cũng bắt đầu có một số trưởng thành, đây là thế hệ tương lai rực rỡ, thế hệ được sanh ra ở những quốc gia tự do đủ điều kiện tinh thần và vật chất, các môn học được mở rộng đủ mọi lãnh vực thêm vào sự chỉ dạy và hướng dẫn của thế hệ thứ nhất và thứ hai. Đó là những chất xám được đào tạo mọi nơi trên thế giới. Những bàn tay của thế hệ thứ 2 và thứ 3 mà cùng nắm tay với những bàn tay của dân trong nước, để xây dựng đất mẹ thì quá tuyệt vời.
Nhưng mẹ ơi, ngày mơ ước chưa đến, tuổi đã già chúng con làm được gì đây?
Những học sinh lớp ba đều biết nước Việt Nam hình cong chữ S, giang sơn từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau. Lời của Phi Khanh sao vẫn còn thoảng thốt đâu đây nhưng than ơi!

Ải Nam Quan đã mất rồi.
Ải Nam Quan ơi ta đã mất tên em
Như một phần hồn tự nghìn năm
Lòng ta đau như ai đem dao
Xé nát da non cứa trên thịt da.
.........
Ai đem hình hài
Giang sơn đọa dày
Cho thân lìa cành
Cho cây lìa đất
Cho ta lìa cội
Như sông bỏ nguồn
(Bài hát Vọng Nam Quan, tác giả Phan văn Hưng và Nam Dao)

Đất mẹ từng bị thải nhiều chất độc từ các nhà máy của người Tàu, ở khắp cả ba miền Bắc Trung Nam, rừng đã bị đốn cây không còn một màu xanh nữa, những loài thú hiếm tuyệt chủng, mùi hương của những loài hoa rừng không còn giống để tỏa hương thơm, đất ruộng đã nhiễm độc thành màu đen xám, biển xanh ngày nào nay đã nhiễm độc cá chết nỗi lên trắng biển, cánh đồng lúa mênh mông không còn mùa gặt lúa, vắng tiếng câu hò giọng hát ngày nào.

Trường sa là máu của ta
Hoàng sa là thịt của ta
Đất nước ta là xương là máu ông cha để lại
Quân bành trướng đừng mong xâm lấn
...........
VIỆT NAM nòi giống Lạc Long
Cùng nhau thề nguyền ĐỒNG TÂM
Quyết đứng lên dựng xây TỔ QUỐC thân yêu TRƯỜNG TỒN.
(Bài hát Phải lên tiếng, tác giả Anh Bằng)

Mẹ ơi! Trường sa và Hoàng sa đã về tay giặc Tàu, đây là người anh em miền Bắc của chúng con ký tặng. Đất là nơi thiêng liêng của tiền nhân để lại, đâu phải là của riêng mà người anh em miền Bắc có toàn quyền, nay những dân Việt ra biển đánh cá bị Tàu Cộng đánh chìm, bắt hay giết chết.
Mẹ ơi! Năm 1284 khi quân Nguyên bên Tàu qua muốn xâm chiếm nước Việt, Thượng Hoàng Trần Thánh Tông triệu tập các bô lão HỘI NGHỊ DIÊN HỒNG hỏi ý toàn dân.

Trông quân Nguyên tàn phá non sông nhà.
Đoạt thành trì toan xéo giày lăng miếu
Nhìn bao quân Thoát lan xâm tràn nước ta
Ôi sông núi nhà rền tiếng muôn dân kêu la!
Trước nhục nước nên hòa hay nên chiến?
Quyết chiến!
Trước nhục nước nên hòa hay nên chiến?
Quyết chiến!
Quyết chiến luôn
Cứu nước nhà
Nối chí dân hùng anh
Thế nước yếu lấy gì lo chiến chinh?
Hy sinh.
(Bài hát Hội nghị Diên Hồng, tác giả Ý Phương, Nguyên Khang)

Mẹ ơi! Người anh em miền Bắc của chúng con quên lịch sử ? Quên những lần nước Tàu phương Bắc xâm lăng nước Việt và đã 1 ngàn năm đô hộ thật ác độc với con dân nước Việt rồi?
Đã dâng Trường sa ,Hoàng sa, Ải Nam Quan rồi.
Tại sao nay lại muốn dâng VÂN ĐỒN, BẮC VÂN PHONG, PHÚ QUỐC cho Tàu Cộng, đó là những địa điểm trù phú và trọng yếu của nước Việt, người anh em của chúng con cũng tập họp hội nghị, nhưng mẹ ơi, đó là hội nghị BÁN NƯỚC.
Chúng con đã khóc và cầu nguyện hồn thiêng sông núi nước VIET NAM, cầu nguyện Mẹ VIET NAM phù hộ cho nước VIỆT có tự do thanh bình, toàn dân ấm no, những người anh em đang ở trên đất mẹ hãy tỉnh ra và yêu thương VIET NAM thật sự, đừng cắt từng miếng thịt của Mẹ mà bán ăn, hãy dừng tay lại kẻo sau này mang tiếng đời đời là kẻ bán nước hại dân. Một đời người chỉ sống đến 1 trăm tuổi là hết, đừng để con cháu người anh em đó muôn đời nhục nhả không ngất đầu lên, không giám nhìn ai hết.

Trăm năm bia đá thì mòn
Nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.

Hôm nay ngày 10 tháng 6 năm 2018, chúng con 4 triệu người con VIỆT ở khắp nơi trên thế giới cùng với 93 triệu người VIỆT đang ở trên đất mẹ, cùng một lòng đứng lên biểu tình đòi người anh em đang lãnh đạo ở đất mẹ hãy dừng tay đừng bấm nút bán nước Việt cho giặc Tàu .

Hãy biết yêu quê hương VIET NAM
Hãy biết đau nỗi đau người dân
Ải Nam Quan, Hoàng Trường sa
Một ngàn năm giặc phương Bắc
Quê hương mình rồi sẽ ra sao?
Hãy biết yêu quê hương VIET NAM
Đừng thờ ơ, đừng làm ngơ
Triệu con tim, cùng bước tới
Chúng ta là dòng giống Lạc Hồng.
(Bài hát Triệu con Tim, tác giả Trúc Hồ)

Mẹ ơi, mẹ có nghe tiếng kêu của chúng con không? Mẹ có nhìn thấy những giọt nước mắt vui mừng chảy dài trên đôi gò má của đàn con mẹ không? Vì ngày hôm nay tất cả các nước trên thế giới có người trị nạn Việt Nam đều biểu tình cùng ngày với các tỉnh Bắc, Trung, Nam ở quê nhà. Chúng con những người xa quê cùng những người dân ở nơi quê nhà đã đoàn kết lại cùng nắm tay nhau một lòng dành lại độc lập cho Việt Nam.

Xin mẹ hãy yên lòng chúng con vẫn còn đây.
Anh em ơi xin hãy làm ánh đuốc
Trong đêm trường sáng soi nẻo đường quê hương
Đêm thâm u đêm ngục tù non nước
Cháy bùng lên lửa cương quyết phá tung gông xiềng.
.........
Sáng trong gió mưa mịt mùng
Sáng trong bão giông trùng trùng
Lửa thiêng hỡi bùng lên trong lòng nước tôi
Anh em ơi xin hãy làm ánh đuốc.
(Xin hãy làm Ánh Đuốc, nhạc Nguyệt Ánh)
Hãy biết yêu Quê hương VIET NAM
Hãy đứng lên cháu con Rồng Tiên.

Phòng Trực
08-14-2018, 02:44 PM
Thiện Tri Thức
Diệu Ngọc


Bài này ghi lại một câu chuyện thật nhưng tên các nhân vật đã được đổi khác. Tuy nhiên nếu có một trùng hợp nào thì đó là ngoài ý muốn của người viết. (D.N)

- Ê! Bắt gặp tại trận có người đang hái hoa lén.....
Tôi giựt mình quay lại, Ðạt đã đứng đó tự bao giờ... Tôi cười chữa thẹn:
- Xí !... Bộ người ta sợ lắm sao..?
Cả hai đứa cùng cười, Ðạt hỏi:
- Bữa nay nghỉ học, sao không theo Bác gái đi chợ ăn hàng mà còn ở đây hái hoa?
Tôi đáp:
- Bộ tưởng người ta hay ăn hàng lắm sao... Thôi, tôi về đây...
- Nói đùa chút cho vui, đừng giận... Ðây, cho thêm một cái bông hồng màu vàng đây... Chịu chưa...?
Tôi nhanh tay đón lấy cái hoa hồng vàng từ tay Ðạt rồi quay lưng bỏ đi về phía lan can giữa nhà tôi và nhà Ðạt để leo trở về nhà mà không nói tiếng nào....
Nhà Đạt và nhà tôi là hai căn phố lầu sát vách nhau, sân thượng nhà Đạt và sân thượng nhà tôi được ngăn ra bởi một hàng lan can bằng song sắt, tuy hơi cao nhưng tôi và Đạt vẫn thường bắt ghế leo qua lại không khó. Tôi và Đạt học cùng lớp, tuổi bằng nhau, nhà lại ở sát nhau nhưng chúng tôi không thân nhau lắm, dù Đạt nuông chìu tôi hết lòng...
Biết tôi thích bông hồng, Đạt đi xin ở đâu đó đem về mấy chậu bông hồng và cho quyền tôi leo qua cắt đem về cắm ở bàn học bất cứ lúc nào... Cho nên dù có mặt Đạt ở đó hay không tôi vẫn có thể hái hoa mà không phải e ngại. Có một lần tôi hỏi Đạt:
- Hôm qua thấy một cái bông hồng vàng sắp nở ở đây sao bây giờ đâu mất rồi?
Đạt cười:
- Cắt cho má Đạt cúng Phật rồi, hôm nay là ngày rằm mà....
Sau này có khi tôi nghĩ lại, lúc đó chúng tôi đều ở cái tuổi mười bốn, mười lăm mà sao Đạt đã mang vẻ... “một ông cụ non” vậy? Ít khi nào tôi thấy Đạt ra khỏi nhà để gọi là... đi chơi... mà bạn bè của Đạt thì chả mấy khi tôi thấy có ai đến với Đạt... Đi học thì thôi nhưng về nhà là ngồi riết ở bàn học, hoặc là nằm trên ghế xếp kê ở sân thượng say mê đọc sách.
Trái ngược lại, với tôi, tôi lại thích đi chơi, đi phố ăn quà, đi cinê, đi tắm biển, những lúc theo gia đình bạn đi picnic tận ngoài mấy cái đảo nhỏ ngoài khơi là tôi thích nhất. Hai chúng tôi tánh ý trái ngược nhau như thế cho nên việc học cũng... trái ngược! Đạt lúc nào cũng nhất lớp về tất cả các môn, ngoại trừ môn thể dục là hắn ta đứng bét mặc dù hắn cũng thuộc hạng lớn vóc. Còn tôi thì... trong số mười người đứng đầu trong lớp chả bao giờ có tên tôi!
Má tôi sợ tôi học hành thua sút bạn nên có nhờ một cô dạy kèm, một tuần ba lần, tôi ớn nhất là khi bà cô này họp lại với Bà vú của tôi, hai người cứ lấy gương “Cậu Đạt” ra mà... “lên lớp” tôi mãi không thôi. Mấy lúc như vậy tôi cứ nghĩ thầm là phải chi không có Đạt ở gần bên thì đâu có bị rầy như vậy! Nhưng khi nghĩ lại thì... có Đạt ở gần bên vẫn hơn, vì tôi còn có chỗ nhờ cậy khi làm bài không kịp để nộp hay bị bí về một bài nào đó... Có một lần tôi vô tình nghe được Bà vú nói to, nói nhỏ với cô dạy kèm cho tôi:
- Tội nghiệp cậu Đạt, nhỏ vậy mà có chí, ham học lại hiếu thảo với Mẹ... Hôm trước, tôi nghe bà Hai má cậu ấy nói cậu ấy muốn vô chùa ở, bà ấy khóc quá chừng, cậu Đạt là con trai duy nhất mà... Dễ gì bà ấy chịu rời ra... Tôi chưa có hỏi cậu ấy vô chùa để làm gì... Không lẽ cậu ấy còn trẻ vậy mà lại muốn đi tu...?
Dù sao thì khi nghe vậy tôi cũng nghĩ thầm... Ông cụ non đó đi tu là phải rồi... Thời gian rồi cũng qua nhanh, mới đó mà đã đến kỳ thi cuối cùng của những năm học dài lê thê của bậc Trung học....
Rồi những ngày thi đầy căng thẳng cũng đã qua đi... Bữa đi xem kết quả, tôi và đám bạn không ai ngạc nhiên khi thấy Đạt đã đậu với hạng ưu... Còn tôi, chỉ cần đậu là tôi mừng... Nhưng người mừng hơn tôi có lẽ là bà vú của tôi, còn má tôi lúc sau này đã về quê lo công việc làm ăn...! Tôi đi thi nhưng bà vú lo còn hơn tôi vì bà ấy đã lỡ nói... “Con mà thi rớt thì vú trốn luôn chớ không dám về quê nhìn mặt má con đó...” Cho nên khi đã biết kết quả kỳ thi bà hối thúc tôi chuẩn bị về quê để bà khoe thành tích với má tôi...
Tôi còn đang suy tính không biết có nên theo bà vú về quê nghỉ hè trước khi vào Sàigòn học tiếp hay không thì một tin... có thể nói là tin động trời do bà vú báo cho tôi biết: Bà Hai, Má của Đạt cho biết là Đạt sắp cưới vợ mà lại cưới gấp... Lúc đầu tôi tưởng là bà vú nói phỉnh tôi cho vui, nhưng khi hỏi lại thì đó là sự thật. Tôi nghĩ, còn một tuần nữa là làm lễ cưới thì chắc người ta đã trù tính lâu lắm rồi... Vậy mà mình ở sát một bên nhà lại không hay biết... Mà người Đạt sắp cưới làm vợ lại là Nga, người học cùng lớp với tôi và Đạt...
Đồng ý là tôi và Đạt lúc đó đã ở vào cái tuổi mà mấy bà má thường nói là tuổi có thể dựng vợ gã chồng được rồi nhưng sao người ta lại gấp rút vậy...! Cũng đồng ý là nhà Đạt thuộc hạng khá giả nhưng chưa có công ăn việc làm mà cưới vợ về ăn bám gia đình thì chắc chắn không phải là chuyện tốt, mà Đạt thì chả lẽ lại không biết điều đó?... Nhưng thắc mắc của tôi đã được bà vú giải tỏa sau đó vài ngày: Cô Nga đã có mang cho nên phải cưới gấp chớ không thôi thì cái bụng lớn lên càng khó coi và chắc chắn là không nên... Trước đó, có một thời gian tôi thấy hai người... có vẻ thân nhưng tính tình của Nga hoàn toàn trái ngược lại với Đạt, chắc vì vậy mà lúc sau này tôi thấy hai người không còn thân thiết như lúc đầu.
Nga là con của Bà Năm bán bánh canh ở con hẻm phía trong nhà tôi và nhà Đạt chừng một trăm thước, tôi và các bạn kể cả Đạt, cũng đều biết Nga thường đi chơi với mấy cô cậu con nhà có tiền, thường đi ăn, đi nhảy đầm, gần như những buổi dạ vũ của các Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân và Hải Quân bọn Nga đều có mặt... Có lẽ chính vì vậy mà thứ hạng của Nga trong lớp không khá lắm! Đám cưới Đạt diễn ra trong sự ngạc nhiên của tất cả bạn bè trang lứa, nhưng bà vú và cô giáo dạy kèm tôi thì thất vọng ra mặt.
Tôi nghĩ, vậy cho bà hết nói... “Cậu Đạt cao lớn đẹp trai, tính tình điềm đạm lại học giỏi” để lên lớp tôi... Như vậy trong cái việc Đạt cưới vợ có hai người hả dạ là Má Đạt và... tôi... Má Đạt thì mừng vì con trai của bà không còn lý do gì để đòi vô chùa nữa, còn tôi thì hả dạ khi thấy bà Vú và cô giáo bị Đạt làm cho.... quê độ....
Ngày mai là ngày cưới của Đạt, hôm sau tôi và bà vú sẽ về quê, tôi đã có nói với bà vú nhắn tin về cho má tôi hay là chờ dự đám cưới Đạt xong rồi chúng tôi sẽ về. Tôi dự định sẽ ở suốt ba tháng hè với má tôi vì khi tôi đã vào Sàigòn rồi thì có lẽ phải lâu lắm mới về thăm được. Dĩ nhiên, cho dù tôi đi đâu thì nếu má tôi không bảo bà vú cũng sẽ tự nguyện theo sát một bên để làm... “thần hộ mạng” cho tôi. Nói gì thì nói, vú gần gũi tôi nhiều hơn má tôi cho nên tôi thương vú như thương má tôi không khác...
Chiều đó tôi lên sân thượng đưa mắt nhìn bâng quơ qua sân thượng nhà Đạt thì... Ô kìa, “cậu Đạt” vẫn nằm trên ghế xếp đọc sách như không có chuyện gì.Tôi thật bái phục con người điềm tỉnh quá mức đó. Ngày mai đám cưới mà bây giờ còn có thể bình tỉnh để đọc sách, kể cũng lạ!
Năm tháng trôi qua... Trai lớn lên thì cưới vợ, gái lớn lên thì lấy chồng... Ngày cưới của tôi, tôi không mời được Đạt vì khi đó má Đạt đã theo người chị lớn của Đạt về sống ở ngoại ô thành phố. Còn Đạt đã dời đi nơi khác trong thời gian tôi ở xa, nhà Đạt bây giờ do người cậu của Đạt ở, tôi và Đạt không còn liên lạc nhau.

Sau này, khi có dịp về lại ngôi nhà cũ, tôi thường ra sân thượng để ngắm trăng và nhớ lại những ngày thơ ấu, trong đó có tôi và Đạt... Rồi nhớ lại chuyện đám cưới Đạt, thật là một bất ngờ cho mọi người. Quả thật, trên đời thường có những việc xảy ra mà chúng ta không thể ngờ được mà tôi thì hay gặp phải những bất ngờ như vậy!
Rồi mấy năm sau, trong một dịp nghỉ phép, tôi dẫn con về quê chồng để thăm ba má chồng tôi, lại đúng vào dịp lễ Vu Lan, rằm tháng bảy. Sau một hồi hàn uyên tâm sự má chồng tôi bảo:
- Ngày mai sẽ có một buổi thuyết pháp ở chùa, con có muốn đi đến đó để nghe với má không? Tôi chưa kịp đáp thì bà tiếp:
- Ở chùa gần nhà mình bây giờ có một ông thầy đi học Phật từ Ấn Độ mới về, ông ấy còn trẻ mà giảng pháp hay lắm, ai cũng thích nghe, má đã được nghe mấy lần rồi, sẵn dịp rằm tháng bảy, ông ấy thuyết giảng về Vu Lan, hai mẹ con mình đi nghe cho biết.
Tôi đáp nhanh:
- Dạ, ngày mai con đi với má.
Đường từ nhà đến chùa không hơn nửa tiếng đồng hồ đi bộ, nhưng tôi nghe bà nói ở chùa có một cái hồ sen rất to, tôi ngỏ ý muốn đi sớm để ngắm sen nở trong hồ vào buổi sáng. Tôi tưởng tượng, còn gì đẹp cho bằng những cánh sen màu trắng tinh anh với nhụy vàng điểm mấy hạt sương còn lung linh đọng... Hai mẹ con tôi tới chùa thì mặt trời chưa lên khỏi ngọn cây, vừa qua khỏi cổng chùa tôi đã sửng sờ vì một vườn hoa hình tròn, đủ các loại, hoa hồng, hoa cúc, hoa lài, hoa thược dược, hoa huệ... v...v... mà cây nào cũng trĩu nặng với những chùm hoa đã nở hết độ, như thi nhau khoe sắc để mong được cắt dâng lên cúng Phật.
Tánh tôi đã mê hoa nay nhìn thấy một rừng hoa, tôi mê mẫn, hết vuốt đóa hồng nhung đỏ thẫm đến nâng niu cành huệ với những búp hoa to làm oằn nhánh. Đi vòng theo con đường lát gạch chung quanh vườn hoa để vào sân chùa, sát mặt tiền chùa là một khoảng sân rộng lát gạch đỏ đã rêu phong với thời gian, người ta chưng bày những con thú được uốn bằng cây kiểng thật to, thật đẹp và rất sống động. Ngoài những khóm hoa đang khoe sắc rực rỡ ở mặt tiền, hơi chếch về bên phải là một cái hồ rất rộng toàn hoa sen.
Giữa hồ sừng sửng một tượng Phật Bà Quan Âm màu trắng thanh thoát đứng trên một hòn non bộ, soi mình trên mặt nước hồ sen trong như gương. Có lẽ hòn non bộ này cũng có tuổi bằng với ngôi chùa cho nên trên những gộp đá đã phủ màu xanh rong rêu, từ xa nhìn không khác cảnh thật với những tượng đá nhỏ xinh xinh mang hình ngư, tiều, canh, mục. Trước một rừng sen trắng đang phơi mình trên mặt hồ, tôi không còn để ý đến má chồng tôi đang đi nhanh vào hậu điện vì có ai đó đang vẫy tay gọi.
Còn hơn một tiếng đồng hồ nữa mới đến giờ thuyết pháp cho nên tôi có quá nhiều thì giờ để đi vòng quanh hồ, hết ngắm cái hoa này lại nhìn cái hoa khác, rồi nhìn toàn cảnh ngôi chùa. Cảnh trí quanh đây có vẻ tịch mịch và trang nghiêm làm sao... Vì đây là một ngôi chùa cổ, cổng tam quan và tiền đình chùa được chạm trổ những hoa văn và hình tượng của lối kiến trúc xa xưa. Đặc biệt là chùa tọa lạc trên một khu đất thật rộng, hai bên hông chùa người ta trồng đủ loại cây ăn trái. Nằm cuối về phía sau còn có một nơi có thể gọi là cái nghĩa trang nho nhỏ với năm bảy ngôi mả đá được quét vôi trắng. Có lẽ là nơi an nghỉ của các vị sư đã có công lập nên ngôi chùa này từ thời xa xưa.
Tôi còn đang miên man ngắm nhìn những đóa sen trắng tinh anh đang bị cơn gió nhẹ buổi sáng làm lung lay trên mặt hồ thì bổng giựt mình vì mấy tiếng chuông vang lên từ chánh điện, tôi đi vội vào vì đoán đã đến giờ thuyết pháp, mọi người đã ngồi đâu vào đó.
Vì lạ người lạ chỗ, tôi đang đứng xớ rớ ở phía sau thì nghe tiếng má chồng tôi gọi, tôi nhón chân lách người đi lên phía trước để ngồi gần bà. Bà chưa kịp giới thiệu tôi với một bác ngồi kế bên có lẽ là quen thân với bà thì bỗng mọi người im tiếng và đồng loạt đứng lên. Tôi đứng dậy và ngước mắt nhìn lên kịp lúc thấy một vị sư từ trong hậu điện bước ra trong dáng điệu thật khoan thai. Tôi trố mắt:
- Ô kìa... sao lại là Đạt?
Vị sư trẻ vóc dáng cao to với gương mặt trắng hồng đang đứng vào phía sau bục thuyết trình, tươi cười chào đám đông, đó không phải là Đạt thì ai vào đây? Vừa lúc đó thì Đạt cũng trông thấy tôi, mặc dù cố trấn tỉnh trước đám đông nhưng trên gương mặt Đạt tôi đọc được sự ngạc nhiên bất ngờ. Phải rồi, Đạt làm sao ngờ được tôi từ miền Trung xa xôi đã lưu lạc đến tận xứ sở của sông Tiền sông Hậu này. Có lẽ Đạt cũng thấy được vẻ ngạc nhiên của tôi cho nên Đạt nhìn tôi cười thật nhẹ mà tôi nghĩ, ngoài tôi không ai nhận ra được Đạt đang cười với tôi. Không ngạc nhiên sao được vì gần mười năm trước tôi đã dự đám cưới Đạt và vợ Đạt đã có mang trước khi cưới rồi cơ mà... Mặt đối mặt mà trong lòng tôi còn ngờ.
Đạt đang đứng trên bụt giảng trước mặt tôi uy nghi đạo mạo đúng là dáng dấp của bậc chân tu. Với cái dáng dấp đó tôi sẽ không đủ can đảm để xưng hô bằng hai tiếng “tôi” và “Đạt” như thường tình trong thế tục ngày nào, mà một sự kính trọng lẫn thân thiết từ đâu chợt dâng lên trong lòng, làm tôi đã không ngượng miệng mà xưng hô hai tiếng “Thầy” và “con” khi Đạt tiếp tôi trong văn phòng cũng là phòng tiếp khách của Đạt sau thời giảng pháp.
Đầu óc tôi còn đang chật cứng bởi những hình ảnh thời xa cũ thì tiếng Thầy vang lên kéo tôi về với hiện tại. Vì bây giờ là mùa Vu Lan nên Thầy giảng và nhắc nhở các Phật tử về công ơn của các đấng sinh thành. Thầy giảng về gương hiếu thảo của ngài Mục Kiền Liên và những lời Phật dạy về phương cách báo đáp ơn dưỡng dục của cha mẹ khi cha mẹ còn tại thế cũng như khi đã quá vãng... Lời Thầy rõ ràng, mạch lạc, dễ hiểu nhứt là những thí dụ Thầy đưa ra thật gần gũi với đời sống hiện tại, ai cũng có thể hiểu được một cách dễ dàng.
Trong thời đại này, do nhu cầu tiện nghi vật chất, do tập quán xã hội đương thời, người ta mãi bon chen vì danh, vì lợi mà có thái độ quá hời hợt về những gì gọi là hiếu kính ông bà, cha mẹ....
Tiếng Thầy vang lên thật trầm ấm, dễ lôi cuốn người nghe. Rồi trong một phần của bài giảng, Thầy có đề cập đến “Phép lễ lạy sáu phương” trong đó ý nghĩa của lễ lạy hướng về phương Đông là để lễ kính, tưởng nhớ đến công lao dưỡng dục của các đấng sanh thành. Vì phép “Lễ lạy sáu phương” không phải là chủ đề chính của buổi thuyết pháp hôm nay cho nên Thầy chỉ nói phớt qua mà tôi hiểu và còn nhớ đại ý là: Khi còn tại thế, có một lần Phật dạy cho một thanh niên Bà- La-Môn về ý nghĩa của “Sáu phương lễ lạy”...
Lễ lạy phương Đông là để lễ kính, tưởng nhớ công ơn của cha mẹ;
Phương Nam là Thầy dạy;
Phương Tây là vợ con;
Phương Bắc là bạn bè;
Phương dưới là những người lao công và phục vụ cho mình;
Phương trên là hàng Tu sĩ, các bậc xuất gia. Thầy nhấn mạnh, lễ lạy Phương Đông không có nghĩa đơn thuần là quay mặt về phương Đông mà làm lễ, lễ lạy về hướng Đông là để nhắc nhở chúng ta về cách đối xử có đạo đức đối với cha mẹ...
Kinh dạy, con cái đối với cha mẹ phải chu toàn những bổn phận như: Nuôi dưỡng cha mẹ chu đáo; giữ gìn tốt gia phong và truyền thống gia đình; làm tròn bổn phận đối với cha mẹ; giữ gìn, bảo quản, không phung phí tài sản do cha mẹ để lại; khi cha mẹ qua đời, cử hành tang lễ cho chu đáo. Đối lại, cũng theo trong kinh Phật dạy, cha mẹ cũng có bổn phận và trách nhiệm đối với con cái, dạy dỗ cho con biết điều thiện lẽ ác, khuyến khích làm điều tốt, ngăn chận không cho làm điều xấu, ác; hướng dẫn con học nghề để nuôi thân; cưới vợ gả chồng khi con đã khôn lớn....
Lễ phương Nam là để nhắc nhở chúng ta cách đối xử có đạo đức với các bậc thầy dạy của mình, gặp Thầy chào hỏi một cách nghiêm trang, kính cẩn; phục vụ Thầy hết lòng nếu cần; siêng năng học tập để không phụ lòng Thầy...v...v... Ngược lại, Thầy cũng phải có bổn phận và trách nhiệm đối với học trò, đem hết kiến thức của mình tận tình trao truyền cho học trò; dạy cho học trò biết sử dụng kiến thức đó một cách có lợi; Cố gắng chỉ dẫn tận tình cho học trò thực hành thật tốt những nghề đã học..v...v.
Lễ phương Tây là để nhắc nhở chúng ta về cách đối xử có đạo đức giữa vợ chồng: Bổn phận làm chồng phải biết tôn trọng vợ, không nên tỏ ra bất kính đối với vợ; để cho vợ nắm giữ quyền hành trong nhà; trung thành, chung thủy với vợ v.v... Ngược lại, người vợ cũng phải làm hết bổn phận của mình đối với chồng; Đối đãi tốt với bà con họ hàng nhà chồng; giữ gìn tốt tài sản; trung thành, chung thủy với chồng; hoàn tất công việc nội trợ một cách tốt đẹp v.v...
Lễ phương Bắc là để nhắc nhở chúng ta về cách đối xử với bạn bè: Đã là bạn bè thì phải biết hổ tương đối đãi nhau cho có đạo đức như bố thí, giúp đỡ bạn khi cần; nói với nhau bằng những lời ôn tồn; làm mọi việc có lợi cho bạn; không lường gạt bạn; khi gặp hiễm nguy không né tránh; kính trọng gia đình bạn v.v...
Lễ lạy phương dưới cho đúng cách là khi lễ lạy chúng ta phải nhớ cung cách đối xử có đạo đức với kẻ làm công, phục vụ cho mình chẳng hạn như: Khi giao công việc phải tùy theo sức cáng đáng công việc của người làm; tạo điều kiện ăn uống thích hợp, công bằng, trả tiền công hợp lý; biết chia xẻ vui buồn v.v... Ngược lại đối với người làm công phục vụ cho người khác cũng phải biết khéo làm mọi công việc được giao phó; giữ gìn thanh danh cho chủ; thức dậy trước khi chủ thức, đi ngủ sau khi chủ đã ngủ v.v...
Sau hết lễ lạy phương trên là để nhắc nhở chúng ta về phép đối xử có đạo đức với các vị đã xuất gia, tu hạnh xuất thế gian: Các hành động nơi thân, lời nói và ý nghĩ phải thể hiện bằng lòng từ; đem hết lòng thành hiến dâng những vật dụng cần thiết để cúng dường... Ngược lại các bậc xuất gia cũng có những bổn phận đối với mọi người như: Ngăn chận, khuyên răn không làm điều ác; khuyến khích làm điều thiện; thuyết pháp bằng tâm từ bi; chỉ bày phương pháp tu tập v.v...
Buổi thuyết pháp được chấm dứt, bằng những câu hỏi do các Phật tử đưa ra, phần lớn đều liên quan tới Vu Lan và Báo Ân. Thầy đã trả lời một cách thỏa đáng và dễ hiểu làm mọi người rất hài lòng. Sau đó Thầy thay mặt nhà chùa mời các Phật tử xuống trai đường dùng cơm chay. Mọi người lần lượt đi xuống trai đường, tôi nôn nóng muốn hỏi thăm Đạt nhiều điều nên đã cố tình trì hoản để được đi sau cùng và Đạt hình như đã hiểu được nên bước về phía hai mẹ con tôi. Tôi chấp tay cúi đầu chưa kịp lên tiếng chào trước thì Đạt đã nhanh miệng:
- Không gặp lâu quá mà trông chị không thay đổi gì nhiều...
Tôi lật đật cắt ngang lời Đạt để giới thiệu:
- Đây là bà nội của mấy cháu....
Cả má chồng tôi và Đạt đều ngạc nhiên nhìn tôi, Đạt cười vui:
- Không ngờ Bác đây lại là chỗ thân tình...
Má chồng tôi cười:
- Vậy cũng là chỗ quen biết, cũng may, tôi rủ nó đi nghe pháp chớ nếu không thì nó đâu có biết Thầy đã về đây...
Đạt hướng mắt về phía sau và nói:
- Mời Bác và chị xuống trai đường dùng cơm chay rồi mời chị lên văn phòng sẽ nói chuyện nhiều.
Tôi và má chồng tôi cúi đầu chào Thầy rồi bước xuống trai đường...

