Trang 1/3 123 cuốicuối
kết quả từ 1 tới 6 trên 17

Tựa Đề: Đôi Dòng Ghi Nhớ - Phạm Bá Hoa

  1. #1
    Moderator
    chimtroi's Avatar
    Status : chimtroi v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Dec 2007
    Posts: 1,134
    Thanks: 192
    Thanked 998 Times in 334 Posts

    Default Đôi Dòng Ghi Nhớ - Phạm Bá Hoa

    Hội Quán Phi Dũng vừa nhận được tập sách "Đôi Dòng Ghi Nhớ" của Niên Trưởng Phạm Bá Hoa, hồi ký chính trị 1963 - 1975 mà tác giả trong vai trò của một chứng nhân. Xin chân thành cám ơn Niên Trưởng Phạm Bá Hoa và trân trọng giới thiệu cùng quý NT và quý Bạn.




    Đôi Dòng Ghi Nhớ

    Hồi ký chính trị 1963 - 1975
    Ấn bản lần 4, năm 2007
    *****
    Houston, Texas, U.S.A.
    Phạm Bá Hoa



    Tác giả giữ bản quyền. Mọi trích dịch hoặc chuyển ngữ cần được tác giả đồng ý bằng văn bản.
    Ngày Nay xuất bản lần 1 tại Houston tháng 11 năm 1994.
    Lưu trữ tại Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ dưới số TX 4-045-945.
    Số ISBN: 0-9648940-1-7.
    Lưu trữ trong tại Thư Viện Điện Tử, trong CD Giao Điểm 2.
    Ngày Nay xuất bản lần 2 tại Houston tháng 11 năm 1995.
    Lưu trữ tại Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ dưới số TX 4-052-093.
    Số ISBN: 0-9648940-0-9.
    Ngày Nay xuất bản lần 3 tại Houston tháng 12 năm 1998.
    Số ISBN: 0-9648940-2-5.
    Ngày Nay xuất bản lần 4 tại California tháng 7 năm 2007.
    Lưu trữ tại Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ dưới số Txu 1-364-153.

    *****
    First printing, November 1994.
    Library of Congress Registration No: TX 4-045-945. ISBN: 0-9468940-1-7.
    Second printing, November 1995.
    Library of Congress Registration No: TX 4-052-093. ISBN: 0-9648940-0-9.
    Third printing, December 1998. ISBN: 0-9648940-2-5.
    Fourth printing, July 2007.
    Library of Congress Registration No: Txu 1-364-153.
    Copyright (c) 1994,1995, 1998, 2007 and 2009, by Hoa Ba Pham. All rights reserved. No part of this publication may be translated into different languages, reproduced, stored in a retrieval system in any form or by any means, electronìcs, mechanical, photocopying, recording, or otherwise, without the prior written permission of the publisher.




    Tác giả


    Phạm Bá Hoa, sinh năm 1930 tại làng Đại Ngãi, quận Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng. Nhập ngũ ngày 12 tháng 5 năm 1954 vào Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, thuộc tài nguyên sĩ quan trừ bị khóa 5. Vì không đủ cơ sở, được gởi lên học Trường Võ Bị Liên Quân/Đà Lạt. Trở về Thủ Đức dự lễ tốt nghiệp khóa Vì Dân cuối tháng 1 năm 1955, với cấp bậc Thiếu Úy.
    Lần lượt giữ các chức vụ:
    Trung Đội Trưởng/Tiểu Đoàn 510 Khinh Quân.
    Đại Đội Trưởng/Tiểu Đoàn 510 Khinh Quân.
    Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 2/Trung Đoàn 35/Sư Đoàn 12 Khinh Chiến.
    Trưởng Ban 3 Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn 35/Sư Đoàn 12 Khinh Chiến.
    Trưởng Ban Hành Quân, rồi Phó Phòng 3/Sư Đoàn 21 Bộ Binh.
    Chánh Văn Phòng Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh.
    Chánh Văn Phòng Tham Mưu Trưởng Liên Quân/Bộ Tổng Tham Mưu.
    Chánh Văn Phòng Tư Lệnh Quân Đoàn III.
    Chánh Văn Phòng Tổng Trưởng Quốc Phòng.
    Chánh Văn Phòng Tổng Tham Mưu Trưởng.
    Tỉnh Trưởng/Tiểu Khu Trưởng Phong Dinh (Cần Thơ).
    Chánh Sở Kế Hoạch/Tổng Cục Tiếp Vận/Bộ Tổng Tham Mưu .
    Chỉ Huy Phó Bộ Chỉ Huy 4 Tiếp Vận.
    Cục Trưởng Cục Mãi Dịch.
    Tham Mưu Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận/Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH.

    Thăng cấp:
    Trung Úy, tháng 2 năm 1957.
    Đại Úy, tháng 11 năm 1961.
    Thiếu Tá, tháng 11 năm 1963.
    Trung Tá, tháng 12 năm 1965.
    Đại Tá, tháng 9 năm 1969.


    *****

    Nội Dung

    Lời trần tình
    Lời nói đầu
    Một. Đảo Chánh ngày 01/11/1963
    Hai. Đảo Chánh ngày 30/01/1964
    Ba. Biểu Dương Lực Lượng ngày 13/09/1964
    Bốn. Đảo chánh ngày 19/02/1965
    Năm. Quân Đội Lãnh Đạo Quốc Gia từ ngày 19/06/1965
    Sáu. Khủng Hoảng Chính Trị từ ngày 09/03/1966
    Bảy. Vài Sự Kiện Quan Trọng
    Tám. Những Tháng Cuối Cùng 01--->04/1975
    Tỉnh Phước Long thất thủ
    Tỉnh Darlac thất thủ
    Rút bỏ Cao Nguyên
    Chín. Những Ngày Cuối Cùng 21--->28/04/1974
    Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức
    Di tản
    Tổng Thống Hương bàn giao cho Đại Tướng Minh
    Trước Giờ Thứ 25
    Mười. Giờ Thứ 25
    Thay lời kết 287
    Phụ bản A: Góp ý bài viết của tác giả Trần Ngọc Giang
    Phụ bản B: Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
    Phụ bản C: Chân Dung Người Lính VNCH
    Phụ bản D: Chân Dung Người Vợ Lính
    Phụ bản E: Nhận xét của một số độc giả .......................
    Tác giả



    Lời trần tình


    Kính thưa quí vị,
    Trước khi bắt đầu tôi rất đắn đo, vì muốn ghi lại sự kiện trung thực ít nhất cũng là trung thực với tôi về những gì mà tôi biết và những gì mà tôi làm, tất nhiên là khó tránh khỏi những đụng chạm đến quí vị, đặc biệt là với cựu Đại Tướng Trần Thiện Khiêm, cựu Đại Tướng Cao Văn Viên, và cựu Đại Tướng Nguyễn Khánh.
    Riêng với cựu Đại Tướng Khiêm và cựu Đại Tướng Viên, là hai vị mà tôi luôn ghi nhớ nghĩa ân. Tôi không có một thân nhân hay một bạn bè nào quen biết khi vào quân ngũ tháng 05/1954. Tháng 11/1961, đang trong trách nhiệm Trưởng Ban hành quân/Phòng 3 Sư Đoàn 21 Bộ Binh, tôi được Đại Tá Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh, kiêm Tư Lệnh Khu Chiến Thuật Hậu Giang, cử giữ chức Chánh Văn Phòng. Tháng 10 năm 1965, tôi được Thiếu Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, cử giữ chức Chánh Văn Phòng. Nhờ vậy mà tôi có nhiều cơ hội tiếp xúc với nhiều vị Tướng Lãnh, nhiều giới chức trong các cơ quan Lập Pháp, Hành Pháp, Tư Pháp, học hỏi được những căn bản trong tổ chức và quản trị.
    Tôi biết có những vị gần như mai danh ẩn tích từ khi đến Hoa Kỳ sau ngày đất nước vào tay cộng sản 30/04/1975, nhưng tôi xin phép được nhắc đến quí vị trong tập sách, và tôi chỉ nói đến quí vị ở khía cạnh quí vị là những vị lãnh đạo Quốc Gia, lãnh đạo Quân Lực, chớ tôi không nói đến những riêng tư của quí vị. Tôi xin tôn trọng phần riêng tư đó. Về những gì tôi viết vào đây, có thể có sự kiện nào đó mà quí vị cho là không chính xác, nhưng theo tôi, tôi thấy đã đủ thận trọng trong cách nhìn của tôi khi viết những trang sách nhỏ này. Biết đâu, có những điều mà tôi nói lên được sự thật liên quan đến quí vị mà nhiều chục năm qua chính quí vị cũng chưa biết đến, và cũng có thể tôi làm sáng tỏ được điều gì đó đối với dư luận dù rằng quí vị cho là có hay không có cũng chẳng sao.
    Thế hệ chúng ta đã học nhiều bài học quí báu từ trong lịch sử, và vận dụng vào bổn phận công dân trong trách nhiệm bảo vệ quốc gia. Rồi đây, những thế hệ sau chúng ta, cũng cần đến lịch sử mà thế hệ chúng ta sẽ là một phần quan trọng trong đó, và quí vị là thành phần quan trọng hơn hết trong giai đoạn lịch sử 1954 - 1975.
    Lịch sử một dân tộc không thể tự nhiên mà có. Muốn có được lịch sử, tôi nghĩ, sau chặng đường phục vụ quốc gia dân tộc, mỗi người trong bất cứ lãnh vực nào của xã hội, cần viết lại trên giấy trắng mực đen về những hiểu biết xác thực của mình trong từng phạm vi trách nhiệm lúc đương thời, và viết với một trạng thái tâm hồn thật bình thản. Từ đó, những nhà viết sử gom góp lại, chọn lọc, phân tách, đánh giá, và tạo nên những dòng sử qua từng giai đoạn thăng trầm của đất nước. "Tiếng thơm muôn đời hay lời sỉ nhục lưu mãi trong sử sách, truyền mãi trong dân gian", không phải người này tạo cho người kia, hay ngược lại, mà mỗi người trong xã hội -nhất là những vị giữ chức vụ lãnh đạo- tự tạo cho chính mình qua những nghĩ suy, những phương tiện diễn đạt, và trong những môi trường hành động.
    Tôi không dám nghĩ đây là một sử liệu, nhưng tôi cố gắng ghi chép đúng theo trí nhớ của tôi, để các sử gia may ra tham khảo được đôi điều trong khoảng thời gian nghiêng ngã của đất nước, mà thuở đó, quyền lực nằm trong tay quí vị lãnh đạo . So với ấn bản lần 1, lần 2, và lần 3, và lần 4, duyệt lại mới nhất vào cuối năm 2010 có vài sắp xếp lại về cách trình bày và bổ túc thêm một số chi tiết, vì 1.600 trang giấy học trò mà tôi lén lút viết lại trong thời gian bị giam ở trại tập trung Nam Hà trên đất Bắc, lén lút gởi về gia đình cất giữ, và khi đoàn tụ với gia đình tôi vẫn tiếp tục viết, đến nay tôi đã nhận đầy đủ từ Việt Nam gởi sang. Cùng với những sự kiện mà cựu Đại Tướng Trần Thiện Khiêm, Thủ Tướng từ tháng 9/1969 đến tháng 4/1975, và cựu Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa từ tháng 10/1965 đến tháng 4/1975, hai vị cho tôi biết thêm nhân khi vợ chồng tôi đến Virginia hồi đầu tháng 9 năm 2003 và những năm sau đó, thăm hai vị và gia đình.
    Xin quí vị vui lòng, và trân trọng kính chào quí vị.
    Houston, Texas, Hoa Kỳ.
    Viết xong ngày 15 tháng 8 năm 1994.
    Bổ túc lần 1, mùa Thu 1995.
    Bổ túc lần 2, mùa Thu 1998.
    Bổ túc lần 3, mùa Đông 2001-2002.
    Bổ túc lần 4, mùa Đông 2003-2004.
    Bổ túc lần 5, mùa Đông 2005-2006.
    Bổ túc lần 6, mùa Xuân 2007.
    Bổ túc lần 7, mùa Hè 2009.
    Duyệt lại, mùa Đông 2010.
    Bổ túc lần 8, mùa hè 2011.
    Cựu Đại Tá Phạm Bá Hoa



    Lời nói đầu


    Trong bối cảnh quốc tế sau thế chiến thứ hai 1939-1945, do ảnh hưởng lớn lao của hai siêu cường Hoa Kỳ với Liên Xô, đã tạo thành khối các quốc gia Tự Do và khối các quốc gia Cộng Sản. Bên cạnh đó là những quốc gia nhỏ về thế lẫn lực, cố ngồi lại với nhau và hình thành khối thứ ba thường gọi là khối Trung Lập.
    Trong khung cảnh gia đình, mức thu nhập hằng tháng hằng năm không đủ chi tiêu dù là tối thiểu, phải nhờ đến sự giúp đỡ của thân nhân thân quyến hay bạn bè bằng hữu. Mà khi nhờ vả thì ít hay nhiều cũng phải chịu ảnh hưởng của người ấy về mặt này mặt khác. Với hình ảnh đó ở cấp bậc quốc gia cũng vậy, còn cộng thêm những phức tạp về chính trị quốc gia quốc tế nữa. Xin nhớ rằng, trong bang giao quốc tế không có vấn đề tình cảm mà chỉ có vấn đề quyền lợi quốc gia là trên hết. Vì vậy, khi đã vay mượn hay xin xỏ của nước nào, phải chịu ảnh hưởng về những sinh hoạt của nước đó đối với quốc gia mình, thậm chí có những chính sách của họ không liên hệ đến mình mà mình vẫn phải ủng hộ, và khi đã chịu ảnh hưởng thì ý nghĩa của Trung Lập không còn nữa.
    Khi nhìn nhận như vậy, rõ ràng là các quốc gia trong khối thứ ba nói trên không có khả năng Trung Lập. Do đó mà sự hình thành của khối thứ ba này chẳng qua là gượng ép, nếu không nói là do sức ép từ thế lực bên ngoài để tăng thêm thế chính trị cho họ. Tôi muốn nói đến một thế đứng chính trị: “hoặc khối Tự Do hoặc khối Cộng Sản”. Còn tuyên bố Trung Lập mà quốc gia chỉ trông vào viện trợ hay trợ giúp nhân đạo để tồn tại, đó là tính chất dối trá trong lãnh đạo đối với đồng bào, và khi lãnh đạo dối trá thì không xứng đáng lãnh đạo đồng bào của họ nữa. Lãnh đạo cộng sản Việt Nam là một trong những nhóm lãnh đạo đó.
    Việt Nam Cộng Hòa chúng ta đứng hẳn vào khối Tự Do do Hoa Kỳ lãnh đạo. Đó không phải là cách chọn lựa lý tưởng, nhưng khi phải chọn lựa giữa hai điều xấu, ta phải chọn điều xấu ít. Nhưng chịu ảnh hưởng những chính sách của Hoa Kỳ là một việc, mà bản lãnh chính trị của những vị lãnh đạo Việt Nam Cộng Hòa trong việc tận dụng tối đa những chính sách đó vào mục đích tăng thêm hay ít ra cũng phải bảo vệ quyền lực và lợi ích quốc gia, lại là việc khác. Đó là cốt lõi của lãnh đạo.
    Lãnh đạo Việt Nam Cộng Hòa chúng ta kể từ giữa năm 1954, đã lần lượt trong tay các vị: Ông Ngô Đình Diệm, Trung Tướng Dương Văn Minh, Trung Tướng Nguyễn Khánh, Kỹ sư Phan Khắc Sửu, Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Giáo sư Trần Văn Hương, và Đại Tướng Dương Văn Minh (lần hai). Nhiệt tình của những vị lãnh đạo trên đây đối với quốc gia dân tộc dù nhiệm kỳ của hai vị sau cùng cộng lại chỉ hơn một tuần lễ, đều đáng được ca ngợi, nhưng vị nào đã để lại tiếng thơm muôn đời hay lời sỉ nhục lưu mãi trong sử sách, truyền mãi trong dân gian, xin tùy quí vị quí bạn. Xa hơn nữa là phán xét của lịch sử.
    Với quyển sách này, tôi xin ghi lại những lệnh mà tôi nhận, những việc mà tôi làm, và những gì mà tôi nghĩ, qua những lệnh và những việc làm đó trong các biến cố chính trị từ năm 1963 đến cuối năm 1966. Rồi năm cuối cùng của cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày mà lãnh đạo nước cộng sản Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa chiếm trọn Việt Nam Cộng Hòa chúng ta, ký ức và tài liệu mà tôi ghi chép lúc đương nhiệm, còn lưu giữ được đôi điều. Vì giới hạn trong phạm vi trách nhiệm nên không có được tính cách tròn vẹn của mỗi biến cố, nhưng hy vọng là nội dung này có khả năng giùp quí vị quí bạn nhận ra những nét trung thực khi lần theo mỗi sự kiện trong từng biến cố.
    Cũng xin nói thêm rằng, tôi chưa từng viết văn, cũng không biết viết văn, nên văn chương ở đây rất luộm thuộm. Kính mong quí vị quí bạn vui lòng xem nội dung quyển sách này như là một chuyện kể, nhớ đâu kể đó.
    Và bây giờ kính mời quí vị quí bạn vào chuyện kể . . .


    - một -

    Đảo Chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963



    Ngày 06/05/1963, Đổng Lý văn phòng Phủ Tổng Thống gởi công điện yêu cầu các địa phương không được treo cờ Phật Giáo ngoài khuôn viên chùa, theo đúng tinh thần Dụ số 10 ngày 6/8/1950.
    Ngày 08/05/1963, đại lễ Phật Đản, có lẽ theo tinh thần văn kiện nói trên, cơ quan chánh quyền tại Huế cấm treo cờ Phật Giáo. Đông đảo Phật tử đến trước đài phát thanh Huế để nghe chương trình phát thanh của vị lãnh đạo Phật Giáo địa phương, nhưng chương trình đó không thực hiện. Thế là đám đông trước đài phát thanh biến thành cuộc mít tinh lên tiếng phản đối, gây mất trật tự nơi đây. Thiếu Tá Đặng Sỹ, Phó Tỉnh Trưởng Nội An chỉ huy Cảnh Sát với Quân Đội đến vãn hồi an ninh trật tự. Trong tình hình rối ren đó, một tiếng nổ lớn gây thiệt mạng 7 thiếu nữ từ 12 đến 19 tuổi và một số khác bị thương. Chánh quyền địa phương cho là cộng sản gây ra vụ nổ này, nhưng không trưng dẫn được bằng chứng.
    Vài ngày sau đó, Thượng Tọa Thích Tịnh Khiết, vị lãnh đạo tối cao của Phật Giáo đã gởi bản Tuyên Ngôn lên chánh phủ, trong đó, Phật Giáo đòi được hưởng chế độ ngang hàng với Thiên Chúa Giáo. Chánh phủ đã bắt giam nhiều chức sắc lãnh đạo của Phật Giáo tại nhiều nơi, nhất là tại Huế.
    Ngày 11/06/1963, Thượng Tọa Thích Quảng Đức, trụ trì ngôi chùa ở Quận Phú Nhận tỉnh Gia Định, đến ngồi ngay ngã tư đại lộ Lê Văn Duyệt với đường Phan Đình Phùng, trung tâm thủ đô Sài Gòn, trước ống kính của rất nhiều nhà báo Việt Nam và ngoại quốc. Rồi sau đó, lần lượt thêm bảy tám vụ tự thiêu nữa tại các tỉnh. Không khí chính trị sôi sục với những cuộc mít tinh biểu tình của đông đảo sinh viên học sinh, đồng bào -nhất là đồng bào Phật tử- lác đác có cả quân nhân viên chức và cảnh sát nữa. Nhiều phóng viên báo chí truyền thanh truyền hình ngoại quốc -nhất là Hoa Kỳ- đến Việt Nam ghi nhận và đánh giá tình hình.

    Thiết quân luật.
    Trước khi hết giờ làm việc chiều ngày 20 tháng 8 năm 1963, Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm, Tham Mưu Trưởng Liên Quân, gọi tôi vào văn phòng:
    “Tối nay, chú với mấy chú văn phòng làm việc tại đây. Chú cho mấy chú luân phiên về dùng cơm rồi trở lại ngay. Chú cần hỏi gì thêm không?”

    “Có cần ngủ lại đây không, thưa Thiếu Tướng?”

    “Có thể không cần. Sẽ có lệnh sau”

    Đây là lần đầu tiên kể từ khi cầm quyền ngày 7/7/1954, Tổng Thống Ngô Đình Diệm ra lệnh Bộ Tổng Tham Mưu ban hành lệnh thiết quân luật trong phạm vi Quân Trấn Sài Gòn để Cảnh Sát cùng mật vụ bao vây các chùa, tìm bắt Thượng Tọa Thích Trí Quang, vị sư được xem là lãnh đạo Phật Giáo. Nhưng Thượng Tọa Trí Quang đã vượt rào vào khuôn viên cơ quan ngoại giao Hoa Kỳ và được phép tạm trú nơi đây.
    Thế là, từ đòi hỏi trong bản Tuyên Ngôn không được giải quyết, đến các vụ tự thiêu để phản đối chánh phủ, rồi đến vụ nhà cầm quyền vây bắt hụt Thượng Tọa Thích Trí Quang, dần dần dẫn Phật Giáo đến cuộc tranh đấu vừa ôn hòa vừa bạo động tại hầu hết các tỉnh miền Trung và một số tỉnh miền Nam, đã làm cho tình hình chung của Việt Nam Cộng Hòa trở nên tệ hại hơn hết, kể từ sau Hiệp Định Đình Chiến Genève tháng 7 năm 1954.
    Đó là phản ứng quyết liệt của giáo hội Phật Giáo và nhiều Phật tử trên toàn quốc.
    Với một tình hình như vậy, đã làm cho hầu hết các nước trong khối Tự Do, kể cả Hoa Kỳ là quốc gia ủng hộ Tổng Thống Ngô Đình Diệm mạnh mẽ nhất, đều phản đối chính sách tôn giáo trong hành động đàn áp bắt giữ các chức sắc Phật Giáo và Phật tử Việt Nam. Trước dư luận quốc nội lẫn quốc tế, Tổng Thống Ngô Đình Diệm khó mà biện minh chính sách kỳ thị tôn giáo, cho dù lệnh cấm treo cờ Phật Giáo cũng như lệnh dùng bạo lực trực tiếp hay không trực tiếp do Tổng Thống ban hành cũng vậy. Vì thuở ấy, quyền lực rất lớn trong tay hai em của Tổng Thống là ông Ngô Đình Nhu "Cố Vấn Chính Trị", và ông Ngô Đình Cẩn "Cố Vấn Chỉ Đạo Miền Trung".

    Ông Ngô Đình Diệm, được Quốc Trưởng Bảo Đại mời về Việt Nam vào giữa năm 1954 và nhận chức Thủ Tướng ngày 7 tháng 7 năm 1954.

    Cựu Hoàng Đế Bảo Đại là vị vua cuối cùng của nhà Nguyễn, đã bị Việt Minh cộng sản cưỡng bách thoái vị từ mùa thu năm 1945.
    Ngày 5/6/1948, trên chiến hạm Duguay Trowin của Pháp trong vịnh Hạ Long, Ông cùng một số chính khách đại diện cho 3 miền Nam Trung Bắc Việt Nam, chứng kiến ông Bollaert Cao Ủy Toàn Quyền Pháp tại Đông Dương (gồm 3 nước: Việt Nam, Cam Bốt, và Lào) với Thiếu Tướng Nguyễn Văn Xuân, chánh phủ Nam Kỳ Quốc, ký tên bản Hiệp Ước công nhận Việt Nam là quốc gia thống nhất và độc lập trong khuôn khổ Liên Hiệp Pháp. Danh xưng Việt Nam là “Quốc Gia Việt Nam”.
    Ngày 8/3/1949, tại điện Élysée (Paris), Tổng Thống Pháp là ông Auriol với ông Bảo Đại ký Hiệp Ước chánh thức hóa Hiệp Ước vịnh Hạ Long ngày 5/6/1948, đồng thời Pháp sẽ thành lập cho Việt Nam một quân đội quốc gia.
    Ngày 25/4/1949, cựu Hoàng Đế Bảo Đại từ Pháp trở về Việt Nam. Ngày 1/7/1949, thành lập chánh phủ của một quốc gia thống nhất. Với chức vụ cao nhất nước cho dù bị giới hạn quyền hành, nhưng ông đã không tận dụng thực dân Pháp để vừa xây dựng quốc gia non trẻ vừa chống lại chủ nghĩa cộng sản đang bắt rễ tại Việt Nam, mà ông lại sống trên đất Pháp nhiều thời gian hơn là có mặt trên quê hương Việt Nam đầy sóng gió!
    Ngày 21/1/1950, Quốc Trưởng Bảo Đại cử ông Nguyễn Phan Long thành lập chánh phủ, và ngày 4/2/1950 Hoa Kỳ công nhận quốc gia Việt Nam. Ngày 15/5/1950, Quốc Hội Pháp ban hành Luật thành lập Quân Đội Quốc Gia Việt Nam với 60.000 quân do Pháp trang bị và chỉ huy.
    Ngày 23/12/1950, Việt Nam-Pháp-Hoa Kỳ cùng ký “Hiệp Ước Hỗ Tương Phòng Thủ & Viện Trợ Quân Sự” cho Việt Nam. Danh xưng của quân đội là “Quân Đội Quốc Gia Việt Nam”.
    Ngày 28 và 30/04/1955, Quốc Trưởng Bảo Đại từ thành phố Cannes (Pháp) gọi Thủ Tướng Ngô Đình Diệm sang nhận lệnh, nhưng Thủ Tướng không thi hành. Có vẻ như Thủ Tướng trông chờ quyết định của đại hội chính trị do ông Nguyễn Bảo Toàn tổ chức trong ngày 29/4/1955 với sự tham dự của 18 đảng phái chính trị và 20 nhân sĩ Việt Nam. Đại hội kết thúc với quyết định: “(1) Truất phế quốc Trưởng Bảo Đại. (2) Giải tán chánh phủ hiện tại. (3) Ủy nhiệm ông Ngô Đình Diệm thành lập chánh phủ. (4) Tổ chức tổng tuyển cử”.
    Ngày 23/10/1955, Thủ Tướng tổ chức cuộc trưng cầu dân ý với mục đích người dân có “đồng ý hay không đồng ý” truất phế Quốc Trưởng. Kết quả, người dân đồng ý truất phế Quốc Trưởng Bảo Đại. Ba ngày sau đó, 26/10/1955, chánh phủ ban hành Hiến Ước Lâm Thời, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm tuyên bố Việt Nam theo chế độ Cộng Hòa, và ông trở thành Tổng Thống. Từ đó, danh xưng quốc gia Việt Nam là “Việt Nam Cộng Hòa”, và danh xưng của quân đội là “Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa”.
    Tiếp theo là bầu cử Quốc Hội Lập Hiến vào ngày 4/3/1956 với 123 vị Dân Cử để soạn thảo Hiến Pháp. Ngày 26/10/1956, ban hành Hiến Pháp và hủy bỏ Hiến Ước Lâm Thời. Đây là lần đầu tiên, Việt Nam có một văn bản Luật cao nhất, qui định chế độ chính trị cùng với toàn bộ cơ cấu sinh hoạt quốc gia. Từ năm 1957, ngày 26 tháng 10 được chọn là Ngày Quốc Khánh Việt Nam Cộng Hòa.
    Theo qui định trong Hiệp Định Đình Chiến ngày 20/07/1954 tại Genève, Thụy Sĩ, ngày 15/03/1956, quân đội viễn chinh Pháp hoàn toàn rút khỏi Việt Nam. Từ đó, Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa thật sự toàn quyền chỉ huy quân đội .
    Tổng Thống Ngô Đình Diệm, trong những năm đầu cầm quyền, với sự ủng hộ mạnh mẽ của Hoa Kỳ, đã được nhiều quốc gia trên thế giới công nhận và thiết lập bang giao. Ông đã ổn định được cuộc sống cho non một triệu người từ miền Bắc chạy trốn chế độ cộng sản trước khi chúng tiến vào các thành phố trên đất Bắc theo Hiệp Định đình chiến Genève ngày 20/07/1954. Hiệp Định này chia đôi Việt Nam tại vĩ tuyến 17 mà trên địa thế là sông Bến Hải với cầu Hiền Lương. Từ vĩ tuyến 17 trở lên Bắc là nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa theo chế độ độc tài do đảng cộng sản Việt Nam cai trị. Từ vĩ tuyến 17 trở xuống Nam là nước Việt Nam Cộng Hòa theo chế độ dân chủ tự do. Tổng Thống Ngô Đình Diệm cũng đã cải thiện được tình hình kinh tế xã hội trong mức độ khả quan.
    Về quân sự. Với sự cố vấn của phái bộ quân sự Hoa Kỳ, quân đội đã được tổ chức lại và phát triển từ cấp Tiểu Đoàn lên cấp Trung Đoàn, Sư Đoàn, Quân Đoàn, trên căn bản quân đội trong chiến tranh qui ước. Mọi dụng cụ chiến tranh trang bị cho quân đội, đều do Hoa Kỳ cung cấp.
    Về chính trị. Ông đã thành công đáng kể trong nỗ lực ôn hòa lẫn sử dụng võ lực trong mục đích đem lực lượng võ trang của Bình Xuyên, của Hòa Hảo, và Cao Đài về hợp tác hoặc giải thể. Lực lượng võ trang Phật Giáo Hòa Hảo và Cao Đài, là hai lực lượng chống cộng sản quyết liệt.
    Đó là sự thành công bước đầu không ai phủ nhận được. Nhưng, dần đần về sau, chế độ dưới quyền Tổng Thống, trong một mức độ nào đó, đã thể hiện tính cách "gia đình trị", bởi vì ngoài Tổng Thống ra, còn có:
    Thứ nhất, em trai Ngô Đình Nhu trong chức vụ Cố Vấn Chính Trị, và vợ ông Nhu là bà Trần Lệ Xuân, rất nhiều quyền lực trong tay, một phần có thể là Tổng Thống Diệm vẫn còn độc thân nên vị trí của bà trong một mức độ nào đó, như đệ nhất phu nhân.
    Thứ nhì, em trai Ngô Đình Cẩn trong chức vụ không hề có trong tổ chức quốc gia là Cố Vấn Chỉ Đạo Miền Trung, ông sống độc thân. Là người không có văn bản bổ nhiệm nhưng lại có toàn quyền đối với các tỉnh duyên hải miền Trung, đặc biệt là các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên/Huế, Quảng Nam Đà Nẳng, Quảng Tín, và Quảng Ngãi. Quyền lực của ông có thể ví bằng "vị sứ quân" của 5 tỉnh này.
    Thứ ba, anh trai Ngô Đình Thục, Giám Mục địa phận Vĩnh Long, và từ năm 1960 là Tổng Giám Mục Tổng Giáo Phận Huế. Tuy là chức sắc lãnh đạo trong tôn giáo, nhưng tiếng nói của ông ảnh hưởng rất lớn đối với công việc chánh quyền mà các em của ông nắm giữ.
    Thứ tư, em trai Ngô Đình Luyện, Đại Sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Anh quốc, được xem là người ít dính dáng đến những điều tệ hại mà các anh của ông gây ra trên quê hương Việt Nam.
    Khi viết lại đoạn trên đây tôi vẫn hiểu rằng, anh em thân thuộc với Tổng Thống, (hay Thủ Tướng, Bộ Trưởng, Tướng Lãnh, ..v..v.. ), tự đó không phải là cái tội, vì vị lãnh đạo không bổ nhiệm người này cũng phải bổ nhiệm người khác. Chỉ khi nào, người thân thuộc đó lợi dụng quyền lực người thân đã bổ nhiệm mình mà ngang nhiên hành động vi phạm luật pháp, lúc đó là có tội. Khi tội trạng phơi bày, người đó có bị luật pháp trừng phạt như bất cứ người công dân nào khác hay không, đó là vấn đề cần được đánh giá đúng mức.
    Tổng Thống Ngô Đình Diệm và hai em của ông là Ngô Đình Nhu và Ngô Đình Cẩn, đã lần lượt loại trừ một số nhà chính trị đối lập qua những hành động trong khuôn khổ luật pháp lẫn ngoài luật pháp.
    Rồi đến những lời lẽ cứng rắn của bà Trần Lệ Xuân -em dâu ông- tại các diễn đàn quốc tế cũng như quốc nội, đặc biệt là trong thời gian xảy ra cuộc đàn áp Phật Giáo nhiều nơi trên toàn quốc. Bà đã nhiều lần chỉ trích công khai với vẻ miệt thị và tàn nhẫn về những vụ tự thiêu của các nhà sư phản đối chánh quyền.
    Những sự kiện đó đã đưa người dân từ ủng hộ chánh phủ lúc đầu, dần dần trở nên bất mãn, đến mức căm thù chế độ mà Tổng Thống Ngô Đình Diệm là người trách nhiệm chính, vì Tổng Thống là người lãnh đạo quốc gia.
    Vậy, sự kiện giải tán Phật Giáo ngày 08/05/1963 dẫn đến sự kiện 7 Phật tử chết cùng với một số bị thương, và những hành động tệ hại tiếp theo, tôi nghĩ, đó là nguyên nhân quốc nội dẫn đến cuộc đảo chánh ngày 01/11/1963. Tôi nói "nguyên nhân quốc nội", vì theo tôi, còn có "nguyên nhân quốc tế" nữa.

    Đảo chánh.
    Ngày 01 tháng 11 năm 1963, ngày lễ "Các Thánh" (All Saints), quân đội được nghỉ buổi sáng. Khoảng 7 giờ sáng, chuông điện thoại nhà tôi reo:

    “Đại Úy Hoa tôi nghe”.

    “Chú đến nhà tôi ngay”.

    “Vâng. Tôi đến ngay, thưa Thiếu Tướng”.

    Đó là Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm, Tham Mưu Trưởng Liên Quân Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. Nhà tôi và nhà ông cùng ở trong khuôn viên trại Trần Hưng Đạo -tức Bộ Tổng Tham Mưu- cách nhau khoảng vài trăm thước. Ông ở khu nhà lầu, tôi ở khu nhà trệt.

    “Chào Thiếu Tướng”.

    “Chú lấy ghế ra sân với tôi”.

    Hoàn toàn khác lạ với mỗi lần tôi đến nhận lệnh, nên tôi nghĩ ngay đến một vấn đề gì đó phải là quan trọng lắm, bởi thường khi chỉ ngồi trong nhà. Thiếu Tướng Khiêm và tôi cùng ngồi ở góc sân sát hàng rào:

    “Chú nghe đây. Lệnh mà tôi sắp cho chú là lệnh tối mật, nếu chú tiết lộ thì chú bị đứt đầu trước tôi. Chú không được nói với bất cứ ai, kể cả vợ chú và chú Có. Chú nghe rõ chưa?”

    “Tôi nghe rõ, thưa Thiếu Tướng”.

    Chú Có mà Thiếu Tướng Khiêm vừa nói là Trung Úy Nguyễn Hữu Có, sĩ quan tùy viên của Thiếu Tướng Khiêm từ năm 1960. (Trung Úy Có nói ở đây, trùng họ tên lẫn chữ lót với Đại Tá Nguyễn Hữu Có lúc ấy).

    “Hôm nay, tôi và một số vị Tướng Lãnh đảo chánh ông Diệm, và những việc sau đây chú phải làm xong trong buổi sáng. Thứ nhất, đây là danh sách mời dùng cơm trưa tại câu lạc bộ (Bộ Tổng Tham Mưu). Thức ăn do chú sắp xếp. Nhớ, các vị được mời phải có mặt tại câu lạc bộ đúng 12 giờ hoặc trước đó chút ít. Thứ nhì, đây là danh sách mời họp tại phòng họp số 1 (tầng trệt trong tòa nhà chánh). Yêu cầu các vị này có mặt tại phòng họp chậm nhất là trước 1 giờ trưa. Đúng 1 giờ, chú cho lệnh Quân Cảnh khóa cửa lại và không ai được ra vào bất cứ vì lý do gì khi chưa có lệnh tôi. Cả hai danh sách này, nếu chú không liên lạc được với bất cứ ai hoặc có gì trở ngại thì chú trình ngay cho tôi. Đến đây chú rõ chưa?”

    “Vâng. Tôi rõ, thưa Thiếu Tướng”.

    “Và thứ ba. Chú tổ chức an ninh chu đáo khuôn viên bộ Tổng Tham Mưu, bằng cách sử dụng Đại đội 1 Quân Cảnh (của Tổng Tham Mưu) và các thành phần an ninh của Tổng Hành Dinh (Tổng Tham Mưu). Tất cả các cổng đóng lại, tuyệt đối không được mở, riêng cổng chánh, bất cứ ai ra hay vào đều phải trình tôi. Lệnh của tôi xong, chú có gì cần hỏi không?”

    “Thưa Thiếu Tướng, lý do mời họp tôi phải nói thế nào để không bị ngờ vực?”

    “Tùy chú. Nhớ, chỉ một chút sơ hở là chú đứt đầu đó. Thôi, chú vào văn phòng làm việc đi”.
    Khuôn viên trại Trần Hưng Đạo có các cổng số 1 hướng ra giao lộ Võ Tánh và đường Ngô Đình Khôi (sau đó đồi thành đường Cách Mạng 1/11), cổng số 2 và số 5 hướng ra đường Võ Tánh, cổng số 10 hướng ra đường Ngô Đình Khôi, cổng số 3 và số 4 hướng ra đường Võ Di Nguy.
    Đảo chánh, đây là lần thứ hai tôi nghe thấy trong đời binh nghiệp. Lần thứ nhất, xảy ra vào nửa đêm về sáng ngày 11/11/1960, lúc đó tôi đang học tham mưu tại Trường Đại Học Quân Sự, tọa lạc trong khuôn viên bộ Tổng Tham Mưu. Nhóm lãnh đạo cuộc đảo chánh thất bại vì không được sự ủng hộ của các vị Tư Lệnh đại đơn vị. Đại Tá Trần Thiện Khiêm, Quyền Tư lệnh Quân Khu 5 kiêm Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh, đưa quân của Sư Đoàn 21 từ Sa Đéc và quân của Sư Đoàn 7 Bộ Binh từ Mỹ Tho lên Sài Gòn đẩy lui lực lượng đảo chánh. Đại Tá Nguyễn Chánh Thi -Tư Lệnh Nhẩy Dù- và các sĩ quan trong thành phần lãnh đạo đảo chánh, đã dùng phi cơ vận tải quân sự C.47 bay sang Nam Vang -thủ đô Cam Bốt- xin tị nạn chính trị.
    Lần đảo chánh này, dù muốn hay không muốn, tôi cũng phải can dự cho dù là can dự như một sĩ quan thừa hành tin cậy. Lệnh tối mật mà tôi vừa nhận quả là bất ngờ và phải thi hành trong thời gian cấp bách, với lại dù diễn đạt như thế nào đi nữa thì tôi cũng là người chịu ơn Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm, cho nên tôi không hề nghĩ cũng như không kịp nghĩ đến điều sắp thi hành là sai hay đúng, và nên hay không nên làm. Bởi Thiếu Tướng Khiêm không hề biết tôi, ngược lại tôi cũng chưa một lần phục vụ dưới quyền ông, đến khi ông về nhận chức Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh tại Bến Kéo tỉnh Tây Ninh vào đầu tháng 02 năm 1960, thay thế Trung Tá Trần Thanh Chiêu bị cách chức sau vụ Trung Đoàn 32 Bộ Binh bị quân cộng sản đột kích lúc 3 giờ sáng ngày 29/01/1960 tại Trãng Sụp, cách tỉnh lỵ Tây Ninh khoảng 6 cây số về phía bắc, gây tổn thất nhân mạng với 23 quân nhân chết, gần 20 quân nhân bị thương, và 1 xe dodge 4x4 bị cộng sản lấy chở đầy xe vũ khí trong kho. Lúc đó, tôi đang là Trung Úy, trưởng ban hành quân/Phòng 3 Sư Đoàn.
    Vài tháng sau đó, Sư Đoàn được lệnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm chuyển xuống Quân Khu 5, hoạt động an ninh vùng Đồng Tháp Mười. Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn trở lại nơi đồn trú cũ là quận lỵ Sa Đéc. Đến giữa năm 1960, Đại Tá Khiêm được Tổng Thống cử giữ chức Quyền Tư Lệnh Quân Khu 5 tại Cần Thơ (thay Đại Tá Nguyễn Văn Y chuyển về trung ương) kiêm Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh tại Sa Đéc. Tháng 4 năm 1961, lãnh thổ quân sự được tổ chức lại thành 3 Vùng Chiến Thuật do 3 Quân Đoàn trách nhiệm:
    “Quân Đoàn I/Vùng I Chiến Thuật tại Đà Nẳng, bao gồm 5 tỉnh cực bắc duyên hải. Quân Đoàn II/Vùng II Chiến Thuật tại Plei ku, bao gồm các tỉnh Cao Nguyên và các tỉnh duyên hải phía nam. Quân Đoàn III lâm thời/Vùng III Chiến Thuật tại Sài Gòn, bao gồm các tỉnh vùng đất chuyển tiếp miền nam và trọn vùng đồng bằng Cửu Long”.
    Những tháng cuối năm 1961, tôi được thăng cấp Đại Úy và được cử giữ chức Chánh văn phòng Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh mà vị Tư Lệnh là Đại Tá Trần Thiện Khiêm. Sư Đoàn đã chuyển sang đồn trú tại Cần Thơ và trách nhiệm Khu 33 Chiến Thuật, cũng gọi là Khu Chiến Thuật Hậu Giang. Ngày 06/12/1962, Đại Tá Trần Thiện Khiêm thăng cấp Thiếu Tướng, đồng thời được cử giữ chức Tham Mưu Trưởng Liên Quân/Bộ Tổng Tham Mưu, thay Thiếu Tướng Nguyễn Khánh lên Plei Ku nhận chức Tư Lệnh Quân Đoàn II/Vùng II Chiến Thuật. Chức vụ "Tham Mưu Trưởng Liên Quân" là chức vụ mới thành lập, trước đó chỉ là Tham Mưu Trưởng/Bộ Tổng Tham Mưu. Ngày 17/12/1962, tôi thuyên chuyển theo Thiếu Tướng Khiêm về Bộ Tổng Tham Mưu, và từ ngày đó, tôi giữ chức Chánh văn phòng Tham Mưu Trưởng Liên Quân. Vì vậy mà tôi thi hành nhiệm vụ tối mật này một cách tích cực.
    Trở lại việc thi hành lệnh của Thiếu Tướng Khiêm. Đầu tiên, tôi gọi Trung Úy Nguyễn Hữu Có và các nhân viên vào văn phòng. Trung Úy Có có trách nhiệm liên lạc với quản lý câu lạc bộ lo bữa ăn trưa. Tiếp đó là điện thoại đến Đại Đội 1 Quân Cảnh (trong khuôn viên Bộ Tổng Tham Mưu):

    “Tôi, Đại Úy Hoa đây. Anh cho tôi nói chuyện với Trung Úy Phụng, Đại Đội Trưởng (Nguyễn Thúc Phụng)”.

