Trang 1/2 12 cuốicuối
kết quả từ 1 tới 6 trên 8

Tựa Đề: Tâm Tư Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu - Nguyễn Tiến Hưng

  1. #1
    Moderator
    chimtroi's Avatar
    Status : chimtroi v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Dec 2007
    Posts: 1,102
    Thanks: 164
    Thanked 870 Times in 293 Posts

    Default Tâm Tư Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu - Nguyễn Tiến Hưng

    HQPD hân hạnh giới thiệu đến quý NT và Quý Bạn tập truyện đọc "Tâm Tư Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu" của Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng qua giọng đọc của Tâm An. Dù có đồng quan điểm với nhận định của tác giả hay không, các dữ kiện trong tập truyện cũng giúp thế hệ những người "trẻ" Liên Khóa chúng ta soi sáng thêm một góc tối lịch sử từ một người đã từng là Tổng Tư Lệnh của chúng ta.




























  2. The Following 2 Users Say Thank You to chimtroi For This Useful Post:

    DnThuy (09-29-2012), lethucthang (08-12-2013)

  3. #2
    Moderator
    chimtroi's Avatar
    Status : chimtroi v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Dec 2007
    Posts: 1,102
    Thanks: 164
    Thanked 870 Times in 293 Posts

    Default Các bài viết liên quan

    Tâm Tư Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu

    Vi Anh

    Mười bốn năm ở Little Saigon chưa bao giờ người viết bài này thấy một cuộc ra mắt sách nào số người tham dư đông đảo, nghiêm trang như cuộc ra mắt sách “Tâm Tư Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu” vào ngày Chủ Nhựt 16-5-2010, tại Rose Theater, Thành phố Wesminster. Tác giả là Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng từng là bộ trưởng kế hoạch, cố vấn ngoại giao cho cố TT Nguyển văn Thiệu là người làm việc gần gũi TT khi ở trong nước và khi ra hải ngoại tới lui rất thường với TT sau 75, là một nhân chứng sống ắt hiểu biết tâm tư TT Thiệu đối với đồng minh Mỹ.


    Nên khoảng 650 ghế trong hội trường ngồi đầy cả, mà nhiểu người còn đứng lắng nghe phía sau. Trong bài nói chuyện có vẻ hàn huyên tâm sư, tâm tình với nhau hơn là diễn thuyết, hay diễn giảng, tác giả tâm tình tâm sự cứu cánh của Ông khi viết quyển “Tâm Tư Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu”, Ông muốn cho lớp trẻ người Mỹ gốc Việt ở quê hương thứ hai là nước Mỹ này rút kinh nghiệm. Tại sao một chánh quyền qui mô như Mỹ lại có một lổ hỏng trong thòi kỳ chiến tranh như Chiến tranh VN. Cái lổ hỏng đó Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng gọi là hiện tượng Kissinger (phenomenon Kissinger) – chữ phenomenon (Anh), phénomène (Pháp) hiểu theo nghĩa một thứ kỳ quặc. Kỳ quặc nhưng đóng một vai trò quan trọng cho sư sụp dổ VNCH. Phần dẫn nhập của Ts Hưng làm cho người nghe liên tưởng đến những câu hết sức quen thuộc trong tập thề người Mỹ gốc Việt lâu nay, làm kẻ thù Mỹ thì dễ làm bạn với Mỹ thì khó.


    Tiến sỉ Nguyễn tiến Hưng đưa ra một vài thí dụ và dẫn chứng của sư kiện lịch sử tiêu biểu nhưng vô cùng đau đớn cho chánh quyến VNCH khi lệ thuộc Mỹ. Về kinh tế nội việc xin Mỹ viện trợ gạo là cả một vấn đế phức tạp, phiền toái mà trăm dâu đổ đầu tằm VNCH phải chịu. Cứ mỗi năm vào 16-5 mùa giáp hạt, thì kho gạo VN hết, từ tổng thống đến chánh phủ phải chạy đôn chạy đáo để cầu viện. Câu viện phải qua 6 bước. Xin Hành Pháp cấp, Quốc Hội chuẩn chi, giải quyết vận chuyễn,. Vận chuyễn theo luật viện trợ Mỹ phải đấu thầu chuyên chở. Ông Chủ tịch Ủy Ban chuẫn chì có công ty hàng hải “ bồ bịch” muốn công ty của mình được thầu. Làm không khéo, đổ bể các nhà thấu khác la lên thì VNCH mang tiếng xấu, mà không làm cho công ty bồ bịch của Ông thì chuẩn chi khó khăn hay bị cắt giảm. Chở gạo từ Louisiana lên San Fran, từ San Fran về VN. Nghiệp đoàn công nhân bốc dở biết Quân Đội ở Miển Trung đang cần gạo, họ hay đình công để làm tiền. Chánh quyền VNCH không thể trả tiền vòi vĩnh mà cũng không thể ngăn cản quyền đình công của nghiệp đoàn, trong khi Quân Đoàn I xếp hàng xe chờ gạo, lính gần hết quân lương. Chánh quyền phải nhờ các thương gia gạo dàn xếp. Đó là chưa nói gạo viện trợ về bán rẻ thiệt hại cho nông dân VN.


    Về quân sự, Mỹ viện trợ mỗi năm giảm dần còn 1 tỷ rưởi, rồi 1 tỷ, rồi 700 triệu, rồi cắt luôn. Trong khi ở Afghanistan bây giờ mỗi tháng viện trợ 6 tỷ mà số quân ít hơn VN nhiều.. Nhiều khi chánh phủ phải chịu nhục, Như Ts Hưng phải xin xỏ TNS Keenedy, bạn học cũ, hồi học chung chỉ là một sinh viên tầm thường, khi làm thương nghị sĩ xin năm lần bảy lượt mới cho gặp 30 phút. Nhưng nói chuyện vớ Ông 15 phút, Ông đã vội bỏ đi viện cớ bận. Ts Hưng phải xách cập chạy theo tò tò trong hành lang Thương Viện. Có lúc TT Thiệu phải gởi thơ cho TT Ford với lời lẽ cứng rắn nhưng đau thương, nói trong khi VC được Nga Tàu Viện trợ hào phóng vũ khí đạn được tối tân, dư dả, còn quân nhân VNCH đồng minh của Mỹ phải đếm từng viên đạn. Ôi nỗi đau này là nỗi đau chung từ tồng thống tư lịnh tối cao dến người quân nhân tướng lãnh, sĩ quan, hạ sĩ quan với súng dạn thiếu thốn, quân trang quân dụng thiếu thốn đang xả thân ở chiến trường chống quân CS Bắc Việt xâm lược,


    TT Nguyễn văn Thiêu đã hơn một lẩn bày tỏ tâm tư, nói với những người làm chánh sách của Mỹ, quân dân cán chính VNCH đặt tương lai mình và tương lai con cháu vào Thế giới Tự do, qua lời kêu gọi của ba bốn đời tổng thống Mỹ, mà rơi vào hoàn cảnh đau đớn như vậy. Việc phản bội đồng minh của Mỹ, Ts Hưng nói trên đài RFA, “Chúng tôi có viết chương 18, về cái bài phỏng vấn rất dài, của ông [TT Thiệu] với một tờ báo Đức, tên là “Der Spiegel”, trong cái bài đó, tổng thống Thiệu đã nói rất nhiều về cái mà ông gọi là “sự phản bội”, ông ấy bảo là 4 đời tổng thống Hoa Kỳ đã khuyến dụ nhân dân miền Nam đi vào cái khối của thế giới tự do, rồi cuối cùng tháo lui bỏ chạy.” Và đặc biệt là có những cái cam kết rất là vững chắc, thân tín rồi cuối cùng cũng lờ đi. “Người Mỹ đã phản bội chúng tôi”, chúng tôi có in lại tòan bộ bài đó từ tiếng Đức được dịch ra tiếng Anh, rồi có bút phê của ông (Thiệu) rất là cẩn thận. TT Thiệu chọn tờ báo Đức này vì biết Ts Kissinger là người Do Thái ở Đức nên thế nào cũng đọc, và đúng như vậy vài ngày sau Ts kissinger gởi thơ phân bua hết parce que này đến parce ue khác, theo lời Ts kèm một nụ cười mai mỉa.


    Và đau đớn hơn cho tổng thống VNCH. Ts Hưng nói trong cuộc ra mắt sách, chỉ một câu trả lời chung chung của TT Kennedy với người dẫn chương trình Cronkite – là người đăt ra danh từ anchor để chỉ người dần chương trình truyền hình -, rằng TT Kennedy sẽ xét lại vấn đề viện trợ và nhân sự ở Miển Nam, thế là nhìều người lợi dụng câu nói đó, dàn dựng ra cuộc đảo chánh TT Ngô đình Diệm. TT Nixon còn cạn táu ráo mán hơn với TT Thiệu khi ép buộc ký Hiệp định Paris, nếu TT Thiệu chần chờ, là cắt viện trợ, cắt quan hệ. Và bằng cách này hay cách khác biến TT Thiệu thành diểu hâu làm con mổi cho Phong Tráo Phản Chiến Mỹ. Từ vấn đề tái phối trí, rút quân ở Ban mê thuột, Pleiku, từ chức của TT Thiệu, TT Thiệu đi ra khỏi nước tất tất đều có áp lực của Mỹ.


    Và trong cuộc ra mắt sách, Ts Hưng nói TT Thiệu có dự trù kế hoạch rút quân về Miền Tây, Hải quân VNCH mạnh hơn Bắc Việt. Có nhờ các nước như Pháp giúp nhưng đều bị kỳ đà Mỹ cản mũi.


    Ts Hưng nói trên RFA và nhấn mạnh lại ý này khi ra mắt sách, “đặc biệt có một tâm tư mà chúng tôi nghĩ rằng nó phản ảnh phần nào cho tâm tư của chính cá nhân chúng tôi, và nhiều người trong chúng ta, đó là về phía ông ấy cũng như về phía nhân dân miền Nam thì dù rằng có nhiều khuyết điểm, dù rằng yếu kém, dù rằng có lỗi lầm, tham nhũng này kia v.v…, nhưng mà cuối cùng thì cũng đã cố gắng hết sức. Trong chưa đầy 20 năm, bị áp lực bất khả cưỡng của Mỹ, VNCH đã cố gắng hết sức mình để bảo vệ và xây dựng đất nước. Ở tiền tuyến một triệu quân không bao giờ 1 quân nào CS tấn công mà không tái chiếm được. Ở hậu phương 1 triệu công cán chính xây dựng mọi mặt văn hoá, giáo dục, kinh tế, xã hội trên điêu tàn đổ nát do các cuộc tấn công của CS. Kể cả khi CS bao vây thủ đô hàng ngày pháo kích bộ mặt quốc gia và cung cách làm việc của một nước dân chủ vẫn còn, đúng nghi thức kể cà trong biến cố chuyển quyền từ TT Thiệu qua TT Hương và Tướng Dương văn Minh đều làm tại Phủ Tổng Thống có Quốc Hội tham dự.


    Mỹ muốn lãnh đạo quốc gia VN là những kẻ sai bảo của Mỹ, từ tổng thống, đến quốc hội, đến nhân dân bắng cách này hay cách khác không để ai sai bảo mình. TT Ngô đình Diệm thà chịu chết, TT Thiệu thà chịu tiêu sinh mạng chánh trị, chớ không đánh đổi chủ quyền quốc gia và độc lập dân tộc cho Mỹ. Gần mấy chục năm sau, TT Karzai của Afghanistan dùng những ý của TT Thiệu nói trên tờ báo “Der Spiegel”, để trả lời cho TT Obama khi hoạnh hoẹ, đổ tội tham nhưng và bầu cử gian lận cho chánh quyền Karzai.




    Bài nói chuyện của Ts Hưng, cuốn sách ra mắt của TS, là một đóng góp rất lớn trong mùa 30-4 thứ 35. Một mùa trả lại chơn lý cho lịch sử VNCH , cho quân dân, cán chính VNCH. Sau bài nói chuyện của TS Hưng, và nhứt là sau khi đọc tác phẩn Tâm Tư Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu, người viết bài này tự nhũ. Coi vậy chớ TT Nguyễn văn Thiệu có phước hơn Ông Nguyễn Du tác giả truyện Kiểu bất hủ của văn học VN. Nếu Nguyễn Du xưa kia nghĩ “Bất tri tam bách dư niên hậu, thiên hạ hà nhân khấp Tố Như”, thì TT Nguyễn văn Thiệu chỉ cần 1 phần 10 thời gian đó đã được người đương thời và người sau hiểu biết kính trọng như là một vị tổng thống hết lòng bảo vệ chủ quyền đất nước, độc lập dân tộc nhưng bất phùng thời nên “thề chiên quốc, thế xuân thu gặp thời thế thế thời phải thế”.


    Và quyển “Tâm Tư Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu” lại còn có giá trị hơn nều lớp trẻ nghĩ, “Kẻ chết đã yên rồi một kiếp, người sống còn tái tiếp noi gương” (lời Đức Huỳnh Giáo Chủ PGHH). TT Nguyễn văn Thiệu đã trải qua biết bao nhiêu là nỗi buổn nhược tiểu nỗi nhục da vàng khi lệ thuộc kinh tế chánh trị với một siêu cường Mỹ.. Bài học lịch sử này nhắc lại không phải để giận hờn, trách cứ tổng thống Mỹ này hay tổng thống Mỹ kia hay để than thân trách phận nhược tiểu. Mà để người Mỹ gốc Việt trẻ cùng với nhân dân Mỹ tìm cách ngăn cản chánh quyền Mỹ không để một lổ hổng Kissinger nữa. Và những nhân vật đang cầm quyền trong nước nếu còn một chút điểm lương tâm VN, sẽ rút được kinh nghiện ích nước lợi dân trong quyển “Tâm Tư Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu” này trong vấn đề bang giao và giao thương với Mỹ./.


    VI ANH

    (http://www.vietbao.com/?ppid=45&pid=2&nid=159333)

    ________________________________________


    Lời bàn Về cuốn “Tâm tư Tổng Thống Thiệu”



    Ðây là một cuốn sách thứ ba của tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, cuốn “Tâm tư Tổng Thống Thiệu.” Hai cuốn trước đó là “Hồ sơ mật Dinh Ðộc Lập” và “Khi đồng minh tháo chạy.” Tất cả những tác phẩm của ông đều rất đồ sộ với phần tổng hợp những chứng liệu đã được giải mật của Hoa Kỳ và bộ sưu tập của riêng ông.

    Từng là Tổng Trưởng Kế Hoạch và Cố Vấn của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, cho nên những điều mà tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng viết ra trong tác phẩm của ông phải là những điều cần đọc và nên đọc. Ðiểm cần nhấn mạnh ở đây rằng lần này, có phần tâm tư của Tổng Thống Thiệu, một cựu lãnh đạo VNCH mà cho đến lúc qua đời, không có cuốn hồi ký nào hay để lại những bút tích về một giai đoạn chiến tranh nghiêm trọng liên hệ đến sự mất còn của miền Nam Việt Nam.


    Tất cả sự nghiệp của ông đều trông chờ vào kho dữ kiện bí mật trong chiến tranh Việt Nam của văn khố quốc gia Hoa Kỳ được giải mật nhiều năm trước đây và công trình đọc, chọn lựa, sưu tầm, phân tích và tổng hợp của tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng. Vì thế ít nhiều cũng không thể tránh được cách nhìn chủ quan. Ông đã từng nhấn mạnh đến khía cạnh đặc biệt về con người ông Thiệu mà trong tác phẩm tác giả mô tả là một người rất khép kín và tác giả đã cho rằng vì tình cờ của lịch sử, có may mắn làm việc gần Tổng Thống Thiệu trong gần 3 năm và sau này còn gặp ông rất nhiều lần tại London và Boston nên được biết một phần nào con người ông.


    Cái được biết mà tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng cho tới nay mới đưa ra để mọi người cùng biết, đó là câu tuyên bố với phóng viên của báo “Now,” theo đó, tờ báo này cho rằng Tổng Thống Thiệu đã tuyên bố : “I have nothing to do with them” (dịch ra: Tôi không còn mắc mớ gì với họ nữa) vào lúc phong trào thuyền nhân lên cao nhất. Nhưng theo tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, khi trả lời câu hỏi của nhà báo Anh, thực ra Tổng Thống Thiệu chỉ muốn nói: “Hiện nay tôi chẳng còn chính quyền, chẳng còn phương tiện và làm được gì đối với vấn đề thuyền nhân” (Theo tiến sĩ Hưng, đáng lẽ ông Thiệu phải nói: “I have nothing to do for them” và ông Hưng cho biết, Tổng Thống Thiệu nói rằng phóng viên của tờ báo Anh đã phịa ra, ông nói [for] mà “nó” phịa ra [with] nên sai hẳn nghĩa).