Vì hôm nay là ngày lễ lớn, Phật tử các nơi trong vùng tựu về chùa rất đông cho nên trai đường không đủ chỗ ngồi cho mọi người, hai mẹ con tôi lại vào sau cho nên... mỗi người một dĩa bưng ra ngồi ở các băng ghế đá trong vườn sau chùa cùng với một số người khác, ngồi dưới các bóng cây càng mát chớ có sao.
Tuy trong lòng đang có nhiều thắc mắc về Đạt nhưng tôi cũng còn thưởng thức được bữa cơm chay thật ngon, mẹ chồng tôi thì tỏ ra rất quý Thầy, luôn miệng tán thán Thầy, trẻ mà rất đạo mạo, học cao hiểu rộng nhưng tánh tình rất xuề xòa, gần gũi giúp đỡ Phật tử tận tình.
Tôi kể cho bà nghe về tuổi thơ của tôi và Đạt... Sau bữa cơm mẹ chồng tôi bảo:
- Con đi gặp Thầy, má cần bàn một số công việc với mấy bà trong bếp...
Cửa văn phòng không đóng cho nên vừa thấy tôi Đạt cười và bảo:
- Mời chị vào đây...
và ra dấu cho tôi ngồi xuống chiếc ghế duy nhất trước bàn viết của Đạt. Căn phòng chưng bày đơn giản như tính tình của Đạt mà tôi biết ngày xưa, ngoài cái tủ kinh sách và cái bàn viết chỉ có một cái bàn nhỏ đủ để một khay trà và một bình bông nho nhỏ mà ai đó vừa mới thay mấy cành hồng. Chỉ có một chiếc ghế duy nhứt dành cho khách mà tôi đang ngồi, tôi biết Đạt ít tiếp khách ở đây, tính Đạt là như vậy, Đạt thích đến với người ta hơn là chờ người ta tìm đến với Đạt. Sau một hồi xã giao, Ðạt như đọc được ý nghĩ của tôi, Ðạt nhìn tôi cười nhẹ và nói lại điều mà Đạt đã nói khi nãy:
- Chị thật không thay đổi gì... dù đã có gia đình, có cháu bé rồi, mà tánh vẫn nóng nảy như xưa. Nhìn chị, tôi biết chị ngạc nhiên và nóng lòng muốn biết về chị Nga lắm phải không?
Nghe Đạt nói tôi nghĩ thầm: Sao lại là “chị Nga” ? Hồi trước Đạt cưới Nga, tôi có dự đám cưới mà? Nhưng tôi không phải thắc mắc lâu vì Đạt đã nói tiếp:
- Chị thắc mắc cũng phải thôi, vì tôi không tiết lộ cho ai biết kể cả má tôi làm bà già giận và buồn tôi không ít.
Thình lình Đạt hỏi:
- Chị có còn nhớ anh Trí không? Tôi gật đầu và nói:
- Có phải anh chàng Trí ưa lái xe jeep mỗi chiều thường đến cổng trường, tụi này thường quở cái mặt anh chàng có vẻ như đểu đểu đó không ?....
Đạt đưa tay chận tôi: - Chị không nên xét đoán bề ngoài...
Tôi tự mĩm cười với chính mình với cái ý nghĩ rằng không hiểu sao từ hồi còn nhỏ cho đến bây giờ, đối với Đạt, lúc nào tôi cũng cảm thấy bị lép vế. Đạt có thể “rầy” tôi bất cứ lúc nào... Chợt có tiếng con chim sâu ríu rít trên cây mận ngoài kia, Đạt đưa mắt mông lung nhìn ra cửa sổ như cố nhớ lại dĩ vãng và kể tiếp:
- Hồi đó anh Trí và chị Nga thương nhau, chị Nga đã có mang với anh Trí gần hai tháng rồi mà gia đình anh Trí lại nhứt quyết không chịu cưới chị Nga cho anh Trí... Chị cũng biết mà, tánh tình như chị Nga thì mấy ông bà già đời nào lại chịu cưới về làm dâu. Chuyện còn chưa giải quyết được thì má chị Nga lại lâm bệnh nặng, nếu bà biết được con mình vừa thi rớt, vừa có mang thì sợ bà không chịu đựng nỗi, nên anh Trí và chị Nga có tìm tới và tâm sự với tôi, có ý nhờ tôi tìm cách giúp nếu để càng lâu thì không thể giấu. Vì dù sao thì tình bạn của tôi và chị Nga cũng còn đó và sở dĩ trước kia tôi kết bạn với chị Nga cũng chỉ vì muốn kéo chị ấy trở về với việc học, đừng chạy theo những người ham vui mà thôi... Sau khi nghe họ kể lể, không hiểu sao lúc đó tôi lại có cái ý nghĩ hơi ngộ nghĩnh là tôi sẽ làm đám cưới với chị Nga rồi sau đó sẽ giải quyết tiếp.... Tôi bắt hai người phải hứa chắc với tôi là phải cố gắng ăn ở với nhau... Đám cưới xong tôi đưa chị Nga vào Sài gòn còn anh Trí thì thu xếp với gia đình rồi xin thuyên chuyển vào sau. Riêng phần tôi thì tôi đã có chọn cho tôi con đường đi, cho nên khi chuyện của anh Trí và chị Nga tạm ổn, tôi vào chùa xin xuất gia... Tội nghiệp cho má tôi, tôi đã giấu bà.
Tôi chận lời Đạt:
- Sao Thầy...
Không cho tôi nói hết câu, Đạt đỡ lời:
- Chị đừng trách tôi, tôi nói là tôi giấu bà tức là tôi không nói chớ không phải là tôi dối bà, vì nếu phải nói thì tôi sẽ nói thật cho nên trong hai năm sau đó tôi chỉ liên lạc thơ từ chớ không về thăm. Còn chuyện tôi xuất gia, tôi cũng không tiết lộ vì tôi biết bà cứ nghĩ rằng nếu tôi xuất gia đi tu thì coi như bà đã mất tôi cho nên trong những lá thơ gởi về, tôi đã chuẩn bị tinh thần cho bà rất kỹ. Vậy mà bà cũng buồn và trách tôi nhiều khi tôi về thăm bà trước khi lên đường sang Ấn Độ để tu học... Sau đó có lẽ nhờ những lá thư dài của tôi từ Ấn Độ gởi về nên bà đã có thay đổi, đến khi tôi tốt nghiệp trở về thì bà đã không còn buồn nữa và bây giờ thì bà đã trường chay, sớm tối kinh kệ tại gia... Những dịp lễ Tết anh Trí và chị Nga thường đưa cháu Bảo Châu về thăm bà để tỏ lòng biết ơn đối với tôi... Nhưng chị cũng nên biết chuyện ơn nghĩa để mãi trong lòng không phải là một điều tốt...
Sau lần gặp lại đó, tự nhiên tôi cảm thấy gần gũi và kính phục Đạt hơn và cũng từ đó mỗi khi có dịp về thăm quê chồng là tôi đến Chùa lễ Phật và thăm Ðạt, tôi học hỏi ở Đạt thật nhiều. Chính Đạt đã mở cho tôi con đường tìm về với giáo lý Phật, đó là một thiện tri thức của tôi... Thời gian qua nhanh.... Tôi đã dẫn hai con trở về quê cũ ở miền Trung cũng được gần hai năm rồi... Về nhìn cảnh cũ tôi lại nhớ “Thầy Đạt” và những ngày xa xưa thì....
Bổng một hôm, sau khi đưa hai con đến trường trở về tới nhà tôi thấy có một người mặc quân phục đang đứng trước cửa nhà nhìn vào trong như đang tìm ai, tôi bước tới định hỏi “ông tìm ai” nhưng chưa kịp mở miệng thì người đó quay lại...
Tôi sững sốt, sao lại là Đạt? (Con người này mang lại cho tôi hết ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác.!!) Không để cho tôi ngạc nhiên lâu hơn nữa, Đạt lên tiếng trong khi cả hai chúng tôi đi qua cái sân nhỏ để vào nhà:
- Sẵn dịp đi công tác miền Trung, tôi ghé nhà thăm cậu thì cậu tôi nói chị đã về đây từ năm ngoái, tôi sang đây thăm chị...
Tôi mời Đạt vào nhà, tận tay đưa cho Đạt ly nước mát, tôi vẫn còn chưa hết ngạc nhiên và nghĩ thầm... Tướng Đạt cao lớn, mạnh khỏe lại đóng bộ quân phục với hai bông mai vàng óng ánh trên cổ áo, trông rất oai phong lẫm liệt, nếu mà không có cái đầu trọc có lẽ khối cô mê mết... Qua câu chuyện tôi biết được Đạt đã vào quân đội và là một Tuyên úy Phật giáo với quân hàm Trung úy. Lần này sẵn đi công tác ngang đây nên ghé thăm nhà. Vì vậy chúng tôi chỉ có đủ thì giờ hỏi thăm nhau qua loa rồi Đạt lại đi, Đạt có gởi lời thăm má chồng tôi, Đạt từ giả ra xe, Đạt đến và đi như một cơn gió thổi......
Việt Nam mấy tháng đầu năm 1975 là thời gian rất căng thẳng, ai cũng cảm thấy có một cái gì đó làm cho ngột ngạt, tình hình chiến sự thật bi đát như mọi người ở lứa tuổi của tôi đều biết nhưng đó không phải là đề tài của bài viết này cho nên tôi xin trở lại với thiện tri thức của tôi!
Trong lúc mà muôn người như một đều bị dằn vặt giữa hai tiếng “đi” và “ở” thì Đạt đã tìm tới thăm tôi, thời gian đó chồng tôi không mấy khi có mặt ở nhà vì anh cũng là một sĩ quan trong quân đội. Sau một hồi trò chuyện Đạt có hỏi tôi là gia đình tôi có tính chuyện gì không? Tôi hiểu ý Đạt cho nên tôi nói:
- Chúng tôi không có ý định ra đi, chồng tôi nói, anh đã từng sống ở nước ngoài nhiều năm nên anh thấy rằng sống ở đâu đi nữa, cho dù vật chất có thừa thải cũng không bằng sống trên quê hương của mình. Hơn nữa, nếu thật sự nước nhà có hòa bình thì lại càng nên ở lại để đem tài sức ra góp một tay xây dựng đất nước...
Đạt cũng tán đồng ý đó. Nhưng tiếc thay! Khi đất nước đã có hòa bình (cứ cho là như vậy) thì những tấm lòng yêu nước đặt không đúng chỗ, những trái tim có nhiệt tình với đất nước bị coi là những trái tim đập sai nhịp đó đã bị dồn vào những trại tập trung để trở thành những người tù không có bản án..!! Trong số đó có chồng tôi và Đạt.!..... Sau mấy tháng không nhận được tin tức của chồng, tôi bắt đầu lo và cũng bắt đầu tập nói láo như họ (VC) để nói với... các con, để an ủi chúng là ba chúng sẽ về.. sẽ về...!
Rồi vào một buổi chiều, có một người bộ đội VC đến gõ cửa nhà tôi, khi thấy tôi ra anh ta hỏi:
- Có phải chị là người nhà của Thầy Giác Không không? Tôi nói “phải” thì người bộ đội đó đưa cho tôi một gói giấy rồi lên xe đạp đi ngay... Tôi vội vã trở vào nhà mở ra xem, thì ra trong gói giấy đó có một hộp sữa đặc, nửa kí đường và mãnh giấy nhỏ có giòng chữ ghi vội: “Quà này cho hai cháu, có gặp ba của Bé lúc đi lao động bên ngoài, trông vẫn khoẻ”... như vậy rồi chấm hết... không biết có phải vì vội vàng hay vì bị ra điều kiện mà Đạt không cho tôi biết địa điểm để đi thăm, đó mới là điều tôi cần...? Cũng có thể Đạt sợ rằng nếu tiết lộ địa điểm rồi tôi sẽ nóng ruột rồi dẫn con đi thăm thì sẽ rắc rối....?
Quả thật, sáu năm sau, khi Thầy được thả về tôi có hỏi thì Thầy nói đó là vì lý do an toàn cho tôi nhứt là không gây nguy hiểm cho chồng tôi trong trại... và Thầy cũng cho biết Thầy đã “tặng” cho tên bộ đội cái đồng hồ đeo tay của Thầy nó mới chịu đem quà đi như vậy... Tôi trách Thầy sao không để lại mấy thứ đó mà dùng cho có chất bổ thì Thầy cười bảo:
- Các cháu cần hơn, ở nhà chùa tôi ăn chay quen rồi, vô tù cũng ăn chay ngày hai bữa cơm rau và ... nước muối, đâu có khác gì nhau nên tôi chịu được.
Ở trên tôi đã không nói sai chút nào là trong bất cứ hoàn cảnh nào Thầy đến với tôi Thầy đều đem cho tôi hết ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, từ chuyện cưới vợ giùm, chuyện đi tu, chuyện vào quân đội cho tới chuyện... người ở trong tù lại gởi quà thăm nuôi người ở ngoài...!!
Ngày Thầy đến thăm mẹ con tôi khi Thầy vừa ra tù, tôi đã mời Thầy ở lại dùng bữa cơm với ba mẹ con tôi. Thầy vui vẻ nhận lời nhưng tôi không nghĩ Thầy nhận lời vì câu nói của tôi:
- Nhà con cũng chỉ cơm rau chớ không có thịt cá gì cả... Thầy đã ở lại với ba mẹ con tôi cho đến chiều, Thầy dặn dò tôi đủ thứ, nghe Thầy nói mà tôi có cảm tưởng là tôi được Thầy ban cho một bài pháp...
- Đã là người con Phật, dù có đi chùa hay không có điều kiện để đi chùa cũng nên cố gắng giữ cho được năm giới, đó là căn bản, giữ được năm giới thì không khác nào có Phật ở bên mình.... Phải nhớ và coi câu niệm Phật là cái phao sẽ giúp mình trong mọi cảnh trái lòng....Phải dạy bảo con cái cho nghiêm, đừng vì chúng không có cha lúc này mà chiều chuộng con quá đáng sẽ tạo thói quen không tốt sau này.... Trong hoàn cảnh nào cũng phải chu toàn bổn phận làm con, làm dâu. Nhất là đối với bên chồng, đừng để người ta nghĩ rằng người ta đã mất con bây giờ lại mất dâu và mất cháu... Vắng chồng người vợ đau khổ một, chứ bậc cha mẹ đau khổ mười...Phải chung thủy và phải biết an ủi chồng, mang thân tù tội đã khổ rồi nếu gây thêm cái cảm tưởng bị vợ ruồng rẫy thì sẽ khổ đến bực nào.... Nhất là sau này khi anh ấy mãn tù về, hoàn cảnh xã hội đã đổi khác, cái oai hùng của một phi công khu trục không còn, anh sẽ có mặc cảm là người sống bên lề xã hội thì đừng gây tạo thêm cho anh ấy có cái mặc cảm anh ấy người sống bên lề gia đình...

Thầy nói rất nhiều, nghe Thầy nói mà xúc động trào dâng trong tôi và nước mắt tôi đã chảy ra khi nào tôi cũng không hay biết, nếu hai con tôi đi học chưa về tới thì có lẽ tôi sẽ để như vậy chớ không buồn lau nước mắt... Tôi cảm động quá... Thầy cho biết, vì hoàn cảnh của Thầy lúc này không trở lại chùa được cho nên mai này Thầy sẽ tìm một nơi vắng vẻ để mà tu, nếu có duyên thì sau này sẽ còn có cơ hội gặp lại nhau... Trước khi chia tay Thầy trao cho tôi một số tiền và nói là để tôi lo cho hai cháu. Thầy cũng cho biết đó là tiền của gia đình Thầy từ ngoại quốc chuyển về để Thầy làm phương tiện vượt thoát ra nước ngoài, nhưng Thầy vẫn không có ý định ra đi và Thầy cũng không cần phải giữ nhiều tiền bên mình. Thầy nói đùa:
- Làm thầy chùa mà giữ tiền chi cho nhiều.... Nhìn dáng Thầy thong dong bước ra khỏi cửa lòng tôi buồn vô hạn, tôi cảm thấy như có một cái gì trân quý đang rời khỏi tầm tay... Thế rồi từ đó về sau tôi không còn gặp lại Thầy hay nghe tin tức gì về Thầy.... Bây giờ thân mang cuộc sống ly hương có đủ điều kiện hằng đêm tới chùa tụng niệm rồi nghĩ về những điều Thầy đã dạy trước đây và lòng tôi vẫn còn bồi hồi khi nhớ đến Thầy.

Hôm nay ngồi ghi lại câu chuyện này để nhớ về một người bạn thời thơ ấu và cũng là một người Thầy lúc trưởng thành... Tôi thầm cám ơn Chư Phật, tôi nghĩ Chư Phật đã đưa duyên cho tôi để những lúc gặp cảnh trái lòng, khổ sở đến cùng cực đều có người tốt đến giúp đỡ và chỉ vẽ cho tôi giữ vững tinh thần đi đúng con đường của người con Phật.

Đối với tôi, Thầy Giác Không là một Đại Bồ Tát, đến hay đi không thấy dấu...
Diệu Ngọc
Mùa Đông Quý Mùi 2003

Phòng Trực
08-14-2018, 02:50 PM
VỀ MỘT NGƯỜI BẠN

Trương kim báu

Sau ba tháng nghĩ hè, hôm nay là ngày đầu tiên của niên học mới, sân trường nữ trung học Lê Quý Ðôn vang lên tiếng nói cười thật vui của các nữ sinh, gương mặt nào cũng lộ nét rạng rỡ nhưng hồn nhiên trong những chiếc áo dài mới màu trắng đồng phục. Họ đứng với nhau từng nhóm, chỗ này vài người, chỗ kia năm ba người họ tụm lại với nhau cũng chỉ để kể lại những vui buồn trong ba tháng nghĩ Hè vừa qua. Riêng đám nữ sinh mới nhập học trường này lần đầu, vì còn lạ cảnh lạ người nên họ tụ lại với nhau ở một góc sân...

Trường tôi có thông lệ là vào ngày tựu trường những người nào học trước thường ra đứng nhìn những người mới vào để chọn và kết nạp vào nhóm của mình...

Tình bạn là lá là hoa
Tình bạn là cả bài ca trên đời
Tình bạn trong sáng tuyệt vời
Đẹp hơn tất cả bầu trời ban đêm…(Phan Hạnh)

Ðang đứng cùng vài người bạn, tôi chợt để ý đến một cô bé nữ sinh mới, có mái tóc thề giống tôi, cũng cắt ngắn phía trước, đôi mắt thật to mặc chiếc áo dài trắng bằng hàng đắt tiền cắt thật khéo, ôm mấy quyển vở đứng dưới gốc cây phượng nhìn thiên hạ bằng cặp mắt dửng dưng không lộ một nét rụt rè như những người mới khác. Tôi nhìn cô bé mỉm cười và ra dấu cho hai bạn của tôi cùng bước tới để làm quen. Bất ngờ cho tôi, cô bé cũng mỉm cười đáp lễ đồng thời với một cử chỉ tinh nghịch, cô ta chỉ vào má mình và chỉ tôi.

Thoáng một giây các bạn tôi chợt hiểu ra và cười rộ lên và nói:
- Ðàn chị đã thua 1- 0 vì bị đàn em tấn công trước!
Thì ra cô bé này cũng quá quắt, đã để ý thấy tôi cũng có má lún đồng tiền nên ra dấu cho mấy người kia biết là tôi và cô ta giống nhau. Một người bạn tôi hỏi:
- Con nhà nào?
Cô bé đáp liền trước sự ngạc nhiên của tôi và các bạn:
- Trần Quý Cáp.
Một bạn tôi cười lớn:
- 2 - 0 (Thua một điểm nữa)
Tôi nói:
- Ðược lắm, vậy là ở cùng đường.

Tôi nghĩ, chỉ có chúng tôi với nhau mới hiểu được cái "mật khẩu" đó, sao cô bé này cũng biết? Hỏi vậy có nghĩa là hỏi đằng ấy ở đường nào? Cô Bé trả lời là đường Trần Quý Cáp và như vậy là cô ta đã biết về chúng tôi mà chúng tôi không biết gì về cô ta! Chả trách đã thua hai điểm không gở. Tôi và cô bé quen nhau từ đó...

Bạn bè là nghĩa tương tri
Có duyên gặp mặt mấy khi trong đời
Trên môi hé nở nụ cười
Sống vui, mạnh khỏe làm người nghĩa nhân. (Phan Hạnh)

Nhà Yến Nhi (tên của cô bé) và nhà tôi ở cùng một con đường cho nên sáng nào Yến Nhi cũng ra cổng chờ tôi đến cùng đi học, do vậy mà tình bạn giữa tôi và Yến Nhi càng ngày càng khắn khít hơn. Ở Yến Nhi tôi thấy có một cái gì đó thật đáng mến, Yến Nhi nhỏ hơn tôi hai tuổi nhưng trong nhà tôi ai cũng khen "Yến Nhi còn nhỏ mà tánh lại điềm đạm."

Thời gian qua mau, cái thơ ngây của tuổi hoa niên đã bị bỏ lại phía sau theo từng niên học... Ðối với chúng tôi, những ngày Hè bây giờ đã không còn là những ngày đuổi bướm hái hoa mà là những ngày dài của mơ mộng. Thật vậy, vì nếu nói không dối lòng thì không thể không công nhận rằng ở tuổi biết thẹn thùng thì người con gái nào cũng dệt cho mình những ước mơ, mơ về một người yêu lý tưởng, mơ về một mái ấm, mơ về một tương lai êm đẹp và cái tương lai đó cũng theo trí tưởng tượng mà thay đổi theo thời gian...

Trong cả những ước mơ ta không đơn độc
Có bạn thân bên cạnh cùng mơ
Cùng luận bàn về thời cuộc… ngây thơ
Cùng tưởng tượng bao điều ngốc nghếch
Cùng kể cho nhau câu chuyện không đoạn kết (Thụy Anh)

Sau năm học cuối cùng, tôi theo gia đình rời khỏi Nha Trang một thời gian khá lâu, bạn bè cùng lứa đã chia tay mỗi người mỗi ngã. Yến Nhi và tôi vẫn thư từ cho nhau nhưng bẳng đi một thời gian không còn nhận được thư của cô nàng. Lần này tôi về lại Nha Trang có ghé lại nhà của Yến Nhi khi xưa thì nhà đã đổi chủ.

Rồi trong một buổi chiều cuối tuần, tôi và một người bạn cũ đi trên đường dọc theo bờ biển, bỗng thấy một một chiếc vespa chạy vụt qua mà người ngồi sau là Yến Nhi, bất kể người đi đường nhìn tôi, tôi hét to:
- Yến Nhi.
Cô nàng ngoái cổ nhìn lại và vỗ nhẹ vai anh chàng đang lái xe, họ ngừng lại, tôi đi nhanh tới tay bắt mặt mừng với Yến Nhi. Vẫn nhanh nhẩu như ngày nào, Yến Nhi giới thiệu:
- Ðây là Quốc, ông xã của Yến Nhi là dân Không Quân.
Tôi cười gật đầu chào, Quốc cho biết Yến Nhi thường nhắc đến tên tôi, tôi nghĩ là Quốc nói thật vì sau đó chúng tôi kéo nhau vào một quán nước cạnh bờ biển và nói chuyện như là ba người đã quen nhau từ hồi nào, tôi chợt một thoáng nghĩ thầm:
- Ðúng là tiếng đồn không ngoa, mấy anh chàng phi công biết nịnh đầm quá, bảo sao
Yến Nhi không còn nhớ hai câu thơ cũ mà chúng tôi thường rỉ tai nhau:

Ðời phi Công không bao giờ chung thủy
Mỗi đường bay lỗi một cánh hoa yêu.

Thế mà chuyện đời đưa đẩy khó lường, hai năm sau tôi theo chân Yến Nhi gia nhập vào đại gia đình Không Quân, chồng tôi là dân bay khu trục, khác Phi đoàn với Quốc nhưng hai người gặp nhau hàng ngày.

Cho đến một buổi chiều, chồng tôi đón tôi đi làm về và báo cho biết Quốc đã tử nạn hồi xế chiều, vì một phi vụ yểm trợ quân bạn trong trận đánh ở phía Tây-Bắc Nha Trang. Chuyện vừa mới xảy ra, còn quá sớm nên Ðơn vị chưa sắp xếp đề cử người đến báo tin cho gia đình.

Tôi vội đến nhà Yến Nhi, thấy có vài người bạn gái ở đó, tôi cứ tưởng là họ đã hay tin nên đến để an ủi Yến Nhi, nhưng.... Khi thấy tôi bước vào cửa Yến Nhi vội kéo tay tôi phân trần:
- Mấy bà này đòi ăn cơm mà không cho Yến Nhi hay trước nên đành phải chia nhau cơm cháy ở đáy nồi thôi, còn phần cơm nạt thì để dành cho anh Quốc đi bay về ăn, không ai được đụng tới.

Không dám để cho nước mắt tôi trào ra, làm sao tôi có đủ can đảm tiết lộ cho Yến Nhi biết là Quốc sẽ không trở về nữa, anh đã ra đi vĩnh viễn rồi và chỗ anh đến là một nơi bình yên tuyệt đối.

Cái chết ấy chỉ là biến hình đổi dạng
Từ cảnh nầy sang cảnh khác vui đau
Vòng quẩn quanh biến thái mãi ra vào
Chỉ chấm dứt khi nào tâm hết vọng (T. Phước Thái)

Hôm đám tang Quốc, Yến Nhi không khóc trước mọi người nhưng sau này khi vào làm cùng ngân hàng với tôi, thấy chồng tôi ra đón tôi lúc tan sở, dù Yến Nhi cố giấu nhưng tôi vẫn thấy hai mắt Yến Nhi long lanh ngấn lệ. Có lẽ hình ảnh của chồng tôi đã gợi cho Yến Nhi nỗi nhớ về Quốc. Từ đó hai vợ chồng tôi đành hẹn nhau đón đưa ở một tiệm sách của người bà con gần đó.

Thời gian là liều thuốc tiên có khả năng xoá đi mọi nổi nhớ, niềm đau nào rồi cũng phôi phai dần theo ngày tháng. Sự đau buồn càng ngày càng vơi dần thì nét đẹp trên gương mặt Yến Nhi càng ngày càng rực rỡ, cái đẹp già dặn chín mùi của người con gái một con đã làm điêu đứng những anh chàng đồng nghiệp, nhưng Yến Nhi đã thản nhiên trước những ong bướm chực chờ đón đưa, Yến Nhi đem hết tình thương dành riêng cho cháu Tuấn, đứa con trai duy nhứt mà Quốc đã để lại, càng lớn nó càng giống Quốc như khuông đúc.

Nơi này em hứa với anh
Em đây sẽ mãi như cành hoa tươi
Mặt môi luôn nở nụ cười
Để anh yên nghĩ phương trời không em... (Linda Nguyễn)

Rồi cơn bảo 30 tháng 4 năm 75 ập đến thình lình làm tan tác bao gia đình quân nhân công chức, số phận của chúng tôi cũng nổi trôi theo vận nước, bỏ nhà cửa, quê hương di tản vào Sài gòn, rồi chồng đi tù bỏ lại mấy mẹ con bơ vơ. Tôi may mắn được lưu dụng tại Sài gòn nhờ chuyên môn, Yến Nhi được lịnh trở về nhiệm sở cũ ở Nha Trang.

Ba năm sau, năm 1978, tôi gặp lại Yến Nhi ở chợ trời Sài gòn, chúng tôi ôm nhau mừng đến chảy nước mắt, Yến Nhi cho biết khi về lại nhiệm sở cũ "Ban giám đốc cách mạng" hay lấy lý do "Yến Nhi là vợ ngụy" để phê bình kiểm điểm, nói nặng nhẹ đủ điều nên Yến Nhi đã tự ý bỏ sở làm, cũng may là Yến Nhi đã gởi cháu Tuấn cho gia đình bà chị ruột dẫn đi vượt biên rồi. Tôi ngạc nhiên, hỏi sao Yến Nhi không đi? Thoáng một chút bâng khuâng Yến Nhi đáp: "Yến Nhi không thể bỏ mẹ lại một mình trong cảnh không bà con họ hàng thân thuộc này..."

Con đi khắp chân trời góc bể
Ân tình nào sánh xuể mẹ yêu
Nghĩa dày độ lượng bao nhiêu
Có trong lòng mẹ sớm chiều bao dung. (Đặng Minh Mai)

Chúng tôi hàn uyên tâm sự với nhau một hồi thì tôi phải đi vì có hẹn, chúng tôi từ giả nhau sau khi đã trao cho nhau địa chỉ nhưng mà cho thì cho vậy chớ lúc đó ai trong chúng tôi cũng sống cuộc sống bắp bênh biết chỗ nào là chỗ ở chắc chắn cho mình!

Chuyện bất ngờ xảy ra vào hôm tôi dẫn hai con ra Vũng Tàu tham gia vào một chuyến vượt biên.

Sau hai ngày bị nhốt kín ở nhà chứa, đêm đó chúng tôi được đưa ra bãi sau ở Vũng Tàu để lên tàu vượt biển thì nội vụ bị bại lộ, ba mẹ con tôi dắt nhau tìm đường thoát thân khỏi vùng này để kịp trở về Sài gòn trước khi trời sáng. Vì nếu trời sáng Công an khu vực phát giác ra chúng tôi là những người lạ mặt ở đây thì sẽ bị tù.

Trời tối lại lạ vùng, không rành đường sá, chúng tôi cứ nhắm hướng có ánh đèn nhà dân mà chạy. Chạy một hồi thì thấy một ngôi chùa, tôi nghĩ rất nhanh, thay vì vào nhà dân thì vào chùa hỏi thăm đường có lẽ an toàn hơn nên ba mẹ con tôi và vài người nữa chạy vội vào.... Vào đến bên trong, tôi phải hai lần dụi mắt mà vẫn còn sững sờ vì nghĩ là mình đang mơ, người đang tiếp chúng tôi là Yến Nhi, tôi ngạc nhiên quá sức, dù dưới ánh đèn mờ, dù đã xuống tóc mặc áo nâu sòng nhưng tôi không thể lầm lẫn được. Tôi và Yến Nhi nắm chặc tay nhau và nhìn nhau trong im lặng để cho cơn xúc động tan dần theo những hàng lệ ứa.

Yến Nhi hướng mắt về phía một sư bà đứng gần đó và nói cho tôi biết đó là sư bà trụ trì ngôi chùa này và là bạn thân của mẹ Yến Nhi. Còn mẹ Yến Nhi thì... Sau khi được tin đứa con trai duy nhất là anh của Yến Nhi đã chết nghiệt ngã trong một trại tù cải tạo ngoài Bắc, bà bán hết tài sản đem tiền cúng cho Sư Bà trụ trì để tu sửa lại ngôi chùa đã đổ nát này và rồi bà xuất gia ở luôn đây sớm hôm kinh kệ với Sư Bà trụ trì.

Ngày về bỏ lại bên đường
Bụi trần rêu phủ cúng dường mười phương
Ngày về thắm đượm tình thương
Cát vàng sỏi đá chơn thường khác chi (T. Phước Thái)

Riêng phần Yến Nhi, chuyện được kể vội trong đêm nhưng tôi vẫn còn nhớ rất rõ vì mối ưu tư của Yến Nhi cũng là những ray rức trong tâm tư tôi kể từ sau 75, Yến Nhi kể rằng:

Kể từ buổi chiều Quốc ra đi không về, Yến Nhi không còn tha thiết với cuộc sống của riêng mình, Yến Nhi dồn hết tâm lực để lo cho cháu Tuấn, Yến Nhi nghĩ rằng cháu Tuấn chính là cái phao bé nhỏ và duy nhứt để gượng níu để vượt qua bể khổ của trần ai.

Rồi cơn lốc 30 tháng 4 ập đến, cái chán nản trong lòng Yến Nhi lại càng trở nên thê thảm hơn. Yến Nhi mang một tâm trạng của một người đã bị mất tất cả, đã mất chồng, mất cả tài sản trong cuộc chạy nạn, bỏ của giữ lấy người, bây giờ cái nhà của Yến Nhi bị người ta nhân danh cách mạng tịch thu. Yến Nhi có cảm tưởng rằng Yến Nhi được sinh ra là để gánh vác những khổ đau của cuộc đời...

Còn lại gì hay chỉ một niềm đau
Mà trọn đời không thể nao lắng đọng
Khi mất đi người là niềm hi vọng
Mất nhau rồi giấc mộng chẳng còn chi. (Tùng Trần)

Thế rồi...
Trong một dịp từ Sài Gòn ra Vũng Tàu thăm mẹ và trong thời gian hơn tháng ở tại chùa, Yến Nhi đã giết thì giờ bằng những quyển kinh, sách về giáo lý Phật, Yến Nhi có ngờ đâu những khổ đau muôn hình vạn trạng của kiếp người, Ðức phật đã thấy biết rõ ràng từ hàng ngàn năm về trước và Ngài để lại kho giáo lý đồ sộ vạch ra muôn ngàn pháp môn tu cũng chỉ vì một mục đích duy nhứt là dạy và chỉ đường cho người ta tu để giải thoát khỏi những khổ đau đó... Từ đó, Yến Nhi nghĩ rằng chỉ có con đường tu theo Phật là con đường duy nhứt đưa con người ta thoát khỏi những cảnh khổ triền miên của cuộc đời, cho nên Yến Nhi đã xin Sư Bà và mẹ cho phép Yến Nghi xuất gia và ở luôn tại chùa hàng ngày vui với câu kinh tiếng kệ, bỏ lại sau lưng cái xã hội đầy rối ren của những ngày đầu bị CS nhuộm đỏ...

Khuya đó trước khi tôi rời chùa để trở về Sài Gòn, Yến Nhi đã xin với Sư Bà cho tôi một cuốn kinh và một cuốn sách viết về giáo lý Phật mà Yến Nhi đã nói: "Nếu không theo được con đường của tôi thì tôi cũng mong chị tìm được cho mình một chút an lạc. Con đường tôi đang đi bây giờ không phải là đến nước Mỹ đoàn tụ mà tìm về với chính mình...."

Tôi rất cảm động khi nghe những lời chí tình của Yến Nhi vì....
Hoàn cảnh của tôi cũng không hơn gì, chỉ khác một điều là tôi còn mang một hy vọng và tôi sống trong niềm hy vọng đó, hy vọng ngày về của chồng tôi từ trại cải tạo.
Về lại Sài gòn vì bận rộn với công việc làm, vì phải lo cho hai con, tôi quên mất hai cuốn sách và kinh mà Yến Nhi đã ân cần trao tay cho tôi. Cho đến một lần vượt biên sau bị thất bại, tiền mất tật mang, bị tù, nhưng vì có hai con nhỏ nên người ta đã thả mẹ con tôi ra sau hai ngày chất vấn mà không khai thác được gì. Tôi về lại Sài Gòn và bị mất việc! Sự chán nản ê chề đã làm tôi nhớ đến Yến Nhi và nhớ đến hai quyển sách, tôi lấy ra đọc...

Tôi yêu chiếc áo màu vàng
Mặc vào thanh thoát lòng càng thiết tha
Noi gương Phật Tổ Thích Ca
Sống đời đạm bạc Cà Sa thanh nhàn (T.Phước Thái)

Không ngờ, có lẽ tôi cũng giống như Yến Nhi, đọc xong, tôi bị mê hoặc bởi lời kinh ý sách, tôi đọc lần thứ hai, lần thứ ba và tôi nghĩ nếu tôi gởi được hai con vượt biên như con của Yến Nhi thì có lẽ tôi sẽ từ bỏ tất cả (dù tôi không còn gì để bỏ!) để đến với Sư Bà, đến với Yến Nhi vì....

Theo những ý nghĩa chứa đựng trong sách đó và theo tôi hiểu thì...
Con người ta sở dĩ phải chịu đau khổ dưới muôn hình vạn trạng cũng chỉ vì sự trói buộc của dây luyến ái, tánh si mê và lòng ham muốn... Và cũng theo đó thì chỉ có một phương cách để giải trừ những khổ đau đó của kiếp người là phải biết và thực hành cho được cái hạnh BUÔNG XẢ?

