Trang 1/4 123 ... cuốicuối
kết quả từ 1 tới 6 trên 19

Tựa Đề: Không Gian Hằn Nỗi Nhớ

  1. #1
    Administrator
    hung45qs's Avatar
    Status : hung45qs v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Jul 2009
    Nguyên quán: Los Angeles, California
    Posts: 1,033
    Thanks: 933
    Thanked 2,389 Times in 553 Posts
    Blog Entries: 3

    Default Không Gian Hằn Nỗi Nhớ

    HQPD xin hân hạnh giới thiệu một quyển sách nhắc về những kỷ niệm trong cuộc đời quân ngũ do anh em SVSQ khoá 72A ghi chép lại với ước mong sẽ được để lại một chút gì để nhớ.

    Xin chân thành cảm tạ Niên Trưởng Nguyễn Hoàng Tân 72A đã vui vẻ cung cấp tài liệu với lời khích động chân thành.


    hung45qs

  2. The Following 3 Users Say Thank You to hung45qs For This Useful Post:


  3. #2
    Nguyen Hoang Tan's Avatar
    Status : Nguyen Hoang Tan v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Sep 2009
    Posts: 88
    Thanks: 3
    Thanked 97 Times in 28 Posts
    Blog Entries: 4

    Default Không Gian Hằn Nổi Nhớ

    Trích Nguyên văn bởi hung45qs View Post
    HQPD xin hân hạnh giới thiệu một quyển sách nhắc về những kỷ niệm trong cuộc đời quân ngũ do anh em SVSQ khoá 72A ghi chép lại với ước mong được để lại một chút gì để nhớ. Xin chân thành cảm tạ Niên Trưởng Nguyễn Hoàng Tân 72A đã vui vẻ cung cấp tài liệu với lời khích động chân thành.

    hung45qs


    Tôi biết rồi đây sẽ có một ngày. Kỷ niệm buồn vui thời quân ngũ của bọn 72 A sẽ là những vết tích củ của một thời mặc áo liền quần sẽ trình làng.
    Trùi ui! bọn chúng tôi chỉ có 260 đứa, dẩu mà viết lên hết cả 260 câu chuyện đời mình...thì 36 năm qua, mổi lần gặp lại là một câu chuyện mới, vậy đến bao giờ mới nói hết chuyện ngày xưa??
    Đố ai mà quay ngược lại thời gian, quay làm sao cho bọn tôi chỉ tròn 21 tuổi, quay làm sao mà khi đứng nhìn bải biển nhatrang thấy mình hào hùng độc đáo như....những đàn anh...đã từng gán cho cái brand name để đời, khi những cô gái miền Thùy Dương nhắm mắt tha hồ mà chụp đại một anh nào đó....ít ra bọn tôi cũng đã được khéo tuyển chọn rồi trước khi vào quân ngũ.
    Bây giờ khi nhìn vào gương, bọn tôi không bao giờ nghỉ rằng...cái tên già 6 bó nầy trước kia cũng từng lấy mây trời làm lẻ sống....
    Thôi hãy nhường lại cho quý bạn bè, thân hữu xem phần lưu niệm với những mảnh đời của bọn 72 A đã kéo dài cuộc sống khi đã treo cánh gần 4 thập niên và rải rác trên quê mình, quê người hay đã ra đi vĩnh viễn.
    TG 72A

  4. The Following 2 Users Say Thank You to Nguyen Hoang Tan For This Useful Post:


  5. #3
    Administrator
    hung45qs's Avatar
    Status : hung45qs v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Jul 2009
    Nguyên quán: Los Angeles, California
    Posts: 1,033
    Thanks: 933
    Thanked 2,389 Times in 553 Posts
    Blog Entries: 3

    Default

    Lời mở đầu


    Mùa hè 1972 là thời điểm thay đổi cuộc đời của hàng ngàn thanh niên miền Nam thế hệ 50, sinh ra và trưởng thành trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Hình ảnh gần mười ngàn thanh niên tụ họp trước cổng Phi Long nộp đơn xin gia nhập Không Quân là khởi đầu của một tập hợp 360 Sinh Viên Sĩ Quan tài hoa, trẻ trung và hào hùng của Không Quân Việt Nam nói chung và Khóa 72A Sinh Viên Sĩ Quan nói riêng.