    Tôi tin rằng tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng ở gần ông Thiệu nên có thể ông đã nói đúng lời ông Thiệu kể lại. Thế nhưng, mặt khác chúng ta cũng nên hiểu rằng, tại London, dù một tờ báo lớn như tờ “Now,” tôi không biết người ký giả có thu thanh để làm bằng chứng không, và liệu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu có viết thư chính thức yêu cầu tờ báo này đính chính không? Lúc đó, dù đang nằm tù ở trong nước, nhưng tôi cũng hiểu được rằng một người như Tổng Thống Thiệu sẽ được báo chí quốc tế săn đón lắm, ông có nhiều cơ hội để nói lại cho đúng khi trả lời phỏng vấn các tờ báo khác. Vả lại, tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng vào lúc đó cũng không thiếu gì cơ hội có thể nói với báo chí để giúp “clear up” theo yêu cầu của Tổng Thống Thiệu, nhưng không hiểu sao mà để tới nay ông mới viết ra trong khi nhân chứng đã qua đời. Ngay trong lúc sinh thời của Tổng Thống Thiệu, tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng nói ra được điều này thì quý hóa biết mấy.


    Tuy nhiên, nếu mọi người đều chấp nhận rằng Tổng Thống Thiệu nói: “Hiện nay tôi chẳng còn chính quyền, chẳng còn phương tiện và làm được gì cho vấn đề thuyền nhân” thì cũng phải trả lời một câu hỏi khác, bởi vì riêng vấn đề thuyền nhân thì ở đây biết bao nhiêu cá nhân, bao nhiêu tổ chức, nhưng họ có chính quyền nào đâu, sao họ vẫn có cách làm một điều gì đó cho thuyền nhân, dù lớn, dù nhỏ. Lịch sử giúp đỡ thuyền nhân ở đây thì nhiều lắm, không sao mà kể cho hết, và đặc biệt có những người chỉ đóng góp tiếng nói của họ. Ông Thiệu, dù là cựu lãnh đạo, là cựu tổng tư lệnh quân đội của một miền đất chống trả mãnh liệt với Cộng quân, cho nên dù ông phải bỏ đi giữa lúc mệnh nước nghiêng ngả vì những áp lực, một tiếng nói của ông, một hành động nhỏ nhặt của ông đối với thuyền nhân sẽ nhân rộng những ảnh hưởng và tôi tin rằng niềm tin của thuyền nhân cũng như của anh em chúng tôi trong cảnh tù đầy trong các trại tù ở Việt Nam sẽ mạnh mẽ hơn. Nhưng rất tiếc là Tổng Thống Thiệu đã không hành động như thế.
    Còn việc ai ra lệnh bỏ cao nguyên và Quân Ðoàn II–một thảm kịch kinh hoàng mà những ai ở trong đoàn di tản từ Pleiku về Nha Trang đều rõ–dẫn đến ngày 30 tháng 4, 1975 thì quả thật cho đến nay chúng tôi mới được nghe nói là Tổng Thống Thiệu ra hai lệnh: Rút Pleiku để hy vọng đánh bọc tái chiếm Ban Mê Thuột vì “đứng về phương diện quân sự Ban Mê Thuột quan trọng hơn Pleiku nhiều.” Ông Thiệu còn bảo nếu rút được hai sư đoàn khỏi Quân Ðoàn II mà thấy khó khăn quá không lấy lại Ban Mê Thuột được thì đem 2 đơn vị này ra yểm trợ cho tướng Ngô Quang Trưởng (Quân Ðoàn I).


    Nhưng ngay cả tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng cũng thừa nhận là chưa nghe ai nói đến lệnh thứ hai ngoài Tổng Thống Thiệu. Vẫn theo tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, ông Thiệu đã ra lệnh cho bộ Tổng Tham Mưu theo dõi và giám sát. Ðáng lẽ tướng Cao Văn Viên phải gọi cho tướng Phạm Văn Phú để bàn bạc chương trình rút, thế mà “không hiểu vì sao tối hôm ấy tướng Phạm Văn Phú đã rút chạy.” Tác giả “Tâm tư Tổng Thống Thiệu” cho biết ông có hỏi Tổng Thống Thiệu rằng tại sao tổng thống không tuyên bố hay giải thích gì về điều này, thì Tổng Thống Thiệu nói: “Tôi nói ra thì người ta bảo mình chạy tội, tôi hy vọng một ngày nào đó một trong những quý vị họp với tôi ngày hôm đó có đủ can đảm đứng lên nói hết sự thật.”


    Tại sao Tổng Thống Thiệu lại sợ dư luận bảo ông chạy tội? Ông từng lãnh đạo một đất nước, từng được cử tri trao cho quyền lực để điều hành cho nên có việc ông làm được, có việc ông không làm được, có việc ông gặp những khó khăn, áp lực từ mọi phía. Một tổng thống như ông cần phải nói ra cho cử tri rõ, cho quốc hội, quân đội và chính phủ rõ, bất kể ông bị cáo buộc như thế nào. Sự thực được công khai hóa là phương thức tốt nhất giúp mọi người gượng lại được để tiếp tục chiến đấu trong bối cảnh còn nước còn tát.

    Tôi nghĩ là Tổng Thống Thiệu không hiểu rằng vào giai đoạn sau cuộc họp quyết định tại Cam Ranh, biết bao nhiêu người lính, bao nhiêu công chức, bao nhiêu người dân… chỉ trông chờ vào tiếng nói của ông, nhưng Tổng Thống Thiệu đã im lặng suốt cho đến ngày 21 tháng 4, 1975 ông mới đổ dồn vào việc công kích người Mỹ đã trói tay ông và quay lưng với đồng minh VNCH trong bài diễn văn từ chức với lời cam kết ở lại chiến đấu cùng quân đội. Và rồi ngày 25 tháng 4, ông âm thầm cùng Thủ Tướng Khiêm rời khỏi nước. Lúc này thì đã quá muộn và không ai có phép thần thông nào để lật ngược tình thế nữa.
    Vì thế, bản thân tôi và tôi cũng tin rằng nhiều người khác đã không ngạc nhiên khi nghe thấy tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng tiết lộ lý do khiến ông Thiệu không viết hồi ký.

    Ông bảo: “Mỹ đã phản bội mình rồi, bây giờ đừng có vạch áo cho người xem lưng , đừng có bêu xấu nhau nữa cho người ta cười thêm cho.” Cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu là nhân vật lịch sử, ông không thể nói như thế được. Liên hệ giữa ông và người Mỹ không phải là liên lạc cá nhân. Những người dân miền Nam Việt Nam, những người đã từng bỏ lá phiếu vào thùng để bầu ông lên ngôi vị lãnh đạo họ, phải biết áp lực của người Mỹ với ông như thế nào, họ bỏ Việt Nam Cộng Hòa như thế nào, họ phản bội như thế nào bởi vì từ đó họ có thể rút ra một bài học. Không ai có quyền cười ông cả và ngay như nếu phải trả một cái giá nào đó của sự cười chê, ông cũng phải có can đảm đứng ra nhận lãnh.


    Những người Việt Nam tị nạn cộng sản ở Mỹ, ở Úc, ở Canada thực tình cũng đã quên ông và cũng ít người còn nghĩ tới sự cần thiết phải có hình ảnh của ông trong đời sống của họ, cho đến những năm gần đây đã có những người có ý muốn phục hồi điều mà họ gọi là danh dự cho ông. Nghĩ cho cùng, ông không phải là nhà lãnh đạo vô tích sự. Trong giai đoạn cầm quyền, ông đã thực hiện được nhiều dự án có giá trị trong đó phải kể đến luật “Người cày có ruộng.” Nhưng điều đó không có nghĩa là ông đã bảo toàn được danh dự của một người lính, điều đó không có nghĩa là vào lúc vận nước đang nổi trôi ông dám nhận trách nhiệm và chết cho tổ quốc của mình, nếu cần.


    Cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã qua đời rồi. Ông cũng cần được yên nghỉ ở một thế giới không còn hận thù. Nhưng trong chốn dương gian, cuộc chiến về ông vẫn còn trên sách vở, trên báo chí cho nên bất cứ khi nào còn người, còn những tác giả làm công việc nói thay cho ông, chừng đó vẫn còn những cuộc tranh luận, vẫn còn thắc mắc như người ta vẫn thường thắc mắc mỗi lần có những tài liệu mật về cuộc chiến Việt Nam được giải mật.


    Như tên gọi, cuốn “Tâm tư Tổng Thống Thiệu” chuyên chở đầy những tâm tư của một cố tổng thống VNCH, nhưng không phải là do đích thân ông Thiệu nói ra mà do một người làm việc thân cận với ông, tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng nói thay. Nhưng điều đáng tiếc là trong đó, Tổng Thống Thiệu đề cập đến 2 vị tướng liên hệ nhiều nhất đến lệnh bỏ Pleiku hay bỏ cao nguyên trung phần Việt Nam thì cả hai vị–đại tướng Cao Văn Viên và thiếu tướng Phạm Văn Phú–đã ra người thiên cổ, trong đó tướng Phú đã chọn cái chết trong danh dự vào ngày 30 tháng 4, 1975: Tuẫn tiết vì không chịu để lọt vào tay địch quân.
    (V.A.) theo Việt herald




    Kỳ 2


    Cuốn sách của tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng dĩ nhiên là vẫn bán được bởi nó có một giá trị nhất định, bởi những độc giả ủng hộ ông Thiệu cần biết thực sự về nỗi lòng của vị cựu nguyên thủ VNCH nghĩ gì về biến cố ngày 30 tháng 4, 1975, bởi những người có ý muốn phục hồi danh dự của một nhà lãnh đạo đào thoát giữa lúc đất nước trên bờ vực thẳm hy vọng có thể rút ra được một chi tiết nào có thể củng cố được cho những lời biện minh cho lãnh tụ, bởi những người nào muốn nhìn xem những dữ kiện lịch sử có bị sửa chữa hay không để có thể rút ra được bài học cho chính mình và cuối cùng những ai chạy theo chính sách đổ lỗi cho nhà lãnh đạo này có thể thể yên trí về những lời cáo buộc.


    Nói tóm lại, tác giả Nguyễn Tiến Hưng với “Tâm tư Tổng Thống Thiệu” vẫn là một bậc thầy về cách khai thác thương mại từ một đống những kho tài liệu mật đã hết “mật,” hay những chuyện riêng tư chỉ có hai người biết với nhau mà người ta tưởng là sử liệu. Tôi nói “tưởng là sử liệu” bởi vì câu chuyện riêng tư đó chỉ là chuyện riêng tư và nếu không chứng minh được đó là sự thật thì chắc chắn chúng không phải là sử liệu. Nó chỉ là sử liệu khi người ta nêu được nhân chứng khả tín hay phù hợp với những liệu khác.


    Chẳng hạn như việc Tổng Thống Thiệu viết thư nhờ ông Hưng làm cách nào để đính chính một lời tuyên bố của ông về phong trào thuyền nhân bị báo “Now,” mà theo lời Tổng Thống Thiệu, đã bóp béo lời ông thay vì “for” thì họ viết thành “with” thực ra không phải là tâm tư của ông Thiệu mà chỉ là chuyện “đính chính,” “nói lại cho đúng.” Nhưng một câu hỏi được đặt ra: Liệu phóng viên báo “Now” đã không cải chính theo lời Tổng Thống Thiệu yêu cầu vì họ đã có băng thu thanh hay không?


    Theo nghĩa thông thường mà nhiều người hiểu thì chữ “tâm tư” dùng để mô tả những ý nghĩ phát xuất từ cõi lòng của mình về một tình trạng, một sự việc, một biến cố, hay về những con người trong quá khứ hoặc hiện tại. Trong gần suốt tác phẩm, người đọc chỉ thấy “những điều ông suy nghĩ, tính toán và thổ lộ sự chua xót, kèm theo những điều chúng tôi (tác giả) đã tìm hiểu thêm được về tâm tư Tổng Thống Thiệu đối với đồng minh.” Tướng Nguyễn Văn Thiệu là Tổng Thống hai nhiệm kỳ, là Tổng Tư Lệnh Quân Ðội VNCH. Cho nên, khi bỏ đất nước để ra đi giữa lúc vận nước đã như chỉ mành treo chuông, ông có tâm tư gì không sau khi đã định cư yên ổn tại nước Anh?


    Không ai có thể tin là ông Thiệu không có. Cũng không ai có thể tin rằng Tổng Thống Thiệu không nghĩ đến hàng chục tướng lãnh dưới quyền ông, nhưng ông nghĩ thế nào về các tướng đã tuẫn tiết, các tướng đã lưu vong ở Mỹ, các tướng đã bị bắt làm tù binh và bị đẩy vào các trại tù Cộng Sản thì hoàn toàn kín như bưng. Hơn nữa, không thấy ông Thiệu nghĩ gì về công hay tội của chính ông trong nhiều năm cầm quyền nhưng cuối cùng đã không làm trọn được tín niệm: Tổ Quốc, Danh Dự và Trách Nhiệm.


    Trong cuốn sách, tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng có minh định rằng ông không phải là sử gia nên không viết sử. Ông chỉ chú trọng đến chính Tổng Thống Thiệu và nói đến tâm tư của người lãnh đạo miền Nam đặc biệt là về đồng minh. À ra thế! Nhưng nếu ông Nguyễn Văn Thiệu chỉ là một ông Nguyễn Văn Thiệu bình thường thì không nói làm gì, thì không ai buộc ông phải có những suy nghĩ về chính mình đối với biến cố 30 tháng 4, thay vì chỉ nghĩ đến chuyện đồng minh Hoa Kỳ phản bội không những đối với ông mà còn đối với hàng chục triệu dân dưới quyền lãnh đạo của ông.


    Hành động, suy nghĩ, và tâm tư của ông là dữ kiện lịch sử. Cho nên những dữ kiện chỉ có riêng tác giả và Tổng Thống Thiệu biết không thể giúp cho độc giả suy nghĩ gì được bởi nó không được chứng minh rõ ràng, không thể “clear” được như chữ nghĩa ông Thiệu dùng trong thư gởi cho tác giả từ London. Một điều rất khó hiểu là trong “Tâm Tư Tổng Thống Thiệu” mà lẽ ra tác giả phải thêm vào hàng chữ “với đồng minh Hoa Kỳ,” có nhiều nhân chứng rất quan trọng phải để cho họ phản bác vì liên quan đến cá nhân họ. Nhưng tiếc thay những nhân chứng ấy đã chết. Người chết thì làm sao mà biện minh, đồng ý hay phủ nhận?


    Thí dụ ở Chương 2, nhan đề “Ai cố vấn cho Tổng Thống Thiệu rút quân?,” là một chương tôi cho rằng rất quan trọng, bởi vấn đề này gây tranh luận và kéo dài cho đến bây giờ trong giới HO chúng tôi nói riêng và đồng hương nói chung. Nhưng khi đọc từ trang 40 cho đến trang 63, tôi hơi thất vọng vì tất cả những dữ kiện liên hệ rất nhiều đến các tướng lãnh VNCH cũng như Hoa Kỳ, từ tướng Ðồng Văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng Liên Quân, tướng John Murray, tùy viên quân sự Mỹ, người kế vị tướng Creighton Abrams, đại sứ Graham Martin, tướng Ted Sarong, ông Ngô Khắc Tỉnh bộ trưởng và là người thân của ông Thiệu, tướng Westmoreland, đại tướng Cao Văn Viên, tướng Ngô Quang Trưởng, tướng Phạm Văn Phú. Nhưng thử hỏi còn bao nhiêu người trong số những nhân chứng này còn sống để có thể giúp làm sáng tỏ thêm vấn đề?


    Tướng Trưởng là người chịu trách nhiệm về kế hoạch rút Quân Ðoàn I và tướng Phạm Văn Phú là người chịu trách nhiệm về việc rút Quân Ðoàn II sau cuộc họp ở Cam Ranh. Nhưng đâu phải cứ làm tướng muốn rút là rút. Phải có lệnh của thượng cấp. Thượng cấp ấy là Tổng Thống Thiệu, Tổng Tư Lệnh Quân Ðội. Trong “Tâm tư Tổng Thống Thiệu,” tác giả Nguyễn Tiến Hưng cho thấy vấn đề phải bỏ đất nước rất phức tạp và ông Thiệu phải chọn lọc nhiều ý kiến khác nhau. Nhưng cuối cùng cuộc rút quân tại Quân Ðoàn I cũng như Quân Ðoàn II đã trở thành một thảm họa. Lỗi tại ai?


    Theo tác giả Nguyễn Tiến Hưng, về cuộc họp tại Cam Ranh, một cuộc họp quyết định số phận của vùng cao nguyên Trung Phần Việt Nam, Tổng Thống Thiệu “cứ nhắc đi nhắc lại” rằng ông ra “2 lệnh chứ không phải một lệnh: Ðó là thứ nhất rút quân khỏi Pleiku để tái chiếm Ban Mê Thuột và thứ hai Bộ Tổng Tham Mưu theo dõi, giám sát cuộc triệt thoái này. Như vậy là có sự sai biệt giữa tường thuật của đại tướng Cao Văn Viên và những gì Tổng Thống Thiệu kể lại, theo tác giả Nguyễn Tiến Hưng. Trong khi tướng Viên chỉ viết: “Nhiệm vụ của Quân Ðoàn II là phối trí lại các đơn vị cơ hữu của quân đoàn để chiếm lại Ban Mê Thuột theo lệnh của tổng thống.”