Sau này có dịp tìm hiểu giáo lý Phật tôi mới hiểu thêm rằng con người ta sống ở đời cũng giống như người lữ hành trên đường thiên lý, hễ ham muốn cho lắm và mang vác theo nhiều thứ thì phải chịu cảnh khổ bức thân. Trái lại nếu biết bỏ bớt, chỉ đem theo đủ dùng thì sẽ từng bước thong dong. Nhưng than ôi! Tâm lý chung của người đời thì chỉ muốn dư chớ không muốn đủ cho nên lúc nào cũng cảm thấy thiếu... Ðau khổ của kiếp người từ đó mà ra.
Trong vướng mắc, ấy là ta đã chết
Tận đáy mồ của kiến chấp si mê
Sống thật đâu khi lòng mãi tái tê
Vứt tất cả ấy là ta đang sống (T. Phước Thái)


Diệu Ngọc

Phòng Trực
08-14-2018, 02:55 PM
Những Chuyện Khó Quên
Trương kim Báu

(Ghi chú: Trong đây có kể lại câu chuyện thật về một người, tuy tên nhân vật đã được thay đổi, mong người trong cuộc nếu có đọc những giòng này thì hãy tha thứ cho tôi. Tkb)

Đọc xong bản thông cáo của Cộng Đồng, tôi hờ hững buông tờ báo xuống bàn... Không hiểu rồi ngày mai đây tôi có nên đi dự cuộc mít tinh để tưởng niệm ngày 30 tháng 4 theo như lời mời trong nội dung bản thông cáo trên tờ báo đó hay không (?).
Mặc dù cũng theo như trong thông cáo đó có nói thì ngày mai cũng là ngày khánh thành tượng đài kỷ niệm để tưởng nhớ đến các chiến sĩ Việt-Úc đã bỏ mình trong cuộc chiến hơn 30 năm trước trên quê hương Việt Nam...
Ngày 30 tháng 4 năm nay lại lọt vào ngày thứ bảy, cũng là ngày "thọ bát" (tu một ngày) định kỳ của các Phật tử chùa Hoa Nghiêm mà tôi là một thành viên cho nên tôi đã phải suy nghĩ rất nhiều, không biết nên đi tu hay là bỏ một kỳ tu học để góp mặt với cộng đồng trong dịp này....
Suy đi tính lại một một việc nhỏ như vậy mà cũng làm tôi mãi đến khuya mới chợp mắt... Và sau cùng thì tôi chọn con đường tu... Vì tôi muốn thực hành lời Phật dạy "Quá khứ thì đã qua còn tương lai thì chưa tới" với hàm ý dạy chúng ta đừng nghĩ nhiều về quá khứ cho dù cái quá khứ đó vui hay buồn cũng làm cho tâm chúng ta không được an tịnh mà rồi bất cứ dự tính gì cho tương lai thì cũng sẽ làm cho cái tâm của chúng ta không an như vậy...
Nhưng điều tôi muốn lại không được như ý.... Sáng hôm sau tôi tới chùa rất sớm để phụ với các bạn tu sắp xếp lại các bình bông, các dĩa trái cây, lau chùi và thắp đèn hương trên bàn thờ Phật để chờ giờ khai mạc khóa tu. Đâu đó trong một góc chánh điện rộng thênh thang tôi nghe có vài người cũng bàn tán về buổi lễ khánh thành tượng đài chiến sĩ hôm nay. Cuối cùng một số phật tử được thầy cho phép dự lễ.

Tới nơi thì người ta đã tề tựu rất đông, chúng tôi được cho ngồi hàng ghế phía trước, tôi đảo mắt nhìn quanh thấy ai cũng ăn mặc tươm tất đầy vẻ trịnh trọng. Có mấy người cựu chiến binh VNCH tuy đã luống tuổi nhưng nét bệ vệ vẫn còn trong bộ quân phục thẳng nếp điểm thêm mấy hàng huy chương lấp lánh là chứng tích của một thời ngang dọc ngoài chiến địa...
Nhứt là các cựu Phi công của quân chủng Không Quân, xưa đã tung hoành trên nền trời Việt Nam, nay tuy tuổi đã cao nhưng cái hào hùng pha chút ngang tàng bất cần đời của ngày nào vẫn còn đậm nét và được biểu lộ qua những chiếc áo bay trên có đính mấy cái phù hiệu của đơn vị với nhiều màu sắc....
Tôi nghe chồng tôi kể, trong lần viếng thăm căn cứ Không Quân, vị Tổng Thống đương thời đã ghi vào sổ lưu niệm của một đơn vị phi hành: "Trên đất nước thân yêu của chúng ta, không gian là của các bạn".
Bây giờ nhìn lên chiếc trực thăng tản thương cũ với dấu hiệu chữ thập đỏ đã được tân trang lại và được gắng trên chót của một trụ cao in hình lên bầu trời xanh gợn vài án mây trôi nhè nhẹ tạo thành một hình ảnh rất sống động làm tôi hình dung lại một thuở nào chiếc trực thăng này đã bao lần vào sanh ra tử...
Tới giờ khai mạc, hai lá quốc kỳ Úc - Việt được kéo lên theo âm ba hùng hồn của hai bài quốc ca của hai nước trong khi một chiếc trực thăng do một Thiếu tá của Không Quân Hoàng Gia Úc bay ngang...
Khi bài Quốc ca Việt Nam vừa trổi lên, bổng nhiên tôi cảm thấy rúng động toàn thân, một thứ cảm xúc rất mạnh từ đâu đó xâm chiếm toàn thân làm cho tôi suýt chút nữa là đã khóc òa lên thành tiếng...
Ba mươi năm rồi còn gì ...
Hôm nay và tại đây, những người Việt lưu vong đủ mọi thành phần, đủ các lứa tuổi cùng đứng chung chào lá quốc kỳ và cất tiếng hát lên bài quốc ca của nước mình thuở trước trên mảnh đất gọi là quê hương thứ hai, lòng tôi chợt chùng xuống nổi nhớ dâng tràn... Miệng hát mà nước mắt tuôn trào, không phải một mình tôi khóc mà gần như tất cả người Việt ở đây lúc này đều khóc, có phải người ta khóc vì nhớ về quê hương yêu dấu mà nơi đó hiện vẫn còn những người thân thương đang sống...!!
Hồn thiêng sông núi hay là hương hồn các tử sĩ dường như đang trở về hiện diện đâu đây? Tôi thầm nguyện một lời tri ơn đối với tất cả những ai đã một đời hy sinh để bảo vệ tự do cho chúng tôi, cho miền Nam. Mặc dù đại cuộc không thành vì một nguyên nhân ngoại lai bất khả kháng nhưng gương hy sinh của các anh chị muôn đời là khuông vàng thước ngọc cho những thế hệ nối tiếp theo sau...
Sau lễ chào cờ, một phút mặc niệm, đại diện ban tổ chức đọc một bài diễn văn nói lên ý nghĩa buổi họp mặt hôm nay và bày tỏ lòng tri ơn đồì với những người chiến sĩ can cường Việt-Úc đã hy sinh thân mạng mưu cầu tự do và hòa bình cho miền Nam Việt Nam.
Tiếp theo đó, máy vi âm được nhường lại cho một vị thượng khách mà theo tôi biết đó là một cựu quân nhân Úc thuộc hàng tướng lãnh phát biểu lòng tri ân đối với các tử sĩ và ông nhấn mạnh, ở Úc có rất nhiều tượng đài kỷ niệm nhưng đài kỷ niệm này là một nơi linh thiêng để chúng ta tưởng nhớ đến công lao của những chiến sĩ Việt-Úc đã bỏ mình trong cuộc chiến cách đây mấy mươi năm, chúng ta vinh danh họ, chúng ta hãnh diện vì họ, vì họ đã hy sinh cho tự do hòa bình cho chúng ta... Chúng ta có thể đưa thân nhân gia đình con cháu của chúng ta đến đây để kể cho chúng nghe về sự hy sinh to lớn này...
Giọng nói hùng hồn nhưng chứa đựng nhiều xúc cảm làm cho.... tôi thấy nhiều người cúi đầu, có lẽ họ cũng đang nghẹn ngào như tôi...? Sau đó đến phiên các tôn giáo làm lễ cầu nguyện... Tôi đưa mắt nhìn chung quanh thì chợt thấy một người vừa đứng lên rời chỗ ngồi cách tôi không xa, tôi kêu lên thảng thốt:
- Yến ! Phải... Hoàng Yến không...?
Hoàng Yến ngước mắt lên nhìn tôi mà gương mặt lộ vẻ ngạc nhiên đến tột độ rồi bước tới ôm chầm lấy tôi mà kêu lớn bất kể sự chú ý của mọi người chung quanh:
- Trời ơi ! Chị.... Sao chị lại ở đây...?
Tôi đáp nhanh:
- Anh Chị đã vượt biên và định cư ở đây... Còn em...?
Hoàng Yến quay qua bà cụ đứng kế bên và giới thiệu:
- Đây là bà nội của Thiên Tú, em được cho qua Canada đoàn tụ với Thiên Tú lâu rồi. Em theo ông bà nội Thiên Tú sang Úc thăm người bà con... Chị đi đây còn anh đâu sao không thấy...?
Tôi chào bà cụ và đáp:
- Anh chị và hai đứa nhỏ đều ở đây...
Tôi nói tới đây thì có mấy chị bạn cùng đi chung kêu gọi ra xe trở về chùa, tôi vội vàng lấy giấy bút trao đổi số điện thoại và địa chỉ với Hoàng Yến rồi lật đật ra xe sợ các bạn chờ lâu không tiện....
Lên xe, tôi chọn một góc sau cùng và mặc cho các người khác bàn tán về buổi lễ, tâm tư tôi đã quay hẵn về dĩ vãng.....
Tôi còn nhớ, lần sau cùng tôi gặp Hoàng Yến cách nay cũng trên 20 năm.... Thời gian quá dài so với người khác nhưng đối với riêng tôi, tôi cảm thấy như cách đây không lâu... Bởi vì cái không khí ngột ngạt của Sài gòn sau 30 tháng 4/75 còn kéo dài nhiều năm sau đó và đã hằn lên tâm tư chúng tôi những niềm đau khôn nguôi.....
Chúng tôi là những người có chồng đi tù... Chúng tôi hẹn nhau mỗi hai tháng một lần, vào trưa chủ nhựt cuối tháng của các tháng chẵn 2, 4, 6... thì tụ hội về nhà của một người trong nhóm để hàn uyên, khích lệ an ủi nhau nếu cần...
Hôm đó, Hoàng Yến tới trể hơn thường lệ làm chúng tôi rất lo nhưng sau cùng thì Hoàng Yến cũng dắt bé Thiên Tú đến nhưng đến với vóc dáng tiều tụy thểu não còn bé Thiên Tú thì ốm xanh xao... Chúng tôi biết đã có chuyện gì đó xảy ra với hai mẹ con nhưng chưa ai biết là chuyện gì... Mới cách nhau có hai tháng mà Hoàng Yến trông sa sút hẵn, ốm hơn, da mặt lại sạm nắng, hai gò má nhô cao...
Tất cả trong nhóm chúng tôi gồm bảy người đồng hoàn cảnh, có chồng là sĩ quan và đang bị tù...! Trong nhóm ai cũng biết Hoàng Yến và Phiên, chỉ huy trưởng một giang thuyền ở vùng Hậu Giang, hai người quen và yêu nhau khi Phiên còn là một Sinh Viên Sĩ Quan Hải Quân tại Nha trang. Sau khi cưới nhau Phiên đã quyết định đưa vợ về Hậu Giang sinh sống để tiện việc đi về của Phiên và cũng để tránh cho Yến cái cảnh làm dâu, đó là Phiên lo xa... Trong nhóm chỉ có tôi và Hoàng Yến là cùng quê nên chúng tôi dễ thân nhau hơn...
Sau cái ngày 30 tháng 4 định mệnh, Phiên không còn cách nào hơn là đưa Yến về nương náu tại nhà cha mẹ, Ba của Phiên có đầu óc rất cởi mở và ông thương yêu Hoàng Yến như con ruột nhưng là một công chức bình thường, đã bị cho nghĩ việc, còn chưa biết làm gì để sống trong hoàn cảnh này... Hiện giờ cha mẹ Phiên đang ở với hai người em Phiên, một trai một gái đã trưởng thành, lúc đó Yến đang mang thai Thiên Tú sắp đến ngày sanh....
Sau khi vào nhà, Yến cho biết, cách đây hơn tháng, tức là sau lần họp mặt kỳ trước, khi chính quyền cho phép thân nhân đi thăm nuôi tù cải tạo, Yến đã thu vét tất cả tài sản còn sót lại mua một ít quà và dẫn Thiên Tú đi ra Bắc thăm cha. Vì khi Phiên đi tù thì Yến chưa sanh Thiên Tú cho nên Yến muốn dẫn con đi gặp cha một lần, bây giờ là năm 1979, Thiên Tú đã được bốn tuổi.
Cái chuyện Hoàng Yến dẫn Thiên Tú đi ra tận ngoài Bắc thăm cha lại tạo ra một rắc rối giữa Hoàng Yến và mẹ của Phiên, Bà không muốn Hoàng Yến dẫn con đi theo vì cho rằng đi đến chỗ lạ, đường sá lại xa xôi, đem trẻ nít đi theo sẽ có nhiều bất tiện... Nhưng Yến đã quyết lòng và không thay đổi ý định, vì Yến nghĩ rằng gặp mặt con là một điều an ủi lớn cho Phiên để Phiên có đủ tinh thần chờ ngày đoàn tụ...
Bất hạnh thay, khi xe lữa ngừng ở ga chính của thành phố, Hoàng Yến một tay dẫn con một tay xách bao quà, còn đang lúng túng chưa tìm được chỗ thuê xe để đi vào trại tù của Phiên, cách đó độ 12 cây số đường làng, thì có hai thanh niên tới làm quen và thình lình một người giựt bao quà, một người giựt luôn cái xách tay Yến đang mang trên vai và bỏ chạy đụng nhằm bé Thiên Tú làm cho nó ngã lăn trên đất và khóc ngất... Yến vội nhào tới bế con lên mà hồn phi phách tán...
Một điều lạ là mọi người chung quanh chỉ đưa mắt nhìn như không có chuyện gì xãy ra, mặc cho Yến ngơ ngác chưa hoàn hồn... Mãi một lúc sau có một cháu gái độ 9-10 tuổi, một tay xách ấm nước, một tay cầm cái ly bước tới rót cho Yến một ly nước và hỏi:
- Cô đi thăm tù phải không...?
Yến còn đang hoang mang thì cháu nói tiếp:
- Cô và em uống nước đi rồi cháu dẫn cô tới chỗ thuê xe vào trại, cháu bán nước trà ở đây... Trước đây đã có mấy vụ như vầy rồi mà ai cũng sợ, không dám làm gì hết... Mà cô còn tiền không...?
Cũng may là tiền mua vé xe còn lại bao nhiêu Yến đã cho vào cái ví nhỏ để ở túi quần thay vi bỏ vào xách tay mang trên vai, nghĩ tới số tiền còn trong túi cũng đủ để mua vé xe lữa trở về Sàigòn, Yến hơi yên lòng.... Chỉ có điều... Bây giờ vào thăm Phiên với hai bàn tay không... Nhưng Yến nghĩ, đã ra tới đây rồi thì dù gì cũng phải vào trại thăm Phiên... Cho nên khi nghe cháu bé hỏi, Yến gật đầu mà không nói... Yến móc ví lấy ít tiền lẽ đền ơn cháu bé nhưng nó một mực chối từ, Yến nghĩ, ít ra trên đời này còn có người tốt... Ai đời....
Nói tiếng là đi thăm nuôi chồng ở tù mà tới nơi thì chính người chồng tù phải đi xin cơm của những người tù khác chia xẻ để nuôi hai mẹ con Yến trong ba ngày... Thì thử hỏi còn gì thê lương bất hạnh hơn...!!
Thế nhưng cảnh đời còn cay nghiệt hơn thế nữa, những bất hạnh trên đời còn chưa chịu buông tha và đã ép Yến vào chỗ tận cùng của khổ đau..... Một tuần lễ sau Yến về đến nhà ở Sàigon thì nhà đã bi niêm phong mấy ngày trước, lý do là cha mẹ chồng Yến và hai người con đã bỏ nhà theo một chuyến vượt biên...
Trời đất như quay cuồng, Yến ngồi bệt xuống trước nhà ôm con vào lòng mà không làm sao kêu trời cho thấu... Trời đã về chiều, mẹ con Yến đành phải xin ngũ nhờ nhà hàng xóm qua đêm.... Sáng hôm sau, vì nghĩ rằng Sàigòn bây giờ đã đổi chủ, ngoại trừ bà con ruột thịt, không ai dám chứa người lạ cho dù một vài ngày, hơn nữa người lạ đó lại có chồng là sĩ quan của chế độ cũ đang đi tù....
Yến quyết định rất nhanh, dẫn con ra bến xe miền Đông đi thẳng ra Bà rịa vì Yến đã nhớ lại là Yến còn một người chị bà con cô cậu, hồi nhỏ hai người rất thân nhau, đang sinh sống bằng nghề làm than ở ngoài đó...
Hơn ba tuần lễ phụ với người chị trong công việc đốt gỗ lấy than, Yến đã lấy lại bình tỉnh và nghĩ đến tương lai của Thiên Tú, Yến không đành lòng để cho Thiên Tú bị thất học trong cảnh rừng u tịch này, rồi đây khi Phiên trở về thì sẽ ăn nói ra sao.... Yến nghĩ... cứ dẫn con vào lại Sàigòn rồi sẽ tìm cách trở về quê ngoại, mặc dù cha mẹ Hoàng Yên không còn nhưng ở đó còn có người cậu lúc nào cũng thương yêu Yến...
Chúng tôi nghe Yến kể mà không khỏi bùi ngùi, vào thời gian này, xã hội vừa đổi thay lòng người điên đảo vì ngoại cảnh đã tạo nên bao nhiêu mối bức xúc trong lòng... Người ta như không còn đủ minh mẫn để giải quyết mọi vấn đề... Tôi nghĩ, nhiều người đã chối bỏ cuộc sống có lẽ cũng vì lý do này... Sau đó chúng tôi đã... kẻ ít người nhiều góp lại được một số tiền khả dĩ đủ cho Yến làm lộ phí trở về Nha Trang....
Tôi đã bặt tin Yến từ đó..... Bây giờ gặp lại Yến ở đây bảo sao chúng tôi không mừng mừng ... tủi tủi... Nghĩ đến đây thì xe cũng vừa quẹo vào cổng chùa....
Từ đó đến chiều bế mạc khóa tu, tâm trí tôi như không còn chỗ để chứa bài pháp của Thầy giảng, xin Thầy tha lỗi cho con...! Vậy mới biết lời Phật dạy không sai, chỉ mấy phút giây tìm về quá khứ mà tâm trí tôi đã không còn một chút an tịnh, bài pháp của Thầy giảng tôi hoàn toàn không thu thập được....
Tôi chỉ trông cho mau về tới nhà để liên lạc với Hoàng Yến và sẽ tìm thăm Yến ngày mai, chủ nhựt...
Rồi ngày mai cũng đến, tôi tìm tới với Yến, bây giờ thì cả hai chúng tôi đều đã lấy lại bình tỉnh, chúng tôi nhìn nhau để tìm một sự đổi khác... Nhưng tôi không chú ý điều đó cho lắm mà cái tôi muốn biết là sau khi trở về Nha trang thì hai mẹ con sinh sống ra sao và hoàn cảnh nào đã đưa đẩy Yến đến Canada rồi qua đây...
Yến kể, sau khi về đến quê nhà ở Nha trang mới biết là cậu của Yến đang mang chứng bịnh nan y, cảnh nhà đã sa sút và đang lâm vào cảnh khó khăn vì phải lo chạy chữa cho cậu... Sau khi tạm trú ở nhà cậu hơn một tuần, mặc dù cả nhà gồm cậu mợ Yến và hai người con đều vui vẻ và đối đải rất tốt với Yến, vẫn yêu thương Yến nhưng Yến thấy... không thể để cho người ta phải bận tâm thêm vì hai mẹ con. Tạm thời gởi bé Thiên Tú ở nhà, Yến theo giúp người em con cậu đang có sạp bán rau cải Đà lạt tại chợ Nha Trang. Sau đó theo lời khuyên và được sự yểm trợ thêm chút ít vốn của người em, Yến theo xe hàng lấy rau cải từ Đà lạt về bỏ mối ở chợ Cam Ranh và Nha Trang.
Công việc dù vất vả nhưng Yến tự hứa là sẽ tận lực để nuôi con chờ Phiên về, nhờ có công việc làm nên mỗi tháng Yến đều gởi quà cho Phiên và dự định sẽ dẫn Thiên Tú ra Bắc thăm Phiên lần nữa...
Ngờ đâu, bảy tháng sau, gói quà gởi đi đã được trả lại kèm theo một phong thư báo tin Phiên đã mất vì bạo bệnh... Trời đất như quay cuồng, Yến nằm liệt luôn hơn tuần lễ vì đau khổ dày vò.... Yến không còn muốn sống trên đời này nữa nhưng vì còn Thiên Tú....
Trong thời gian phụ với người em con cậu bán rau cải, Yến có quen với Sư Cô Diệu Hạnh, mặc dù tuổi đã quá trung niên nhưng trông Cô còn rất trẻ, ở Cô toát ra một vẻ đạo mạo đáng kính. Cô tu một mình ở một cái am nho nhỏ trên một cồn cát giữa sông, nhìn lên cầu Xóm Bóng và Tháp Bà ở Nha Trang.
Yến dẫn Thiên Tú thuê đò sang cồn cát vào am gặp Sư Cô Diệu Hạnh, không hiểu sao ngồi trước mặt Sư Cô Yến khóc như chưa bao giờ được khóc. Sư Cô nhìn Yến mà lòng xót xa nhưng Sư Cô thủy chung không lên tiếng mà chỉ vuốt đầu Yến trước cặp mắt nhìn ngây thơ của Thiên Tú. Sau đó Yến bày tỏ ý định nhờ Sư Cô bảo bọc Thiên Tú, chờ Thiên Tú lớn lên thì cho nó xuất gia tu theo Sư Cô còn Yến thì sẽ rời khỏi đây...
Như đọc được tất cả những gì trong óc của Yến, Sư Cô dịu dàng bảo: - Cô bằng lòng làm theo yêu cầu của con nhưng phần con cũng phải làm theo một yêu cầu của Cô, Cô muốn con quy y Phật... Yến gật đầu không suy nghĩ, vì trong lòng đã quyết, một khi Sư Cô đồng ý bảo bọc cho Thiên Tú thì Yến sẽ làm cách nào đó để từ giã cõi đời đầy đau khổ này, nhìn lại chung quanh ai cũng khổ nhưng chưa thấy ai khổ như Yến, Yến muốn đầu hàng...
Dường như sợ Yến đổi ý, Sư Cô lên đèn và làm lễ quy y cho Yến ngay, sau đó Sư Cô giảng cho Yến rất lâu về ngũ giới và hơn nữa Cô đã giảng cho Yến về chữ "nghiệp". Lời giảng của Cô đã làm cho Yến chùng lại cái ý nghĩ tự tử đã nhen nhúm trong lòng... Yến dắt tay Thiên Tú chào Cô ra về hứa ngày mai sẽ đưa Thiên Tú trở lại ở với Cô, Cô vui vẻ gật đầu.
Lòng Yến ngổn ngang trăm mối.... Sau khi gởi con cho Sư Cô, Yến nghĩ nhiều về những lời Cô giảng, ý định tự tử không còn nữa, cái nghiệp đã theo báo thì dù có chạy đi đàng nào cũng không khỏi. Khỏi kiếp này nhưng không khỏi kiếp sau ! Yến tiếp tục cái công việc buôn hàng chuyến và mỗi cuối tuần thuê đò sang cồn cát thăm Sư Cô Diệu Hạnh và đem ít quà cho Thiên Tú....
Ngờ đâu, việc đó kéo dài chưa được ba tháng thì một hôm, khi Yến tới, trong am khói hương nguội lạnh Sư Cô và bé Thiên Tú đã đi đâu vắng bóng. Vòng ra sau hè cất tiếng gọi mấy lần không người trả lời, Yến còn đang lấy làm lạ thì có một bà già bước ra từ cái chòi nhỏ cất sau am, bà bước đến gật đầu chào Yến rồi ra dấu cho Yến đi theo bà ra tận bến đò bà mới mở lời:
- Tôi biết cô là mẹ của cháu nhỏ nên tôi nói để cô rõ... Người ta đã đem dầu chôn ở bãi cát bên hông cái am của Sư Cô, cách đây hai đêm người ta đã đào dầu đưa lên tàu vượt biên, vì lo sợ sự an nguy của Sư Cô nếu Công An biết được am Sư Cô chứa dầu cho nên họ đã cho Sư Cô tháp tùng theo chuyến đi, Sư Cô đi và dẫn cháu nhỏ đi theo rồi... Cô đi về ngay đi và đừng trở lại đây nữa kẻo người ta theo dõi thì không hay đâu...
Trời đất lại một lần nữa như sụp đổ trên đầu Yến, trên đường về, Yến đi như kẻ không hồn, ý nghĩ tự tử lại một lần nữa được khơi dậy mãnh liệt trong lòng...
Vừa lúc đi ngang qua một ngôi chùa, thấy có tượng Đức Quán Thế Âm lộ thiên phía trước, Yến chậm rãi đi đến trước tượng, bất kể mọi người ở chung quanh, Yến quỳ xuống chấp tay mà hai hàng nước mắt tuôn ra như suối...
Mới đầu thì Yến nhắm mắt, lòng nghĩ đến những điều bất hạnh đã xãy ra cho bản thân từ khi Phiên bước vào vòng lao lý đến khi Phiên mất, những tưởng Thiên Tú là cái phao để Yến có thể vinh vào đó mà gượng sống... Bây giờ thì Yến đã mất luôn Thiên Tú.... Vậy thì sống trên đời này còn có ý nghĩa gì...
Yến mở choàng đôi mắt đẩm lệ nhìn thẳng vào gương mặt đầy vẻ từ ái của tôn tượng Đức Quán Thế Âm, "Phật Quán Thế Âm từ bi ở trên cao sao không cứu con, con khổ đến chừng nào đây..."
Đột nhiên những lời giảng của Sư Cô Diệu Hạnhvề nghiệp báo vang lên văng vẳng bên tai, đầu óc Yến như bừng tỉnh lại, Yến cúi đầu sát đất lạy ba lạy rồi đứng dậy quay gót đi mà gương mặt đại từ bi của Đức Quán Thế Âm vẫn còn ngự trị trong lòng.
Yến trở về nhà người cậu tiếp tục cái công việc buôn hàng chuyến... Mặc dù gia đình cậu có trách Yến sao lại đem con gởi cho người ngoài mà không để cháu lại nhà cậu nhưng Yến đã chuẩn bị câu trả lời này rồi nên Yến bình tỉnh đáp:
- Em thì bận đi buôn bán còn mợ thì lo chăm sóc cho cậu, con thì đi suốt ngày, con sợ để nó ở đây lại thêm gánh nặng cho mợ. Con đã có hỏi Sư Cô trước rồi, đối với Sư Cô không có gì trở ngại nên con mới gởi nó cho Sư Cô...
Cho đến một hôm, sau một ngày vất vả, Yến về đến nhà thì trời cũng đã sẩm tồi như mọi khi, người em, con của cậu đón Yến tận ngoài ngỏ và báo tin: Sư Cô Diệu Hạnh và bé Thiên Tú đã đến đảo an toàn, chờ ngày đi định cư ở Canada, có người bà con của Sư Cô đang định cư ở đó...
Cầm lá thư của Sư Cô trong tay mà Yến có cảm tưởng mình đang mọc thêm đôi cánh, toàn thân Yến nhẹ nhàng như đang bập bềnh trong niềm hạnh phúc chưa từng có... Yến nhớ anh Phiên quá, phải chi còn có anh ở đây để Yến chia bớt niềm hạnh phúc này cho anh...
Từ lúc tôi vào nhà đến bây giờ Yến mãi mê kể chuyện cho tôi nghe mà không hề để ý đến bà cụ bước ra chào tôi và bưng nước mời...
Yến say mê kể với gương mặt rạng rỡ, tuy bây giờ sắp bước qua tuổi 60 nhưng nét mặt chưa có một nếp nhăn chứng tỏ Yến đang sống trong hạnh phúc... Sau đó Yến cho biết tiếp là khi đến được Canada, thay vì tạm trú ở nhà người bà con thì Sư Cô lại đưa Thiên Tú đến tá túc ở một ngôi chùa Ni mà Sư Bà trụ trì là thầy bổn sư của Sư Cô hồi trước. Nói là chùa nhưng thật ra đó là một ngôi nhà nho nhỏ, Sư Bà trang hoàng lại thành một chỗ thờ Phật khang trang để đêm ngày kinh kệ... Cảm ơn Sư Bà và Sư Cô đã chăm sóc cho Thiên Tú, cho đi học đến khi thành tài, có chỗ làm chắc chắn Thiên Tú đã bảo lãnh Yến sang theo diện đoàn tụ.
Từ nhỏ lớn lên trong cảnh chùa, chịu sự chăm sóc của Sư Cô, bây giờ đã là một thiếu nữ xinh đẹp nhưng ngoài giờ làm về đến chùa thì Thiên Tú quấn quít bên Sư Bà và Sư Cô, ngày ngày nghe kinh kệ Thiên Tú đã nuôi ý chí xuất gia, nhưng còn chờ Yến quyết định. Yến không phản đối, vã lại đã trải qua quá nghiều nghịch cảnh, không biết bao lần nếm vị khổ của cuộc đời nên chính Yến cũng có ý định xuất gia nhưng cả Sư Cô và Sư Bà còn đặt Yến trong vòng thử thách... là vì...
Yến qua Canada chưa được một năm, một hôm, trong khi Thiên Tú đưa Yến đi dự hội chợ Tết Việt Nam do cộng đồng người Việt ở đây tổ chức, tình cờ Yến gặp cha mẹ Phiên... Yến chỉ gọi được hai tiếng "Ba - Má", bước nhanh đến ôm ghì lấy hai ông bà mà nước mắt tuôn như mưa, Yến nhớ đến Phiên...
Mặc dù trước kia có những bất đồng nho nhỏ giữa mẹ chồng nàng dâu, nhưng trong lòng Yến hoàn toàn không có một chút oán trách trái lại Yến vẫn coi họ chư cha mẹ ruột của mình... Hỏi ra mới biết, lúc người ta báo có chuyến vượt biên thì Yến đang đi thăm Phiên tận ngoài Bắc, mà cái chuyện vượt biên ai cũng biết, không thể hẹn trước và cũng không thể chờ.... Hai ông bà cũng đang định cư ở vùng này, ông cũng có tìm cách liên lạc với Yến nhưng không biết Yến ở đâu....
Hiện hai người sống trong một ngôi nhà không xa ngôi chùa nhỏ của Sư Bà, hai em của Phiên đã lập gia đình đang ở xa vì công việc làm. Không hiểu sao khi gặp lại hai ông bà, nhứt là mẹ Phiên, lòng Yến ngập tràn thương mến, cha Phiên thì tóc đã bạc trắng, mẹ Phiên có hơi yếu nhưng vẫn còn minh mẫn.
- Bây giờ con Thiên Tú đã đi tu... Hay là con dọn về đây ở với ba má...
Đó là lời đề nghị của má Phiên sau vài lần Yến tới lui thăm viếng, dường như bà còn muốn nói điều gì nữa nhưng không hiểu sao khi nói tới đó bà bỏ lững...
Yến đem chuyện này kể cho Sư Bà và Sư Cô nghe, Sư Cô đưa mắt nhìn Sư Bà chờ đợi... Sư Bà nói:
- Con đã trải qua nhiều gian truân, con đã chịu nhiều khổ não cho nên con đã ở vậy thờ chồng và lại có ý xuất gia... Nhưng con chưa nếm mùi của cái khổ vì cô đơn lúc tuổi già, ba mẹ Phiên, con cũng có mà dâu cũng có thế nhưng ở cái tuổi gần đất xa trời thì không một ai kề cận để sớm hôm chăm sóc...
Theo Bà thấy thì thay gì con xuất gia đi tu, con nên về ở với hai ông bà để thay cho Phiên mà báo hiếu. Vã lại tu hiếu cũng là một pháp tu... Đến khi hai ông bà mãn phần con về đây với Sư Bà và Sư Cô cũng không muộn...
Nghe lời Sư Bà, Yến dọn về nhà của ba mẹ Phiên ở để phụng dưỡng hai ông bà, mong rằng anh Phiên sẽ vui nơi chín suối...

Phòng Trực
08-29-2018, 09:21 PM
CHIẾC NHẪN CƯỚI KHÔNG QUÂN
Trương kim Báu


https://hoiquanphidung.com/uploadpics/hqpd1017/1535577679-nhanKQ.png

Như thường lệ mỗi buổi tối các anh 524 đều đến nhà tôi, cùng ăn trái cây và kể đủ thứ chuyện trên trời dưới đất để cùng nhau cười vui, tôi thương chiếc áo bay nhiều túi mà các anh thường đùa là để bắt gà bỏ vào cho dễ, thương cả cái dao găm nhỏ đeo bên hông mà ngày mới quen Dọng nói là để gọt trái cây cho người đẹp ăn. Chiếc nhẫn của không quân đẹp quá, tối nào một trong các anh cũng tự ý cho tôi mượn, tay các anh to, tôi phải đeo nhẫn ở ngón tay cái mới vừa.
Năm 1967 sau ngày đám hỏi 1 tháng là Dọng và các anh trong 524 đi Mỹ học lái A37.
Ngày đám cưới Báu Dọng, một số bạn thân đều có mặt trừ những anh đi biệt phái Pleiku.
Thật ngạc nhiên và cảm động, Dọng đã đeo vào tay tôi chiếc nhẫn của không quân nhưng đây là chiếc đặc biệt làm cho tôi.
Bùi Gia Định la lên:
- Không biết lái máy bay mà đeo nhẫn phi công, một anh khác đáp lại.
- Không lái Phi cơ mà lái Phi công. Tiếng cười ồ to vang lên, các bạn cười nói tự nhiên, đúng là đám cưới của dân Thiên Lôi.
Sau đó các anh xúm lại cầm tay cô dâu, khám phá ra nhẫn đúng của không quân nhưng không có 2 cánh bay, không khắc khóa, năm. Dọng nói phải ca bài con cá, người làm nhẫn mới chịu, cô dâu mới có chiếc nhẫn trong lễ cưới.
Các bạn chê khen nhẫn và bàn tay cô dâu. Dọng la lên giọng pha niềm vui trong hạnh phúc.
- Đừng lợi dụng cầm tay vợ tôi lâu quá nhen.
- Dọng, mày thử MỘ ĐỊA đi, tao hôn tay cô dâu ngay bây giờ.
Tiếng cười lại ầm vang lên. Tôi đã đeo chiếc nhẫn cưới tuy là không có 2 cánh bay như nhẫn các anh, nhưng chồng tôi và các bạn thân đã từng nhìn ngắm khen chê và cầm tay cô dâu trong ngày linh thiêng đó.
Chiếc nhẫn luôn trên ngón tay, tôi quý lắm vì đó bằng chứng tình yêu, tình bạn và cũng đánh dấu tôi đã là người nhà của Phi đoàn các anh.
Tháng 4 năm 1975 ngày mất nước, bạn bè có người chạy thoát ra nước ngoài, người người tập trung vào các trại tù ở khắp 3 miền đất nước Nam Trung Bắc. Đàn chim 524 Thiên Lôi đã lạc nhau.