    “Vâng. Đại Úy chờ một chút”. Hạ sĩ quan trực trả lời.

    “Chào Đại Úy, tôi Phụng đây. Đại Úy đang ở đâu đó?”

    “Chào anh. Tôi đang ở văn phòng. Anh Phụng à, trong vòng 3 tiếng đồng hồ tới đây, anh có thể tập trung tất cả anh em hay ít nhất cũng là tối đa quân số của Đại Đội được không?”

    “Dạ được”.

    “Vì vấn đề an ninh trong trại Trần Hưng Đạo hôm nay, anh phải cố gắng hết sức nghe anh. Khi tập họp xong hoặc chậm lắm là 10 giờ 30, anh điện thoại lại tôi để nhận lệnh chi tiết. Anh có gì cần hỏi thêm không?”

    “ Có chuyện gì vậy Đại Úy?”

    “Lệnh của Thiếu Tướng như vậy chớ tôi không biết gì hơn anh đâu. Thôi nghe. Anh lo phần anh, tôi còn vài việc khác nữa. Chào anh”.

    Tôi mời Thiếu Tá Nguyễn Văn Luông, Chỉ Huy Phó Tổng Hành Dinh/Tổng Tham Mưu đến văn phòng. Năm 1958, Thiếu Tá Luông là Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 35 Bộ Binh/Sư Đoàn 12 Khinh Chiến, đồn trú tại Kon Tum. Lúc đó, tôi là Trung Úy, trưởng ban 3 kiêm trưởng ban 5 Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn này. Thì ra Thiếu Tá Luông đã nhận lệnh của Thiếu Tướng Khiêm rồi, nhưng tôi vẫn nói thêm vài chi tiết về an ninh:

    “Thưa Thiếu Tá, với Đại Đội 1 Quân Cảnh, tôi đã điện thoại cho Trung Úy Phụng rồi. Xin Thiếu Tá đúng 1 giờ trưa, đóng tất cả các cổng lại và đưa lực lượng bảo vệ đến bố trí ngay lúc đó. Cổng số 2, 3, 4, 5, và 10, tuyệt đối không mở cho đến khi có lệnh. Riêng cổng số 1, lệnh của Thiếu Tướng Tham Mưu Trưởng là bất cứ giới chức nào muốn ra hay vào, xin Thiếu Tá hoặc trưởng toán Quân Cảnh điện thoại vào tôi và chờ tôi trình Thiếu Tướng”.

    “Vấn đề an ninh tòa nhà chánh, anh lo hay tôi lo?”

    “Thưa Thiếu Tá, tôi trách nhiệm. Để cho rõ ràng, an ninh trong phạm vi trại Trần Hưng Đạo thì Thiếu Tá trách nhiệm, riêng phạm vi tòa nhà chánh thì tôi trách nhiệm. Về lực lượng, xin Thiếu Tá cho tôi 2 chiếc Thiết Giáp AM/M8 lên tăng cường cho tôi cùng với 2 tổ đại liên đặt trên nóc tòa nhà chánh. Xin nhắc lại, tất cả mọi việc chỉ được thực hiện ngay trước lúc 1 giờ trưa. Xin Thiếu Tá vui lòng chỉnh lại đồng hồ để có giờ thống nhất. Thiếu Tá còn cần gì không?”

    “Để tôi về lo ngay cho kịp. Chào anh nghe”.

    “Dạ, chào Thiếu Tá”.

    Lần lượt tôi điện thoại các vị trong danh sách 1, tức là danh sách mời dùng cơm nhưng thật ra là quí vị trong nhóm đảo chánh, mà hầu hết các vị này đều biết trước. Kế tiếp, tôi mời các vị trong danh sách 2, tức danh sách mời họp nhưng thật ra sẽ bị giữ để cách ly với cuộc đảo chánh. Vì trục trặc với hai vị trong danh sách 2, tôi điện thoại đến Thiếu Tướng Khiêm:
    “Trình Thiếu Tướng, tôi Hoa đây. Tôi đã điện thoại xong, nhưng có trở ngại là không liên lạc được với Đại Tá Huỳnh Hữu Hiền -Tư Lệnh Không Quân- và Đại Tá Hồ Tấn Quyền -Tư Lệnh Hải Quân- Theo người nhà của hai vị ấy cho biết, thì Đại Tá Hiền đang trên không trình Sài Gòn-Đà Lạt, tôi có dặn người nhà trên đó khi Đại Tá Hiền đến nơi thì điện thoại về tôi gấp. Còn Đại Tá Quyền thì người nhà nói có lẽ đã đi lễ nhà thờ, nhưng tôi gọi đến nhà thờ Đức Bà nhờ người tìm mà không gặp. Tôi sẽ cố gắng nhưng không chắc là tôi sẽ thực hiện được, thưa Thiếu Tướng”.
    “Chú ráng tìm hai ổng, phần tôi, tôi cũng tìm cách liên lạc”.

    “Vâng. Chào Thiếu Tướng”.

    Đến đây xin mở ngoặc để nói thêm về Đại Tá Hồ Tấn Quyền. Tối ngày 06/09/2003, trong lúc dự tiệc cưới tại Washington DC, vợ chồng tôi ngồi chung bàn với cựu Trung Tướng Ngô Quang Trưởng và cựu Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại. Bỗng dưng ông Thoại nhắc đến vụ 01/11/1963, vì sau ngày Đại Tá Quyền bị giết ông nghe người nhà Đại Tá Quyền nói là có một sĩ quan nào đó ở Tổng Tham Mưu điện thoại mời Đại Tá Quyền đi họp không biết điều đó có đúng không? Vì nếu đúng thì có thể Đại Tá Quyền không bị giết nếu ông ấy đi họp, dù rằng tối hôm ấy tôi được biết nếu có đi họp cũng bị cách ly với cuộc đảo chánh, nhưng cách ly có thể thoát chết.
    Thế là tôi lên tiếng:

    “Thưa Anh, người mời Đại Tá Quyền hôm ấy là tôi. Người cầm ống nói là phụ nữ đã trả lời cho tôi là Đại Tá Quyền có thể đã đi nhà thờ Đức Bà, nhưng sau đó tôi đã hai lần điện thoại đến nhà thờ nhưng không tìm thấy Đại Tá Quyền”.

    “Chưa đến giờ đi lễ nên Đại Tá Quyền vào sân tennis với tôi”. Anh Thoại quay hẳn sang tôi và tiếp:

    “Khi ông Lực, sĩ quan tùy viên, đến mời Đại Tá Quyền lên Thủ Đức dự tiệc mừng sinh nhật của Đại Tá Quyền do anh em Hải Quân tổ chức trên đó, có lẽ thấy Đại Tá Quyền chần chừ nên ông Lực nói tiếp: Đại Tá ráng đi vì anh em muốn dành cho Đại Tá sự bất ngờ nên không trình trước với Đại Tá. Rồi Đại Tá Quyền có vẻ nễ nang nên lên xe đi. Và sau đó thì bị ông Lực giết chết. Nếu như người nhà điện thoại đến sân tennis báo tin Tổng Tham Mưu mời đi họp, rất có thể là Đại Tá Quyền không bị giết như vậy”.

    Xin đóng ngoặc. Trở lại hoạt động trong văn phòng tôi.
    Điện thoại reo: “Đại Úy Hoa tôi nghe”.

    “Phụng đây Đại Úy. Tôi tập trung Đại Đội xong rồi, Đại Úy có lệnh gì cho tôi?”

    “Cám ơn Anh, và đây là chi tiết: Ngay bây giờ, anh sẳn sàng tại chổ 3 Tiểu Đội và tôi sẽ điều động công tác trong chốc lát. Điều quan trọng là 3 Tiểu Đội này phải di chuyển ngay tức thì khi có lệnh. Phần còn lại của Đại Đội, anh liên lạc với Thiếu Tá Luông, Tổng Hành Dinh/Tổng Tham Mưu để nhận lệnh. Anh cần biết gì thêm không?”

    “Dạ không Đại Úy”.

    “Xin anh đừng rời xa điện thoại nghe anh Phụng. Chào anh”.

    Chuẩn bị bữa ăn hôm nay, Trung Úy Nguyễn Hữu Có chu toàn trách nhiệm mặc dù anh không biết tại sao lại có bữa ăn bất thường này. Bữa ăn trưa hôm nay rất quan trọng, nhưng không quan trọng về thực khách mà quan trọng ở điểm là ngụy trang cho buổi họp mặt tối mật của các vị trong nhóm lãnh đạo đảo chánh quân sự. Tôi nói ngụy trang, vì trong vòng 3 tuần lễ trước ngày này, Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm thường có những buổi tối đi đâu đó mà tôi không biết chính xác mặc dù hệ thống liên lạc đặc biệt giữa tôi tại nhà, với toán cận vệ trên xe theo sau xe Thiếu Tướng mỗi khi ra khỏi nhà, chúng tôi giữ liên lạc thường xuyên nhưng vẫn không bám sát được vị trí của ông. Điển hình trong một tối, xe bắt đầu rời nhà Thiếu Tướng Khiêm, tôi được thông báo và mở máy liên lạc ngay. Một lúc sau:

    “Hồng Hà. Hồng Hà. Bắc Bình gọi. Trả lời”.

    “Hồng Hà tôi nghe 5/5. Có gì cho tôi. Trả lời”.

    “Tôi dừng xe ở đường 45 (ám danh của đường Kỳ Đồng), Bông Hồng đã có xe khác đón nhưng không rõ đi dâu, tôi chỉ được lệnh chờ tại chỗ. Nghe rõ trả lời?”

    “Tôi nghe 5/5. Thi hành lệnh. Giữ liên lạc với tôi. Trả lời”.

    “Nghe rõ”.

    Xin giải thích. Chữ "trả lời" ở cuối mỗi câu khi liên lạc vô tuyến là điều qui định khi học về Truyền Tin trong trường quân sự. Chữ này cũng có nghĩa "đến đây là hết câu". Hồng Hà là danh hiệu của tôi. Bắc Bình là danh hiệu của toán an ninh. Và Bông Hồng là danh hiệu của Thiếu Tướng Khiêm. Tất cả chỉ dùng trong hệ thống liên lạc an ninh này mà thôi.

    Một buổi tối khác. Thiếu Tướng Khiêm cũng đi một cách bí mật như vậy, trong lúc tôi tự đặt ra những giả thuyết và phân tách để tìm giả thuyết có thể chấp nhận được về hoạt động bất thường đó, thì chuông điện thoại nhà tôi reo:

    “Đại Úy Hoa, tôi nghe”.

    “Trung Tá Đường đây, tôi có gọi đằng tư dinh Thiếu Tướng Khiêm để ông Cố Vấn (Ngô Đình Nhu) nói chuyện với Thiếu Tướng nhưng không gặp. Ông Cố Vấn bảo tôi nói với anh và anh trình lại Thiếu Tướng Khiêm rằng, tình hình Sài Gòn lúc này phức tạp lắm, bọn Việt Cộng tung những tổ đặc công vào nội thành, chuyên ám sát các tướng lãnh và các sĩ quan cao cấp. Ông Cố Vấn dặn Thiếu Tướng không nên ra khỏi nhà sau giờ làm việc. Đó là lệnh, anh rõ chưa?”

    “Thưa Trung Tá, tôi rõ”
    .
    “Chào anh”.

    Đó là Trung Tá Phạm Thư Đường, Chánh văn phòng ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu. Đến giờ phút này (tức giờ phút nhận lệnh của Trung Tá Đường) thì tôi hiểu rằng, chẳng phải ông Cố Vấn lo cho những người dưới quyền, mà chính là ông muốn theo dõi những người dưới quyền ông có hành động gì có thể "phản trắc" đối với anh em Tổng Thống hay không, vì tình hình ngày càng tồi tệ thêm và tự nó đã lung lay chiếc ghế cầm quyền của Tổng Thống lẫn của ông Cố Vấn. Cũng vì vậy mà trong thời gian xảy ra sự đối đầu của Phật Giáo với Chánh Phủ, dư luận từ các nhà chính trị đối lập nói về kế hoạch Bravo 1 của ông Cố Vấn Nhu, theo đó ông Cố Vấn Nhu dự định thực hiện cuộc đảo chánh giả để phát hiện và triệt tiêu những ai chống đối chế độ, không phải là không có cơ sở.
    10 phút trước 1 giờ 00, tôi nhắc Thiếu Tá Luông chuẩn bị đóng các cổng cùng lúc với việc điều động lực lượng tăng cường cho các cổng. Mặt khác, tôi kiểm lại các vị trong danh sách 2. Và cho đến lúc này, vẫn còn thiếu Đại Tá Huỳnh Hữu Hiền và Đại Tá Hồ Tấn Quyền.
    Ngay lúc trước 1 giờ 00, tình hình trong trại Trần Hưng Đạo nói chung và tòa nhà chánh nói riêng, như sau:
    Tất cả các cổng số 1, 2, 3, 4, 5, và 10, đều đóng lại và lực lượng canh gác được tăng cường trước sự ngạc nhiên của các quân nhân thường trực. Chi Đội Thiết Giáp bố trí đằng sau tòa nhà chánh và 2 khẩu đại liên đã sẳn sàng trên sân thượng.
    Bãi đậu xe hai bên hông tòa nhà chánh, mỗi bên có 1 Tiểu Đội Quân Cảnh túc trực. Tiểu Đội Quân Cảnh thứ 3, tập trung an ninh tầng lầu 2, bên cánh phải (tính từ trong tòa nhà chánh nhìn ra võ đình trường), nơi đó là văn phòng Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm, Tham Mưu Trưởng Liên Quân, cũng là bản doanh của quí vị lãnh đạo đảo chánh.
    Trong phòng Thiếu Tướng Khiêm, rất đông các vị trong danh sách mời ăn trưa sau khi xong ở câu lạc bộ, như: Trung Tướng Dương Văn Minh, Trung Tướng Trần Văn Đôn, Quyền Tổng Tham Mưu Trưởng vì Đại Tướng Lê Văn Tỵ đang dưỡng bệnh, Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm, cùng các vị Tướng Tôn Thất Đính, Trần Tử Oai, Lê Văn Kim, Mai Hữu Xuân, ..... Đại Tá Đỗ Mậu -Giám Đốc Nha An Ninh Quân Đội- Đại Tá Dương Ngọc Lắm, Đại Tá Nguyễn Văn Quan, ......
    Trong khi đó, văn phòng tôi và văn phòng Trung Úy Có, các sĩ quan tùy viên và hạ sĩ quan cận vệ, kẻ ngồi người đứng chật cả phòng, vì mỗi vị Tướng ít nhất cũng có 3 hay 4 người đi theo, nhất là trong tình hình này.
    Đúng giờ G, tức 1 giờ trưa ngày 01 tháng 11 năm 1963. Cửa phòng họp số 1 đóng lại, 2 Quân Cảnh đứng gác bên ngoài. So với danh sách "mời họp" vẫn còn thiếu Đại Tá Hiền và Đại Tá Quyền. Hướng Lữ Đoàn Phòng Vệ Phủ Tổng Thống (góc đường Thống Nhất-Cường Để-Hồng Thập Tự) và khu vực Phủ Tổng Thống -tức dinh Gia Long- súng bắt đầu nổ.
    Trong văn phòng Thiếu Tướng Khiêm -bản doanh của Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng- âm thanh ồn ào hẳn lên cùng với sự đi lại nhiều hơn, do các vị điện thoại ra lệnh đơn vị này cơ quan khác, chen lẫn với bàn thảo tình hình.
    Một lúc sau, tôi vào trình Thiếu Tướng Khiêm:

    “Thưa Thiếu Tướng, tôi thấy giữ Đại Tá Viên (Cao Văn Viên, Tư Lệnh Lữ Đoàn Nhẩy Dù) dưới phòng họp không tiện lắm. Xin Thiếu Tướng cho phép tôi đưa Đại Tá Viên lên ngồi ở văn phòng tôi và tôi chịu trách nhiệm”.

    “Được rồi. Chú đưa Đại Tá Viên lên phòng chú đi”.

    Tôi quen biết chưa nhiều với Đại Tá Cao Văn Viên, nhưng do bà Trần Thiện Khiêm nói lại, theo đó thì Thiếu Tướng Khiêm, Thiếu Tướng Khánh, và Đại Tá Viên rất thân nhau, nhất là khi ba vị này là sĩ quan cấp úy và cùng chiến đấu ở mặt trận Na Sản trên đất Lào trong hàng ngũ quân đội Liên Hiệp Pháp. Và ba gia đình này cũng thân nhau từ đó, vì có nhiều thời gian sống chung nhau ở Hà Nội trong khi các ông cùng ở mặt trận. Do đó, tôi thấy cần giúp Thiếu Tướng Khiêm tránh điều khó xử đối với người bạn thân của ông bằng cách "giải thoát" Đại Tá Viên ra khỏi phòng "tạm giữ". Nguyên nhân chỉ là vậy.
    Đại Tá Cao Văn Viên, năm 1960, đang giữ chức Tham Mưu Trưởng Tham Mưu Biệt Bộ/Phủ Tổng Thống, lúc đó là Trung Tá. Ngay sau cuộc đảo chánh ngày 11/11/1960, ông được thăng cấp Đại Tá và nhận chức Tư Lệnh Lữ Đoàn Nhẩy Dù đang khuyết, vì Đại Tá Nguyễn Chánh Thi đã chạy sang Cam-Bốt tị nạn chính trị khi đảo chánh thất bại. Cũng vì vậy mà ông (Đại Tá Viên) bị xếp vào thành phần tín cẩn của Tổng Thống Diệm, và bị giữ chân trong phòng họp số 1 cách ly với cuộc đảo chánh đang diễn tiến.
    Đến đây xin mở dấu ngoặc để nói thêm về cựu Đại Tướng Cao Văn Viên. Cũng nhân dịp dự tiệc cưới ngày 06/09/2003 nêu trên, tôi có đến nhà thăm cựu Đại Tướng Trần Thiện Khiêm, sau đó dùng cơm tối với cựu Đại Tướng Cao Văn Viên tại nhà người bạn. Cựu Đại Tướng Viên nói rằng:

    “Những điều Anh (tức tôi) nói về cuộc đảo chánh 01/11/1963 trong quyển sách của Anh về tôi là đúng, nhưng có những điều khác mà Anh chưa biết”.

    “Rất đúng, thưa Đại Tướng. Tôi chỉ viết lại những gì mà tôi biết thôi, cho nên câu chuyện không tròn trịa được”. Tôi trả lời, và cựu Đại Tướng Viên nói tiếp:

    “Trước khi Anh mời tôi lên ngồi văn phòng Anh, có người xuống gọi tôi lên văn phòng gặp ông Minh (tức Trung Tướng Dương Văn Minh, cấp bậc lúc bấy giờ), để nghe ổng nói là ổng đảo chánh Tổng Thống Diệm, rồi ổng hỏi tôi nghĩ sao? Tôi trả lời là chuyện lớn như vậy mà bây giờ Trung Tướng mới nói với tôi thì tôi đâu có quyết định được. Lúc ấy sĩ quan cận vệ của ông Minh lăm le khẩu súng về phía tôi như sẳn sàng bắn tôi. Tôi cũng nhắc lại với Anh là trước đó, tôi với một ông Đại Tá mà tôi giấu tên (theo tôi biết, đó là Đại Tá Lê Quang Tung, Chỉ Huy Trưởng Sở Khai Thác Địa Hình, tên gọi ngụy trang của cơ quan mật vụ) cùng gọi lên gặp Trung Tướng Minh, nhưng vừa ra khỏi phòng họp thì ổng bị còng tay dẫn đi và đã bị giết sau đó. Còn tôi cũng bị còng nhưng mới còng một tay thì Thiếu Tướng Đính (Tôn Thất) chợt thấy, ổng bảo tháo còng ra, và sĩ quan đó dẫn tôi lên gặp ông Minh như tôi vừa nói. Tiếp đến mới nối vào chuyện của Anh mời tôi lên ngồi ở văn phòng Anh”.

    Đến đây là hết lời kể của cựu Đại Tướng Cao Văn Viên. Tôi xin tiếp lời của một nhân chứng khác cũng liên quan đến sự kiện này. Tối 18/05/2005, tại Houston, tôi dùng cơm với anh Trịnh Bá Lộc từ Arkansas đến thăm thành phố này. Trong bữa ăn đó còn có cựu Đại Tá Lê Thuần Trí, và cựu Trung Tá Hoa Hải Đường. Qua những câu chuyện trao đổi, trong đó có nói đến cuộc đảo chánh ngày 01/11/1963. Lúc ấy, anh Lộc là Đại Úy, sĩ quan tùy viên của Trung Tướng Dương Văn Minh. Và đây là lời trao đổi giữa tôi với anh Trịnh Bá Lộc.
    Khi tôi thuật lại lời kể của cựu Đại Tướng Viên lúc ông bị còng tay, anh Lộc nói:

    “Đại Tướng Cao Văn Viên bị còng tay ngay trước mặt Trung Tướng Minh, và tôi đứng bên cạnh. Lúc ấy đang đứng bên ngoài cửa văn phòng của Tổng Tham Mưu Trưởng, tức là trên tầng lầu 2 chớ không phải ở tầng trệt. Đúng như Đại Tướng Viên nói là ông bị Quân Cảnh mới còng một tay (trên tầng 2), và chính Trung Tướng Minh ra lệnh tháo còng ra”.

    “Vậy anh có biết ai ra lệnh còng tay không?” Tôi hỏi.

    Anh Lộc đáp:

    “Chính tôi cũng thắc mắc điều này, vì tôi hoàn toàn không biết ai ra lệnh”.

    Với lời của anh Lộc, sự kiện nho nhỏ này trở thành cái “gút”. Vì cựu Đại Tướng Viên nói là ông bị còng tay sau khi ra khỏi “phòng tạm giữ” ở tầng trệt của tòa nhà chánh Bộ Tổng Tham Mưu, và Thiếu Tướng Đính ra lệnh mở còng, trong khi anh Lộc nói Đại Tướng Viên bị còng tay ở tầng lầu 2 và Trung Tướng Minh ra lệnh mở còng. Sự kiện tuy nhỏ, nhưng không rõ là vị nào nhớ đúng, vì một vị là “nạn nhân” còn vị kia là “nhân chứng”. Tôi sẽ cố gắng tìm hiểu thêm về sự kiện này.
    Anh Lộc còn kể lại mẫu chuyện ngắn vào những ngày cuối của tháng 04/1975, theo đó thì lá đơn của Đại Tướng Viên gởi Tổng Thống Trần Văn Hương xin giải ngũ mà tôi bổ túc vào “Lời nói cuối”. Xin đóng ngoặc.
    Khoảng hơn 1 tiếng đồng hồ sau, điện thoại reo:

    “Đại Úy Hoa tôi nghe”.

    “Thưa Đại Úy, có Thiếu Tá Trần Cửu Thiên vô phòng Tổng Quản Trị lãnh huy chương, và bây giờ xin ra cổng”.

    Đó là lời của trưởng toán Quân Cảnh ở cổng số 1. “Anh chờ tôi đầu máy”.

    Tôi vào trình Thiếu Tướng Khiêm nhưng Trung Tướng Dương Văn Minh ra lệnh cho tôi một cách lạnh lùng:

    “Anh đem vô nhốt luôn cho tôi”.

    “Vâng”.

    Xin nói thêm. Tất cả các vị trong Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng đều có mặt trong phòng Thiếu Tướng Khiêm, nên mỗi khi tôi trình điều gì với Thiếu Tướng Khiêm, các vị khác đều nghe. Do vậy mà Trung Tướng Minh ra lệnh giữ Thiếu Tá Thiên trong khi Thiếu Tướng Khiêm chưa có phản ứng.
    Một lúc sau, tôi gặp Thiếu Tá Thiên trong phòng vệ sinh có Quân Cảnh đi kèm, ông Thiên trừng mắt với tôi và không nói một lời cho dù tôi chào ông đến hai lần. Thiếu Tá Thiên rất được sự tín nhiệm của Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu sau khi Thiếu Tá Thiên được đánh giá là xây dựng thành công "khu trù mật" Vị Thanh-Hỏa Lựu thuộc tỉnh Phong Dinh (lúc bấy giờ chưa thành lập tỉnh Chương Thiện). Thiếu Tá Thiên là đảng viên đảng Cần Lao Nhân Vị mà ông Cố Vấn Nhu là lãnh tụ. Vì vậy mà Thiếu Tá Thiên -trong một chừng mực nào đó- đã xem thường ngay cả với Đại Tá Khiêm khi Đại Tá Khiêm đang là Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh/kiêm Khu 33 Chiến Thuật, chỉ vì Đại Tá Khiêm không phải là đảng viên, cũng không phải là tín đồ Thiên Chúa Giáo.
    Lúc 3 giờ chiều, điện thoại tôi reo: “Đại Úy Hoa tôi nghe”.

    “Tôi là Hiền đây anh Hoa. Anh trình Thiếu Tướng xem bây giờ tôi đến còn kịp họp không?”

    “Xin lỗi, Đại Tá đang ở đâu đó?”

    “Tôi đang ở Bộ Tư Lệnh Không Quân”.

    Đấy là Đại Tá Huỳnh Hữu Hiền, Tư Lệnh Không Quân.

    “Xin Đại Tá vui lòng chờ đầu máy, tôi vào trình ngay”.

    Tương tự như khi tôi trình với Thiếu Tướng Khiêm về trường hợp Thiếu Tá Thiên, trình xong, Thiếu Tướng Khiêm chưa có phản ứng thì Trung Tướng Minh ra lệnh:

    “Kêu qua nhốt luôn”
    “Vâng”.
    Tôi báo cho Quân Cảnh phụ trách cổng số 1, mở cổng, và hướng dẫn Đại Tá Hiền vào phòng họp, gọi cho đúng là "phòng tạm giữ".
    Đến lúc này thì điện thoại tôi reo liên hồi, hết ông Tỉnh Trưởng này đến vị Tỉnh Trưởng khác, hỏi thăm tình hình tại thủ đô ra sao? Nhóm đảo chánh có những vị nào? Có địa phương nào gọi về ủng hộ chưa? Các vị Tư Lệnh Quân Đoàn Sư Đoàn có ủng hộ không? ..v..v.. Tất cả những câu hỏi, tôi nghĩ, chắc là các ông ấy có mục đích tìm hiểu thêm tình hình, để các vị ấy quyết định ủng hộ Tổng Thống Ngô Đình Diệm hay ủng hộ Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng. Thế thôi. Do vậy mới có thêm nhu cầu chuyển ngay các bản văn của địa phương ủng hộ Hội Đồng sang đài phát thanh Sài Gòn để loan tin kịp thời. Thế là tôi có thêm đường giây điện thoại trực tiếp với đài phát thanh và hầu như tất cả những bản văn ủng hộ Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng của nhiều vị Tỉnh Trưởng, đều do tôi gợi ý. Và khi vị ấy đồng ý là tôi chuyển đến đài phát thanh qua điện thoại luôn. Nghĩa là từ lúc ông Tỉnh Trưởng đồng ý ủng hộ đến khi loan tin trên làn sóng, chỉ trong vòng 3 đến 5 phút.
    Bất cứ biến cố nào cũng có người ủng hộ, người thì không, đó là lẽ đương nhiên. Trường hợp đảo chánh đang diễn tiến cũng vậy. Theo lệnh Thiếu Tướng Khiêm, tôi chuyển đến Truyền Tin:
    “Hệ thống kiểm thính sẽ "chận bắt" trên làn sóng vô tuyến, các công điện gởi về Phủ Tổng Thống và trình lên văn phòng Tham Mưu Trưởng Liên Quân ngay. Còn trên hệ thống điện thoại viễn liên ngang qua tổng đài điện thoại Cộng Hòa trong khuôn viên bộ Tổng Tham Mưu, phải thu băng các cuộc đàm thoại, ghi chép lại và trình lên vào mỗi đầu giờ”.
    Bây giờ xin mời quí vị quí bạn cùng tôi rời bộ Tổng Tham Mưu để lên Biên Hòa, theo chân Sư Đoàn 5 Bộ Binh, lúc ấy Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu là Tư Lệnh. Những tin tức về hoạt động của Sư Đoàn này liên quan đến ngày đảo chánh 01/11/1963, do Đại Tá Lộ công Danh –lúc ấy là Thiếu Tá, trưởng phòng 3 Sư Đoàn 5 Bộ Binh- kể lại cho chúng tôi nghe vào năm 1981, khi bị giam chung ở trại tập trung tù chính trị Nam Hà, tỉnh Hà Nam Ninh, miền bắc Việt Nam. Chuyện kể như thế này:
    "Khoảng trung tuần tháng 10 năm 1963, Đại Tá Thiệu đã làm cho bộ tham mưu Sư Đoàn, nhất là các sĩ quan Phòng 2 Phòng 3 rất ngạc nhiên. Lệnh hành quân ban hành trong thời gian thật ngắn, bộ tham mưu phải vất vả lắm mới thi hành xong những công tác tham mưu trong việc điều động 1 Trung Đoàn Bộ Binh cùng với Pháo Binh, Thiết Giáp, và Công Binh Chiến Đấu. Khi tất cả sẳn sàng để sáng mai hành quân, thì Đại Tá Thiệu ra lệnh ngưng cuộc hành quân này và lập tức điều động lực lượng sang vùng khác.
    Tuần lễ sau đó, lại chuẩn bị một cuộc hành quân khẩn cấp để rồi đến giờ chót lại thay đổi vùng hành quân, cũng là khẩn cấp! Chính Phòng 2 -phụ trách tình báo- cũng không hiểu vì sao lại chuyển vùng hành quân mà Phòng 2 chưa ghi nhận sự hiện diện một lực lượng nào của quân cộng sản ở đó cả.
    Ngày 30 và 31/10/1963, lại chuẩn bị hành quân vào căn cứ Bời Lời. Đây là một căn cứ quan trọng của quân cộng sản, cho nên lực lượng tham dự gần 2 Trung Đoàn Bộ Binh, 1 Tiểu Đoàn Pháo Binh, lực lượng Thiết Giáp và Công Binh. Đêm 31 tháng 10 rạng ngày 01/11/1963, lệnh của Đại Tá Tư Lệnh cho chuyển toàn bộ các đơn vị xuống hành quân vùng Phước Tuy (trên đường Sài Gòn-Vũng Tàu). Bộ tham mưu muốn điên đầu vì những thay đổi mà chính các sĩ quan trách nhiệm điều động và yểm trợ hành quân, cũng không sao hiểu nổi.
    Sáng 01/11/1963, các đơn vị, thay vì di chuyển về hướng Vũng Tàu như lệnh hành quân đã định, lại được lệnh dừng quân ở ngã ba xa lộ Biên Hòa-Sài Gòn-Vũng Tàu, chờ lệnh mới.
    Đến 1 giờ trưa, lệnh mới được ban hành: Theo đó, các đơn vị chuyển hướng về Sài Gòn. Ngoài lực lượng của Sư Đoàn 5 Bộ Binh, còn có một lực lượng Thiết Giáp xuất phát từ Trung Tâm Huấn Luyện Vạn Kiếp (đồn trú ở Bà Rịa) cùng tiến quân. Vào buổi chiều thì bản doanh Sư Đoàn và 1 bộ chỉ huy Trung Đoàn đặt tại trường đại học sư phạm, đại lộ Cộng Hòa, trong khi lực lượng của Sư Đoàn đã chiếm giữ các vị trí ấn định trong phạm vi thủ đô Sài Gòn.
    Lại mời quí vị, chúng ta dành thêm chút thì giờ xuống Quân Đoàn IV tại Cần Thơ, nhưng trước khi xuống Cần Thơ, đến ngã ba Trung Lương mời quí vị tạt vào Mỹ Tho quan sát Sư Đoàn 7 Bộ Binh tại đây. Tư Lệnh Sư Đoàn là Đại Tá Bùi Đình Đạm. Sư Đoàn phụ trách Khu 41 Chiến Thuật gồm 6 tỉnh bờ bắc Sông Tiền là Kiến Hòa, Kiến Phong, Kiến Tường, Định Tường, Gò Công, và Long An, gồm cả Đồng Tháp Mười. Vì Đại Tá Đạm được xem là thành phần tín cẩn của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, nên Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng đưa Đại Tá Nguyễn Hữu Có từ Sài Gòn xuống Mỹ Tho, khống chế Đại Tá Đạm với mục đích cầm chân Sư Đoàn tại chỗ.
    Xong, chúng ta cùng xuống Cần Thơ, bản doanh Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn IV. Trung Tá Huỳnh Văn Tồn đã xuống bộ tư lệnh Quân Đoàn IV/Vùng IV Chiến Thuật, với nhiệm vụ thuyết phục Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao ủng hộ Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng nhưng không thành công, ông áp dụng biện pháp dự liệu trước là uy hiếp Thiếu Tướng Cao án binh bất động.
    Năm 1962, Đại Tá Huỳnh Văn Cao là Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh tại Mỹ Tho, được thăng cấp cấp Thiếu Tướng ngày 05/12/1962, trước Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm một ngày dù rằng hai Sắc Lệnh thăng cấp cùng một ngày ký. Điều đó có nghĩa là Thiếu Tướng Cao thâm niên hơn Thiếu Tướng Khiêm một ngày, và trong quân đội vấn đề thâm niên là rất quan trọng về mặt chỉ huy. Không có gì khó hiểu khi biết rằng Thiếu Tướng Cao là đảng viên đảng Cần Lao trong khi Thiếu Tướng Khiêm vừa là khác tôn giáo vừa là người ngoài đảng.
    Quân Đoàn IV được thành lập ngày 01/01/1963, và Tổng Thống Diệm cử Thiếu Tướng Cao giữ chức Tư Lệnh Quân Đoàn này từ ngày ấy.
    Xin mời sang Sa Đéc quan sát hoạt động của Sư Đoàn 9 Bộ Binh. Đại Tá Bùi Dzinh, Tư Lệnh Sư Đoàn và Tư Lệnh Phó là Trung Tá Đoàn Văn Quảng. Trung Tá Quảng trách nhiệm khống chế Đại Tá Dzinh và giữ chân Sư Đoàn tại chỗ. Năm 1961 và 1962, Trung Tá Quảng là Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 21 Bộ Binh trong khi Đại Tá Trần Thiện Khiêm là Tư Lệnh. Do vậy mà lệnh của Thiếu Tướng Khiêm được Trung Tá Quảng thi hành một cách tích cực. Nhưng theo cựu Đại Tá Dương Hiếu Nghĩa, thì trách nhiệm khống chế Đại Tá Bùi Dzinh án binh bất động Sư Đoàn 9 Bộ Binh là do cựu Đại Tá Nhan Minh Trang -lúc đó là Thiếu Tá- theo lệnh Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng từ Sài Gòn xuống Sa Đéc thi hành.
    Đại Tá Bùi Dzinh và Đại Tá Trần Thiện Khiêm cùng học lớp "chỉ huy tham mưu" tại Hoa Kỳ năm 1959, cùng trở về Việt Nam và cùng nhận chức tại Sư Đoàn 21 Bộ Binh vào đầu tháng 02/1960, khi Trung Tá Trần Thanh Chiêu bị cách chức. Đại Tá Khiêm Tư Lệnh, Đại Tá Bùi Dzinh Tư lệnh Phó kiêm Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn. Đại Tá Bùi Dzinh, rất được Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu tín nhiệm. Sư Đoàn 9 Bộ Binh thành lập tại Qui Nhơn, và Tổng Thống Diệm cử ông vào chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn này. Sau đó, Sư Đoàn 9 Bộ Binh được lệnh chuyển toàn bộ vào hoạt động vùng đồng bằng sông Cửu Long.
    Bây giờ mời quí vị trở về Bộ Tổng Tham Mưu.
    Trước 5 giờ chiều một chút, tôi trình nhắc Thiếu Tướng Khiêm về trường hợp Đại Tá Quyền -Tư Lệnh Hải Quân- Thiếu Tướng Khiêm cho biết là Đại Tá Quyền đã bị sĩ quan tùy viên của ổng bắn chết trên Thủ Đức rồi.

    Lúc 5 giờ chiều: “Đại Úy Hoa tôi nghe”.

    “Chào anh Hoa. Tôi là Đại Úy Bằng đây. Anh mời Thiếu Tướng Khiêm tiếp chuyện với Tổng Thống”.

    Đại Úy Bằng là sĩ quan tùy viên của Tổng Thống Diệm, thường trực ở văn phòng Phủ Tổng Thống.

    “Vâng. Anh chờ tôi đầu máy”.

    Tôi vào trình Thiếu Tướng Khiêm và nhấc ống nói trao cho ông:

    “Mời Thiếu Tướng tiếp chuyện với Tổng Thống”.

    Thiếu Tướng Khiêm chưa kịp nhận ống nói thì Trung Tướng Minh chụp lấy ngay. Tôi không nghe Tổng Thống Diệm nói gì mà chỉ nghe Trung Tướng Minh:

    “Chúng tôi chỉ chấp nhận cho ông đi ngoại quốc như một người bình thường”.
    “........................”
    “Không”.

    Tiếp đó, Trung Tướng Minh nói với các vị có mặt trong phòng Thiếu Tướng Khiêm sau khi ông dằn ống nói xuống vị trí:

    “Ổng đòi đi như một Tổng Thống, tôi không đồng ý”.
    Lúc đó trong phòng im phăng phắc, chừng như cách giải quyết của Trung Tướng Minh đem lại niềm suy nghĩ cho các vị ấy thì phải. Tôi nhìn vào thái độ của các vị mà suy đoán như vậy.

    Điện thoại lại reo và đầu giây bên kia vẫn là Đại Úy Bằng mời Thiếu Tướng Khiêm tiếp chuyện với Tổng Thống. Tôi lại vào:

    “Trình Thiếu Tướng, Tổng Thống muốn nói chuyện với Thiếu Tướng”.
    Cũng như lúc nảy, Trung Tướng Minh chụp ống nói lên, rồi đặt xuống máy: “Không cần nói chuyện với ổng”
    .
    Tôi trở ra phòng và trả lời Đại Úy Bằng:

    “Rất tiếc là Trung Tướng Minh cắt đường giây rồi. Chào anh”.

    Khoảng 6 giờ chiều. Một buổi họp ngay trong phòng Thiếu Tướng Khiêm, cũng là bản doanh của Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng. Ngoài các vị có mặt ở đây từ lúc trưa, tôi thấy có thêm Trung Tá Mai của Không Quân (dường như là Đỗ Khắc Mai) mà mấy phút trước đây Quân Cảnh cổng số 1 điện thoại cho tôi biết. Buổi họp ngắn gọn này quyết định:

    "Không Quân phải chuẩn bị càng nhiều phi tuần khu trục càng tốt, nếu đến 7 giờ sáng mai (2/11/1963) mà ổng (Tổng Thống Diệm) chưa đầu hàng thì đánh bom xuống dinh Gia Long trong khi Thủy Quân Lục Chiến và Thiết Giáp sẳn sàng xung phong ngay sau khi Không Quân chấm dứt đánh bom".
    .
    Phải nói rằng, lúc bấy giờ trên nét mặt các vị biểu hiện ít nhiều lo âu, bởi bên đảo chánh với dấu hiệu thành công chưa nhiều, trong khi bên bị đảo chánh cũng chưa có dấu hiệu gì nhiều về sự thất bại, tuy chưa có vị Tư Lệnh đại đơn vị nào lên tiếng ủng hộ Tổng Thống.
    Thiếu Tướng Đỗ cao Trí, Tư Lệnh Quân Đoàn I/Vùng I Chiến Thuật ở Đà Nẳng, đã có công điện ủng hộ Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng ngay từ đầu. Thiếu Tướng Nguyễn Khánh, Tư Lệnh Quân Đoàn II/Vùng II Chiến Thuật ở Plei Ku, có thể là lúc đầu còn chần chừ nhưng sau đó thì có công điện ủng hộ Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng. Thật sự nếu ông có chần chừ cũng đúng thôi, vì dù sao thì ông cũng được Tổng Thống Ngô Đình Diệm tín nhiệm khi đưa ông từ Tư Lệnh Quân Khu 5 về giữ chức Tham Mưu Trưởng/Tổng Tham Mưu, và trong cuộc đảo chánh của Đại Tá Nguyễn Chánh Thi ngày 11/11/1960, Thiếu Tướng Nguyễn Khánh hoàn toàn ủng hộ Tổng Thống. Đến Quân Đoàn III/Vùng III Chiến Thuật là Thiếu Tướng Tôn Thất Đính, đang trong thành phần Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng rồi. Còn Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao đang bị khống chế tại bộ tư lệnh Quân Đoàn IV/Vùng IV Chiến Thuật. Đại Tá Huỳnh Hữu Hiền, Tư Lệnh Không Quân, và Đại Tá Cao Văn Viên, Tư Lệnh Nhẩy Dù, đang bị giữ tại tòa nhà chánh. Đại Tá Hồ Tấn Quyền đã bị giết lúc trưa.
    Xem chừng Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu, lần này không có nhiều cơ may như lần bị Đại Tá Nguyễn Chánh Thi đảo chánh cách đây 2 năm, nhưng dù sao thì Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng cũng chưa đủ yếu tố để lạc quan về sự thành công của mình. Có lẽ cũng vì vậy mà Thiếu Tướng Khiêm bảo tôi đích thân lái xe về nhà đón vợ và 2 con ông, đưa đến nhà riêng của Thiếu Tướng Lê Văn Kim trên đường Võ Di Nguy, gần khu nghĩa trang giáp ranh với cổng số 3 của bộ Tổng Tham Mưu, tạm vắng mặt tại nhà. Khu này tương đối vắng vẻ. Khi xe trên đường đến nhà Thiếu Tướng Kim, bà Khiêm hỏi tôi:

    “Chú Hoa, chú biết ai làm đảo chánh không?”