    Tổng Tư Lệnh Quân Ðội Nguyễn Văn Thiệu thì nói là ra 2 lệnh trong khi Tổng Tham Mưu Trưởng Cao Văn Viên thì nói chỉ có một lệnh, vậy ai đúng, ai sai? Tổng Thống Thiệu, đại tướng Viên, thiếu tướng Phú, nghĩa là 3 trong số 5 nhân vật chính trong buổi họp ở Cam Ranh ngày 14 tháng 3, 1975, quyết định rút bỏ Quân Ðoàn II, chỉ còn đại tướng Trần Thiện Khiêm và trung tướng Ðặng Văn Quang là còn sống.


    Cuộc chiến đã kết thúc hơn 35 năm qua, tất cả những bí mật của việc rút lui Vùng I và Vùng II Chiến Thuật là điều đã được bàn cãi rất nhiều với đủ thứ tài liệu phần lớn là nằm trong khối tài liệu mật đã hết mật của Mỹ. Trong khi người phải chịu trách nhiệm cho việc này là Tổng Thống Thiệu thì ông lại không chịu chính thức nói ra mà lại chỉ nói riêng với tác giả Nguyễn Tiến Hưng. Nếu tác phẩm này được in ấn trước khi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu hay những tướng lãnh liên quan thành người thiên cổ thì tốt biết bao. Nhưng ngược lại, nó lại được in ra sau khi họ qua đời rất lâu. Thành thử vấn đề được nêu ra vẫn còn tồn tại.


    Ở trang 58, tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng viết: “Tôi hỏi ông là bây giờ mọi chuyện đã rồi, Tổng Thống nghĩ thế nào về việc rút quân này. TT Thiệu đã nhắc lại cho tôi câu ông nói ngày 26 tháng 3 tại Dinh Ðộc Lập khi tôi hỏi về Pleiku: ‘Tôi ra lệnh đúng mà thi hành sai, cũng như làm sao TT Nixon có thể sang đây để kiểm soát được tướng Creighton Abrams.’”


    Câu tuyên bố của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu rất quan trọng bởi vì có thể hiểu đây như một lời cáo buộc tướng Phạm Văn Phú (Tư Lệnh Quân Ðoàn II) đã không thi hành đúng lệnh ông. Nhưng tướng Phú đã tuẫn tiết để bảo toàn danh dự trong biến cố 30 tháng 4, 1975 khác với vị Tổng Tư Lệnh của ông dã không bảo toàn được danh dự của một tổng tư lệnh quân đội. Bây giờ làm cách nào để tướng Phú có thể lên tiếng để xác nhận rằng ông nhận được 2 lệnh hay chỉ nhận được 1 lệnh và làm sao Tổng Thống Thiệu có thể tái xác nhận rằng ông có nói với tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng đúng như đã được ghi lại?


    Ngoài ra, tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng còn viết ở trang 59: “Khi tôi hỏi ông Thiệu là tại sao ông không ghi lại cho lịch sử về việc này? Ông nói: ‘Tôi hy vọng một ngày nào một trong những người có mặt hôm ấy (buổi họp ở Cam Ranh ngày 14 tháng 3 năm 1975) sẽ nói ra điểm này.’ Ý ông muốn nói là nếu tự mình nói ra thì bị coi là bào chữa.”


    Ðọc tới đoạn này, tôi tự hỏi: “Một nhà lãnh đạo như Tổng Thống Thiệu thì thừa hiểu ông không thể bào chữa gì được. Ông là người đứng đầu hành pháp trên cả Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm. Ông lãnh đạo thì ông phải chịu trách nhiệm trước dân chúng là những người đã bầu ông lên, cho dù cấp dưới có làm sai lệnh của ông về việc rút khỏi Pleiku. Tổng Thống Thiệu không để lại bút tích hay ghi lại sự việc quan trọng như vậy đã là một điều sai. Dư luận có thể nghi ngờ ông muốn xóa dấu vết để dễ qui trách cho người dưới quyền vì thực ra, tình hình cuối tháng 3 đã tuyệt vọng rồi.


    Dù có nói gì đi nữa, dù tướng Phú, tướng Trưởng hay tướng Viên không làm theo đúng lệnh rút của ông thì Tổng Thống Thiệu vẫn phải nhận trách nhiệm không đổ cho ai được. Khi viên chức dưới quyền của một bộ làm sai lệnh gây ra hậu quả lớn, vị bộ trưởng phải xin lỗi và có khi phải từ chức để tỏ thiện chí nhận hết trách nhiệm, huống chi một tổng tư lệnh quân đội đối với một tư lệnh quân đoàn.


    Vì thế, qua những trang sách mà tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng gởi độc giả về vụ rút lui khỏi Pleiku, dù ông không nói ra nhưng rõ ràng việc sắp xếp những sự kiện cho thấy tác giả muốn giúp Tổng Thống Thiệu biện minh mà không cần viết hồi ký.


    Nhưng cá nhân, tôi cho rằng ý định của tiến sĩ Hưng thất bại. Ở đây có nhiều người muốn biện minh cho việc ra đi của Tổng Thống Thiệu vào ngày 25 tháng 4, 1975 với chứng cớ nào là Mỹ ép ông phải ra đi, nào là nếu không bị Mỹ thì vẫn có thể bị những kẻ thù ám sát vân... vân và vân... vân.


    Thế nhưng một nhà lãnh đạo yêu nước, yêu quân đội, yêu dân thì sẽ không kể số gì đối với những đe dọa hay áp lực kể cả cái chết, bởi vì chính ngay trong bài diễn văn từ chức ngày 21 tháng 4, 1975, Tổng Thống Thiệu đã hứa ở lại và chiến đấu với quân đội đến giây phút cuối cùng và sau đó ông đã phản lại lời hứa.


    Nhìn vào tên của tác phẩm thứ ba của tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, tôi vẫn nghĩ khi đọc, nó sẽ làm cho tôi dễ chịu hơn, sẽ có những dữ kiện trong sáng hơn về ông Thiệu thay vì chỉ là một đống dữ kiện nói lên cái bẽ bàng về cuộc sống chung của VNCH với một đồng minh không chung thủy. Cũng như nhiều người khác, tôi cũng hy vọng là ít ra thì ông Thiệu cũng có những tâm tư có thể thay cho một phần cuốn hồi ký của ông để làm dịu đi sự bực dọc của nhiều người khi sang định cư ở Mỹ mà không thấy nhà lãnh đạo nào của VNCH tỏ ra ân hận chứ chưa nói là nhận lỗi về những diễn biến đầy máu, nước mắt, những cái chết, những sự hy sinh vô ích và cả một miền đất rộng lớn như miền Nam Việt Nam phải sống dưới sự cai trị khắc nghiệt và tàn bạo của người Cộng Sản.


    Nhưng rất tiếc, cho tới nay, vẫn chỉ thấy chuyện đổ lỗi cho nhau về biến cố 30 tháng 4, 1975 chứ chưa hề có nhà lãnh đạo nào nhận lỗi.


    Tất cả đổ cho “Big Minh” là gọn ghẽ nhất!


    Kỳ 3.


    Những chương kế tiếp trong “Tâm tư Tổng Thống Thiệu” của tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng cũng không có gì lạ. Vẫn chỉ là phần tổng hợp những chi tiết từ những kho tài liệu giải mật. Trong phần Tổng Thống Thiệu chọn giờ để từ chức thì có một chi tiết sai nho nhỏ của tác giả, đó là ông Thiệu đọc diễn văn từ chức vào buổi trưa ngày 21 tháng 4, 1975 tại Dinh Ðộc Lập chứ không phải tối Chủ Nhật.


    Buổi trưa hôm đó, bài diễn văn từ chức của Tổng Thống Thiệu được Hệ Thống Truyền Thanh Quốc Gia trực tiếp truyền thanh và tôi là người bị chỉ định điều khiển buổi trực tiếp. Người phóng viên nói trước máy vào buổi trưa hôm đó là ông Nguyễn Mạnh Tiến và đây là buổi trực tiếp hay nhất trong đời làm phóng viên của anh ở Việt Nam, trong lúc ngoài trời có một cơn mưa nhỏ.


    Tôi bỏ qua những chi tiết nói về những diễn biến tại Dinh Ðộc Lập sau diễn văn từ chức vì đây không phải là mục tiêu của bài này. Tôi muốn đề cập tới chương 11 nhan đề “Chớ có trao quyền cho tướng Minh” trong cuốn “Tâm tư Tổng Thống Thiệu.” Chương này cũng rất quan trọng vì liên hệ đến việc chuyển giao quyền hành cho tướng Dương Văn Minh.


    Từ lâu, những người không ưa tướng Dương Văn Minh có khuynh hướng không công nhận ông là một tổng thống hợp pháp cũng như không coi ông là một tổng thống cuối cùng của chế độ.


    Tôi không quan tâm lắm về chuyện này, bởi tôi nghĩ rằng lúc nào đó sự thật cũng vẫn là sự thật. Dư luận chính trị ở đây không thể bóp méo được sự thật. Tôi và nhiều người khác trong ngành truyền thanh đã chứng kiến những giây phút căng thẳng khi Quốc Hội VNCH cố gắng làm sao cho sự chuyển quyền phải hợp hiến. Cuối cùng thì nó đã hợp hiến và được loan báo trên hệ thống truyền thanh quốc gia VNCH. Hàng triệu người đã có dịp theo dõi tiến trình này qua báo chí và hệ thống truyền thông của nhà nước.


    Thế rồi, những năm tháng trong các trại tù Cộng Sản sau khi VNCH “sập tiệm,” chúng tôi suy nghĩ rất nhiều về điều này. Nhưng cũng kể từ đó, chúng tôi chẳng buồn nói tới việc hợp hiến hay không hợp hiến trong việc chuyển quyền cho đại tướng Dương Văn Minh, người hùng của chiến dịch Rừng Sát thời Tổng Thống Diệm. Ðiều quan trọng là ông Minh tuy phải mang cái nhục của một tổng thống đầu hàng, nhưng rõ ràng đã tránh được cho Sài Gòn thành biển máu, tránh cho những người lính phải hy sinh thêm nữa một cách vô ích khi tình hình chẳng còn cách gì cứu vãn được.


    Ngồi ở những buồng giam trong rừng xanh núi đỏ, đám tù nhân chúng tôi đôi lúc nhớ lại và nói với nhau những chuyện cũ. Có đứa vẫn lý tưởng bàn chuyện hợp hiến hay không hợp hiến khi ông Minh lên nắm quyền. Nhưng nhiều bạn tù với tôi có khi bực dọc: “Hợp hiến với lại chẳng hợp pháp, chúng mày cứ bới bèo ra bọ, mẹ kiếp lúc đó được người ta tiếp nhận đống xà bần cho là may rồi, bỏ chạy hết mà còn cứ nói mẽ mãi.”


    Tôi cũng chẳng còn lạ gì khi nghe nói tới giải pháp này nọ trước khi ông Minh lên cầm quyền 1 ngày rưỡi. Nhưng điều làm tôi ngạc nhiên là trong cuốn “Tâm tư Tổng Thống Thiệu,” tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng lại dùng một tác phẩm “ma” là cuốn “Saigon et Moi.” Càng ngạc nhiên hơn khi ông Hưng viết về đại sứ Pháp tại Việt Nam Jean-Marie Merillon, xin trích:


    “Dù sao chúng tôi cứ tưởng là một công chức chuyên nghiệp, làm việc theo thủ tục hành chánh, đầy đủ bổn phận là được rồi. Có ngờ đâu cái tên của ông đã dính chặt vào những diễn biến tại Saigon vào giờ thứ hai mươi tư. Chính ông đã kể lại rất rõ ràng những cố gắng của ông trong cuốn hồi ký 'Saigon et Moi' nhưng vì một lý do nào đó, cuốn sách này đã bị thu hồi ngay sau khi xuất bản (1983) nên ít ai được đọc” (trang 218-Tâm tư Tổng Thống Thiệu).


    Thế rồi những đoạn sau đó, độc giả không hiểu tác giả dùng tài liệu nào khác hay là vẫn dùng tài liệu “Saigon et Moi,” một cuốn hồi ký chỉ nghe nói và không hề có bằng chứng nào là của ông Mérillon, tại sao lại bị thu hồi và khi đọc tiểu sử của vị đại sứ cuối cùng của nước Pháp tại VNCH, cũng không thấy ghi tác phẩm “Saigon et Moi” được nói là của ông và cũng chẳng có tài liệu nào ghi lý do thu hồi cuốn sách và ai có quyền thu hồi. Cá nhân ông tự ý thu hồi, Bộ Ngoại Giao Pháp hay Tổng Thống Pháp? Hơn nữa không một tiệm sách nào ở thủ đô Paris có ghi đầu sách mang tên “Saigon et Moi.”


    Ai cũng biết, tác giả Nguyễn Tiến Hưng là người có học vị cao và quảng giao. Ông còn có thể “quậy” được đống tài liệu mật được giải mật của Hoa Kỳ, còn liên lạc được nhiều chính khách Hoa Kỳ và thế giới, bạn bè Mỹ Việt của ông trong giới trí thức còn rất đông. Sao ông không chịu khó đưa ra bằng chứng cho thấy quyển sách ấy có thật, lý do nó bị thu hồi, chính ông Mérillon hay là ai ra lệnh thu hồi và nếu bị thu hồi thì tất nhiên gia đình Jean Marie-Mérillon vẫn còn bản thảo và bản in chính để lưu trữ?


    Ai là người trong gia đình ông cựu đại sứ này còn lưu trữ những tài liệu. Tác giả lại là người có mối thân tình–theo như mô tả của chính ông trong “Tâm Tư Tổng Thống Thiệu” (trang 218)–cho nên tôi nghĩ tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng có thừa điều kiện để chứng minh cuốn “Saigon et Moi” có thật.


    Ðiều này khá quan trọng vì ở Little Saigon này đã có một cựu sĩ quan cao cấp VNCH không biết lôi ở đâu ra một bản tóm tắt được nói là của cuốn “Saigon et Moi” do một tác giả khác tóm lược chứ không phải của Jean Marie Mérillon, dịch ra đăng báo, đọc trên đài loạn cả lên. Cái “láu” của người được gọi là tóm tắt cuốn “Saigon et Moi” cho tới giờ này vẫn là cuốn sách “ma” là dùng một vài sự kiện có thật mà ai cũng biết để thêm vào những chi tiết không thể phối kiểm được. Nội dung chỉ là đổ vấy tướng Dương Văn Minh tội “trên trời” chỉ có Thượng Ðế mới biết.


    Không những thế, cuốn sách lại còn dựng chuyện tướng Nguyễn Khoa Nam đòi tử thủ nhưng Tổng Thống Dương Văn Minh không chịu. Cũng giống như tướng Phạm Văn Phú, tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư Lệnh Quân Ðoàn IV và Vùng IV Chiến Thuật, đã tuẫn tiết. Tổng Thống Dương Văn Minh cũng đã mang những u uẩn xuống tuyền đài, báo chí ngoại quốc lúc đó còn đầy ra ở các văn phòng đường Tự Do cũng không nói gì nhiều đến vai trò của Jean Marie Mérillon như được mô tả trong bản tóm lược của “Saigon et Moi.”


    Vậy thì những nhân chứng đã chết có thể nào biện minh được không? Khi các nhân chứng đã chết, không còn biện minh được trong khi những chuyện họ nói ra là chuyện “tầy trời” thì phải chăng những tác giả đã “ép cung” họ ở dưới âm phủ để viết lại những chuyện này không?


    Vì thế, những đoạn sau trong Chương 11 như “Giải pháp Bảo Ðại,” “Tướng Minh không phải De Gaulle,” “Ông Thiệu cố vấn: chớ có trao quyền cho tướng Minh,” “Pháp muốn tướng Minh lên ngôi ngoài khuôn khổ Hiến Pháp...” trong đó có một số chi tiết như chuyện tại sao ông Thiệu không ưa tướng Dương Văn Minh và tướng Dương Văn Minh định tổ chức ám sát ông Diệm khi ông Diệm từ Dinh Ðộc Lập ra phi trường Tân Sơn Nhất, việc dẹp Ấp Chiến Lược vân... vân... mức độ tin cậy đối với những chứng cớ tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng đưa ra rất thấp.


    Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng có cái may mắn ra nước ngoài cùng vợ con trước cả Tổng Thống Thiệu, Thủ Tướng Khiêm cùng nhiều tướng lãnh VNCH khác, nhưng lại không có cái may mắn chứng kiến cái gia tài mà các quí vị để lại cho những người dân, người lính, và hàng triệu công chức cán bộ VNCH chỉ còn là “tương bần,” thì lúc đó có đến 10 ông đại sứ như Jean Marie Mérillon, có đến trăm ông đại sứ như ông Graham Martin, có đến ngàn ông tướng như tướng Vanuxem cũng không cứu nổi miền Nam Việt Nam.


    Chỉ tội cho những người ở lại. Họ đã tiêu tuổi thanh xuân trong chiến trận, rồi trong những năm dài tù đầy, ra khỏi trại tù thì lại phải sống trong cái nhà tù lớn Việt Nam và khi được lòng nhân đạo của người Mỹ ngó ngàng tới đưa sang được đất nước tự do này thì tóc đã bạc trắng, da đã đồi mồi. Cái may mắn còn lại của họ là giờ đây họ còn cơ hội đọc lại, suy gẫm lại những gì được phơi ra trước ánh sáng ban ngày: Xấu, tốt, ngay thẳng, khuất lấp, chính, tà rất phân minh. Nhất là, sau cả một giai đoạn dài sống và chiến đấu trong chiến tranh, thăng trầm, qua nhiều biến cố chính trị, quân sự, người miền Nam Việt Nam ở hải ngoại cũng như ở trong nước không dễ gì để cho bị, hay tự đeo vào mắt mình những cặp ba trá (miếng da che hai bên mắt để chỉ nhìn thấy một đường) đối với tất cả các vấn đề thiết thân với họ.


    Vì thế, đừng có ai hy vọng gì khi đổ tội một cách bất công cho người phu đổ rác mà nên đổ tội cho những ai xả rác trong căn nhà Việt Nam. Tướng Dương Văn Minh chỉ là một người phu đổ rác và theo tôi ông là một tổng thống đầu hàng, nhưng không phải là người dâng miền Nam cho Cộng Sản. Dù là ông Minh hay bất cứ một ông nào khác tiếp nhận cái gia tài “tương bần” do ông Thiệu để lại, cũng sẽ phải hành động như ông Minh mà thôi, nghĩa là với mục đích tránh đổ thêm máu một cách vô ích. Tổng Thống Dương Văn Minh, nhà lãnh đạo cuối cùng của VNCH, đã bị Cộng Sản quản thúc một thời gian sau khi đầu hàng. Sau đó ông bị tống xuất sang Pháp rồi từ Pháp ông xin sang tái định cư tại Pasadena. Ông giữ im lặng cho đến khi nhắm mắt và được chôn cất tại đây.


    Như vậy, điều quan trọng nhất trong biến cố 30 tháng 4, 1975 là không ai dâng miền Nam cho Cộng Sản mà là VNCH đã thua trận. Ðầu hàng là một biện pháp mà tổng thống cuối cùng của VNCH dùng để giải quyết cuộc chiến vì không thể nào khác hơn được và do muốn tránh đổ máu vào giờ thứ 25 khi những người lẽ ra phải gánh trách nhiệm đã bỏ đi. Ðiều quan trọng là cho tới phút cuối cùng, VNCH vẫn duy trì trật tự và không hỗn loạn.


    Cho nên, với tư cách là một nhà báo đã đọc cuốn “Tâm tư Tổng Thống Thiệu,” tôi có thể nói rằng tác phẩm không phải là tâm tư của một nhà lãnh đạo mà chỉ là một lời biện minh giùm Tổng Thống Thiệu sau khi ông đã mất được khá lâu. Ðiều rõ ràng là ông Thiệu không hề muốn để lại một bút tích nào nói đến tư tưởng và hành động của ông khi cầm quyền. Vả lại, ông Thiệu cũng thừa hiểu rằng ông không thể nào biện minh cho hành động bỏ ra đi từ ngày 25 tháng 4, 1975 dù là bỏ đi với bất cứ lý do nào. Ðiều quan trọng là trên đất nước tự do này, bất cứ ai cũng có thể biện minh cho người mình thích, nhưng nó đòi hỏi lời biện minh phải có chứng cớ khả tín và không nên đổ tội cho người khác để biện minh cho mình.


    Ðiều thắc mắc cuối cùng của tôi là cái kho tài liệu mật không còn mật nữa về chiến tranh Việt Nam còn nhiều, và càng đọc người ta lại càng thấy một số chính quyền và chính khách Hoa Kỳ rất tàn độc đối với đồng minh và thật tử tế với kẻ thù. Nhưng tôi nghĩ có lẽ công bằng hơn thì chúng ta cũng tự trách mình trước đã. Chúng ta thấy chính quyền VNCH từ Ngô Ðình Diệm cho tới Nguyễn Văn Thiệu, có chính quyền nào mà không do Mỹ dựng lên. Ðó là điểm yếu mà chúng tôi, khi còn hoạt động trong ngành tuyên truyền của VNCH, rất khó đối phó khi kẻ địch nêu lên vấn đề này.


    Lẽ ra cuốn “Tâm thư Tổng Thống Thiệu” của tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng nên có thêm phần phân tích này và đòi những nhà lãnh đạo nào từng cầm quyền bính tại VNCH nên có một lời xin lỗi dân chúng miền Nam Việt Nam về việc đã không bảo vệ được họ mà ngược lại đã không chịu nhận những lỗi lầm dẫn đến sự sụp đổ của VNCH. Và một điều nữa cũng cần lưu ý càng bênh vực các ông Ngô Ðình Diệm hay ông Nguyễn Văn Thiệu mà không dẫn chứng được bằng dữ kiện thì càng làm cho các cuộc tranh luận thêm gay gắt và người chết cũng chẳng được yên ổn. (Vũ Ánh/Việt Herald)

    (Bài đăng lại từ http://www.thctct.com/index.php?opti...dio&Itemid=104)

  4. The Following 3 Users Say Thank You to chimtroi For This Useful Post:

    DnThuy (09-29-2012), lethucthang (08-12-2013), nguyenphuong (08-04-2012)

  5. #3
    vinhtruong's Avatar
    Status : vinhtruong v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Jun 2010
    Posts: 1,309
    Thanks: 606
    Thanked 2,647 Times in 952 Posts

    Default Carrying out axiom-1 by “Case-Church”

    For becoming a powerful magician, Permanent Government [George H W Bush] also assigned freewheeling diplomat Kissinger taken more charge of State Department from Secretary Rogers on date 22/ August/ 1973, prior two months, at 4: PM on 13/ June, secretly Kissinger flew to Paris met Le Duc Tho put the “green-Light”: authorized Communist North Vietnam attack on course Highway-I through DMZ to Saigon on keyed TOT timetable. The South Vietnamese will see – on highway-1 scattered among these troop transports rolled long semi trailers with tarp-covered, cigar shaped cargos, big SAM, and SA-2 missiles on the long trailers and their mobile launching systems accompany them. These brand-new batch of modern weapon for next campaigns to overrun Saigon 1975, Phnom-Penh 1979 and later defense at northern when China gave the lesson that the cost expensed by U.S dollars and Soviet working-class manufactured.
    - On June 29, 1973, two months after Lowenstein and Moose’s report, Congress placed a rider on the 1974 budget authorization bill that required a halt to all combat air operations in Southeast Asia. Idaho Democrat Senator Frank F. Church and New Jersey Republican Senator Clifford P. Case authorized this amendment, which bore their names: “Case-Church”.
    - On December 13, 1974, John Kerry and Jane Fonda conspired with Hanoi to overrun Phuoc-Long province to checking how sure the US reacted and South Vietnam run out of supplies, ammunition and persuaded regardless the Paris peace talk agreement. Closely followed advised by KGB counselor to Prime minister of North Vietnam, Pham Van Dong responded to Stephen Young. “Well, when Nixon stepped down because of Watergate, we knew we would win. Dong said of President Gerald Ford, the new president, “he’s the weakest president in U.S history: the people didn’t elect him; even if you gave him candy, he doesn’t dare to intervene in Vietnam again. “We tested Ford’s resolve by attacking Phuoc Long province in January 1975. When Ford kept B-52 in their closed shut-hangars, our leadership decided on a big offensive against South Vietnam. We had the impression that American commanders had their hands tied by political factors. Your generals could never deploy a maximum force for greatest military effect” because Cooper, and Case-Church Amendments tied double knotted – must do nothing.
    - On January 8, 1975 Le Duc Tho was assured by Kissinger of his willingness Saigon occupation at the time two Soviet delegations, Nicolai Firyunbin as diplomat shuttle like Kissinger, and military-delegation, General JCS V, A Jukilov pledged a new batch of sophisticated-weapons will anchored at Hai Phong Harbor very soon; meanwhile military delegation of Red China on February 28, head by Yang Yung sponsored an assault-sapper division with the plot divided South Vietnam two parts.
    - On March 25, Secretary of Defense Schlesinger found himself standing on the outside of the President’s inner circle. He stood in direct contradiction to Kissinger’s foreign policy strategy. If the house and Senate would approve a massive emergency (as rescue West Berlin or Israel) infusion of war goods to South Vietnam, based on the Weyand assessment, then in the worst case, if Saigon fell, the world could not blame Unites States for it. But that Permanent Government turned down, because CIP’ stratagem was accomplished on keyed time on road map course. The craps must done for the next job will be start in Middle-East, central Asia – Eurasian Great Game stratagem
    I could give you an objective opinion: For months earlier of Saigon Fall – lurching from the chair, President Thieu felt deserted and alone, rushed to a table where he picked up a pale green, manila folder stuffed with papers and shook it at General Phu (when President Big-Minh surrendered, Phu and another four Generals committed suicide) “These reports indicate that we have depleted the greater majority of those very supplies and munitions”
    “Sir, I have seen with my own eyes what we hold in many of these caches,” General Phu said, rising from the chair in a respectful response to the president abruptly leaping his feet.
    “We drafted those reports in hopes of gaining additional American support. Just as when we submitted our budgets, the truth that they tell represents a different set of circumstances and realities”
    “Our forces, thus far, have stood no match against the North Vietnamese,” Thieu snapped:
    “You lost, what, two regiments already? Or is it now three? Annihilated! Sixty percent of the men killed before they could even land!”
    “This is not the same situation, sir,” Phu said in a soft, conciliatory voice, hoping to ease the tensions that had sent President Thieu into such an explosive tantrum.
    “That is very one battle not the war, nor does it represent the whole country. We must now resolve to isolate the enemy’s forces and contain them where they presently stand”
    “I have solid information, documented in a top secret intelligence report from a very reliable American military resource, that tells me that while United States withdrew their support of us during the past two years and cut our aid to a fraction, the Soviet Union have covertly shipped no less then 700 million long tons of new military equipment, ammunition, and supplies to Hanoi in preparation for this very campaign! They blatantly violate the Paris Accords, just as the North Vietnamese now ignore its rules with this invasion!” President Thieu preached, his voice crescendo to a shout as his face flushed dark red and blood veins pulsed outward on his forehead and temples.
    General Phu keep quiet, said nothing, waiting for the president’s rage to subside. He deeply suspected that no such intelligence report ever existed, nor had any of the American military staff shown Thieu anything even similar to the document he described. It contradicted everything that the Americans had otherwise said.
    Furthermore, General Phu American old friend, Brigadier General James Vaught, an U.S general assigned to the CIA in Saigon, had pretend to visit him only weeks ago. When General Phu asked him for advice, Vaught had refused because he claimed that the Paris Accords prohibited him lending such help. Not even advice from an old and trusted friend. Who would have known? It was only the two of them, yet Vaught, still, had said “NO” – when Saigon Fall in a cruel April 1975, Phu was the first among five generals committed suicide. General Phu felt a sense of isolation and betrayal.
    From now on, President Thieu had no real friends within any of the American diplomatic, intelligence, or military communities. Ambassador Martin merely tolerated the man because his job required of him a minimum of such conduct. No one, in Phu’s mind, would have given President Thieu such incredible news.
    Actually, the communists clearly hold the upper hand, due to the Axis of Evil played the craps “On the Strong-man Side” and nearly carried out the “axiom-1”. Observer said in a matter of fact “A lot of them think that this is the beginning of the end.” Spontaneously, Thieu roared, continuing to bluster as he walked back to the table and threw down the green folder on a stack of others like it, toppling them across several cardboard tubes that contained charts and maps.
    “America has turned its back. Deserted us in the breach! How do we stand in defense against such forces when they can now so easily overwhelm us?”
    “How can we withdraw our units from their defenses without placing them and the republic at far more risk?” Phu said, now courageously pleading for the president to simply consider what nearly any military strategist finds immediately obvious and most basic. “Forces in movement face the greatest vulnerability if all situations. On the march, our soldiers will have no defenses and can rely only on the equipment, ammunition, and stores that they carry and the great drawback by the civilians will joint with us. In such a massive retreat, they will have highly inadequate armor and artillery defenses, and even those that they can deploy cannot respond rapidly enough to an attack. They cannot count on air cover, either. The Communists now have widespread antiaircraft defense missile – new batch-weapons from Soviet after General Pavel Batitski in March 1972, SA.2 on long trailers, and their mobile launching systems accompany them. We never saw these big SAM except near the DMZ, where they shot down countless number of the American fighters. Now they bring them toward Saigon, deployed throughout the northern-provinces and Central Highlands, making our pilots very timid to fly into these hostile zones. A reinforced enemy lying in ambush will find such in army in movement and easy prey indeed.
    Remaining in defense, our forces will have the advantage of holding high ground fortresses, heavily supported by artillery and armor, with ample provisions. Placed in movement, the army must desert these fortifications and the greatest majority of their supplies and munitions. They are simple too vast to carry with us. What of them? (For carrying out of their “axiom One,”: Cruel April: The Fall of Saigon by the mastermind George I, tucked away in China, Beijing, Shackley in Saigon, Rumsfeld, Cheney and many others WSAG-staffs in Washington D.C)
    Furthermore, consider the reaction of the people when they see the massive movement of our units. They will surely panic and crowd the routes, following the retreating forces to safety, and thus choke traffic to a crawl. The strong mind anti-communist became the weak to our retreat forces.
    “Sir, abandoning the Central Highlands and the Northern provinces to establish a damn new DMZ appears to me a recipe for disaster.”
    “You have no choice in the matter…General Phu,” President Thieu snarled. “We will sacrifice those forces necessary to protect the redeployment so that my plan does succeed. I have already ordered such units to fight to the man. It is the republic’s only hope.”
    General Phu said nothing more and turned his gaze to the ornate design and dark colors of the Persian carpet spread across the floor. He realized that President Thieu had now let fear dominate his thinking, and panic, driven by the defeat at BaMeThuot province, his loss of fair in the fighting abilities of South Vietnam’s armed forces, and the absence of hope for any American supports, obviously guided his decisions. Clearly, the president’s resolution to the crisis, if executed, spelled the end for the Republic of Vietnam.
    General Phu now began to consider his own safety and what he must do to stay alive and free. He had endured captivity and torture by the Viet Minh in Dien Bien Phu 1954 and felt certain that he couldn’t again survive imprisonment under the communist hand; especially his rank often got promotion on the battle and his old age. He stepped back to the sofa chair and stood, waiting for Thieu to return to his seat and spell out details of his plan. The diminutive-general resolved to say no more about the matter and only to listen dutifully. Seeing the president so demoralized and now consumed with such trepidation that it warped his thinking. Phu concluded that more words would only serve to further inflame President Thieu.
    NhaTrang, Army Corps-II Headquarters: President Thieu sat at the head of the long conference table at NhaTrang garrison headquarter. He listened as members of the Joint General Staff and representatives of South Vietnam’s military regions offered their assessments of the crisis as a prelude to the presentation of his redeployment plan. Thieu had to chide and pressure his only ally, General Phu, into supporting his position. President knew that Major General Phu did it because Phu had no choice. His losses at Ban-Me-Thuot had essentially emasculated him. Now the man just sought a way out, not merely out of the situation, but out of the country.
    Who at this table could he trust? Major General Pham Van Phu? A weary commander, who today, seated in the large, leather conference chair behind the great mahogany table, appeared even more dwarfish than ever; His only ally? He had no idea who the heavyset, burly general Nguyen Van Toan truly supported nowhere his real loyalties lay. Toan had the reputation a man easily swayed with dollar, or promise of power. Toan held no qualms in getting what he wanted by any available means, inside or outside the law or command structure. Toan wielded his muscle in Saigon and Military Region-III more as a warlord than as a uniformed commander of forces.
    President Thieu felt alone and deserted. However, He felt confident that burly general Toan would stand with him, since the president’s plan also benefited the general’s own self-servicing interests.
    Thieu’s only openly defiant critic, General Ngo Quang Truong, commander of Military Region-I, didn’t attend at NhaTrang meeting, nor did he offer any reason excuses for his absence. He regarded the entire conference as merely an exercise in procedure, a game of smoke and mirrors, and totally a waste of his time. President Thieu already had his plan. Today’s commentary simply shuffled more papers for no good reason other than to satisfy bureaucratic egos.
    On 10 March 1975, President Thieu had ordered General Truong to redeploy the entire Airborne Division from the defenses of Hue and Danang so that he could move them into position to reinforce units that his plan had established to cordon off Saigon and at least save that city. Thieu didn’t even have a specific mission for the Airborne Division, other than they should report to Military-Region-III at once and that they would fill in where General Toan needed them.
    At the onset of president Thieu issuing his order to redeploy the force, which represented more than a third of the defense of Hue and Danang, General Truong had emphatically refused and had vehemently pled for his commander in chief to reconsider.
    On 13 March 1975, that following morning at presidential Palace; General Truong flew to Saigon to argue his case, face to face, with President Thieu. General Toan didn’t bother to stand as his senior-ranking protégé Lieutenant General Truong stepped through the conference-room doorway inside the Presidential Palace, where the two men awaited their audience with President Thieu. The serious faced general from M.R-I, Danang glanced at general Toan and then at Toan’s aide-de-camp, who had leaped to his feet when Truong entered the room.
    Scowling now, General Truong sat in a leather armchair at the opposite end of the conference table from General Toan and dismissed the disrespect as another quality in the man’s gangster-like demeanor. In January, President Thieu had relieved the former M.R-II I commander who had lost an entire regiment, more than three thousand men from the 5th ARVN Division, attempting to defend Phuoc Long, province. General Toan had stepped into the commander’s billet and immediately boasted that his three divisions, armored brigade, and five ranger groups would lose no more ground.
    “I hope you had a smooth flight from Danang,” Toan said casually, trying to cut the ice with small talk. General Truong simply looked at his colleague and nodded. He had few indulgent words for anyone today.
    More than half hour passed before President Thieu finally entered the conference room. General Toan had fidgeted and chatted nervously with his aide-de-camp, while General Truong had sat quietly, jotting notes and studying a thick stack of battle-planning documents.
    “Please remain seated, gentlemen,” President Thieu said as he breezed into the room and took a seat in the leather armchair at the right of General Toan. The distance of the conference table looked like a long mahogany highway to General Truong. Clearly he had no advantage, and he immediately realized that his bumpy flight to Saigon this morning had only wasted his precious time. He felt suddenly sick at his stomach, and for the first time in his life he genuinely feared for his country, and for his fellow soldiers, whom he greatly loved.
    “With all due respect, Mr. President,” General said with a sharp edge in his voice, “I had hoped that we could discuss that matter privately”
    “My decision to redeploy the Air Borne Division from Hue is a matter of direct important with General Toan,” Thieu said, “Since I’m reassigning that force to his command.”
    “And what of Hue city” Truong asked.
    “Those Army and Marine Corps units that I have allowed you to keep there will defend that citadel to a man,” Thieu said. “We have already had this discussion, Lieutenant General Truong… you must obey my order, could you?”
    “No, sir” General Truong snapped and stood defiantly.
    President Thieu remained seat and smiles. General Toan leaned back in his chair and glared at General Truong.
    “You will bring the whole nation to ruin with this insanity, sir,” Truong said, his pent-up rage beginning to boil in his voice.
    “That’s quit enough, Lieutenant General,” President said, still keeping his seat.
    “What is the purpose of this lunacy” General Truong said. “Abandoning our cities makes no sense. Deserting our fortresses and our stockpiles hands the enemy victory.
    “You order my soldiers to stand and die, for what; So that you and your cronies can cut and run? Meanwhile those units that you order to redeploy will be slaughtered on the highways. The timing is too late. The enemy is in place! Do you not realize this?
    “Pulling such a force from Hue will cause its utter destruction overnight. Those soldiers left to fight will quickly lose heart. Those who actually remain their posts, and do not desert, will surely die or fall prisoner to the Communists.
    “Once Hue falls, refugees will flood over the Hai-Van Pass into Danang, and with inadequate defenders there, it will quickly collapse too. Then Chu-Lai will topple, and an unstoppable tidal wave will come crashing down Highway-I through Qui-Nhon then NhaTrang, and straight into Saigon. I will not do it!” (CIA Ted Shackley’ plan via Kissinger offered a conspiracy of silence to Le Duc Tho an attacked-throng trajectory to Vietnam War’s blood end or Axiom-I carried-out)
    “You will send those forces I order, and you will send them immediately” President Thieu barked, now standing and walking around the conference table to meet General Truong face to face.
    “Relieve me! Shoot me for insubordination! But I will not abbey such an insane order, sir!” General firmly said, looking at Thieu squarely in the face.
    “I already have transmitted orders to your subordinate commanders, and the Airborne Division,” President Thieu said, turning his back on General Truong.
    “You will return to your command post, and you will fight and defend Hue and Danang and Chu Lai to the last man standing. Is that clear? You may not surrender!”
    “History will bitterly remember you, Mr. President! Our people will come to scorn your name,” strongly General Truong said, snapping his satchel filled with working papers under his arm and marching defiantly out of the room. In his heart he knew the entire plan held together like feathers in a torn pillow. One good shade and everything would fly to the four winds.