Nửa đời người tôi học được
Tan hợp, thăng trầm bởi duyên (Như Nhiên)

Một hôm tôi nhận được thư Dọng gởi về từ Hoàng Liên Sơn, đọc tên địa danh xa lạ ấy tôi liên tưởng đến nơi rừng sâu nước độc, càng buồn thêm khi Dọng viết.
- Xin em hãy đưa các con về vùng kinh tế mới ở cùng ba má Cửu, để các con học hành.

Chốn ấy trăm năm ngỡ tít mờ
Đâu ngờ ập đến tựa cơn mơ
Sống thương và hiểu từng giây phút
Ngay kiếp mong manh gặp bến bờ (Như Nhiên)

Đó là câu nói ngầm ý cùng nhau, vì anh chị Ngô Đức Cửu trong 524 là cha mẹ nuôi của hai con tôi, chúng kêu anh chị Cửu là ba má Cửu, chúng tôi đều biết là năm 75 gia đình anh chị đã thoát được và hiện ở Mỹ.
Ba má chồng tôi và nay đến Dọng tất cả đều muốn tôi dẫn 2 con trốn đi ra khỏi đất nước Việt thân yêu này, mà những ngày tháng trước chính Dọng và cả các anh trong 524 không muốn rời bỏ.
Các con tôi không được đến trường học, chúng tôi không có hộ khẩu vì từ Nhatrang vào, dù đang ở căn nhà của gia đình ngay quận 1, tôi vẫn đi làm ở ngân hàng Việt Nam Thương Tín Trung ương 79 Hàm Nghi Sài Gòn, nhưng phường khóm không cho tôi hộ khẩu. Mỗi tháng phải gia hạn tạm trú, ngân hàng và phường nơi tôi ở có gặp nhau, nhưng cách làm việc thật lạ lùng, mỗi nơi có luật lệ riêng, chỉ khổ cho những người dân chúng tôi vai mang nhiều chữ như Ngụy quyền, chồng Ngụy Quân giặc lái, anh chị tư sản, cha mẹ tư sản dân tộc.

Phú quý vinh hoa như mộng ảo
Sắc tài danh lợi tựa phù du (Bùi Giáng)

Người dẫn đường để vượt biên sáng sớm đến nhà và đưa mẹ con tôi ra xa cảng miền tây. Chúng tôi đến Rạch Giá, ngồi chờ ở quán nước, một người đến lấy hành lý của tôi đem đi trước, họ nói là tôi xách giỏ sợ bị để ý, đó là giỏ làm bằng mây do người em đan từ trong trại tù cải tạo gởi về, giỏ làm thật tỉ mĩ nối kết bằng những cọng mây thật nhỏ, không có một cây đinh nào cả.
Chúng tôi xuống ghe từ Rạch Giá qua Rạch Sỏi, Rạch Cốc. Vào một căn nhà nhỏ được chỉ ngồi trên bộ váng, bỏ cái mùng xuống, và ngăn bởi một tấm màng với phía ngoài.
Họ đưa một em bé trai 8 tuổi vào, vậy là 1 mẹ 3 con, chúng tôi ngồi trong mùng sau tấm màng, nghe rõ tiếng nói từ phía ngoài, 4 người chạy trốn quê hương, không giám nói chuyện, không giám ho và nhịn đói.
Trời tối chúng tôi được một người đàn ông đưa đi để chờ tàu vượt biên đến, người dẫn đường nhảy qua một cái mương rồi nói: “Nhảy mau”. Tùm, tùm tùm, tùm. Đó là tiếng 4 người rớt xuống mương, trời tối quá khoảng cách không biết rộng dài ra sao, may mà nước không sâu, nhảy và bò mấy lần thì cũng tới được chỗ ngồi chờ trong một bụi cây, nghe được tiếng sóng từ biển.
Hai con tôi dựa vào mẹ ngủ, em bé trai ngại ngùng ngồi yên.
Con cứ coi ta là mẹ, dựa vào ta mà ngủ đi con.
Tội nghiệp cho bé quá, người mẹ ở nơi nào đó cũng đang nghĩ đến con trai mình, tình mẫu tử là tình thâm, cầu nguyện mong ước con mình bình yên.
Bé Thanh kể.
Con đi cùng cậu nhưng họ tách con ra. Ba má con là bác sĩ đều ở tù hết. Bà nội muốn con qua Mỹ ở cùng chú con để đi học.
Tôi mệt nhưng không giám ngủ sợ tàu đến không hay. Ngồi trong đêm tôi măn mê chiếc nhẫn đeo trong ngón tay, chiếc nhẫn gợi một thời vui vẻ ồn náo của bạn bè, tình yêu của chồng, nó như thêm sức mạnh cho tôi.

Chiếc nhẫn cưới anh trao em thuở ấy
Vẫn vẹn nguyên nằm giữa ngón tay này
Lòng thương nhớ mỗi khi em nhìn thấy
Minh chứng vàng của tình yêu mê say
(Diệp Minh Tuyền)

Mặt trời đã chiếu những tia sáng từ chơn nước lên, ánh sáng vàng rực biển hiện rõ, những bọt sóng chảy tràng vào bờ, không nhìn thấy một con tàu nào cả. Bỗng có tiếng súng và từng đoàn người hai tay để trên đầu từ trong các bụi cây gần đó đi ra, lệnh tất cả ngồi xuống bãi cát, tôi và 3 con cũng làm như vậy, chợt có tiếng quát to.
- Chị kia dẫn ba đứa nhỏ xuống biển tắm rửa, nhìn không giống người.
Trong tiếng quát to giọng Nam đó, tôi cảm được có chút gì thương hại của người công an trẻ. Đoàn người chia làm 2, đàn ông đàn bà riêng, người cậu của bé Thanh cũng lách được đến gần tôi nói lời gởi gấm và địa chỉ nhà ở Sài Gòn, nhờ khi thả đưa giùm cháu về.
Chúng tôi 20 người đủ mọi lứa tuổi, Đi trong im lặng theo người công an trẻ. Chừng 1 giờ thì đến bờ sông gần đó là một căn nhà nhỏ mái tôn, vách lá bên trong chỉ có 1 cái bàn với 2 ghế dài. Chúng tôi ngồi xuống nền nhà đất, không thấy kêu kê khai tên tuổi gì cả, con gái lớn 6 tuổi của tôi bắt đầu khóc vì đói quá thành đau bụng, con trai 4 tuổi hai tay nắm chặc dựa vào mẹ, bé Thanh 8 tuổi ngồi yên lặng chịu đựng. Người công an trẻ có vẻ bối rối, anh chạy đi một lúc rồi đem gạo và cái nồi về, các chị lớn rành rẻ kê ngay 3 cục đá thành cái bếp và lấy bất cứ thứ gì cháy được là chụm vào nồi cơm, trong khi người công an rủ 3 đứa nhỏ ra coi anh bắt cá ở một ao nhỏ gần đó. Anh thả cái lưới xuống, mỗi lần kéo lên bắt được vài con cá phi, tụi nhỏ bắt đầu reo cười và quên đói. Bữa cơm thật ngon, cơm nóng ăn với cá phi nướng và muối ớt của chị nhà gần bên cho, tôi nghe tiếng thì thầm về người công an trẻ miền Nam, thì ra anh mới vào làm được một tháng.
Buổi chiều chị cho muối ớt đem một cái mùng qua cho mượn để tối muỗi không đốt 3 đứa nhỏ, chị nói muỗi ở đây nhiều có tiếng, nhìn cái mùng mà thương làm sao, vá không biết bao nhiêu là miếng vá đủ màu sắc, đủ loại vải.
Một đêm ngủ ở đây sáng mai có ghe đến chở đi vào trại tù, chị nói cho ba đứa nhỏ cái mùng luôn để vào tù có mà nằm, tôi chỉ biết nói cảm ơn. Nay mỗi lần nghĩ lại sao lúc ấy đầu óc đặc cứng không biết hỏi tên chị, tên làng để bây giờ ân hận mãi. Biết rằng những tấm lòng còn tình người đó không cần sự trả ơn.
Trại tù thật sự đây rồi, họ bắt khai lý lịch, địa chỉ và tất cả tiền bạc nữ trang đều phải đưa ra nạp, tôi chỉ có ít tiền và chiếc nhẫn cưới thôi, cái giỏ quần áo 3 mẹ con và chút thực phẩm thuốc men, không biết ai cất và không biết hỏi ai.
Trại tù trên một hòn đảo nhỏ, chung quanh có những mương sâu nước mặn và nhiều lớp kẽm gai, họ đưa vào một nhà dài và rộng mái tôn vách lá, được phát 2 chiếc chiếu nhỏ cho 4 mẹ con, trong đó rất nhiều người đàn bà già, trẻ và con nít, không biết tội gì, chúng tôi có thể đi quanh trại nhưng không được qua các khu của đàn ông và những nơi biệt giam, con nít thì được đi tự do.
Bữa cơm tù ngày hôm sau 3 cháu nhỏ được phát thêm một tô canh bầu nấu với tôm, phần ăn của người phụ bếp nhường, đó là một bác sĩ bị kết án tù chung thân, cậu của bé Thanh cùng vượt biên với chúng tôi cũng bị nhốt ở đây cũng là bác sĩ.
Những người bác sĩ đó họ là bạn với nhau.
Những ngày ở trong tù 4 mẹ con cứ để nguyên quần áo mà tắm, việc làm khô quần áo giao cho gió cho nắng. Đến ngày thứ 10 thì tôi được lệnh tha, lên văn phòng xin nhận lại những gì nộp khi mới vào tù, người cán bộ coi những tài sản của tù đã đi công tác không biết lúc nào về. Trời đã trưa chiếc ghe máy cho những người tù quá giang từ trại giam An Biên về Rạch Giá sắp chạy rồi, tôi chạy ra chạy vô không biết làm sao vì giờ này tất cả cán bộ đều đi ăn hết rồi, một bà lớn tuổi cũng được tha đến khuyên tôi.
- Lên tàu về đi cô, ở lại cũng không tìm ra, trại tù không chứa cô nữa, đêm nay cô và các con ăn ngủ ở đâu ? Nước nhà còn mất thì chiếc nhẫn xá gì ? đừng đứng đợi những gì mà mình không thấy trước mắt.

Đã biết chốn ni là quán trọ
Hơn, thua,hờn oán......để mà chi! (Như Nhiên)

Ghe đến Rạch Giá thì trời về chiều, trên bến xe chỉ còn một chiếc xe lam. Tôi hỏi người chạy xe:
- Tôi ngủ ở bến xe mai về Sài Gòn sớm được không ?
- Cô ngủ đêm ở đây rất nguy hiểm cho cô và 3 đứa nhỏ, thời buổi này không nhà nào giám chứa người lạ sẽ bị chánh quyền gây nhiều rắc rối, chỉ có Chùa và Nhà Thờ mới giám Chùa thì ở phía trong xa, nhà Thờ tiện đường xe tôi chạy qua.
- Tôi không có đồng nào cả. Tôi tính đi xe đò về Sài Gòn rồi mượn tiền người chạy xe xích lô máy trả, người xích lô máy chở tôi về nhà lấy tiền lại.
- Lên xe đi, tôi cũng không lấy tiền xe mẹ con cô, đừng lo.
Xe ngừng ngay trước nhà thờ, tôi vẫn còn lo hỏi lại người xe lam tốt bụng.
- Tôi không phải con chiên của chúa, tôi đạo Phật
- Vào đi, giờ này mà Chúa Phật gì, tin tôi đi, mẹ con cô được tiếp tử tế và không chừng được gởi xe về Sài Gòn nữa đó.
Sân nhà thờ vắng tanh không bóng người vì là giờ hành lễ, chỉ có tượng Đức Mẹ thật to ở giữa sân, bốn mẹ con ngồi dưới chân tượng ba đứa nhỏ nằm ngay trên nền xì măng sau một ngày mệt mõi, nhìn tụi nhỏ nước mắt tôi chảy, đưa tay vuốt tóc con chợt nhìn bàn tay mình, chiếc nhẫn không còn tự nhiên tôi hoảng hốt, lòng buồn vô hạn.

Người về thương người nhỏ lệ
Cúi mình lạy khắp thiên nhiên (Như Nhiên)

Tiếng chuông nhà thờ ngân vang lên kéo tôi về thực tại, tôi ngồi thật yên nghe được lời cầu kinh vọng lại, tôi bắt đầu đọc kinh Phật. Tôi nghĩ đến chồng tôi đang tù các bạn tôi cũng đang ở trong tù, tôi không còn phân biệt đây là tượng Đức Mẹ hay Quán Thế Âm, tôi đọc kinh với cả tấm lòng gởi tình thương đến những người thân trong chốn lao tù.
Phần tôi tâm từ phải rộng mở, biết mỉm cười trước nghịch cảnh chướng duyên, niềm tin phải vững chắc, sức khỏe phải tốt để vượt qua những khó khăn, biết chấp nhận cuộc sống hiện tại, mọi việc đều để tuỳ duyên.

Thân như bóng chớp chiều tà
Cỏ cây hoa lá xuân qua rụng rời
Sá chi suy thịnh cuộc đời
Thịnh suy như hạt sương rơi đầu cành (Bùi Giáng)

Nhìn 3 con đang ngủ ngon dưới chân tượng Đức Mẹ, lòng thương tràn dâng, chợt tôi cũng thấy mình được bao bọc bởi tình thương.
Giữa người và người gặp nhau đã là duyên phận, trải qua năm tháng bây giờ tóc đã đổi màu nhưng lòng tôi vẫn trâng quí ơn Đức cha ở một nhà thờ nhỏ vùng quê miền Nam, và tất cả những người đã giúp tôi trong đoạn đường đời khó khăn, dù một lời nói hay một cử chỉ, những tấm lòng của người cùng một đất nước Việt Nam. Đó hành trang tôi mang theo trên bước đường lưu vong ở xứ lạ, mỗi lần nghĩ đến những tấm lòng nhân ái đó lòng tôi ấm lại và hạnh phúc.

Thanh thản là khi tóc đổi màu
Hiểu ngày sắp tới sẽ về đâu
Biết trăm năm hẹn cùng sương khói
Vạn sự trôi về nơi bể dâu
Hạnh phúc là khi giữa đổi thay
Lắng yên, trọn vẹn phút giây này
Ngắm bình minh đến, hoàng hôn lại
Thả hết ưu phiền theo gió bay (Như Nhiên).

Phòng Trực
09-17-2018, 10:45 PM
CON ĐƯỜNG TIẾNG HÁT HOÀNG HÔN
(Viết theo cuộc tình đẹp của chàng SVSQ Không Quân)
Trương kim Báu.

Biển Nha Trang buổi sáng trời trong xanh, ánh nắng chan hòa những tàng lá dừa lấp lánh dưới ánh mắt trời, gió thật mát, trên trụ đá dọc bờ biển có một chàng sinh viên sĩ quan Không Quân đang ngồi ngắm biển. Chàng đến Nha Trang từ mấy tháng nay nhưng phải ở trong quân trường vì thời gian thụ huấn, đây là ngày cuối tuần đầu tiên được phép ra phố.


https://hoiquanphidung.com/uploadpics/hqpd1017/1537224277-1520055164-28471659_10155908621874550_6197289561539627308_n.j pg

Từ sáng khi cổng trại Long Vân mở cửa, đàn anh đã biến thật nhanh vì ai cũng có mục riêng, chàng rủ các bạn cùng khóa ra ngắm biển nhưng không ai chịu đi cùng, mọi người muốn ra phố. Một mình chàng thuê xích lô ra đây, ngồi ngắm những đợt sóng đua nhau chạy vào bờ, dãy núi xa xa biển Nha Trang đẹp quá, hàng dừa dọc theo bờ biển, con đường nhỏ tráng xi măng chạy dài vừa 2 người đi bộ, chàng nhìn con đường và mơ ước.
Theo lời hướng dẫn của người phu xe, chàng cứ đi thẳng hết con đường quẹo mặt đi thêm là tới phố chính. Phố Nha Trang chỉ có một đường nối dài từ đầu đường Phan Bội Châu đến cuối đường Độc Lập là hết phố.
Phố biển nổi tiếng này tấp nập những màu áo trắng, vàng của sinh viên sĩ quan Hải Quân, Không Quân, Đồng Đế, làm thành phố sáng hẳn lên. Chàng ghé ăn ở một tiệm bánh pâté chaud, sữa đậu nành nổi tiếng ở đây, nhìn hai cô gái trẻ con người chủ tiệm lòng thấy vui, chàng đi tìm mua bì thư và tem.
Đứng chờ cô chủ tiệm sách bớt khách mới hỏi mua, nhìn vu vơ một vòng chàng bắt gặp hai bàn tay thật đẹp đang chọn những quyển sách, tóc dài rũ ra phía trước che bớt khuôn mặt.
Chàng thầm nghĩ hai tay đẹp quá, mong cho mặt cũng đẹp. Như bị hút bởi đôi bàn tay và nhìn mãi.
Nàng đang cúi xuống, có cảm giác như ai đang nhìn mình, ý nghĩ thật lạ vụt đến, nếu ngước lên là chàng trai hay cô gái trẻ, thì ta sẽ tình nguyện làm người hướng dẫn đưa đi chơi, giới thiệu những cảnh đẹp của Nha Trang.
Nàng ngẩng đầu lên, đôi mắt to đen, miệng thật xinh, cười hai má lúm đồng tiền.
Ồ một chàng sinh viên sĩ quan Không Quân, khuôn mặt đẹp, mắt sáng, tướng cao to. Không Quân tuyển người thật tuyệt vời.
Chàng bối rối khi cặp mắt và nụ cười như nói lên - bắt gặp anh rồi nhé, nhìn lén.
Nàng trả tiền sách rồi ra cửa. Chàng bước theo không kịp mua bì thư, tem.
- Anh biết chạy xe đạp không ?
- Biết.
- Vậy anh chạy xe em ngồi sau.
- Không được, anh còn trong thời gian sinh viên.
- Anh ngồi sau xe để em chở.
- Cũng không được.
- Tại sao ?
- Luật của lính lúc còn ở quân trường , hiện anh chỉ được đi bộ, xích lô, xe lam và xe hơi.
- Đi xe ngựa được không ?
- Được, xe nào ngồi nghiêm chỉnh đàng hoàng đừng có chân trong chân ngoài thôi.
Nàng nghĩ, các ông không quân sao mà bày kiểu cách quá, thôi đành tin vậy.
Nàng dắt xe, chàng đi một bên, họ quen nhau từ đó.

Hỡi cô áo trắng trăng mười tám.
Có kẻ si mê đứng cuối đường. ( Nguyên Thạch )

Mỗi cuối tuần họ gặp nhau, hai người đi thăm thắng cảnh, bắt đầu là Phật Học Viện nơi có tượng Phật Trắng xây trên núi.
Chàng trong bộ đồ lính màu kaki vàng ủi thật thẳng nếp, ngực mang tên mình, nón kết xanh, trông chàng oai và đẹp. Nàng áo dài quần trắng, tóc xõa đến lưng, dáng trẻ trung của tuổi mới lớn.

Thương mái tóc thề phơi trong nắng
Giọt mồ hôi động ướt tóc mai
Van trời thôi chiếu tia nắng chói
Để mái huyền nhung mọc thêm dài. ( Nguyên Thạch )

Đến chân núi phải leo rất nhiều tam cấp mới lên đến đỉnh, tượng Phật được xây thật to và cao, đứng nơi đó nhìn thấy cả thành phố Nha Trang. Kìa là phố, nhìn xa là biển một màu xanh với những hải đảo xa xa, bên phải là Nhà Thờ Núi cổ xưa, phía dưới là xóm nhà, xa hơn là phi trường Không Quân phi đạo chạy dài, một nhà trên ngọn núi cao ở tít xa đó là lâu đài của Vua Bảo Đại dưới chân núi là Hải Học Viện và Bến Cảng.
Nhìn bên trái một dòng sông uốn khúc chảy qua xóm làng cây cối xanh tươi, dòng sông chảy rẻ ra hai nhánh, một qua cầu Hà Ra, một chảy dưới chân núi Tháp Bà qua cầu Xóm Bóng, hai dòng nước đều đổ ra biển.
Đi theo con đường nhỏ dọc trên đỉnh núi, từ tượng Đức Phật Thích Ca hai người qua đến chùa Hải Đức, đó là một ngôi chùa cổ, nhiều loại hoa thật nhiều mùi thơm như ngọc lan, sứ, sen, hoa lài v.v... hòa quyện lại lan tỏa vào không gian, đứng ở sân chùa thật cao này, hương hoa thơm ngát, tiếng chim hót líu lo và những cánh bướm chập chờn như cảnh thần tiên, phía dưới xa xa là xóm làng.
Nàng muốn những ngày tháng rong chơi thật đẹp và hoa mộng, nên nàng đưa chàng đi thăm tất cả những danh lam thắng cảnh ở trên những đồi núi cao của Nha Trang, như Tượng Phật Trắng, chùa Hải Đức, Nhà Thờ Núi, lâu đài của Đức Vua Bảo Đại dưới là biển xanh, Tháp Bà Ponaga bên một cây cầu dài, Dòng Phan Xi Cô chiếm một đồn núi nhìn thấy cả vùng biển khơi mênh mông đó cũng là trường đào tạo các Đức Cha.
Nàng muốn chàng nhìn vẻ đẹp của Nhatrang trước khi được chấp đôi cánh bay, chàng có kỷ niệm thật đẹp ở những nơi này. Ngày nào được nhìn từ trên cao dưới đôi cánh bay chàng sẽ thấy toàn Nha Trang, nhớ thời sinh viên sĩ quan chàng đã từng dạo chơi với một người con gái của miền Thùy Dương Cát Trắng, một mối tình trong sáng thơ mộng.
Nàng không đòi hỏi ở chàng một lời hứa, vì nàng tin vợ chồng là duyên nợ. Bây giờ hãy tạo cho nhau những kỷ niệm thật đẹp, mỗi tuần chàng đến tìm nàng, nhìn nàng và cầm tay nàng là hồn nàng đã ngất ngây. Bàn tay chàng vuốt tóc và khen tóc em đẹp là tim nàng run rẫy.
Họ trân quý những ngày bên nhau, chiều chuộng nâng niu và sợ điều tan vỡ.
Anh và em còn quá trẻ hãy để cho tình ta mênh mông, mênh mông
Hai người đã dạo chơi hết những đồi núi cao thơ mộng, giờ nàng đưa chàng ra Hòn Chồng, nơi đó có nhiều hòn đá chồng lên nhau, có dấu bàn tay thật to in vào đá, và nhiều cặp tình nhân ghi tên bên nhau để kỹ niệm cho một mối tình.
Đến Hòn Chồng đứng nhìn bọt sóng bắn tung tóe lên những phiến đá, không bảo nhau mà cùng nhảy né tránh, những tiếng cười cất lên hồn nhiên, tay nắm tay chuyền qua từng tảng đá, có lúc ngồi ở quán nước nhỏ uống nước dừa ngọt như tình đôi lứa. Con đường mòn từ trên Hòn Chồng đi xuống biển Đồng Đế, biển êm, vắng, sạch, chỉ có đợt sóng nhỏ tràn vào bờ, chàng và nàng tự nhiên chạy nhảy, cười đùa cũng không làm phiền ai vì quanh đó là Trung Tâm Huấn Luyện Hạ Sĩ Quan Đồng Đế và những tu viện tường rào kín cao.
Chiều xuống họ trở lại bên Hòn Chồng để ra quốc lộ, con đường thật đẹp, đường không to chỉ vừa hai chiếc xe tránh nhau, hai bên là những bụi cây dại, hoa tỏa hương thơm nhè nhẹ, giờ này đường thật vắng không còn chiếc xe lam nào hết.

Giọt nắng cuối ngày rơi xuống tóc
Mà lời từ biệt chẳng lên môi. ( T. T. Lương )

Hai người đi bộ, một chàng sinh viên sĩ quan Không Quân trong bộ đồ lính dáng thật oai phong, mặt đẹp sáng, đi bên người con gái mặc áo dài trắng, tóc xõa dài che kín bờ vai, có đôi mắt to tinh nghịch của tuổi trẻ.

Hoàng hôn lơ lửng chênh chao
Ngỡ ngàng cảnh sắc dạt dào trong tôi. ( Biển Chiều )

Họ đi thật chậm trong ánh hoàng hôn đỏ rực, bỗng nghe tiếng đờn và giọng hát cất lên, đó là bài thánh ca. Không bảo nhau nhưng cả hai đều trân quý phút giây tuyệt vời này, mùi thơm của hoa, ánh nắng của buổi chiều và tiếng đàn giọng hát vút cao, như làm cho mối tình thêm đẹp và thơ mộng

Tình đã chiều nắng muộn màng thầm hát.
Khúc thánh ca kỳ ảo lạ lùng chưa ( T.T.Lương )

Đến ngã ba Hòn Chồng, Quốc lộ và Nhà dòng Phan Xi Cô thì thấy một người đàn ông đang đứng bên đường vừa đánh đàn vừa hát, nhìn chàng và nàng đầu gật gật ra dấu chào, tiếng hát vẫn theo bước chân của hai người cho khi xuống đến quốc lộ mới không còn nghe nữa.
Đó là Con Đường Tiếng Hát Hoàng Hôn của riêng chàng và nàng.

Chia tay em chia tay hoàng hôn
Chia tay em chia tay hoàng hôn
Anh mang theo về tình yêu và nỗi nhớ
Anh mang theo về con tim cô đơn ( H.H )

Nàng đang cắm cúi làm bài, bỗng nghe tiếng xôn xao và một cái nhéo thật đau của cô bạn ngồi bên, nàng ngước nhìn lên, hai mắt mở lớn, miệng há ra khi thấy chàng đang đứng ngay cửa lớp, tay gõ vào cửa vì đây là lớp học Anh văn tối của Hội Việt Mỹ, giáo sư là người Mỹ.
Chàng. Anh dành cho em sự ngạc nhiên đây, đừng mở tròn cái miệng như thế, cười đi em anh nhớ nụ cười của em từng ngày từng ngày, ồ em tôi đã cười rồi và còn nheo mắt nữa.

Khi người nở một nụ cười
Bàn chân tôi bước thảnh thơi nhịp cùng ( Như Nhiên )

Nàng. Tóc chàng bềnh bồng không cắt thật ngắn như xưa, mắt vẫn sáng, mặt đẹp nhưng già dặn hơn, chàng mặc áo bay màu xám, vai trên ngực quá nhiều phù hiệu Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, Tổ Quốc, Không Gian, Danh Dự, Trách Nhiệm, Phi Đoàn, Cánh Bay v.v... bên hông còn có súng, dao găm. Chàng đã được chấp đôi cánh thành loại chim quý thật rồi.
Chàng vào lớp bắt tay vị giáo sư, nói mấy lời và chỉ vào nàng.
Vị giáo sư lịch sự đến chúc nàng một buổi tối vui vẻ. Ánh mắt các bạn nhìn nàng ngưỡng mộ và tiếc nuối.

Bao nhiêu ngày tháng cách xa
Để mình trân trọng món quà hôm nay ( Như Nhiên )

- Mặc đồ bay có súng, dao, anh chạy xe đạp được không?
- Được
- Vậy anh chạy xe em ngồi sau.
- Không được, chỉ chạy một mình thôi.
- Luật của Không Quân hở anh?
- Ừ....À ....
Chàng dắt xe, nàng đi một bên.
Nàng cùng chàng ra biển, ngồi xuống bãi cát để biết cát ấm, êm cỡ nào, cùng nhìn ra biển từ những chiếc ghe câu đêm, đã tạo muôn nghìn ánh sáng cho biển Nha Trang có thêm một thành phố ánh đèn lung linh ở ngoài khơi, thật đẹp vô cùng, em đã giới thiệu với anh tất cả những cảnh đẹp của quê hương em rồi đó.
Nàng:
- Bây giờ anh mới thật sự là loại chim quý, hãy bay và dang rộng hai cánh khỏe của mình bảo vệ đất nước quê hương. Tổ quốc Việt Nam rất cần những người con như các anh, hãy làm tròn bổn phận, và cứ tự do rong chơi, đừng sợ lỗi hẹn, em vẫn như xưa, nhưng em hiểu mọi việc đều phải tuỳ duyên.
Chàng:
- Những ngày xa cách anh đã yêu, đã nhớ, đã tìm nhau ở trong mơ, bây giờ chỉ cần nhìn em, cầm tay em, vuốt tóc em là anh hạnh phúc và bình yên.

Biển rất xanh và biển rất sâu
Như chúng mình ngày trên mới gặp
Ta trao nhau nụ cười và ánh mắt
Thấy dịu dàng như sắc nước biển khơi
........
Lúc xa rồi anh nhớ biết bao nhiêu
Muốn trở lại với chiều nghiêng ngã đó
Khi tình biển với em hòa trong gió
Anh vu vơ mắt đỏ ngước lên tìm. (Triều Dâng )

Cảm ơn Nha Trang thành phố nơi em sanh ra có biển và thật nhiều cảnh đẹp, cảm ơn tiếng hát Hoàng Hôn để cho mối tình em đẹp thêm. Cảm ơn anh, người sinh viên sĩ quan Không Quân đã đem đến cho em những mộng mơ và những gì đẹp nhất của thời con gái. Xin cảm ơn cuộc đời.

Phòng Trực
10-02-2018, 11:08 AM
NHỮNG NGƯỜI CON ĐẤT VIỆT
Trương kim Báu

(Viết để tưởng nhớ Chuẩn Tướng Trần văn Hai, Trung Tá Kỹ Sư Hà Ngọc Lương, chị Lê thị Kỳ Duyên và các con, bác sĩ Thạch cùng tất cả các bạn và những người trai nước Việt).

***

Nghe tiếng chuông tôi đi ra, vợ chồng trẻ hàng xóm đem qua trả mấy đĩa DVD Phật pháp, và xin giữ lại một đĩa mà thầy Thông Lai làm lễ truy điệu, cầu siêu cho những Quân nhân đã tự sát để không lọt vào tay cộng sản ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Cặp vợ chồng trẻ này có lòng yêu nước và muốn biết nhiều về những gì trước 1975.
- Dì có quen biết ai trong danh sách các vị mà chùa thầy Thông Lai thờ không ?
- Có 3 người.

Một là tướng Trần văn Hai, anh là con nuôi của ba tôi, anh thường liên lạc với gia đình tôi, hiền và có tình. Ngày ba tôi mất, anh và một số các anh khác đến nhà lo tang lễ, mỗi năm ngày giỗ, anh thường đem một con nai hay heo rừng đến để làm tiệc đãi những người đến dự đám giỗ.
Hai là Trung tá kỹ sư Hải Quân Hà Ngọc Lương.
Ba là chị Lê thị Kỳ Duyên làm cùng Việt Nam Thương Tín Nha Trang, sau này kết hôn với trung tá Hà Ngọc Lương.
- Dì ơi, ông con quen với bác sĩ anh của dì, ông con nói nhiều về ông bác sĩ đó.

Tôi sẽ kể về anh tôi và việc các anh đánh nhau với người Mỹ, có Trung tá Hà Ngọc Lương trong đó.
Từ nhỏ tôi ở chung với anh, sau này anh đi một vòng rồi lại về ở chung với tôi. Anh cao to đẹp trai, nói tiếng Anh, Pháp rành, nói được cả tiếng Đức, tiếng Nhật và nhiều tài vặt như thổi kèn Harmonicas, thổi sáo, nhảy đầm, cởi ngựa, bắn súng v.v... Nghề nghiệp anh là bác sĩ, anh mổ giỏi nhất Nha Trang, anh giàu vì cha mẹ chúng tôi rất nhiều ruộng muối, đất , đồn điền nhưng chuyện tình anh không êm ái bởi tánh lả lướt.
Anh có 2 vợ mà chị nào cũng đẹp, đều có con với anh. Ông bà mình thường nói: Một vợ nằm giường lèo, hai vợ nằm chèo queo. Anh không thể ở với ai vì hai người anh đều thương, đành về ở cùng em gái.
Ngày trước ở Nhatrang, mỗi đêm các bác sĩ thay phiên nhau trực ở phòng mạch của mình, để người dân trong thành phố nếu đêm về bị bệnh bất cứ giờ nào, cứ tìm đến bác sĩ trực. Nếu cần mổ, bác sĩ sẽ chuyển đến Nhà Thương tức là Ty Y Tế Tỉnh Nha Trang.
Anh không phải trực ở phòng mạch của mình, mà trực ở Nhà Thương Tỉnh, vì anh là bác sĩ mổ. Các anh 524 đến nhà tôi chơi mỗi đêm nói cười vui vẻ, anh để tôi sống thật trọn vẹn thời tuổi trẻ với bạn bè. Vì anh biết những người lính đã trải qua những huấn luyện về nghề nghiệp cũng như tư cách đạo đức, tuy tánh lã lướt có ở người Phi Công, nhưng bản chất thật trong họ là người tốt và đáng tin cậy.
Tối nay các bạn không đến vì phải bay đêm, tôi nghĩ cũng tốt, anh em tôi có dịp hàng huyên tâm sự và kéo dài bữa cơm chiều.
Đang ở trên lầu, người giúp việc lên thưa có khách. Tôi xuống thấy hai cô bạn từ thời trung học ở Sài Gòn về đến rủ tôi đi ciné. Vừa lúc đó xe Không Quân do Định lái cũng chạy vào, anh Nhị ngồi bên. Định bước xuống vẻ mặt hơi mệt.
- Báu, mình đi ra biển coi mấy người bay đêm, chờ họ về cùng đi ăn phở Chụtt.
Cầu Đá ngày xưa được gọi là Chụtt (chụtt là vùng nhỏ có dựa dành cho ghe thuyền núp gió. Đệm và chằng là hai loại cây để làm buồm cho ghe, 2 loại cây này chỉ có ở Nha Trang), ở Chụtt có một hàng phở gà và bánh mì gà rất ngon, bán ở lồng chợ cho đến khuya khi chợ chiều tan.