    “Dạ biết. Nhiều vị lắm, có Trung Tướng Minh, Trung Tướng Đôn, Thiếu Tướng Đính, Thiếu Tướng Kim, Thiếu Tướng Xuân, .... đông lắm”.

    “Nếu có ai hỏi thì chú đừng nói có "nhà tôi" nghe chú”.

    “Vâng”.

    Thật ra thì Thiếu Tướng Khiêm không cho gia đình biết những gì mà ông và các vị khác cùng làm, cho nên bà Khiêm tỏ ra âu lo dự phòng của người đàn bà bình thường vậy thôi.

    Trở lại tình hình tại văn phòng, và lúc này vào khoảng giữa đêm.

    “Đại Úy Hoa tôi nghe”.

    “Trung Tá Minh đây em”
    .
    Đó là Trung Tá Nguyễn Văn Minh mà các bạn ông thường gọi là "Minh đờn", Tỉnh Trưởng tỉnh An Giang. Là một vị Tỉnh Trưởng rất được lòng Tổng Thống và ông Cố Vấn. Tôi quen biết với Trung Tá Minh nhiều là trong thời gian tôi giữ chức chánh văn phòng Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh tại Cần Thơ. Trung Tá Minh có tiếng là sĩ quan xử sự rất khéo với cấp trên và "chơi ngọt" với cấp dưới, nếu như cấp dưới đó là thân cận với cấp trên của ông. Dạo đó, cứ mỗi khi ông xuống Cần Thơ là y như rằng, ông ghé cho tôi tí tiền còm kèm theo câu "em cầm lấy uống cà phê chơi" mà tôi có bao giờ uống cà phê đâu.

    “Thưa Trung Tá, dường như Trung Tá chưa có công điện ủng hộ Hội Đồng phải không?”

    “Tình hình đến giờ ra sao rồi em?”

    “Trung Tá theo dõi đài phát thanh thì rõ vì tất cả những tin tức đó là chính xác. Bây giờ tôi thử đọc bản văn ủng hộ Trung Tá nghe, nếu Trung Tá đồng ý thì tôi chuyển sang đài phát thanh ngay, chỉ vài phút sau đó là Trung Tá nghe công điện ủng hộ của Trung Tá và tỉnh An Giang phát đi trên làn sóng đài Sài Gòn”.

    Thế là tôi đọc bản văn luôn, và Trung Tá Minh đồng ý ủng hộ Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng.

    Đến khoảng 3 giờ sáng (2/11/1963), Truyền Tin mang vào công điện của ông Tỉnh Trưởng Lâm Đồng (nay là ấn bản lần thứ 4 mà tôi vẫn không nhớ tên ông). Công điện này gởi Phủ Tổng Thống với nội dung:

    "... Quân Dân Cán Chánh tỉnh Lâm Đồng nguyện ủng hộ Tổng Thống và gia đình, chống lại cuộc đảo chánh của bọn phản loạn.."

    Tôi mang vào trình Thiếu Tướng Khiêm. Xem xong, ông trao cho Trung Tướng Minh, lướt qua nội dung, ông lại đưa cho Thiếu Tướng Đính và kèm theo khẩu lệnh:

    “Toa" kiếm người thay thằng này đi”.
    Sở dĩ Trung Tướng Minh trao cho Thiếu Tướng Đính vì tỉnh Lâm Đồng thuộc Quân Đoàn III/Vùng III Chiến Thuật mà Thiếu Tướng Đính đang là Tư Lệnh.

    Vài ngày sau đó, ông Tỉnh Trưởng Lâm Đồng, người gởi công điện nói trên, sau khi từ văn phòng Trung Tướng Khiêm (Thiếu Tướng Khiêm thăng cấp Trung Tướng chiều 02/11/1963) trở ra, ông hỏi tôi với vẻ khó chịu:

    “Tôi có gởi công điện ủng hộ Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng mà tại sao tôi bị cách chức. Anh có biết lý do không?”
    “Dạ không thưa Thiếu Tá. Nhưng tôi biết là quí vị trong Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng có xem công điện Thiếu Tá gởi về Phủ Tổng Thống, do hệ thống Truyền Tin/Tổng Tham Mưu "chận bắt" tất cả những làn sóng như vậy”.
    Ông quày quả ra khỏi phòng mà chẳng buồn chào trả lại. Thật ra thì đến gần sáng ngày 02/11/1963, ông có công điện ủng hộ Hội Đồng, nhưng điều đó đã quá trễ. Trong cuộc sống, biết nhận đúng thời cơ là tốt nhất, vì hành động sớm quá hay muộn quá, thường là không mang lại kết quả tốt, đôi khi chuốc lấy nguy hại là khác.

    (còn tiếp)

  2. Xin cám ơn chimtroi

    muahong (12-30-2011)

  3. #2
    Moderator
    chimtroi's Avatar
    Status : chimtroi v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Dec 2007
    Posts: 1,134
    Thanks: 192
    Thanked 998 Times in 334 Posts

    Default Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị giết

    Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị giết.


    Khoảng 5 giờ sáng ngày 02/11/1963, điện thoại reo trong khi tôi đang bận cuộc đàm thoại khác nên Thiếu Tướng Khiêm nhấc ống nói sau mấy lượt chuông reo, và qua cuộc nói chuyện ngắn của Thiếu Tướng Khiêm với các vị có mặt, tôi biết đầu giây bên kia là người thân cận của Tổng Thống, nhưng chưa nghe nội dung. Ngay tức thì, các vị gọi nhau vào họp thật nhanh, tiếc là tôi ngồi phòng ngoài nên chỉ nghe lõm bõm mà thôi dù rằng cửa ngăn giữa phòng tôi với phòng Thiếu Tướng Khiêm mở thường xuyên từ lúc 1 giờ trưa hôm qua.
    Do công việc đòi hỏi tôi ra vào văn phòng Tham Mưu Trưởng Liên Quân một cách nhanh chóng nên tôi phải sang ngồi ở phòng sĩ quan tùy viên, vì phòng này khi mở cửa thì nhìn thẳng vào bàn viết của Thiếu Tướng Khiêm, nơi đang là bản doanh của Hội Đồng Quân Nhân cách Mạng. Nghe Trung Tướng Dương Văn Minh ra lệnh, tôi mới biết là một phái đoàn do Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân dẫn đầu sẽ vào nhà thờ Cha Tam trong vùng Chợ Lớn đón Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu về Bộ Tổng Tham Mưu. Lúc ấy tôi trông thấy vài vị sĩ quan cấp tá đi vô đi ra phòng Tham Mưu Trưởng Liên Quân, nhưng không rõ những vị này có được cử trong phái đoàn hay không.
    Một lúc sau, Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm gọi tôi:

    “Chú theo dõi khi đoàn xe đón Tổng Thống và ông Cố Vấn về đến thì hướng dẫn xe đậu ở sân vận động cạnh tòa nhà chánh, cho Quân Cảnh gác chung quanh và không cho bất cứ ai đến gần. Xong, chú lên trình tôi”.

    “Vâng”.

    Trong thời gian chờ đợi, các vị bàn thảo với nhau chung quanh vấn đề cách giải quyết Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu sao cho ổn vì sợ phật lòng khối Thiên Chúa Giáo lẫn Phật Giáo. Ngay lúc đó, ngoài cửa phòng tôi có một người xin gặp tôi và nói là ông được lệnh mang quần áo đến đây để Tổng Thống và ông Cố Vấn đi ngoại quốc. Tôi ngờ rằng lệnh đó xuất phát từ Trung Tướng Đôn, vì ông là người hậu thuẫn mạnh mẽ ý kiến đưa Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu xuất ngoại, được hiểu là "lưu vong". Tôi vào trình với Thiếu Tướng Khiêm về chuyện có người đem quần áo đến cho Tổng Thống và ông Cố Vấn. Trình xong tôi không theo dõi được nữa, vì phải xuống lầu đón đoàn xe sắp vào cổng Bộ Tổng Tham Mưu.

    Theo hướng dẫn của tôi, chiếc Thiết Vận Xa M113 vào vị trí, và một tiểu đội Quân Cảnh bao quanh. Tôi trở lên văn phòng:

    “Trình Thiếu Tướng, Thiết Vận Xa chở Tổng Thống và ông Cố Vấn đã vào sân vận động và có Quân Cảnh bảo vệ”.

    “Mình xuống đi”.

    Đó là lời Trung Tướng Dương Văn Minh. Nói xong, ông đứng lên trong khi Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm nét mặt không vui:

    “Các "toi" xuống đi, thấy ổng dù sao "moi" cũng bùi ngùi!”

    Tuy nói vậy, nhưng khi các vị rời khỏi phòng thì Thiếu Tướng Khiêm cũng từng bước theo sau, và tôi là người tháp tùng sau cùng. Khi xuống đến bậc thang chót ở tầng trệt thì Thiếu Tướng Khiêm đứng lại, vì các vị đã dừng chân hành lang bên ngoài, lúc ấy có Thiếu Tướng Xuân và một sĩ quan nữa mà tôi không thấy rõ là vị nào, đang trình bày gì đó với các vị. Bỗng các vị cùng quay vào, Thiếu Tướng Khiêm ngạc nhiên:

    “Việc gì vậy?”
    “Hai ổng chết rồi”.

    Trung Tướng Minh trả lời ngắn ngủn. Tất cả trở lên lầu.

    Lúc bấy giờ, người Mỹ, từ phòng nhỏ ngay phía sau tấm vách ngăn với bàn làm việc của Thiếu Tướng Khiêm bước ra, Trung Tướng Minh cho ông ta biết là ông Diệm và ông Nhu đã chết rồi. Rõ ràng là người Mỹ này tỏ ra bực tức, và một lúc sau ông ta ra về.
    Người Mỹ mà tôi vừa nói, tôi không biết tên. Ông ta có vóc dáng trung bình, mặc thường phục, có mặt tại phòng Thiếu Tướng Khiêm từ trưa hôm qua (01/11/1963), nhưng ông ta chỉ ở trong phòng nhỏ đó mà không bước ra phòng các vị Tướng lãnh trong Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng làm việc dù chỉ cách vài bước đi. Ông ta có xách cái cặp bình thường như những cái cặp mà các vị Tướng Lãnh thường xách theo khi đi làm. Về sau tôi nghe nói đó là Trung Tá Conein, cũng có người nói là ông Lansdale. Tôi vẫn không xác định được là ai, nhưng rõ ràng là cuộc đảo chánh lật đổ Tổng Thống Diệm được một số vị Tướng Lãnh Việt Nam thực hiện dưới bàn tay đạo diễn của Hoa Kỳ hay ít ra cũng được Hoa Kỳ đồng ý. Cho dù thế nào đi nữa, chúng ta cũng nhận ra được sự kiện ông Ngô Đình Diệm "lên ngôi" là do Hoa Kỳ từ đằng sau, và cũng bởi Hoa Kỳ mà ông Diệm bị "hạ bệ". Nhưng liệu có phải Tổng Thống Hoa Kỳ John F. Kennedy ra lệnh cho vị Tướng Lãnh nào đó của đất nước Việt Nam khốn khổ này giết chết Tổng Thống của họ không? Hay cái chết của Tổng Thống Diệm không có trong dự định của Hoa Kỳ khi họ buộc phải thay người lãnh đạo Việt Nam cho phù hợp với chiến lược Domino đang thực hiện? Ôi, chính trị!
    Tôi xin mở ngoặc để viết vào đoạn này những lời mà cựu Đại Tướng Trần Thiện Khiêm cho tôi biết vào tối 21/10/2003, liên quan đến cuộc đảo chánh ngày 01/11/1963. Ông nói:

    “Về việc chú thắc mắc không biết người Mỹ tham dự đảo chánh là ông Conein hay Lansdale, Anh cho chú biết đó là Trung Tá Conein, ổng cũng cùng nhóm với ông Lansdale. Anh nói thêm với chú, ông Conein là trưởng toán sĩ quan Hoa Kỳ đã từng nhẩy dù xuống miền Bắc hồi năm 1945 để giúp ông Hồ đánh Nhật. Lúc đó ai là kẻ thù của Nhật là bạn của Hoa Kỳ. Về phía Hoa Kỳ, ông ta là người biết nhiều về ông Hồ và Việt Minh cộng sản thời đó. Bây giờ Anh nói về cuộc đảo chánh (01/11/1963). Trước ngày đảo chánh, Anh (tức cựu Đại Tướng Khiêm) nói như một điều kiện liên quan đến Tổng Thống Diệm rằng: “phải để Tổng Thống bình yên và xuất ngoại”. Lúc đó Trung Tướng Dương Văn Minh đồng ý, Thiếu Tướng Lê Văn Kim cũng đồng ý. Sở dĩ Anh nói với Trung Tướng Minh và Thiếu Tướng Kim, vì hai ông này là hai nhóm riêng chớ không phải là một nhóm đâu nghe chú. Khi biết ông Diệm bị giết cùng với ông Nhu, Đại Tá Quyền (Hồ Tấn Quyền) bị giết, Đại Tá Tung (Lê Quang Tung) cũng bị giết, đến em của ông Tung là Lê Quang Triệu cũng bị lừa rồi giết chết. Ông Viên (Cao Văn Viên) thì bị còng tay. Họ hành động lén nên Anh với chú ngồi trên lầu có hay biết gì đâu. Mấy ổng ngồi bên phòng của Đại Tướng Tỵ rồi quyết định với nhau.” (Lúc ấy Đại Tướng Lê Văn Tỵ dưỡng bệnh ngoài Vũng Tàu, Trung Tướng Trần Văn Đôn Quyền Tổng Tham Mưu Trưởng)

    Ngưng một chút, ông tiếp:

    “Chú thấy chưa? Nhóm ông Minh với nhóm ông Kim độc ác quá! Ông Diệm gọi điện thoại bảo cho xe đến đón, tức là ổng đầu hàng rồi, tại sao lại giết người đầu hàng? Trước đó, ông Minh ông Kim đồng ý với Anh là để ông Diệm bình yên và lưu vong, tại sao lại giết? Cho nên từ đó Anh bất mãn với ông Minh ông Kim”.

    Xin mở ngoặc nhỏ. Tôi nghĩ: “Có lẽ vì sự chia phe chia nhóm này mà khi cử Trung Tướng Trần Thiện Khiêm đi Seoul, Đại Hàn, dự lễ nhậm chức của Tổng Thống Pak Chung Hi (Phác Chánh Hi), để rồi ra quyết định cử Trung Tướng Khiêm giữ chức Tư Lệnh Quân Đoàn 3 khi Trung Tướng Khiêm còn ở Tokyo chăng?” Lại thêm chút ánh sáng về sự kiện này. Nhân khi cựu Đại Tướng Khiêm từ Houston (Ông chuyển từ Virginia xuống cư trú ở Houston từ giữa năm 2005) lên Virginia hồi tháng 07/2005 thăm cựu Đại Tướng Viên vì sức khỏe của ông có phần suy yếu. Khi nhắc lại sự kiện Trung Tướng Khiêm bị cử sang Quân Đoàn 3, cựu Đại Tướng Viên nói:

    “Cũng vì việc anh giúp tôi trở lại Lữ Đoàn Nhẩy Dù mà anh bị mấy ảnh (có lẽ ám chỉ Trung Tướng Minh, Trung Tướng Đôn, …) đẩy qua Quân Đoàn 3 đó”.

    Cựu Đại Tướng Khiêm nói tiếp với tôi:

    “Có điều là Anh không rõ tại sao Hoa Kỳ loại Tổng Thống Diệm?”
    “Thưa Anh, có lúc Em nghĩ: phải chăng Tổng Thống Diệm không đồng ý cho quân bộ chiến Hoa Kỳ lập căn cứ trên đất Việt Nam trong chiến lược Domino làm bức tường quân sự ngăn chận cộng sản tràn xuống Đông Nam Á mà Tổng Thống Diệm bị loại chăng?”
    “Điều này Anh có nghĩ đến, nhưng không biết có còn gì nữa không? Còn việc chú nêu nghi vấn Trung Tướng Minh có phải là người ra lệnh giết ông Diệm ông Nhu không, chú nghĩ coi nếu hổng phải ổng thì ai dám ra lệnh đó”.

    “Tất nhiên là em nghĩ như vậy, nhưng đây là vấn đề lịch sử, khi em chưa nắm được bằng chứng xác thực về điều em đã nghĩ, thì em không dám khẳng định mà chỉ nêu nghi vấn sau khi phân tách một số sự kiện liên quan thôi. Chính Trung Tướng Trần Văn Đôn trong quyển Việt Nam Nhân Chứng, cũng nêu nghi vấn như vậy Anh Tư”. (bà Khiêm thứ tư nên những cộng sự viên chung quanh thường gọi như vậy).

    Những điều mà cựu Đại Tướng Khiêm nói không phải chỉ có thế, và tôi sẽ bổ túc vào những bài những đoạn liên quan trong cuộc Chỉnh Lý ngày 30/01/1964, cuộc “Biểu Dương Lực Lượng” ngày 13/09/1964 dẫn đến sự kiện ông và gia đình lưu vong, đến cuộc “Đảo Chánh” ngày 19/02/1965 dẫn đến sự kiện Đại Tướng Nguyễn Khánh lưu vong sang Hoa Kỳ tá túc nhà Đại Tướng Khiêm.

    Vẫn trong dấu ngoặc này, tôi thuật thêm một đoạn ngắn trong lúc nói chuyện với cựu Đại Tướng Khiêm sau khi ông và gia đình du lịch Pháp quốc về lại Houston hồi đầu năm 2007. Nhân lúc vui vẻ, tôi hỏi:

    “Thưa anh Tư. Hồi đảo chánh 01/11/1963, bắt đầu từ phía Hoa Kỳ hay từ phía Việt Nam mình anh Tư?”

    “Từ phía Hoa Kỳ”.

    “Vậy ai là người nối vào Việt Nam mình anh Tư?”

    “Ông S.”.

    “Ông ấy nối vào ai vậy anh Tư?”

    “Nối vào anh, nhưng anh thấy việc lớn quá nên giới thiệu với Trung Tướng Minh (Dương Văn)”.

    Thưa quí vị, cựu Đại Tướng Khiêm có nói tên đầy đủ của người Mỹ này, nhưng ông không muốn tôi nêu tên ông ta dù ông S. đã chết rồi. Do vậy tôi chỉ có thể viết tên ông ta vào đây với mẫu tự đầu mà thôi. Trong năm 1963, tôi có dịp nói chuyện với ông S. này trong những lúc ngồi chờ vào gặp Thiếu Tướng Khiêm. Ông ta trong ngành tình báo tại tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn, và nói tiếng Pháp sành sỏi. Xin đóng ngoặc.
    Với câu chuyện ngắn trên đây giúp tôi nghĩ, có lẽ từ vị trí quan trọng của cựu Đại Tướng Khiêm lúc ấy nên ông đưa điều kiện với Trung Tướng Dương Văn Minh và Thiếu Tướng Lê văn Kim, theo đó ông tham gia đảo chánh nhưng phải để Tổng Thống Ngô Đình Diệm lưu vong. Tôi nói “vị trí quan trọng” vì lẽ lúc ấy cựu Đại Tướng Khiêm đang giữ chức Tham Mưu Trưởng Liên Quân, và là người mà tình báo Hoa Kỳ móc nối đầu tiên vào cuộc đảo chánh lật đổ Tổng Thống Diệm.
    Liệu nguyên nhân chính dẫn đến cuộc đảo chánh này là do kế hoạch của chánh phủ Hoa Kỳ, hay bắt nguồn từ cuộc đàn áp Phật Giáo của Tổng Thống Ngô Đình Diệm? Tôi nghĩ, nếu không có sự kiện đàn áp Phật Giáo thì Hoa Kỳ cũng bằng cách nào đó để thực hiện cuộc lật đổ, vì nếu không thì mục tiêu thiết lập căn cứ quân sự trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa không thực hiện được, và như vậy có nghĩa là một "mắt xích" trong chiến lược Domino của họ không hoàn thành.
    Phải chăng sự mâu thuẫn giữa chánh phủ với Phật giáo ngày càng tệ hại, lại là cơ hội thuận lợi cho Hoa Kỳ nhập cuộc theo cách của họ? Và cho dù thế nào đi nữa, rõ ràng là họ đã thành công.
    Giả thuyết rằng, nếu cuộc đảo chánh không phải bắt nguồn từ Hoa Kỳ, thì liệu quí vị Tướng Lãnh Việt Nam có tự mình quyết định đảo chánh để đem lại sự bình đẳng giữa hai tôn giáo lớn nói riêng, và ổn định tình hình nội bộ nói chung không? Tôi nghĩ, chắc là không. Vì thực hiện một cuộc đảo chánh, đã khó, nhưng được hay không được Hoa Kỳ ủng hộ là điều khó hơn, vì cho dù có thành công mà không được Hoa Kỳ ủng hộ thì sớm muộn gì cũng bị đồng đội lật đổ. Còn nữa, nếu lật đổ thành công rồi, mà chưa chuẩn bị một sách lược lãnh đạo vừa chống cộng sản vừa xây dựng quốc gia, thì quí vị cầm quyền sẽ bị bối rối với những kế hoạch vá víu trong khi tình hình đòi hỏi mục tiêu và đường lối thực hiện phải rõ rệt, dứt khoát, và thực hiện ngay.
    Vậy, vị Tướng nào đã ra lệnh giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu, và ai là người xuống tay giết hai ông? Hoặc giả là so dự nhầm lẫn nào đó giữa người ra lệnh với người nhận lệnh? Theo bác sĩ Huỳnh Văn Hưởn, Y Sĩ trưởng bệnh xá Tổng Tham Mưu lúc ấy (về sau có lúc là Tổng Trưởng Y Tế), người phụ trách khám nghiệm và lau vết thương cho hai ông, thì cả hai ông vừa bị bắn vừa bị đâm bằng lưỡi lê. Hai trong số ít người liên quan trực tiếp đến cái chết của ông Diệm và ông Nhu là Trung Tướng Mai Hữu Xuân và Thiếu Tá (đã thăng cấp) Nguyễn Văn Nhung, cả hai đã chết rồi. Chỉ còn lại cựu Đại Tướng Dương Văn Minh và cựu Đại Tá Dương Hiếu Nghĩa, là hai vị có tiếng nói chính xác hơn hết. Chữ "trực tiếp" mà tôi dùng ở đây có nghĩa là người ra lệnh giết, người giết, hoặc người nghe thấy người ra lệnh hay trông thấy người giết. Và liệu cựu Chuẩn Tướng Phan Hòa Hiệp có thể là nhân chứng chính xác nữa trong vụ này không?
    Xin mở ngoặc. Tôi bổ túc đoạn trên vào tháng 10/2003, thì cựu Đại Tướng Dương Văn Minh đã từ trần trước đó mấy tháng. Vậy, nhân chứng còn lại là cựu Đại Tá Dương Hiếu Nghĩa. Nhưng năm 2006, cựu Đại Tá Dương Hiếu Nghĩa đã xuống tóc vào chùa tu học. Xin đóng ngoặc.
    Nếu như Trung Tướng Dương Văn Minh ra lệnh giết thì tại sao khi tôi trình đoàn xe đón Tổng Thống và Cố Vấn về đến, ông lại gọi các vị có mặt cùng xuống gặp hai vị ấy, vì chính ông phải biết việc gì xảy ra rồi chớ? Hoặc cũng có thể là Trung Tướng Minh đã ra lệnh giết nhưng vẫn ra vẻ như không hay biết gì về cái chết của hai ông ấy? Chính trị mà! Trong số các vị có mặt trong phòng Thiếu Tướng Khiêm, tôi không trông thấy nét mặt, cử chỉ, hay thái độ của vị nào biểu lộ một chút gì khác thường giữa các vị với nhau trước khi lần lượt bước xuống thang lầu để gặp Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu. Hoặc là không ai ra lệnh giết, hoặc là vị nào đó quá kín đáo chăng?
    Khi đoàn xe rời nhà thờ Cha Tam trở về Bộ Tổng Tham Mưu trên chiếc M113 chở ông Diệm và ông Nhu chỉ có Đại Úy Nguyễn Văn Nhung và vài quân nhân trách nhiệm trên chiếc Thiết Vận Xa này. Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa ngồi xe Jeep cùng với Đại Úy Phan Hòa Hiệp (cấp bậc trong lúc đảo chánh). Đại Úy Hiệp cho biết như vậy. Sở dĩ tôi nói đến Thiếu Tá Nghĩa là vì có dư luận cho rằng Thiếu Tá Nghĩa cùng ngồi trên chiếc Thiết Vận Xa M113 với Đại Úy Nhung.
    Nếu thật sự Thiếu Tá Nghĩa cùng ngồi trên chiếc Jeep với Đại Úy Hiệp, điều đó cũng chưa đủ yếu tố để loại trừ giả thuyết Thiếu Tá Nghĩa không phải là sát thủ, vì có lúc đoàn xe phải dừng trước cổng xe lửa chắn ngang đường khi xe lửa chạy qua. Đó là khoảng thời gian tuy ngắn ngủi nhưng cũng đủ cho một sát thủ ra tay. Nhưng cũng không thể căn cứ vào đây mà cho rằng Thiếu Tá Nghĩa là một trong hai sĩ quan đã giết Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu, vì Thiếu Tá Nghĩa là một sĩ quan bộc trực, thẳng tính, rất nhiệt tâm với nhiệm vụ trong binh chủng Thiết Giáp, và chưa hề có tai tiếng gì trước biến cố chính trị này. Đồng ý rằng, Thiếu Tá Nghĩa là một sĩ quan rất can đảm, và khi lâm trận thì vị chỉ huy này không nương tay với kẻ thù, nhưng giết một người không phải là kẻ thù mà người đó lại là một Tổng Thống hay Cố Vấn của Tổng Thống, thì điều đó không phải là điều mà Thiếu Tá Nghĩa hành động như một sát thủ. Nhưng những lý lẽ trên đây cũng chưa đủ để loại trừ giả thuyết "Thiếu Tá Nghĩa là một trong hai sĩ quan thi hành lệnh giết Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu". Và đối với tôi, Thiếu Tá Nghĩa vẫn là một nghi vấn nhưng mức độ thấp hơn nghi vấn đối với Đại Úy Nhung. Tôi có lý lẽ khi tôi đặt nghi vấn như vậy.
    Với Đại Úy Nhung. Chính xác là Đại Úy Nhung ngồi trên chiếc thiết vận xa M113 chở Tổng Thống và Cố Vấn. Đại Úy Nhung, ít ra là hai lần trước biến cố chính trị này, khi đến văn phòng tôi anh khoe rằng, mỗi lần anh giết một người thì anh khắc lên báng súng của anh một vạch. Anh đưa báng súng cho tôi xem, lúc ấy có năm vạch khắc theo chiều thẳng đứng ở bên trái báng súng. Căn cứ vào lời nói và dấu tích trên báng súng, tôi cho rằng Đại Úy Nhung là một sĩ quan đã từng giết người nếu không nói là thông thạo thì cũng là quen tay. Xin nói thêm, hành động giết người và hành động bắn chết địch quân ở chiến trường là hai hành động khác nhau. Nhưng như vậy cũng chưa thể kết luận Đại Úy Nhung là sát thủ trong trường hợp này, vì không trông thấy tận mắt và cũng không nghe chính Đại Úy Nhung tự nói về sự kiện đó.
    Nhưng nhìn vào khía cạnh khác, tôi có nghi vấn cao nhất về Đại Úy Nguyễn Văn Nhung với cái chết của Tổng Thống Diệm và Cố Vấn Nhu. Đại Úy Nhung là sĩ quan tùy viên của Trung Tướng Dương Văn Minh, mà tùy viên thì luôn luôn có mặt bên cạnh vị Tướng của mình. Trong trường hợp này, Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân cùng đoàn tùy tùng có nhiệm vụ đến nhà thờ Cha Tam (trong Chợ Lớn) đón Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu về Bộ Tổng Tham Mưu, Đại Úy Nhung không có lý do gì để có mặt trong thành phần này cả. Nếu cho rằng, Đại Úy Nhung tự ý tháp tùng để sau này khoe với bạn bè là anh đã góp mặt trên đoàn xe lịch sử đó đi nữa thì tại sao Đại Úy Nhung -và chỉ một mình Đại Úy Nhung- được ngồi trên chiếc Thiết Vận Xa M113 chở Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu? Sự kiện này phải được Thiếu Tướng Xuân chỉ định hay ít ra cũng là đồng ý. Và liệu có phải Thiếu Tướng Xuân tự mình ra lệnh cho Đại Úy Nhung hay là thi hành theo lệnh của Trung Tướng Minh? Tôi nói như vậy vì chỉ có Trung tướng Minh -người đứng đầu nhóm lãnh đạo đảo chánh- mới có thẩm quyền ra lệnh cho Thiếu Tướng Xuân mà thôi. Với lại Đại Úy Nhung là sĩ quan tùy viên của Trung Tướng Minh thì không vị Tướng nào dám sử dụng Đại Úy Nhung trong nhiệm vụ giết Tổng Thống và Cố Vấn được. Vậy, Đại Úy Nhung có mặt trong đoàn xe "lịch sử" này và một mình ngồi trong xe chở Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu, phần chắc là do lệnh của Trung Tướng Dương Văn Minh.
    Nếu chính xác là Trung Tướng Minh ra lệnh cho sĩ quan tùy viên của mình là một thành viên trong đoàn xe lịch sử này thì lệnh đó có mục đích gì, chẳng lẽ cho Đại Úy Nhung đi theo chơi? Suy đoán như vậy nghe không ổn chút nào. Nhưng đến đây cũng chưa thể quả quyết rằng Đại Úy Nhung là người hạ sát Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu bằng súng và lưỡi lê, vì đây là vấn đề lịch sử nên không thể kết luận thủ phạm khi chưa đủ chứng cớ chính xác, mà đương sự đã chết rồi. Thôi thì để anh yên nghỉ!
    Đến đây, tôi có câu chuyện ngắn. Hai mươi tám năm sau, vào giữa tháng 11/1991, tôi và một số bạn có dịp dùng cơm tại nhà cựu Đại Tá Nguyễn Linh Chiêu (Orange County, nam California) mà tôi thường gọi ông là "đại ca", vì ông lớn tuổi hơn tôi và thâm niên hơn tôi nhiều. Hôm ấy "đại ca" tôi thuật lại câu chuyện có liên quan đến câu tự hỏi của tôi nêu trên. Chuyện như thế này:
    Đầu năm 1991, nhân chuyến ông sang Paris dự lễ cưới của vị Tướng đã một thời là Tổng Tham Mưu Trưởng quân đội quốc gia Việt Nam trong khuôn khổ quân đội Liên Hiệp Pháp, "đại ca" tôi tổ chức bữa ăn thân mật sau khi được cựu Đại Tướng Dương Văn Minh và cựu Trung Tướng Trần Văn Đôn nhận lời. Mục đích của bữa ăn là anh Chiêu -bạn thân của hai vị cựu Tướng Lãnh thực khách- muốn giúp hai vị làm hòa nhau mà tình bạn giữa hai ông đã rạn nứt từ sau cuộc đảo chánh 01/11/1963. Theo anh Chiêu thì mục đích đã đạt được, và trong không khí vui vẻ đó, anh có nêu câu hỏi với cựu Đại Tướng Minh:

    “Anh có thể cho biết câu "mission accomplie" mà anh Xuân (tức Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân) trình với anh hôm 02/11/1963 có nghĩa như thế nào không?”

    “Nhiệm vụ hoàn thành thì báo cáo hoàn thành. Có vậy thôi”

    Anh Chiêu chưa chịu thua và hỏi lại, thì cựu Đại Tướng Minh nói:

    “Anh hiểu sao thì hiểu”

    Câu trả lời đúng là hiểu sao thì hiểu. Hết câu chuyện.

    Cũng vào cuối năm 1991, người bạn mới quen của tôi ở San Jose, tiến sĩ sử học Hoàng Ngọc Thành, lúc ấy đang viết cuốn "Những Ngày Cuối Cùng Của Tổng Thống Ngô Đình Diệm", tôi có cung cấp cho ông một số dữ kiện cần thiết theo yêu cầu của ông. Ông nói rằng, ông được đọc một tài liệu mà cựu Đại Tướng Minh viết theo lệnh của nhà cầm quyền cộng sản (sau tháng 4/1975), theo đó, cựu Đại Tướng Minh nhận là ông đã ra lệnh giết Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu. Nghe thì nghe vậy nhưng thật ra tôi cũng không hiểu là bằng cách nào mà ông bạn tôi xem được tài liệu đó nữa. Với tôi, những gì mà người chiến sĩ chống cộng sản cho dù người đó là một Tổng Thống hay một sĩ quan bình thường, phải viết theo lệnh của cộng sản trong trại tập trung hay tại cơ quan của chúng, và viết dưới sự hướng dẫn của những tên gọi là cán bộ Công An cho đến khi chúng chấp nhận mà chúng gọi là "đạt yêu cầu", thì không thể xem đó là chính xác được. Vì vậy mà theo tôi, không nên căn cứ vào đó để kết luận cựu Đại Tướng Dương Văn Minh là người ra lệnh giết Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu, cho dù ông có khai thật với cộng sản cũng vậy. Nhưng dù thế nào đi nữa, với tôi, cựu Đại Tướng Minh vẫn là vị duy nhất mà tôi đặt nghi vấn cao nhất về người đã ra lệnh giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu.
    Cuối năm 1993, nhân đến nhà người bạn cùng khóa với tôi để thăm một vị Tướng trước kia phục vụ tại Phòng 7 Bộ Tổng Tham Mưu, và nhân lúc câu chuyện xoay quanh cuộc đảo chánh ngày 01/11/1963, bạn tôi nói rằng: "Tôi có người bạn thân, trước kia thường chơi quần vợt với Đại Tướng Minh, một hôm Đại Tướng Minh có nói là trước khi chết, ông để lại tập hồi ký cho các con ông. Nếu đúng như vậy thì câu trả lời chính xác chỉ có được khi cựu Đại Tướng Minh an giấc ngàn thu chăng? Năm 2003, cựu Đại Tướng Dương Văn Minh từ trần, nhưng tôi không rõ là ông có để lại cuốn nhật ký như lời bạn tôi đã nói hay không”.
    Đến cựu Đại Tá Dương Hiếu Nghĩa, năm 1998 định cư tại tiểu bang Washington. Theo tôi, anh Nghĩa là một trong những nhân chứng của cuộc đảo chánh ngày 01/11/1963 nói chung, và có thể là nhân chứng duy nhất trong vụ giết Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu nói riêng. Tôi với anh là bạn thân từ năm 1961 khi anh đang là Quận Trưởng quận Bình Minh tỉnh Vĩnh Long. Khi vào tù, chúng tôi bị giam chung “lán trại” giữa rừng già Yên Bái, ăn chung mâm, ngủ sát cạnh nhau trên vạt giường làm bằng cây chổm trong nhiều năm liền. Có những lúc nhắc đến ngày 01/11/1963, tôi cố gắng tìm hiểu những nghi vấn về cái chết của Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu, nhưng không bao giờ anh hé môi nửa lời về điều đó.
    Tôi biết anh Nghĩa có nói với Trung Úy Đồng, Phòng 3 Tiểu khu Vĩnh Long khi anh là Tỉnh Trưởng tỉnh này, theo đó, "anh biết người giết ông Diệm và ông Nhu, nhưng chưa thể nói được". Tôi tin lời anh Nghĩa, nhưng không biết là lúc nào anh mới nói được. Bởi vì chưa thể nói được, có nghĩa là sẽ nói chớ không phải không nói.
    Dưới đây là bài viết của cựu Đại Tá Dương Hiếu Nghĩa, anh gởi tặng tôi một bản do cựu Đại Tá Nhan Minh Trang trao lại. Được sự đồng ý của anh Nghĩa qua đường giây điện thoại vào đầu tháng 11/1998, tôi xin trích phần liên hệ đến cái chết của Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu đưa vào ấn bản lần thứ 3 vào tháng 12 năm 1998. Với hy vọng phần trích đăng này sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm những tin tức về cái chết có tầm vóc lịch sử của hai vị lãnh đạo Việt Nam Cộng Hòa, đã một thời tạo nên tiếng vang quốc nội lẫn quốc tế trong những năm 50 và 60. Tiếng vang tốt hay không tốt, hoặc cả hai, điều đó tùy quí độc giả.

    (còn tiếp)

  4. Xin cám ơn chimtroi

    muahong (12-30-2011)

  5. #3
    Moderator
    chimtroi's Avatar
    Status : chimtroi v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Dec 2007
    Posts: 1,134
    Thanks: 192
    Thanked 998 Times in 334 Posts

    Default Phần trích thuật bắt đầu.



    Phần trích thuật bắt đầu.