    The lone ranger, Schlesinger’s increasingly isolated out of favor with his own cabinet
    Secretary Defense Schlesinger’s pragmatism stood in direct contradiction to Kissinger’s [Skull and WIB’ class] foreign policy strategy, America’s not lose face with the rest of the world should South Vietnam fall. As it stood, the secretary of Defense found himself standing on the outside of the President’s inner circle. Their Skull session in meeting included attendance of national security expert General Brent Scowcroft, General Weyand, and Ambassador Martin. It did not include attendance or even notification of Secretary of Defense James Schlesinger, even though their discussion and planning heavily involved Department of Defense assets, personnel, and one of its most high-ranking military officers as General Weyand.
    The lone ‘duty, honor, country’ Schlesinger, He’s out of favor with his own Skull’s administration. He’s increasingly isolated. But my view of point this Secretary of Defense James Schlesinger, a man of decency and compassion, dispatched a message to all members of the American armed forces. “For many of freedom-fighters,” he acknowledged, “the tragedy of Southeast Asia is more than a distant and abstract event. American have fought there; they have lost comrades there; they have suffered there,” He reminded those who fought the war that they had been victorious and had left the field with honor, stating also his conviction that America’s involvement had not been without purpose. “He salutes them for it,” he told the forces worldwide. “Beyond any question they are entitled to the nation’s respect, admiration and gratitude.”
    Schlesinger and Kissinger stood at direct odds when it came to handling the latest events in South Vietnam. Schlesinger had told President Ford when President Thieu had begun to panic and the Central Highlands fell that he believed his represented the final Communist offensive and that South Vietnam had little hope of surviving it. He told puppet President Ford, (the weakest president in US history, the people didn’t elect him) “The handwriting is on the wall.”
    Pretender Kissinger and Ambassador Martin spoke with great seemed optimism for South Vietnam rallying and even toyed with the notion of using détente with the Soviet Union as a hole card to encourage Moscow to stop the North Vietnamese short of Saigon, Schlesinger voiced caution. Kissinger had urged the President by pressures like Nixon recently to empty the warehouses of South Vietnam’s allocations of war supplies and to expedite those shipments, while Schlesinger wanted them held back. Pragmatically, he reasoned that with South Vietnam now a lost cause, anything America sent to the country would wind up in the hands of the Communists.
    The WSAG don’t want the notorious bloodshed will took place in South Vietnam by their scam. So if the Senate and the House would approve a massive emergency infusion of war goods to South Vietnam, based on the Weyand assessment, then in worst case, if Saigon fell, the world could not blame America for it. The Unites States had the goods on the way. The failure of South Vietnam’s resolve would then have to shoulder the blame. America had not, after all, run out on an ally. It seemed to me that “It was a very neat CYA [cover your ass] strategy. However, it would allow America to retain the respect of those other nations who also looked to the United States for a commitment to their protection.
    At last, the problems that America face in protect South Vietnam are an elementary question of what kind of people America are. For fifteen years America have been encouraging the people of South Vietnam defended themselves against [Red-menace] what America conceive to be an external danger. Now America stands on the brink of betraying that trust?
    In the past almost four years, Congress has dramatically cut aid to South Vietnam, going against a long-standing commitment. As a result, that nation now falters because of a grievous lack of spare parts and replacement equipment by project “enhance” as Paris accords permitted. American cannot betray this sacred trust with South Vietnam.

    At United States Embassy, Saigon: “Sir, Ambassador Martin and I met with President Thieu this morning, and Thieu has again pled for help,” General Frederick Weyand said to President Gerald Ford in a conference telephone call to Palm Springs from the United States Embassy in Saigon. “Given what they have lost in Danang, it will require at the very least another $700 million in equipment and supplies on top of what U.S have already committed to them.”
    “Congress will never agree (under pressure of Skull and Bones) to more than $1.5 billion after they cut the authorization by half that much last year alone,” President Ford said.(in the past four years, Congress has dramatically cut aid to South Vietnam, even one replaced one in the Enhance Project that permitted by Paris accord agreement)
    “Mr. President, Graham Martin here,” the ambassador to Saigon interjected: “If we can only reassure President Thieu that American has not abandoned South Vietnam, I am certain he can lead their forces to rally. All of this doomsday reporting by the media has set the South Vietnamese armed forces on their ears. We need to demonstrate some resolve and reassure them”
    “President Ford and his chief staff, Donald Rumsfeld also knew well that President Thieu had lost a great deal of credibility as his nation’s leader, not only with his own people and their armed forces, but with the international political world as well. The Chief of staff WSAG knew backing a loser did not sit well with either man.
    “Shipments of equipment and supplies will go a long way in doing that,” General Weyand said. “When I return in a few days, I will give you a formal report, but for now it looks like they will need at least double what Congress has already allowed them in the current budget.”
    Long ago, under pressure of totalitarian-Skull and Bones over the House and Senate, the first volley in Congress came in 1970 when influenced Senator Church and Kentucky Republic Senator John Sherman Cooper Church authored a bill that cut off funding of all military activity in Southeast Asia. That measure narrowly failed in its original form. However, on December 29, 1970, as a shirttail amendment to the defense authorization bill, a watered-down version of the measure finally passed. That version of the amendment only barred the introduction of America ground forces in Laos and Thailand. Senator Church and other members of Congress (influenced by George H W Bush) so angered by President Nixon openly lying about United States military involvement in Cambodia (War Power Act) that they immediately took action to begin cutting funding for the war.
    As American air and ground forces swept through Cambodia during April of 1970, President Nixon, when confronted with press reports of the United States-led aerial bombing and ground combat operations there, addressed the issue in a nationally televised speech. President Nixon directly stated that the United States had no advisors on the ground in Cambodia, had no American military forces involved in any actions in Cambodia, and no American military air assets supporting any action in Cambodia. President Nixon’s blatant lie set off a congressional firestorm and did more to cripple assistance in South Vietnam and Cambodia.
    Throughout most of years of United States involvement in South Vietnam, although Cambodia proclaimed a nonbelligerent, neutral status, it actually supported the Viet Cong and North Vietnam forces by providing them refuge, primary in the Parrot’s Beak region along Mekong River, hardly more than fifty kilometers west of Saigon. In this so called neutral territory, Communist forces successfully-escaped American and South Vietnamese pursuit and rested and recuperated between commitments to combat operations. In this Cambodia haven, they also stashed large caches of weapons and supplies ferried over the notorious Harriman’s Highway, which crossed through Cambodia at several points, exiting into the Mekong region and the Central Highlands. Nixon’s characterization of the incursion’s purposes shifted attention from the far more important goals of disrupting the enemy’s lines of communication and clearing out his base areas, achievement that could set back his timetable for further aggression to the advantage of both ARVN improvement and US withdrawals. But this is against the axis of evil’s craps.
    Cambodia incursion is the changing Nature of the War. In reality, the nature of the military conflict in South Vietnam has been under change since Tet-Offensive 1968 [Westmoreland stand for US combat troop moving in a peak 543,400 in term “Search and Destroy. And Abrams stand for withdrawal to the last G.I, in term “Clear and Hold] Although shifts in the level of violence, type of military operations, and size and location of forces involved are characteristic of this change, the allied realization that the war basically a political content has, thus far, been decisive. Not until the early of 1970 was authority granted for on “incursion” of limited duration and depth into Cambodia. Intelligence had indicated, said President Nixon that the enemy was building up large concentration of men and equipment in the border sanctuaries of Laos and Cambodia. This led him to contemplate actions that U.S could undertake to show the enemy that U.S was still serious about US’s commitment in South Vietnam. Of course the unexpected overthrow of Sihanouk also presented a changed and potentially favorable situation.

    That’s a flat contradiction of what Secretary Laird said before! In Washington, some fairly novel command arrangements surfaced. A presidential blue ribbon commission later reported that, “As was widely noted by the press at the time…. Defense Secretary Laird had been bypassed the Joint Chiefs staff in advising the White House on preparations to intervene in Cambodia in April and May 1970.” Clearly that had been done on orders from the White House. [WSAG’ chief staff Donald Rumsfeld] there were other problems, including conflicting guidance from Washington that led General Abrams to state some Standard Operation Procedures.
    Storm blown a gale: Three weeks into the operation, General Alexander Haig in the White House, part of Kissinger’s National Security Council staff, seems the likely source. Perhaps Haig himself was the principal author, a prospect congruent with his later involvement in and reaction to the operation – sent by the WSAG to look into what was happening in the war zone – arrived in Saigon. Haig’s discussions with General Abrams and others were prickly, his perspective relentlessly political. “I’d hate like hell to think that the President was justifying his action on faulty information, or lagging information,” said Haig, his unsavory face voicing an implied criticism. That apparently related to Nixon’s announcement that the operation targeted COSVN headquarters [violated the axis of evil ROE stratagem] “He maintains, and frankly this is what he was getting from his cabinet and from the briefings we were getting, that it was ambiguous.” Well, yes, agreed the MACV briefer, “it was ambiguous, at the time,” Obviously, there was unhappiness in the White House over some procedural matter, perhaps an assessment of the North Vietnamese outlook on negotiations, even as the operation itself was proceeding admirably.
    Those at MACV had their own concerns about ambiguity and they weren’t shy about bringing them up with Haig. “We have two of your messages,” he was told. “One of them says ‘go get ‘em
    And the other one says “hurry up and get out,” in the anticipated plot of WSAG. “What is it you people really want?” “Well,” Haig responded, “its ‘go get ‘em’ until the end of the period.”
    Another eye of the storm: In April of 1973, the United States Congress sent a fact finding team to Cambodia to examine the situation. James G. Lowenstein and Richard M. Moose headed the team and issued the report from the mission to Missouri Senator Stuart Symington, who chaired the Subcommittee on US Security Agreements and Commitments Abroad. Lowenstein and Moose reported that to offset Communist guerrillas’ increasing successes in gaining control of key territory, the United States had increased its air support of Cambodia republic forces to ensure the survival of the Khmer Republic. The report cited that the fighting would continue indefinitely since the Khmer Rouge and their North Vietnamese, Soviet Union, and Chinese Communist allies were clearly not interested in any cease-fire options. The report further stated that even if the Communist might agree to a cease fire, it would no doubt hinge on the condition that the United States stop all of its support to Cambodia, similar to the stipulation laid out in the Paris Peace Accords. The report concluded that without American support the Cambodian republic could not last very long.
    Most significantly, once Cambodia fell, then South Vietnam would face its worst nightmare: NVA forces poised on its western flank with no American air support. The Moose and Lowenstein also report virtually laid out a set of no-win options for Congress. Continued support of Cambodia would potentially mire the United States in another war much like the one in South Vietnam. The alternative literally gave away Southeast Asia to the Communists.
    On 29/ June/ 1973, two months after Moose and Lowenstein’s report, Congress placed a ride on the 1974 budget authorization bill that required a halt to all combat air operations in Southeast Asia as Permanent Government’s anticipated plot. New Jersey Republican Senator Clifford P. Case and Idaho Democrat Senator Frank F. Church authorized this amendment, which bore their names. To seal out all American involvement in any combat in Laos, Cambodia, and Vietnam, Congress passed yet another amendment. This measure, a shirttail rider attached to the December 1973 foreign aid bill, forbade any funding of any military operations anywhere in Southeast Asia.
    “No matter what happens in Cambodia or South Vietnam,” the U.S have several mandates passed by both houses of Congress and signed into law by the President that say Americans can only watch while Southeast Asia goes down the tubes. Americans can land no ground forces, can send no air support, Americans can provide no military advisors nor any military aid.
    At the end of axiom-1’s for Vietnam War, the ARVN fought the war alone at the most difficult situation due to short supplies in logistics and the US military disengagement; however the ARVN, unfortunately, this classic epic battle seemed to get lost in the political fog of phony Paris agreement at that time. More than three decades was a long time, yet the images of Vietnam in March and April 1975 are still vivid: precipitated withdrawals of South Vietnamese troops from Quang Tri, Hue, and Danang in the north to Kon-Tum, Pleiku, and Ban Me Thuot in the highlands; thousands of civilians with their meager belongings and in tattered clothing fleeing the incoming Communist troops on National Route-1; desperate parents, holding children in their arms, trying to swim to the ships anchored offshore; total chaos in Saigon (the capital of South Vietnam, now officially called Ho Chi Minh City) and finally on April 30, a long line of people climbing on helicopters on the rooftop of the U.S. embassy to get out of the doomed country. The Vietnam War finally came to an end terminated by Pennsylvania game. After years of bitter fighting, South Vietnam was forcibly taken over by the Communist North. The Vietnam-War was often portrayed as an Imperialist-War which started when U.S. Marines landed in Danang in 1965. In fact, it started in 1961 when the Communists assassinated Colonel Hoang Thuy Nam, the head of the South Vietnamese delegation to the International Joint Control Commission. This group was set up following the signing of the Geneva Accord of 1954 to monitor the cessation of hostilities between the Communist North (Democratic Republic of Vietnam) and the non-Communist South (Republic of Vietnam), and many assassinations of government officials, guerilla ambushes against the army that followed. The Geneva Accord called for a national election in 1956, ostensibly for people to decide on the political future of the country. The South Vietnamese government, however, did not sign this agreement as U.S Permanent Government suggested. In believing that it would never be possible to organize fair elections in Communist-dominated areas, the South Vietnamese refused to fall into this trap, hoping that the country would eventually become strong enough to defend itself against the Communist onslaught. The election, therefore, never took place. Having failed to take the South by the much hoped-for election, the Communists started to make plans to eventually realize their dreams by force, at all costs. Thus began the Vietnam war, which eventually led to an estimated three million deaths on both sides, hundreds of thousands of former members of the Armed Forces and government of South Vietnam, as well as numerous intellectuals, religious leaders, as well as other civilians killed in revenge or imprisoned for years in concentration camps officially called “re-education camps” and thousands of refugees losing their lives in the perilous and pirate-infested South China Sea in their quest for freedom elsewhere. More than thirty years has been just passing on our grey hair since the collapsing of Saigon and South Vietnam, our beloved capital, our country. And it seems to me that the pain and the sorrow of the "Saigon Mayday" in 1975 just happened yesterday. The United States Army and The South Vietnam Army have not lost the Vietnam War, but the policy makers from WIB Bones and the members of the United States' Congress have forced us to lose it. I have fought with my whole young during years; I admired our American comrade in arms, and I still admire SOG recon-team now." "I think that at the end, freedom and democracy will win the final victory..."
    So American just let all that the U.S forces fought for, everything that more than fifty-eight thousand Americans died for, all just float down the binjo ditch? Americans doing nothing but merely mention George H.W Bush tucked away in running a damn Chinese fire drill. The fighting- The frustration. The nearly three decades of conflict- Done- The more than ten years of American soldiers losing their limbs, hearts, and lives- Finished- At 10:30 A.M on Wednesday morning, April 30, 1975 – brought down the Vietnam War’s final curtain! “Skull and Bones will not find a safe haven here!”