Nha Trang xuống Chụtt bao xa
Kẻ ra mua đệm, người ra mua chằng.
Anh em mừng rỡ lăng xăng
Người hỏi thăm vào, kẻ hỏi thăm ra.
Anh em chè rượu hỉ ha (Nguyễn man Nhiên )

Tôi bối rối vì hai cô bạn lâu ngày mới gặp lại, họ thuộc loại công chúa, con nhà giàu, học giỏi, đẹp. Tôi biết Định đang buồn vì chuyện tình đầu không như ước muốn. Định đối với gia đình tôi gần như người nhà, vì mối liên hệ gia đình tôi với ba dượng của Định là tướng Lam Sơn, chị họ Định lại là bạn thân của tôi.
Tôi không muốn làm ai buồn hết, lúc đó anh tôi bước ra.
- Các em tính đi chơi đâu vậy?
- Định và Nhị rủ em đi biển, hai bạn rủ em đi ciné.
- Trời nóng vào ciné làm gì, biển hôm nay có trăng đẹp đó.
- Các em đi chơi vui vẻ, anh đi xuống nhà thương đây.
Tôi than thầm vì tôi biết Định rất nhát gái, hơn nửa anh đang buồn. Còn anh Nhị thì quá hiền không biết tán gái. Tôi và anh Nhị là dân Nha Trang biết nhau từ nhỏ, phải chi có anh Đinh Xuân Ninh hay anh Nguyễn Đỗ Toàn thì hay biết mấy, hai anh ăn nói ngọt ngào và biết nói đùa để các cô vui, hai anh đã đi biệt phái ở Pleiku rồi.

Ở Phi đoàn 524 có anh Lê Ngọc Yên và anh Ngô văn Trung lúc nào cũng đi chung, nổi tiếng biết lấy lòng người đẹp, hai anh chỉ ra nhà tôi chơi vài lần rồi có mục riêng nên không đến nữa, nếu thân thì hôm nay nhờ cậy được rồi.
Xe Ford Pick Up Không Quân do Định lái, hai bạn tôi ngồi phía trước, tôi và anh Nhị ngồi trên thùng sau.

Biển về chiều dịu dàng và lặng lẽ
Sóng rì rào khe khẽ hát lời ru.
Sắc hoàng hôn nhuộm đỏ ánh mây mù,
Nhè nhẹ gió về.....vi vu thông vẫy. (Biển Chiều)

Đến biển, năm người ngồi xuống cát nhìn hai chiếc máy bay A1 SKYRAIDER bay vòng rồi ra biển, để kiểm soát an toàn cho thành phố và sẵn sàng ứng chiến, thấy thương các anh, người trai thời chiến.

Giữa lòng trời khuya muôn ánh sao hiền,
Người trai đi viết câu chuyện một chuyến bay đêm.
Cánh bằng nhẹ mơn trên làn gió.
.....
Đêm nay chuyến bay trời xanh như màu áo,
Đường Minh Đế nhàn du khắp tinh cầu... (Chuyến bay đêm)

Đêm nay trăng rằm, ánh trăng sáng vằng vặt, những đợt sóng biển như những dãy vàng lỏng tràn vào bờ cát lấp lánh, những tàn cây dát vàng cũng lung linh theo gió mát trăng thanh.
- Báu cho mượn đôi dép để kê đầu, Định nằm một chút. Tình hình lúc này leo thang, một nửa biệt phái Pleiku cũng bay ngày bay đêm, ở đây cũng không khác, bay đến LÒI KÈN luôn.
Thôi rồi, hai công chúa mà nghe Định nói tiếng Lòi Kèn thì tưởng là tiếng tục tiểu đó, làm sao đây, đúng như tôi nghĩ hai bạn đứng dậy.
- Báu, ba đứa mình đi dạo biển đi.
- Báu ở lại, Định cần hỏi Báu chút việc, Nhị đi cùng hai cô đi.

Ai đã từng dạo chân trên bờ cát
Ngắm lớp sóng xa dào dạt vỗ bờ.
Biển về chiều đẹp tựa những nàng thơ
Khi ánh hoàng hôn từng giờ buông thả. (Biển Chiều)

Hai bạn tôi đi trước, anh Nhị đi phía sau cách nhau 5, 6 thước. Tôi than trong đầu như tụng kinh, anh Nhị ơi ! sao anh hiền quá vậy, đi nhanh lên, đi chính giữa 2 cô, hỏi cô này, nói với cô kia. Em học ngành nào? Bài vỡ nhiều có làm em mệt không? Em có thường về thăm nhà không? Em thích máy bay không? Anh sẽ đưa em vào Phi Trường chơi, anh sẽ....... Tán dóc đi! Tán dóc đi!
Phải chi có anh Ngô Đức Cửu hay anh Nguyễn văn Dọng lúc này, hai anh ấy sẽ làm một vòng lã lướt để hai bạn tôi không nghĩ là con nhỏ này ngày trước cũng khá, nay sao chơi cùng bọn nhà quê, nói tục.
Đêm trăng đẹp cùng gió lộng mà lòng tôi không vui, Định ngồi dậy níu tay tôi nhìn đồng hồ và hỏi.
- Báu, sao Định buồn quá vậy?
- Thất tình mà.
- Báu có lúc nào buồn như vậy không ?
Chưa kịp trả lời thì Định vụt đứng lên.
- Chạy mau Báu, Nhị đang gặp nguy hiểm.
Tôi nhìn theo hướng Định chạy thì thấy một lằng hồng đỏ to vút lên không, được bắn từ flare Gun của các chàng Phi Công.
- Chạy mau theo Định! Chạy gần mé nước, mau lên!
Tôi như lực sĩ chạy nước rút bởi tiếng cổ võ của khán giả nên tôi theo kịp Định.
Ba người con trai đang đánh với bốn người Mỹ. Anh Nhị đánh với một người Mỹ nhưng phía sau là hai bạn tôi đang núp vào lưng anh, tay họ níu chặt lưng áo, vai áo, nên anh chỉ đở đòn chứ không có thế tấn công.
Định hét.
- Hai người bỏ Nhị ra.
Tiếng hét quá to làm hai bạn tôi hết hồn, buông anh Nhị ra, bị mất đà họ té xuống cát. anh Nhị thụt lùi lấy thế đá, vấp làm hai bạn nằm chồng lên nhau.
- Để thằng Mỹ này cho Định. Nhị chạy đến giúp người áo trắng đang đánh với hai thằng Mỹ. Còn Báu lo bảo vệ hai cô.
Định bay đến đá một cái vào người Mỹ, chỉ trúng ở tay vì chàng Mỹ cao to quá.
Bản tánh du côn có trong người tôi hồi nào không biết, tôi la to.
- Định, đá đẹp lắm!
Người đời thường nói đi trong đêm, trời không có mưa, nhưng sương rơi nhiều cũng thấm ướt áo. Hai ống quần bị trì kéo xuống, tôi giật mình! Thì ra, hai cô bạn bò đến sát chỗ tôi đứng, run rẫy và khóc to. Hối hận, tôi ngồi xuống ôm hai bạn vỗ về.
- Thôi đừng khóc nữa, chuyện không có gì.
- Sao không có gì, hai đứa bị hai ông Mỹ to ôm rồi.
- Đừng khóc nữa, nín đi, nín đi, chuyện ôm mình sẽ nói sau nha! Bây giờ đứng lên coi các anh đang đánh nhau với người Mỹ, vì bênh vực hai bạn đó.
Chắc hai bạn cũng chán tôi lắm rồi, nên họ không khóc nữa. Tôi đứng giữa, hai tay ôm hai bạn để bảo vệ, mắt nhìn những cặp đánh nhau.
Ô! Sao anh tôi lại có mặt ở đây? Anh đánh thật đẹp! tôi thấy vui vui! Còn anh áo trắng kia là ai? Người anh cao cao nhưng đánh thật chắc, đẹp. Mỗi khi người Mỹ té xuống, anh đứng yên chờ đối phương đứng dậy và anh luôn để người Mỹ tấn công trước, anh đỡ đòn và khi phản công lại, anh luôn luôn đánh trúng. Anh này chắc võ phải giỏi lắm! Vì cách đánh có cái gì quân tử của người biết võ.
Anh Nhị lúc nảy chỉ bị tấn công không đánh được cái nào, bây giờ cũng gỡ được rồi.
Anh tôi nắm được tay người Mỹ. Tôi nghĩ anh sẽ dật ngã một cú đẹp tuyệt vời đây, nhưng không, anh nói gì với người Mỹ và thả tay ra, người Mỹ vụt chạy.
- Các bạn tha cho họ đi.
Ba người Mỹ chạy chưa đến đường cái thì xe quân cảnh Mỹ còng tay 4 người đưa đi.
Tất cả đều đến chỗ chúng tôi, anh tôi hỏi:
- Hai em có bị thương không?
- Dạ không, chỉ sợ thôi.
- Bạn này cũng là Không Quân ?
- Tôi Đại úy Hải Quân Hà Ngọc Lương.
- Đại úy Không Quân Bùi Gia Định.
- Trung úy Không Quân Nguyễn văn Nhị
- Bác Sĩ Thạch.
Họ tự giới thiệu.
- Sao anh lại ở đây? Anh đánh giỏi quá!
Bữa nay không có ca mổ, trời khá nóng nên anh ra biển uống ly nước. Thấy có dấu hiệu cầu cứu bắn lên, anh bạn này chạy trước, anh chạy theo. Đến nơi mới thấy 4 người Mỹ đang vây 3 em lúc chiều đến nhà. Cũng tội các người Mỹ, hôm nay là ngày lễ Độc Lập của nước Mỹ, nhớ nhà nên họ uống rượu giải buồn.
- Lỗi cũng tại tôi bảo vệ mà đi cách xa quá, thấy hai người con gái đi một mình, nên người Mỹ hiểu lầm.
- Mời tất cả vào quán uống nước.
- Cảm ơn bác sĩ, chúng tôi phải tìm lại giày, dép và đến chỗ để xe vì hẹn các bạn đi bay rồi đến đó. Mời anh Lương đi cùng cho vui.
Anh kêu tôi ra, đưa riêng cho hai tờ giấy bạc có hình Đức Trần Hưng Đạo.
- Đi ăn, em trả tiền giùm anh.
- Ngày mai 6 giờ chiều mời tất cả các bạn đến nhà hàng Đồng Khánh ăn cơm cùng anh em chúng tôi, bên Không Quân cũng như Hải Quân rủ thêm bạn bè đến cho vui.
Ra xe vẫn ngồi như lúc đi, anh Lương và anh Nhị ngồi một bên, nói chuyện có vẻ tương đắc. Một xe Honda ngừng lại, anh Yên bỏ anh Dọng xuống chạy đi liền, nói to.
- Các bạn xuống trước, hẹn gặp ở quán phở gà.
Anh Dọng nhảy lên, anh Nhị giới thiệu anh hai với nhau. Anh Dọng ngồi sát gần tôi phía bên này.
- Báu phải vịn thật chặt kẻo xe thắng dễ bật ra sau, để anh phụ.
Dọng lợi dụng một tay cầm tay tôi, một tay ôm trên vai, và ngâm nhỏ.

Cầm bàn tay đẹp anh thầm khen
Nước da trắng mịn như băng tuyết
Ấm áp dịu dàng tựa tay tiên (Nguyễn Quảng Tuân)

- Thôi xạo vừa thôi, anh gặp tiên hồi nào mà biết?
- Lúc nảy bay đó, anh và Yên khi bay qua biển, hai chiếc đều nghiêng đôi cánh và chớp chớp đèn, là đang nhìn các nàng tiên.
- Đừng xạo nữa, lúc vào tiệm ăn nhớ săn sóc giùm hai bạn Báu, anh cười gật đầu rồi nói to.
- Anh Lương và anh Nhị lúc vào tiệm ăn, Báu nhờ hai anh lo giùm cho hai cô bạn.
Tôi ức quá nhéo anh một cái, vải áo bay quá dày và nhiều túi chồng lên nên chả thấm gì cả.
Xuống xe tôi kín đáo đưa tiền cho Định giữ, nhờ mua thêm ba ổ bánh mì để cho người giúp việc và chị Hương, người theo hầu tôi.
Trong lúc ăn các anh bàn về chuyện đánh nhau, anh Lương nói:
- Người Mỹ vì tự do đã qua giúp Miền Nam Việt Nam, để quân đội mình đánh cộng sản Phương Bắc, đó là cái ơn mình phải nhớ, nhưng họ làm bậy mình phải sửa, mình là dân Việt mà.

Nghe như tiếng của cha ông dựng nước,
Truyền con cháu phải ngẩng đầu cao mà bước.
Nghe như lời cây cỏ gió mưa,
Đang hát tiếp bài ca bất khuyết ngàn xưa, (Lê anh Xuân)

Anh Yên chăm sóc từng chút cho bạn gái. Anh Lương và anh Nhị hết lòng với 2 bạn tôi, tôi thấy mát ruột và nghĩ hồi chiều phải chi anh Nhị như vầy thì đâu có đánh nhau, mất đi một đêm trăng đẹp, biết đâu trái tim của hai công chúa sẽ đập sai nhịp liền.
- Anh Lương tối nay về đâu?
Định cho tôi xuống trước Trung Tâm Hải Quân vì tàu tôi neo ở đó.

Nghe sóng biển mình say nhịp bước
Lời ái ân như nước biển dâng.
Trong lòng cảm thấy lâng lâng
Hoàng hôn buông xuống mây hồng nẻo xa. (Nguyên Quãng Tuân)

Biển chưa ngủ biển đêm nay đang thức
Gởi riêng trẻ những hải đảo chân trời.
Anh về biển quên tuổi đời khôn lớn
Gọi trùng dương mỗi hai tiếng em ơi. (Triều Dâng)

Định xuống xe bắt tay anh Lương và đưa bao bánh mì thật to.
- Nhờ anh đưa giùm cho anh em trên tàu, không phải tiền tôi đâu, bác sĩ lúc nảy đưa tiền đó, ngày mai gặp lại anh.
Hai công chúa về trước tôi, anh Nhị và anh Dọng cũng nhảy xuống xe và lấy lại phong độ của lính tàu bay, người đẹp không còn lời nào để chê Không Quân.
- Đây bánh mì của Báu, gởi tiền còn lại để mai bác sĩ bao tụi mình nữa, phần này đem về Phi Đoàn, anh em đi bay ai cần thì lấy ăn, cứ hai chiếc đáp thì hai chiếc bay lên, phải tuần suốt đêm.
Tôi nhái Định bay đến LÒI KÈN. Cả bốn cất tiếng cười thoải mái vui vẻ.
Nhờ anh Lương mà trong nhóm quen được thêm hai anh Sĩ Quan Hải Quân, lịch thiệp giỏi dang. Hai công chúa bạn tôi sau bữa cơm đó cứ hỏi về anh Lương và anh Nhị, muốn tôi tổ chức một buổi gặp mặt nữa. Định khuyên không nên, hãy rút kinh nghiệm của Định.
Nếu hai người trẻ có yêu nhau thì cha mẹ của các cô không bao giờ chịu gã, nếu họ lịch sự thì âm thầm cho con gái mình đi du học, còn không thì mời chàng trai đến để nói:
- Xin anh hãy để cho em nó học, vì em còn nhỏ quá, gia đình tôi đã bàn kỹ rồi, xin anh thông cảm.
Vậy là các người lính như tụi mình.....thất tình. Vì không ai chịu gã con cho những người lính, vì lính là nghèo.
- Định sai rồi, các anh nhớ đã có lần khoe cùng Báu, là Vị Tổng Thống đương thời đã ghi vào sổ vàng của Không Quân: “TRÊN ĐẤT NƯỚC THƯƠNG YÊU CỦA CHÚNG TA, KHÔNG GIAN LÀ CỦA CÁC BẠN”.
- Khi Tổng Thống đến Hải Quân người sẽ viết: “TRÊN ĐẤT NƯỚC THƯƠNG YÊU CỦA CHÚNG TA, BIỂN CẢ LÀ CỦA CÁC BẠN”.
- Khi Tổng Thống đến Bộ Binh người sẽ viết: “TRÊN ĐẤT NƯỚC THƯƠNG YÊU CỦA CHÚNG TA, ĐẤT VÀ RỪNG LÀ CỦA CÁC BẠN”.
Báu nghĩ người lính các anh giàu nhất! Không Quân có Không Gian, Máy Bay. Hải Quân có Biển Cả, Tàu Thủy. Bộ Binh có Đất, Rừng, Xe Tăng.
Nên các anh cứ hãnh diện, sống hiên ngang vui vẻ làm hết bổn phận mình, chuyện tình cảm rất kỳ diệu, cái gì của mình là của mình.

Trời xanh đây là của chúng ta
Núi rừng đây là của chúng ta
Những cánh đồng thơm mát
Những ngã đường bát ngát
Những dòng sông đỏ nặng phù sa
Nước chúng ta
Nước những người chưa bao giờ khuất (Nguyễn Đình Thi)

Các bạn cười thật lớn và vui vẻ.
Sau tháng 4 năm 1975, tin buồn từ Nha trang đưa vào gia đình Trung Tá Kỹ Sư Hải Quân HÀ NGỌC LƯƠNG cùng vợ Lê THỊ KỲ DUYÊN và các con tự tử chết vì không muốn đầu hàng cộng sản. Bác sĩ Thạch chết trong trại cải tạo. Chồng tôi, các bạn đều bị tù khổ sai.
Tôi đã chảy nhiều nước mắt trong những năm dài sống dưới chế độ mới, hy vọng một ngày gặp lại được tất cả, chồng và bạn bè. Nay được coi DVD chùa thầy Thông Lai tổ chức long trọng trang nghiêm, buổi lễ truy diệu cầu siêu, rước di ảnh các anh hùng vì nước vong thân đưa vào Đền Thờ Tổ Quốc ở chùa.
Những chàng trai của đất Việt ơi ! Các anh sanh ra và lớn lên trong thời chiến, các anh đã đem hết sức mình để bảo vệ đất nước quê hương, mỗi anh có một nhiệm vụ, một công việc riêng, nhưng một điểm chung là lòng yêu nước.
Đời người ai cũng một lần chết, các anh đã chọn cho mình một cách chết tự kết liễu đời mình. Hay bất khuất bỏ mình khi bị giam cầm trong lao tù cộng sản. Những người con ưu tú của Không Quân đã cống hiến đời mình cho Tổ Quốc khi chiến đấu, các anh đã nằm xuống nơi đất mẹ, đất ôm các anh vào lòng, nước che chở bảo bọc các anh. Dù người nổi tiếng hay vô danh, những Quân, Dân, Cán, Chính của Việt Nam Cộng Hòa các anh chết trên đất mẹ hay chết nơi xứ lạ, nhưng các anh một thời đã từng bảo vệ quê hương vì Tự Do, Dân Tộc. Các anh là Đất Nước, là Quê Hương, là Tổ Quốc, là Hồn Thiêng Sông Núi..
Đất nước là cái gì hài hòa nồng thắm, là cánh chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc, là con cá ngư ông móng nước biển khơi, bụi chuối, khóm trúc, hàng tre, cành hoa mai, mẹ già, là con đò nhỏ, đàn cò trắng, là thời gian, không gian v.v... Các anh đã về hoà vào Đất Nước Việt.
Các anh ơi! Chúng tôi những người sống ở xa, nhưng lúc nào cũng hướng về Đất Nước, Quê Hương, trong tâm chúng tôi vẫn nhớ mãi và mang ơn các anh, hỡi những chàng trai của Đất Nước Việt Nam yêu dấu.

KiwiTeTua
10-03-2018, 08:53 PM
Tình cờ đọc trong bài thấy có nói đến Đại Úy Bùi Gia Định.

Khi tôi còn là SVSQKQ ở ngoài Nha Trang, anh Bùi Gia Định đã mang lon Trung Tá, Không Đoàn Trưởng A37? (lúc đó nghe chị Định nói anh là Liên Đoàn Trưởng Tác Chiến của các phi đoàn A37 của SĐ2KQ? hay là Tham Mưu Trưởng Hành Quân của SĐ2KQ?). Thật tình tôi chỉ thấy anh mặc đồ bay với lon Trung Tá chứ không biết chức vụ anh.

Người dì ruột của anh Định, ông bà bác sỉ Nhờ, là bạn thân của ba má tôi, thường hay đến nhà chơi.... Hai bác là người Huế, bác gái nói tiếng Huế "nặng", khó tánh nhưng với tôi thì bác dể dải, rất thương tôi

Vài ngày trước khi tôi ra TT Huấn Luyện Nha Trang, hai bác có đến thăm và bác gái nói "bác có người cháu là Trung Tá KQ ngoài đó, không biết bay loại chi, bác sẽ nói đến đón con về nhà chơi...". Tôi nghe mà cũng không để ý và sau đó những tuần lể "huấn nhục" cũng làm tôi quên đi...

Một buổi chiều Thứ 6, trong thời gian "huấn nhục", đang bị phạt te tua thì có một cán bộ đàn anh đến bảo tôi lên văn phòng Thiếu Tá Bé trình diện..... Tôi nghĩ trong bụng "Chết mẹ, hồi nảy sắp hàng đi từ "nhà bàn" về, mình làm cái gì mà bị gọi trình diện Thiếu Tá Bé?".

Khi vào văn phòng Đoàn Trưởng Đoàn SVSQ, Thiếu Tá Nguyễn Văn Bé trình diện, chào tay, xưng tên và khóa... Không biết chuyện gì sẽ xảy ra? Cạo đầu và nhốt Conex? Trong lòng tôi, ruột gan tơi bời, héo hon, "teo" gần chết..... Thiếu Tá Bé chào tay lại và nói "đây là Trung Tá Định đến lãnh anh đi phép....". Nhìn lại mới thấy một ông mặc đồ bay, đeo lon Trung Tá, nhìn tôi cười cười... và nói "bác Nhờ và "mân" (maman - bà già tui) có kêu anh đến đón em đến nhà chơi rồi đi ăn cơm... Em về lấy ít đồ thay, rồi trở lại đây, anh chờ..."

Tôi mừng hết lớn, chào hai ông rồi ba chân bốn cẳng chạy về barrack Ngân Hà lấy 1 bộ đồ vàng "đi phép", 1 bộ đồ dân sự và 1 bộ đồ ngũ, rồi vội vả trở lại văn phòng Thiếu Tá Bé.... Giấy phép Thiếu Tá ký đi từ chiều Thứ 6 đến chiều Chúa Nhật mới về lại trại. Khỏi bị phạt mà còn phây phả được đi phép trong những tuần "huấn nhục"... Ôi còn chi hơn nữa, thiên đàng là đây!

Sau đó, sau khi qua tháng "huấn nhục", đã gắn "con cá" (Alpha), vài tuần anh chị Định lại lái chiếc pick up xanh KQ vào đón tôi về nhà chơi chiều Thứ 6, ăn cơm nhà hay ra tiệm ăn, rồi ngũ lại nhà anh chị, sáng ngày sau Chúa Nhật mặc đồ vàng đi phép ra phố tự túc.

Anh Định còn có xin Thiếu Tá Bé ký giấy cho tôi về phép Sàigòn, anh còn gởi tôi đi "quá giang", về Sàigòn bằng Skyraider AD-5, cùng chuyến với Đại Tá Lý Bá Phẩm, Tỉnh Trưởng tỉnh Khánh Hòa lúc bấy giờ. Chuyến bay chỉ có ông pilot, ông Tỉnh Trưởng và SVSQKQ mặc đồ vàng, đeo "Alpha"... SVSQKQ chào lia chia và trong cả chuyến bay về Sàigòn im ru, chả dám ho hen, nói năng gì hết...

Những năm trước, trong CT, tôi tình cờ được biết anh Lưu Huy Cảnh (Cảnh "đầu bò" - Trung Tá A37), cho biết tin tức và số điện thoại của Trung Tá Bùi Gia Định.
Lúc đó bận rộn, lu bu đủ thứ, tôi chưa kịp liên lạc với anh Định thì được tin anh đã mất.

Hơn 45 năm qua, tôi vẫn còn nhớ đến anh chị Bùi Gia Định..... :40:

Nguyen Huu Thien
10-04-2018, 10:56 AM
Năm 1971, nhờ giữ chức vụ Sĩ Quan Báo Chí CCKQ Pleiku, lại là thuộc cấp cũ của Trung tá Lê Bá Định, Liên đoàn trưởng LĐ72TC, tôi mới được hân hạnh ngồi ké A-1E (tức AD-5) của anh Phạm Văn Thặng (PĐ-530) trong một phi vụ “liên lạc” Nha Trang. Đã tưởng mình ngon, nay mới biết KiwiTeTua còn bảnh hơn, mới mang “con cá” mà đã được ngồi A1-E về Sè-goòng!

Chưa kể chuyến đó chắc chắn ông pilot bay êm, vì có ông Đại tá Tỉnh trưởng trên tàu. Còn tôi thì bị ông “Thặng Fulro” quần, hai ba ngày sau vẫn còn phê!

KiwiTeTua
10-04-2018, 09:17 PM
Năm 1971, nhờ giữ chức vụ Sĩ Quan Báo Chí CCKQ Pleiku, lại là thuộc cấp cũ của Trung tá Lê Bá Định, Liên đoàn trưởng LĐ72CT, tôi mới hân hạnh được ngồi ké A-1E (tức AD-5) của anh Phạm Văn Thặng (PĐ-530) trong một phi vụ “liên lạc” Nha Trang. Đã tưởng mình ngon, nay mới biết KiwiTeTua còn bảnh hơn, mới mang “con cá” mà đã được ngồi A1-E về Sè-goòng!

Chưa kể chuyến đó chắc chắn ông pilot bay êm, vì có ông Đại tá Tỉnh trưởng trên tàu. Còn tôi thì bị ông “Thặng Fulro” quần, hai ba ngày sau vẫn còn phê!


AD-5 / A1-E Skyraider

<iframe width="900" height="450" src="https://www.youtube.com/embed/ESlUl_zeuOQ" frameborder="0" allow="autoplay; encrypted-media" allowfullscreen></iframe>

Phòng Trực
10-15-2018, 10:52 PM
THEO ĐẠO NÀO
Trương kim Báu

Sau thời đọc kinh của chùa Phật Đà tiểu bang Queensland, sư cô mời tất cả Phật tử dùng cơm trưa, đây là lệ thường của tất cả các ngôi chùa Việt ở Australia này.
Tôi bưng phần ăn của mình tìm bàn trống, bà bạn lúc nảy đọc kinh kế bên ngoắc tôi đến ngồi chung bàn. Hai ông bà này hơn 60, ăn xong ông đứng dậy thâu hết chén đĩa của hai người và lấy luôn phần của tôi đi rửa.
- Phần tôi, xin anh để tôi tự rửa.
- Bà chị lớn tuổi rồi, để tôi rửa kiếm chút phước.
Nghe ông nói vậy tôi chỉ biết cười và cảm ơn. Còn lại hai người đàn bà, người vợ mới bắt chuyện và hỏi thăm tôi.
- Bà chị mới đi chùa này hay sao, lúc trước không thấy chị ?
- Dạ, tôi ở Melbourne, mùa đông lạnh quá nên lên đây trốn lạnh.
- Chị có cháu nội ngoại nhiều không ?
- Dạ, cũng được vài cháu.
- Sui gia chị đạo Phật hay đạo khác ?
Sao mới nói chuyện lần đầu mà điều tra kỹ quá, chắc bà đang làm thống kê về tôn giáo ?
- Dạ, sui gia tôi đạo Phật.
- Bà chị thật có phước, sui gia cùng một đạo.
Đang nói đến đây thì một bé trai khoảng 8 tuổi mặc đồng phục Võ Vô Vi Nam chạy đến ôm bà.
- Bà Nội, bà Nội, ông Nội đâu rồi ?
Hai bà cháu ôm nhau có vẻ thân mật lắm thì nghe tiếng gọi:
- Tuấn ơi !Tuấn ơi !
- Thôi con chạy ra với bà ngoại đi, để bà con tìm, tuần sau ông bà nội đón con.
- Cháu nội chị hả, mặt mày sáng láng đẹp trai quá, cháu đi sinh hoạt gia đình Phật tử xong rồi qua học võ hả chị ?
- Dạ .. dạ, không.........
Chùa Phật Đà này đẹp quá, đất rộng, cây nhiều mát mẻ. Buổi sáng có gia đình Phật Tử Chánh Tâm sinh hoạt, dạy Phật Pháp và dạy tiếng Việt, đến trưa được các anh chị trong gia đình lo cho ăn trưa. 1 giờ lại qua học lớp võ Vô Vi Nam, thật tiện lợi quá! Cha mẹ yên lòng một ngày cho các con ở trong khuôn viên chùa an toàn, tiếp xúc toàn những điều tốt. Buổi sáng luyện trí tuệ, buổi chiều luyện thân thể. Tôi mới đến chùa này thấy cách sinh hoạt của các em Gia Đình Phật Tử và lớp Võ mà mừng, thế hệ sau được đào tạo vừa đạo đức, trí tuệ, sức khỏe, võ thuật Việt Nam được lưu truyền. Tiếng Việt, nói, đọc và viết rành rẽ, các em không quên nguồn gốc Việt Nam của mình. Tiếng Việt còn nước Việt còn.
- Cháu nội anh chị thật có phước.
- Dạ ..Dạ..
Tôi vui quá và cảm động, nghĩ đến tương lai thể hệ thứ 3 tiếp nối, các cháu sẽ đem nhiều lợi ích cho nước Úc, đó là cách trả ơn nước Úc giàu lòng bác ái cứu vớt người tị nạn Việt Nam mình, đó cũng là nguyện vọng của thế hệ trước.
- Bà chị ơi ! Gia đình tôi không được như vậy, buồn lắm! Tôi xin kể bà chị nghe.
Vợ chồng tôi chỉ có 1 đứa con trai thôi, chúng tôi vượt biên đến Úc, lúc đó cháu còn bế, bà chị cũng biết qua đây đâu giám sanh thêm. Phần đi làm để gởi tiền về Việt Nam giúp gia đình 2 bên Nội Ngoại, chúng tôi ráng lo cho con tốt nghiệp đại học để sau nhờ tấm thân, không phải khổ như cha mẹ. Qua là lo đi làm kiếm tiền, đâu có đi học, chồng tôi cũng là lính Không Quân nhưng cấp nhỏ, đi tù cải tạo chỉ có 10 ngày thôi.
- Vậy là gia đình chị có phước quá.
- Con tôi học năm cuối thì nó gặp mẹ thằng Tuấn, hai đứa thương nhau, nhưng bên gia đình đàng gái mới qua, do sự bảo lãnh của người con trai lớn, nên con dâu phải đi học lại, tụi nhỏ hẹn chờ nhau. Con trai đi làm đặt cọc mua nhà để cưới vợ rồi ra riêng, đó cũng là điều kiện bên gái bắt vì họ không muốn con mình làm dâu.
Nhưng khi gần ngày cưới thì bên đàng gái bắt con trai tôi đi rửa tội, phải vào đạo Thiên Chúa mới cho cưới. Chuyện đạo tưởng hai đứa nhỏ rã rồi, thật khó khăn mới giải quyết được. Đạo ai nấy giữ.
Từ khi sanh cháu Tuấn ra, được hai bên Nội Ngoại chia nhau giữ mỗi bên giữ 1 tuần vì tụi nhỏ đều đi làm, sáng chở đến chiều đón về, chúng tôi đi chùa mỗi chiều nên đưa cháu đi cùng luôn.
Vào chùa cháu theo sát ông bà Nội, lạy Phật, đọc kinh, niệm Phật, ngồi thiền. Cháu ngồi thiền đẹp như ông Phật con (đó là lời các bà đi chùa khen).

Bàn tay ta vun đắp
Thành bại thuộc vào duyên
Vinh nhục ai không gặp
Có chi phải ưu phiền (Thơ Như Nhiên)

- Một hôm gia đình con trai tôi tổ chức đi picnic với hai bên nội ngoại đi cùng. Trong lúc ngồi chơi dưới bóng cây, tự nhiên bên ngoại cháu Tuấn hỏi.
- Tuấn, cháu đã rửa tội rồi có nhớ đọc kinh trước khi ngủ không ? Cháu thích đạo Phật hay đạo Chúa?
- Con thích ông Phật vì ông thường cười với con, còn ông Chúa không bao giờ nhìn con, tóc ông rủ xuống, máu đầy mặt, con sợ, con không thích ông Chúa.
- Chuyện cháu Tuấn đi rửa tội, chẳng hiểu con dâu biết trước hay do ý của ông bà ngoại. Mà hôm đó hai vợ chồng nó giận nhau và cuộc đi chơi không còn vui. Vợ chồng tôi cũng buồn và khó chịu vì đó là đứa cháu nội của mình.