    "Tôi có dịp đến Houston khoảng tháng 07/1995, được người bạn tặng cuốn "Đôi Dòng Ghi Nhớ" của anh Phạm Bá Hoa, cựu Đại Tá Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Không như "Lời Trần Tình" quá khiêm nhường của anh, quyển sách tuy không chánh thức là một sử liệu, nhưng nó đóng góp rất nhiều cho các sử gia, vì anh được ở vào một vị trí rất quan trọng trong guồng máy hành chánh và quân sự trong một giai đoạn lịch sử 1960-1968. Những sự việc mà anh ghi lại thật là trung thực, rất đầy đủ từng chi tiết, cũng như anh đã phân tách sự việc rất vô tư, khách quan. Trong quyển sách, anh nói không ít về cái chết của Tổng Thống Ngô Đình Diệm".
    "Về sự việc lịch sử này, đã có rất nhiều người -kể cà người Mỹ- hỏi tôi từ sau ngày 02/11/1963 cho tới giờ này. Ai cũng muốn biết rõ chi tiết của sự việc đã xảy ra trên chiếc Thiết Vận Xa trong đoàn xe mà cá nhân tôi có trách nhiệm an ninh hộ tống hôm đó. Tác giả quyển "Đôi Dòng Ghi Nhớ" chỉ nêu lên một số dữ kiện, một số suy luận, một số giả thuyết, và nghi vấn chung quanh sự việc nói trên, mà không hề có ý xác quyết ai là người đã ra lệnh và ai là người đã thi hành lệnh giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu. Đây là điểm hoàn toàn khác biệt với một vài quyển hồi ký khác đã được xuất bản mà tôi có dịp đọc".
    "Liên quan đến sự việc này, tôi muốn nói đến vài quyển hồi ký mà tác giả đã có nhận xét thiếu chính xác, có khi còn sai lạc hẳn. Sự việc cũng không được phân tách cho đúng lý đúng tình. Có tác giả đã kể lại sự việc mà chính mắt tác giả không mục kích được, tai cũng chỉ nghe lõm bõm diễn tiến mà người thuật cũng không phải người trong cuộc. Hoặc là viết theo một số dữ kiện do quá nhiều người thuật lại theo cái nghe được hay theo lập luận một chiều. Đặc biệt là cựu Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi, tác giả " Việt Nam, Một Trời Tâm Sự", ông đã dựa trên lời khai nguyên văn của Đại Úy Nguyễn Văn Nhung (đúng ra là Thiếu Tá vì lúc bị bắt là ngày 30/01/1964, anh Nhung đã thăng cấp Thiếu Tá rồi. PBH) mà ông được đọc sau ngày "Chỉnh Lý 30/01/1964", nên sự việc đó ông viết rất chính xác. Nói rất rõ là ai thi hành lệnh giết Tổng Thống và giết bằng cách nào..."
    "Sáng ngày 02/11/1963, Trung Tướng Dương Văn Minh chỉ định Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân và Đại Tá Dương ngọc Lắm, vào nhà thờ Cha Tam trong Chợ Lớn "đón họ" về đây (Họ, tức Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu. Về đây, tức về Bộ Tổng Tham Mưu. PBH). Tôi có mặt tại chỗ, vì tôi cùng Trung Đội Thiết Vận Xa vừa từ dinh Gia Long về tới, và trình Trung Tướng Minh là Tổng Thống và ông Cố Vấn không có trong dinh Gia Long. Do đó, tôi nhận lệnh của Trung Tướng Minh tiếp tục cho Trung Đội Thiết Giáp hộ tống Thiếu Tướng Xuân và Đại Tá Lắm vào nhà thờ Cha Tam "đón họ" (nguyên văn của Trung Tướng Minh). Như vậy, tôi được biết Thiếu Tướng Xuân nhận lệnh trực tiếp của Trung Tướng Minh, nhưng tôi không biết là Thiếu Tướng Xuân có nhận lệnh mật gì của Trung Tướng Minh không. Cũng ngay lúc đó, tôi được Đại Tá Nguyễn Văn Quan -bạn thân của Trung Tướng Minh- cho biết, trong khi tôi xuống dinh Gia Long thì ông Diệm và ông Nhu đã bí mật vào trong Chợ Lớn, và hiện ở nhà thờ Cha Tam. Từ nhà thờ, hai ông đã liên lạc điện thoại với các Tướng Lãnh. Ngay sau đó, Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng quyết định dứt khoát, ít nhất là số phận của ông Ngô Đình Nhu, bằng mọi cách phải diệt trừ hậu họa. Thiếu Tướng Xuân, Đại Tá Quan, Đại Tá Lắm, Đại Tá Đỗ Mậu, ... đều có mặt trong cuộc thảo luận để lấy quyết định có tính cách lịch sử nói trên, cùng với Trung Tướng Dương Văn Minh, Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm, Thiếu Tướng Lê Văn Kim, Phạm Xuân Chiểu. ..v..v.."
    "Tôi cũng được Đại Tá Quan cho biết thêm rằng, Trung Tướng Minh, người chỉ huy cuộc đảo chánh, đã nhanh chóng đưa ra quyết định rất dứt khoát để Hội Đồng lấy quyết định chung. Các vị hiện diện lúc đó, không ai góp thêm ý kiến gì. Lúc đó im lặng được xem là đương nhiên chấp thuận đề nghị của Trung Tướng Minh. Thật ra, từ 11 giờ đêm 01/11/1963, trong lúc tình hình chưa ngã ngủ hẳn, các Tướng Lãnh đã có bàn bạc riêng với nhau trước về số phận của ông Ngô Đình Nhu rồi. Riêng đối với Tổng Thống Ngô Đình Diệm thì hầu hết đều tán thành cho Người (viết hoa) đi ra ngoại quốc, không thấy vị nào phát biểu khác hơn. Do đó, khi Thiếu Tướng Xuân nhận lệnh đi đón Tổng Thống là ông biết mình sẽ phải làm gì rồi, ít nhất là đối với ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu. Còn đối với Tổng Thống thì lúc bấy giờ tôi hoàn toàn không biết là Thiếu Tướng Xuân có nhận được mật lệnh gì thêm từ Trung Tướng Dương Văn Minh hay không."
    "Đoàn xe khởi hành từ Bộ Tổng Tham Mưu khoảng 6 giờ sáng. Hai xe Quân Cảnh dẫn đầu, xe Jeep của tôi và Đại Úy Phan Hòa Hiệp, kế đó là xe Jeep Thiếu Tướng Xuân rồi xe Đại Tá Lắm, và đoàn xe hộ tống gồm Trung Đội Thiết Vận Xa 5 chiếc (4 xe đi đầu có bộ binh tùng thiết, và xe sau cùng là của Trung Đội Trưởng). Tôi xin nói rõ thêm. Tôi thấy không có dự trù xe nào chở Tổng Thống và ông Cố Vấn Nhu, nên tôi có hỏi Thiếu Tướng Xuân trước khi khởi hành, thì ông nói nhanh và cộc lốc "không cần". Tôi nghĩ, chắc là ông đã có phương cách rồi nên không muốn chúng tôi quấy rầy làm mất luồng suy tính của ông trong lúc ông có mission (nhiệm vụ) quá đặc biệt, có lẽ đặc biệt hơn bao giờ hết trong cuộc đời Cảnh Sát Công An của ông.
    “Trước khi khởi hành, tôi và Đại Úy Hiệp nhìn thấy Đại Úy Nhung ngồi trên một trong bốn chiếc thiết vận xa sau xe Jeep chúng tôi. Đại Úy Hiệp hỏi tôi về sự hiện diện của vị sĩ quan bộ binh lạ mặt này. Tôi giải thích sơ qua, đó là Đại Úy Nhung, sĩ quan tùy viên của Trung Tướng Dương Văn Minh, và có xác nhận với Đại Úy Hiệp rằng: "Đại Úy Nhung có hỏi tôi để được cùng đi với Trung Đội Thiết Vận Xa. Tôi nghĩ, có lẽ Đại Úy Nhung có nhiệm vụ gì đó do Trung Tướng Minh đích thân giao cho, nên tôi không tiện hỏi vì không liên quan gì đến nhiệm vụ an ninh hộ tống của chúng mình".
    "Tôi không muốn nói rõ với Đại Úy Hiệp, nhưng cá nhân tôi đã biết là Đại Úy Nhung được Trung Tướng Minh sai đi theo đoàn xe để thi hành quyết định của Hội Đồng. Quyết định liên quan đến ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu. Quyết định này đã được chuyển thành lệnh và được Trung Tướng Minh trao cho Đại Úy Nhung thi hành. Vì chắc chắn Trung Tướng Minh không còn thấy ai hơn người sĩ quan cận vệ thân tín này để thi hành một công tác đặc biệt, khó khăn và quan trọng nói trên. Tôi dùng danh từ "mật" là vì nếu Trung Tướng Minh có dặn dò điều gì với Đại Úy Nhung thì không một ai trong Hội Đồng nghe thấy được. Và nếu có ra lệnh cho Đại Úy Nhung thi hành quyết định công khai của Hội Đồng, về một mình ông Cố Vấn Nhu hay cho cả hai ông, thì cũng không một ai trong Hội Đồng nghe thấy được. Nhưng tôi khẳng định là Trung Tướng Minh có sai Đại Úy Nhung -tức là đã ra lệnh cho Đại Úy Nhung- và lệnh được đưa ra theo quyết định của Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng. Ít nhất là liên hệ đến ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu. Tôi xin nói rõ lại một lần nữa, là chỉ liên quan đến ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu. Vì nếu Trung Tướng Minh không ra lệnh thì không còn ai trong Hội Đồng có đủ thẩm quyền để ra lệnh đặc biệt này? Cũng như nếu không sai Đại Úy Nhung, thì tại sao Đại Úy Nhung lại phải nói với tôi cho anh được ngồi trên chiếc thiết vận xa để được cùng đi vào Chợ Lớn?"
    "Nhưng tôi cũng xác định là dù có sai Đại Úy Nhung hay ra lệnh cho Đại Úy Nhung, Trung Tướng Minh cũng là sai mật hay dặn dò mật mà thôi. Như vậy là đến đây, chúng ta không còn thắc mắc gì về người nào đã ra lệnh và lệnh xuất phát từ đâu. Đại Tá Dương Ngọc Lắm, chắc chắn phải biết rõ mật lệnh mà Trung Tướng Minh đã giao cho Thiếu Tướng Xuân. Vì nếu không thì tại sao đích thân ông đến gặp tôi để dặn dò tôi trước khi đoàn xe khởi hành:

    "Nè, mấy người đừng có nói gì bậy bạ nghe".

    "Tôi cũng biết chắc chắn ngay từ lúc bàn thảo kế hoạch sơ khởi trước tháng 11 năm 1963, các vị Tướng Tá trong nhóm lãnh đạo đảo chánh đã có dự trù một giải pháp dứt khoát đối với ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu. Sự dự trù đã trở thành quyết định từ sau 1 giờ trưa ngày 01/11/1963. Đó là truy tố ra tòa và xử ngay trong nước, không cho ra ngoại quốc. Tôi xin lặp lại, sơ khởi là như vậy. Nhưng theo lời Đại Tá Nguyễn Văn Quan (không phải Đại Tá Đặng Văn Quang. PBH) nói với tôi, lúc khuya rạng sáng ngày 02/11/1963 khi chưa được tin Tổng Thống và ông Cố Vấn rời khỏi dinh Gia Long, đa số trong Hội Đồng không còn ý đưa ông Cố Vấn Nhu ra tòa nữa, mà nhất quyết phải trừ hậu họa bằng mọi cách. Rõ ràng là như vậy. Lúc bấy giờ tình hình chưa ngã ngũ. Dinh Gia Long chưa chiếm được, lực lượng phòng vệ Phủ Tổng Thống chưa buông súng đầu hàng, vì cũng chính ông Cố Vấn được qui trách cho mọi xáo trộn trong nước, làm mất lòng Dân Quân Cán Chánh, ... "
    "Riêng đối với Tổng Thống Ngô Đình Diệm, tuy chưa có quyết định dứt khoát, nhưng qua trao đổi ngoài hành lang thì đa số các vị trong Hội Đồng có ý tán thành một giải pháp ôn hòa. Đó là, để ổng ra ngoại quốc một mình như một dân thường, không được hưởng lễ nghi quân cách của một Tổng Thống. Biện pháp này coi như là một ân huệ đối với Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Tuy nhiên, theo lời Đại Tá Quan xác nhận lại với tôi, thì Trung Tướng Minh vẫn còn im lặng, chưa có ý kiến".
    "Khi được biết Tổng Thống và ông Cố Vấn đã bí mật rời khỏi dinh Gia Long, thì tình hình thật sự có thay đổi trong chiều hướng bất lợi cho hai ông. Khi còn chưa rõ hai ông ở đâu thì Hội Đồng có phần lo âu, vì dù đảo chánh có thành công mà hai ông chạy thoát được thì tình hình chính trị ra sao đây? Chẳng những không có sự ổn định trong tương lai, mà sẽ có một sự chia rẽ có thể dẫn tới tranh chấp quyền lực, nếu không muốn nói là nội chiến ngay tại miền nam Việt Nam! Và nỗ lực chống cộng sản sẽ bị ảnh hưởng nặng nề. Nhất là đến giờ này, Tướng Huỳnh Văn Cao ở Vùng IV Chiến Thuật chưa chịu tuyên bố chánh thức trên đài phát thanh đứng về phía Hội Đồng, mặc dầu được yêu cầu nhiều lần. Vùng IV có 3 Sư Đoàn Bộ Binh được kềm giữ trong thế án binh bất động nhờ công của Thiếu Tá Nhan Minh Trang, Thiếu Tá Huỳnh Văn Tồn, và Đại Tá Nguyễn Hữu Có".
    "Do đó, từ quyết định ôn hòa, đã có một số không ít thành viên trong Hội Đồng bắt đầu tỏ thái độ cứng rắn và quyết liệt hơn, nhất là Trung Tướng Dương Văn Minh, linh hồn của cuộc đảo chánh. Ông không muốn thấy ngày 11/11/1960 tái diễn (11/11/1960 là ngày Đại Tá Nguyễn Chánh Thi đảo chánh thất bại phải vượt thoát lưu vong. PBH). Chúng ta phải thấy được trách nhiệm nặng nề của người chỉ huy cuộc hành quân đảo chánh lúc bấy giờ, mới biết được mức độ lo âu nóng ruột của Trung Tướng Dương Văn Minh như thế nào. Từ đó mới thấy thái độ của Trung Tướng Minh qua đề nghị của Trung Tướng để Hội Đồng lấy quyết định về trường hợp cá nhân của ông Ngô Đình Nhu, dứt khoát, không thể do dự hay yếu mềm được."
    "Có người nói là trước khi đoàn xe khởi hành, Trung Tướng Minh đứng trên lầu tòa nhà chánh Bộ Tổng Tham Mưu, hướng về Thiếu Tướng Xuân hay Đại Úy Nhung, đưa ra hai ngón tay (ý nói là cả hai người), nhưng tôi xác nhận là hoàn toàn không trông thấy. Tôi biết rõ tính trầm tĩnh và suy tính chính chắn của Trung Tướng Minh, nên tôi chắc chắn là ông không bao giờ có hành động vào phút chót quá lộ liễu như vậy. Nếu có ra lệnh, chắc chắn ông đã có đắn đo suy tính kỹ càng trước rồi, và ông đã phải dặn dò ngay Đại Úy Nhung chớ không bao giờ ông lại ra lệnh để cho người ta thấy dễ dàng như vậy."
    "Tôi xin mở thêm dấu ngoặc ở đây. Trước khi khởi hành, tôi có ghé ngang bộ chỉ huy Thiết Giáp hành quân đặt trên chiếc bán xích xa đậu cạnh tòa nhà chánh, báo cho Trung Tá Nguyễn Văn Thiện biết về hướng đi và nhiệm vụ của tôi. Tôi tuyệt đối không nói thêm điều nào, vì Trung Tá Thiện không phải là thành viên của nhóm đảo chánh. Trung Tá Thiện là cán bộ nòng cốt của đảng Cần Lao, là người tín cẩn của Tổng Thống và ông Cố Vấn, nên bị giữ ở phòng họp từ trưa hôm qua (01/11/1963). Tôi xin với Trung Tướng Minh cho tôi lãnh ông ra và tôi hoàn toàn trách nhiệm. Được chấp thuận, và Trung Tá Thiện chỉ huy Thiết Giáp trong cuộc hành quân này. Sau đảo chánh, ông được thăng cấp Đại Tá và giữ nguyên chức vụ Chỉ Huy Trưởng binh chủng Thiết Giáp."
    "Đoàn xe đến nhà thờ Cha Tam, Đại Úy Hiệp giúp tôi lo bố trí an ninh. Tôi đến gặp Thiếu Tướng Xuân và Đại Tá Lắm để nhận lệnh. Cả hai ông, không ai chịu vào nhà thờ để gặp Tổng Thống và ông Cố Vấn. Tôi không rõ tại sao, dù đó là nhiệm vụ của hai ông, và bảo tôi đại diện Hội Đồng vào mời Tổng Thống và ông Cố Vấn ra xe là được rồi. Tôi vào nhà thờ qua cổng nhỏ bên mặt cổng chánh. Nhưng khi bước vào khỏi cổng khoảng 10 thước, tôi sực nhớ là mình vào một cơ sở tôn giáo không nên mang theo vũ khí. Tôi vội trở ra cổng, cởi súng lục trao cho tài xế của tôi. Lúc này người dân chung quanh thấy có việc lạ, tò mò đứng lố nhố đầy cả ngã ba trước rào sắt của nhà thờ. Binh sĩ cũng không gắt gao cho lắm, và chắc chắn bây giờ người dân đã biết được là Tổng Thống và ông Cố Vấn Nhu đang ở trong nhà thờ này."
    "Tôi lại bước vào nhà thờ lần thứ hai, không súng, và vẫn một mình. Tôi không nhìn lại phía sau, nhưng nghĩ bụng là anh em Thiết Giáp ở ngoài rào sắt, chắc cũng đã bố trí theo dõi và an ninh cho tôi, vì biết rằng, tôi vào đây không một tấc sắt trong tay. Tôi mạnh dạn bước tới, rẽ về tay mặt. Đi tới khoảng 20 thước thì thấy từ phía dãy nhà bên hông phải của nhà thờ có 4 người đi về hướng tôi. Đó là Tổng Thống Ngô Đình Diệm tay cầm gậy, ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu, và 2 người mặc thường phục. Tôi nghĩ bụng, một trong hai người mặc thường phục có xách chiếc cặp da phải là Đỗ Thọ, tùy viên của Tổng Thống. Người thứ tư tôi không biết. Mãi sau này tôi mới biết là Đại Úy An, sĩ quan cận vệ của Tổng Thống. Tôi nghĩ, chắc là Tổng Thống đã được Hội Đồng báo trước rồi, nên khi nghe thấy xe tới nhà thờ là Tổng Thống đi ra. Tôi đứng lại. Chờ. Nhưng vẫn không để ý xem hai sĩ quan này có võ trang hay không. Và khi Tổng Thống đến còn cách tôi khoảng 3 thước, tôi đứng nghiêm lại, đưa tay lên mũ, chào đúng lễ nghi quân cách, và giữ nguyên tư thế đứng nghiêm đó, tôi nói: "Thưa Tổng Thống, chúng tôi có lệnh của Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng đến đây mời Tổng Thống và ông Cố Vấn về Bộ Tổng Tham Mưu. Có Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân đại diện cho Hội Đồng, đang đứng trước cửa chờ Tổng Thống".
    "Tổng Thống đứng lại nghe tôi trình bày và có nói một câu ngắn mà tôi nghe không rõ. Sau đó, Đại Úy Đỗ Thọ bảo tôi đi trước, Tổng Thống sẽ theo sau. Nhưng tôi đứng nép qua một bên, mời Tổng Thống đi trước ra hướng cổng nhỏ bên phải. Cả 4 người qua hết rồi, tôi mới lững thững bước theo sau, cách xa độ 3 thước. Dù sao, trong cương vị sĩ quan, tôi vẫn bắt buộc phải giữ lễ độ đối với Tổng Thống dù đang trong hoàn cảnh này. Và đi sau cũng có thể là một hành động phản ứng đề phòng tự nhiên của tôi, chớ hoàn toàn không có ý gì khác. Tôi đinh ninh rằng, Thiếu Tướng Xuân đã phải có mặt trước cổng để hướng dẫn Tổng Thống lên xe về Tổng Tham Mưu, vì đó là nhiệm vụ của ông. Đến cổng rào, vì là cổng nhỏ bên hông nên 4 người phải tuần tự qua cổng. Tổng Thống đi trước, đến Đại Úy Thọ, rồi mới đến ông Cố Vấn, và Đại Úy An. Tôi là người thứ 5 ra khỏi cổng sau cùng".
    "Ngay lúc bấy giờ, tôi chợt thấy có chiếc Thiết Vận Xa đậu ngay cổng nhỏ này, cánh cửa sau xe mở rộng, gác nằm xuống sát mặt lề đường. Tôi thấy Thiếu Tướng Xuân và Đại Úy Nhung đã có mặt tại chỗ. Không có Đại Tá Lắm. Thiếu Tướng Xuân bảo Đại Úy Đỗ Thọ trao cho ông chiếc cặp da của Tổng Thống mà Đại Úy Thọ đang xách. Ông Xuân xách chiếc cặp đi ngay, không nói lời nào khác ngoài việc khoác tay ra lệnh cho Đại Úy Thọ và Đại Úy An đi theo ông".
    "Đại Úy Nhung hướng về phía Tổng Thống và ông Cố Vấn Nhu, nói như ra lệnh:

    "Mời hai ông lên".

    “Vừa nói vừa chỉ vào cửa Thiết Vận Xa đã mở. Lúc này Tổng Thống và ông Cố Vấn đứng cách cửa Thiết Vận Xa khoảng 1 thước. Tổng Thống không nói lời nào, chưa có một phản ứng nào về thái độ kém nhã nhặn của người sĩ quan mà ông chưa hề biết mặt. Tổng Thống còn đang tần ngần, sững sờ, thì ông Cố Vấn Nhu đã lên tiếng với vẻ mặt bất bình:

    “Tại sao lên xe này? Không còn xe nào khác hay sao?”

    “Không có. Vì lý do an ninh, tình hình đang hỗn loạn. Dân chúng đang muốn giết hai ông đó. Hai ông phải lên xe này để được bảo vệ”.

    "Đại Úy Nhung có vẻ bực bội vì câu hỏi với giọng kẻ cả, nên vừa trả lời vừa đưa tay ra dấu như có ý đẩy hai người vào Thiết Vận Xa. Nhìn qua nhìn lại không thấy Thiếu Tướng Xuân đâu cả. Đại Úy Thọ và người sĩ quan cận vệ cũng không thấy có mặt. Tổng Thống hỏi:

    “Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân đâu? Gọi Thiếu Tướng đến gặp tôi”.

    “Thiếu Tướng Xuân đã lên xe đi trước rồi”. Đại Úy Nhung vừa trả lời vừa giục hai ông vào xe. Sau phút ngập ngừng, hai ông phải bước vào xe.

    "Tôi vẫn còn đứng cách đó vài bước bên cạnh cổng nhỏ nhà thờ, nhìn thấy cảnh Thiếu Tướng Xuân đầu trần, không nhìn thẳng Tổng Thống. Thiếu Tướng đã đưa tay nhận lấy chiếc cặp da từ tay Đại Úy Thọ, xong là bước đi luôn về hướng xe của ông, không quên ra lệnh cho Đại Úy Thọ cùng người sĩ quan cận vệ theo ông, để mặc cho Đại Úy Nhung đối đáp với Tổng Thống ra sao tùy ý. Tôi cũng nhìn thấy được gương mặt thẩn thờ, ngạc nhiên của Tổng Thống, vẻ bất bình cau có của ông Cố Vấn Nhu, và thái độ nóng nẩy của Đại Úy Nhung. Tôi theo dõi được những câu trao đổi ngắn ngủi nhưng mất bình tỉnh của ông Cố Vấn với Đại Úy Nhung, cũng như sự im lặng chịu đựng của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Tôi còn chứng kiến được cảnh hai người lặng lẽ bước vào xe, còn nghe Đại Úy Nhung bảo họ cúi đầu xuống. Đợi cho hai ông vào xe xong, Đại Úy Nhung mới bước vào sau cùng. Và cửa xe từ từ dựng đứng lên, đóng kín lại. ... "
    "Ngay lúc bấy giờ, tôi mới kịp nhận ra là trong Thiết Vận Xa không còn một binh sĩ Thiết Giáp nào, ngoại trừ tài xế và phụ tài xế ngồi phía trước. Lúc Đại Úy Nhung bước vào xe, thì rõ ràng tôi chỉ thấy có 3 người trong xe. Đó là Tổng Thống, ông Cố Vấn, và Đại Úy Nhung. Sau này hỏi ra tôi mới biết, trưởng xa và xạ thủ đã được Đại Úy Nhung yêu cầu tạm qua xe khác. Tôi bước xuống lòng đường, đi bộ lại gặp Thiếu Tướng Xuân, tôi báo cáo tình hình sau cùng, và đề nghị với Thiếu Tướng cho đoàn xe khởi hành về Bộ Tổng Tham Mưu".
    "Tôi bước về xe Jeep của tôi, ra lệnh cho đoàn xe nổ máy và chuẩn bị lên đường. Thứ tự các xe như cũ: Xe Jeep của tôi và Đại Úy Hiệp đi sau 2 xe Quân Cảnh dẫn đường, kế đó là xe Thiếu Tướng Xuân, xe Đại Tá Lắm, theo sau là 4 Thiết Vận Xa đi liền nhau, trong đó, chiếc thứ 3 chở Tổng Thống và ông Cố Vấn với Đại Úy Nhung, tiếp theo là xe chở bộ binh tùng thiết (tức là bộ binh tháp tùng ngồi trên xe Thiết Giáp), sau cùng là xe Trung Đội Trưởng. Đoàn xe đang đi trên đường Hồng Thập Tự, qua khỏi nhà bảo sanh Từ Dũ phải dừng lại cổng xe lửa vì sắp có xe lửa chạy qua. Thời gian đoàn xe dừng lại đây khoảng hơn mười phút, chợt tôi nghe có mấy tiếng súng nổ phía sau, vào khoảng giữa đoàn xe. Tôi cho quay đầu xe Jeep lại, chạy dọc theo đoàn xe để xem việc gì đã xảy ra. Đến ngang chiếc Thiết Vận Xa chở Tổng Thống và ông Cố Vấn, tôi thấy Đại Úy Nhung ngồi trên nóc xe và hướng về phía chúng tôi, đưa một ngón tay cái lên làm hiệu (được hiểu là mọi việc tốt đẹp). Tôi vội hỏi: “Tiếng súng nổ ở đâu?”

    "Đại Úy Nhung đưa tay chỉ vào trong xe mà không nói gì. Tôi quay đầu xe lại, tiếp tục trở lên đầu đoàn xe. Lúc đó xe lửa cũng vừa qua xong, cổng chắn ngang đã mở, đoàn xe chúng tôi tiếp tục chạy hướng về Bộ Tổng Tham Mưu. Để được biết rõ ràng hơn, tôi có hỏi Trung Đội Trưởng Thiết Giáp, việc gì đã xảy ra mà có tiếng súng nổ trên chiếc Thiết Vận Xa thứ 3. Tôi được trả lời:

    “Phụ tài xế xe thứ 3 có báo cáo cho tôi biết, tiếng súng đó do ông Đại Úy bộ binh ngồi trong xe bắn chết Tổng Thống và ông Cố Vấn rồi”.

    Cả tôi và Đại Úy Hiệp đều nghe biết sự việc này qua hệ thống truyền tin Thiết Giáp trên xe chỉ huy của chúng tôi, nhưng tôi vẫn chưa có báo cáo gì về Tổng Tham Mưu vào lúc đó, cả với bộ chỉ huy Thiết Giáp cũng vậy. Riêng tôi, tôi không biết tại sao cả hai ông đã bị bắn chết. Vì cho tới giờ này, cũng như các Tướng Tá thành viên khác của Hội Đồng, tôi vẫn biết là Hội Đồng dù chưa có quyết định nào dứt khoát cho trường hợp của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, nhưng gần như đã có một sự hiểu ngầm qua trao đổi ý kiến ngoài hành lang bán chánh thức giữa các thành viên của Hội Đồng, thì Tổng Thống được cho xuất ngoại như một người dân bình thường".
    "Gặp Trung Tướng Minh và các vị Tướng Lãnh ngay lối vào tòa nhà chánh, Thiếu Tướng Xuân báo cáo ngắn gọn rằng:

    “Mission accomplie (nhiệm vụ hoàn thành)”.

    "Trầm ngâm và đăm chiêu, Trung Tướng Minh chưa nói một lời nào sau báo cáo của Thiếu Tướng Xuân, thì Thiếu Tướng Khiêm (Trần Thiện Khiêm) ngay sau đó hỏi nhỏ:

    “Việc gì đã xảy ra?”
    “Hai ổng đã chết rồi”.-

    "Trung Tướng Minh trả lời ngắn gọn như vậy. Ngay lúc này, tôi có mặt tại chỗ, và chợt hiểu. Thì ra câu "nhiệm vụ đã hoàn thành" (mission accomplie) cũng có nghĩa là hai ổng đã chết rồi. Rất là rõ ràng. Trung Tướng Minh nói xong, tất cả đều không có một câu hỏi nào khác nữa và cùng nhau trở lên văn phòng, không đi ra chỗ Thiết Vận Xa đậu nữa. Tôi cũng đi theo".
    " Bước vào đây tôi mới thấy Đại Úy Nhung đã có mặt ở văn phòng của Tham Mưu Trưởng rồi, tức là văn phòng mà Trung Tướng Minh và các Tướng Tá trong Hội Đồng đang tạm sử dụng. Lúc bấy giờ, tôi mới biết thêm là Đại Úy Nhung đã lên đây trước và báo cáo với Trung Tướng Minh trước khi có người lên đây trình đoàn xe đón Tổng Thống đã về đến Tổng Tham Mưu. Đại Úy Nhung chỉ báo cáo riêng cho Trung Tướng Minh mà thôi, và chắc chắn là kín là mật, nên các Tướng Tá trong Hội Đồng, kể cả Thiếu Tướng Khiêm cũng chưa hay biết được việc gì đã xảy ra. Do đó, khi Trung Tướng Minh cùng các Tướng Tá trong Hội Đồng cùng đi xuống sân vận động dự trù để gặp Tổng Thống và ông Cố Vấn, thì chưa ai biết được việc gì đã xảy ra cho Tổng Thống cả. Vừa đến tầng dưới thì gặp ngay Thiếu Tướng Xuân từ ngoài sân bước vào, hớn hở báo cáo (công khai) với Trung Tướng Minh là nhiệm vụ đã hoàn thành".
    "Để trả lời câu hỏi: "Việc gì đã xảy ra của Thiếu Tướng Khiêm", Trung Tướng Minh mới buông gọn một câu: "Hai ổng đã chết rồi". Tôi đã kín đáo nhận xét thái độ của các thành viên trong Hội Đồng ngay tại hành lang tầng dưới của tòa nhà chánh Bộ Tổng Tham Mưu, ngay sau khi Thiếu Tướng Xuân báo cáo, và sau đó Trung Tướng Minh trả lời ngắn gọn cho Thiếu Tướng Khiêm. Thoạt đầu, tất cả đều có vẻ vui (có lẽ khi biết là đã đón hay bắt được Tổng Thống và ông Cố Vấn về đây rồi. PBH), vì ai cũng nghĩ rằng phe đảo chánh ta đã nắm chắc phần thắng 100% mà không còn sợ hậu họa gì nữa, vì hai ông không chạy vuột ra khỏi thủ đô để còn mưu tính chuyện gì khác đâu. Và câu "mission accomplie" cũng được các Tướng Tá trong Hội Đồng hiểu là đã bắt được hai ông về rồi. Đến lúc nghe Trung Tướng Minh trả lời cho Thiếu Tướng Khiêm là cả hai đều đã chết hết rồi thì phần đông đều có vẻ sững sốt, ngạc nhiên, đến độ không nói được một lời nào. Vì cứ y theo quyết định, thì cùng lắm cũng chỉ một mình ông Cố Vấn Nhu mà thôi, tại sao lại là hai người? Ai cũng nghĩ là Tổng Thống sẽ được Hội Đồng cho đi ra ngoại quốc, bây giờ tại sao lại như vậy? Phải giải thích thế nào đây? Riêng Trung Tướng Minh rất là trầm tỉnh, không nói một lời nào với Thiếu Tướng Xuân dù là một lời khen hỏi ủy lạo, chỉ vài lời ngắn gọn cho câu hỏi của Thiếu Tướng Khiêm thôi".
    "Sau đó vài hôm, tôi có dịp gặp lại Thiếu Tá Nhung (đã được thăng cấp. PBH). Để hết thắc mắc, tôi có gặn hỏi lại sự việc đã xảy ra như thế nào trong chiếc Thiết Vận Xa, thì Thiếu Tá Nhung vừa cười vừa trả lời cho tôi một cách gọn gàng như đã không có chuyện gì quan trọng xảy ra:

    “Một người cũng vậy, mà hai người cũng vậy thôi. Hai người cũng khó khăn lắm, nhưng chắc ăn hơn”.

    “Nhưng làm gì có lệnh cho hai người?” Tôi gợi ý hỏi thêm.

    “Vì ông Diệm chống cự lại sau khi ông Nhu bị tôi đâm chết, nên tôi phải thanh toán luôn. Có lệnh cũng được, mà không có lệnh cũng vậy thôi. Cho nó chắc ăn. Lúc đó đâu có đợi lệnh được anh”.

    "Thiếu Tá Nhung cũng cho tôi biết là anh đã sử dụng dao găm cá nhân của anh, và sau đó bồi thêm cho mỗi người một viên đạn ân huệ. Tôi còn nhớ mãi những câu đối đáp này mồn một, không bao giờ quên. Nhưng không bao giờ dám hé môi nửa lời ... Bí mật quốc gia chăng? Cũng có thể là như vậy, vì Hội Đồng họp báo có tiết lộ điều gì rõ ràng đâu. Cũng không có giải thích điều gì, và cũng không có trả lời bất cứ câu hỏi nào có liên quan đến sự việc này".
    "Kết luận. Tôi xin tạm mượn một câu trích nguyên văn của cựu Trung Tướng Trần Văn Đôn trong quyển Việt Nam Nhân Chứng: Tuy lúc đó tôi không nghĩ đến chuyện giết hai ông Diệm Nhu, sau này nhìn lại các sự kiện, tôi cho rằng người nào đó ra lệnh giết này, quả là một người thấy xa. Ông ta không phải ngu dại gì khi làm chuyện đó. Nhưng theo tôi, xét cho cùng, người nào đó cho dù có thấy xa, có ngu dại hay có khôn ngoan gì thì cũng không phải là người thực sự có quyền chủ động, và không thể chủ động gì trong sự việc này. Lý do rất đơn giản và rất dễ hiểu là lúc nào cũng có một bàn tay lông lá của người phù thủy với chiếc đũa thần, luôn luôn có mặt bên cạnh ... đứng trong bóng tối".
    Hết phần trích dẫn.

    Trở lại phòng Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm. Sau một lúc bàn thảo và viết viết sửa sửa, một bản Thông Cáo được hoàn chỉnh, liền đưa sang đài phát thanh công bố cho toàn dân biết là Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng đã thành công trong mục tiêu lật đổ chế độ độc tài gia đình trị của họ Ngô. Đồng thời cũng loan tin vắn tắt rằng, Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu đã tự sát.
    Ngay trong buổi sáng hôm nay (02/11/1963), Bộ Tổng Tham Mưu với hằng trăm phóng viên báo chí truyền thanh truyền hình trong nước ngoài nước, cùng với những vị hoạt động chính trị, ra vào tòa nhà chánh rất nhộn nhịp. Những chiếc xe bóng lộn chạy vào chạy ra như "con thoi" vậy. Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng ra lệnh thả tất cả tù chính trị dù có án hay chưa có án. Hải Quân được lệnh ra trại tù Côn Sơn đón các tù nhân chính trị về thủ đô, dĩ nhiên là không có tù chính trị cộng sản.
    Buổi chiều (02/11/1963), trong buổi lễ đơn giản ngay trong phòng Thiếu Tướng Tham Mưu Trưởng Liên Quân, Trung Tướng Dương Văn Minh, nhân danh Chủ Tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng, thăng cấp Trung Tướng cho các vị: Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm, Thiếu Tướng Tôn Thất Đính, Thiếu Tướng Lê Văn Kim, Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân, thăng cấp Thiếu Tướng cho Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu và Đại Tá Nguyễn Hữu Có, cùng nhiều vị cấp Tướng cấp Tá khác.
    Trung Tướng Minh ra lệnh mở cửa phòng họp số 1 và các vị bị giữ từ trưa hôm qua được ra về, nhưng đa số các vị này sau đó không còn ngồi lại chiếc ghế tại nhiệm sở của mình mà phải ngồi những chiếc ghế mà báo chí thường gọi là "ngồi chơi xơi nước", hoặc ngồi ghế ở nhà riêng của quí vị ấy.
    Đến tối, hằng trăm sinh viên học sinh bị bắt giam trong cuộc tranh đấu cho Phật Giáo, sau khi ra khỏi nhà tù đã vào tòa nhà chánh Bộ Tổng Tham Mưu, mang theo đủ thứ thức ăn, nào bánh mì thịt, bánh tây, bánh ngọt, thịt quay, giò chã, cháo cá cháo thịt, .... đãi tất cả những ai có mặt tại đây, từ anh tùy phái, thư ký, đến cận vệ, tùy viên hay chánh văn phòng, và các vị Tướng Lãnh, một bữa ăn rất ý nghĩa trong một không khí thật vui. Phần tôi đã một ngày đêm không chợp mắt và cũng chẳng có thì giờ ăn uống mặc dù vợ tôi có gởi thức ăn vào cho tôi. Giờ đây công việc không đến nỗi vất vả nên thật ngon miệng.
    Trong khi Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng cùng với các nhân vật chính trị và tôn giáo, thảo luận về thành phần chánh phủ thay thế chánh phủ sụp đổ, thì thi hài ông Diệm và ông Nhu được đưa sang bệnh xá Tổng Tham Mưu, tọa lạc bên kia đường gần như đối diện với tòa nhà chánh Tổng Tham Mưu, để làm các thủ tục trước khi tẩn liệm và mai táng. Khai tử của hai ông làm tại quận Tân Bình, tỉnh Gia Định, ngang cổng số 2 trại Trần Hưng Đạo, tức Bộ Tổng Tham Mưu. Nghề nghiệp trên tờ khai tử của ông Diệm thì tôi không được đọc, nhưng của ông Nhu ghi là "quản thủ thư viện".
    Trung Tướng Trần Văn Đôn ra lệnh cho Trung Tá Nguyễn Văn Luông (vừa thăng cấp) tìm mua hai quan tài tốt nhất, nhưng tìm cả Sài Gòn chỉ có một cái tốt nhất và cái còn lại được xem là tốt nhì. Dĩ nhiên cái tốt nhất dành cho cố Tổng thống Ngô Đình Diệm. Theo yêu cầu của bà Trần Trung Dung, cháu gái gọi ông Diệm ông Nhu là cậu ruột, đưa hai quan tài đến quàn tại bệnh viện Saint Paul trên đường Phan Thanh Giản. Biết được tin đó, học sinh sinh viên vì phẫn uất trong tù đày khi tham gia đấu tranh cho sự công bằng tôn giáo, nên dự định đánh cắp quan tài của hai ông. Tin tức này đến tai bà Dung, Bà vội vả xin Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng chuyển trở vào Bộ Tổng Tham Mưu. Sau cùng, hai quan tài được an táng tạm trong khuôn viên trại Trần Hưng Đạo, cạnh chùa An Quốc.
    Lễ an táng vị nguyên thủ quốc gia và vị cố vấn của ông ngay sau khi bị lật đổ, thật là thê thảm! Phải cử hành lúc nửa đêm để tránh những đụng chạm xô xát với học sinh sinh viên. Trong bóng đêm mù mịt, dưới ánh đèn pha loại nhỏ, ánh sáng chỉ đủ cho công việc hạ huyệt hai quan tài. Có mặt lúc đó, gồm vị linh mục người Pháp, ông bà Trần Trung Dung (một thời là Bộ Trưởng Phụ Tá Quốc Phòng dưới quyền Tổng Thống Diệm), Trung Tá Nguyễn Văn Luông (trưởng ban mai táng), tôi, và một số quân nhân của Tổng Hành Dinh/Tổng Tham Mưu phụ trách an táng. Xong, một biên bản được thiết lập, và toàn bộ hồ sơ được ghép thành một tập dày cùng với hình ảnh từ lúc tẩn liệm đến khi hoàn thành hai ngôi mộ. Hai ngôi mộ thật bình thường. Tôi có giữ một hồ sơ này, nhưng cuối cùng cũng phải thiêu hủy sau ngày chế độ tự do Việt Nam Cộng Hòa chúng ta sụp đổ 30/04/1975.
    Chánh phủ Nguyễn Ngọc Thơ được Trung Tướng Dương Văn Minh, với tư cách Chủ Tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng, chức năng Quốc Trưởng tấn phong, trong khi nhiều nhân vật từng được ông Diệm và ông Nhu tin cẩn bị bắt giữ. Ông Nguyễn Ngọc Thơ, trong ngành hành chánh, là Đốc Phủ Sứ thời Pháp cai trị, nguyên là Phó Tổng Thống của Tổng Thống Diệm, nhưng ông được mời thành lập chánh phủ có lẽ nhờ vào thành tích khôi phục nền kinh tế trong những năm trước đó, với lại ông cũng chưa bị tai tiếng gì trong dư luận. Tân chánh phủ có màu sắc dân sự dù là có vài vị Tướng Lãnh nắm giữ Bộ Quốc Phòng và Bộ An Ninh (tức Bộ Nội Vụ cũ), nhưng thực chất lãnh đạo quốc gia vẫn là Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng mà Trung Tướng Minh là Chủ Tịch, hành sử chức năng Quốc Trưởng.
    Những ngày tiếp theo, các chính khách vẫn ra vào Bộ Tổng Tham Mưu tuy không nhộn nhịp như những ngày đầu, nhưng tòa nhà chánh lúc nào cũng có khách dân sự -nói chung- vào gặp Trung Tướng Minh hoặc Trung Tướng Khiêm.

    Chiều ngày 03/11/1963, Đại Tá Đặng Văn Quang, sau khi được điều chỉnh từ Đại Tá tạm thời thành Đại Tá thực thụ, ông nói với Trung Tướng Khiêm:

    “Trung Tướng lo thăng cấp cho nhiều người mà Trung Tướng quên thằng Hoa và nhân viên văn phòng. Tụi nó thức với Trung Tướng hai ngày nay, mà chánh văn phòng của Trung Tướng là cực nhất đó”.
    “Đúng là tôi không nhớ. Chú Hoa, chú và mấy chú trong văn phòng mỗi chú được thăng 1 cấp. Chú bảo Phòng Tổng Quản Trị làm xong Nghị Định đưa vào tôi trình Trung Tướng Minh duyệt ký”.


    Thế là tôi được thăng cấp Thiếu Tá từ hôm đó.

    Các chức vụ quan trọng tại trung ương ngay sau cuộc đảo chánh thành công, như sau:

    Trung Tướng Dương Văn Minh, Chủ Tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng, tức Quốc Trưởng.

    Trung Tướng Trần Văn Đôn, Tổng Trưởng Quốc Phòng kiêm Tổng Tham Mưu Trưởng.

    Trung Tướng Trần Thiện Khiêm, vẫn Tham Mưu Trưởng Liên Quân.

    Trung Tướng Tôn Thất Đính, Tổng Trưởng Bộ An Ninh kiêm Tư Lệnh Quân Đoàn III/Vùng III Chiến Thuật.