    Spring 1975, at Washington national capital, a few cherry blossoms still lingered on the late-blooming trees that grew along the Potomac near the Jefferson Memorial. President Ford stood by one of the tall windows behind his desk in the Oval Office, looking toward the river of the now leaf covered cherry trees that, although they blossomed beautifully, never bore fruit. A gift from Japan, the Sakura, the nonbearing fruit tree, raised an ironic parallel in the President’s mind. How much like them was Vietnam now? For ten years America had cultivated the small nation, spilled its sons’ and daughters’ blood urging it to bloom. (They will bloomed in the scope of Skull and Bones for couple more decades ahead, be patiently, I guessed) But today, just as the trees that lined the Potomac by the Jefferson Memorial had done in recent weeks, the bloom dropped to the ground. Vietnam would never bear its costly fruit. “Who know…who tell the prophetically!”
    President Ford knocked the right door. A voice came from the curved door that disappeared into the Oval Office wall, “Sir”
    “Don [Donald] comes on in,” the President said to WSAG Chief of Staff Don Rumsfeld.
    “Update on the situation in Saigon,” Rumsfeld said, handing the President the two pages flash message.
    “It says that the South Vietnamese are trying to storm the gates at the embassy and at the DAO compound,” President Ford said. “I am afraid that this will only lead to big trouble. Order the Marines and remaining embassy staff to evacuate now. No more South Vietnamese evacuees. I want only Americans on these helicopters now.”
    Week ago, though Kissinger had sent an urgent message to Ambassador Martin, “We have just completed an interagency review on the state of play in South Vietnam. You should know that at the WSAG meeting today, there was almost no support for the evacuation of Vietnamese, and for the use of American force to help protect any evacuation. The sentiment of our military, DOD (Department Of Defense) and CIA colleagues was to get out fast and now.
    “One other thing Sir,” Bitterly Rumsfeld, a head of WSAG, complaint “Kissinger wants to see you about Ambassador Martin, [a Vietnamese-philanthropist] Apparently, Kissinger has gotten wind of a plan the ambassador is trying to hatch that gets him to the French embassy, where he can continue negotiations with the North Vietnamese.” How come Martin knew the secret negotiation between Le Duc Tho and Kissinger about ‘axiom I’, South Vietnam will be a good token gift to Hanoi for carried-out the ‘Strongman side stratagem’. “The more immediate origins of the Vietnam-War, namely the White House” But later I dare said “illustrate how completely the U.S presidents and their NSC staffs dominated the overall control and conduct of both the war and the closely interrelated negotiations to end the war.” While acknowledging that as a proper role for the President, who was after all the Commander in Chief, I observed that Henry Kissinger “became for all intents and purposes the de facto chairman of the JCS”. But in reality, Kissinger was just the George H W Bush’s tool, having the skill of a ‘Quarterback’ It was the ultimate team effort, but every member of the team had to have the grit of a ‘Linebacker’ as WSAG’ Donald Rumsfeld and the very brains of a coach George H W Bush.
    “Tell Henry,” President Ford began to say, “No, I will talk to Henry. Have him come on over.”
    “He has that State Department black tie dinner tonight,” Rumsfeld said.
    “I think that can wait until we get this done,” President Ford said.
    “History will appreciate the reasons for his tardiness, (at least the South Vietnamese) at that dinner.”
    “Yes, Sir,” the Chief of Staff said and walked toward the door
    “Don,” President Ford said, “When you send my evacuation order to Saigon, be sure that you specially address Ambassador Martin. I want him out of the embassy on the next helicopter. Is that clear?”
    The president directs that no more Vietnamese evacuees fly out on U.S helicopters, only Americans, very important, Ford specially directed that Ambassador Martin depart the embassy on the next helicopter out.
    Immediately, Jim Kean jogged down the stairs and found Ambassador Martin seated behind his desk. His aide-de-camp, Brunson McKinley, stood by the desk when the Marine stepped inside the ambassador’s suite.
    “Sir, I just received orders from President Ford, via General Carey, that all further evacuations of South Vietnamese cease and that’s all the remaining American now evacuate,” Kean said.
    Still Ambassador Martin didn’t know the War-Game of the Axis of Evil is over now.
    “I’m awaiting a response from the French ambassador,” Martin said in a tired voice.
    “We still might have a chance if I can get over there and go to work.”
    “Sir,” Kean said. “President Ford specially ordered you out on the next helicopter.”
    The gray man, whose face now looked drawn and haggard, stood and looked around his office.
    “Well, I guess that’s it then,” Martin said in a calm and low voice. Major Kean had already taken down the United States flag and had carried it in his hand, folded in a triangle, when he came to Ambassador Martin’s office. As the beaten diplomat stepped out of his spacious grand suite for the last time, Kean handed him the embassy’s national colors.
    As Graham Martin waited for his helicopter to set down on the roof and his signal to board, Brunson McKinly, jogged down to the courtyard to get an outdate of the situation down there for the ambassador before he departed.
    “Tiger, tiger, tiger,” Pilot called on his radio to the command vessel, USS Blue Ridge. “Tiger, tiger, tiger”
    “Go ahead, Tiger,” responded the voice on Pilot’s radio.
    “Tiger’s out of his cage,” Pilot said, signaling that he had the ambassador aboard.
    President Ford confessed. “It looks like we just quit and ran. Yet I did all that I could for them. However, it still remains very difficult for me to sit here as President of the United States and watch South Vietnam collapse.”

    At 10:24 A.M President Duong Van Minh issued a statement, broadcast to the North Vietnamese, offering the surrender of the Republic of Vietnam. The announcement seemed to represent the latch on the gate because in a matter of minute parades of victorious Viet Cong and North Vietnamese soldiers, walking, riding in trucks, and sitting on tanks T-55, T-57 and armored personnel carriers came streaming into Saigon from every direction.
    Seeing President Minh’s motorcade driving to the presidential Palace, a Australian motion picture news photographer, Al Dawson set up his camera on the front steps of Big Minh’ headquarters [presidential Palace] He had his camera rolling when the Soviet-build T-55 tank, with soldiers waving the PRG flag, crashed down the palace gates and rumbled up the wide walkway to the great building’s front steps. The Australian photojournalist stood, waved at the Communists, and kept his camera rolling.
    Meanwhile, not far from here, an observer from the roof of the United States Embassy – four stories and a helicopter platform above Saigon – He could see for several kilometers. This gloomy moment, his world looked a mess with wrecked cars, trashed streets, and broken windows. Just beyond the courtyard fence, the embassy’s once-beautiful Olympic swimming pool now floated with suitcases, clothing, guns, and chairs. During the night, with no facilities, the Vietnamese waiting to escape had even used the pool as o toilet.
    The Permanent Government would like Nguyen Cao Ky joining in the postwar on strategy track of Post-Vietnam “Road-Map”; Ky was a former Prime minister and Vice President, Republic of Vietnam. He held the rank of air vice marshal, commander of the South Vietnamese Air Force, and had flamboyantly played to be named president of South Vietnam when President Nguyen Van Thieu resigned. At one time, the CIA feared that Premier Ky was leading a coup to take over what remained of the South Vietnamese government when Tran Van Huong was named president on April 21, 1975, in accord with the South Vietnamese constitution, to succeed President Thieu. When former President Thieu departed South Vietnam, Ky labeled him a coward and said that anyone who would flee in the face of the enemy was also a coward. He want the people in Saigon must undergone a terrible pounding shelling by Hanoi artillery and after sixty days, like defense at Leningrad and the United Nation should be intervened; but it not like the WSAG strategy. Ky remained in Saigon until late afternoon, He may have a secret instruction to flee out of Saigon at once. Therefore on 29, when he flew his personal helicopter to the deck of the USS Blue Ridge. His observations and actions provided valuable insight into the political death those of South Vietnam during the final days. He will be the necessary tool for Skull and Bones Dynasty in the post Vietnam

    QUEENBEE-1

  6. #4
    vinhtruong's Avatar
    Status : vinhtruong v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Jun 2010
    Posts: 1,309
    Thanks: 606
    Thanked 2,647 Times in 952 Posts

    Default Cần được yên nghỉ ở một thế giới không còn hận thù

    Vài lời của Queenbee-1: “Bốn thập niên sau khi chiến tranh chấm dứt, đa số người dân có ý kiến về nó, nhưng có rất, rất ít người biết thực chất lịch sử của cuộc chiến này”
    Cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã qua đời rồi, Ông cũng cần được yên nghỉ ở một thế giới không còn hận thù, nhưng trong chốn dương gian, cuộc chiến về ông vẫn còn trên sách vở, trên báo chí cho nên bất cứ khi nào còn người, còn những tác giả làm công việc nói thay cho ông, chừng đó vẫn còn những cuộc tranh luận, vẫn còn thắc mắc như người ta vẫn thường thắc mắc mỗi lần có những tài liệu mật về cuộc chiến Việt Nam được giải mật Nhung nếu không ai chứng minh được đó là sự thật thì chắc chắn chúng không phải là sử liệu. Nó chỉ là sử liệu khi người ta nêu được nhân chứng khả tín hay phù hợp với những chứng liệu khác. Nhưng sự thật rất, rất it người biết rỏ được thực chất cuộc chiến ... vì hầu như người ta cứ lầm tưởng Kissinger và các vị tổng thống đương thời mới là chìa khoá của sự thất bại? Tôi quyết liệt không cho rằng là hoàn toàn không có sự hiểu biết đúng nghiã nhận thức của bản chất cuộc chiến, như vài tài liệu Wikileaks dưới đây có lẻ trọng điểm cốt lỏi của các tài liệu mật về cuộc chiến VN mà cái thế lực ghê-gớm trong bóng tối cần giấu nhẹm, nhưng tôi nhận thức phải được trình làng để cho trong lòng được thanh thản:
    (Tôi cho đây là cuộc thanh toán đẫm máu sau chính trường Mỹ)
    Lời tõ bày: Trong số tài liệu tối mật Wikileaks, tôi chọn ra vài chứng cớ dính líu vào cuộc chiến VN để soi-rọi làm sáng tỏ những vùng tối tăm của lịch sữ chiến tranh, qua các tài liệu cùng phối hợp chứng cớ với 2 tác phẫm “The New Legion” (dù viết đả lâu nhưng cũng cùng chung đáp số với Wikileaks vữa tiết lộ mới đây) mà người bình thường khó tin cậy được, hay nói toạt mống heo ra "Bốn thập niên sau khi chiến tranh chấm dứt, đa số người dân có ý kiến về nó, nhưng có rất, rất ít người biết thực chất lịch sử của cuộc chiến này" Vi chúng ta bị nhằm lấn giữa Mafia VN và ĐCSVN, nếu một ai có ít nhởn quan chính trị thử suy gẩm có chút xíu nào về Max-Lê dính-dấp trong xả hội hiện tại không? Hay nói trắng ra: khi nào nói về chính trị, thì chính phủ “hiện-hửu” (acting government) Mỹ gọi là ÐCSVN, nhưng còn nói về “Siêu chính phủ” (Permanent Government: News, October 26, 2004. Bush Slime Never Sleeps. News, December 21, 2004. Jack Newfield, 1938-2004. Blogs, June 24, 2009 … Apr 22, 2006 ... One of the things I admire most about Bush is his determination to bring the permanent government of non-elected officials [including the ... lightseekinglight.blogspot.com/.../taming-permanent-government.htm) là bọn Mafia VN, bồ-tèo (buddy) của PG. Dỉ nhiên cũng có vài người chưa hiểu nỗi … hiểu là chết liền .. . Nếu ai thấy bực mình “tức-khí” thì phải chịu khó tra cứu thêm những tài liệu có thật wikileaks dưới đây mới dễ dàng hiểu rõ thêm chút đình mà thôi nhe! Ðể đi đến kết luận, (chính phủ và P.G) bạn biết tìm ra được ai nắm chính sách Mỹ sẽ tìm ra ngay đáp số?
    Trên trục lộ-đồ Eurasian, tất cả tổng thống Mỹ đều tiếp nối làm tổng-quản-lý (general manager) TT nào bị “chủ-nhân-ông” đặt vào ống kính là chướng ngại vật đều phải bị “trục-bứng” ra khỏi trục-lộ nầy như: anh em Kennedy, (vì thề quyết tiêu diệt Skull and Bones qua lập lại 1942 Trading With The Enemy Act-1941, xem tài liệu dưới đây) TT Johnson, (không được quyền tái ứng cử kỳ-2 vì đeo đuổi chính sách y-chang người tiền nhiệm, có nghiã toa rập với Bộ trưởng Tư Pháp Robert Kennedy tiếp tục triệt tiêu Harriman và Bushes theo hiến luật TWEA) TT Nixon, (phải bị Watergate để hoá giải các bức thư riêng tư giữa Thiệu/Nixon, dù rằng theo hiến-luật Nixon có quyền ân xá cho chính mình, như TT Bush-Con đả làm trong khi vi phạm lừa dối người dân và Quốc Hội về vũ khí …) TT Reagan, (ra lệnh cấm bán lúa mì cho Liên Xô, bồ-tèo partner làm ăn của Permanent Government về Aid to Russia 1941-1946 Plan, vì sẽ renewed và reactivated, như mới đây VN có nhận tàu ngầm và máy bay tối tân của Nga Xô trong khi Mỹ không làm gi được vì kẹt lịnh cấm bán vũ khí sát thương cho VN vấn còn có hiệu lực, nhưng Mỹ sẽ cung cấp vũ khí cho VN sau để thay thế các vũ khí của LX như Mỹ phải ‘Kà’ Credit Card trước, lập lại 700 triệu tấn mà Mỹ đả gián-tiếp giúp ngay sau khi hiệp định hoà bình Paris 1973)

    Tài liệu internet: Under the World War I era “Trading With the Enemy Act”. However ... rates established by the infamous Smoot-Hawley Tariff Act of 1930 ... The Trading with the Enemy Act 'any person not an enemy or ally of enemy' who claims an interest in vested property and fails torecover it by...