Người ơi ! Mở cánh cửa lòng
Để cho trời đất mênh mông hiện vào
Mỗi bình minh đến ngọt ngào
An lành trên mỗi tế bào thân, tâm (Như Nhiên)

Sau đó chúng tôi vẫn tiếp tục giữ cháu như trước, nhưng bên Nội và Ngoại không được đưa cháu đi chùa hay đi nhà thờ nữa. Chuyện đi nhà thờ và chùa là do cha mẹ cháu sẽ dẫn đi. Khi đến 21 tuổi cháu Tuấn sẽ tự chọn đạo Phật hay Chúa. Vì lý do đó cháu không được đi sinh hoạt gia đình Phật Tử, chỉ đi học Võ thôi. Vì Võ Vô Vi Nam là võ của Việt Nam, không phân biệt tôn giáo hay dân tộc nào hết .
Nghe chị bạn mới quen than thở tôi thấy thương chị mà thương luôn bà sui của chị.
- Anh chị đi chùa đã lâu, cũng hiểu đạo Phật là Tuỳ Duyên và Vô Ngã thật hay. Nếu áp dụng được trong đời sống thì cuộc đời mình nhẹ tênh. Không có cái gì là của mình, là của riêng mình, đủ duyên thì tụ lại gặp nhau, hết duyên thì tan rả xa nhau.
Con trai và con dâu để cháu nội chị 21 tuổi mới quyết định vào đạo nào là đúng.
Tôn giáo là phải đem đến cho người sự thảnh thơi, thanh tịnh, mở lòng yêu thương, biết vượt qua những nghịch cảnh, chướng duyên, biết buông bỏ để tìm sự bình yên thật sự.
Tôn giáo không nhất thiết phải bắt người này, người kia theo đạo mình và làm khó dễ trong vấn đề hôn nhân đôi lứa.
Vào đạo nào cũng vậy, trước hết ta phải tìm hiểu rõ mục đích của đạo ấy là gì ? Như đạo Phật là đạo Trí Tuệ và Từ Bi, giảng về Nhân Quả, không phải để hù dọa con người mà có ý muốn nhắc nhở. Đã là chân lý thì dù người có tin hay không thì vẫn luôn tồn tại muôn đời. Như chị trồng cây mít thì có trái mít, chứ không thể trồng cây mít mà ra trái chanh hay trái khác được.

- Gieo Nhân nào thì gặt Quả Đó phải không chị?
- Chị và tôi đến với giáo lý nhà Phật đều hiểu là mình không phải quy y theo đạo Phật là để đến lúc chết Phật sẽ đưa mình về cõi thiên đàng. Phật là vị Thầy chỉ đường cho mình đi, chúng ta phải tự tu theo lời Phật dạy. Trên đường tu còn có quí thầy, quí sư cô tu chân chính, đó là trưởng tử của Phật, sẽ giảng dạy giúp chúng ta vượt những khó khăn, nhưng vấn đề chính vẫn là mình tự đi, không ai tu giùm mình cả kể luôn Phật.
Nhưng muốn giải thoát sinh tử luân hồi thì cuộc sống hiện tại trong cõi đời này tâm phải thật bình yên, lòng không còn ham muốn bất cứ điều gì. Tham, Sân, Si không còn. Sống tự tại ung dung trong tinh thần Vô Ngã.
Tìm hiểu đạo Phật thật kỹ, đọc những lời Phật dạy và tự tìm Phật ở trong mình, sống trong tỉnh thức từng giây từng phút, biết quay về lắng đọng nguồn cơn.
Bọn trẻ không cần đi chùa mỗi ngày đọc kinh như người già, như đọc mà không hiểu kinh nói gì. Cũng không cần luôn cầm xâu chuỗi niệm Phật như chúng ta, miệng đọc mà tâm chạy đi đâu không biết.
Bọn trẻ biết sửa khi mình sai, biết mở lòng ra giúp đỡ mọi người với khả năng học thức của mình, biết mỉm cười bình tỉnh trước mọi khó khăn và tìm cách giải quyết, chấp nhận sai của mình cũng như của người khác rồi buông bỏ, không thù, không nhớ.

Quá khứ đã chết trong niềm hoang dại
Vì tương lai gạo sống chửa thành cơm (Như Nhiên)

Còn tuổi già mình thì luôn nhớ về quá khứ thời huy hoàng đã xa, cứ nhìn lỗi con cháu mà không bao giờ nhìn lại bản thân mình, ai nói đến lỗi mình thì tủi thân khó chịu, cái nhìn của người già hạn hẹp quá, tự mình làm khổ mình.

Ngó lỗi người lòng con bị đóng khung
Đời con khổ trong ánh nhìn hạn hẹp (Như Nhiên)

Chị à, chúng ta những người từ bỏ quê hương ra đi, đã vượt biển tìm tự do cho bản thân và tương lai thế hệ con, cháu. Bây giờ chúng đã thành tài nơi xứ tự do này, đời sống ấm no, đầy đủ vật chất, chùa có khắp nơi, giáo lý Phật chỉ cần bấm Internet lên là có sách Phật đủ loại, đủ thứ tiếng. Muốn nghe băng Thầy nào giảng cũng có, nay bổn phận chúng ta đã làm tròn, bây giờ để Tùy Duyên thôi, chị nghĩ đúng không?
Tuổi già đã đến, con người không chỉ là cần vật chất mà còn cần đời sống tâm linh, chúng ta đến chùa để nương theo giáo lý của Đức Bổn Sư tìm và phải giữ được an bình trong tâm đến cuối cuộc đời, để ra đi nhẹ nhàng về lại cội nguồn.

Một vầng trăng lạnh ven trời
Thiêng liêng dáng Phật giữa đời vô minh
Một khuya ta ngó lại mình
Công phu dưa muối vẫn hình như chưa. (Toại Khanh)

Xin chị cứ vui vẻ mà lo tu hành, phải sống thật tốt như tấm gương. Một ngày nào đó, cháu nội chị lớn, khi tìm hiểu về Đạo Phật và Đạo Thiên Chúa cháu sẽ biết cách chọn lựa.
Vì chúng ta đều là những người khách qua đường, đây chỉ là quán trọ, có nhiều sự tình, chúng ta đều không làm chủ được, hết thảy đều nên để tuỳ duyên.

Lạy ơn Phật, con nguyền buông khát vọng
Để hồn con lồng lộng lối yêu thương
Giữa trần gian vững chải một con đường
Đường hạnh phúc chân thường in bóng Phật (Như Nhiên)



https://hoiquanphidung.com/uploadpics/pics2018/1539643565-20171125_163818.jpg

https://hoiquanphidung.com/uploadpics/pics2018/1539643583-20180825_175515-1.jpg

https://hoiquanphidung.com/uploadpics/pics2018/1539643606-IMG-1a6423205e3b54ea3c93bf26da772742-V.jpg

https://hoiquanphidung.com/uploadpics/pics2018/1539643622-IMG-3d945006139b387f5ddee518ddf35711-V.jpg

https://hoiquanphidung.com/uploadpics/pics2018/1539643639-IMG-7a44376c6fd31aa37a7bd53a4c16973d-V.jpg

https://hoiquanphidung.com/uploadpics/pics2018/1539643669-IMG-780ce1216400cb7617ed555e06d11627-V.jpg

https://hoiquanphidung.com/uploadpics/pics2018/1539643684-IMG-36899a51619ca8494ee5a37065679d8d-V.jpg

https://hoiquanphidung.com/uploadpics/pics2018/1539643698-IMG-91189d0d3d2cfef2ae9bb915cb8a182e-V.jpg

Phòng Trực
10-15-2018, 10:55 PM
Nhớ Mẹ
Trương kim Báu.

Cách đây không lâu, trong một dịp ghé thăm nhà người bạn, bạn tôi đem ra khoe cho tôi coi ba cái tượng bằng gỗ quý được đánh bóng rất đẹp. Nhìn thấy ba cái tượng tôi chợt cười lớn làm bạn tôi không kềm được cũng cười theo... Ðó là ba cái tượng, mỗi cái lớn hơn nắm tay một chút, khắc chạm rất khéo léo nhưng mà... lại chạm hình ba con khỉ..... Ba con khỉ ngồi trong ba tư thế khác nhau, con thì bịt mắt, con thì bịt tai, con thì bịt miệng... Sợ tôi không hiểu, bạn tôi nói:
- Nghe người ta nói ba cái tượng này mang nhiều ý nghĩa Thiền...

Tôi cũng mường tượng ra điều đó... Nhưng rồi một nỗi xót xa không biết từ đâu chợt kéo đến làm cho tôi suýt nữa đã không cầm được nước mắt... Vì nhìn hình ba con khỉ, con thì bịt mắt, con bịt tai con bịt miệng, trong lòng tôi chợt bùng lên hình ảnh cũ của một thời đã qua mà chỉ có những người cùng hoàn cảnh và cùng thời với chúng tôi mới hiểu được...

Ðó là thời sau tháng 4/75, những người vợ của những quân nhân và vợ các công chức của chế độ cũ như chúng tôi được “người ta” khoát cho một cái nhãn hiệu là “vợ ngụy” và vì “người ta” đã coi chúng tôi là kẻ thù cho nên “người ta” đã không đối đãi chúng tôi bằng tình người... Vì vậy nên tình cảnh của chúng tôi không khác gì ba con khỉ này...

Cửa địa ngục ở hai bên lồng ngực
Phải vác theo trăm tuổi đường dài
Nên có gửi cho ai vài giọng nói
Cũng nghe buồn da diết chạy trên môi (Nguyên Sa)

Có mắt nhưng phải giả như mù trước mọi cảnh ngang chướng chung quanh mình... Sách báo thì chỉ một chiều ca tụng “cách mạng” và nói tốt chế độ... Nếu coi sách báo cũ và bị ai đó bắt gặp thì coi chừng bị báo cáo và sẽ bị rắc rối... Lúc nào cũng lo âu sợ sệt, sợ bị báo cáo, như vậy thì người ta đâu còn tâm trí nào để mà xử dụng cặp mắt để nhìn cây ngắm cảnh... Cho nên cầu mong được nhắm mắt ngủ giấc ngàn thu có lẽ yên thân hơn là sống trong phập phồng...

Có tai nhưng tai của mình chỉ để nghe người ta chửi mình từ ngày này qua tháng nọ chớ không được nghe thứ gì khác, nghe một bản nhạc hay, nghe ngâm một bài thơ cũ đều được gán cho cái nhãn hiệu “phản cách mạng”.... Thà bịt tai lại cho tâm trí bớt đảo điên, cho lòng bớt sôi lên vì căm phẩn...

Có miệng nhưng không được nói điều mình muốn nói mà chỉ được nói lại những gì mà người ta muốn mình nói, cho dù phải nói đi nói lại, chẳng hạn mở miệng ra là phải nói tốt “cách mạng” nói tốt chế độ... Như vậy thì thà bịt miệng lại giả làm người câm mà lại hay hơn...

Hai mắt rỗng phải che bằng khói thuốc
Chúng tôi nằm run sợ cả chiêm bao
Mỗi buổi sáng mặt trời làm sấm sét
Nên nhìn đêm mở cửa chẳng đi vào . (Nguyên Sa)

{Tôi xin được nhắc lại những điều đó không phải để khích động sự thù hằn mà là để cho các thế hệ con cháu chúng tôi sau này hiểu rằng cha mẹ, ông Bà chúng đã trải qua những tình huống đắng cay như vậy ở ngay trên quê hương ruột thịt của mình cho nên mới phải trở thành những kẻ lưu vong tị nạn nơi xứ người.}

Cuộc sống của những người như chúng tôi như bị đóng trong một khuôn khổ nhứt định, có đôi lúc tôi có cảm tưởng như mình đang ở tù giữa lòng xã hội trên chính quê hương mình, cũng may là tôi còn có mấy chỗ dựa để được an ủi...

Những lúc tôi cảm thấy quá mệt mỏi với cảnh sống ngột ngạt ở thành phố, tinh thần bị căn thẳng, tôi bồng bế các con về quê thăm ba má chồng tôi, để tìm nơi ấy một sự an ủi...

Nhìn những giọt nước mắt lăn dài trên đôi gò má nhăn nheo của mẹ chồng tôi mỗi khi nhắc đến những đứa con trai của Bà hiện đang tù đày không biết nơi nào trên chính quê hương mình, trong đó có chồng tôi, tôi cảm thấy có một chút an ủi là không phải chỉ mình tôi khổ... Và tôi cũng cảm thấy rằng những giọt nước mắt của Bà đã đem lại cho tôi một nguồn sinh lực để tôi vững bước chống chỏi với những bất hạnh trên đời, để làm tròn bổn phận đối với các con tôi... Bà như chiếc phao còn tôi là người bị chìm tàu giữa biển đời đầy sóng gió...

Cứ muốn về ngã đầu vào lòng mẹ
Cởi mở nỗi niềm mà sợ mẹ buồn đau
Nghe con nói chắc mẹ lại thêm sầu
Mẹ khổ tâm khi biết đời con dâu bể (A Ka Thủy)

Trong ý nghĩ của tôi, mẹ chồng tôi đáng là một người đàn Bà Việt Nam gương mẫu, Bà đã hy sinh cả cuộc đời cho chồng, cho con, Bà đã buôn bán tảo tần giúp chồng nuôi một bầy con cho đến ngày trưỏng thành, đã có địa vị trong xã hội, mong ước sẽ được những chuổi ngày nhàn hạ ở cuối đời... Nhưng nay điều ước mong bình thường đó của Bà đã không thành, tình thế thay đổi, những người có địa vị trong chế độ cũ của niềm Nam bây giờ đã trở thành những người tù không có bản án, tức là tù không biết ngày nào ra... Ai ở vào hoàn cảnh của tôi lúc đó mới thấy một nổi xót xa đến cùng cực...

Trong tâm tôi, tôi kính phục mẹ chồng tôi, Bà là người mất mát nhiều hơn tôi, là người đau khổ nhất trong chúng tôi, nhưng Bà lại là người can đảm nhất. Cũng có thể vì Bà tự biết rằng Bà là người đứng đầu thuyền lướt sóng, không những Bà phải dìu dắt cho những nàng dâu ngơ ngác như tôi vượt qua biển khổ... Mà Bà còn có bổn phận an ủi vổ về các cô con gái và một bầy cháu nội cháu ngoại mà cha chúng đang chịu cảnh tù đày...

Trong đời người, ai cũng có những hình ảnh mà mình không bao giờ quên được mà đối với tôi hình ảnh Bà mẹ chồng tôi là một. Làm sao tôi quên được những ngày cận tết tôi đưa các con về quê nội. Từ sáng sớm Bà đã còng lưng với gánh trái cây vườn nhà đem ra chợ bán để đỗi lấy những thứ cần dùng cho ba ngày tết...

Về tới nhà, vừa hạ đôi quang gánh xuống là Bà bận bịu tíu tít để chuẩn bị các thứ cho nồi bánh tét sẽ nấu vào buổi tối. Trong khi gói bánh Bà nhớ ý thích của từng người con, dâu, các cháu, người thích bánh tét ít nhân nhiều nếp, người thì thích nhân không có mỡ, người thì thích bánh tét nhân chuối...v...v... Nghĩa là dủ loại, đủ kiểu... Rồi Bà còn xào một chảo chuối xào thật to, Bà nói như vậy mới đủ phần chia cho các con cháu về thăm mấy ngày tết để có quà đem theo về nhà mà ăn vì đứa nào cũng vắng cha....

Cứ muốn về ngã đầu vào lòng mẹ
Nắm bàn tay xương xẩu hao gầy
Bàn tay mẹ một đời che chở
Dắt con qua bao vực thẳm sông sâu (A Ka Thủy)

Tối đến, tôi ngồi bên Bà để canh lửa cho nồi bánh tét ở sân sau, nhìn ngọn lửa hồng, rồi nhìn Bà tôi thấy ở Bà hình ảnh của tất cả các Bà mẹ Việt Nam gương mẫu, có một sự chịu đựng bền chắc và hy sinh vô bờ bến. Những ngày ở gần Bà, nhiều lúc tôi thấy Bà quá vất vã nhưng tôi không hề nghe Bà than trách, Bà chỉ khóc mỗi khi nhắc đến các con đang trong cảnh tù đày không biết bây giờ đang ở phương nào. Tôi cảm thương mẹ chồng tôi, tôi tội nghiệp cho chính tôi và tôi tội nghiệp cho tất cả những người đàn Bà Việt Nam thời đó, những người đàn Bà có chồng bị tù đày mà không có án...

Ðó là hình ảnh mẹ chồng tôi. Còn mẹ ruột tôi, vì ở quá xa, phải mất hơn một ngày đường, cho nên tôi có muốn về để tìm hơi ấm trong vòng tay của Bà hay để nghe những lời an ủi vổ về của Bà cũng không được vì lúc đó phương tiện di chuyển đường xa thật hiếm hoi, vã lại lúc đó ai muốn đi xa như vậy phải có giấy phép... Mà những người “vợ ngụy” như tôi không dễ gì xin được...

Ðối với mẹ ruột tôi, tôi có những kỷ niệm thật khó quên...
Vào thời Pháp và Nhật đánh nhau trên đất nước mình, người dân ở thành phố thường bồng bế nhau chạy về miền quê để lánh nạn mà người ta gọi là “tản cư”... Mẹ tôi may một cái đãy để tôi ngồi trong đó rồi Bà đeo trước ngực cho dù đi bộ, đi ghe hay đi ngựa tôi luôn luôn được an toàn trong sự che chở của mẹ. Vì vậy, bây giờ ở đây, mỗi lần nhìn hình ảnh con căn-ga-ru bọc con trước ngực hay là con Koala cõng con trên lưng, cho dù gặp nguy hiễm đến đâu cũng không bỏ con là tôi liên tưởng tớ mẹ tôi...

Chưa hết, khi tôi lớn lên và được gởi đi học xa nhà, mỗi lần về lại nhà trong dịp bãi trường mẹ tôi thường đón tôi trước cổng và nói:
- Thấy cây phượng đầu làng nở bông rộ là má biết con sắp về...
Tôi biết Bà nói câu đó để giải tỏa sự nhớ nhung và lo lắng đã ẩn chứa trong lòng Bà trong suốt những ngày vắng tôi...

Ôi...! Trên đời này có thứ tình nào sánh bằng tình mẹ con và tôi đã trân trọng giữ gìn tấm tình mà mẹ chồng tôi và mẹ ruột tôi đã dành cho tôi... Dù không một đấng mẹ hiền nào mong con trả hiếu nhưng phận làm con ai lại quên công sanh thành, nhưng cơ hội trả hiếu của tôi đã không còn nữa vì cả mẹ ruột tôi và mẹ chồng tôi đã qua đời trong khi tôi còn tay trắng trong những ngày đầu của kiếp người tha hương tị nạn...

Cứ muốn về ngã đầu vào lòng mẹ
Thỏ thẻ mẹ nghe những bụi bặm cuộc đời
Chia sớt với mẹ những buồn vui nếm trải
Mà bao lần con có nói được đâu! (A Ka Thủy)

Tuy rằng ngày xưa, khi tôi theo chồng ở xa nhà, mỗi khi đến sinh nhựt của tôi thì việc đầu tiên tôi làm sáng sớm hôm đó là viết một cái thơ cho mẹ, nhắc lại những kỷ niệm vui vui của hai mẹ con... Nghĩ cho kỷ thì cái chuyện viết thơ đó cũng chỉ để nói rằng con vẫn nhớ mẹ... Nhưng nếu xét cho cùng thì cái nhớ đó rất hời hợt chớ không như bây giờ, nhứt là từ khi tôi biết đi chùa, biết chảy nước mắt khi đọc đến những lời Phật dạy trong kinh “Vu Lan Bồn”, kinh “Phụ Mẫu Báo Trọng Ân”... Lời kinh đã khơi dậy trong tôi cái tình mẫu tử thật đậm đà, thật thắm thía... Làm cho tôi có cảm tưởng rằng tôi vì vô tình nên đã để cho một cái gì đó thật trân quý tuột khỏi tầm tay mà không mong tìm lại được... Vì vậy, người ta thì sao tôi không biết nhưng với tôi và chồng tôi, chúng tôi dành trọn ngày sinh nhựt của chúng tôi để tưởng nhớ công ơn sanh thành dưỡng dục của mẹ...

Hôm nay nhân mùa vu lan , tôi muốn nói lên tấm lòng biết ơn của tôi đối mẹ ruột tôi, người đã mang nặng đẻ đau sinh ra tôi, dạy bảo tôi nên người và tôi cũng tưởng nhớ tới mẹ chồng tôi, người đã thương yêu, săn sóc, lo lắng cho tôi không khác lo cho một đứa con gái nhỏ của Bà.

Tôi xin mượn mấy câu thơ sau đây của Hồ Dzếnh để làm quà Vu Lan cho những người phụ nữ Việt Nam:

Cô gái Việt Nam ơi .
Nếu chử hy sinh có ở đời.
Tôi muốn nạm vàng muôn khổ cực
Cho lòng cô gái Việt Nam tươi .

Phòng Trực
10-31-2018, 11:45 PM
MẸ LÀ TẤT CẢ
Trương kim Báu

Me ơi, hôm nay là Mother's Day. Theo truyền thống của Hoa Kỳ và đa số các quốc gia trên thế giới ngày nay, ngày Hiền Mẫu được tổ chức hằng năm vào Chủ Nhật thứ nhì của tháng 5, tháng của mùa thu, mùa của những chiếc lá đã đổi màu từ xanh ra vàng lợt, đậm, nâu, có cây thì lá toàn màu đỏ rụng đầy thảm cỏ đủ màu sắc như cảnh thần tiên, lòng con dâng tràn cảm xúc. Từng chiếc lá đong đầy thương nhớ con góp nhặt gởi về me, mùa thu gợi nhớ thương, hình bóng mẹ hiền như tràn ngập không gian, cảnh càng đẹp con càng nhớ me và con muốn viết thư về cho me như từ ngày còn bé không có me bên cạnh.
Ngày ba mất, nhiều người đến xin chịu tang và nói họ là con nuôi của ba, tất cả đều là con trai, một số trí thức đã vững nghiệp tiếng tăm trong xã hội và một số sĩ quan, sau này thành những vị tướng lãnh của quốc gia, mẹ xem tất cả đều là con cái.
Có người nói với mẹ.
- Bà hãy coi lại, tại sao ông nhà có nhiều con nuôi vậy, con nuôi hay con riêng ?
- Con nuôi hay con riêng đều là con của chúng tôi, ông chu du mọi nơi, tánh vô cùng hào sảng, có sẵn nhà các ở tỉnh và bên Pháp, nuôi một người ăn học có đức độ là hình thành cho đất nước có thêm một công dân tốt.
Mẹ nhớ không, con không được gần mẹ lúc con lên 13, cái tuổi như con chim non chưa đủ lông cánh giữa bầu trời rộng lớn, hoàn cảnh bắt buộc mẹ con mình phải xa nhau. Ba mất để lại công việc làm ăn ở khắp mọi nơi, ban đầu Vú còn ở lại bên con, sau công việc nhiều quá nên mẹ cần người trợ giúp uy tín, thế là Vú, người mẹ thứ hai cũng phải rời con, mẹ kêu anh về ở với con vì các anh chị kia đều đi học hay phải làm xa.
Anh rất thương con và bên con có chị Hương hơn con 1 tuổi, chăm sóc vui đùa với con. Chị bếp và 2 chú làm vườn cũng lo cho con nữa, nhưng bao nhiêu người ấy cũng không thể sánh bằng mẹ, con nhớ mẹ từng đêm ... từng đêm.... Con hay khóc thầm và luôn mơ về mẹ.
Hôm đó là chiều thứ sáu, tan trường vừa đến nhà con vội viết thư cho mẹ rồi lấy xe đạp chạy ra bến xe để gởi thư về. Chị bếp gởi thêm 4 hộp cá mòi của Pháp, vì buổi sáng mẹ thích ăn bánh mì nóng do chị bếp hay anh bồi chế biến với cá mòi.
Chủ xe là người ở làng mình, mỗi ngày chỉ chạy một chuyến từ làng đến Nha Trang và chiều từ Nhatrang chạy thẳng trở lại làng. Thấy con chú nói:
- Cháu gởi thư cho mẹ làm gì, lên xe ngồi là đến nhà, chủ nhật theo xe về đi học.
- Con không có đem theo tiền.
Cả xe đều cười ồ.
- Con bé này thật ngây ngô! Ai mà lấy tiền xe của con nít.
- Nhưng con có chiếc xe đạp.
- Bỏ xe lên mui là xong.
Muốn được nhìn thấy mẹ, con không nghĩ thêm gì hết, mẹ đã chiếm hết tim con rồi.

Đời như biển và con trôi theo sóng
Mẹ nằm im như cát đợi thuyền về
Mẹ nằm im như bóng nắng sau hè
Cho con đến sưởi cánh chim ướt sũng. (TMT)

Lên xe, có Bích ngồi sẵn đó, Bích bằng tuổi con cũng học ở Nhatrang và cuối tuần về thăm nhà, hai đứa con gái gặp nhau là tía lia mồm mép.
Xe chờ đủ khách quen rồi chạy. Chiều đã xuống, những làn khói lam hai bên đường càng làm con nhớ nhà và bóng đêm bắt đầu hắt xuống.
Mới đến đèo bánh Ít qua khỏi làng Phú Thọ tự nhiên xe khựng lại rồi bị hư. Người trên xe nhốn nháo vì sửa một hồi mà xe vẫn chưa chạy được. Ai ở nhà gần đó thì xuống đi bộ, họ đem đồ trên mui xuống, sẵn lấy xuống chiếc xe đạp dùm con, còn một số người vẫn ở lại trên xe bởi họ mang theo thật nhiều hàng hoá. Con và Bích thay phiên nhau đèo xe đạp về làng.
Tụi con hăm hở vui vui bên những người đi bộ, nhưng nhà họ ở làng Thanh Danh hay Bình Tây nên họ đều tẻ ngõ khác về nhà.
Đường tới làng còn khoảng 5 cây số, chỉ còn 2 đứa con lầm lũi, phải qua 2 cái đèo nữa, chung quanh lạnh tanh với những ngôi mộ của người Chàm bằng đá vôi thật to đặt sát lề đường, và phía trong là đồi núi mênh mang, muốn quay lại chỗ xe hư thì cũng đã quá xa rồi.
Bích nhỏ con lên dốc đạp không nổi nên con phải ráng sức, Bích úp mặt sát vào lưng con, con biết Bích nhắm mắt để bớt sợ, hai tay ôm bụng con cùng 4 hộp cá.
Con bặm môi lại và cũng muốn nhắm mắt để khỏi thấy các ngôi mộ sát đường hiu quạnh, con sợ ma quá vì trong làng thường nghe kể lại những chuyện ma ở khúc quanh này. Nhưng nhắm mắt làm sao thấy đường lái xe, ánh đèn xe chỉ leo lét trong đêm, may mà hôm đó có ánh trăng phụ soi lối cho chúng con về. Qua cái dốc thứ 2 đổ xuống là đến hòn Đá Đốt đầu làng con mới lấy lại bình tĩnh bớt run.
Con gái mẹ rất lịch sự đưa Bích đến tận nhà gần cuối làng rồi mới quay lại nhà mình. Từ cổng vào nhà sao thấy còn xa quá bởi thời gian tâm lý, con nhảy xuống đất dắt xe chạy một hơi vào.
- Út, sao con về giờ này mà đi xe đạp?
Tiếng của dì bảy Đợi, người bà con ở nhà mình phụ chị bếp.
- Dì làm ơn dắt xe vô dùm con.
Con bỏ xe lao vào nhà, mẹ đang nằm trên võng ở hiên nhà ngắm trăng sao. Quỳ xuống gối đầu lên ngực mẹ, con khóc như mưa to sấm chớp, thật nhẹ nhàng, mẹ đỡ đầu con để ngồi dậy rồi hai tay vuốt lưng con, mẹ cuối xuống hôn lên tóc lên mặt con.
Đêm đó con không rời mẹ, ôm hai chân và gục mặt trên đầu gối mẹ, ôm mẹ mà ngủ, một giấc ngủ no tròn không mộng mị.

Con về khua vang vọng những âu lo
Mẹ đứng im hình dáng một con cò
Ven sông vắng tìm soi bóng cá
Mẹ là núi một đời im với đá
Con trở về tìm một chỗ tựa lưng. (TMT)

Ngày con lấy chồng mẹ gởi gấm con trước khi rước dâu đi, rồi mẹ khóc.
30 tháng 4 mẹ ở quê nhà, con ở tận Sài Gòn, mẹ thư vào dặn con đừng về, mẹ âm thầm một mình chịu đựng những lần đấu tố trong các buổi họp làng xã khóm phường, mẹ bị khép tội tư sản dân tộc vì nhà ta quá giàu, các người giúp việc bắt buộc phải rời mình, căn nhà rộng thênh thang giờ chỉ còn hai người già nương nhau mà sống là Vú và mẹ.

Cứ nghĩ ra đi là ngày vĩnh biệt
Nên chập chờn sương khói mịt chiêm bao
Nên lênh đênh ngày tháng vẫn nghẹn ngào
Con nhớ mẹ bút mực nào tả xiết
(Hồ Thành Đức )

Những ngày ở Sài Gòn nhớ mẹ, nhìn trăng sao con càng nhớ mẹ thêm, mẹ nói với con rằng tuy hai mẹ con ở xa nhưng cùng nhìn về một hướng thì sẽ cảm nhận gần nhau.
Con bồng bế 2 cháu từ Sài Gòn về làng thăm mẹ bất chấp chuyện gì. Nghe tin con về tới đầu làng, mẹ chạy như bay ra đón, vứt hết những gì mang trên tay, con và hai cháu chạy thật nhanh lại, mẹ con bà cháu ôm chầm lấy nhau hạnh phúc dâng trào, đêm đó 5 người lên lầu ngủ chung một phòng.
Mẹ nói sợ tai vách mạch rừng, Vú và mẹ cả đêm không ngủ, hai người dặn dò con đủ thứ, phải ra đi tìm tương lai cho các cháu.
Vì tương lai của các con, gia đình con lại xa me một lần nữa, lần này thì đúng là nghìn trùng xa cách! Đêm đêm hướng về quê, con nhớ đôi mắt một trời yêu thương của me, cái nhìn đã cho con ấm lòng và can đảm vượt ngàn cay đắng của cuộc đời.
Con nhớ con đường làng, nhớ phiến đá đốt nơi bọn trẻ chúng con thường nằm nhìn mây trời những buổi chiều xuống thấp, nhớ cây đa, nhớ xóm trên xóm dưới, thèm nghe những câu nói mộc mạc thân quen... Mất quê hương là mất tất cả!!!

Lạc lõng phương trời, bước đi thui thủi,
Sương tuyết phôi pha đã nhuốm bạc mái đầu.
Bỏ quê hương trang trải những niềm đau,
Mà năm tháng chưa phai mờ giông bão.
(Võ Đình Tiên)

Con nằm mơ kêu tên me mà trong giấc mơ không lần nào bước được vào nhà, những lần thức giấc nước mắt còn đầy trên má, con cầu xin một lần mơ thấy me, gặp me trong mơ cũng là một điểm quá hạnh phúc rồi.
Chồng con nói con viết thư cho mẹ nhiều hơn viết thư tình, mùa Vu Lan con mừng đến rơi nước mắt khi mình còn cài được đóa hoa màu hồng.
Rồi điều lo sợ nhất cũng đến, điện thoại từ Việt Nam qua báo tin mẹ đã ra đi, con nghe điện thoại mà như người không còn cảm giác, con ngồi yên người con cứng đơ không khóc được, cả nhà lo sợ cho con, đến khi nghe tiếng anh hai từ Pháp gọi.
- Út ơi, vậy là mình mất mẹ thật rồi hở em?

"Chim xa bầy thương cây nhớ cội
Con tiễn mẹ rồi ngàn giọt lệ rơi!"
Lúc đó hai anh em con mới khóc và chỉ có khóc.

Ngày trước dù vẫn ở xa me nhưng mỗi khi nghĩ đến me vẫn còn trên cõi đời này lòng con ấm lại, dù xa xứ buồn lắm mẹ ơi! Phố xá ở đây thênh thang quá, mỗi khi đi phố con được chọn từng món quà để gởi về mẹ đó là niềm vui của con đó mẹ.
Bây giờ me ở phương nào, nỗi mất mẹ xâu xé tim con, con nhớ lại rồi, ngày xưa lúc ôm con me thường cười và nói, me là trăng là sao, nhớ me thì nhìn lên trời con sẽ thấy mẹ liền, nhưng mẹ ơi sao trời nhiều vô số, sao nào là sao của mẹ, con đem cả tình thương mà me dành cho con để tìm ra mẹ. Trong con đã có mẹ thì không bao giờ mẹ con mình xa nhau, phải không mẹ.
Dưới thảm cỏ xanh mẹ nằm lặng lẽ
Trái tim im tiếng đập vẫn nồng nàn.
Âm thầm yêu con như lúc mới cưu mang
Vì tình mẹ cho con không tiếng động. (TMT)

Trương kim Báu

Phòng Trực
11-27-2018, 10:07 PM
LÁ CỜ VÀNG
Trương kim Báu.