    Các chức vụ quan trọng tại địa phương, như sau:
    Trung Tướng Đỗ Cao Trí, từ Đà Nẳng lên Plei Ku nhận chức Tư Lệnh Quân Đoàn II/Vùng II Chiến Thuật , hoán chuyển với Trung Tướng Nguyễn Khánh.
    Trung Tướng Nguyễn Khánh, từ Plei Ku xuống Đà Nẳng nhận chức Tư Lệnh Quân Đoàn I/Vùng I Chiến Thuật, hoán chuyển với Trung Tướng Trí.
    Trong khi cuộc đảo chánh chưa phân thắng bại, Thiếu Tướng Khánh chần chừ trong quyết định ủng hộ bên nào, đến gần sáng 02/11/1963 mới lên tiếng ủng hộ Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng, và khi thành công ông cũng được thăng cấp Trung Tướng.
    Thiếu Tướng Bùi Hữu Nhơn, Tư Lệnh Quân Đoàn IV/Vùng IV Chiến Thuật. Đại Tá Nhơn nhận chức Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh từ trung tuần tháng 12/1962 do Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm bàn giao lại, và chuyển Sư Đoàn từ Cần Thơ xuống Bạc Liêu. Đảo chánh thành công, Đại Tá Nhơn được thăng cấp Thiếu Tướng và nhận chức Tư Lệnh Quân Đoàn IV thay Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao bị cách chức.
    Các chức vụ Tư Lệnh Hải Quân (Đại Tá Hồ Tấn Quyền), Tư Lệnh Không Quân (Đại Tá Huỳnh Hữu Hiền), Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh (Đại Tá Bùi Đình Đạm), Tư Lệnh Sư Đoàn 9 Bộ Binh (Đại Tá Bùi Dzinh), Tư Lệnh Lữ Đoàn Nhẩy Dù (Đại Tá Cao Văn Viên), Tư Lệnh Lữ Đoàn Thủy Quân Lục Chiến (Đại Tá Lê Nguyên Khang), Chỉ Huy Trưởng Sở Khai Thác Địa Hình (Đại Tá Lê Quang Tung, bị giết trong ngày đảo chánh), ..... và Trưởng Phòng Nhì Bộ Tổng Tham Mưu (Đại Tá Nguyễn Văn Phước), đều bị thay thế. Riêng Đại Tá Cao Văn Viên, chỉ vài ngày sau được trở lại chức vụ Tư Lệnh Lữ Đoàn Nhẩy Dù.
    Ngày 08/11/1963, tôi chuyển lệnh của Trung Tướng Trần Thiện Khiêm sang Bộ Tư Lệnh Không Quân, cấp 1 chiếc trực thăng lên Gò Dầu Hạ (tỉnh Tây Ninh) đón Đại Tá Nguyễn Chánh Thi về Sài Gòn. Trực thăng về đáp ngay trong khuôn viên Bộ Tổng Tham Mưu. Tôi dùng xe của Trung Tướng Khiêm ra đón Đại Tá Thi và đưa vào phòng Trung Tướng Khiêm. Hai vị, sau cái bắt tay đã ôm nhau với nụ cười ròn rã. Nhưng liệu đằng sau hai nụ cười đó có phải xuất phát từ tình cảm chân thành hay chỉ là đầu môi? Bởi vì 3 năm trước đây, một vị lãnh đạo cuộc đảo chánh (Đại Tá Thi) và một vị chỉ huy đánh dẹp cuộc đảo chánh đó (Trung Tướng Khiêm), giờ đây lại gặp nhau, bắt tay nhau, cùng nhau cười, nhưng cười vui hay cười gượng!
    Chính trị, theo tôi, là một loại ngôn ngữ và hành động mà mỗi người hiểu theo cách riêng của mình tùy theo bối cảnh chung, sự kiện riêng, thời gian và không gian của nó. Nói như vậy, hành động như vậy, nhưng không nhất thiết là như vậy. Phải chăng, Trung Tướng Khiêm và Đại Tá Thi đang là như vậy?
    Cũng theo tôi, Tổng Thống Ngô Đình Diệm là vị lãnh đạo có bản lãnh chính trị. Ông là người thấy trước sự suy yếu trên chính trường quốc tế của Việt Nam Cộng Hòa nếu như chấp thuận cho Hoa Kỳ thiết lập các căn cứ quân sự trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa, và như vậy cuộc chiến tranh chống cộng sản sẽ mất thế chính trị, trong khi thế chính trị rất là quan trọng nếu không nói là có tính cách quyết định đối với cuộc chiến mà Việt Nam Cộng Hòa đang lâm trận (và điều này đã thật sự xảy ra). Nhưng rất có thể cũng vì ông có tầm nhìn xa như vậy mà ông đã bị lật đổ và bị giết chết? Vì thế mà cái chết của ông vẫn còn là một nghi vấn về người ra lệnh giết ông. Nhất thiết người đó phải là người Việt Nam có thẩm quyền lúc bấy giờ, nhưng liệu có phải chính người ấy tự mình quyết định hay người ấy cũng chỉ là người thi hành lệnh của ai đó đằng sau nữa? Nghi vấn cao nhất của tôi về người duy nhất ra lệnh giết Tổng Thống Diệm ông Nhu vẫn là cựu Đại Tướng Dương Văn Minh. Giả thuyết rằng, nếu Đại Tướng Minh tự nhận ra lệnh cho Đại Úy Nhung giết ông Diệm, điều đó đúng hay sai tốt hay xấu còn tùy thuộc nhiều yếu tố mà những sử gia sẽ dẫn đến sự phán xét sau này, nhưng nếu Đại Tướng Minh cho là ông thi hành lệnh của Hoa Kỳ chẳng hạn, chúng ta có thể phán xét ngay bây giờ chớ không cần chờ đợi sự phán xét sau này của lịch sử. Nhưng năm 2003, cựu Đại Tướng Dương Văn Minh đã từ trần, xin để ông yên nghỉ!
    Mặt khác, Tổng Thống Ngô Đình Diệm, trong hơn 9 năm cầm quyền, vừa chiến đấu chống du kích cộng sản, vừa xây dựng được nền kinh tế non trẻ bước đầu, và năm 1962 đã cân bằng được ngân sách quốc gia. Tổng Thống cũng là người lãnh đạo trong sạch, nhưng ông phải chịu trách nhiệm về mọi tác hại do anh em ông gây ra cho dân tộc, bởi vì ông là Tổng Thống, ông đã không ngăn chận, hoặc ông không đủ can đảm ngăn chận hành động của anh em ông, hoặc là ông xem thường thái độ chính trị của đồng bào dưới quyền ông nên để mặc anh em của ông thao túng!
    Phải chăng ưu điểm của Tổng Thống Ngô Đình Diệm dù có nhiều, nhưng không bù được khuyết điểm của ông, vì khuyết điểm từ trong trách nhiệm của ông mới thật là cốt lõi của lãnh đạo!
    Khi thăm đơn vị quân đội, Tổng Thống Ngô Đình Diệm thường nhắc nhở người lính "chiến thắng ở mặt trận nhưng không nên tỏ ra kiêu căng ở hậu phương, vì như vậy là kiêu binh, mà kiêu binh thì mất lòng dân, mất lòng dân thì không thắng được cộng sản trong cuộc chiến tranh toàn diện này".
    Vậy, có phải là Tổng Thống đã vấp phải điều mà ông răn dạy quân đội không?
    Nhưng dù sao thì cái chết của Tổng Thống Ngô Đình Diệm -và chỉ riêng Tổng Thống Ngô Đình Diệm thôi- tôi nghĩ, đã để lại nhiều luyến tiếc, thương cảm, thậm chí là ngưỡng mộ, trong các thành phần xã hội, kể cả quân nhân các cấp trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

    (hết phần 1)

  6. The Following 2 Users Say Thank You to chimtroi For This Useful Post:

    hieunguyen11 (12-25-2011),muahong (12-30-2011)

  7. #4
    hohai22's Avatar
    Status : hohai22 v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Jan 2009
    Posts: 17
    Thanks: 17
    Thanked 5 Times in 1 Post

    Default

    Nước VN từ năm 1945-1975 có hai người tên Minh mang đại hoạ đến cho dân tộc : HCMinh và Dương văn Minh . Coi bộ cái tên "Minh" này đáng sợ ghê .
    KQVN may mắn có vị Tư Lệnh tên Minh rất hào hoa phong nhã . Nhưng xem ra có lẽ ta nên e dè với ai mang tên "Minh" và điều này không có nghĩa là ta quơ đũa cả nắm vì có người tốt người xấu tuỳ theo nhận xét và cách nghỉ cũa từng người .

  8. #5
    Moderator
    chimtroi's Avatar
    Status : chimtroi v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Dec 2007
    Posts: 1,134
    Thanks: 192
    Thanked 998 Times in 334 Posts

    Default Đảo Chánh ngày 30 tháng 1 năm 1964



    - hai -
    Đảo Chánh ngày 30 tháng 1 năm 1964


    *****


    Công du Nam Hàn (South Korea)

    Đầu tháng 12/1963, Trung Tướng Trần Thiện Khiêm gọi tôi vào văn phòng:

    “Chú thích đi du lịch không?”
    “Rất thích, nhưng chưa có cơ hội thưa Trung Tướng”.
    “Bây giờ có rồi. Chú liên lạc sang văn phòng Trung Tướng Đôn (Trần Văn Đôn, Tổng Trưởng Quốc Phòng) làm thủ tục đi Đại Hàn (South Korea) với tôi”.


    Không ngờ là cơ hội tốt đến với tôi trong hoàn cảnh đang vui, nên tôi xúc tiến ngay. Sau đó, tôi mới biết đây là phái đoàn thay mặt chánh phủ sang Đại Hàn (Nam Triều Tiên) dự lễ nhậm chức của Tổng Thống Pak Chung Hi vào ngày 17 tháng 12 năm 1963 tại thủ đô Seoul. Phái đoàn chánh thức gồm: (1) Ông Phạm Đăng Lâm, Tổng Trưởng Ngoại Giao, Trưởng phái đoàn. (2) Trung Tướng Trần Thiện Khiêm, Tham Mưu Trưởng Liên Quân, thành viên. (3) Thiếu Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh, thành viên. (4) Đại Tá Linh Quang Viên, Bộ Quốc Phòng, thành viên. (5) Và tôi, Thiếu Tá Phạm Bá Hoa, Chánh Văn Phòng Tham Mưu Trưởng Liên Quân, thành viên.

    Ngoài ra còn có gia đình của Trung Tướng Khiêm và gia đình của Thiếu Tướng Thiệu, thêm Đại Úy Nguyễn Hữu Có, sĩ quan tùy viên của Trung Tướng Khiêm, và Đại Úy Nhan Văn Thiệt, sĩ quan tùy viên của Thiếu Tướng Thiệu.
    Trong nhóm đi đầu là Đại Tá Linh Quang Viên, và tôi. Chúng tôi rời Sài Gòn ngày 08/12/1963, dừng lại Tokyo 5 ngày chuẩn bị nơi ăn chốn ở cho hai gia đình của Trung Tướng Khiêm và Thiếu Tướng Thiệu, sẽ ngoạn cảnh và mua sắm trong khi chờ các vị dự lễ bên Seoul trở lại. Chúng tôi đến Seoul trưa ngày 13/12/1963 khi nhiệt độ nơi đây xuống đến 5 độ dưới không độ C. Tạm thời chúng tôi ở khách sạn Bando tại trung tâm thủ đô Seoul. Với sự giúp đỡ của tòa đại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại đây, chúng tôi hoàn thành công tác chuẩn bị: Đại Tá Viên đã xong bản tường trình về tình hình chính trị trước và sau ngày bầu cử Tổng Thống Đại Hàn. Và tôi đã có đầy đủ tin tức cũng như chương trình chi tiết trong ngày lễ, cùng những ngày sau đó dành cho phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa.
    Cũng qua những buổi thuyết trình ngắn của tòa đại sứ, chúng tôi hiểu thêm đôi nét về cựu Tổng Thống Lý Thừa Vãng trong thời gian lãnh đạo quốc gia này. Theo đó, nếu so với bà Ngô Đình Nhu nặng về chính trị, thì hoạt động của bà Lý Thừa Vãng nghiêng về kinh tế, và khách sạn Bando là một trong rất nhiều cơ sở kinh doanh của đệ nhất phu nhân họ Lý. Khi ông Lý Thừa Vãng lưu vong, Đại Tướng Pak Chung Hi nhân danh quân đội lên cầm quyền. Ông có vị Cố Vấn phảng phất ông Ngô Đình Nhu lúc đương thời, đó là ông Kim Jong Pil. Vì vậy mà khi Đại Tướng Pak Chung Hi chánh thức tuyên bố ứng cử Tổng Thống, ông Cố Vấn của Đại Tướng Pak Chung Hi đã theo khuyến cáo của Hoa Kỳ, xuất ngoại để trấn an dư luận như là ông không dính dáng đến chính trị, nhưng thật ra ông đã chuẩn bị xong công tác tổ chức bầu cử trước khi xuất ngoại. Sau đó, cuộc bầu cử đã diễn tiến như dự định và Đại Tướng Pak Chung Hi đắc cử. Ông Kim Jong Pil lại trở về Seoul, vẫn trong chức vụ Cố Vấn.
    Phần chánh của phái đoàn đến phi trường Kimpo, thủ đô Seoul, trưa ngày 17/12/1963, tức là ngày Đại Hàn cử hành lễ nhậm chức Tổng Thống của Đại Tướng Pak Chung Hi. Cả phái đoàn đầy đủ được hướng dẫn lên khu Walker Hill cách Seoul khoảng 8 cây số về phía bắc, một khu thắng cảnh rất đẹp của Đại Hàn, chỉ dành cho khách ngoại quốc để thu ngoại tệ. Cả một vùng rừng núi được biến thành khu du lịch với những khách sạn, nhà hàng, các khu giải trí với nhiều môn khác nhau, xây dựng bên các sườn núi mà hầu hết là nhìn xuống sông Hàn (Han river) uốn khúc dưới chân. Vào mùa này, nước sông Hàn đóng băng trắng xóa, trông rất đẹp.
    Đến nơi, vừa mang hành lý vào phòng là Trung Tướng Khiêm gọi tôi:

    “Mấy giờ bắt đầu lễ vậy chú?”

    “Dạ 3 giờ chiều, thưa Trung Tướng”.

    Ông nhìn đồng hồ:

    “Ngay bây giờ, chú chạy đi tìm mua cho tôi "cặp lon 3 sao", vì trong cặp tôi chỉ có "3 sao" cho một bên áo thôi”.
    “Vâng”.
    Chẳng hiểu Đại Úy Nguyễn Hữu Có ở Tokyo, khi chuẩn bị hành lý cho "sếp" lại gấp gáp thế nào mà chiếc áo đại lễ của Trung Tướng Khiêm chỉ có một bên 3 ngôi sao, nghĩa là thiếu 3 ngôi sao cho cầu vai bên kia (cấp hiệu Trung Tướng biểu hiện bằng 3 ngôi sao mỗi bên cầu vai).
    Nhận lệnh của Trung Tướng Khiêm là như vậy, nhưng tôi chưa biết phải làm sao mua cho kịp. Chợt nhớ anh sĩ quan Công Binh tại Bộ Quốc Phòng Đại Hàn, Thiếu Tá Choi, sĩ quan tùy viên cho phái đoàn chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa và anh ta trình diện Đại Tá Linh Quang Viên tại sân bay trước khi phái đoàn chánh thức đến. Ra phòng khách, tôi nói với anh về nhu cầu gấp rút đó và hy vọng anh ta giúp tôi được.

    Anh ta hỏi: “Anh sẳn sàng chưa?”

    “Sẳn sàng”.

    Thế là chúng tôi lên xe của phái đoàn có cắm cờ Việt Nam Cộng Hòa và cờ Đại Hàn, do xe Cảnh Sát của Đại Hàn dẫn đường chạy xuống Seoul. Quanh co một lúc, cả hai xe đậu ngoài đường cái, tôi theo Thiếu Tá Choi trên con đường hẽm vào gian hàng nhỏ ơi là nhỏ nằm sâu trong con đường thưa vắng người qua lại. Mua ngay "cặp lon 3 sao" mà không cần trả giá. Chúng tôi về đến Walker Hill vừa vặn cùng phái đoàn lên xe xuống Seoul dự lễ.
    Seoul chiều ngày 17 tháng 12 năm 1963, đang trong thời tiết 5 độ dưới không độ C. Bầu trời u ám bao trùm thủ đô, một thành phố toàn cây trụi lá giữa mùa đông xám xịt. Quan khách của 25 quốc gia và viên chức của quốc gia sở tại, ngồi chật cả khán đài không mái che ngay trước tòa nhà Quốc Hội. Lễ nhậm chức của Tổng Thống Pak Chung Hi cử hành đúng 3 giờ chiều trong một không khí không được trang nghiêm khả dĩ tương xứng cho buổi lễ quan trọng này. Một phần vì thời tiết quá lạnh, một phần do dân chúng tham dự không nhiều, và phần khác là có một số người tập trung bên kia đường hô hào chống đối một cách lạc lỏng, họ cáo buộc cuộc bầu cử vừa rồi là gian lận. Cảnh Sát chỉ đứng sát lòng đường để giữ trật tự mà không có hành động nào với nhóm người biểu tình.
    Ngay sau lễ, các phái đoàn được hướng dẫn đến nhà hát xem trình diễn văn nghệ cổ truyền của Đại Hàn. Rồi buổi dạ tiệc trọng thể, tổ chức trong khuôn viên dinh Tổng Thống mừng ngày trọng đại của Đại Hàn Dân Quốc, khoản đãi các phái đoàn đại diện 25 quốc gia. Đại Hàn Dân Quốc là tên gọi của quốc gia phía nam của Triều Tiên theo chế độ dân chủ tự do, trong khi quốc gia phía bắc theo chế độ cộng sản độc tài, ranh giới giữa hai quốc gia này là vĩ tuyến 38. Khi chiến tranh thế giới lần thứ hai chấm dứt (năm 1945), cũng là lúc ba quốc gia trên thế giới bị chia đôi: Đó là Đức Quốc chia làm hai quốc gia theo chiều Đông Tây, Triều Tiên và Việt Nam chúng ta chia làm bốn quốc gia theo chiều Nam Bắc.
    Riêng hoàn cảnh chính trị của Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) có khác so với Việt Nam Cộng Hòa và Đại Hàn Dân Quốc về địa lý, nhưng hoàn cảnh chính trị là cùng chống chiến tranh ý thức hệ cộng sản, có lẽ vì vậy mà những ngày sau đó, phải thừa nhận là chánh phủ Đại Hàn đã dành cho phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa chúng ta và phái đoàn Trung Hoa Dân Quốc, sự đón tiếp rất nồng hậu gần như riêng biệt trong số 25 phái đoàn quốc tế tham dự. Tổng Thống Đại Hàn -theo lời của Bộ Ngoại Giao Đại Hàn- chỉ tiếp phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa và phái đoàn Trung Hoa Dân Quốc. Khi tiếp phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa, Tổng Thống Pak Chung Hi nói tiếng Đại Hàn và ông Tổng Trưởng Ngoại Giao Việt Nam Cộng Hòa nói tiếng Pháp. Tôi rất ngạc nhiên về điều này, vì theo thông thường ông phải nói tiếng Việt Nam. Thông dịch buổi tiếp kiến là hai thanh niên Đại Hàn, một nam một nữ.
    Quốc gia thứ 3 có hoàn cảnh chính trị giống nhau là Cộng Hòa Liên Bang Đức, nhưng có thể do địa lý và văn hoá mà phái đoàn Cộng Hòa Liên Bang Đức không nằm trong chương trình riêng biệt nói trên chăng, mặc dù phái đoàn này cũng có mặt trong lễ nhậm chức?
    Trước khi rời Seoul, mỗi thành viên trong phái đoàn chúng ta được chánh phủ Đại Hàn tặng 2 thùng trái cây tươi (bôm và nho) do Đại Hàn sản xuất bước đầu về kỹ nghệ trong nông nghiệp. Đây là chính sách quan trọng trong sách lược quốc gia của Đại Hàn Dân Quốc -theo lời ông Đại Sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Đại Hàn- từ sau cuộc chiến tranh 1950-1953.
    Trở lại Tokyo ngày 20/12/1963. Đêm 24/12/1963, phái đoàn được ông Đại Sứ Việt Nam Cộng Hòa và phu nhân tại Nhật Bản, khoản đãi phái đoàn tại nhà riêng. Trong khi trò chuyện, bỗng mọi thứ trong nhà đều rung chuyển nhè nhẹ, ly tách chén dĩa lắc lư kêu leng keng trong vài chục giây đồng hồ. Ông Đại Sứ Nghĩa (xin lỗi là tôi không nhớ họ) nhìn thấy nét ngạc nhiên của phái đoàn nên ông lên tiếng trấn an:

    “Khu vực chúng ta đang ngồi vừa bị động đất nhẹ nên không hư hại gì. Mời quí vị xem tivi sẽ rõ”.
    Đây là lần đầu tiên trong đời, tôi cảm nhận được đôi chút về động đất.
    Ngày 25/12/1963, tôi với Đại Úy Nhan Văn Thiệt -tùy viên của Thiếu Tướng Thiệu- rời Tokyo trở về Sài Gòn vì hết tiền. Ông Phạm Đăng Lâm, Tổng Trưởng Ngoại Giao, cũng rời Tokyo ngày ấy, nhưng ông chưa về Việt Nam mà còn đi thăm quốc gia nào đó.

    Trung Tướng Khiêm nhận chức vụ mới.
    Về đến Sài Gòn là tôi vào văn phòng ngay, vì chánh văn phòng Tổng Tham Mưu Trưởng gọi tôi vào gặp Trung Tướng Trần Văn Đôn dù hôm nay là ngày nghỉ.

    “Thưa Trung Tướng, tôi vừa về đến”.

    “Anh ngồi đi. Công du có vui không?”

    “Rất vui, thưa Trung Tướng”.

    “Anh có hay tin về chức vụ mới của Trung Tướng Khiêm chưa?”

    “Dạ chưa, thưa Trung Tướng”

    “Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng đã cử Trung Tướng Khiêm giữ chức Tư Lệnh Quân Đoàn III/Vùng III Chiến Thuật rồi”.

    “Thưa Trung Tướng, trường hợp này hồ sơ Trung Tướng Khiêm bàn giao cho vị nào để tôi chuẩn bị cho kịp?”

    “Trung Tướng Khiêm bàn giao cho Trung Tướng Kim (Lê Văn Kim). Anh chuẩn bị cần thiết để Trung Tướng Khiêm khi về đến là bàn giao ngay và sang nhận Quân Đoàn III”.

    “Lệnh này Trung Tướng Khiêm có biết chưa, thưa Trung Tướng?”

    “Tôi chắc là chưa, nhưng dù sao thì anh cũng nên trình với Trung Tướng Khiêm khi anh đón ổng. Mà hôm nào Trung Tướng Khiêm về?

    “Rạng sáng ngày 1 tháng 1 (1964) về đến, thưa Trung Tướng”.

    “Anh liên lạc với chánh văn phòng Trung Tướng Kim và chánh văn phòng Trung Tướng Đính để thu xếp chương trình lễ bàn giao. Mọi việc đều diễn tiến trong phạm vi nội bộ thôi. Anh có điều gì cần hỏi nữa không?”

    “Dạ không. Tôi sẽ thi hành, thưa Trung Tướng”.

    Tôi rất thắc mắc là tại sao không chờ Trung Tướng Khiêm về hãy đưa ra quyết định này. Phải chăng Trung Tướng Dương Văn Minh cử Trung Tướng Trần Thiện Khiêm vào phái đoàn công du ngoại quốc để các vị ở nhà không gặp trở ngại khi quyết định như vậy? Trung Tướng Khiêm có nói với tôi rằng, ông là một trong rất ít vị (nếu tôi nhớ không lầm là 4 vị) vị lãnh đạo cuộc đảo chánh ngày 01/11/1963), với lại chỉ riêng những lệnh tối mật mà Trung Tướng Khiêm chỉ thị cho tôi vào sáng sớm ngày đảo chánh, cũng đủ nói lên vị trí quan trọng của ông đến mức nào trong cuộc đảo chánh đó. Sao lại xử sự như vậy? Bởi đây là một cách mà trong giới cầm quyền thường nửa đùa nửa thật là "hạ tầng công tác". Dù đúng hay không đúng thì rõ ràng là từ chức vụ Tham Mưu Trưởng Liên Quân tại Bộ Tổng Tham Mưu đến chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn, nhìn từ bên ngoài là xuống một bậc rồi còn gì!
    Tôi chuẩn bị bàn giao, kể cả xin lệnh thuyên chuyển 6 nhân viên văn phòng sang Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III, đồn trú trong khuôn viên trại Lê văn Duyệt, tọa lạc đường Lê văn Duyệt, Quận 3 Sài Gòn (về sau là bản doanh Bộ Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô).
    Tuy Trung Tướng Khiêm đã dặn tôi và nhắc lại một lần trước khi tôi rời Tokyo ngày 25/12/1963, khi ông và gia đình về đến Tân Sơn Nhất, chỉ một mình tôi cùng mấy nhân viên trong tư dinh đón mà thôi, vì ông cho rằng đây chẳng qua là chuyện gia đình chớ không phải là phái đoàn công du trở về. Chính vì vậy mà ông chọn chuyến phi cơ về đến thủ đô khi Sài Gòn còn chìm trong giấc ngủ.
    Đúng 3 giờ sáng ngày 01/01/1964, Trung Tướng Khiêm, Thiếu Tướng Thiệu và hai gia đình về đến. Phi cơ dừng hẳn lại. Tắt máy. Tôi ra tận cầu thang đón ông. Chỉ vài bước rời khỏi cầu thang:

    “Xin Trung Tướng đi chậm một chút vì tôi có nhận lệnh của Trung Tướng Đôn, thưa Trung Tướng”.

    “Chuyện gì vậy?”

    “Trung Tướng có được tin gì về lệnh cử Trung Tướng giữ chức Tư Lệnh Quân Đoàn III chưa?”

    “Chưa. Mà ai nói với chú vậy?”

    “Dạ, Trung Tướng Đôn”.

    “Ổng nói với chú hồi nào?”

    “Dạ ngay khi tôi về đến Sài Gòn. Và Trung Tướng Đôn có nói là công tác bàn giao sau khi Trung Tướng về đến. Tôi đã chuẩn bị hồ sơ bàn giao xong rồi thưa Trung Tướng”.

    Trung Tướng Khiêm đứng hẳn lại và im lặng một lúc:

    “Ổng có nói gì nữa không?”

    “Dạ không”.

    “Sáng mai tôi gặp mấy ổng”.

    Trung Tướng Khiêm nhìn vào nhà ga bên khu vực dành riêng cho các nhân vật quan trọng:

    “Ai đón mà đông vậy?”

    “Dạ các vị Trưởng Phòng/Tổng Tham Mưu. Tôi xin lỗi Trung Tướng, vì các vị ấy nói quá nên tôi không thể nói dối ngày giờ Trung Tướng về. Với lại tôi nghĩ là không nên cứng nhắc quá với các vị "tay phải tay trái" của Trung Tướng, e không có lợi”.

    Đi được mấy bước, bà Khiêm quay lại:

    “Chú Hoa. Bộ có chuyện hả?”
    Tôi thuật tóm tắt cho bà Khiêm nghe, bà có ý trách:

    “Sao mấy ổng kỳ vậy?”

    “Tôi cho là điều không bình thường, dù rằng Trung Tướng Đính cần giảm bớt chức vụ Tư Lệnh Đoàn III để chu toàn chức vụ Tổng Trưởng An Ninh”.

    “Chú biết ai thay "nhà tôi" không?”

    “Dạ Trung Tướng Kim”.

    Bà Khiêm buột miệng: “Họ hàng với ông Đôn rồi”.

    Sáng ngày 02/01/1964, Trung Tướng Khiêm từ phòng Trung Tướng Đôn trở về, ông gọi tôi:

    “Chú tổ chức bàn giao chức vụ Tham Mưu Trưởng Liên Quân với chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn III ngay chiều nay. Không có ai chủ tọa hết”.

    Lời nói và giọng nói của ông cho phép tôi suy đoán là ông đang tức giận.

    “Vâng. Tôi thi hành ngay thưa Trung Tướng”.
    Ngay chiều hôm ấy, Trung Tướng Khiêm bàn giao cho Trung Tướng Lê Văn Kim tại Bộ Tổng Tham Mưu, sau đó sang Quân Đoàn III nhận quân kỳ tiêu biểu chức vụ Tư Lệnh từ tay Trung Tướng Tôn Thất Đính. Cả hai lễ bàn giao đều tổ chức trong văn phòng mỗi nơi một cách nhanh chóng.
    Từ ngày Trung Tướng Trần Văn Đôn nhận chức Tổng Trưởng Quốc Phòng kiêm Tổng Tham Mưu Trưởng (02/11/1963), giờ làm việc trong quân đội được ấn định từ 8 giờ sáng đến 4 giờ chiều, được nghỉ nửa giờ để ăn trưa tại chỗ, nhưng tại văn phòng chúng tôi thông thường là phải đến 6 giờ chiều mới ra về.
    Trung Tướng Khiêm khá xông xáo trong công tác đi thăm các đơn vị, các tiểu khu trực thuộc, nhưng theo cách nhìn của tôi thì ông không bộc lộ hết nhiệt tình như lúc giữ chức Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh. Xin đừng nghĩ rằng, nét nhìn của tôi bị ám ảnh bởi quyết định từ chức vụ Tham Mưu Trưởng Liên Quân/Bộ Tổng Tham Mưu đến Tư Lệnh Quân Đoàn III của Trung Tướng Khiêm mà có, vì tôi là sĩ quan tham mưu đặc biệt dưới quyền trực tiếp của Trung Tướng Khiêm từ năm 1960, nên tôi khá quen với thái độ cũng như cử chỉ của ông trong những lúc vui buồn, suy tư, hay tức giận.
    Khoảng từ trung tuần tháng 01/1964, tức là nửa tháng sau ngày nhận chức Tư Lệnh Quân Đoàn III, Trung Tướng Khiêm (tại Sài Gòn) với Trung Tướng Nguyễn Khánh (tại Đà Nẳng), rất thường liên lạc nhau qua điện thoại viễn liên, và rõ ràng là Trung Tướng Khánh khích Trung Tướng Khiêm trong việc phục hồi danh dự vì bị thuyên chuyển mà không được biết trước.
    Trung Tướng Khiêm là người ít nói, không thích tiếp xúc với các cơ quan truyền thông, cũng chẳng thích phô trương, và con đường chính trị -theo tôi- cũng không phải là hướng đi của ông, nên tôi không nghĩ là ông dễ dàng bị Trung Tướng Khánh dẫn đến một cuộc chính biến nữa để gọi là phục hồi danh dự cho ông, đành rằng ông đang buồn phiền và chắc là buồn phiền về vấn đề ấy.

    Chỉnh Lý (Đảo Chánh).

    Nhưng tôi lầm, vì cuộc đảo chánh quân sự lại xảy ra khá đột ngột.
    Ngày gần cuối tháng 01/1964, Trung Tướng Khánh từ Đà Nẳng điện thoại bảo tôi cho xe đón ông trong căn cứ Không Quân Tân Sơn Nhất (thường thì đón ông bên nhà ga dân sự) và tuyệt đối không cho ai biết là ông về Sài Gòn. Tôi trình Trung Tướng Khiêm và dùng xe của Trung Tướng Khiêm đi đón Trung Tướng Khánh. Lúc ấy đã hết giờ làm việc trong ngày. Sau đó, hai vị cùng ngồi chung xe đi đâu đó mà tôi không rõ vì xe an ninh không được chạy theo như lệ thường. Điều này làm cho tôi tự hỏi:

    "Liệu có cuộc đảo chánh nữa hay không, vì sự vắng mặt bất thường này giống như những ngày cuối tháng 10/1963 vậy?"

    Mờ tối ngày 29/01/1964, sau khi từ bộ tư lệnh Quân Đoàn III về đến nhà, Trung Tướng Khiêm gọi tôi đến nhà ông ngay. Vào cửa, tôi thấy bàn ăn đã sẳn sàng nhưng gia đình ông chưa người nào ngồi vào bàn, ông chỉ tôi ngồi đối diện ông ngay trong phòng khách, và ông ra lệnh:

    “Việc này đối với chú là lần thứ hai. Tôi muốn nói là chú biết việc gì phải làm. Chú mà hé môi với bất cứ ai trước khi thực hiện thì chú bị đứt đầu nghe chưa”.

    “Vâng”.

    Trong một thoáng thật nhanh tôi liên tưởng đến sự đi đâu đó của hai vị giống như trước ngày 01 thàng 11 năm ngoái (1963). "Đảo chánh nữa chăng, vì Trung Tướng Khiêm vừa nói đây là lần thứ hai?" Ông tiếp:

    “Vào sáng sớm mai, tôi + Trung Tướng Khánh + và Đại Tá Viên (Cao Văn), lật đổ nhóm ông Minh ông Đôn, vì các ông này có kế hoạch đưa Việt Nam đến trung lập, mà trung lập thì sớm muộn cũng vào tay cộng sản. Chú rõ chưa?”

    “Dạ rõ”.

    “Sau giờ này, chú điều động xe truyền tin hành quân của Quân Đoàn về đậu sau nhà chú. Nhà chú có chỗ kín đáo hông?”

    “Dạ có. Sau nhà tôi là vườn chuối, tôi đốn bớt vài cây cho xe vào và sẽ thực hiện khi trời tối. Bên trái nhà tôi là Thiếu Tá Đào Ngọc Thọ (phòng 4/Bộ Tổng Tham Mưu), và bên phải là gia đình Thiếu Tướng Thiệu (Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh). Mình ở Quân Đoàn, hệ thống liên lạc hành quân là chuyện bình thường, chắc chẳng ai quan tâm đâu, thưa Trung Tướng”.

    “Đích thân chú phải lên máy liên lạc trực tiếp với Thiếu Tướng Thiệu (ở Biên Hòa) và Thiếu Tướng Có (Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh ở Mỹ Tho). Làm như vậy để biết chắc là mình giữ liên lạc được với hai ổng thôi, và khi liên lạc được rồi chú phải giữ máy thường trực cho tôi. Công tác này phải xong trước 2 giờ sáng. Nếu có gì trở ngại, chú trình tôi ngay. Chú rõ chưa?”

    “Dạ rõ”.

    “Chú gọi chú Có sang ngủ nhà chú đêm nay. Chú Có không được quyền biết trước công tác này. Chú với chú Có đem xe truyền tin đến sân nhà Trung Tướng Khánh (sát bên phải cổng số 1 Tổng Tham Mưu) trước 3 giờ sáng, nhưng không nên sớm quá. Đúng 3 giờ sáng, Đại Tá Viên và Tiểu Đoàn Dù vào cổng số 1. Chú đón tại cổng, mời Đại Tá Viên vào nhà ông Khánh, và hướng dẫn Tiểu Đoàn lên bố trí chung quanh tòa nhà chánh. Phần an ninh trại Trần hưng Đạo, chú với Trung Tá Luông tổ chức như lần trước. Chú cần hỏi gì thêm không?”
    “Dạ không”.

    “Chú chỉnh đồng hồ theo đồng hồ tôi đây. Trung Tá Luông sẽ nhận lệnh sau”.

    Sau khi rời khỏi nhà Trung Tướng Khiêm, tôi sang Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn, mời Đại Uý Truyền Tin (dường như là Đại Uý Nguyễn Hữu Phụng) lên văn phòng:

    “Trung Tướng Tư Lệnh vừa ra lệnh cho tôi, đêm nay Trung Tướng cần giữ liên lạc thường trực với Sư Đoàn 5 Bộ Binh, để theo dõi cuộc hành quân vào căn cứ Hố Bò (của cộng sản), vì có tin là một tên quan trọng của chúng vừa đến nơi đây (tôi bịa ra tin này). Ngay bây giờ, anh có thể cho anh em trên chiếc xe AN/GRC 26 chuẩn bị di chuyển sang nhà tôi bên Tổng Tham Mưu”.

    “Tôi cho lệnh chuẩn bị ngay. Khi xong, xe đến đây chờ lệnh Thiếu Tá”.
    Cũng phải mất nửa tiếng đồng hồ dọn đường, chiếc xe truyền tin mới vào được vị trí. Lúc đó tối lắm rồi, tôi trợ giúp anh em truyền tin dựng cột antenne vì liên lạc xa. Đại úy Nguyễn Hữu Có vừa đến và tiếp tay, nên công tác chuẩn bị cho hệ thống liên lạc hành quân được nhanh chóng. Đại úy Có không thấy tôi nói lý do sự có mặt xe này tại đây nên cũng không hỏi, vì thật ra giữa chúng tôi hiểu nhau về những vấn đề bảo mật, nếu một bên không nói thì bên kia không bao giờ hỏi. Nhóm hành quân chúng tôi chẳng ai ngủ được cả, vì ăn khuya xong là bắt tay vào việc lên máy gọi Sư Đoàn 5 và Sư Đoàn 7. Lúc 00 giờ 30 ngày 30/01/1964:

    “Cửu Long gọi Đồng Nai. Trả lời”.
    “Đồng Nai nghe 5/5. Có gì cho Đồng Nai. Trả lời”.
    “Giới chức của Cửu Long cần gặp thẩm quyền Đồng Nai trên máy. Trả lời”.
    “Rõ. Xin chờ đầu máy.... “
    “Hoa đó hả? Tôi đây”. Đó là tiếng nói của Thiếu Tướng Nguyễn Văn Thiệu.
    “Thưa Đại Bàng, Đại Bàng tôi chỉ cần biết có liên lạc là tốt rồi. Tôi xin phép ngưng. Trả lời”.
    “Được rồi”.

    Cửu Long là danh hiệu Quân Đoàn III. Đồng Nai là danh hiệu Sư Đoàn 5 Bộ Binh. Đại Bàng có nghĩa là vị Tư Lệnh.

    Đến Sư Đoàn 7 Bộ Binh, hai anh chuyên viên luân phiên gọi liên tục mà cứ như gọi vào khoảng không mù mịt của đêm khuya vì chẳng nghe tăm hơi đầu kia gì cả.

    Đang rầu thúi ruột! Bỗng dưng, đài của Sư Đoàn 7 Bộ Binh “nhảy vô” và lúc đó gần 2 giờ sáng rồi. Sau khi tôi liên lạc với Thiếu Tướng Nguyễn Hữu Có, cả 3 đài trên hệ thống đặc biệt này giữ máy thường trực. Xin nói rõ thêm, Sư Đoàn 7 Bộ Binh thuộc Quân Đoàn IV, nên không có trong hệ thống liên lạc thường trực của Quân Đoàn III. Nhưng giữa các vị thu xếp trước, nên Sư Đoàn 7 Bộ Binh vào hệ thống đặc biệt này. Dĩ nhiên là tôi phải "ngụy tạo lý do" để giải thích cho các anh chuyên viên, vì sao mà Sư Đoàn 7 Bộ Binh tăng phái cho Quân Đoàn III trong cuộc hành quân đặc biệt từ hôm nay. Đơn giản, là vùng hành quân dọc theo liên ranh Quân Đoàn III và Quân Đoàn IV. Thế thôi.

    Điện thoại trình Trung Tướng Khiêm xong, tôi ngồi luôn trên xe truyền tin như là ngồi chơi với các anh chuyên viên, nhưng thật ra là tôi ngăn chận những liên lạc đến bất cứ nơi nào khác, vì lúc nảy có một anh thắc mắc về sự có mặt của Sư Đoàn 7 Bộ Binh trong hệ thống này. Lúc gần 3 giờ, nhóm chúng tôi di chuyển lại nhà Trung Tướng Nguyễn Khánh, tạm gọi là "bản doanh nhóm lãnh đạo đảo chánh". Kể ra thì tên gọi đó cũng không sai. Trước khi rời nhà, tôi mới cho Đại úy Nguyễn Hữu Có biết công việc đã làm từ đêm qua và đang làm tiếp. (hai ông cùng tên Nguyễn Hữu Có, nhưng một là Đại Úy và một kia là Thiếu Tướng)

    “Sao đảo chánh hoài vậy Anh?” Vợ tôi hỏi.
    “Anh cũng hổng biết. Chỉ biết Trung Tướng (Khiêm) nói là Trung Tướng Dương Văn Minh có kế hoạch trung lập, mà trung lập thì gần tới cộng sản rồi Em”.
    “Ghê vậy!”
    Đúng 3 giờ sáng ngày 30 tháng 01 năm 1964. Đại Tá Cao Văn Viên và Tiểu Đoàn Nhẩy Dù lặng lẽ qua cổng số 1 Tổng Tham Mưu với nhiệm vụ sẳn sàng tác chiến, nếu như có đơn vị nào đó kháng cự lại. Một lu`c sau, Đại Tá Viên vào nhà Trung Tướng Khánh.

    Nhớ lại cuộc đảo chánh ngày 01/11/1963, Đại Tá Cao Văn Viên, Tư Lệnh Nhẩy Dù, bị xếp vào những nhân vật thân tín của Tổng Thống Ngô Đình Diệm nên bị Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng cách ly với Lữ Đoàn. Ngày 02/11/1963, Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu bị giết, các vị bị cách ly từ hôm trước được trả tự do nhưng hầu hết đều bị cách chức. Đại Tá Cao Văn Viên cũng trong số các vị bị cách chức. Ngày hôm sau bà Cao Văn Viên điện thoại tôi:

    “Chú Hoa. Trung Tướng của chú (ý nói Trung Tướng Trần Thiện Khiêm) có hứa với chị là sẽ xin với Trung Tướng Minh (Dương Văn Minh) cho Đại Tá (Cao Văn Viên) trở về chức vụ Tư Lệnh Nhẩy Dù để lấy lại danh dự, và 24 tiếng đồng hồ sau đó Đại Tá sẽ đệ đơn từ chức. Chị nhờ chú theo dõi diễn tiến ra sao rồi cho chị biết ngay nghe chú”.

    “Vâng”.

    Ngưng một chút, bà tiếp: “Mà chú thấy có hi vọng không?”

    “Em thì chưa biết gì về việc này, nhưng theo em nghĩ, với vị trí hiện nay của Trung Tướng (Khiêm) trong Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng, hi vọng là Trung Tướng thực hiện được lời hứa với chị”.