    - (A) GIAI ÐOẠN BỊ CHÍNH QUYỀN HIỆN HỬU ÁP DỤNG HIẾN QUYỀN TWEA
    Permanent Government 1942 (Skull and Bones) bị tịch thu, Tập đoàn WIB [War Industries Board] bị Confiscation all dates back to the Trading with the Enemy Act of 1917. That year, President Woodrow Wilson signed the “TWEA” into law ...http://www.silvermonthly.com/.../gov...recould-happen "Under the Trading with the Enemy Act, the government took over the Union Banking Corporation, in which Bush was a director. The U.S. Alien Property ... President Franklin Delano Roosevelt signed the Trading With the Enemy Act after it had been made public that U.S. companies were doing business with the ...http://www.lycos.com/.../franklin-de...roosevelt.html
    - By 9 (a) of the Trading with the Enemy Act 'any person not an enemy or ally of enemy' who claims an interest in vested property and fails torecover it by ... ... 1942, an embargo was imposed on the Silesian-American Corporation - another firm headed by Bush and Walker - under the same Trading with the Enemy Act. ... Prescott Bush was a director of the Union Banking Corporation, which the U.S. government took over in 1942 under the Trading with the Enemy Act. The U.S… His business dealings, which continued until his company's assets were seized in 1942 under the Trading with the Enemy Act, has led more than 60 years later ... The seizure order, issued under the Trading with the Enemy Act, described Silesian-American as a “US holding company with German and Polish subsidiaries” ...more on Bush family, Doing business with the enemy is nothing new to the Bush family... seized by the US government during World War II under the Trading with the Enemy Act. ...www.rense.com/general14/bushsformer.htm

    - (B) GIAI ÐOẠN PERMANENT GOVERNMENT DÙNG LUẬT RỪNG
    Harriman & Bushes cương quyết: “Ði với Bụt mặc áo cà xa đi với ma mặc áo giấy” đó là lý do, sáng lập viên W A Harriman (1891-1986) đặt cho cái tên là Skull and Bones 1920 có lúc phải sử dụng luật rừng ở Mỹ hay Cow Boy Texas hối Tấy tiến WWW
    Bởi vì Trading With The Enemy Act of 1917 was used by President Kennedy in 1962 to ban virtually all trade and commerce with the Castro regime and also focusing on Bushes. ... 02.03.61 The U.S. government announced it was considering, in the case of Cuba , the enforcement of the Trading with the Enemy Act
    http://www.certifiedcubanclaims.org/...rade_enemy.htm
    www.hermes-press.com/germany1930.htm -
    http://www.rense.com/general40/bushf...ndedhitler.htm -
    openjurist.org/.../bank-voor-handel-en-scheepvaart-nv-v-f-kennedy-nv-hollandsch-amerikaansche-beleggings-maatschappij
    -(1) Vietnam: Trading With The Enemy or investing in the future, by FG Connor - 1994 - Cited by 7 - Related articles (nhờ Kennedy bị ám sát, ngày nay Mafia VN có tàu ngầm, máy bay chiến đấu tối tân do Nga Xô viện trợ chớ Mafia VN bỏ tiền vô túi còn chưa đủ nói chi mua vũ khí? Có 2 batches vũ khí quan trọng, trước Eagle Pull Operation 1975, Mafia VN nhận 700 triệu tấn vũ khí tối tân với 3 mục tiêu (1) chiếm miền nam, (2) chiếm Cambodia, (3) hệ thống phòng không tối-tân phòng thủ Hà Nội 1979, trong khi chờ đợi Quốc hội cắt bỏ lịnh bán vũ khí sát thương cho VN - Roll-Back 2010, tạm thời nhận phi cơ tàu ngầm Nga Xô trước đả)
    -(2) At that time, federal regulations
    -(3) promulgated under the authority of the Trading With the Enemy Act (TWEA)
    -(4) prohibited virtually all economic ...

    TT Kennedy thi hành đúng hiến pháp, hậu quả phi công anh hùng thời chiến, George H W Bush (Bush-Cha) dùng luật Cow Boy Texas, phải ta tay thanh toán JFKennedy killed just days after shutting down Rothschild’s Fed Reserve Apr 19, 2011 ... AFTER 1913 ~ The Glass Steagall Act Enacted By FDR blocked all attempts by ... Well They Turned Another Enemy To Rothschild/Hollywood Media Into A ... Operatives Who's Job Is To Orchestrate Insider Trading Mechanisms ...
    politicalvelcraft.org/.../jfk-killed-just-days-after-shutting-down-rothschilds-fed-reserve-in-1963-secret-memo-shows-president-signed-executive-orders...

    Thế là Skull and Bones cứ phon phon go ahead Oct 3, 2001 ... One of their businesses that violated the TRADING WITH THE ENEMY ACT became what the Halliburton, company which Dick Cheney ran until he ...
    http://www.georgewalkerbush.net/bush...fundedhitler.h

    Sau 50 làm lể kỹ niệm cuộc chiến VN như đả ấn định 2023 (y chang 50 kỹ niệm cuộc chiến Triều Tiên 2003 (xem LOGO trang 41/Volume-1) Năm nầy 2023, (những ai dính dấp vào cuộc chiến đều đả nằm yên, không thể trồi lên mà lội ngược dòng lịch sử) chính phủ Hoa Kỳ hiện hửu dĩ nhiên căn cứ theo chính sách của Permanent Government mà TNS cựu tù POW Mc Cain đả bị Hà Nội đánh đập tra tấn tàn nhẩn đến nổi 2 lần tự sát mà không thành, nhưng vì phải trả lại tính trung thực cho lịch sử, nói rỏ mục tiêu chiến lược toàn cầu của quốc gia bằng Patriot Act (The USA PATRIOT Act (commonly known as the "Patriot Act" is an Act of the U.S. Congress that was signed into law by President George W. Bush on October 26 …) muốn thẳng thừng tuyên bố: P.G dù đem chiến tranh hay thậm chí còn thanh-toán các lảnh-tụ trong cũng như ngoài nước không nhằm mục tiêu chủ trương cũng-cố nước Mỹ phãi là một siêu cường số một bỏ xa các nước khác! nên Mc Cain buộc phải thú thật trước dư luận thế giới ngay tại kinh-đô ánh sáng Paris, chứng minh Cụ HCM là người QUỐC GIA không phải CS trong ống kính P.G và qua định-kiến-1 trước khi khoấy động lại cuộc chiến tranh lần thứ hai, NSC/21/9/1960, với axiom-1: There was never a legitimate non-communist government in Saigon, có nghĩa PG có trách nhiệm sẽ tìm cách bức tử nó sớm hay muộn theo như lộ trình đả quyết định trong phóng đồ PRAISE system về thế chiến lược toàn cầu Eurasian

    Thế là Cụ Hồ bị Mỹ phỉnh gạc, và phản bội qua 8 bức-thư thĩnh cầu được TT Truman bảo trợ như Phi Luật Tân, nhưng bị P.G quăng vào xọt rác, P.G cách ly cụ ra khỏi cơ quan quyền lực bằng triều đại Mafia Lê Ðức Thọ: (sau một thời gian theo nguyên tắc, CIA buộc phải tiết lộ tài liệu mật về sự phĩnh gạc nầy) Sơ khởi sớm nhứt 2005, The Newsweek “Paris Match” on April 25, 2005 interviewed U.S. POW Senate John McCain, repeated Axiom-I, stance of U.S Permanent Government, was explained the Vietnam-War in universities 1960s: “Les Sud Vietnamiens n’ont jamais cruque le gouvernement en place à Saigon était legitime. Ils savaient que Hồ Chí Minh était un nationaliste qui rechercherait l’unification du pays. En Irak, les elections ont prouvé que les Irakiens croient que leur government est légitime…” Once McCain came back at Hoả-Lò, Hilton Prison, he said “The bad guys won the war!”

    Cuộc chiến VN lần thứ hai đả có đáp số qua ba định-kiến dưới đây của HÐANQG [National Securuty Council] 21/9/1960, thời TT Eisenhower trong ba đáp số trên có một ấn bản một loại huy-chương dành cho các chiến binh Mỹ sẽ qua VN tập trận thiệt là: “VN chiến dịch Bội-Tinh”
    “Kẻ chết đã yên rồi một kiếp, người sống còn tái tiếp noi gương” TT Nguyễn văn Thiệu đã trải qua biết bao nhiêu là nỗi buổn nhược tiểu nỗi nhục da vàng khi lệ thuộc kinh tế chánh trị với một siêu cường Mỹ… Bài học lịch sử này nhắc lại không phải để giận hờn, trách cứ tổng thống Mỹ này hay tổng thống Mỹ nọ, hay để than thân trách phận nhược tiểu. Mà để người Mỹ gốc Việt trẻ cùng với nhân dân Mỹ tìm cách ngăn cản chánh quyền Mỹ không để một lổ hổng Kissinger nữa, dĩ nhiên không phải dễ đâu! Và những nhân vật đang cầm quyền trong nước nếu còn một chút điểm lương tâm VN, sẽ rút được kinh nghiện ích nước lợi dân trong cuộc chiến ngu xuẩn giữa hai miền Nam Bắc, cảnh nồi da xáo thịt quyết thề không đội trời chung, chém giết nhau đến chổ tận tuyệt và cứ tử thù mãi cho đến bao giờ?

    Nhìn sâu vào trong vấn đề bang giao và giao thương với Mỹ, hiện tượng Kissinger (phenomenon Kissinger) – chữ phenomenon, hiểu theo nghĩa một thứ kinh-dị, nhưng đóng một vai trò quan trọng cho sư sụp dổ VNCH… Tại sao một chánh quyền qui mô như Mỹ lại chi có một người như Kissinger lộng quyền sắp sếp mọi việc? đó mới là hành động tinh vi của Permanent Government, đem đến chỉ một lổ hỏng nhưng kín-mít trong thòi kỳ chiến tranh như Chiến tranh VN. Cái lổ hỏng kín mít đó, tôi cho là hiện tượng Kissinger (phenomenon Kissinger) Kinh dị như đóng một vai trò quan trọng cho sư sụp dổ VNCH. Tôi liên tưởng đến những câu hết sức quen thuộc của TT Thiệu “làm kẻ thù Mỹ thì dễ làm bạn với Mỹ thì khó” gọi là “sự phản bội”, ông ấy bảo là 4 đời tổng thống Hoa Kỳ đã khuyến dụ nhân dân miền Nam đi vào cái khối của thế giới tự do, rồi cuối cùng tháo lui bỏ chạy, chính TT Thiệu cũng chưa hiểu ai nắm chính sách Mỹ? Và đặc biệt là có những cái cam kết rất là vững chắc, thân tín rồi cuối cùng cũng lờ đi, ý TT Thiệu muốn ám chỉ TT Nixon? (TT Thiệu lại trật một lần nửa, hảy xem lại tài liệu Wikileaks) “Người Mỹ đã phản bội chúng tôi chỉ một câu trả lời chung chung của TT Kennedy với người dẫn chương trình TV Cronkite – là người đăt ra danh từ anchor để chỉ người dần chương trình truyền hình -, rằng TT Kennedy sẽ xét lại vấn đề viện trợ và nhân sự ở Miển Nam, thế là nhìều người lợi dụng câu nói đó, dàn dựng ra cuộc đảo chánh TT Ngô đình Diệm để đổ tội cho Kennedy, một thế lực ném đá giấu tay một cách vô cùng khoa học.
    TT Nixon bị “áp lực của Permanent Government” đành phải có hành động cạn táu ráo mán hơn với TT Thiệu khi ép buộc ký Hiệp định Paris, nếu TT Thiệu chần chờ, là cắt viện trợ, cắt quan hệ. Và bằng cách này hay cách khác biến TT Thiệu thành diểu hâu làm con mổi rơi đúng vào Phong Tráo Phản Chiến Mỹ đang nhúm lữa để nướn nó. Từ vấn đề tái phối trí, rút quân ở Ban mê thuột, Pleiku, từ chức của TT Thiệu, TT Thiệu đi ra khỏi nước tất tất đều có áp lực của Mỹ, nhưng có vài người không chịu hiểu, nói TT Thiệu bỏ chạy đào ngủ? Và trong cuộc ra mắt sách, Ts Hưng nói TT Thiệu có dự trù kế hoạch rút quân về Miền Tây, Hải quân VNCH mạnh hơn Bắc Việt. Có nhờ các nước như Pháp giúp nhưng đều bị kỳ đà Mỹ cản mũi, làm sao PG để cho kế hoặch chiến lược Eurasian bị bể, vì TT Thiệu P.G qua Kissinger muốn lãnh đạo quốc gia VN là những kẻ sai bảo của Mỹ, thực đau lòng vì VN là nước nhược tiểu bị các nước lớn sách nhiểu từ tổng thống, đến quốc hội, đến nhân dân bắng cách này hay cách khác không để ai sai bảo Kissinger. Thế nên TT Ngô đình Diệm thà chịu chết, TT Thiệu thà chịu tiêu sinh mạng chánh trị, chớ không đánh đổi chủ quyền quốc gia và độc lập dân tộc cho Mỹ.
    Theo tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, ông Thiệu đã ra lệnh cho bộ Tổng Tham Mưu theo dõi và giám sát. Ðáng lẽ tướng Cao Văn Viên phải gọi cho tướng Phạm Văn Phú để bàn bạc chương trình rút, thế mà “không hiểu vì sao tối hôm ấy tướng Phạm Văn Phú đã rút chạy.” (Vì tướng Phú cả tin vào người bạn Mỹ đại tá Jame Vaught LS/719 và lần nầy đường 7 Cheo Reo, nhưng tướng Vaught không giúp được gì, vì Mỹ hứa Lèo không cung cấp cầu nổi như LS/719, bị người bạn Mỷ phỉnh gạt, tướng Phú bèn dùng độc dược như Phan Thanh Giản) Tác giả “Tâm tư Tổng Thống Thiệu” cho biết ông có hỏi Tổng Thống Thiệu rằng tại sao tổng thống không tuyên bố hay giải thích gì về điều này, thì Tổng Thống Thiệu nói: “Tôi nói ra thì người ta bảo mình chạy tội, tôi hy vọng một ngày nào đó một trong những quý vị họp với tôi ngày hôm đó có đủ can đảm đứng lên nói hết sự thật.” Ðây cũng như trường hợp TT Dương Văn Minh rồi lịch sữ sẽ giãi bày tại sao phải đầu hàng?
    Tướng Trưởng là người chịu trách nhiệm về kế hoạch rút Quân Ðoàn I và tướng Phạm Văn Phú là người chịu trách nhiệm về việc rút Quân Ðoàn II sau cuộc họp ở Cam Ranh. Nhưng đâu phải cứ làm tướng muốn rút là rút. Phải có lệnh của thượng cấp. Thượng cấp ấy là Tổng Thống Thiệu, Tổng Tư Lệnh Quân Ðội. (Phần Anh ngử tôi đả có trình làng ở bài trên) Trong “Tâm tư Tổng Thống Thiệu,” tác giả Nguyễn Tiến Hưng cho thấy vấn đề phải bỏ đất nước rất phức tạp và ông Thiệu phải chọn lọc nhiều ý kiến khác nhau. Nhưng cuối cùng cuộc rút quân tại Quân Ðoàn I cũng như Quân Ðoàn II đã trở thành một thảm họa. Lỗi tại ai? CIA đã sáng tạo một kế hoặch rã ngũ QLVNCH một cách thần sầu quỷ khốc như cái sườn sắt lâu đài, chỉ cần tháo gở những con chốt chính của khung phòng là đủ làm cho nó sập hoàn toàn. Trong một momerandum CIA: “Sẽ có một cuộc chạy tán loạn của quân dân miền nam và CS sẽ trả thù” như vậy thì tại sao chúng ta lại thù hận nhau cho thêm đau lòng?
    Cuộc chiến đã kết thúc hơn 35 năm qua, tất cả những bí mật của việc rút lui Vùng I và Vùng II Chiến Thuật là điều đã được bàn cãi rất nhiều với đủ thứ tài liệu phần lớn là nằm trong khối tài liệu mật đã hết mật của Mỹ. Trong khi người phải chịu trách nhiệm cho việc này là Tổng Thống Thiệu thì ông lại không chịu chính thức nói ra mà lại chỉ nói riêng với tác giả Nguyễn Tiến Hưng. Ðiều dễ hiểu ai cũng biết không ai có thể che dấu mãi với lịch sữ như trên nguyên tắc CIA phải giải mật sau một thời gian ấn định nào đó. Mà làm bộ không biết là Permanent Government qua CIA điều hành, chỉ tội cho những người ở lại; Họ đã hy sinh cả tuổi thanh xuân trong chiến trận, rồi trong những năm dài tù đầy, ra khỏi trại tù thì lại phải sống trong cái nhà tù lớn Việt Nam và khi được lòng nhân đạo của người Mỹ ngó ngàng tới đưa sang được đất nước tự do này thì tóc đã bạc trắng, da đã đồi mồi. Cái may mắn còn lại của họ là giờ đây họ còn cơ hội đọc lại, suy gẫm lại những gì được phơi ra trước ánh sáng ban ngày: Xấu, tốt, ngay thẳng, khuất lấp, chính, tà rất phân minh. Nhất là, sau cả một giai đoạn dài sống và chiến đấu trong chiến tranh, thăng trầm, qua nhiều biến cố chính trị, quân sự, người miền Nam Việt Nam ở hải ngoại cũng như ở trong nước không dễ gì để cho bị,
    Vì thế, đừng có ai hy vọng gì khi đổ tội một cách bất công cho người phu đổ rác mà nên đổ tội cho những ai xả rác trong căn nhà Việt Nam. Tướng Dương Văn Minh chỉ là một người phu đổ rác và theo tôi ông là một tổng thống đầu hàng, nhưng không phải là người dâng miền Nam cho Cộng Sản. Dù là ông Minh hay bất cứ một ông nào khác tiếp nhận cái gia tài “khánh tận” do ông Thiệu để lại, cũng sẽ phải hành động như ông Minh mà thôi, đó là sự sắp xếp khá tinh vi của CIA vể axiom-1, nghĩa là với mục đích tránh đổ thêm máu một cách vô ích. Tổng Thống Dương Văn Minh, nhà lãnh đạo cuối cùng của VNCH, đã bị Cộng Sản quản thúc một thời gian sau khi đầu hàng. Sau đó ông bị tống xuất sang Pháp rồi từ Pháp ông xin sang tái định cư tại Pasadena. Ông giữ im lặng cho đến khi nhắm mắt và được chôn cất tại đây; Như vậy, điều quan trọng nhất trong biến cố 30 tháng 4, 1975 là không ai dâng miền Nam cho Cộng Sản mà là VNCH “buộc phải” thua trận vì đáp số AXIOM-1.
    Ðầu hàng là một biện pháp mà tổng thống cuối cùng của VNCH dùng để giải quyết cuộc chiến vì không thể nào khác hơn được và do muốn tránh đổ máu vào giờ thứ 25 khi những người lẽ ra phải gánh trách nhiệm đã bỏ đi. Ðiều quan trọng là cho tới phút cuối cùng, VNCH vẫn duy trì trật tự và không hỗn loạn
    Ðiều thắc mắc cuối cùng của tôi là cái kho tài liệu mật không còn mật nữa về chiến tranh Việt Nam còn nhiều, và càng đọc người ta lại càng thấy một số chính quyền và chính khách Hoa Kỳ rất tàn độc đối với đồng minh và thật tử tế với kẻ thù; Nhưng tôi nghĩ có lẽ công bằng hơn thì chúng ta cũng tự trách mình trước đã; Chúng ta thấy chính quyền VNCH từ Ngô Ðình Diệm cho tới Nguyễn Văn Thiệu, có chính quyền nào mà không do Mỹ dựng lên. Ðó là điểm yếu mà trong ngành tuyên truyền của VNCH, rất khó đối phó khi kẻ địch nêu lên vấn đề này; Vì là có chính nghiã của miền nam đả bị rách tã-tơi khi hơn nữa triệu quân Mỹ tự tung tự tác khắp nơi tại Miền Nam VN mà không ai dám đứng ra mời đón. Khi thật sự không có chủ quyền thì ăn nói làm sao với phía bên đối lập và quốc tế?
    Kissinger và L Ð Thọ đều là con rối
    Thọ cũng láo-cá thừa hiểu Kissinger chĩ là một công cụ của P.G không hơn không kém, nhưng người dân miền nam lại cứ lầm tưởng Kissinger là ông Vua muốn làm gì thì làm, như cái gì mới tuyên bố “hoà bình trong tầm tay” “Peace is at hand” rồi tháng sau oanh tạc 11 ngày đêm nói là Thọ vi phạm, Vi phạm gì không nguyên cớ? Rỏ ràng chỉ là con rối bị giựt dây bởi tham mưu trưởng Donald Rumsfeld sau hậu trường chính trị cho chừa cái tật exciting quá sớm khi hay tin Rumsfeld sẽ thưởng cho giãi hoà bình Nobel vì có công chấm dứt cuộc chiến VN.
    Trước khi giao miền nam cho Thọ bằng lời vàng thước ngọc của thủ- lảnh Skull and Bones W A Harriman nói gì thì Thọ cũng vâng vâng dạ dạ, nhưng với Kissinger vừa nói nhỏ gởi gấm: “Nếu sau nầy có cưỡng chiếm miền nam đừng có bắt bỏ tù bồ-tào của tôi là ông Nguyễn Xuân Phong, thành-viên trong phái đoàn hoà đàm của VNCH đi tù nhé!” Nhưng Thọ có nghe đâu vẩn bắt Phong đi tù như thường, nhưng vài năm thôi rồi thả về sớm nhứt; Còn như bác sĩ Nguyễn Ðan Quế trong danh sách mà đích thân PG bàn giao có nhấn mạnh những người dưới đây không được đụng đến, trong đó có tên bác sĩ Nguyễn Ðan Quế. (Dĩ nhiên nếu BS Quế lộ liểu nỗi loạn thì Thọ seẽ nhốt ngay lập tức) Còn như BS Quế muốn đi Mỹ dạng ODP thì sẽ được giúp đở ngay, rồi kế tiếp là dạng HO, nhưng BS Quế lại muốn như BS Mandela ở Phi châu nên mới kẹt.
    Theo như Kissinger đả hứa khi nhận chĩ thị của CIA, Vì sự thật tái lập bang giao với Mỹ như là một cái phao cứu cánh cho nên 1985 Mỹ cho ra cái cớ “MIA và chất độc màu da cam” để làm đầu mối cho sự thiết lập bang giao 20 năm thù địch (1975-1995 chiến lược Eurasian) lập lại y chang với Trung Quốc cũng sau 20 năm thù địch, sau cùng hai nước tư-bảnđỏ nầy sẽ mua Boeing để làm món quà giao tế với Mỹ.