Lâu lắm rồi mới có một ngày chủ nhật được ở nhà, nhân viên ngân hàng như chúng tôi đi công tác liên miên. Mới đầu thì tập trung 10 ngày học tập cải tạo, sau đó đánh tư sản, đổi tiền, tranh thủ làm thêm, đi lao động vì ... lao động là vinh quang v.v.
Vòm trời xé biệt cho chồng tôi học tập cải tạo tận miền Bắc xa xôi, vợ ở lại miền Nam đi làm và công tác. Các con tôi là chim non chưa đủ lông đủ cánh, thiếu hơi ấm của mẹ cha nên ngơ ngác, rụt rè.
Sáng sớm hôm nay hai con chạy ào vào phòng gối đầu lên tay mẹ. Ôm con, tôi chỉ biết truyền hết tình thương và sức sống cho con. Mới ngày nào mỗi tinh sương chủ nhật, hai con cũng ùa vào nằm giữa cha mẹ để thưởng thức trọn vẹn nguồn hạnh phúc vô biên được thương yêu chìu chuộng.
Qua cửa kính, bầu trời vẫn trong xanh với mây bềnh bồng trôi dạt, chợt lòng đau nhói vì nhớ đến chồng.
Lửng lơ mây.... xé trời nghiêng cánh sắt
Anh tung hoành ngang dọc giữa không gian.
(Hoàng Nhật Thơ)
Anh là một loài chim quí đôi cánh đã bị cắt mất rồi, loài chim thiêng đã mất luôn cả bầu trời muôn màu tinh tú, giờ này anh đang làm gì? Nơi anh bị giam là Hoàng Liên Sơn núi rừng trùng điệp, nhớ nhiều nhưng không thể nói vì ngại hai con nhớ cha cũng nức nở ngậm ngùi. Những chuyện tầm thường của ngày xưa nay như giấc mơ còn ngập tiềm thức thân thương.
Đang ôm hai con chợt nghe tiếng đập cổng rầm rầm. Giây phút riêng tư không còn, hai con lộ nét sợ hãi nên càng ôm cứng mẹ.
Chị chồng tôi vừa chạy vừa la to:
- Tôi ra mở cổng liền đây. Cán bộ! Tôi ra liền! Tôi ra liền!
Đời chật chội khiến lòng ta...sống hẹp
Đường quanh co nên nhân thế quanh co ?
Ngày nắng hạ biến ta thành sa mạc
Ngó đau thương...hồn vô cảm, thờ ơ ?
( Như Nhiên)
Chúng tôi từ Nhatrang di tản vào ở nhờ nhà chị tôi, một villa lầu kín cổng cao tường thuộc quận I Sài Gòn, bên trong có vườn hoa, cây to bóng mát, hồ bơi. Nhưng gia đình chị tôi lại đi ngoại quốc vì có quốc tịch Pháp. Trước khi đi anh chị lo hộ khẩu và sang tên nhà nhờ tôi giữ hộ giùm. Tôi cũng mê nhà này vì đóng cổng lại là mình có một không gian riêng cho các con tôi chạy nhảy, đạp xe, bơi lội.
Nhưng biệt thự này làm khổ mẹ con tôi vì nhà lớn quá mà chỉ có 4 người trú ngụ, 3 mẹ con tôi và bà chị chồng. Chị thương mẹ con tôi bơ vơ quá nên đi theo để khổ lây lan.
Họ không đuổi đi được nên họ cứ xét nhà và cách bấm chuông thật lạ, họ để tay vào chuông hoài và không lấy tay ra cho chuông kêu liên tục muốn điên đầu! Sau này có người dạy tôi cắt chuông, rồi đổ thừa là do cúp điện hoài nên chuông bị hư. Bây giờ thì đến màn đập cổng, từ trên lầu chạy nhanh xuống và ra đến cổng là hụt hơi, vậy mà mỗi đêm họ vẫn xét nhà 1 hoặc 2 lần.
Hôm nay họ đập cửa sáng sớm, kêu ngày mai phải treo cờ vì lễ cách mạng tháng 8. Đầu óc tôi tệ quá, không nhớ nổi những ngày lễ của chế độ mới này. Những ngày lễ của miền Nam như lễ Hai bà Trưng 6 tháng 2 âm lịch, lễ Phật Đản sanh 8 tháng 4 âm lịch, ngày lễ Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà 19 tháng 6 dương lịch, Noel là 24 tháng 12 dương lịch, tết tây 1 tháng 1 dương lịch v.v.
Cán bộ ra về rồi, cổng nhà đã đóng kỹ, bây giờ mới tìm cờ để treo. Nghe tiếng reo cười nắc nẻ của hai con, mỗi đứa vác một lá cờ từ sân thượng chạy xuống, thì ra nhà có kho trên đó và có sẵn cột cờ.
Chị chồng tôi tái mặt khi nhìn hai con đang vác 2 lá cờ đang chạy, một lá cờ ba màu của Pháp và một cái lá cờ vàng ba sọc đỏ của Việt Nam Cộng Hòa.
- Cái này có phải cờ không me ?
Lâu lắm rồi không được nhìn lá cờ thân yêu, tim tôi đập mạnh, xúc động không nói nên lời, nước mắt như muốn trào ra.
Chị chồng tôi lên tiếng:
- Đây không phải cờ, hai cháu đi thay quần áo, theo cô ra chợ mua cờ.
Hai con đi rồi, chị đưa hai cây cờ cho tôi.
- Sao em khờ quá, công an thường đến nhà và lúc nào cũng hỏi tụi nhỏ đủ điều, các cháu mà nói lỡ lời kể như mình chết đó, ở nhà em đốt hai lá cờ này, chị đưa hai cháu đi chợ.
Còn lại một mình, tôi ôm lá cờ vào lòng và áp sát vào má mình. Ôi! Lá cờ của nước tôi! Ngày còn tiểu học, tôi và người bạn được chỉ định kéo cờ mỗi sáng thứ hai nên đã biết quý và thương lá cờ như linh hồn dân tộc.
Lá cờ vàng này lại luôn nằm trên áo bay, bên trái tim của chồng tôi. Mỗi ngày ôm anh, môi, má tôi đều chạm vào nơi đó. Biết bao nhiêu người Miền Nam, bạn bè và người thân của tôi đã đổ máu và chết cho lá cờ vì lý tưởng tự do.
Nước mắt cứ chảy đi cho vơi bao uất nghẹn, không thể tự tay đốt lá cờ được. Xin chị làm giùm tôi điều đó.
Khóc là khi oan ức, buồn...giải tỏa
Lệ thành mây rồi vỗ cánh bay đi
Cười là khi biết khóc chẳng ích gì
Biết sự việc vốn là không thể khác
( Như Nhiên)
Hai con xuống bếp phụ me làm phần ăn sáng.
Tôi tránh không muốn nhìn thấy lá cờ đỏ treo lên trong ngôi nhà chúng tôi đang ở, lá cờ đó làm gia đình tôi chia lìa, vợ chồng cha con xa cách, cả một miền Nam tang tóc, nghèo đói, tù tội vì lá cờ đỏ sao vàng này.
Con gái tôi biết vẽ và đờn Piano khá, nhưng nhất định không chịu học nữa vì công an phường đem những hình của gia đình họ đến, hình người già đầu đội khăn nhuộm răng đen, bắt đứa con gái nhỏ phải vẽ thật to (như những hình tài tử mà cháu đã vẽ và treo ở phòng khách), còn bắt đến phường đờn giúp vui văn nghệ.
Chúng tôi phân giải, cháu còn nhỏ nên chỉ vẽ hình nào cháu thích và cháu chỉ biết đờn Piano thôi, nhưng cán bộ không muốn hiểu.
- Đồng chí thiếu nhi đờn đàn Piano được, thì đờn các loại khác dễ thôi. Hay đồng chí thiếu nhi không muốn hợp tác cùng cách mạng.
Ôi! Xã hội Việt Nam của tôi ngày nay đây sao? Một đứa bé cũng không tha.
Cuối 1982, chồng tôi được ra tù và vượt biên cùng con trai, tháng 6 năm 1983 tôi vượt biên cùng con gái.
Ngày đến được trại tị nạn Panatnicom Thailand. Nhìn lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, lá Quốc Kỳ của Việt Nam Cộng Hòa được vẽ to trên vách của hội trường, tôi để cho nước mắt được tự do chảy trong vui mừng, cảm động.
Lá cờ đã thấm vào tim vào máu từ lúc nào tôi không hay, nó nhẹ nhàng và êm ái như tiếng Việt nước tôi.
Tôi chỉ cho con gái và giảng ý nghĩa lá cờ, dạy cháu hát bài Chào cờ. Tội nghiệp con tôi đến 13 tuổi mới được thấy lá Quốc Kỳ và tập hát Quốc Ca của quê hương mình trên đất Thailand.
Tự nhiên tôi muốn có lá cờ, nó là cái gì linh thiêng đã đem cho tôi bình an, hạnh phúc.
Một chị dạy may ở Cao Ủy cho tôi vải đủ may một lá cờ nhỏ, dài 35cm ngang 45cm. Tôi, con gái và các chị đi cùng tàu đo cắt rồi may, tôi chăm chút từ mũi kim và để hết lòng vào, tôi sống lại thời học sinh giờ nữ công gia chánh của ngày xưa, cán cờ được một người gọt sẵn cho.
Em vá cờ với tấm lòng chất phác
Mong bình yên trở lại trên quê hương
Lá cờ vàng hình ảnh của quê hương
Của chính nghĩa, của thiên đường nhân ái
(Tâm Bền)
Ai cũng mừng và khen vì Lá cờ đã xong với nhiều bàn tay góp sức. Một chị đề nghị cho con trai nhỏ chị mượn, vì mỗi sáng cháu cầm lá cờ thích thú, miệng gọi to, chạy đi kêu mọi người trong khu tàu vớt này tập thể dục, hoặc đi lãnh thức ăn đột xuất, đi chùa buổi chiều, đi học anh văn, đến tập trung ở hội trường v.v...
Ngày đi định cư ở Úc gồm có 20 người, trong đó có cả người Miên và Lào. Người trai trẻ Việt được chỉ định hướng dẫn đoàn, em đến mượn tôi lá cờ và nhờ người thông dịch nói cùng các người Lào và Miên, hãy nhìn theo lá cờ mà đi theo để không bị lạc nhau. Lá cờ Việt Nam phấp phới trên cao đưa chúng tôi từ trại trị nạn Panatnicom đến city Thailand nơi chuyển tiếp, ở đó 2 ngày chờ khám sức khỏe rồi ra phi trường Thái đến Sydney của nước Úc. Xuống máy bay chúng tôi ngồi tụm lại cùng nhau dưới lá cờ, vì không ai ra đón. Người con trai trưởng đoàn cầm lá cờ phất phất, cảm giác lá cờ bao che chúng tôi, nên lòng được yên bình.
- Em tìm các người thật dễ dàng, ai nghĩ ra cầm lá cờ Việt Nam như vậy, thật hay!
Đó là lời khen của cô gái trẻ Việt Nam làm di trú khi đưa chúng tôi lên máy bay đến tiểu bang Victoria, thành phố Melbourne.
Lá cờ đã được cắm ở phòng khách nhà tôi, bây giờ mỗi lần cộng đồng Việt Nam tổ chức những buổi tranh đấu về Nhân Quyền, Tự Do cho đồng bào ở quê nhà, tôi cầm lá cờ nhỏ đến góp cùng những lá cờ vàng to lớn, mong nước Việt Nam hết nạn cộng sản để dân mình thật sự tự do, cho Lá cờ vàng được tung bay trên bầu trời thế giới ở những nơi có đồng bào Việt Nam tị nạn.

Phòng Trực
02-09-2019, 12:34 PM
XUÂN KỶ HỢI 2019
Trương Kim Báu

Xuân thay áo cả đất trời
Xuân gieo lộc biếc, môi người nở hoa
Xuân yêu thương đến muôn nhà
Ước nguyền năm mới thuận hòa ấm êm...

Lắng nghe chuông vọng cửa Thiền
Dang tay đón gió bình yên khắp đời
Xuân về thư thái, thảnh thơi
Chúc nhau An Lạc, rạng ngời cõi tâm.. (Như Nhiên TTT)

Xuân lại về trên đất Úc, quê hương thứ hai của người Việt tị nạn từ năm 1987. Được hưởng cái tết VN đầu tiên ở chùa Hoa Nghiêm 22 Princess Ave, Springvale, Victoria 3171, Phật tử chúng tôi cùng gắn hoa mai trên nhánh cây khô để vào chánh điện. Trong không khí ấm cúng chan hòa hạnh phúc của đêm giao thừa, chúng tôi chỉ mong hoa mai trang đài cùng hoa đào rực rỡ sẽ đem niềm vui đến cho mọi người thăm viếng cảnh chùa.
Chùa Hoa Nghiêm từng ngày biến chuyển tốt đẹp khang trang hơn vì tọa lạc trên miếng đất rộng, khiến lòng người hớn hở hân hoan khi dời về địa điểm 444 - 448 Springvale Rd.
Vợ chồng chúng tôi đồng tâm tìm cây khô rồi mua hoa mai, hoa đào bằng vải gắn vào, sau đó có nhiều Phật tử cùng nhau phụ giúp.


https://hoiquanphidung.com/pics/HKMH/1a.jpg

Xuân về xin gửi tình thương
Chan hòa tựa ánh triêu dương rạng ngời
Xuân thiêng liêng giữa đất trời
Ước nguyền đây đó, muôn người lạc an.

Chuông chùa huyền diệu ngân vang
Lay cành Mai dậy nở vàng trước hiên.
Chúa Xuân trong cõi Trạm Nhiên
Khoan thai nhẹ bước.. bình yên vào đời.

Thắp mùa xuân giữa môi cười
Thắp Tâm Xuân để lòng người mãi xuân (Như Nhiên TTT)

Mùa xuân năm nay tôi chỉ có một mình vì người bạn đường đã về cõi Phật. Những năm trước, gia đình Thủy Tiên cùng 3 đứa cháu bé được sanh ra ở Úc, đến phụ tập gắn mai đào, nay các cháu đã tốt nghiệp đại học hết rồi. Bây giờ Thủy Tiên bận và các cháu đều đi làm xa, một mình tôi ngồi dưới tượng Quán Thế Âm lặt lá để gắn hoa vào, lòng rất bình yên làm việc vì mong mọi người hoan hỷ khi đối diện với cảnh đẹp của mái già lam, nhưng ai đi qua cũng quay lại giúp.

Từ nội tâm yên bình
Khi lòng đầy hoan hỉ
Thế giới này đẹp xinh ( Như Nhiên TTT)


https://hoiquanphidung.com/pics/HKMH/2a.jpg

Hình ảnh người đàn bà tóc trắng bạc phơ đang cặm cụi với công việc đem lại mùa xuân tươi mát cho mái chùa đã làm rúng động lòng người chăng?
Gia đình Phật tử Huệ Thọ đi qua và dừng lại.
- Cô Bảy ơi! tôi đã 85 tuổi rồi, tôi thật là vô dụng.
- Già không có nghĩa là vô dụng. Để tôi chỉ cho chị cách gắn hoa.
- Tôi được gắn hoa hả cô Bảy?
- Dĩ nhiên chị làm với tấm lòng và tỉnh thức trong từng giây phút để trở lại cội nguồn, đó là đang tu. Chị nhớ không, mỗi lần đến kỳ thọ bát, thầy trụ trì thường nói: ... Người sống tỉnh thức một giờ thôi cũng đã quí hơn người sống trăm năm mà không biết tỉnh thức là gì.

Sống một ngày tỉnh thức
Ấy... đã là thiên thâu (Như Nhiên TTT)

- Cảm ơn Phật. Con hết vô dụng rồi, con biết mình đang gắn hoa.

Cả gia đình Huệ Thọ, con trai con gái đều cùng nhau đến phụ. Cô Ánh, người chuyên môn nấu ăn cũng ghé vào, cô nâng niu từng cành hoa.
- Cô Bảy ơi, ngày trước đến chùa con thường đứng chụp hình dưới những cây mai cành đào, con không nghĩ đến công ơn khó nhọc của những người đã làm ra, nhưng bây giờ chính tay con gắn để làm cho đẹp chùa, tự nhiên lòng con vui quá!
- Đúng đó Ánh. Phải cảm ơn cuộc đời, cảm ơn tất cả mọi thứ mình được hưởng trên đời này, biết bao người có lòng thành dâng hiến.

Tạ ơn đạo, tạ ơn đời, tạ ơn tất cả
Ơn vạn loài chan chứa một tình thương (Như Nhiên TTT )

- Nhìn cô Hồng Hoa làm, biết cô có tâm nhân ái vị tha, vì cô biết nâng niu từng chiếc lá.

Tàn Đông giá Xuân về trong ấm áp
Mở tâm hồn cho nắng rọi vào tim
Từng giọt nắng thanh lương là giọt Pháp
Xuân mới về, xin đổi mới, quang minh ( Như Nhiên TTT)

Những nơi phải leo lên cao mới gắn được, vì trẻ nhất trong đám nên Tuyền dành job này.

Những điều to tát chưa làm được
Việc nhỏ hết lòng cũng quí thay (Như Nhiên TTT)

Ai cũng vui vẻ hân hoan đến 9 giờ đêm, không còn thấy đường nữa thì mọi người mới chịu về và hẹn chiều mai, họ sẽ nghĩ đọc kinh để phụ tôi tiếp tục.


https://hoiquanphidung.com/pics/HKMH/9a.jpg

Gặp gỡ trong đời một chữ duyên
Trân trọng bên nhau phút hiện tiền
Người đến ân cần cho hết dạ
Người về, thôi vướng bận niềm riêng (Như Nhiên TTT)

Trước khi ra về, sư cô Thuần Nghiêm đem ra một mâm đưa hấu cho mọi người dùng vì khí trời vô cùng nóng bức.

Bên chậu mai vàng được ăn dưa
Hạt đen, ruột đỏ đẹp dư thừa
Chúng con xúm xít chia phần lớn
Cười rộ reo hò viên mãn thưa (Lê Ngọc Hồ)

Hoa mai hoa đào rực rỡ trong khuôn viên Hoa Nghiêm thanh khiết. Lòng tôi thật ấm nồng và cũng đang nở rộ như hoa, tôi không thấy cô đơn dù người bạn đường không còn bên tôi nữa, vì tình người, tình đạo vẫn bao trùm che chở quanh tôi.
Ôi Mùa Xuân! Mùa Xuân! Xin cảm ơn Mùa Xuân bất tận!

Đón xuân tươi, ngọt ngào
Ngày đầu xuân Di Lặc
Ươm trồng hạt từ bi
Nguyện cầu cùng khắp chốn
Thoát khổ nạn, lâm ly (Như Nhiên TTT)



https://hoiquanphidung.com/pics/HKMH/8.jpg

https://hoiquanphidung.com/pics/HKMH/12.jpg

https://hoiquanphidung.com/pics/HKMH/13.jpg

https://hoiquanphidung.com/pics/HKMH/14.jpg

Phòng Trực
03-25-2019, 05:27 PM
VOVINAM DÒNG MÁU LẠC HỒNG.
Trương kim Báu.


https://hoiquanphidung.com/pics/vvn11.jpg

Đêm ba mươi, thời tiết ở Melbourne thật mát, mọi người lũ lượt đến chùa từ sớm để dự lễ sám hối cuối năm. Khuôn viên chùa ồn ào với bao tà áo dài đủ sắc thướt tha như những đàn bướm lượn, họ tụ họp từng nhóm đứng ngồi khắp nơi.


https://hoiquanphidung.com/pics/vvn12.jpg

Khung cảnh chùa mỗi nơi là một tôn tượng Phật trang nghiêm được trang trí nhiều loài hoa sắc biếc với dáng vẻ khác nhau.
Các gian hàng bán thức ăn bốc lên thơm lừng hòa cùng mùi hoa, mùi nhang đèn trong không khí về đêm, tiếng cười nói xôn xao quyện với tràng pháo nổ rộn rã nguyên dây treo trước cổng chùa. Không khí tết thật sự đây rồi, tết Việt Nam đang về trên xứ Úc, xứ đất rộng tình nồng đã mở vòng tay đón nhận chúng tôi, quê hương thứ hai của dân tộc Việt Nam tị nạn.
Ba tiếng chuông vang lên báo hiệu thời kinh sám hối bắt đầu. Phật tử trong chiếc áo tràng lam nghiêm trang ngồi ngay ngắn trước Tôn tượng Đức Bổn Sư Thích Ca tịch tịnh, cùng tụng đọc thời kinh và ôn lại 5 giới mình đã thọ.
Thời kinh xong, một số Phật tử ra về, đa số ở lại xuống Hall xem các đoàn sinh của Vovinam biểu diễn võ thuật và múa lân.
Tôi xuống Hall, mọi người đã hiện diện đầy trên ghế, đang tìm chỗ ngồi thì anh Toàn, người dạy võ của đoàn nhường chỗ.
Các em thật đông với đồng phục xanh dương, trên ngực áo bên phải là tên của đoàn sinh, bên trái biểu trưng dấu hiệu Vovinam, Việt Võ Đạo và bản đồ Việt Nam yêu dấu. Quay ra sau, chữ thật to chiếm 1/3 lưng áo là Vovinam Việt Võ Đạo màu xanh, phía dưới là chữ Australia màu trắng.
Các em nhỏ đứng trước, lớn đứng sau (đai từ màu xanh dần chuyển sang màu vàng) đồng cúi chào, tay để lên trái tim có dấu hiệu nước Việt Nam, cùng múa võ bài Dòng Máu Lạc Hồng của Lê Quang.
Dòng máu lạc hồng, bốn nghìn năm.
Dòng máu đỏ tươi, chảy trong tim mình.
Nòi giống Lạc Hồng, giống rồng tiên nguyện ôm bao đời đất mẹ,
Nhịp trống hào hùng, mãi còn vang, bao lớp người đi ra nơi biên thùy.
Hình bóng mẹ già đứng đợi con, tạc vào sử sách..... hào hùng ...
ĐK:
Việt Nam ơi ! Yêu mến ngàn đời,
Yêu lũy tre xanh, có con sông chảy quanh.
Nào ta hát khúc hát Lạc Hồng,
Là muôn cánh chim bay rợp biển Đông.
Việt Nam ơi ! Hãy nắm chặt tay,
Trên bước đi lên, viết thêm trang sử vàng.
Nào ta hát, khúc hát Việt Nam, con cháu Rồng Tiên.
Con cháu Lạc Hồng, tự hào hai tiếng Việt Nam.

Lời nhạc vang lên thật hùng tráng, các em lớn nhỏ, trai gái cùng múa võ hòa điệu theo từng lời hát nhịp nhàng, lúc mạnh mẽ, lúc nhanh, lúc xoay vòng, bước tới, bước lui đều nhau thật đẹp.
Hội trường chật nít nhưng rất lặng im vì mọi người đều theo dõi từng lời ca lẫn trống nhạc dập dồn, những cánh tay đưa lên cao, đường quyền các em múa như đáp lại tiếng gọi của đất Mẹ Việt Nam, của Hồn Thiêng Sông Núi.
Gai ốc tôi nỗi khắp người, thương vô cùng các em sinh ra nơi xứ Úc, xa quê hương quá nên có em chưa về Việt Nam lần nào, nhưng các em đã học võ để giữ vẹn truyền thống cho giống nòi, cho môn Võ Việt ngàn đời không mất. Các em là thế hệ thứ hai, thứ ba mà đối thoại, đọc và viết bằng tiếng Việt.
Chúng tôi, thế hệ thứ nhất đã già rồi nhưng rất vui mừng và cảm động khi thấy thế hệ thứ hai, thứ ba vẫn một lòng hướng về đất mẹ.
Tiếp theo là màn biểu diễn của các em nữ múa võ bằng quạt giấy, tiếng phát ra thật đều và ròn rã, điệu nhịp nhàng cùng tay chân lên xuống của các em. Còn có màn múa võ bằng kiếm mang hồn Việt trong tim và xứ sở Úc trong lòng quá ư xuất sắc, khán giả hào hứng vỗ tay không ngớt khi các em nữ đánh gục những người đi theo chọc ghẹo mình.
Hết biểu diễn võ quay sang múa lân, đoàn lân 6 con đủ size gồm đỏ, đen, trắng, xanh, vàng, tím. Một dây pháo thật dài được đốt lên rộn ràng cho Lân bắt đầu nhảy múa theo tiếng trống “tùng cà rùng tùng xoèng” cùng tiếng thanh la nổi lên từng chập leng keng nhịp nhàng đúng điệu. Những dãy đèn chớp lóe sáng được gắn trên mình Lân lung linh ảo diệu như đoàn Lân nhà nghề, ông Địa bụng to miệng cười toe toét.
Những con Lân của lớp võ cứ nhào lộn, trèo lên cao để đón giao thừa sắp đến, đem niềm vui, may mắn và thịnh vượng đến mọi người trong đêm tết 30 tại Hoa Nghiêm tự làm chúng tôi cảm động khôn lường.
Thế hệ trẻ, tương lai mai sau là đây. Những bàn tay, những khối óc, những trái tim với tấm lòng tình nghĩa này sẽ xây dựng nước Việt, quê hương thứ hai trên đất Úc. Đó là niềm tin và hy vọng của thế hệ thứ nhất khi phải bỏ quê hương ra đi để tìm tự do và tương lai cho con cháu.
Tiếng trống Bát Nhã vang lên, Phật tử lên chánh điện vào nghi thức đón giao thừa.
Trước hết, thầy trụ trì cho đọc bài Tán Phật, Tán Lư Hương, Chú Đại Bi và sau là Kinh Phước Đức.
Đức Phật dạy cách sống:
..........
Chung đụng trong nhân gian
Tâm không hề lay chuyển
Phiền não hết, an nhiên.
.....
Đi đâu cũng an toàn
Tới đâu cũng vững mạnh.

Đón Chào Năm Mới, một mùa Xuân an lành vui vẻ. Thầy trụ trì phát lộc và chúc tết cho Phật tử.

Đã hơn một giờ đêm, sương mù mát mẻ thấm đất ướt cỏ hoa, cẩn thận tôi choàng thêm áo lạnh. Phật tử vẫn còn đông quá, có nhiều xe mới chạy vào, tôi đi thật chậm ra carpark và gặp Toàn ở đó.
Đoàn Võ sinh hoạt ở Hall chùa Hoa Nghiêm nên những ngày lễ và tết, các đoàn sinh đều lượm rác, vệ sinh carpark và sân chùa cho thật sạch để khách đến chùa hoan hỷ. Toàn tập cho các em biết BỔN PHẬN và TRÁCH NHIỆM của một đoàn sinh.
Tôi nghe tiếng BỐN PHẬN và TRÁCH NHIỆM sao quen quá! Ồ, nhớ ra rồi! Thì ra những chữ đó luôn được gắn trên áo bay của người KHÔNG QUÂN và những QUÂN NHÂN MIỀN NAM trước 1975. Trách nhiệm lớn lao đòi hỏi người có đức hạnh lớn lao.
Là con người cần có một tấm lòng
Để trải rộng trao cuộc đời trước mặt
Để ý chí luôn lớn hơn vật chất
Để chúng ta sống chân thật bên nhau (sưu tầm)
Một mùa xuân mới với niềm hy vọng thật tốt đẹp của tương lai thế hệ sau, vì các cháu hiểu rõ trách nhiệm và bổn phận của người dân. Xin cảm ơn những người lãnh đạo trong đội Võ Vovinam. Tôi cười mà mắt lại rưng rưng.




https://hoiquanphidung.com/pics/vvn10.jpg

https://hoiquanphidung.com/pics/vvn13.jpg

https://hoiquanphidung.com/pics/vvn1.jpg

https://hoiquanphidung.com/pics/vvn2.jpg

https://hoiquanphidung.com/pics/vvn3.jpg

https://hoiquanphidung.com/pics/vvn4.jpg

https://hoiquanphidung.com/pics/vvn5.jpg

https://hoiquanphidung.com/pics/vvn6.jpg

https://hoiquanphidung.com/pics/vvn7.jpg

https://hoiquanphidung.com/pics/vvn8.jpg

https://hoiquanphidung.com/pics/vvn9.jpg

Phòng Trực
07-09-2019, 08:07 PM
QUÉT SÂN

Trương kim Báu


https://hoiquanphidung.com/uploadpics/pics2018/1562702822-Jacaranda tím.jpg

Tháng sáu là mùa đông ở xứ Úc nhưng khí hậu Queensland vẫn thật tuyệt vời. Mới 7 giờ sáng, nắng đã chói chang, tôi kéo màn cửa sổ nhìn xuống sân vườn lung linh hoa hồng nhạt trước nhà, rụng đầy trên thảm cỏ xanh thật đẹp.
Đây là loại hoa tên Jacaranda nở vào cuối thu, nhìn từ xa giống như anh đào, loại hoa này có nhiều màu, trắng, hồng lợt, hồng đậm và tím.
Tôi nói cùng con gái:
- Hoa đẹp quá, khi rộ nở thì không còn lá trên cành, sao con không trồng nhiều ở trong vườn?
- Chẳng phải con trồng đâu, của Council trồng đó, chỉ có một cây mà quét hoa rụng mệt rồi.

Lui hui nơi cõi ta bà
Giật mình, ngó sực đã già không hay
Nhác trông đã quá một ngày
Năm qua tháng lại, hết ngay một đời (Như Nhiên)

Quét sân, tôi gom lại những cánh hoa rơi lãng mạn như bức tranh hồn nhiên giữa trời xanh tinh khiết, việc làm tuy nhẹ nhàng thơ mộng nhưng sao cũng mệt, cho tôi nghĩ đến những người phu quét đường ở quê nhà, bây giờ có làm mới hiểu và thương. Nhớ lời thầy Nhất Hạnh nói “Hoa là rác mà rác cũng là hoa”.
Tôi đem ủ những hoa này để khi thành phân, bỏ vào nuôi cây cho ra hoa trở lại. Cô Phật tử ở chùa nhắn tin cho tôi:
- Hôm qua bảy điện thoại về cho con, dặn lặt hết lá cây mai của Chùa phải không? Nhưng con bận quá, tuần sau con làm nghe bảy.
Mùa đông phải rời Melbourne lên Queensland trốn lạnh, thân tôi ở đây mà còn lo việc nơi xa.
Nguyên chùa Hoa Nghiêm có những chậu mai vàng, loại hoa này nhỏ hơn hoa mai Việt Nam mình, ở đây gọi là hoa mai Úc, đến mùa đông phải lặt hết lá non lẫn lá già đến tận cuốn, đợi tháng 9 vào Xuân hoa sẽ nở rợp cây, tỏa hương thơm ngát, cũng đúng vào lúc vía Quán Thế Âm để dâng lên cúng dường Ngài.

Tôi đã làm công việc lặt lá bao năm nay nhưng chưa bao giờ nghĩ đến lặt lá cho chính bản thân mình, trong tôi cũng có nhiều lá vừa già vừa non, là tham, sân, si từ bao đời bám chập chùng lớp lớp, nên trôi mãi trong luân hồi sanh tử, tử sanh.

Nhắm mắt lại để thấy mình thật kỹ
Ta là ai? Ngày khép lại, về đâu?
Nhắm mắt lại, biết tâm nào thực, mộng
Tỉnh lại nhìn hoa, rác nổi đầy sông
Và nhận ra sinh tử gốc tại lòng
Kể từ đó bụi hồng thôi vướng bận (Như Nhiên)

Sáng nay chợt tỉnh ra, có lẽ vì quét sân mệt mới giật mình nhìn lại, mình già thật rồi!

Vì hành trì còn cách một nhịp cầu
Biết và ngộ vẫn hai đầu cách biệt (Như Nhiên)

Tôi nhớ đến câu chuyện thời Phật còn tại thế, có Chu Lợi Bàn Đặc và Ma Ha là hai anh em sinh đôi. Ma Ha, người anh, có trí thông minh hiếu học, còn đứa em tên là Chu Lợi lại chậm lụt, không biết đọc, không biết viết.

Lúc đầu Chu Lợi không dám lại gặp Đức Phật vì tự thấy mình không xứng đáng, nhưng người anh bảo giáo pháp này lấy lòng từ bi làm chính, nên cuối cùng Chu Lợi mới chịu. Phật đã thấy ngay tính khiêm tốn và lòng nhân hậu của người trẻ tuổi này và cho phép Ngài A Nan thu nhận làm môn đồ.

Ba tháng trôi qua, Chu Lợi vẫn không thuộc nổi một câu kinh khi các vị Tăng sĩ trẻ tuổi đã thuộc nằm lòng từng chồng Kinh sách.

Ngài A Nan chỉ ban phước cho Chu Lợi và cho chàng nghỉ việc. Chàng thất vọng, ngồi khóc mãi ở vườn cam. Đức Phật đi qua, biết ngay những gì vừa xảy ra và khuyến khích Chu Lợi kể lại câu chuyện. Chàng thút thít: "Con muốn trở thành đệ tử của Thế tôn và được học pháp của Ngài, thế mà con không nhớ được điều đơn giản nhất. Nghiệp nào làm con không thể hiểu biết được, thưa Ngài?”
Đức Phật giải thích, trong kiếp cuối cùng, chàng là một Bà-la-môn thông thái, tự cho mình tài giỏi hơn thiên hạ, cho mình là đạo sư và truyền bá các quan điểm sai lầm, làm nhiều kẻ tầm đạo phải lạc lối, nên trở thành kẻ ngu dốt trong kiếp này và bị nhiều người chê bai.
Chu Lợi hỏi: "Làm sao con thoát khỏi ách nạn này?”

Đức Phật trả lời bằng câu kệ:

"Được bậc hiền giả hướng đạo,
Tốt hơn là được kẻ khờ ca tụng.
Ai biết rằng mình còn vô minh dại dột,
Kẻ ấy mới là một hiền giả đích thực.
Ai tưởng mình là một hiền giả, dù không nói ra,
Thì đích thực là một kẻ dại khờ”.

Sau đó, Phật bảo chàng mỗi ngày đều quét Tịnh xá và quét các đường đi xung quanh. Trong công việc đó, chàng chỉ nên nhớ đến hai câu duy nhất: "Phủi bụi, trừ dơ" (Phất trần trừ cấu).

Ngoài ra, Chu Lợi phải chùi sạch tất cả giày dép của các vị Tăng sĩ khác. Vài tháng sau thì chàng thuộc lòng và lúc nào cũng lẩm nhẩm câu này, trong khi tay cứ quét bụi và chùi giày từ đôi này qua đôi khác.

Đức Phật để tâm quan sát sự cố gắng của vị tiểu tăng này và có cách làm cho Tinh xá luôn đầy bụi, và giày dép lúc nào cũng lấm bùn để Chu Lợi có việc làm từ sáng đến tối.

Với sự cẩn trọng và tha thiết, qua 6 năm, Chu Lợi từ từ đi vào chiều sâu của câu nói: "Thế tôn nói bụi là muốn nói bụi ở bên ngoài hay bên trong? Mà bụi ở bên trong là gì? Đó là các phiền não, tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến v.v... Trừ sạch được các bụi dơ đó mới thật là khó. Nếu ai không kiên trì và đầy đủ Trí tuệ thì không thanh trừ nổi”.

Ngày nọ, Chu Lợi tung chổi quét bụi, và tâm thức thanh tịnh của chàng đã đạt đến mức rất sâu thì một câu kệ của Đức Phật bỗng nhiên bừng sáng, trở thành một câu Kinh đầy ý pháp, một câu chàng không biết và cũng chưa bao giờ nghe:

Tham mới gọi là bụi,
Chớ không phải bụi này;
Tham mới thật đồng nghĩa
Với chữ bụi thường dùng.
Hỡi này các Tỳ khưu,
Hãy từ bỏ bụi này,
Hãy sống trong Giáo pháp
Của vị không bụi bẩn.

Sân mới gọi là bụi,
Chớ không phải bụi này,
Sân mới thật đồng nghĩa
Với chữ bụi thường dùng.
Hỡi này các Tỳ khưu,
Hãy từ bỏ bụi này,
Hãy sống trong Giáo pháp
Của vị không bụi bẩn.