    Và rồi Đại Tá Cao Văn Viên trở về chức vụ cũ, nhưng sau đó ông có xin từ chức Tư Lệnh Nhẩy Dù hay không thì tôi không biết, nhưng rõ ràng là ông vẫn trong chức vụ Tư Lệnh Lữ Đoàn Nhẩy Dù.
    Các đơn vị an ninh thuộc Tổng Hành Dinh/Tổng Tham Mưu đã vào vị trí. Trung Tá Nguyễn Văn Luông đi lúc nào tôi không rõ, nhưng chắc chắn là đi rồi. Nhiệm vụ của Trung Tá Luông cùng với toán Quân Cảnh, Nhẩy Dù, An Ninh Quân Đội, .... đi bắt những vị Tướng mà Trung Tướng Khiêm với Trung Tướng Khánh cho là có kế hoạch trung lập. Đó là các vị: Trung Tướng Trần Văn Đôn. Trung Tướng Tôn Thất Đính. Trung Tướng Mai Hữu Xuân. Trung Tướng Lê Văn Kim. Và Thiếu Tướng Nguyễn Văn Vỹ.
    Riêng Trung Tướng Dương Văn Minh thì tôi không rõ là có tên trong danh sách bị bắt hay không. Trước lúc bình minh, tại bản doanh -nhà Trung Tướng Khánh- có mặt: Trung Tướng Trần Thiện Khiêm, Trung Tướng Nguyễn Khánh, Đại Tá Cao Văn Viên, một người Việt Nam dáng vấp trung bình về chiều cao lẫn chiều ngang, và một người Mỹ mặc quần tây dài áo sơ-mi tay ngắn. Anh chàng Mỹ này không phải là người có mặt trong cuộc đảo chánh ngày 01/11/1963 trước đây. Nói cách khác, người Mỹ này không phải Trung Tá Conein. Căn cứ theo lần đảo chánh đó, tôi tin chắc rằng, người Mỹ này là gạch nối giữa nhóm đảo chánh với giới chức thẩm quyền Hoa Kỳ tại Sài Gòn. Thậm chí, có thể là đại diện của cơ quan tình báo trung ương Hoa Kỳ từ Mỹ sang. Mà cho dù là gạch nối hay đại diện đi nữa, cũng là bằng chứng một sự ủng hộ của Hoa Kỳ đối với cuộc đảo chánh ngày 01/11/1963, và cuộc đảo chánh hôm nay 30/01/1964.
    Chỉ cần ba nhân vật, một ít lực lượng, với một người Hoa Kỳ quyền thế, cuộc đảo chánh diễn tiến thật êm thấm vì chỉ cần bắt 5 vị Tướng nói trên là xong. Êm thấm đến nỗi tôi tin rằng, người dân Sài Gòn và ngay cả nhiều cơ quan đơn vị quân đội, không hề biết gì về một biến cố quan trọng vừa xảy ra, nếu như đài phát thanh Sài Gòn vẫn phát đi chương trình bình thường. Năm vị Tướng bị bắt, đã đưa ra phi trường Tân Sơn Nhất, và nơi đến là Đà Nẳng. Trung Tướng Khánh đã chỉ thị ngoài đó đón và đưa về nơi giam giữ. Người bị bắt thứ 6 là Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung -tùy viên của Trung Tướng Dương Văn Minh- người mà tôi đặt nghi vấn cao nhất “đã đâm và bắn Tổng Thống Ngô Đình Diệm với ông cố vấn Ngô Đình Nhu”, thì bị đưa lên trại Hoàng Hoa Thám -tức doanh trại Lữ Đoàn Nhẩy Dù- và giữ tại đó. Tại đây, Thiếu Tá Nhung buộc phải viết tờ khai về những gì đã làm liên quan đến cái chết của Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu. Sau ngày đảo chánh 30/01/1964, tôi cũng không biết gì về nội dung trong tờ khai đó. (mãi đến năm 1998, qua bài báo của cựu Đại Tá Dương Hiếu Nghĩa, tôi mới biết chính xác là Thiếu Tá Nhung đã giết hai ông ấy. Được cựu Đại Tá Nghĩa đồng ý qua điện thoại, tôi đã bổ túc phần đó trong ấn bản lần 3 vào cuối năm 1998).
    Vài hôm sau, Lữ Đoàn Nhẩy Dù cho biết là Thiếu Tá Nhung đã thắt cổ tự tử. Mẫu tin đơn giản đó liệu có mấy người tin? Bởi Đại Tá Cao Văn Viên được xem là người thân tín của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, ông bị giữ trong ngày đảo chánh 01/11/1963, nhưng sau đó nhờ Trung Tướng Khiêm mà ông được trở lại chức vụ Tư Lệnh Lữ Đoàn Nhẩy Dù, do vậy mà cho dẫu Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung có chết một cách bình thường cũng là điều mà dư luận khó chấp nhận, huống chi đây là tin Thiếu Tá Nhung thắt cổ! Căn cứ theo lời viết trong tờ khai, Thiếu Tá Nhung khai là anh đâm ông Ngô Đình Nhu bằng lưỡi lê, Tổng Thống Ngô Đình Diệm chống cự khi ông Nhu bị anh đâm chết, nên anh đâm Tổng Thống Diệm luôn. Sau đó, Thiếu Tá Nhung bắn mỗi vị một phát súng mà anh Nhung gọi là “phát súng ân huệ”.
    Cứ theo luật pháp thông thường trong xã hội, giết người phải đền tội là chuyện phải đến thôi. Chuyện phải đến trong hoàn cảnh là như vậy, nhưng Thiếu Tá Nhung có đáng chết hay không lại là vấn đề khác. Có điều lạ là tôi không thấy dư luận đặt nghi vấn: "Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung chết là do chính ông tự tử, hay ông chết do bị giết rồi tạo cảnh như là chính ông tự tử? Nếu Thiếu Tá Nhung bị giết thì ai là người ra lệnh giết? Ai là người thi hành lệnh đó? Và lệnh giết Thiếu Tá Nhung có đúng hay không"? Nếu cho rằng, giết người mà không do phán quyết của tòa án là sai, thì Thiếu Tá Nhung giết Tổng Thống Diệm với ông Cố Vấn Nhu là sai, và người giết Thiếu Tá Nhung cũng là sai. Tôi nghĩ, nếu truy tố Thiếu Tá Nhung ra tòa án quân sự trong tình hình lúc bấy giờ cầm chắc là bản án tử hình đến với anh. Nếu hành động minh bạch như vậy, sẽ cho thấy nhóm lãnh đạo đảo chánh tôn trọng luật pháp chớ không áp dụng "luật giang hồ" theo kiểu tam-đoạn-luận: “Giết người thì bị người (khác) giết. Anh đã giết người. Anh phải bị người (khác) giết”.
    Đến đây tôi xin mở ngoặc để ghi lại lời thuật của ba vị nói về cái chết của Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung. Trước hết là lời của cựu Thiếu Tá Lâm Sanh Kim, định cư tại San Jose, California. Anh đồng ý cho tôi đưa vào trang sách này qua e-mail lúc 2 giờ 31 phút chiều ngày 06/03/2004. Đây là lời viết của cựu Thiếu Tá Lâm Sanh Kim:

    “Vào thời điểm 01/11/1963, tôi là Trung Úy, Trưởng Ban An Ninh Căn Cứ Hoàng Hoa Thám/Lữ Đoàn Nhẩy Dù, thời Đại Tá Cao Văn Viên làm Tư Lệnh Lữ Đoàn này. Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung bị giữ tại trại Cãi Hối do Phân Đội 204 Quân Cảnh Nhẩy Dù phụ trách. Tôi được lệnh thẩm vấn Thiếu Tá Nhung và Thiếu Tá Nhung khai rằng, khi đoàn xe chạy đến cổng xe lửa trên đường Hồng Thập Tự, tôi xin lệnh Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân về việc ông Diệm và ông Nhu, thì được Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân trả lời bằng câu tiếng Pháp “Feu tous les deux” (bắn cả hai).
    “Đây là câu trả lời được ghi lại trong ký ức tôi. Luôn tiện tôi xin đưa ra dữ kiện về việc Thiếu Tá Nhung tự tử để quí vị phán xét. Trước khi tôi bắt đầu thẩm vấn, Thiếu Tá Nhung xin phép tôi điện thoại về nhà để nhắn nhủ vợ con yên tâm. Trên nguyên tắc thì người đang bị thẩm vấn không được liên lạc ra ngoài, nhưng tôi muốn tạo tình cảm thuận lợi cho công tác lấy lời khai nên tôi đồng ý. Thẩm vấn xong, tôi giao lại Phân Đội 204 Quân Cảnh Nhẩy Dù. Đến sáng hôm sau được báo là Thiếu Tá Nhung đã treo cổ. Tôi đến nơi trông thấy Thiếu Tá Nhung treo cổ bằng sợi giây giày loại giày cao cổ, có để lại mấy chữ ở bìa trắng của tờ báo như sau: “Em ở lại nuôi các con, bọn Diệm sống lại rồi. Cây viết Parker 51 nắp vàng, còn nằm trên tờ báo. Tôi thuật lại đây để quí vị tùy nghi xét đoán, nếu không thì có nhiều người suy đoán trật quá xa sự thật. Tối thiểu, chúng ta cũng phải căn cứ trên các dữ kiện tôi nêu trên có thể kết luận Thiếu Tá Nhung tự vận hơn là bị giết.”


    Hết phần trích dẫn trên trang e-mail về lời thuật của cựu Thiếu Tá Lâm Sanh Kim, và xin tiếp lời thuật của cựu Trung Tá Phạm Ngọc Khanh qua điện thoại. Cựu Trung Tá Phạm Ngọc Khanh, định cư tại San Francisco, California. Trong cuộc đảo chánh 30/01/1964, anh là Đại Úy sĩ quan tùy viên của Đại Tá Cao Văn Viên. Giữa năm 2001, sau khi đến Washington DC thăm cựu Đại Tướng Cao Văn Viên trở về, anh điện thoại cung cấp cho tôi một số tin tức liên quan đến sức khoẻ và cuộc sống hằng ngày của vị Tướng đã từng là Tổng Tham Mưu Trưởng liên tục gần 10 năm. Nhân đó, anh thuật cho tôi nghe mẫu tin Thiếu Tá Nhung tự tử sau cuộc đảo chánh ngày 30/01/1964. Lời thuật như sau:

    “Cái hôm Thiếu Tá Nhung chết, lúc đó còn sớm lắm, điện thoại từ sĩ quan trực Lữ Đoàn Nhẩy Dù gọi đến tư dinh báo cáo là Thiếu Tá Nhung đã tự tử, và đưa vào bệnh xá của Lữ Đoàn rồi”.

    Đại Úy Khanh trình cho Đại Tá Viên, và Đại Tá Viên ra lệnh:

    “Nói với sĩ quan trực (Lữ Đoàn) gọi bác sĩ cứu được gì thì cứu”.

    Theo lời Đại Úy Khanh thì lúc ra lệnh đó, Đại Tá Viên không có vẻ gì bất ngờ trước cái tin chết người như vậy, nhất là người chết lại là người mà dư luận đặt nghi vấn, thậm chí còn quả quyết anh ấy đã giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu nữa. Điều này cho phép chúng ta suy đoán có thể là Đại Tá Viên biết trước về cái chết của Thiếu Tá Nhung. Nhưng nếu biết trước, thì liệu Đại Tá Viên có liên quan gì? Bởi vì cái tin Thiếu Tá Nhung tự tử có thể là thật, cũng có thể là không thật. Không thật, vì có thể cái chết đó là do dàn dựng cho Thiếu Tá Nhung, cũng có thể là do áp lực dẫn đến chính Thiếu Tá Nhung phải tự tử. Điều này vẫn còn trong bóng tối.

    Cũng liên quan đến vụ này, vị thứ ba là cựu Đại Tướng Trần Thiện Khiêm trong cuộc điện đàm vào tối ngày 21/10/2003, khi nói đến cái chết của Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung, ông nói với tôi là ông nghe nói một số quân nhân Nhẩy Dù đã vì tức giận việc Thiếu Tá Nhung giết Tổng Thống Diệm, nên ra tay giết Thiếu Tá Nhung.
    Tiếp đây là thư viết tay ngày 11/12/2007 của anh Nguyễn Ngọc Bích từ thành phố Farnboro, Anh quốc. Anh Bích là bạn cùng khóa 5 Thủ Đức & Đà Lạt với tôi. Sau lễ tốt nghiệp được nghỉ một tuần và cùng trình diện Tiểu Đoàn 510 Khinh Quân đồn trú tại Vĩnh Long. Chúng tôi 4 đứa, gồm: (1) Thiếu Úy Trần Kinh Điển. (2) Thiếu Úy Nguyễn Ngọc Bích. (3) Thiếu Úy Nguyễn Văn Miêng. (4) Và tôi, Thiếu Úy Phạm Bá Hoa. Anh Điển với anh Bích học Trường Sĩ Quan trừ Bị Thủ Đức, tôi với anh Miêng học nhờ Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt vì Thủ Đức hết chỗ.
    Thư anh Bích viết tay dài 17 trang. Tôi thán phục sự kiên nhẫn của anh Bích, vì đang ở thời đại computer mà anh ấy ngồi nắn nót ngòi viết thẳng hàng thẳng chữ.

    “Anh chị Hoa thân mến.

    Trước hết, tôi phải một lần nữa cám ơn Anh đã tặng cho tôi cuốn sách quý “Đôi Dòng Ghi Nhớ”, những lời phê bình của các độc giả cũng như bạn bè bằng hữu khắp năm châu cũng đủ chứng tỏ giá trị của cuốn sách Anh viết, tôi không còn lời nào để nói thêm nữa. Tôi có nói với “nhà tôi” là Anh mới viết có đôi dòng mà gần 400 trang sách rồi, chớ Anh mà viết truyện dài chắc đến cả ngàn trang.

    Tôi không dám phê bình nhưng tôi có nói với nhà tôi rằng, “văn là người”. Anh là con người rất chân thật, hiền hòa, khéo léo, nên văn phong của Anh viết rất là thật, nhẹ nhàng, và rất công bằng về những sự kiện lịch sử, không chê trách ai, cũng không nói xấu ai. Tôi rất cảm phục Anh vì Anh có một trí nhớ tuyệt vời thiên phú, với những tháng ngày rất chính xác. Tôi thường đọc sách hay các cuốn truyện chỉ qua có một lần thôi, song cuốn sách của Anh tôi đã đọc hết rồi, lại phải đọc lại một lần nữa cho “bà xã” tôi nghe.

    Bây giờ tôi trình bày với Anh hoàn toàn sự thật về cái chết của anh ThiếuTá Nguyễn Văn Nhung, là chính ông ta tự thắt cổ bằng sợi dây giày nhà binh của ông ta, do sự ân hận vì chính ông ta nghĩ rằng “sát nhân giả tử”. Ông ta nghĩ rằng, sớm hay muộn gì thì người ta cũng giết mình nên mình tự giải quyết chứ không để ai ra tay cả! Ngay chính ở trong Nhẩy Dù, các phòng sở khác cũng rất ít ai biết được chuyện Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung bị mang về Bộ Tư Lệnh Dù để thẩm vấn về vụ sát hại cố Tổng Thống và ông Cố Vấn.

    Vào thời gian cuối năm 1963 sau cuộc đảo chánh 1/11/1963, là thời kỳ lộn xộn của nội bộ Việt Nam Cộng Hòa mình, các vị Tướng Lãnh nắm giữ quyền hành thi đua nhau hết Đảo Chánh đến Chỉnh Lý, nên lãnh đạo cộng sản miền Bắc lợi dụng tình hình đó để đưa lực lượng chính quy của chúng xâm nhập vào VNCH, củng cố lại hạ tầng cơ sở chuẩn bị những trận đánh lớn vào lực lượng ta. Thời gian này, tôi phục vụ tại Bộ Tư Lệnh Nhẩy Dù với chức vụ Trưởng Phòng 2.

    Hôm đó, tôi nhớ vào khoảng hạ tuần tháng 1 năm 1964, tôi được một anh bạn ở Tiểu Đoàn 1 Nhẩy Dù ở ngay trước nghĩa địa Đô Thành ở đường Lê Văn Duyệt mời đến nhà ăn cơm chiều với gia đình sau khi hết giờ làm việc. Tôi đã dặn nhân viên trực phòng (Phòng 2 Lữ Đoàn Nhẩy Dù) là “tôi đi ăn cơm khách ở nhà Đại Úy Trang, nếu có chuyện gì cần thì gọi đến tổng đài Tiểu Đoàn 1 Nhẩy Dù nhắn lại với Đại Úy Trang là xong”.

    Chúng tôi tất cả 6 mạng đang trò chuyện rôm rả, mới nhâm nhi lai rai thì tổng đài điện thoại cho người sang kêu tôi về trình diện Đại Tá Tư Lệnh (Đại Tá Cao Văn Viên) có lệnh khẩn. Tôi vội từ biệt anh em ra lái xe về ngay đơn vị và hỏi tại văn phòng xem có lệnh gì. Nhân viên trực phòng trả lời: “Đại Úy Vĩnh Thái chỉ cho biết là tôi lên trình diện Đại Tá Tư Lệnh để nhận lệnh”. Vắn tắt có thế thôi.

    Tôi gặp Đại Úy Thái và gõ cửa vào gặp Đại Tá Tư Lệnh, ông từ tốn bảo tôi ngồi xuống ghế rồi nói: “Một chút nữa cở khoảng 45 phút hay hơn, sẽ có người đưa Thiếu Tá Nhung về đây, anh chịu khó hỏi lại cho tôi về vụ hắn đã hạ sát Tổng Thống và ông Cố Vấn như thế nào. Đây là nhu cầu ở trên đưa xuống. Nhung nó ở trong quân đội lâu lắm rồi, Anh ráng hỏi hắn cho rõ tất cả sự thật. Đây là nhu cầu “ở trên”, Anh phải làm sao trình cho tôi vào sáng mai lúc 6 giờ. Nhớ là lúc 6 giờ nhé! Nếu cần thêm chi tiết gì, tôi sẽ bảo anh bổ túc thêm. Tôi trả lời Đại Tá là tôi nhận lệnh rõ, sẽ thi hành đúng như lời Tư Lệnh. Tôi đứng đậy tính chào và về Phòng để chuẩn bị thi hành, thì được Đại Tá tâm sự vui với tôi: “Anh có tin là con người ta có số mạng không?”. Rồi Đại Tá kể cho tôi nghe về vụ ông suýt bị đem đi thủ tiêu sau vị Đại Tá Tung (Lê Quang) và Thiếu Tá Triệu (Lê Quang) ở tại phòng hội của Bộ Tổng Tham Mưu ......

    Tôi cũng được Đại Tá Tư Lệnh cho biết là làm việc trình thẳng cho ông chứ không phải theo hệ thống quân giai là phải qua Tham mưu Trưởng. Tội vội trở về Phòng để chuẩn bị. Hạ Sĩ Nhất Diệp Vinhchuẩn bị cho tôi một hồ sơ giả, trong đó có tấm bản đồ Sài Gòn - Chợ Lớn. Ngoài bìa cứng có kẻ chữ lớn màu đỏ “Hồ Sơ Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung”. Xong, bỏ vào tủ sắt, khóa lại. Trung Sĩ Nhất Sơn Bun sẽ lo phần đánh máy. Trung Sĩ Nhất Lê Văn Thanh trực phòng, khi tôi bảo lấy hồ sơ thì mở khóa tủ sắt lấy cho tôi tập hồ sơ của Thiếu Tá Nhung. Trung Sĩ Phạm Viết Hùng ngồi trực với khẩu súng cá nhân bên cạnh. Hạ Sĩ Hải cũng trực với súng cá nhân, và khi tôi lên phòng Tư Lệnh nhận Thiếu Tá Nhung thì tôi dắt đi ở phía sau không để ai thấy. Tất cả nhân viên của Phòng 1, 3, 4, 5, (Bộ Tham Mưu) không ai hay biết gì về lệnh đưa Thiếu tá Nhung, ngoài tôi với hai ba nhân viên của tôi.

    Khoảng 30 phút sau, điện thoại từ Đại Úy Thái chánh văn phòng kêu tôi lên nhận công tác. Lúc ấy trời sập tối, toàn căn cứ Nhẩy Dù đã lên đèn, tôi kêu Hạ Sĩ Hải đem theo súng cá nhân và đi cách tôi một khoảng cách còn nhìn thấy tôi nhưng không để người khác thấy. Đến văn phòng Đại Úy Thái, nhìn thấy chiếc xe Jeep đậu sẳn, tôi ký giấy nhận Thiếu Tá Nhung theo thủ tục để đưa về phòng tôi làm việc. Dưới ánh đèn mờ mờ đủ để tôi nhận ra y là sĩ quan với vóc dáng tầm thước, cao khoảng 1.62 thước, mặc bộ đồ trận bộ binh màu xanh, không đội mũ cũng không đeo cấp bậc, nước da ngăm ngăm, vẻ mặt có nét khắc khổ. Tôi đến chào hỏi ông ta và ông ta đứng trong tư thế nghiêm chào lại tôi, rồi tự giới thiệu và cho biết cả chức vụ. Chúng tôi bắt tay nhau, tôi mời ông ta về phòng làm việc. Khi đi, tôi không đi theo hành lang vào các phòng kế cận để tránh sự tò mò của các quân nhân. Trong lúc di chuyển, ông ta nói căn cứ quá rộng và khang trang, tôi cho ông ta biết là căn cứ này do quân đội Pháp để lại, mỗi dãy nhà có phòng ốc rộng rãi thoáng mát, với những hành lang dài có lót bằng đá hoa, có nhà vệ sinh ở cuối mỗi dãy với hệ thống ánh sáng đầy đủ.

    Vế đến phòng làm việc, tôi mời ông ta ngồi ghế trước bàn và thân thiện hỏi ông ta đã dùng cơm chiều chưa? Tôi có hỏi thăm gia đình và tôi nói cho ông ta biết là có thể ông ta sẽ ở đây với tôi một hai ngày chứ chưa về ngay sáng mai đâu. Do đó, Thiếu Tá nên viết thư về cho gia đình nói cho “bà xã” an tâm, và lấy những thức cần dùng rồi tôi cho một Hạ Sĩ Quan của tôi mang về đây cho Thiếu Tá. Sau đó tôi trao cho ông ta một tập giấy loại của Mỹ với cây bút “bic”. Thư của ông ta như sau:

    “Em yêu quí và các con thân thương. Hiện nay Anh đang làm việc tại Bộ Tư Lệnh Lữ Đoàn Nhẩy Dù, trại Hoàng Hoa Thám. Anh được ông Đại Úy Bích cũng là người quen biết từ lâu nên Em cứ an tâm, không có chuyện gì đáng lo ngại cả. Tiện có chú này, Em gởi cho Anh mấy món cần thiết, như: Bộ quần áo ngủ, đôi dép, bàn chải đánh răng và kem, một cục xà bông, với ít tiền để tiêu vặt. Mọi diễn tiến êm đẹp cả, Em và các con an tâm nhé. Ký tên”.

    Sau đó, tôi kêu một binh sĩ xuống câu lạc bộ lấy hai chai bia có nước đá đem lên phòng, và chúng tôi bắt đầu làm việc thật sự. Tôi nói cho ông ta biết là tất cả mọi chuyện xảy ra đã xảy ra rồi, chúng tôi có đầy đủ hồ sơ từ mọi nơi cung cấp, bây giờ theo lệnh cấp trên chỉ thị chúng tôi xét lại một lần chót để đúc kết thôi. Chúng tôi muốn là Thiếu Tá ghi lại từ đầu đến cuối các sự kiện xảy ra trong ngày 2/11/1963, đừng giấu diếm điều gì. Với Thiếu Tá, tôi luôn luôn tôn trọng cấp bậc mặc dù Thiếu Tá không đeo “lon”. Ông ta có vẻ cảm động, đứng lên chào tôi, vừa bắt tay tôi vừa nói như lời hứa sẽ làm hết tất cả những gì tôi cần. Thái độ của ông ta rất ư là thoải mái. Tôi bấm chuông gọi anh Hạ Sĩ Quan trực mở khóa tủ lấy cho tôi tập hồ sơ mật của Thiếu Tá Nhung. Anh Hạ Sĩ Quan qua phòng bên, mở tủ, kéo thanh sắt gài ngang nghe lách cách, rồi tiếng kéo ngăn tủ rét rét,mang vào để trước mặt tôi. Tôi cố tình cho ông ta nhìn thấy tập hồ sơ bìa cứng có tên ông ta. Một lát sau thì chiếc xe Jeep trở về và đưa ông ta cái túi xách tay nhỏ, cùng với một số tiền và lá thư của bà vợ ông ta. Trong lá thư nhỏ chỉ có vài dòng chữ là bà ta hỏi có cần biếu xén gì không để bà ta lo liệu ... Ông ta cẩn thận trình cho tôi, tôi bảo không cần đâu. Anh em mình đều là quân nhân, làm việc là làm theo lệnh cấp trên thôi.

    Ông ta ngồi viết qua lý lịch, gia cảnh,...rồi ông ta viết ... Khoảng 50 hay 55 phút, tôi bảo ông ta nghỉ ngơi, và hỏi một vài câu vu vơ sau khi xem qua đoạn mà ông ta vừa viết. Tôi giả vờ như có điều không đúng trong hồ sơ tôi có (thật ra là tôi không có hồ sơ gì cả) và sửa lại cho đúng. Cứ ông ta viết xong trang nào là tôi đưa đánh máy ngay. Trong những giây phút nghỉ ngơi, tôi có gợi chuyện xưa cũ thì ông ta cũng có khoe tôi là khẩu súng đang sử dụng là ông ta đã hạ sát rất nhiều người, và cứ mỗi lần xong công tác thì ông ta lại khắc một nét để ghi nhớ làm kỹ niệm của đời binh nghiệp: “Làm theo lệnh cấp trên”. Ông ta còn đọc cả số súng của ông cho tôi biết cũng như số quân của mình vậy. Ông ta nói một cách thản nhiên như không có gì tỏ ra hối hận hay thương xót cho những người đã khuất cả. Ông ta cho biết về cuộc đảo chánh (1/11/1963) là ông ta hoàn toàn không hay không biết, vì ông ta chỉ là cận vệ đi theo Tướng Dương Văn Minh mà thôi. Ông ta chỉ mờ ảo nghĩ rằng, sẽ có chuyện gì lớn lao sắp xảy ra do các Tướng Lãnh họp bàn xôn xao đi đi về về ...

    Phần đi công tác sáng ngày 2/11/1963, Anh đã nói rõ và rất đầy đủ. Nhưng có một chi tiết mà tôi không thể nào quên được là đối với Thiếu Tá Nhung, lúc bấy giờ không còn coi Tổng Thống và ông Cố Vấn là người có quyền hành nắm giữ quốc gia trong tay nữa, mà chỉ là tù nhân thôi. Lúc đó, Thiếu Tướng Xuân (Mai Hữu) tránh né đứng chờ bên ngoài khi chúng tôi vào đón Tổng Thống và ông Cố Vấn ra xe, Đại Tá Lắm (Dương Ngọc) chỉ lên xe Thiết Giáp đậu bên lề đường thì Tổng Thống rất ngạc nhiên và hỏi: “Xe ni mà đưa đón Tổng Thống với ông Cố Vấn ư?” Tôi bèn sẳng giọng trả lời ngay: “Giờ phút này mà còn là Tổng Thống với Cố Vấn gì nữa, tất cả lên xe đi.” Ông Cố Vấn có vẻ ngần ngại, song Tổng Thống tỏ ra hiểu được tình hình nên nhẹ nhàng bảo: “Thôi mà Chú Nhu, lên xe đi”. Xe chạy đến cổng xe lửa gần bệnh viện Từ Dũ phải ngừng lại chờ xe lửa chạy qua, lúc ấy tôi nhận được lệnh của Thiếu Tướng Xuân là “phải giết ngay cả hai vị” ngang qua máy truyền tin. Lệnh ra bằng tiếng Pháp. Thế là tôi thi hành ngay, bằng cách rút khẩu súng cá nhân ra và chĩa vào ông Cố Vấn thì ông Cố Vấn giơ tay ra như có ý muốn cản, song Tổng Thống đã bảo “Chú Nhu !!!”, rồi người làm dấu thánh giá. Chỉ cần hai phát đạn là tôi đã hoàn thành nhiệm vụ, nhưng muốn cho chắc ăn tôi bồi thêm mấy phát đạn nữa cho bảo đảm.

    Khi thẩm vấn, tôi cũng hỏi sĩ quan đương sự thì được biết là Thiếu Tướng Xuân thất sủng nên có lẽ oán giận Tổng Thống và ông Cố Vấn lắm, nhân dịp này trả thù được thì thanh toán cho xong. Tôi có hỏi thêm là “tại sao Thiếu Tá với nhiệm vụ là cận vệ của Trung Tướng Minh mà lại phải đi đón Tổng Thống?”. Ông ta trả lời: “Thiếu Tướng Xuân và Đại Tá Lắm bảo tôi đi thì tôi đi theo, tôi làm theo lệnh cấp trên làm sao cãi được”. (Câu trả lời này không vững. PBH)

    Chúng tôi làm việc hầu như suốt đêm, trong lúc làm việc tôi không cần la hét hay to tiếng với sĩ quan đương sự. Những nhu cầu cần biết, sau khi đọc lời khai của đương sự tôi bổ khuyết những chi tiết cho rõ ràng hơn. Đến khoảng 4 giờ 15 phút sáng (31/1/1964) thì hồ sơ hoàn tất. Tôi xem lại từng trang viết, đóng lại thành tập, sẳn sàng trình lên Tư Lệnh. Sau đó, tôi dẫn sĩ quan đương sự về phòng ngủ của tôi cách phòng làm việc không xa để nghỉ ngơi. Tôi cho kê thêm một chiếc giường cá nhân có nệm và gối mền đầy đủ, còn súng cá nhân, dao găm với mấy băng đạn tôi cho đem vào kho của Biệt Đội Quân Báo gần đó cất giữ, đề phòng bất trắc. Tôi có dặn ông ta là chung quanh đây có lính gác, Thiếu Tá cần đi đâu nên chờ tôi cùng đi, kẽo lính gác thấy đi một mình sẽ lôi thôi lắm. Ông ta cám ơn tôi mấy lần với thái độ cảm động, có lẽ vì tôi tôn trọng ông ta bằng cách gọi ông ta bằng cấp bậc. Tôi và ông ta, mỗi người một giường nằm nghỉ ngơi thoải mái sau khi đưa ông ta tắm rửa thay quần áo ngủ.

    Đúng 5 giờ 45 phút sáng, tôi mang hồ sơ lên văn phòng Đại Tá Tư Lệnh. Lúc 5 giờ 58 phút, tôi gõ cửa phòng Tư Lệnh và trình hồ sơ gồm bản chánh và bản phụ. Tôi ngồi chờ Đại Tá Tư Lệnh có gì cần hỏi thêm chi tiết nào nữa không. Sau khi xem xong, Đại Tá bảo tôi: “Thôi, đêm qua Anh và mấy nhân viên làm việc ũng mệt rồi, xét ra hắn khai thế này là đầy đủ theo nhu cầu ở trên rồi, Anh về cho anh Nhung và mấy nhân viên nghỉ ngơi, nếu cần thêm điều gì tôi sẽ bảo Anh hỏi thêm” Tôi đứng dậy chào Đại Tá Tư Lệnh và quay về phòng ngủ, thấy Thiếu Tá Nhung vẫn còn trong giấc ngủ vùi. Tôi ngả lưng, nối lại giấc ngủ vì đêm qua chỉ ngủ vài tiếng đồng hồ. Khoảng 7 giờ 30 sáng, cả tôi lẫn Thiếu Tá Nhung cùng thức dậy. Tôi bảo chú binh sĩ của tôi sang câu lạc bộ cách nơi tôi ngủ 2 dãy nhà, chuẩn bị cho 2 tô hủ tiếu và 2 ly cà phê sữa đá. Ăn xong, chúng tôi vừa xem báo vừa trò chuyện về gia đình, về binh nghiệp, và những buồn vui đời lính. Đến trưa, lại dùng cơm mang về từ câu lạc bộ.

    Khoảng 1 giờ trưa, văn phòng Đại Tá gọi tôi lên và Đại Tá bảo tôi chuyển Thiếu Tá Nhung cho Đại Úy Bùi Văn Châu, Phân Đội Trưởng Phân Đội 204 Quân Cảnh, cách văn phòng tôi một sân bóng chuyền. Khi trở về phòng ngủ, tôi nói cho sĩ quan đương sự biết là nhiệm vụ của tôi chấm dứt ở đây sau khi chuyển ông ta sang Quân Cảnh của Lữ Đoàn Dù. Vừa nói tôi vừa chỉ văn phòng Phân Đội Quân Cảnh ở dãy nhà bên kia. Tôi hỏi ông ta có gì cần giúp đỡ hay có gì phiền hà tôi, xin cho biết. Ông ta đứng nghiêm chào tôi và dùng cả hai tay bắt tay tôi với lời cám ơn. Tôi nói đó là bổn phận thôi, mình là anh em trong gia đình quân đội mà. Ông ta còn hứa hẹn với tôi là nếu có một ngày nào đó, tôi xin mời Đại Úy về nhà tôi nhậu một bữa.

    Tôi đưa Thiếu Tá Nhung sang phòng Đại Úy Châu, bảo ông ta ngồi chiếc ghế ngoài hành lang rồi bước vào giới thiệu sơ qua với Đại Úy Châu biết về Thiếu Tá Nhung, vì lúc ấy ông ta không đeo lon, cũng không đội mũ, mà chỉ mặc bộ đồ trận của bộ binh. Sau khi ký nhận, Đại Úy Châu chỉ ừ ào cho qua chuyện chớ không đếm xỉa gì đến Thiếu Tá Nhung nên ông ta có vẽ hụt hẫng. Đại Úy Châu gọi hai anh Hạ Sĩ Quan Quân Cảnh dặn dò những việc phải làm, phải thu giữ những gì có thể dẫn tới việc ông ta có thể dùng để tự tử, nhưng không ai để ý đến đôi giày “bốt” nhà binh mà ông ta đang mang. Tôi ngồi nói chuyện gẫu với Đại Úy Châu trong giây lát rồi quay về văn phòng, đưa giấy tờ giao và nhận cho anh Hạ Sĩ Quan xếp vào hồ sơ lưu trữ và cất vào tủ. Sau này tôi mới biết là Quân Cảnh đưa ông ta vào phòng giam dành cho binh sĩ vô kỹ luật gần Trung Tâm Huấn Luyện Nhẩy Dù, cũng trong khuôn viên doanh trại Lữ Đoàn. Phòng giam này hơi hắc ám, không mấy sáng sủa vì chỉ có một cửa sổ nhỏ với hàng song sắt cao hơn đầu người một chút. Mặc dù tôi phục vụ ở Bộ Tư Lệnh Lữ Đoàn khá lâu mà chỉ nghe chứ chưa bao giờ quan tâm đến phòng giam này làm gì cả.

    Khoảng 5 giờ chiều tức là gần hết giờ làm việc buổi chiều, chuông điện thoại reo vang, Đại Úy Châu báo cho tôi biết một việc chẳng lành là Thiếu Tá Nhung đã tự tử tại phòng giam khi Hạ Sĩ Quan trực của Quân Cảnh đem phần cơm cho ông ta thì phát hiện sĩ quan đương sự đã tháo giây giày nối lại, một đầu giây quàng vào song sắt và đầu giây kia quàng vào cổ. Đại Tá Tư Lệnh đã được trình báo sự việc. Đại Úy Châu và tôi, liên lạc ngay với Đại Đội Quân Y của Lữ Đoàn, Bác Sĩ Văn Văn Của là Y Sĩ Trưởng cùng mấy Hạ Sĩ Quan Quân Y tận tình cứu chữa, làm hô hấp nhân tạo với 2 bình dưỡng khí, nhưng không sao cứu được. Khi khám nghiệm tử thi, Bác Sĩ Của giải thích cho Đại Úy Châu và tôi biết, “ống quần của đương sự có một vệt dài từ bộ phận sinh dục chảy xuống, chính là tinh khí xuất ra hết rồi nên không cách nào cứu chữa được, người tự tử bằng cách treo cổ chỉ có 3 hay 4 phút là chết”. Đại Úy Châu đưa cho tôi xem bút tích của ông ta viết cho vợ con trên tờ báo mà tôi đã đưa cho ông ta đọc: “Anh biết rằng, số mạng mình đến đây là hết rồi Em ạ, Anh biết là sớm muộn gì người ta cũng giết Anh, nhưng Anh không muốn để ai xét xử mình cả mà tự mình xử lấy mình thôi. Em ở lại nuôi đàn con dại nên người. Hẹn Em ở kiếp sau. Anh sẽ về phò hộ cho Em và các con”. Chữ viết nguệch ngoạc ở những phần có chỗ trống trên tờ báo Đại Dân Tộc. Sau đó, Bác Sĩ Của cho nhân viên khiêng xác Thiếu Tá Nhung lên chiếc cáng và làm thủ tục rồi đem xe Hồng Thập Tự chở vào nhà xác Tổng Y Viện Cộng Hòa, và thông báo cho gia đình của sĩ quan đương sự.

    Buổi chiều hôm đó, tôi cảm nhận nỗi buồn man mác vì thấy cuộc đời con người với số mạng của ông ta sao mà vắn thế! Vừa buổi trưa còn ăn cơm vui vẻ với tôi, vậy mà bây giờ trở nên cách trở âm dương!!!

    Khoảng 7 giớ 30 phút tối, tôi nhận điện thoại của Thiếu Tá Trương Quang Ân (Tham Mưu Trưởng Lữ Đoàn. PBH) hỏi thăm sức khỏe một cách lịch sự và nhã nhặn, nhưng có ý trách móc tôi nhẹ nhàng là làm việc trong nhà binh phải theo “hệ thống quân giai” như thế mới đúng, có trên có dưới. Tôi đã liên lạc với Đại Úy Châu, được biết là Phòng Nhì các anh đã làm việc với Thiếu Tá Nhung suốt đêm qua, và trưa nay anh giao lại cho Phân Đội 204 Quân Cảnh mà sao “anh quên” không trình cho Tham Mưu Trưởng biết chuyện này. Anh nhận sĩ quan đương sự ở đâu vế cũng không cho tôi biết. Tôi trả lời ngay rằng: “Thưa Thiếu Tá, tôi xin phép được trình bày sự việc, từ trước đến nay tôi làm việc với Thiếu Tá suốt trong thời gian qua, chưa có điều gì sai trái để bị Thiếu Tá khiển trách cả. Song, đây là trường hợp đặc biệt. Chiều hôm qua (30/1/1964. PBH), tôi được Đại Tá Tư Lệnh gọi lên và đã chỉ thị cho tôi: “Đây là nhu cầu ở trên đưa xuống, tất cả việc làm của anh chỉ trình cho tôi mà thôi, không trình qua ai hết”.Tôi cũng xin Thiếu Tá thông cảm, còn như nếu Thiếu Tá không tin tôi thì xin Thiếu Tá cùng tôi lên trình lại với Đại Tá Tư Lệnh. Nếu tôi có điều gi sai trái, tôi xin chịu phạt theo quân kỷ nhà binh”. Ông ta hiểu là tôi nói sự thật, nên chỉ hỏi sơ qua về Thiếu Tá Nhung “tại sao lại tự tử thôi”. Thời gian sau, Thiếu Tá Ân được thăng cấp Trung Tá, rồi Đại Tá, và được giữ chức Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh, rồi trong một cuộc đi thăm đơn vị vào ngày Tết, Đại Tá và phu nhân đã tử nạn khi trực thăng chở ông bà bị tai nạn, ông được truy thăng Chuẩn Tướng.

    Anh Chị Hoa thân mến, chuyện có sao tôi viết vậy, không thêm không bớt gì cả. Thiên hạ lầm tưởng là Nhẩy Dù hạ sát. Rồi họ còn thêu dệt lên vì hồi Đảo Chánh 11/11/1960 (Đại Tá Nguyễn Chánh Thi. PBH), Thiếu Tá Ngô Xuân Soạn đã bị Nhẩy Dù đâm chết tại Tiểu Đoàn 3 Nhẫy Dù.

    Tôi xin phép tạm dừng bút.

    Thân. Nguyễn Ngọc Bích. Farnboro, Anh quốc.

    Xin đóng ngoặc.

    Ai ra lệnh giết Tổng Thống?