    Đúng 12 giờ trưa ngày 30/4/1975, trên nền trời Sàigòn những chiếc F chiến đấu cơ của Hoa kỳ đã bàn giao không phận cho các chiếc Mig-21 chiến đấu của BV bao vùng không phận Sàigòn; Trong khi đó tại phi trường Bạch Mai, một chiếc C.130 Hercule sơn màu xám tro đậm, không số, không vẽ quốc kỳ của nước nào, từ phía Tây Nam bay đến, có lẽ từ Thái Lan bay sang. Chiếc máy bay 4 máy C-130-Hercule, bán phản lực gián-điệp nầy lù lù từ từ đáp xuống phi trường; Từ một tòa nhà cũ kỹ, một sỉ-quan quân đội BV đi vội ra gặp một sĩ-quan CIA Hoa-kỳ, người Mỹ nầy lịch sự giơ tay chào người sỉ-quan BV, còn tay kia đưa trao phong thư niêm kín. Hai người Việt Mỹ nầy không bắt tay nhau. Viên sĩ-quan BV nầy nhận phong thư, chắc chắn là tối mật, rồi quay đi…đi rất nhanh vì có cấp trên đang nóng lòng chờ đợi, để lấy phong thư đó đem về cho Bộ Chính Trị TUĐ, có nghĩa là triều-đại Lê Đức Thọ. Và dĩ nhiên các ông lớn trong guồng máy chính trị đang chờ xem những gì trong đó. Ai mà biết tài liệu trong thư ấy nói gì. Nhưng chắc chắn là của Thế lực Đen mà Kissinger là kẻ thay mặt họ để bàn giao Miền Nam cho Cộng Sản BV; Một thời gian sau, người ta mới hiểu được, tất cả nhân viên làm sở Mỹ còn bị kẹt lại trong danh sách USIS, không kịp di tản đều được bảo đảm an toàn, không phải trình diện đi học tập cải tạo, không bị công an nỗi-chìm làm khó dễ. Và dĩ nhiên, những người trong danh sách nầy sẽ được đi Mỹ theo diện ODP, trong đó phải kể đến những viên chức cao cấp của VNCH như các dân biểu giờ chót nghe lời CIA bỏ phiếu cho Dương Văn Minh vào ngày 27/4/1975 sẽ được thả để được định cư qua Hoa Kỳ.theo dạng ODP [Dương Văn Minh trong ống kính của CIA là người được chỉ định để xóa bỏ cả hai nền Ðệ-1 và 2 Cộng Hoà] Tuy nhiên cũng có những sự kiện, mà truyền thông Mỹ đã phá những viên chức miền Nam tham nhũng chạy lọt qua Mỹ (sự kiện tham nhũng thì cũng chính Mỹ tạo ra để thao túng Miền Nam, chớ thời TT Diệm làm gì có, biến cố nầy sẽ lập lại vào một ngày gần đây khi bên VN có đảo chánh êm dịu không tiếng súng).
    Rồi thì Thị-trưỡng Los-Angeles tuyên bố rằng: Nước Mỹ và nhân dân Mỹ không muốn nhận những người đồng minh hèn hạ, tham nhũng buôn lậu ma túy. (Rồi đây, NVHN sẽ có thái độ với CBCS tham nhủng khi chạy qua Mỹ) Đài VOA loan tin một ngân hàng ở Mỹ phải đóng cửa để đếm tiền của ông Trang Sĩ Tấn. Còn đài VOA và BBC cũng loan tin có nhiều Tướng lãnh không được Mỹ nhận cho cư trú vì là kẻ đã buôn lậu ma túy, nhưng trừ Tướng Nguyễn Cao Kỳ vì là con bài sáng giá cho chiến lược phần mềm “hậu Việt Nam”
    Dù rằng Thọ biết bác sĩ Quế là nhà hoạt động đấu tranh cho dân chủ, nhưng phải đợi BS Quế hoạt động mới được túm cổ, dĩ nhiên BS Quế bị bắt năm 1978 vì chỉ trích chinh quyền CS về nhân quyền, dù bất bạo động, ông được nhiều giãi thưởng quốc tế như: the Raoul Wallenberg Award, the RFK Human Rights Award, and the Hellman-Hammett Grant from Human Rights Watch Nomination of Dr. Nguyen Dan Que of Vietnam for the Nobel Peace Prize. January 30, 2009 - 1995 RFK Human Rights Award Recipient, Doctor Nguyen Dan Que, founded the Nonviolent Movement for Human Rights and has dedicated his life to promoting...
    Chứng cớ chống lại chính quyền hiện hữu mà VN muốn Mỹ phải biết: Dr. Nguyen Dan Que is one of Vietnam’s most renowned democracy activists. He was arrested on March 17, 2003, and freed on February 1, 2005.
    Dr. Que’s history of democracy advocacy goes back many decades. He was first detained in 1978 after criticizing Vietnam’s political system. After he was released, Dr. Que founded the High Tide Humanist movement, a non-violent struggle to ensure human rights for all Vietnamese people. He urged the Vietnamese government to reduce the size of its military and instead invest in the welfare of its people. Dr. Que was detained again in June 1990 and never received a trial. He was released from prison in September 1998, but remained under virtual house arrest, under constant government surveillance and with restrictions on his movements and on any use of communication.
    Dr. Que is the recipient of numerous awards for his lifelong commitment to human rights including the Raoul Wallenberg Award, the RFK Human Rights Award, and the Hellman-Hammett Grant from Human Rights Watch.
    Dr. Que was arrested on March 17, 2003, four days after sending a statement to his brother, Dr. Quan Nguyen, from an Internet cafe. The statement criticized the Vietnamese government’s claim to guarantee freedom of information, highlighting the lack of independent media in the country. It also endorsed proposed U.S. legislation that would fund ways to overcome broadcast and Internet jamming by the Vietnamese government.
    On July 29, 2004, the Government of Vietnam—in a closed trial and without providing him with access to counsel—sentenced Dr. Que to 30 months in prison for “abusing democratic rights to jeopardize the interests of the state.”
    On January 31, 2005, the Government of Vietnam announced that it would release Dr. Que from prison. Dr. Que was released on February 1, 2005

    QUEENBEE-1.

  7. #5
    vinhtruong's Avatar
    Status : vinhtruong v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Jun 2010
    Posts: 1,309
    Thanks: 606
    Thanked 2,647 Times in 952 Posts

    Default Ðể đúc kết từ 2 bài Việt Anh

    Mỹ rất cưng quí công cụ kinh tài thầm kín là Mafia VN, theo chỉ thị của Siêu chính phủ Mỹ (Permanent Government) triều đại toàn trị Mafia cứ thả cửa ăn cướp vơ vét của cải của người dân kề cả bòn rút tiền viện-trợ của các nước xây dựng hạ tầng cơ-sở VN như Nhật, Úc, Ðại-hàn, THQG …luôn cả tiền NVHG gởi về hàng năm 7, 8 tĩ và kể cả chuyển số tiền đầu tư khổng lồ về VN làm ăn … Mafia VN recycling thành Ðô la Xanh bỏ vào cái ống “lồng-binh” cho đến ngày nào toàn dân VN bị chết đói, lúc đó Mỹ mởi chịu đập cái “lồng binh” nầy ra đếm bạc, trong khi người Mỹ gốc Cuba không được đặc-ân nầy, thì NVHN, chúng ta nghĩ sao?
    Dĩ nhiên, chốp-bu phía Mafia VN phải complain: Tại sao chúng tôi góp nhặt dollar cho mấy ông mà không biết mang ơn? Trái lại phân biệt đối xử … TT Diệm được đón tiếp đúng nghi lễ mà còn được đọc diển văn trước Quốc Hội, còn như TT Thiệu thì tệ hơn một chút, nhưng cũng tiếp đón tại Toà Bạch Ốc miền tây (San Clementi) còn chúng tôi phải đi vào hậu-môn? Các ông thừa khả năng rào xa vài trăm thước xa cổng chính thì chúng tôi cũng đường hoàng vào cửa chính như ai … được chớ?
    P.G ôn tồn trả lời: “Làm sao mà cường quốc Mỹ lại đón bọn thảo khấu như các ông vào trước công đình? Sau khi chúng tôi đập bể “lồng binh” đếm dollar, rồi chúng tôi sẽ trãi thãm đỏ đón các người tử-tế với đầy đủ phong cách đạo-đức … mấy ông đừng lo … việc ấy gần tới thời điểm decent interval rồi!!! À thêm một chuyện nữa, cảnh cáo các ông đừng chơi cái mửng “rửa-tiền” tậu xe đắt tiền, phun phí dám ăn tô phở $ 35.00 dollar, bao gái vợ nhỏ vợ muộn nghe chưa, thôi … không được hoang phí phải bỏ vào “lồng binh” tất cả những gì vơ-vét được nghe chưa mới có được bảo đảm đoàn tụ gia đình khi có đảo chánh … Okay!!!”

    Tất cả trên đây đã chứng minh lời chúc tụng sinh nhựt thứ 90 của ông William Averell Harriman (1891-1986) qua người em út cuối cùng của giòng họ Edward Kennedy: “Nhờ ngài mà nhân dân Mỹ và thế giới được cuộc sống an toàn trong thế kĩ 21” [The New World] Thế kỉ 20 bạo hành, thế kỉ 21 không bán vũ khí để kiếm tiền nữa mà lo vụ nhân quyền dân chủ để chộp tiền của các thủ lảnh độc tài để trả lại cho người dân bằng hàng tiêu dùng xắp “expired”

    QUENBEE-1

  8. #6
    Moderator
    TAM73F's Avatar
    Status : TAM73F v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Apr 2009
    Posts: 1,944
    Thanks: 925
    Thanked 1,859 Times in 842 Posts
    Blog Entries: 2

    Default

    Đám tang cố TT Nguyễn Văn Thiệu tại Boston, Massachusetts‏- USA

    TT Thiệu mất đã lâu, bây giờ mới thấy phổ biến video.


  9. Xin cám ơn TAM73F

    DnThuy (09-29-2012)

Trang 1/2 12 cuốicuối

Similar Threads

  1. Tưởng Nhớ Nguyễn Hưng Quôc
    By SCut in forum Anh Hùng Tử Sĩ
    Trả lời: 1
    Bài mới nhất : 08-02-2010, 01:38 AM
  2. Trả lời: 0
    Bài mới nhất : 02-28-2010, 07:47 AM
  3. Trả lời: 0
    Bài mới nhất : 02-24-2010, 09:07 PM
  4. Tổng Thống Thiệu Đã Thoát Chết Như Thế Nào?
    By dnchau in forum Sưu Tầm, Biên Khảo
    Trả lời: 0
    Bài mới nhất : 10-06-2009, 04:11 AM
  5. Tưởng nhớ Nguyễn Hưng Quốc
    By chimtroi in forum Liên Khóa SVSQKQ
    Trả lời: 2
    Bài mới nhất : 06-19-2008, 11:58 AM

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
Hội Quán Phi Dũng created by Liên Khóa 72 - 73 SVSQKQ / QLVNCH

Hit Counters
Hit Counters