Si mới gọi là bụi,
Chớ không phải bụi này;
Si mới thật đồng nghĩa
Với chữ bụi thường dùng.
Hỡi này các Tỳ khưu,
Hãy từ bỏ bụi này,
Hãy sống trong Giáo Pháp
Của vị không bụi bẩn.
(Hòa thượng Thích Minh Châu dịch)

Chu Lợi nghe các lời kệ đó và trực nhận ra rằng cái Tôi bản ngã do ba thứ tham đắm (Tham), giận dữ (Sân) và vô minh (Si) sinh ra. Như một người tỉnh dậy từ một cơn ác mộng, chàng thấy rằng lâu nay mình cứ tự động hòa mình với cái Tôi, là một lớp dơ bẩn mà chàng vừa quét sạch.

Chàng còn cầm chổi, nhưng đã trở về với tự tính thanh tịnh vô nhiễm dứt vô minh. Đức Phật tán thán Chu Lợi, tập họp đại chúng và dạy rằng:

- Này các Tỳ kheo! Người đọc tụng hàng ngàn quyển kinh nhưng không hiểu ý nghĩa của kinh cũng không ích lợi bằng chỉ đọc một câu kệ mà thấu rõ nghĩa lý và quyết tâm hành trì.

Sao con mê muội quá! Ngày đó còn Dọng một bên, Anh cứ dạy tu như lột từng bẹ chuối, lột từng lớp vỏ bên ngoài mới vào được lõi cây.
Đi chùa bao năm, đọc kinh không biết bao lần mà đầu óc vẫn mê mờ, hôm nay biết được con đường trở về nhà thì tóc đã bạc màu.

Mới đó, nhìn gương tóc đã phai
Thôi chừ buông xuống ... nhẹ hai vai
Ta về kẻo chậm hoàng hôn xuống
Lỡ chuyến đò ngang khóc hận hoài. (Như Nhiên)

Người đời quan niệm có phước là gia đình được ấm êm đủ đầy vật chất, mấy ai trải nghiệm được nguồn hạnh phúc đích thật là sống hồn nhiên tỉnh thức trong thực tại hiện tiền, là sống giản dị hoan hỷ với công việc hằng ngày, là mỗi phút giây trải nghiệm cùng đất trời nét tinh khôi nguyên vẹn.

Phòng Trực
07-29-2019, 11:20 PM
KỶ NIỆM VỚI NHỮNG THIÊN LÔI 524 TRÊN BÃI BIỂN NHA TRANG.
Trương kim Báu


https://hoiquanphidung.com/uploadpics/pics2018/1564442059-image1.jpeg

Tiếng khu trục gầm vang trời đất
Cánh quạt quay bần bật giữa trời
Phi công danh tiếng muôn đời
Giữ gìn non nước rạng ngời trời Nam

Dang rộng cánh nguyện làm chiến mã
Phi giữa làn địch nã phòng không
Ung dung bay lượn mấy vòng
Bổ nhào rồi lập chiến công vang lừng (Cao Giang Nam)

Học sinh ở Australia mỗi năm đều nghỉ học 4 kỳ, cứ mỗi 3 tháng có holiday 2 tuần, riêng tháng 12 được nghỉ trọn. Các con chọn tháng 12 là mùa hè nóng nhất của xứ Úc để tụ họp đi chơi, thuê một căn nhà ở Gold Coast gần bờ biển, nơi danh lam thắng cảnh nổi tiếng của xứ lạnh tình nồng.
Những sáng chiều ra tắm ở bãi biển nơi đây, em thấy vô cùng xa lạ vì quá đông người, sóng to và nước lạnh, không như quê hương Nha Trang yêu dấu ngày xưa.
Sáng nay các con nói đại gia đình sẽ đưa me ra đảo và mua vé tàu thủy 1 giờ lênh đênh trên biển. Tàu thật to và sang trọng, rất nhiều du khách, có ghế ngồi bên trong cũng như ngoài sân để thưởng thức cảnh đẹp giữa trời xanh nắng ấm.
Tàu vừa cặp bến lòng em dâng lên niềm thương nhớ. Sao giống bến cảng CẦU ĐÁ NHA TRANG quá! Ngày xưa các anh 524 cũng đã từng đưa em ra đảo trên chiếc tàu của Hải Quân Việt Nam.

Kỷ niệm ơi sao chẳng mờ phai
Cho ta quên được bóng hình ai
Quên bao quá khứ, quên mơ ước. (Biển Chiều)

Khách sạn chỉ có hai tầng, cùng một dãy là những ngôi nhà riêng biệt có vườn để cho du khách thuê. Băng qua giống như đường Duy Tân ngày xưa là đến bãi biển, thật giống Nha Trang thuở nào, em ngẩn người cảm động, cũng bãi cát trắng với những hàng dừa, nước ấm với sóng nhỏ lăn tăn, biển xưa hiện hữu đây rồi. Nha Trang ơi! Nha Trang! Dĩ vãng ào về hình ảnh các anh Thiên Lôi 524 ngày nào trên bãi cát trắng Nha Trang!

Ngày luôn mới sao hồn mình vẫn cũ
Khi tóc chiều đã nhuộm ánh tà dương (Như Nhiên)

Ngày đó chị dâu dẫn 3 cháu gái từ Pháp về thăm bà nội (mẹ em) và hai cô em họ từ Đà Lạt xuống chơi. Tối các anh 524 ra nhà em như thường lệ và hẹn ngày mai đi tắm biển với đoàn người từ xa về.
Định chỉ có một chiếc xe xanh Ford Pickup của không Quân làm sao chở hết, nên anh em đưa thêm một xe nhà nữa.
Một đoàn 6 người con gái, chị dâu không đi, giao cháu gái nhỏ 7 tuổi cho chúng tôi. Phía các anh đông hơn, có một anh lãnh nhiệm vụ tập bơi cho cháu bé, anh nói đùa:
- Thôi để Ti bỏ gạo nuôi chim, 10 năm nữa bé sẽ thành người đẹp, lúc đó tính sau.
Xuống biển các anh bơi, chạy thi vui đùa cười giỡn la hét và nằm lăn trên cát tự nhiên như những ngày còn nhỏ. Gần trưa, Định kêu tất cả lên bờ, thay quần áo, tắm lại nước ngọt và chuẩn bị đi ăn vì ai cũng đói.
Em còn mê nước nên lên sau cùng, thấy anh nào cũng săn sóc lo lắng cho người ở xa về. Phòng thay quần áo và tắm nước ngọt lại chỉ có một cái, nên các anh lấy khăn che cho những người thân của em thay quần áo, cháu bé nhỏ cũng được che khăn. Không ai ngó đến em! Tự ái, em chạy lại xuống biển và bơi ra xa, không thèm nghe tiếng kêu và các bàn tay ngoắc gọi quay vào. Em cứ bơi, đến khi thấy xa bờ quá thì nằm ngữa cho sóng trôi vào, lúc lưng chạm cát mới đứng dậy bước lên bờ.
Không còn một bóng người thân nào cả? Em hoảng hốt mất bình tỉnh, đến chỗ để quần áo tất cả đều biến mất, kể cả kính đeo mắt và cái mũ lát.
Làm sao đây? Em không bao giờ nghĩ là các anh dám bỏ lại em, em là người thân với các anh nhất, mỗi đêm các anh đều ra nhà chơi, anh nào không đi công tác đều có mặt, không có cuộc vui nào mà các anh không rủ em cùng đi như xem đá banh, kể cả ngồi trên xe lén nhìn các người đẹp lúc tan trường, họ túa ra như đàn bướm trắng, trầm trồ, ngợi khen, bàn tán … em đều được dự vào.

Phố bỗng ngập tràn áo trắng bay
Trắng ôm ngà ngọc, phủ gót hài
Mềm mại, dịu dàng vương cánh áo
Mảnh mai, duyên dáng đậu bờ vai
Rợp cả trời thơ ôi màu trắng
Quê hương bỗng đẹp bởi đàn cò
Thi nhân dừng bước đường gió lộng
Tung tăng cùng nhịp tuổi học trò (Hoàng Sa)

Làm sao đây? Không thể đi trên bãi biển để tìm người quen, cũng không thể ngồi một mình, hay là đào cát rồi tự chôn mình xuống, chỉ để cái đầu lộ ra thôi. Không tự làm được, nằm ngửa hay nằm úp người xuống phơi lưng, phơi mông lên trời cũng không dám, không thể ra đường đứng đón xe với bộ áo tắm 2 mảnh này. Em ngồi gục đầu úp mặt mà khóc nhưng không ra tiếng. Chỉ còn cách xuống biển ngâm nước, nhảy sóng mà mắt hướng về phía đường mong hình bóng các anh, đúng là dân Thiên Lôi, em càm ràm một mình.
Rồi các anh cũng đến đủ mặt, em mừng quá quên luôn giận hờn trách móc, các anh xúm lại ân cần lo lắng đưa quần áo, đưa khăn.
- Định đã đặt món ăn rồi, có món Báu thích đó.
Sau này em mới biết các anh muốn dạy em bài học, để bỏ tánh nương tựa vào sự giàu sang của gia đình, tưởng mình là trung tâm, nhõng nhẽo, bắt ai cũng phải chìu ý mình.
Hôm đó chỉ có Định chở phái nữ đi đặt món ăn thôi, còn các anh vẫn ở lại biển, theo dõi em, nếu thấy em bị ăn hiếp các anh sẽ tới ngay.
Anh Nhị không cam lòng khi thấy em gục đầu xuống, anh biết em khóc vì quen nhau từ nhỏ, muốn đến cứu bồ mà các bạn cản, còn đổ thừa là tại vì lúc nhỏ được chiều chuộng quá, muốn gì được đó.
Dọng cũng vậy, thấy tội và thương mà không đến được, vì các bạn dọa nếu cứ chìu mãi sau này không dạy được, phải dạy TỪ THUỞ BƠ VƠ CHƯA VỀ.


https://hoiquanphidung.com/uploadpics/pics2018/1564442088-IMG-7c398e837fe21d4fc24bc49135efb0ac-V.jpg

Vì được dạy Từ Thuở Bơ Vơ trước khi VÀO ĐẠI GIA ĐÌNH THIÊN LÔI, nên khi cưới nhau rồi, Dọng không muốn ở bên nhà vợ, mà bắt phải ở cư xá Không Quân dù má em năn nỉ hay giận hờn. Em chỉ biết an ủi mẹ và hứa sau này chúng con sẽ nhờ mẹ đủ điều, kể cả nhà cửa và tiền tài.
Một số các anh còn rất trẻ, có anh vừa cặp đôi hò hẹn hoặc chỉ mới làm quen, tất cả đều hứa sẽ đưa đến giới thiệu cùng em, nhưng trong những phi vụ bảo vệ quê hương đất nước, các anh đã ra đi, như anh Nguyễn đình Toàn, anh Đinh Quang Cứ , anh Nguyễn Hoàng Dự …v.v…
Tháng 4 năm 1975 một số di tản thoát được, còn lại đều vào tù, có anh đã gục ngã và một số sống trong đói khổ bệnh tật lao lung.
Thật cảm động khi các bạn thân Thiên Lôi 524 ra tù đều liên lạc cùng em.
- Báu học lén tánh KHÔNG BỎ BẠN BÈ của KHÔNG QUÂN hồi nào vậy, nhớ hồi đó đâu có dạy bài này.
- Báu giỏi nha, đất nước đã đổi thay em vẫn là người đàn bà Việt Nam lo cho cha mẹ chồng, nuôi con, và không bỏ người ngã ngựa, học thuộc bài CHUNG TÌNH ngày xưa các anh đã dạy.
Những anh đã chịu nhiều đọa đày ở tù ngục quá lâu, dù đã thoát được ra nước tự do nhưng thân thể đã hao mòn.
Lần lượt đã ra đi, anh Nguyễn Văn Nhị, anh Bùi Gia Định anh Nguyễn văn Dọng …v.v… Các anh đã hòa cùng đất trời vạn hữu.
Các anh là biển, nước biển ấm như xưa để đưa em về lại quê hương dẫu đã nghìn trùng. Các anh là nắng, nắng trải đều mọi nơi em đến hoặc sưởi ấm từng bước em đi. Các anh là mưa, mưa khắp cả ngàn phương tưới cho vườn hoa em một màu xanh ngát. Các anh là gió, gió đã hôn tóc em và lau khô những giọt nước mắt tủi hờn.

Đặng em, lắng giọt ưu phiền
Nhìn thu trãi nắng trên miền cỏ hoa (Như Nhiên)

Buổi tối trên đảo được tổ chức nhiều mục vui ngoài trời như chiếu phim, ca hát tự nhiên, cùng nắm tay thành vòng tròn để nhảy những điệu dân ca. Con cháu thì tham dự các trò chơi. Một mình em đi dưới hàng dừa dọc theo bờ biển và dừng lại bên những chiếc ghế trên bãi cát im lìm. Nằm nhìn ra biển, Nha Trang ngày đó có những ghe câu đêm ngoài khơi, ánh đèn phản chiếu như một thành phố nhấp nhô trên mặt nước vô cùng thơ mộng.
Đêm nay nhìn ra biển, từ xa cũng muôn ngàn ánh đèn rực rỡ phản xạ một thành phố BRISBANE rất đẹp nên thơ. Cũng có những cặp tình nhân dìu nhau đi gần mé nước, hay ngồi thì thầm trên bãi cát mập mờ.
Lâu lắm rồi từ ngày mất Nhatrang đến nay em không có dịp nằm trên biển nhìn lên sao trời, tối nay nhiều vì sao lóe chớp, có vì sao rơi ở phía xa xôi. Ngày xưa cả nhóm ùa ra biển ngắm sao đêm, các anh ưa bày trò đếm: một ông sao, hai ông sao…v.v… Nhưng lúc nào các anh cũng đếm ăn gian và dành những ngôi sao sáng nhất là sao của các anh. Em biết cả ngày các anh đi bay đối diện cùng hiểm nguy, cái chết cận kề nên các anh ưa chọc em để cười vui quên đi chiến tranh thảm khốc.
Các anh lồng vào những vì sao đang chiếu rạng trời đêm, dịu dàng soi sáng và đang nghiêng đầu chớp mắt nhìn em như ngày xưa, chế nhạo mỗi khi em tủi thân hờn dỗi.
Em bật cười, nhớ lại sự đùa nghịch dành chỗ ngồi ở ghế trước mỗi khi đi chơi với các anh, vì xe xanh Không Quân chỉ có 3 chỗ kể luôn người lái, còn bao nhiêu phải ngồi ở thùng xe sau.
Lòng chợt bình yên, em hiểu các anh vẫn còn đây, ở khắp mọi nơi và vẫn luôn bên em.


https://hoiquanphidung.com/uploadpics/pics2018/1564442043-1458174878870.jpg

Các anh Thiên Lôi còn mạnh khỏe như anh Cửu, anh Toàn, anh Ninh v.v… vẫn liên lạc cùng em và thường nhắc nhở:
- Ăn chay làm công quả giúp chùa là tốt, nhưng phải giữ gìn sức khỏe, lớn tuổi rồi những việc nặng và leo cao để người trẻ họ làm.
Còn các anh Không Quân không phải trong Phi Đoàn 524 mà ở cùng tiểu bang Victoria như anh Bùi văn Đích, anh Vũ văn Bảo, anh Nguyễn Phúc Hưng.
- Chị Dọng khỏe không? Cần gì tôi thì cứ gọi, đừng ngại.
- Chị Dọng, chị đang ở đâu? Melbourne hay Queensland để tôi gởi báo Lý Tưởng cho chị.
Anh Nguyễn Phúc Hưng đã khóc, buồn và đau luôn mấy ngày khi anh Dọng ra đi, lúc nào gặp em đều nói:
- Tôi với thằng Dọng cùng khóa 63A nhưng khác Phi Đoàn, nay nó đi rồi, vợ chồng tôi sẽ lo cho bà.
Anh chị thường ghé thăm, thay giùm bánh xe cút kít, khi thì đem sợi giây xích khóa cửa garage, lo từng việc nhỏ để an toàn cho em. Những cây hoa ở sân trước nhà em không có chân mà biết đi, anh chị khuyên nên làm cổng và hàng rào. Hôm thợ đến ráp rào cổng, anh chị đều có mặt, biết em thích hoa, mỗi tháng chợ hoa mở cửa anh chị đến chở em cùng đi, dù phải đi sáng sớm.

Cho dù mạnh mẽ đến đâu
Cũng có khi ta mềm yếu
Một lời lân mẫn trao nhau
Vực dậy niềm tin kỳ diệu (Như Nhiên)

Cái tình của Không Quân là thế, không biết lúc vào Không Quân các anh có phải học qua bài học KHÔNG BỎ BẠN BÈ chưa nhỉ?
Một đêm an bình, nằm yên nghe được tiếng sóng biển vọng vang, biển đã ru em vào giấc ngủ như những ngày còn thơ bé, ngày theo chồng về cư xá Không Quân, biển cũng ở ngay phía trước.
Sáng nay đi thăm một vòng đảo bằng xe khách sạn. Động cát trắng cao, đẹp như là động cát Dốc Lết ở Hòn Khói Nha Trang.
Leo lên tới đỉnh thì mệt nhưng khi tuột xuống rất nhanh, nay các con cháu cũng chơi những trò ngồi trên cao tuột xuống, cũng làm bộ nằm quạt quạt đôi tay như đang bơi cho cát chùi xuống theo mình. Ở Úc họ không để người tuột ngồi hay nằm hẳn trên cát, mà có những thứ làm bằng nhựa như cái thâu hay cái máng để đỡ thân người. Các con cháu vui đùa hò hét vui nhộn cũng không kém các anh ngày đó.
Cảm ơn các anh Thiên Lôi 524 đã cho em nhiều kỷ niệm không thể nào quên. Cảm ơn các anh không Quân với truyền thống Không Bỏ Bạn Bè. Cảm ơn các con đã mua cho me một vé tàu đưa me về dĩ vãng của một thời tuổi trẻ vàng son.

Cảm ơn cuộc đời.
Tạ ơn Đạo, tạ ơn Đời, tất cả
Ơn vạn loài chan chứa một tình thương. (Như Nhiên)

Phòng Trực
09-12-2019, 10:03 PM
NẮNG CHIỀU THƯƠNG NHỚ
Trương kim Báu

- Đẹp quá! Đẹp quá! xin ngừng xe lại.
- Ồ con chưa bao giờ thấy cảnh mặt trời lặng, chỉ nhìn qua hình và đọc văn thôi, bây giờ nhìn mặt trời từ từ xuống thấp những tia nắng vàng rực rỡ nhuộm đỏ một vùng, thích quá!
Tất cả đều xuống xe, tôi chỉ cười và tìm một chỗ ngồi, tóc bạc tuổi chiều vẫn còn ngắm tà dương, thưởng thức nét đẹp của đất trời. Tôi tự nhủ lòng mình, thôi nhé quên đi, quên đi dĩ vãng.

- Ồ tóc me đẹp quá, hết màu trắng rồi, nắng nhuộm tóc me màu vàng ánh, đẹp, đẹp thật.

Nghe con gái nói, tự nhiên thấy nghèn nghẹn và mắt cay cay, tia nắng chiều còn vấn vương vào mắt, cố ngăn giọt lệ để buổi vàng các con được niềm vui trọn vẹn.

Em dẫu biết Thu sang rừng thay lá
Sao mãi ngồi tiếc nhớ những mùa Xuân
Em vẫn biết Xuân qua trời sang Hạ
Sao đông về....khóe mắt lại rưng rưng ? ( Như Nhiên)

Ngày xưa khi những người bạn thân trong phi đoàn 524 thường rủ tôi đi ngắm mặt trời lặng. Nha Trang có hai cảnh mà người dân ở đó đều thích. Ngồi trên biển buổi sáng nhìn mặt trời dưới mặt nước dần lên, chiếu ánh vàng rực trên mặt biển những cơn sóng cũng lấp lánh hoàng anh. Buổi chiều mặt trời lặng, đứng trên núi chỗ tượng Phật Thích Ca hay ngồi ở Hòn Chồng là nhìn rõ nhất, mặt trời đỏ rực lan tỏa nhuộm đỏ cả một vùng, chuyển màu tím rồi từ từ đậm dần cho tia nắng chiều rụi tắt.

Các anh ít khi được ngắm mặt trời mọc dù ở sát biển vì những phi vụ thường phải cất cánh khi mặt trời chưa ngủ dậy. Chim bay về đất liền khi hoàng hôn chập choạng nếu đôi cánh vẫn còn nguyên, giờ khắc ấy, chúng tôi thường cùng nhau đi ăn, dạo chơi và tán dóc.

Như thường lệ buổi chiều các anh đến rủ tôi đi chơi, nhưng đặc biệt hôm nay bắt tôi ăn mặc theo ý các anh.

- Báu nhớ mặc áo dài và tóc xõa tự nhiên, đừng cột giây nỏ gì trên tóc hết.

Các anh muốn chụp hình để thử máy, vì qua Nhật thử độ cao, ai cũng mua máy ảnh về.
Qua đến Hòn Chồng chụp chung hình cả nhóm xong rồi, bây giờ đến phiên tôi làm người mẫu. Thợ chụp hình thì ít, còn đạo diễn lại nhiều, tôi phải nghiêng qua xoay lại, ngước lên nhìn xuống, leo lên tảng đá này rồi sang tảng đá khác, chê thấp chê cao, sợ té có khi tôi phải bò càng.
Tôi tin các anh sẽ chụp cho tôi những tấm hình đẹp, vì các anh có rất nhiều tài: hát, làm thơ, đàn, vẽ, kể chuyện và viết văn.
Đến khi nắng chiều đã xuống thấp chỉ còn những tia yếu ớt, tôi tưởng bổn phận làm người mẫu xong rồi, lúc đó gió lớn quá tóc, áo tung bay.
- Báu đứng yên, cứ tự nhiên đừng kéo vạt áo, đừng túm tóc. Dọng sẽ thâu phim đem rửa , lựa các hình đẹp bỏ vào album cho Báu, chịu không?
Hôm coi album có nhiều tấm hình thật đẹp, rất mỹ thuật nhưng có những tấm vô cùng kỳ cục, chụp lúc tôi bò, le lưỡi, ôm bụng, hai tay dang ra, nhưng đặc biệt dưới mỗi tấm hình đều có lời phê bình với nhiều nét chữ: Nắng vàng nhuộm tóc em. Em và nắng. Chiều vàng em cũng vàng theo. Em e ấp tiến lên. Em thành con khỉ lúc nào vậy? Sao ôm bụng? Nguy hiểm nhen, coi chừng té. Đói bụng ? Mấy tháng rồi hở em?

Có một bức hình rửa lớn, là hình chụp sau hết, lúc mặt trời từ từ lặng màu đỏ ối rồi chuyển thành tím nhạt, tôi đứng trên mõm đá cao, vạt áo trước bay quấn vào thân, vạt sau và tóc bay tung lên, phía dưới nước biển vọt cao trắng xoá, trên đầu những vầng mây trôi, nắng chiều sắp tắt.
Dưới tấm ảnh có ghi câu: Em vững vàng trong cơn lốc.
Tấm hình đúng vào hoàn cảnh năm 1975 khi đổi thay chế độ, như trò ảo thuật, nhà, tài sản, mẹ, chồng, anh chị, tất cả bạn bè, đều biến mất.

Trôi năm tháng, tàn canh đời trắng mộng
Lợi, Danh,Tình.....lơ lửng một làn hơi ( Như Nhiên)

Bên tôi chỉ còn 2 con và người chị chồng, bây giờ 4 người là máu mủ ruột thịt nhau, không còn ranh giới chị chồng em dâu, tôi ôm chị tự nhiên, dựa vào chị, khóc cười cùng chị.

Dặn em sống hiểu và thương
Vì tâm cảnh ấy vô thường cả hai
Dặn em quên những thăng trầm
Đừng ôm dĩ vãng, âm thầm viễn mơ (Như Nhiên)

Cuộc đời tôi và tất cả những người có chồng quân nhân, công chức miền Nam đều giống nhau, chúng tôi trôi theo vận nước. Đói, nghèo, lo sợ, cô đơn, cám dỗ, cạm bẫy khắp mọi nơi đang rình chờ chúng tôi. Đó cũng là chính sách của chế độ mới đề ra.

Chúng tôi những người con gái của Nha Trang tìm đến nhau như những hoa lục bình kết lại thành một bè để không bị nước cuốn trôi lạc hướng. Cứ vài ngày, tan sở bước ra cửa sau ngân hàng, các chị đứng chờ nhau, không đủ tiền để đưa nhau vào quán nước nên chúng tôi chỉ ra cửa trước ngân hàng ngồi dưới bậc tam cấp, chia sẻ niềm tin và tình thương hầu làm sức mạnh vượt qua bao khó khăn luôn chờ đợi. Những chị nào may mắn chồng ở tù trong Nam và chuẩn bị đi thăm nuôi, trong nhóm ai phụ được gì cũng tốt.

Cứ thử ngồi gần bên cạnh nhau
Cùng khâu vá lại những cơn đau
Hãy thử cho nhau những nụ cười
Đất trời như mở lượng đầy vơi ( Như Nhiên)

Chồng chị nào nằm trong 4 binh chủng nhà nước mới đã đề ra: Nhất Phi, Nhì Pháo, Tam Báo, Tứ Tăng, thì ở tù tận miền Bắc thăm thẳm núi rừng sâu, không hy vọng được thăm nuôi vì không tiền không nhà, phương tiện quá khó khăn, vợ phải kiếm sống từng ngày để lo cho con nhỏ.

Các anh thuộc diện số một NHẤT PHI của chế độ mới, phải tù tận miền Bắc xa xôi. Tôi ở lại miền Nam như cánh hoa cô đơn, một cánh chim lìa tổ, nhớ các anh thật nhiều, từng khuôn mặt, từng cách đùa vui, chọc quê nhau để các anh có niềm vui quên đi hiện tại đối diện mỗi ngày cùng nguy hiểm.

Bây giờ đàn chim bị cắt hai cánh nhốt trong lồng, không được tung bay trên bầu trời Tổ Quốc. Giờ này các anh đang bị cầm tù nơi nào? Sơn La, Yên Bái, Hà Nam Ninh hay Hoàng Liên Sơn như Dọng, có được gặp nhau như ngày xưa không?
Các anh tìm quên khổ đau nghèo đói rét lạnh bệnh tật bằng cách nào? Có nhớ thành phố Nha Trang khi chiều xuống?

Ngày di tản tôi mất hết tất cả hình ảnh, nhưng hình các anh chụp với lời ghi Em Vững Vàng Trong Cơn Lốc, tôi nhớ rất rõ, vì nghệ thuật các anh chụp trong cuối chiều lắng đọng. Sau 75, tấm hình là động lực giúp tôi vượt qua bao khó khăn trắc trở. Nắng chiều hôm đó, áng mây trôi nhanh, gió thật mạnh tung bay tóc áo, nhưng tôi vẫn đứng yên như một bức tượng .
Nay tôi phải sống thật xứng đáng, phải Vững Vàng Trong Cơn Lốc như lời dặn năm xưa. Hy vọng đem lại được chút niềm vui đến các anh, là đức hạnh của người vợ lính.

Đúng là đổi đời, nhận thư của chị Lợi, chồng chị cũng đi tù, anh là nhà thơ Duy Năng sĩ quan cấp tá.

Thư rằng: chị thấy hình em rất nhiều bày bán ở chợ Nha Trang, chị muốn mua hết tất cả để trả lại cho em, nhưng hoàn cảnh chị cũng mất hết như em, nên chị mua có một tấm hình gởi vào em, để sau này các cháu lớn, có mà khoe cùng con hình ngày xưa của mẹ. Thương em, chị Lợi.

Những riêng tư không còn nữa rồi, ngày xưa tự do quá, tôi chơi thân cùng các anh, gia đình tôi không cấm mà chỉ tìm hiểu về các anh.
Anh tôi cảm phục phong độ hào sảng của người lính Không Quân, có trách nhiệm dù đối diện mỗi ngày cùng hiểm nguy sinh tử. Bề ngoài như khinh bạc cuộc đời, nhưng bên trong ẩn nhân từ, đạo đức, lòng Yêu Nước, Bảo Vệ giang sơn.

Anh tôi thường nói:
- Các bạn Không Quân của em là những người bạn tốt, có thể tin tưởng ở họ. Anh yên lòng khi để em đi chơi cùng các bạn Phi Công trẻ đó.
Tôi cũng cảm phục các anh khi được nghe kể lại những phi vụ, tánh hào hùng anh dũng khi ra chiến trận và xem trọng bạn bè của Không Quân, dù các anh đều mang tiếng lã lướt cực kỳ bay bướm. Khi quen thân, biết các anh có tấm lòng rất tình cảm gia đình, mỗi đêm ngồi cùng nhau tán dóc, kể những vui buồn trong ngày, đàn hát hay chọc nhau để cười, các anh thường nhớ về mẹ già và gia đình ở xa.

- Ai nấu chè dỡ quá, anh phải ráng ăn giùm thêm một chén nữa đó, cảm ơn đi.
- Báu nấu chè hả ? Hèn gì dỡ ẹt, chè này bà già của anh nấu ngon lắm.
- Má anh cũng nấu rất ngon, có dịp về anh hỏi cách nấu rồi bày cho em.
Đôi lúc cũng buồn vì tôi là con gái, ít khi được các anh khen và lại thường bị chê hay chọc quê đến khóc, từ thâm tâm tôi hiểu các anh muốn tôi bỏ tánh ỷ lại và trưởng thành, tình bạn thật tuyệt vời!
Có phải mỗi ngày các anh bay trên cao độ, tầm mắt được đối diện cùng mây trắng trời xanh, biển rộng mênh mông, núi cao vời vợi, sông dài và đồng ruộng bao la, khiến lòng các anh trong sạch và thanh cao hơn nên tình yêu quê hương đất nước vô cùng mãnh liệt. Thiên nhiên luôn luôn cảm ứng với những người có lòng và con tim biết yêu tất cả vẻ đẹp trong đời.
Trên trời là những anh hùng hiệp sĩ, dưới đất thì hào hoa phong nhã, lãng mạng lã lướt đó đây, là bản tính của người Phi Công Việt Nam Cộng Hòa, phải không?

Dọng chồng tôi cũng là người bạn thân trong 524, anh gắn bó với gia đình, đơn giản thành thật và dí dởm, chúng tôi có thể cùng nhau nhìn ngắm cảnh đẹp, một bức tranh, thưởng thức một bóng hồng, đôi mắt đẹp hay một làn tóc mây lướt qua trước mặt.

Dọng đã nói với tôi. Trong binh chuẩn Không Quân, mỗi ngày đi bay đối diện cùng hiểm nguy sống chết, nhưng người lính Kỷ Thuật Không Quân cũng thế, họ làm việc rất tỉ mĩ nhiều giờ và cực khổ thật nhiều. Bên Hải Quân cũng có những nguy hiểm mà họ phải đối phó hàng giờ. Nhưng khó khăn nhất là lính bộ binh từ sĩ quan đến người binh sĩ, hành quân liên miên và ở trong rừng núi thời gian dài uống ăn thiếu thốn, đêm ngủ không yên, có khi địch lợi dụng màn đêm để tấn công, có những tiền đồn bị bao vây nhiều ngày chịu trận.

Cơn sóng đỏ nhuộm bao nhiêu oan khuất
Cơm chiến trường, lửa đạn nếm, vì dân
Dẫu gian nan cách mấy chẳng sờn gan
Đem thân xác lót đường cho tổ quốc. (vô danh)

Những anh em đó đã hòa mình vào núi rừng hoang dã của đêm đen, họ nghe được tiếng thở của đất, tiếng u uất của núi rừng, tiếng thổn thức của dòng suối, nỗi oán hờn của rừng sâu núi thẳm, nghe được tiếng khóc của mẹ Việt Nam. Họ là những người lính có một lòng yêu quê hương dũng mạnh.
Chỉ có những người lính trận, nơi biên cương vào sa trường cùng chiến đấu với nhau mới cảm nhận được và thương nhau sâu sắc.
Người lính của Miền Nam đều có cái hào khí ngút trời đó nên khi cùng nhau vào trận, người phi công không bao giờ bỏ bạn bè dù biết có thể nguy hiểm đến tánh mạng. Vì tất cả cùng chiến đấu mong đem lại hòa bình ấm no cho dân tộc.

Sống sao cho tràn đầy sự có mặt
Chết sao cho tràn ngập cõi hư không ( Như Nhiên)

Cuộc chiến đã chấm đứt, định mệnh đã an bày các anh vào tù và nay một số đã ra đi vĩnh viễn.

Ta xoải cánh phiêu du cùng gió
Có bao giờ em nghĩ đến một giọt sương
Đã tan vào lòng bất tận. (Lê văn Trung )

Đêm nay tôi không ngủ được khi nghe tin đất mẹ Việt Nam bị cắt xén từng vùng bán cho Tàu Cộng, biển đảo thì đem dâng để trừ nợ. Nghĩ đến các anh, những người lính của Miền Nam nước Việt luôn vì tổ quốc đã hy sinh.

Không biết làm gì để bớt buồn, tôi ra phòng khách ngồi đọc kinh, linh cảm các anh đang ở đây, nước mắt tôi trào ra.
Ngày về cùng thiên nhiên các anh đã hòa vào đất mẹ, lòng mênh mông thênh thang, trôi theo mây, hoà cùng gió, chiều mang mang sương khói, đêm lấp lánh cùng trăng sao.

Ngày ta về với hư vô
Bay theo những cánh chim hồng
Trong suốt đời tịch mạc.(Lê văn Trung)

Các anh luôn ở bên tôi, cùng chia xẻ vui buồn thân ái với tôi. Tại sao lại khóc, mà không cười? Xin cảm ơn cuộc đời qua bao thăng trầm đau khổ giúp tôi đã trưởng thành, không phải là điều mà ngày xưa các anh mong muốn về người bạn này sao?

Gặp cũng là duyên mà ly biệt cũng là duyên, cuộc đời mênh mông quá, vô thường khiến chúng ta lâm vào cảnh đổi thay chỉ là quy luật của cuộc đời.

Quá khứ đã chết trong niềm hoang dại
Vì tương lai gạo sống chữa thành cơm
Hiện tại này con trân quý cảm ơn
Lòng thành thản....đời hoa thơm, trái ngọt. ( Như Nhiên)