    Thật tình tôi không có bằng chứng để quả quyết là ai ra lệnh giết, nhưng điều mà cựu Đại Tướng Khiêm nghe nói lại, dường như chưa đủ sức thuyết phục người đọc lẫn người nghe. Quí vị có suy nghĩ gì về sự kiện này không?
    Với lời thuật của cựu Thiếu Tá Lâm Sanh Kim, đối chiếu với lời thuật của cựu Đại Tá Dương Hiếu Nghĩa mà tôi được phép đăng trong chương nói về cuộc đảo chánh ngày 01/11/1963, thì nghi vấn về người ra lệnh giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu, trở nên phức tạp. Tôi xin ghi lại những lời đó sau đây:
    “Theo lời trong bài viết của cựu Đại Tá Nghĩa, sau ngày đảo chánh 01/11/1963, ông gặp Thiếu Tá Nhung và hỏi điều ông thắc mắc là tại sao giết cả hai ông, thì Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung trả lời một cách tỉnh bơ rằng:
    “Một người hay hai người cũng vậy thôi. Hai người thì khó khăn một chút, nhưng chắc ăn hơn. Vì ông Diệm chống cự lại sau khi ông Nhu bị tôi đâm chết, nên tôi phải thanh toán luôn. Có lệnh cũng được, mà không có lệnh cũng vậy thôi. Cho nó chắc ăn. Lúc đó đâu có đợi lệnh được”.
    Theo lời viết trong e-mail của cựu Thiếu Tá Lâm Sanh Kim, thì đầu năm 1964 anh là Trung Úy, sĩ quan An Ninh của căn cứ Lữ Đoàn Nhẩy Dù, anh được lệnh thẩm vấn Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung, và anh ghi nhận lời khai của Thiếu Tá Nhung như sau:
    “ ... Khi đoàn xe chạy đến cổng xe lửa trên đường Hồng Thập Tự, tôi xin lệnh Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân về việc ông Diệm và ông Nhu, thì được Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân trả lời bằng câu tiếng Pháp “feu tous les deux” (bắn cả hai) . .
    Theo lời viết trong thư của cựu Trung Tá Nguyễn Ngọc Bích, thì lời viết của Thiếu Tá Nhung trên tờ khai tương tự như lời khai với Trung Úy Lâm Sanh Kim:
    “ .... Xe chạy đến cổng xe lửa gần bệnh viện Từ Dũ phải ngừng lại chờ xe lửa chạy qua, lúc ấy tôi nhận được lệnh của Thiếu Tướng Xuân là “phải giết ngay cả hai vị” ngang qua máy truyền tin. Lệnh ra bằng tiếng Pháp. Thế là tôi thi hành ngay....”
    Vậy, ai là người ra lệnh giết Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu? Trung Tướng Dương Văn Minh, hay Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân, hay cả hai vị?
    Theo cựu Đại Tá Dương Hiếu Nghĩa, với lời của Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung đã nói trực tiếp với ông (tức cựu Đại Tá Nghĩa), thì nghi vấn của tôi về người ra lệnh giết Tổng Thống Diệm với ông Cố Vấn Nhu là Trung Tướng Dương Văn Minh (cấp bậc lúc đảo chánh). Nhưng theo lời khai của Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung trước mặt cựu Thiếu Tá Lâm Sanh Kim, thì Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân đã ra lệnh cho ông (tức Thiếu Tá Nhung) giết chớ không phải Trung Tướng Dương Văn Minh.
    Cho đến bây giờ là tháng 08/2011, , tôi vẫn giữ nguyên nghi vấn Trung Tướng Dương Văn Minh ra lệnh cho Đại Úy Nguyễn Văn Nhung (cấp bậc lúc đảo chánh) giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm với ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu, vì Trung Tướng Dương Văn Minh là vị lãnh đạo cuộc đảo chánh ngày 01/11/1963. Trong chức vụ và quyền hạn của Trung Tướng Dương Văn Minh, chỉ có ông mới đủ thẩm quyền ra lệnh cho Đại Úy Nhung giết Tổng Thống Diệm với ông Cố Vấn Nhu, chớ không thể nào Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân trong trách nhiệm thay mặt Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng -theo lời của cựu Đại Tá Dương Hiếu Nghĩa- lại tự ý ra lệnh này được.
    Cứ thử nêu một giả thuyết là Trung Tướng Minh có giao quyền rộng rãi cho Thiếu Tướng Xuân tùy cơ ứng biến với Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu đi nữa, thì từ khi đoàn xe rời nhà thờ Cha Tam chạy đến cổng xe lửa dừng lại chờ xe lửa chạy ngang, đã có việc gì xảy ra đâu mà Thiếu Tướng Xuân đến nỗi phải “ứng biến” bằng cái lệnh “bắn cả hai” như Thiếu Tá Nhung khai với Đại Úy Nguyễn Ngọc Bích Trưởng Phòng 2 Lữ Đoàn Nhẩy Dù, và Trung Úy L âm Sanh Kim, sĩ quan an ninh căn cứ Hoàng Hoa Thám lúc ấy? Một giả thuyết như vậy không có sức thuyết phục, vì lệnh “bắn cả hai” là bắn Tổng Thống với Cố Vấn của Tổng Thống, tính cách quan trọng của cái lệnh này ở cấp quốc gia chớ không phải cái lệnh bắn giết địch quân ở chiến trường.
    Tôi có hai giả thuyết về lời khai của Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung:
    Thứ nhất. Hoặc lời khai đó là thật, nghĩa là Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân được Trung Tướng Dương Văn Minh giao cho cái quyền rộng rãi đó để tùy tình hình mà giải quyết. Nhưng trên đường về Bộ Tổng Tham Mưu trong một “tình hình hoàn toàn yên tỉnh” mà Thiếu Tướng Xuân lại ra lệnh “bắn cả hai” thì hành động đó có thể xem là lạm dụng quyền được giao. Như vậy, phải chăng bắt nguồn từ nguyên nhân hận thù nào đó của Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân đối với Tổng Thống Ngô Đình Diệm? Nhưng nếu do thù hận riêng tư mà Thiếu Tướng Xuân dám ra lệnh giết chết Tổng Thống và Cố Vấn của Tổng Thống, quả là ông liều lỉnh. Liều lỉnh vì cấp trên của ông là Trung Tướng Dương Văn Minh còn đó, cho dù ông có là bạn thân của Trung Tướng Minh đi nữa, không chắc ông dám liều đến như vậy.
    Thứ hai. Hoặc lời khai đó do Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung tự bịa ra để khai khi bị thẩm vấn. Nhưng tại sao lại bịa ra? Rất có thể là Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung muốn bảo vệ Trung Tướng Dương Văn Minh, vị Tướng mà Thiếu Tá Nhung đang là cận vệ. Giả thuyết này có vẻ không vững, bởi lúc Thiếu Tá Nhung cung cấp lời khai này chỉ ba tháng sau ngày Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu bị giết, mà trong dư luận chưa nghe loan truyền về cái lệnh giết Tổng Thống và ông Cố Vấn là công hay tội, thì khó mà nói là Thiếu Tá Nhung đổ tội cho Thiếu Tướng Xuân qua lời khai của ông. Rốt lại, chỉ còn giả thuyết oán ghét hay thù hận của Thiếu Tá Nhung đối với Thiếu Tướng Xuân thôi. Trong cuộc sống, cũng có những sự kiện xảy ra mà không thể dựa trên những dữ kiện bình thường để suy đoán phần kết luận. Nói nôm na là nghịch lý. Phải chăng trường hợp này là như vậy?
    Cuối cùng, tôi vẫn đặt nghi vấn cao nhất và duy nhất là Trung Tướng Dương Văn Minh, người ra lệnh giết chết Tổng Thống Ngô Đình Diệm với ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu.
    Nay thì Tổng Thống Ngô Đình Diệm, ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu, và Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung, ba con người này đã vào lòng đất tối tăm mù mịt, hay đang bay lượn trên những tầng mây cao với những nàng tiên xinh đẹp, thôi hãy để các vị yên nghỉ! Và nếu như hai con người nào đó "đã ra lệnh giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm, giết ông cố vấn Ngô Đình Nhu, và ra lệnh giết Thiếu Tá Nhung nếu có, còn sống trên cõi đời này mà còn chút lương tâm, tôi tin là hai con người đó, đã và đang còm cõi với nỗi khổ riêng của họ! Năm 2003, Đại Tướng Dương Văn Minh, người mà tôi đặt nghi vấn cao nhất là người ra lệnh giết Tổng Thống Diệm với ông Cố Vấn Nhu, đã vào giấc ngủ ngàn thu! Xin cắm một nén hương trước mộ ông, với lời nguyện hương linh ông sớm siêu thoát vào cõi vĩnh hằng xa xôi nào đó, hay cõi đó cũng quanh quẩn trong cõi tạm trần ai này để nhìn cuộc sống tinh thần của những người một thời cùng ông vừa đánh địch vừa đánh bạn!
    Thêm nữa, theo lời của cựu Đại Tướng Trần Thiện Khiêm cho tôi biết vào tối 21/10/2003, thì nguyên nhân dẫn ông vào cuộc đảo chánh này là vì Trung Tướng Dương Văn Minh đã đồng ý với ông (tức Thiếu Tướng Khiêm, cấp bậc lúc đảo chánh) trong cuộc đảo chánh ngày 01//11/1963, là chỉ giải quyết ông cố vấn Ngô Đình Nhu, còn Tổng Thống Ngô Đình Diệm phải được bình yên và xuất ngoại, nhưng sau đó Trung Tướng Minh đã ra lệnh giết luôn Tổng Thống Diệm làm cho ông bất mãn. Cũng do bất mãn đó mà Trung Tướng Khiêm (cấp bậc trong cuộc đảo chánh 30/01/1964) đồng ý với Trung Tướng Khánh lật đổ Trung Tướng Minh và những vị Tướng thân cận của Trung Tướng Minh. Vậy là suy đoán của tôi trong quyển Đôi Dòng Ghi Nhớ từ ấn bản 1 đến ấn bản 4, về nguyên nhân Trung Tướng Trần Thiện Khiêm trực tiếp trong cuộc đảo chánh 30/01/1964, chỉ đúng một nửa.

    Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung chết vào lúc nào?

    Theo lời của cựu Thiếu Tá Lâm Sanh Kim mô tả khi đến phòng giam nhìn thấy thi hài Thiếu Tá Nhung trong tình trạng thắt cổ bằng sợi giây giày loại giày cao cổ, nhưng không nói anh đến đó vào lúc náo. Theo lời của cựu Trung Tá Nguyễn Ngọc Bích thì anh được tin Thiếu Tá Nhung chết vào buổi chiều. Theo lời của cựu Trung Tá Phạm Ngọc Khanh thì sĩ quan trực Lữ Đoàn điện thoại trình Đại Tá Cao Văn Viên tại nhà riêng lúc sáng sớm.
    Xin nhớ rằng, cuộc Chỉnh Lý xảy ra lúc nửa đêm về sáng ngày 30/01/1964 là ngày thứ năm trong tuần. Tôi tin vào lời của cựu Trung Tá Khanh, theo đó thì Thiếu Tá Nhung chết ngay trong đêm thứ năm rạng ngày thứ sáu 31/01/1964., và chết trong tình trạng thắt cổ bằng sợi giây của loại giày cao cổ.
    Tóm lại. Nửa đêm về sáng ngày 30/01/1964, Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung bị bắt đưa về căn cứ Lữ Đoàn Nhẩy Dù là sự thật. Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung trải qua hai cuộc thẩm vấn tại Lữ Đoàn Nhẩy Dù là sự thật. Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung chết trong tình trạng thắt cổ là sự thật. Nhưng Thiếu Tá Nhung chết trong tình trạng thắt cổ, thì những dữ kiện trên đây chưa đủ để khẳng định điều đó là sự thật. Tôi có hai giả thuyết:
    Thứ nhất. Chính Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung tự thắt cổ. Nhưng ông tự thắt cổ là do ông hối hận, do bị áp lực, hay do ông muốn làm một anh hùng vì ông đã giết Tổng Thống với Cố Vấn trong khi không ai làm được, ông bị bắt nhưng ông không muốn bị làm nhục, đã dẫn đến quyết định như vậy? Giả thuyết hối hận không vững, vì luật pháp cũng như dư luận có buộc tội đâu. Giả thuyết do bị áp lực, hoặc giả thuyết ông muốn làm anh hùng, có thể lắm.
    Thứ hai. Không phải chính Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung tự thắt cổ. Vậy, ai đã thắt cổ Thiếu Tá Nhung? Người thắt cổ Thiếu Tá Nhung là do chính người đó, hay người đó nhận lệnh của người nào khác nữa? Tôi không có dữ kiện nào về giả thuyết này, mong vào những nhà viết sử, theo thời gian sẽ thu thập được nhiều dữ kiện làm sáng tỏ vấn đề.


    Tôi có dịp dùng cơm với cựu Đại Tướng Cao Văn Viên vào tối ngày 06/09/2003 tại Virginia, nhưng tôi cảm thấy không nên hỏi những gì liên quan đến cái chết của Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung, vì gần như phần lớn thời gian trong bữa ăn kéo dài 3 tiếng đồng hồ, cựu Đại Tướng Viên cho tôi biết thêm vài sự kiện, đồng thời ông giải thích một số sự kiện về những gì tôi viết về ông trong quyển “Đôi Dòng Ghi Nhớ” của tôi, nhưng cần giải thích thêm để sự kiện được rõ ràng. Ông cũng giải thích về những sự kiện mà những tác giả khác đã nói về ông. Trong đó, có vẻ ông không bằng lòng tác giả Nguyễn Tiến Hưng, vì có những sự kiện mà ông nói là ông Hưng tưởng tượng hoàn toàn.
    Đến đây xin khép lại những dấu hỏi mà tôi chưa đủ dữ kiện giải tỏa, và mời quí vị trở lại bản doanh cuộc đảo chánh.
    Khoảng 7 giờ sáng, Đại Tá Nguyễn Chánh Thi đến bản doanh. Một lúc sau, Thiếu Tá Nguyễn Huy Lợi -cùng nhóm lưu vong với Đại Tá Thi trong vụ đảo chánh 11/11/1960 thất bại- và nhiều sĩ quan khác cũng đến. Đại Tá Thi bước vội đến Thiếu Tá Lợi đang đứng bên ngoài nhà, và sau một lúc lời qua tiếng lại, Đại Tá Thi bốp một phát vào mang tai Thiếu Tá Lợi. Thiếu Tá Lợi đỏ mặt và trong tư thế sẳn sàng bốp lại, nhưng nghĩ sao đó, Thiếu Tá Lợi quay lưng bỏ đi. Đại Tá Thi vào nhà, có vẻ như để chứng minh ông đúng:
    “Thằng khốn nạn đó nó coi thường tôi”.
    Lời lẽ này đúng hay không chỉ có quí vị trong nhóm lưu vong mới biết, nhưng hành động như vậy, tự Đại Tá Thi làm giảm phong cách của một sĩ quan cao cấp trong quân đội.
    Sau một lúc thảo luận, viết rồi sửa, sửa rồi viết. Một bản Tuyên Cáo được phát đi trên làn sóng đài phát thanh Sài Gòn. Đại ý nội dung cho rằng, Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng thành lập trong cuộc đảo chánh ngày 01/11/1963, đã có kế hoạch đưa nước Việt Nam đến trung lập, mà trung lập thì trước sau gì cũng vào tay cộng sản. Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng thành lập hôm nay, sẽ truy tố các vị đó ra tòa trong thời gian sớm nhất.
    Khoảng 10 giờ sáng, điện thoại reo: “Thiếu Tá Hoa tôi nghe”.

    “Em mời Trung Tướng Khiêm nói chuyện với Trung Tướng Minh nghe em”.
    Đó là lời của Trung Tá Đỗ Kiến Nhiễu, chánh văn phòng của Trung Tướng Minh. Năm 1955, ông là Thiếu Tá, Tiểu Đoàn Trưởng của tôi (Tiểu Đoàn 510 Khinh Quân), nên ông thường gọi tôi bằng em. Xe của Trung Tướng Minh và Trung Tá Nhiễu đã vào cổng lúc hơn 9 giờ.

    “Xin Trung Tá chờ đầu máy”.
    “Mời Trung Tướng tiếp chuyện với Trung Tướng Minh”.
    Tôi bước đến ghế bố mà Trung Tướng Khiêm đang nằm vì ông bị cảm, tôi trao ống nói cho ông, nhưng:

    “Chú nói với Trung Tướng Minh là tôi đang mệt và cần nghỉ ngơi. Tôi sẽ gọi lại sau”.
    Quả thật là Trung Tướng Khiêm đang mệt, ông bị khàn tiếng. Từ lúc bắt đầu cuộc đảo chánh, Trung Tướng Khiêm là người ra chiều suy nghĩ âu lo và theo dõi chặt chẻ diễn tiến "cuộc hành quân bắt cóc các vị Tướng". Đến khi các vị đó lên phi cơ quân sự đi Đà Nẳng, ông nằm dài trên ghế bố. Dù sự thật là như vậy, nhưng chắc gì Trung Tướng Minh tin như vậy. Và rồi Trung Tướng Minh có thể nghĩ rằng, Trung Tướng Khiêm đã bắt hết các vị Tướng thân cận của ông rồi, nên khước từ nói chuyện với ông cũng nên. Tôi thì không nghĩ như vậy. Tuy Trung Tướng Khiêm chưa phải là vị Tướng xuất sắc của chiến trường hay nơi bàn giấy, nhưng ông có một tình cảm chân thành của một con người đối với cấp trên, với bạn bè, và nhất là với các cộng sự viên xa gần lớn nhỏ của ông. Tôi đã chứng kiến nhiều lần khi ông niềm nở bắt tay những đồng đội thuộc Tiểu Đoàn 3 Việt Nam, đơn vị mà có lần Trung Tướng Khiêm rất vui vẻ khi ông nói với tôi là ông rất nhiều cảm tình. Những đồng đội trước kia dưới quyền của Trung Tướng Khiêm tại Tiểu Đoàn này, đến những năm 60, phần lớn là Thượng Sĩ hay Thượng Sĩ Nhất.

    “Thưa Trung Tá, Trung Tướng Khiêm bị cảm và khàn cổ. Thể nào Trung Tướng Khiêm cũng gọi lại Trung Tướng Minh khi sức khỏe cho phép”.
    Nói thì nói vậy, nhưng khoảng 30 phút sau thì Trung Tướng Khiêm điện thoại nói chuyện với Trung Tướng Minh. Theo lời ông thuật lại với Trung Tướng Khánh và Đại Tá Viên, tôi biết là Trung Tướng Minh cần gặp ông với Trung Tướng Khánh để thảo luận một số vấn đề cần thiết. Vấn đề gì thì tôi không biết, nhưng tôi nghĩ chỉ quanh quẩn về việc các vị bị bắt thôi, chớ chẳng việc nước việc non gì đâu. Bởi sự thể đã đâu vào đó rồi. Nhưng nếu Trung Tướng Khánh ở vị trí Trung Tướng Minh hiện tại, thì Trung Tướng Khánh không nói chuyện êm thấm nhẹ nhàng vậy đâu, bởi Trung Tướng Khánh vốn là không ôn hòa, nhất là trong tình cảnh đó.
    Sau một lúc thảo luận to nhỏ với người Mỹ đã có mặt từ sớm, Trung Tướng Khánh mời Trung Tướng Khiêm và Đại Tá Viên vào bàn họp. Một số sĩ quan quan tâm hay hiếu kỳ, đang đứng lóng ngóng trong nhà để theo dõi tin tức, được mời ra sân. Tại sân, khá đông sĩ quan các quân binh chủng, cùng một số phóng viên báo chí. Tuy không đông, không nhộn nhịp như cuộc đảo chánh 01/11/1963, nhưng cũng chật sân trước. Lúc bấy giờ trong nhà Trung Tướng Khánh, chỉ có Trung Tướng Khánh, Trung Tướng Khiêm, Đại Tá Viên, người Việt Nam có vẻ là thân tín của Trung Tướng Khánh, một viên chức Hoa Kỳ, và tôi. Trung Tướng Khánh lên tiếng trước như là người chủ tọa:

    “Thôi, mọi việc xong rồi. Bây giờ thì anh Khiêm làm đi”.

    Trung Tướng Khiêm, tay phải gỡ kiến xuống và tay trái lau kiến, đó là những động tác biểu hiện sự suy nghĩ của ông. Tiếp đó, ông xoay qua Đại Tá Viên, vừa cười vừa nói:

    “Phần tôi đến đây là đủ rồi. Tôi không thích chính trị đâu, hay là anh Viên nhận đi”.

    Đại Tá Viên với nụ cười không hết miệng như lúc nào, ông nói:

    “Thôi. Hai anh tính với nhau đi, ai làm cũng được mà. Tôi không thích lao vào chính trị đâu. Phần tôi đến đây là xong. Tôi muốn ở Lữ Đoàn Dù với anh em của tôi”.

    Đại Tá Viên lớn tuổi hơn hai vị kia, nhưng ông rất cẩn thận trong cách xưng hô với mọi người, ngay cả với cấp dưới cũng vậy, chớ không nhất thiết là chỉ cẩn thận với hai vị này.

    “Các "toa" không nhận thì "moa" đành nhận thôi”.

    Nói xong, Trung Tướng Khánh cười khoan khoái. Trung Tướng Khánh nói nhận ở đây, là nhận chức Chủ Tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng, tức Quốc Trưởng, và kiêm luôn chức Thủ Tướng. Vậy là chức vụ của Trung Tướng Khánh nhiều bằng chức vụ của Trung Tướng Minh với ông Đốc Phủ Sứ Nguyễn Ngọc Thơ trước đây cộng lại. Trung Tướng Khánh đồng ý giữ Đại Tá Viên trong chức vụ Tư Lệnh Lữ Đoàn Nhẩy Dù. Mời Trung Tướng Khiêm giữ chức Tổng Tưởng Quốc Phòng kiêm Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội, nhưng Trung Tướng Khiêm không nhận. Ông muốn ở lại chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn III. Dĩ nhiên là chính ông "muốn" chớ không phải ông "bị" như cách đây tròn 1 tháng. Buổi họp chọn vị đứng đầu quốc gia và đứng đầu chánh phủ tạm ngưng, vì Trung Tướng Khánh phải lên tòa nhà chánh họp báo.

    Lúc đó là 2 giờ chiều, tại tầng trệt tòa nhà chánh. Rất đông phóng viên báo chí truyền thanh truyền hình trong nước lẫn ngoại quốc. Trên bàn chủ tọa, Đại Tá Cao Văn Viên ngồi cạnh Trung Tướng Nguyễn Khánh, còn Trung Tướng Khiêm vắng mặt vì bệnh. Chuẩn Uý Nguyễn Ngọc Linh là thông dịch. Chuẩn Uý Linh tốt nghiệp khóa 12 (hoặc 13) Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Ông là chủ một trường Anh ngữ khá nổi tiếng tại Sài Gòn. Sinh viên sĩ quan khóa này có một số khá đông tốt nghiệp đại học mà báo chí thường gọi là "thành phần khoa bảng".
    Tổng quát thì Trung Tướng Khánh cho rằng, một số Tướng Lãnh trong nhóm đảo chánh 01/11/1963, đã âm mưu đưa nước Việt Nam đến trung lập, mà trung lập là thời kỳ chuyển tiếp đến chế độ cộng sản. Và âm mưu này phải phá vở từ trong trứng, nếu không, nó sẽ là một sỉ nhục các chiến sĩ và đồng bào đã ngã xuống cho ngọn cờ quốc gia chống cộng. Đồng thời, dân tộc Việt Nam phải chịu sự thống trị của cộng sản và lệ thuộc Trung Cộng như hằng ngàn năm trong lịch sử. Do vậy, mà nhóm của ông đứng lên làm cuộc "chỉnh lý" hôm nay....
    Sau đó, ông trả lời những câu hỏi của báo chí. Phần lớn những câu hỏi đều xoay quanh điều mà ông nói là âm mưu trung lập Việt Nam. Tôi không nhớ hết nguyên văn câu hỏi và trả lời, nhưng những điều dưới đây là tôi tóm tắt theo trí nhớ (đoạn này tôi viết lại lúc trong tù):

    “Nhóm lãnh đạo chỉnh lý gồm những ai?”

    “Nhóm lãnh đạo của chúng tôi gồm 3 người: Tôi, Trung Tướng Trần Thiện Khiêm, và Đại Tá Cao Văn Viên”. Vừa nói ông vừa chỉ Đại Tá Viên.

    “Xin Trung Tướng cho biết những bằng cớ về âm mưu trung lập?”

    “Hội Đồng chúng tôi sẽ truy tố các vị đó ra tòa theo luật định. Toà án sẽ căn cứ vào những bằng cớ để phán quyết”.

    “Các vị Tướng đó nghe nói đã bị bắt, có đúng không? Nếu đúng, thì các vị đó bị giữ ở đâu?”

    “Đúng. Các vị đó được giữ ở nơi an toàn trong khi chờ ra tòa”.

    “Nhóm Chỉnh Lý có thành lập chánh phủ dân sự như nhóm đảo chánh trước đây hay không?”

    “Chúng tôi thành lập chánh phủ quân sự, nhưng cũng là tạm thời”.

    “Hiến Chương tạm thời bao giờ được thay đổi?”

    “Sẽ được thay bằng Hiến Pháp khi Quốc Hội được bầu lên trong một tình hình ổn định”.

    “Hàm râu của Trung Tướng cắt theo kiểu đó có nghĩa gì?”

    Dường như bị bất ngờ, Trung Tướng Khánh đưa tay vuốt chòm râu cụt ngủn kèm theo nụ cười kéo dài khá lâu, chắc là để tìm câu trả lời trước câu hỏi này.

    “Mỗi quân nhân chúng tôi thường có cái gì đó để kỷ niệm cho riêng mình. Hàm râu của tôi cũng không ngoài ý nghĩa đó”.

    Và cuộc họp báo chấm dứt, nhưng điều mà các phóng viên thắc mắc liên quan đến bằng chứng về kế hoạch trung lập của các vị Tướng bị bắt, thì Trung Tướng Khánh trả lời rất mơ hồ, khiến họ tỏ vẻ không hài lòng. Mà thật ra ngôn ngữ trong chính trị, không nhất thiết một với một là hai như trong ngôn ngữ của các ngành sinh hoạt khác, cho nên có hài lòng hay không hài lòng cũng vậy thôi.
    Trước bữa ăn tối, Trung Tướng Khánh, Trung Tướng Khiêm, và Đại Tá Viên, thảo luận với một số vị dân sự và hành chánh để thành lập chánh phủ. Tôi xin phép chạy về nhà vì con tôi lên cơn nóng, nên không theo dõi được phần thảo luận chi tiết. Sau đó Trung Tướng Khiêm gọi tôi trở lại "bản doanh" gấp:
    “Chú sang bộ tư lệnh Quân Đoàn nói với Đại Tá Mạnh (Nguyễn Văn Mạnh) Tham Mưu Trưởng, chuẩn bị để sáng mai tôi bàn giao cho Thiếu Tướng Lâm Văn Phát. Còn mấy chú cũng chuẩn bị bàn giao văn phòng rồi trở về Tổng Tham Mưu với tôi”.
    “Trung Tướng đã nhận lời với Trung Tướng Khánh?”
    “Không có người nên tôi phải nhận thôi. Tôi coi Bộ Quốc Phòng và Bộ Tổng Tham Mưu luôn. Tôi ngồi ở văn phòng mà trước kia Đại Tướng Tỵ ngồi đó. Chú sắp xếp lại cho tôi. Phần chú, chú làm chánh văn phòng cả hai bên, nghĩa là Bộ Quốc Phòng và Tổng Tham Mưu. Thôi, chú chạy qua Quân Đoàn lo cho kịp. Nhớ bảo Đại Uý Tuấn về lại Tổng Quản Trị luôn”. (Đại úy Nguyễn văn Tuấn, về sau là Đại Tá, Giám Đốc Nha An Ninh Hành Chánh khi Đại Tướng Trần Thiện Khiêm làm Thủ Tướng)
    “Chào Trung Tướng, tôi đi ngay”.
    Sáng 31/01/1964, bàn giao xong, tôi và các quân nhân văn phòng dọn về lại văn phòng Tổng Tham Mưu Trưởng. Vẫn trên tầng lầu, nhưng khác phòng. Trung Tướng Khiêm nhận hai chức vụ của Trung Tướng Trần Văn Đôn nhưng không có bàn giao, vì Trung Tướng Đôn đã bị bắt từ hôm qua. Cùng lúc, Thiếu Tướng Nguyễn Văn Thiệu nhận chức Tham Mưu Trưởng Liên Quân, cũng không có bàn giao vì Trung Tướng Lê Văn Kim cũng bị bắt rồi. Tôi nhận bàn giao của Thiếu Tá Đặng Văn Hoa, gồm văn phòng Tổng Trưởng Quốc Phòng và văn phòng Tổng Tham Mưu Trưởng.
    Việt Nam chúng ta chịu ảnh hưởng gần như hoàn toàn về kinh tế và quân sự của Hoa Kỳ, dĩ nhiên là về mặt chính trị cũng vậy. Nói rõ hơn trong các biến cố chính trị, nhóm nào được Mỹ ủng hộ thì phần thắng có thể trong tầm tay. Ủng hộ thì có thể có nhiều cách, nhưng sự có mặt của một người Mỹ trong cuộc đảo chánh 01/11/1963 và cuộc đảo chánh lần này, là biểu hiện rõ nhất. Với cuộc đảo chánh 30/01/1964, giữa bộ ba lãnh đạo đảo chánh (chỉnh lý, chỉ là một loại ngôn ngữ chính trị) với Hoa Kỳ, liệu bên nào là bên khởi xướng? Điều đó tôi không rõ, nhưng chắc chắn là ba vị này đã tiếp xúc ít nhất là 2 lần với Hoa Kỳ, kể từ lúc tôi đón Trung Tướng Khánh về đến Sài Gòn.
    Nhìn từ góc độ cá nhân. Liệu có phải cuộc đảo chánh bắt nguồn từ "cái hận của Trung Tướng Trần Thiện Khiêm" khi cử ông vào phái đoàn công du Đại Hàn mà ông tưởng như phần thưởng, để rồi cử ông vào chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn III trong khi ông công du ngoại quốc chưa về? Xin nhớ rằng, Trung Tướng Khiêm là một trong những vị nòng cốt lãnh đạo cuộc đảo chánh 01/11/1963, vì trong chức vụ Tham Mưu Trưởng Liên Quân nếu ông không tham gia thì cuộc đảo chánh cũng không dễ gì thực hiện được. Và cũng liệu có phải là từ "cái hận" của Đại Tá Viên khi bị tách khỏi Lữ Đoàn Nhẩy Dù trong cuộc đảo chánh 01/11/1963 không? Nếu không phải là "những cái hận" đó, thì tại sao trong buổi họp chọn người lãnh đạo ngay sau khi đảo chánh thành công, Trung Tướng Khiêm nói "phần tôi đến đây là đủ rồi", và tại sao Đại Tá Viên cũng nói "phần tôi đến đây là xong rồi". Cả hai vị có cùng câu nói tương tự nhau là bao hàm ý nghĩa rằng "tôi không thích chính trị" hoặc "tôi không thích lao vào chính trị", để rồi Trung Tướng Khánh "đành" nhận cả hai chức vụ cao nhất nước? Hãy để câu trả lời chính xác cho cựu Đại Tướng Trần Thiện Khiêm và cựu Đại Tướng Cao Văn Viên.
    Nếu chấp nhận giả thuyết "hai cái hận" nói trên là nguyên nhân, thì theo tôi, hành động phục hận của Trung Tướng Khiêm và Đại Tá Viên mới là "động lực", mà động lực không cũng chưa đủ, vì phải có "ngòi nổ" để phát nổ nữa chớ. Trung Tướng Khánh là mẫu người nhiều tham vọng, và đây đúng là "ngòi nổ" để đẩy động lực kia nổ máy. Tôi muốn nói là Trung Tướng Khánh đã khai thác cái hận của Trung Tướng Khiêm với Đại Tá Viên bằng cách khích hai vị ấy phục hận. Cũng chưa đủ, phải có "lửa" châm ngòi nổ nữa chớ. Tôi cho rằng Hoa Kỳ là ánh lửa châm ngòi. Như vậy, nếu đúng là phục hận thì Hoa Kỳ cũng có nguyên nhân nào đó chớ chẳng lẽ Hoa Kỳ giúp đảo chánh chỉ để hai vị phục hận riêng tư sao? Chắc chắn là không.
    Nhìn vào một góc độ khác, góc độ chính trị ngoại giao. Liệu có phải Hoa Kỳ muốn loại trừ những Tướng lãnh cầm quyền mà trước đó có tiếng là thân Pháp ra khỏi chính trường Việt Nam không? Chắc trong chúng ta, lứa tuổi chào đời thập 20, 30, không ai quên là Pháp rất không bằng lòng hành động của Hoa Kỳ góp phần đẩy nước Pháp đến việc ký kết Hiệp Định Đình Chiến Genève 20/07/1954 với Việt Minh cộng sản, dẫn đến sự kiện nước Pháp thua trận và đoàn quân viễn chinh của Pháp hoàn toàn rút khỏi Việt Nam tháng 03/1956. Tổng Thống Pháp quốc, Tướng Charles De Gaulle, vào đầu thập niên 1960, trong chuyến viếng thăm Cambodge, ông cổ võ chính sách trung lập cả ba nước Việt Nam, Cam Bốt, và Lào. Quan niệm trung lập của ông De Gaulle, chẳng khác nào xúi ba nước trên bán đảo Đông Dương vào ảnh hưởng cộng sản, điều đó có nghĩa là vực Việt Nam Cộng Hòa (cùng với Cam Bốt và Lào) ra khỏi ảnh hưởng của Hoa Kỳ. Phải chăng đây cũng là cách phục hận của Pháp đối với Mỹ? Lúc ấy, Tổng Thống Ngô Đình Diệm phản ứng mạnh mẽ về lời tuyên bố đó của Tổng Thống Pháp.
    Liên quan đến đoạn trên đây, cựu Đại Tướng Khiêm nói với tôi trong cuộc điện đàm tối 21/10/2003, như sau:

    “Tôi không biết tại sao mà Mỹ lại bỏ rơi ông Minh nữa”.

    Tôi nói với ông về nét nhìn của tôi như đoạn viết ở trên. Ông nói:

    “Điều chú nói có lý lắm, nhưng có thể còn điều gì đằng sau đó nữa”.

    Nhưng mà thưa các bạn, với câu nói ngắn ngủi của cựu Đại Tướng Khiêm trên đây, cộng với nguyên nhân mà Trung Tướng Khánh (cấp bậc lúc đảo chánh) đã tuyên bố trong buổi họp báo cách nay 39 năm sau khi đảo chánh thành công (30/01/1964), theo đó thì Trung Tướng Dương Văn Minh và các vị trong Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng thành lập ngày 01/11/1963, có kế hoạch đưa Việt Nam đến trung lập, có thể làm quí vị suy nghĩ nếu quí vị muốn đào sâu thêm về con người dẫn đến sự kiện ngày 30/01/1964.

    Nhìn sang góc độ khác nữa, góc độ chính trị nội bộ. Liệu có phải năm vị Tướng vừa bị bắt kia, thật sự có kế hoạch trung lập Việt Nam hay không vì Trung Tướng Khánh với quyền uy cao nhất nước, đã nói với báo chí là sẽ đưa các vị đó ra tòa (?). Tôi chấm hỏi trong ngoặc đơn như vậy vì tôi nghi ngờ lời ông. Tôi nghi ngờ vì chen lẫn trong lúc ba vị thảo luận thành lập chánh phủ, Trung Tướng Khánh có nói sẽ ra lệnh cho Trung Tá Cao (Albert Nguyễn Cao) và Thiếu Tá Nhiêu (Lê Văn Nhiêu) -sĩ quan tình báo- truy tìm tài liệu về "kế hoạch trung lập". Câu nói đó cho tôi hiểu đôi chút là khi bắt các vị Tướng bị cáo buộc "trung lập", thì trong tay các vị đảo chánh chưa có bằng chứng gì trung lập hết, hoặc nếu có cũng chưa đủ để đưa các vị ấy ra tòa.
    Năm 1994, khi tôi viết lại đoạn này thì cựu Đại Tướng Trần Thiện Khiêm sống ở Washington D.C. một cách lặng lẽ, không tiếp xúc với ai liên quan đến chính trị. Trong khi cựu Đại Tướng Cao Văn Viên thì đi sâu vào thiền, cũng ở Washington D.C. và cuộc sống càng ẩn dật hơn cựu Đại Tướng Khiêm nữa. Điều đó đúng trong thời gian ấy.

  9. The Following 2 Users Say Thank You to chimtroi For This Useful Post:

    hieunguyen11 (12-25-2011),muahong (12-30-2011)

  10. #6
    Moderator
    chimtroi's Avatar
    Status : chimtroi v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Dec 2007
    Posts: 1,134
    Thanks: 192
    Thanked 998 Times in 334 Posts

    Default


    Ngày 06/09/2003, vợ chồng tôi lên Virginia thăm ông bà cựu Đại Tướng Khiêm, nhận thấy ông và gia đình ông vẫn trong cuộc sống ẩn dật tuy là trong căn nhà khá rộng. Buổi tối cùng ngày, tôi và hai người bạn nữa đến đón cựu Đại Tướng Viên từ một gian phòng nhỏ trong building khang trang, về nhà anh chị Lý Thanh Tâm dùng cơm tối. Anh Lý Thanh Tâm, một cựu sĩ quan ngành Tổng Quản Trị. Anh Chị Lý Thanh Tâm, là người giúp cựu Đại Tướng Viên rất nhiều việc trong những năm gần đây. Trong bữa ăn này, tôi thấy sức khoẻ của ông rất kém nhưng sự minh mẫn không sa sút bao nhiêu, tôi không hỏi ông về thiền vì sức khoẻ của ông như vậy ông không thể ngồi thiền được nữa. Có một điều thật dứt khoát là ông không thể tham gia vào những vấn đề chính trị, đơn giản là sức khỏe của ông trong tình trạng sút kém đến mức khó mà hình dung được nếu không trông thấy ông.
    Xin giải thích thêm về cựu Đại Tướng Cao văn Viên. Trong cuộc đảo chánh Tổng Thống Ngô Đình Diệm ngày 01 và 02/11/1963, lúc ấy ông là Đại Tá, bị Hội Đồng Quân Cách Mạng cách ly khỏi chức vụ Tư Lệnh Lữ Đoàn Nhẩy Dù và bị cách chức sau khi Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng đảo chánh thành công. Nhưng bà Cao Văn Viên nhờ Trung Tướng Trần Thiệm Khiêm (cấp bậc lúc bấy giờ) vì hai vị là bạn thân, vận động với Trung Tướng Dương Văn Minh và Đại Tá Viên được trở lại chức vụ Tư Lệnh Lữ Đoàn Nhẩy Dù, dĩ nhiên vị sĩ quan thay thế ông mấy ngày phải chuyển sang đơn vị khác. Tháng sau đó, trong một cuộc hành quân trực thăng vận (chuyển quân bằng phi cơ trực thăng đổ ngay tại chiến trường) dọc biên giới Việt Nam-Cam Bốt thuộc quận Hồng ngự, tỉnh Kiến Phong. Cuộc hành quân này đã đánh nhau dữ dội với quân cộng sản từ bên trong lãnh thổ Cam Bốt xâm nhập vào, với sự yểm trợ của Pháo Binh, Thiết Giáp, và Không Quân, Nhẩy Dù đã chiến thắng nhưng chấp nhận số thương vong đáng kể. Trong số bị thương có Đại Tá Viên, ông và những thương binh khác được đưa về Tổng Y Viện Cộng Hòa điều trị. Chiều hôm đó, Trung Tướng Nguyễn Khánh với chức năng Quốc Trưởng, cùng với Trung Tướng Trần Thiện Khiêm, Tổng Trưởng Quốc Phòng kiêm Tổng Tham Mưu Trưởng, vào tận giường bệnh trao gắn cấp bậc Thiếu Tướng cho Đại Tá Cao Văn Viên. Đây là thăng cấp mặt trận. Đến đây là hết phần giải thích.
    Một hôm, Trung Tướng Khiêm gọi tôi vào văn phòng, tôi thấy ông có vẻ như có điều gì quan trọng, ông nói:

    “Chú phải biết là ngoài Bộ Quốc Phòng và Bộ Tổng Tham Mưu, tôi còn là cố vấn cho Trung Tướng Khánh nữa, nên tôi không có thì giờ nhiều như trước đây. Vì vậy mà chú phải thận trọng khi thu xếp chương trình tiếp khách hằng ngày của tôi để tôi có thì giờ nghiên cứu nhiều vấn đề. Chú hiểu ý tôi chớ?”

    “Vâng. Tôi hiểu”.

    “Dù muốn hay không muốn, tôi cũng phải dính dáng đến chính trị. Đó là điều không thích hợp với tôi”.

    “Vâng. Tôi hiểu”.

    Ngưng một chút, ông tiếp:

    “Chú liên lạc Phòng Tổng Quản Trị (Tổng Tham Mưu) làm lệnh thuyên chuyển Đại Úy Đặng Văn Châu về văn phòng (Tổng Tham Mưu Trưởng), làm thông dịch viên khi cần”.

    Đại Úy Đặng Văn Châu là chánh văn phòng Tỉnh Trưởng Vĩnh Long, lúc ấy Trung Tá Lê Văn Phước là Tỉnh Trưởng. Sau ngày 01/11/1963, Trung Tá Phước bị cách chức và giải ngũ. Thế là Đại Úy Châu về văn phòng tôi. Trong văn phòng Tổng Tham Mưu Trưởng có các sĩ quan sau đây: (1) Tôi. (2) Đại Úy Nguyễn Hữu Có sĩ quan tùy viên luôn luôn đi theo Trung Tướng Khiêm. (3) Đại Úy Nguyễn Tinh Tú sĩ quan tùy viên tại tư dinh. (4) Đại úy Đặng Văn Châu thông dịch viên. (5) Trước ngày đảo chánh còn có Đại Uý Trần Thiện Ngươn, anh của Trung Tướng Trần Thiện Khiêm, nhưng sau ngày đảo chánh anh thuyên chuyển đơn vị khác vì văn phòng dư sĩ quan theo ấn định trong bảng cấp số. Thật ra Trung Tướng Khiêm chỉ sử dụng Đại Úy Châu thông dịch trong trường hợp tiếp các phóng viên báo chí ngoại quốc, không phải ông không nói được Anh ngữ, nhưng vì nhà báo ngoại quốc thường hỏi những câu hóc búa, thành ra ông cần cái khoảng thời gian thông dịch để chuẩn bị câu trả lời.
    Vài tuần sau ngày trở lại Bộ Tổng Tham Mưu, Trung Tướng Khiêm bảo tôi viết chi phiếu xuất 100.000,00 đồng cho nhà thờ Martino tu sửa những hư hỏng, vì ảnh hưởng trong cuộc chạm súng giữa lực lượng tấn công với lực lượng phòng vệ Phủ Tổng Thống trong ngày 01/11/1963. Tập chi phiếu này tôi nhận bàn giao ngày 31/01/1964 từ Thiếu Tá Đặng Văn Hoa, chánh văn phòng Tổng Trưởng Quốc Phòng. Lúc ấy, số tiền trong quỹ mật còn 36.000.000,00 đồng.
    Lần thứ nhì, tôi cũng được lệnh viết chi phiếu 100.000,00 đồng cấp cho Trung Tá Nguyễn Văn Luông, Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh/Tổng Tham Mưu, trong dịp Trung Tá Luông cưới vợ cho con. Tôi nghĩ, ngoài công tác bắt những vị Tướng khởi đầu cũng là kết thúc cho cuộc đảo chánh ngày 30/01/1964 ra, không có nguyên nhân nào khác để Trung Tá Luông được phần thưởng này cả. Cho Trung Tá Luông để cưới vợ cho con, tôi nghĩ, đó chỉ là cái cớ hơn là nguyên nhân.
    Trong số những sĩ quan bị bắt sau cuộc đảo chánh ngày 01/11/1963 đang giữ tại Nha An Ninh Quân Đội, có Trung Tá Nguyễn Văn Minh, và Trung Tá Nguyễn Khắc Bình, là hai trong số những vị tôi quen biết khá nhiều. Trung Tá Minh, Tỉnh Trưởng An Giang trong khi Đại Tá Trần Thiện Khiêm (cấp bậc lúc bấy giờ) Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh kiêm Tư Lệnh Khu 33 Chiến Thuật (còn gọi là Khu Chiến Thuật Hậu Giang). Trung Tá Bình, khi còn tổ chức Quân Khu, ông là Tham Mưu Trưởng đệ ngũ Quân Khu đồn trú tại Cần Thơ. Tháng 04/1961, khi giải thể tổ chức Quân Khu để thành lập Khu Chiến Thuật với Vùng Chiến Thuật, Sư Đoàn 21 Bộ Binh từ Sa Đéc di chuyển sang Cần Thơ đồn trú ngay trong doanh trại Quân Khu vừa giải thể, và Thiếu Tá Bình (cấp bậc lúc bấy giờ) giữ chức Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn 21 Bộ Binh. Do mối liên hệ công tác đó đã dẫn đến thân tình giữa Đại Tá Khiêm với hai vị.
    Cũng xin nói thêm đôi nét về Thiếu Tá Nguyễn Khắc Bình. Từ Sư Đoàn 21 Bộ Binh, Thiếu Tá Bình được Tổng Thống Ngô Đình Diệm bổ nhiệm vào chức vụ Tỉnh Trưởng Định Tường. Theo lời Đại Uý Nguyễn Hữu Tài hồi năm 1964 -anh của Thiếu Tướng Nguyễn Hữu Có- thì sáng ngày 01/11/1963, Thiếu Tá Bình mang một phúc trình mật từ Mỹ Tho lên Sài Gòn để trình Tổng Thống Ngô Đình Diệm về những dấu hiệu của một cuộc đảo chánh, nhưng Thiếu Tá Bình bị Đại Tá Có (cấp bậc lúc bấy giờ) chận bắt.
    Bà Nguyễn Văn Minh và bà Nguyễn Khắc Bình, sau nhiều lần đến nhà tôi nhờ tôi trình với Trung Tướng Khiêm xin cứu xét giúp cho hai ông được tự do. Trung Tướng Khiêm có vẻ phân vân, chưa quyết định. Lần trình bày thứ nhì của tôi cùng với đơn của hai bà, Trung Tướng Khiêm phê dòng chữ trên hai đơn đó:
    “Nha An Ninh (Quân Đội) cứu xét rộng rãi”.
    Sau đó, Trung Tá Minh và Thiếu Tá Bình được tự do. Chưa có quyết định gì về Trung Tá Minh, nhưng Thiếu Tá Bình được thuyên chuyển về văn phòng Tổng Tham Mưu Trưởng, và Trung Tướng Khiêm giao trách nhiệm cho Thiếu Tá Bình khai thác đống hồ sơ của đảng Cần Lao, mà Trung Tướng Trần Văn Đôn đã cho chở đầy một xe vận tải quân sự GMC từ Phủ Tổng Thống về tòa nhà chánh Tổng Tham Mưu từ ngày 02/11/1963, và tôi cho mang lên để ở tầng lầu trên cùng.
    Vài tháng sau đó, Thiếu Tá Nguyễn Khắc Bình được thăng cấp Trung Tá. Trong khi Trung Tá Nguyễn Văn Minh vẫn cấp bậc cũ, nhưng ông có cái may khác. Trung Tá Minh lần đầu tiên đến văn phòng tôi kể từ sau ngày được tự do, ông vẫn giữ thông lệ chơi ngọt với tôi nên phần “uống cà phê chơi” của tôi lần này là con búp bê sản xuất “bên Tây” rất đẹp.
    Xin nhắc lại là khi ông làm Tỉnh Trưởng An Giang, tôi là chánh văn phòng Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh đồn trú tại Cần Thơ, cứ mỗi lần ông đến Cần Thơ họp là y như rằng, Trung Tá Minh tặng tôi cái phong bì mà bên trong là 200,00 đồng (Việt Nam) kèm theo lời nói của ông:

    “Em cầm lấy uống cà phê chơi” dù ông biết rằng tôi không quen uống cà phê.

    Sau đó thỉnh thoảng ông tạt vào văn phòng tôi chơi. Một hôm Trung Tá Minh nhờ tôi trình Trung Tướng Khiêm, cho ông thuyên chuyển đến Sư Đoàn 21 Bộ Binh và ông bằng lòng nhận bất cứ nhiệm vụ gì ở đó. Ông giải thích thêm:

    “Em biết hông, theo thầy tướng số, nếu Anh được về hướng đó sẽ có nhiều cơ hội thăng tiến hơn. Em ráng giúp Anh nghe Hoa”.

    Trong khi chờ quyết định của Trung Tướng Khiêm, Trung Tá Minh cho tôi thêm thông tin liên quan đến ông, rằng Đại Tá Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh đồng ý cử ông vào chức vụ Chỉ Huy Trưởng Lữ Đoàn Cà Mau. Và rồi Trung Tá Minh thành công bước đầu, tức là ông được Trung Tướng Khiêm chấp thuận thuyên chuyển đến Sư Đoàn 21 Bộ Binh. Và bước thứ hai:

    “Hoa à! Em ráng giúp Anh lần nữa nghe. Lần này là em thu xếp cho Anh chiếc phi cơ L19, và điều cần là anh phi công với phi cơ có mặt tại sân VIP đúng 7 giờ sáng -không sớm cũng không muộn- và đừng tắt máy. Anh sẽ lên phi cơ ngay. Anh nói nhỏ em nghe: ông thầy tướng số nói nếu như Anh đi đúng như vậy và đúng về hướng Sư Đoàn 21 thì tương lai Anh sẽ lên tột đỉnh trong quân đội đó em. Ráng nghe Hoa”.

    Trước khi ra về, ông đưa tôi cái phong bì tặng anh phi công, và phần “uống cà phê chơi” của tôi cũng là một phong bì.
    Xin giải thích. Trung tuần tháng 12 năm 1962, ngay sau khi Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm (thăng cấp Tướng ngày 06/12/1962) bàn giao Sư Đoàn 21 Bộ Binh cho Đại Tá Bùi Hữu Nhơn, thì Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn cùng các đơn vị yểm trợ trực thuộc, di chuyển đến nơi đồn trú mới là Bạc Liêu, vì Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn IV sẽ thành lập từ ngày 01/01/1963 đồn trú tại trại Lý Thường Kiệt trong tỉnh lỵ Cần Thơ. Còn phi cơ L19 là loại phi cơ sử dụng quan sát từ trên không, và hướng dẫn Pháo Binh hoặc phi cơ khu trục tác xạ. Trường hợp cần thiết, sử dụng chở một sĩ quan hay Tướng Lãnh công tác. Còn Lữ Đoàn Cà Mau là tên gọi một đơn vị chiến thuật do Sư Đoàn 21 Bộ Binh thành lập cho nhu cầu ổn định tình hình tỉnh An Xuyên (Cà Mau là tỉnh lỵ), gồm Trung Đoàn 32 Bộ Binh (trực thuộc Sư Đoàn 21 Bộ Binh) và Pháo Binh với Thiết Kỵ (Thiết Giáp Kỵ Binh).
    Vài tuần sau ngày Trung Tá Nguyễn Văn Minh nhận nhiệm vụ tại Lữ Đoàn Cà Mau, ông điện thoại về tôi:
    “Hoa à! Anh đang có một việc liên quan đến tòa án và họ có giấy gọi Anh về Sài Gòn để trả lời một số câu hỏi. Em ráng nói với chánh văn phòng Bộ Tư Pháp là đơn vị Anh đang hành quân, khi xong thì Anh về trình diện. Em ráng giải quyết càng sớm càng tốt nghe em”.

    “Mà chuyện gì vậy Trung Tá? Liệu có ghê gớm lắm hông?”

    “Không quan trọng đâu em. Chẳng qua là sự việc chưa rõ ràng thôi mà”.

    “Được. Tôi sẽ cố gắng nhưng không hứa chắc chắn nghe Trung Tá, vì tôi chưa hiểu đầu đuôi ra sao”.

    Sau khi liên lạc với chánh văn phòng ông Tổng Trưởng Tư Pháp, tôi mới biết Trung Tá Nguyễn Văn Minh đang là một trong những nghi can về cái chết của mấy nhân vật chính trị đã bị thủ tiêu ở tỉnh An Giang mà lúc ấy Trung Tá Minh là Tỉnh Trưởng. Chánh văn phòng Bộ Tư Pháp cho biết là ông Tổng Trưởng thuận dời lại đến khi Trung Tá Minh chấm dứt hành quân. Tôi cũng không hiểu là bằng cách nào mà chỉ trong thời gian ngắn sau đó, Trung Tá Nguyễn Văn Minh đã vận động ra sao mà từ đó tôi không nghe thấy gì về vụ này nữa. Khi viết lại những dòng này, tôi tự hỏi: có phải là tôi đã chen chân vào vụ án đó hay không nữa? Thật lòng là tôi chỉ nói đúng theo yêu cầu của Trung Tá Minh chỉ xin dời ngày trình diện của ông thôi.
    Về ông thầy tướng số tử vi đã giải lá số tử vi của Trung Tá Nguyễn Văn Minh hay dở ra sao thì tôi không rõ, nhưng có điều là sau cuộc chiến Mùa Hè Đỏ Lửa tháng 04/1972, có dư luận ngay trong Bộ Tổng Tham Mưu là Trung Tướng Nguyễn Văn Minh (ông đã thăng cấp khá nhanh) có hi vọng thay thế Đại Tướng Cao Văn Viên trong chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng.
    Xin trở lại Bộ Tổng Tham Mưu.
    Đầu tháng 04 năm 1964, một Sắc Lệnh do Trung Tướng Nguyễn Khánh ký, nâng danh xưng Bộ Tổng Tham Mưu thành Bộ Tổng Tư Lệnh. Và một Sắc Lệnh khác, nâng danh xưng Quân Đội thành Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bao gồm: Lục Quân, Không Quân, Hải Quân, Địa Phương Quân, và Nghĩa Quân. Vậy là, Bộ Tổng Tham Mưu, từ bấy giờ có danh xưng là Bộ Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Vị đứng đầu tức Trung Tướng Trần Thiện Khiêm là Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, nhưng bên trên còn có vị Tổng Tư Lệnh Tối Cao trong chức năng Quốc Trưởng, chính vị Tổng Tư Lệnh Tối Cao này mới có thẩm quyền tuyên chiến.
    Trung tuần tháng 04/1964, Hội Đồng Tướng Lãnh mà nòng cốt là Trung Tướng Nguyễn Khánh, Chủ Tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng với chức năng Quốc Trưởng, kiêm Thủ Tướng, Trung Tướng Trần Thiện Khiêm, Tổng trưởng Quốc Phòng kiêm Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, và Thiếu Tướng Cao Văn Viên, Tư Lệnh Lữ Đoàn Nhẩy Dù, lên Đà Lạt họp để giải quyết năm vị Tướng bị bắt giữ từ ngày 30/01/1964, vì các vị này bị cáo buộc là “chủ trương trung lập hoá Việt Nam và sẽ truy tố ra tòa” mà Trung Tướng Khánh đã tuyên bố trong buổi họp báo chiều ngày 30/01/1964 tại tòa nhà chánh Bộ Tổng Tham Mưu, sau khi đảo chánh thành công. Kết quả trong tinh thần hòa giải (?), xem như các vị Tướng bị cáo đều không có tội nhưng không được giữ những chức vụ quan trọng trong quân đội. Thật ra không hòa giải cũng không được, vì đâu có bằng chứng gì để truy tố ra tòa. Hòa giải xong, các vị có mặt gồm “nguyên cáo lẫn bị cáo” ôm nhau vui vẻ và “ăn nhậu linh đình”, có cả sự “giúp vui” của những cô gái ngay tại biệt thự chọn làm nơi hội họp. Các cô này được phi cơ C47 đưa từ Sài Gòn lên.
    Sở dĩ Hội Đồng Tướng lãnh họp tại Đà Lạt là vì sau khi năm vị Tướng bị bắt ngày 30/01/1964 đưa ra giữ ở Đà Nẳng, nhưng do thiếu tiện nghi sinh hoạt nên Trung Tướng Nguyễn Khánh chấp nhận lời yêu cầu của năm vị mà chuyển lên Đà Lạt giam trong một biệt thự với những tiện nghi sinh hoạt tốt hơn. Trong thời gian giam giữ các vị tại Đà Nẳng, Trung Tướng Trần Thiện Khiêm chỉ thị tôi trách nhiệm thanh toán chi phí, nhưng khi chuyển lên Đà Lạt thì văn phòng Phủ Thủ Tướng trách nhiệm.
    Về hòa giải giữa các vị Tướng Lãnh. Xin quí vị quí bạn lùi lại tháng 03 đến đầu tháng 04/1964. Đại Tá Nguyễn Cao (có tên Pháp là Albert Cao), Trung Tá Lê Văn Nhiêu, hai vị này thuộc Phủ Thủ Tướng, và Trung Tá Nguyễn Khắc Bình văn phòng Tổng Tham Mưu Trưởng, ba sĩ quan này đã phục vụ nhiều năm trong ngành tình báo quân sự, tạo thành một toán công tác tình báo đặc biệt. Theo lệnh của Trung Tướng Nguyễn Khánh, ba vị sĩ quan này truy tìm chứng cớ để kết tội năm vị Tướng bị cáo buộc “chủ trương trung lập”. Đến ngày kết thúc, Trung Tá Bình sau khi từ phòng Trung Tướng Trần Thiện Khiêm bước ra, anh nói với tôi:

    “Anh biết hông, tụi tôi truy lục các hồ sơ ở An Ninh Quân Đội, Tổng Nha Cảnh Sát, rồi bên Phủ Đặc Ủy Tình Báo, và hầu hết các tòa soạn báo chí, nhưng không tìm ra bất cứ một chứng cớ nào liên quan đến chủ trương trung lập của mấy ông Tướng bị bắt cả”.

    “Vậy các vị Tướng bị cáo chủ trương trung lập chẳng qua là cái cớ cho cuộc “Chỉnh Lý” (Trung Tướng Nguyễn Khánh gọi như vậy, thật ra cũng là đảo chánh thôi), còn nguyên nhân nằm ở đâu?”

    “Tôi cũng tự hỏi như anh vậy”.

    “Khi anh trình kết quả này, Trung Tướng (Trần Thiện Khiêm) có nói gì hông Anh?”

    “Không”.

    Vậy, nguyên nhân nằm ở đâu? Tôi nghĩ, nguyên nhân ở người Mỹ có mặt trong buổi sáng ngày 30/01/1964 tại nhà Trung Tướng Nguyễn Khánh, đây cũng là bản doanh của các vị lãnh đạo đảo chánh. Phải chăng Hoa Kỳ muốn loại trừ hẳn những Tướng lãnh cầm quyền mà trước đó bị cáo buộc là thân Pháp ra khỏi chính trường Việt Nam không?
    Nếu đúng như vậy thì rõ ràng là Hoa Kỳ thực hiện mục tiêu theo từng bước: Bước một, lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm vì Tổng Thống Diệm không đồng ý để Hoa Kỳ thiết lập căn cứ quân sự trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa trong chiến lược Domino của Hoa Kỳ, nhằm tạo một hàng rào ngăn chận mặt Nam của Trung Hoa cộng sản. Tổng Thống Diệm đã nhìn thấy thế chính trị Việt Nam Cộng Hòa bị tổn thương trong bối cảnh chính trị quốc tế nếu có mặt quân bộ chiến Hoa Kỳ trong cuộc chiến này.
    Sau khi lật đổ Tổng Thống Diệm, trao cờ vào tay Trung Tướng Dương Văn Minh và các vị Tướng thâm niên phất tạm. Bước hai, Hoa Kỳ “bật đèn xanh” cho Trung Tướng Trần thiện Khiêm, Trung Tướng Nguyễn Khánh, và Đại Tá Cao Văn Viên, giành lấy cờ từ tay các vị Tướng bị cáo buộc thân Pháp để phất tiếp. Chính sách của Hoa Kỳ, năm 1954 đẩy Pháp đến chỗ chia đôi đất nước Việt Nam, năm 1956 đã góp phần không nhỏ trong việc đẩy quân đội Liên Hiệp Pháp rút khỏi Việt Nam Cộng Hòa, và năm 1964 đẩy luôn các vị Tướng bị cho là thân Pháp ra khỏi chánh quyền lẫn quân đội. Thuận lý chớ?
    Trở lại vấn đề nội tình Việt Nam. Trong hướng cố gắng tạo chiến công để có tiếng vang về khả năng lãnh đạo, Trung Tướng Nguyễn Khánh lệnh cho Trung Tướng Đỗ Cao Trí, Tư Lệnh Quân Đoàn II/Vùng II Chiến Thuật, tổ chức cuộc hành quân qui mô vào mật khu Đỗ Xá, nằm sâu trong vùng rừng già giáp ranh 2 tỉnh Kon Tum và Quảng Ngãi. Lực lượng hành quân vào tận sào huyệt Đỗ Xá, phá hủy nhiều vũ khí đạn dược và toàn bộ cơ sở tiếp vận (mà cộng sản gọi là hậu cần), nhưng không diệt được lực lượng của chúng. Tuy vậy, một phần lực lượng tham dự hành quân qui mô đó cùng với bộ chỉ huy hành quân của Trung Tướng Trí, được đưa về thủ đô Sài Gòn tham dự cuộc duyệt binh diễn binh tại công trường Lam Sơn, ngã tư đại lộ Nguyễn Huệ với đại lộ Lê Lợi. Nhiều quân nhân được thăng cấp mặt trận và ân thưởng huy chương, mà theo tôi là vượt trên mức thành tích đạt được. Sở dĩ có sự kiện như vậy vì Trung Tướng Nguyễn Khánh muốn tỏ ra chánh phủ do ông lãnh đạo có khả năng tạo được thành tích.

    Hiến Chương Vũng Tàu.
    Trung tuần tháng 07/1964, ban hành Sắc Lệnh thiết lập cấp Chuẩn Tướng trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Những cấp bậc Tướng Lãnh từ trước đến lúc bấy giờ là Thiếu Tướng biểu tượng bằng 2 ngôi sao mỗi bên ve áo hay cầu vai trên áo, Trung Tướng 3 ngôi sao, Đại Tướng 4 ngôi sao, và Thống Tướng 5 ngôi sao. Cấp Chuẩn Tướng mới thiết lập được qui định là 1 ngôi sao mỗi bên ve áo hay cầu vai trên áo. Ngay sau đó là Sắc Lệnh thăng cấp Chuẩn Tướng cho 9 Đại Tá, và Trung Tướng Trần Thiện Khiêm được thăng cấp Đại Tướng, dĩ nhiên là do Trung Tướng Nguyễn Khánh nhân danh Chủ Tịch Hội Đồng Quân Lực (cải danh của Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng)), với chức năng Quốc Trưởng, ký ban hành. Như vậy, có phải là Đại Tướng Khiêm thăng cấp nhanh quá chăng? Vì ngày 06/12/1962 ông từ Đại Tá thăng cấp Thiếu Tướng do công vụ, ngày 02/11/1963 thăng cấp Trung Tướng do tham gia trong nhóm lãnh đạo đảo chánh 01/11/1963, ngày 15/07/1964 thăng cấp Đại Tướng không do nguyên nhân nào cả, trừ khi Trung Tướng Khánh muốn vị Tổng Tư Lệnh phải là cấp bậc 4 sao như dự trù cấp bậc lý thuyết trong bảng cấp số Bộ Tổng Tư Lệnh. Nhưng liệu khi Trung Tướng Khánh quyết định thăng cấp Tướng cho một số vị là do nhu cầu công vụ, hay đằng sau quyết định đó còn có nhu cầu nào khác?
    Sở dĩ tôi nêu câu hỏi đó cho tôi, vì sau ngày trao gắn cấp Tướng cho các vị vừa vinh thăng, thì Trung Tướng Khánh cho triệu tập Đại Hội Đồng Quân Lực tại ngôi biệt thự màu trắng ở Vũng Tàu, nơi mà cư dân Vũng Tàu thường gọi là “bạch dinh”, để thông qua bản “Hiến Chương” thay thế cho Hiến Ước Lâm Thời sau khi bãi bỏ Hiến Pháp đệ nhất Cộng Hòa. Đại Hội Đồng Quân Lực sau khi được bổ sung một số vị mới thăng cấp Tướng, nâng tổng số gần 40 thành viên. Và rồi Đại Hội Đồng Quân Lực thông qua bản Hiến Chương, đồng thời bầu Trung Tướng Nguyễn Khánh vào chức Chủ Tịch Việt Nam Cộng Hòa. Vậy, theo quí vị, có phải là Trung Tướng Khánh “mua chuộc” hay một ý nghĩa nào đó tương đương với mua chuộc các thành viên trong Đại Hội Đồng Quân Lực, nhất là đối với các vị vừa mang những ngôi sao mới toanh trên ve áo?
    Tôi chưa kịp đọc bản Hiến Chương này, nhưng qua báo chí cũng như những bản tuyên bố của những tổ chức chính trị, cáo buộc Trung Tướng Khánh là độc tài khi soạn thảo Hiến Chương và điều khiễn Đại Hội Đồng Quân Lực bầu ông vào chức vụ Chủ Tịch với rất nhiều quyền hành. Thế là ngay sau ngày Hiến Chương được thông qua tại Vũng Tàu mà báo chí thường gọi là “Hiến Chương Vũng Tàu”, các tổ chức chính trị, tôn giáo, mà khởi đầu là sinh viên xuống đường mít tinh biểu tình, cáo buộc Trung Tướng Nguyễn Khánh là độc tài, đòi hủy bỏ Hiến Chương Vũng Tàu, và đòi Trung Tướng Nguyễn Khánh từ chức.
    Một hôm, tôi mang hồ sơ của Đại Tướng Trần Thiện Khiêm đến Phủ Thủ Tướng ở số 7 đại lộ Thống Nhất, để trình tận tay Trung Tướng Thủ Tướng Nguyễn Khánh đúng lúc đoàn biểu tình vừa dừng trước cổng và hô to:
    “Đả đảo Nguyễn Khánh! Đả đảo Nguyễn Khánh!”
    Lúc bấy giờ, Trung Tướng Khánh từ trong Phủ Thủ Tướng bước ra dưới sự bảo vệ của hàng rào cận vệ võ trang chống biểu tình. Khi đoàn biểu tình trông thấy ông thì họ lại hô to:
    “Đả đảo Nguyễn Khánh! Đả đảo Nguyễn Khánh!”
    Lúc ấy tôi không thể tưởng tượng được là Trung Tướng Thủ Tướng Nguyễn Khánh cũng giơ tay lên và cũng hô to:
    “Đả đảo Nguyễn Khánh! Đả đảo Nguyễn Khánh!”
    Bỗng dưng đoàn biểu tình trở nên im lặng. Tôi nghĩ là đoàn biểu tình quá bất ngờ về hành động của Trung Tướng Khánh làm cho họ mất đối thủ, vì chính ông cũng đả đảo ông thì còn ai để đoàn biểu tình đả đảo nữa. Và rồi Trung Tướng Khánh chen vào đoàn biểu tình cười nói huyên thuyên chẳng khác một thành viên nhiệt tình trong đoàn biểu tình vậy. Phải công nhận phản ứng của Trung Tướng Khánh rất cao tay, chớ không phải ông quên ông là Trung Tướng Thủ Tướng Nguyễn Khánh đâu quí vị à!
    Cuối cùng Trung Tướng Khánh tuyên bố hủy bỏ Hiến Chương mới công bố mấy ngày trước đó. Thế là thủ đoạn chính trị của ông đối với Đại Hội Đồng Quân Lực quá dễ, nhưng với lực lượng chính trị và tôn giáo thì ngược lại. Một bên có quân có súng nhưng phục tùng, một bên khác không súng nhưng lại có một sức mạnh nếu không nói là phi thường thì sức mạnh đó cũng đủ đập tan chiếc ghế Chủ Tịch Việt Nam Cộng Hòa của Trung Tướng Nguyễn Khánh.
    Đúng là quân nhân phải chấp hành kỷ luật một cách triệt để, nhưng đó là nhiệm vụ quân sự thuần túy, còn trường hợp thông qua bản Hiến Chương tại Vũng Tàu thì không thể coi là nhiệm vụ quân sự mà là nhiệm vụ chính trị, và cao hơn nữa là nhiệm vụ lãnh đạo quốc gia. Vậy, quyền quyết định thông qua hay không thông qua bản Hiến Chương, các vị thành viên Đại Hội Đồng Quân Lực phải tự mình quyết định lá phiếu của mình chớ! Nhưng rồi bản Hiến Chương đã thông qua dễ dàng, điều đó có nghĩa là các vị đã đồng ý nội dung cho dù từ trong thâm tâm quí vị rất có thể là không phải như vậy. Nếu đúng như vậy thì quí vị đã không thực hiện được vai trò thành viên của tập thể lãnh đạo quốc gia rồi còn gì, và quí vị phải chịu chung lỗi lầm sai trái khi đồng tình với Trung Tướng Khánh trong nội dung bản Hiến Chương bị cáo buộc là độc tài.
    Hội Đồng Quân Lực thu hẹp vội vã họp tại Trung Tâm Hành Quân/Bộ Tổng Tư Lệnh để tìm giải pháp cho sự khủng hoảng, nhưng suốt ngày vẫn không thành công. Cuối cùng, giải pháp lãnh đạo bởi ba người mà báo chí gọi là “tam đầu chế”, gồm: Đại Tướng Trần Thiện Khiêm, Trung Tướng Dương Văn Minh, và Trung Tướng Nguyễn Khánh. Rốt cuộc cũng chỉ có Trung Tướng Khánh nắm quyền, vì Đại Tướng Khiêm với Trung Tướng Minh, hoặc không đủ thủ đoạn đối phó với Trung Tướng Khánh, hoặc không muốn dấn thân vào chính trị. Và dù muốn hay không muốn, hai vị cũng phải chịu chung trách nhiệm về lỗi lầm của Trung Tướng Khánh trong giải pháp “tam đầu chế”.
    Nhưng vấn đề không dừng ở đây, vì Trung Tướng Khánh tự thấy chiếc ghế quyền lực của ông thực sự lung lay, thế là Trung Tướng Khánh nhắm thẳng vào Đại Tướng Trần Thiện Khiêm mà ông cho là nguyên nhân, là người đứng đằng sau mọi hình thức chống đối ông. Tôi nhận định như vậy vì có một người không có tên trong tổ chức quân đội, trong tổ chức hành chánh, hay bất cứ tổ chức hoặc cơ quan nào của chánh phủ, nhưng lại là người có thế lực chỉ vì ông là em vợ của Trung Tướng Nguyễn Khánh, tên của ông là Phạm Quang Tước. Những tháng trước đó, ông Tước thường đến văn phòng tôi với vài món lặt vặt tặng tôi. Mỗi khi gặp tôi, ông nói chuyện huyên thuyên về mọi chuyện, trong khi tôi nghe rất ít vì luôn bận việc của văn phòng Bộ Quốc Phòng và văn phòng Bộ Tổng Tư Lệnh. Nhưng từ sau ngày Trung Tướng Khánh buộc phải thỏa mãn yêu sách của giới chính trị hủy bỏ Hiến Chương, cũng là hủy bỏ chức Chủ Tịch mà ông đã được bầu, thì ông Tước cũng lạnh nhạt với tôi. Rồi từ lạnh nhạt đến xem tôi là kẻ thù cũng chỉ vài bước thôi, và vài bước đó đã qua khi ông Tước nói với tôi:
    “Đại Tướng của anh phải cẩn thận đó, nếu cứ lấn tới nữa thì tánh mạng không an toàn đâu”. Nói xong là ông đi ngay mà chẳng cần chào hỏi như trước nữa.
    Đại Tướng Khiêm rất buồn Trung Tướng Khánh, nhưng vì ông ít nói nên tôi không nghe ông phân bua, cũng chẳng buồn giải thích với những người chung quanh. Hoặc có thể là Đại Tướng Khiêm xem thường Trung Tướng Khánh mà không cần thanh minh chăng? Nếu đúng vậy, thì Đại Tướng Khiêm áp dụng câu “im lặng cũng là khinh bỉ”.

    Chuyện 10 kí lô vàng thoi.
    Sau ngày Chỉnh Lý 30/01/1964 -cũng là hay là đảo chánh- vài tuần, Trung Tướng Khiêm (cấp bậc lúc bấy giờ) gọi tôi vào văn phòng:

    “Chú xuống nhà Trung Tướng Minh (Dương Văn) nhận vàng đem về cất, rồi liên lạc xem cơ quan nào giữ thì giao cho người ta”.

    “Thưa Trung Tướng (cấp bậc lúc bấy giờ), tôi chưa rõ công tác này. Xin Trung Tướng cho biết tôi sẽ trình như thế nào với Trung Tướng Minh?”

    “Chú cứ nói là tôi bảo chú xuống nhận vàng là được rồi”.

    Sở dĩ phải hỏi lại là vì có bao giờ tôi nhận cái lệnh tương tự như vậy đâu, bây giờ nghe nói nhận vàng một cách quá nhẹ nhàng nên hỏi để biết mình không nghe lầm. Tôi đến tư dinh Trung Tướng Dương Văn Minh mà nơi đây báo chí thường gọi là "dinh hoa lan". Chờ một lúc, sĩ quan tùy viên đưa tôi vào văn phòng Trung Tướng Minh. Lại chờ một lúc nữa. Với thái độ vui vẻ, vừa bước vào phòng là Trung Tướng Minh đưa tôi cái túi xách và nói luôn:

    “Anh mở ra xem và đếm lại coi có đủ 10 kí không, rồi mang về đưa Trung Tướng Khiêm”.

    Đó là cái túi xách màu xanh, cũ mèm, bên ngoài có chữ "Air Việt Nam". Đếm xong:

    “Thưa Trung Tướng, trong túi này có 10 thoi nhưng không biết có phải là 10 kí hay không thì tôi không rõ”.

    “Anh cứ mang về trình Trung Tướng Khiêm chớ có cân đong đo đếm gì đâu mà anh sợ”.

    “Vâng. Chào Trung Tướng”.

    Vừa vào văn phòng Trung Tướng Khiêm là tôi mở túi ra để trình ông xem, nhưng ông không xem mà nói:

    “Chú nhận rồi thì cất trong tủ sắt đi, cơ quan nào nhận giữ thì chú giao cho người ta”.

    “Vâng”.

    Theo tôi biết, số vàng này do Trung Tướng Đỗ Cao Trí -lúc giữ chức Tư Lệnh Quân Đoàn I- tịch thu của ông Ngô Đình Cẩn ở Huế, đem vào Sài Gòn giao cho Trung Tướng Minh. Bây giờ Trung Tướng Minh giao lại Trung Tướng Khiêm. Xin nhắc lại là sau cuộc đảo chánh lật đổ và giết chết Tổng Thống Ngô Đình Diệm, ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu, và ông Cố Vấn Chỉ Đạo Miền Trung Ngô Đình Cẩn (bị tòa kêu án tử hình và thi hành bản án sau đó chẳng bao lâu), Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng thành lập "Ủy Ban Tịch Thu Tài Sản Gia Đình Họ Ngô", do Trung Tướng Lê Văn Kim giữ chức Chủ Tịch. Đã có Ủy Ban đó, nhưng không biết tại sao số vàng này lại "vòng vo lưu lạc" như vậy nữa, kể cả mấy tháng nay nó nằm trong tủ sắt ngay sau lưng tôi.
    Khi mối giao hảo giữa Trung Tướng Khánh với Đại Tướng Khiêm căng thẳng, Đại Tướng Khiêm hỏi tôi:

    “Chú còn giữ mấy kí vàng đó không?”

    “Dạ còn thưa Đại Tướng”.

    “Bao nhiêu vậy?”

    “Dạ 10 kí vàng thoi”.

    “Chú liên lạc xem cơ quan nào nhận thì giao cho người ta, giữ hoài mất công lắm”.

    “Vâng. Ngày mai tôi xuống Ngân Hàng Quốc Gia hỏi xem nơi đây có biết không, thưa Đại Tướng”.

    Tôi đến Ngân Hàng Quốc Gia, mới biết đây là cơ quan nhận số tài sản đã tịch thu của gia đình anh em Tổng Thống Ngô đình Diệm do Ủy Ban Tịch Thu Tài Sản Gia Đình Họ Ngô bàn giao. Sau khi được ông Giám Đốc giải thích thủ tục giao nhận, tôi hẹn hôm sau mang đến.
    Sáng hôm sau, tôi lững thững xách cái túi Air Việt Nam vào. Khi ông Giám Đốc thấy cái túi cứ tưởng tôi đi ngang chợt ghé chớ không nghĩ là 10 kí lô vàng bên trong, vì cái túi quá cũ chẳng ai thèm lượm nếu chợt thấy nó bên đường. Khi biết vàng bên trong, ông Giám Đốc quá sức ngạc nhiên:

    “Thiếu Tá đi với ai?”

    “Một mình tôi thôi mà”.

    “Sao Thiếu Tá liều mạng quá vậy. Dễ chết lắm đó!”

    “Đi một mình đâu có ai để ý mà chết. Nếu bên cạnh tôi có thêm Quân Cảnh hay nhân viên nào đó đi theo thì kẻ gian cho là tôi mang thứ gì quí giá bên trong nó sẽ theo chân ngay. Lúc ấy mới là lúc dễ chết đó ông Giám Đốc. Nói cho vui nghe, chương trình của trường quân sự cao cấp chúng tôi có dạy về "9 nguyên tắc chiến tranh", trong đó có nguyên tắc "bất ngờ" mà chúng tôi không bao giờ quên ứng dụng nó, như trường hợp này chẳng hạn”.

    Chúng tôi cười xòa và bắt tay vào việc. Thủ tục giấy tờ xong, ông Giám Đốc hướng dẫn tôi xuống tầng hầm của Ngân Hàng Quốc Gia. Ôi chao! Mặt bằng của tầng hầm này có lẽ rộng hơn mặt bằng của tầng trệt thì phải, và tôi nghĩ là nó nằm ngay dưới mặt đường "Bến Chương Dương" nữa đó. Đi một vòng rộng lớn, xem các bà các cô đếm bạc. Nhân viên đếm bạc toàn mặc áo blouse trắng không túi. Đến chỗ cân trọng lượng:

    “Số vàng này cân hả ông Giám Đốc?”

    “Cân chớ. Cân cho biết bao nhiêu để ghi vào biên bản thôi Thiếu Tá”.

    “Trời ơi! Hồi tôi nhận từ tay Trung Tướng Minh (Dương Văn Minh) tôi chỉ đếm đủ 10 thoi là mang về trình "sếp" chớ có cân lượng gì đâu”.

    Tôi được giải thích là cái cân này rất nhạy và rất chính xác. Một hột cát bé xíu là cân hoạt động rồi. Lần lượt cân từng thoi một, bù qua sớt lại vừa đủ 10 kí. Xong, đến trước một cái tủ thật lớn, hai nhân viên ngân hàng cùng tra hai chìa khóa vào và cùng mở một lúc. Lại cùng mở thêm cánh cửa bên trong nữa, một cái thúng lớn chứa đầy vàng lá óng ánh, ông Giám Đốc nói:

    “Đây là 42 kí lô vàng lá do Ủy Ban Tịch Thu Tài Sản Gia Đình Họ Ngô bàn giao tháng trước đó Thiếu Tá”.

    Thế là 10 thoi vàng này đổ vào cái thúng đó luôn.

    “Như vậy là xong rồi hả ông Giám Đốc?”

    “Xong rồi Thiếu Tá”.

    Câu chuyện 10 kí lô vàng thoi đến đây là hết. Xin mời trở lại đoạn cuối của cuộc đảo chánh không đổ máu ngày 30/01/1964.

    Đoạn kết.
    Vậy là Trung Tướng Dương Văn Minh, với chức Chủ Tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng hành sử chức năng Quốc Trưởng từ 02/11/1963 đến 29/01/1964, đó là thời gian quá ngắn để vị lãnh đạo thể hiện khả năng và bản lãnh của mình, nhưng với câu mà ông nói với những vị Tướng Lãnh trong Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng tại tòa nhà chánh Bộ Tổng Tham Mưu vào chiều ngày 02/11/1963, tức ngay sau khi lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm thành công:
    “Các “toa” còn cần gì “moi” không để “moi” còn đi đánh tennis?”
    Quả thật là ông thiếu trách nhiệm của người lãnh đạo quốc gia ngay sau cuộc đảo chánh với biết bao vấn đề đặt ra, chỉ riêng phần ổn định nhân sự trong các tổ chức trung ương sau cuộc khủng hoảng chính trị đã là vấn đề quan trọng hàng đầu, vì nhân sự bao giờ cũng chiếm đến 50% trong mọi thành công hay thất bại. Thêm nữa, dân chúng thì hoang mang trong khi cộng sản lợi dụng tình hình xáo trộn trong nội bộ để gia tăng áp lực quân sự tại nhiều nơi. Ấy vậy mà Trung Tướng Minh tỏ ra nhàn nhã, chừng như ông giao khoán công việc quốc gia cho Chánh Phủ Nguyễn Ngọc Thơ và Tổng Trưởng Quốc Phòng kiêm Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội, để ông đi đánh tennis thì phải!
    Lẽ dĩ nhiên không nên căn cứ vào mỗi câu nói trên mà đưa ra nhận xét về vị lãnh đạo quốc gia, nhưng trong 3 tháng cầm cờ lãnh đạo trong tay, rõ ràng là Trung Tướng Dương Văn Minh đã không thể hiện bất cứ khả năng hay bản lãnh của vị Tướng lãnh đạo quốc gia. Chẳng những thế, cả Chánh Phủ cũng lúng túng trong chính sách Ấp Chiến Lược thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm để lại.
    Trên cương vị Tướng Lãnh trong quân đội, quân đội đòi hỏi phải có một kiến thức quân sự vững chắc để biết đánh và biết thắng địch, phải có một nghệ thuật lãnh đạo chỉ huy để quân sĩ tin tưởng, tôn trọng, và nhiệt tình thi hành nhiệm vụ. Nhưng khi vị Tướng trên cương vị lãnh đạo quốc gia, vị Tướng đó cần có thêm bản lãnh và thủ đoạn chính trị để lãnh đạo toàn dân, để đương đầu với kẻ thù đang xâm lăng đất nước, để đương đầu với những thử thách quốc tế, nhất là với các quốc gia Đồng Minh, trong trách nhiệm bảo vệ tổ quốc và phát triển dân giàu nước mạnh.
    Đồng ý rằng, Trung Tướng Dương Văn Minh rất được lòng của nhiều thành phần trong xã hội, nhưng tôi nghĩ, cảm tình này là do bản tính hiền hòa vốn có của ông, chớ không do tài năng bản lãnh của vị lãnh đạo quốc gia. Nhưng chẳng lẽ vị lãnh đạo quốc gia chỉ cần trang bị có ngần ấy thôi sao?
    Vậy, Trung Tướng Dương Văn Minh, theo quí vị, là vị Tướng thích ứng đến mức nào trong vai trò lãnh đạo quốc gia?


  11. The Following 2 Users Say Thank You to chimtroi For This Useful Post:

    hieunguyen11 (12-25-2011),muahong (12-30-2011)

Trang 1/3 123 cuốicuối

Similar Threads

  1. Đôi Dòng Tâm Sự
    By Lãng Du in forum Truyện ngắn
    Trả lời: 2
    Bài mới nhất : 08-28-2011, 05:29 PM
  2. ... Nhớ!... Cũng một thời để nhớ
    By PhiLan in forum Liên Khóa SVSQKQ
    Trả lời: 0
    Bài mới nhất : 12-25-2009, 05:08 AM
  3. Đôi dòng về WINDOW 7 .
    By loibangTQLC in forum Computer
    Trả lời: 0
    Bài mới nhất : 11-04-2009, 08:28 PM
  4. Đôi dòng về NS Kim Cương .
    By loibangTQLC in forum Sưu Tầm, Biên Khảo
    Trả lời: 0
    Bài mới nhất : 10-26-2009, 01:03 AM

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
Hội Quán Phi Dũng created by Liên Khóa 72 - 73 SVSQKQ / QLVNCH

Hit Counters
Hit Counters