    Theo vận nước nổi trôi, ngày 30/4/75 nghiệt ngã đã phủ lên miền Nam nước Việt một bức màn đen tối. Những chàng Sĩ Quan Phi Công Trực Thăng, Phản Lực, Quan Sát hào hoa của 72A đã đành rời bỏ khung trời bay bổng chiến đấu. Những chữ Tổ Quốc Không Gian và Bảo Quốc Trấn Không cùng đôi cánh bạc đành xếp lại. Những chàng Sĩ Quan Bảo Trì, Tiếp Liệu, Phòng Thủ chiến đấu trong thầm lặng của 72A cũng đành giã từ nhiệm sở trong cuộc “Đổi đời” này.

    Một trang sử đã khép, dòng đời vẫn cứ trôi qua,người lao đao trong kiếp ngục tù, kẻ bôn ba vì cuộc sống vật chất. Chuyện gần 30 năm trước tưởng như đã phai mờ. Trong ký ức của từng Sinh Viên Sĩ Quan Không Quân Khóa 72A Nha Trang năm nào, những nỗi buồn vui đời quân ngũ, của một thời bay bổng hào hùng tưởng cũng theo thời gian mà phai nhạt vì miếng cơm manh áo.

    Khóa 72A Sinh Viên Sĩ Quan Không Quân Nha Trang không là một trong những hiện tượng bình thường đó. Cái tập hợp 72A nhỏ bé trong một Đại Gia Đình Quân đội và Không Quân Việt Nam Cộng Hòa chỉ tồn tại ba năm trong cuộc chiến nhưng nó sẽ còn mãi mãi trong tâm tưởng của từng Sinh Viên Sĩ Quan, cho dù trong cuộc chiến đó họ đã bay hay sắp bay, đã đổ máu hay chưa đổ máu. Những gì đã xảy ra sẽ không có ai và không bao giờ sửa đổi được. Dĩ vãng mãi mãi là dĩ vãng, chỉ là chúng ta sẽ nhớ và nhớ mãi.

    Và bây giờ Khóa 72A lại tụ họp về với nhau, lại vẫn còn những thằng "đầu trâu mặt ngựa" (lời của SVSQ Lê Công Ngữ), cho dù cái đám này đã bị chia lìa khắp nơi từ Mỹ, Pháp, Canada đến Úc châu vời vợi. Sau bao nhiêu năm xa cách, bao nhiêu thay đổi bể dâu, giàu nghèo, sang hèn, tự do hay vẫn còn trong nước, khóa 72A vẫn là khóa 72A. Vẫn là những chàng trai năm nào, sau mùa hè đỏ lửa xếp bút nghiên theo việc đao cung, và có cùng nhau một Mộng Mây Trời.

    Trong tình cảm đó, anh em SVSQ khóa 72 A thực hiện cuốn sách này cùng với sự đóng góp của anh em khắp nơi trên thế giới. Cuốn sách không viết vì văn chương thi phú, cho dù đã dùng rất nhiều văn thơ cùng nhạc phẩm để nhắc nhở chúng ta về thời gian và thế hệ. Những bài thơ và bài hát mà đã có một thời như là kinh thánh, làm ngây ngất những chàng trai trẻ tuổi 17, 18 của đầu thập niên 70. Cuốn sách như là một người bạn đồng ngũ, một cái nhìn về quá khứ, một kỷ niệm của khóa 72A.

    Tổ Quốc Không Gian vẫn còn đó, nhưng không phải là Tổ Quốc và Không Gian của người Sinh Viên Sĩ Quan Không Quân Khóa 72A năm nào đã tụ họp dưới cờ. Cuộc đời là mất mát nhưng những người Sĩ quan Phi công Quan sát, Trực thăng, Phản lực, Bảo trì, Tiếp liệu... Khóa 72A vẫn còn lại một mối tình... Tình bạn đồng khóa.

    Cho dù cuốn sách không nhắc đến bạn, hoặc quên không nhớ đến bạn, hãy quý trọng và giữ gìn vì dù sao chúng ta cũng ở trong đó, trong cái bìa có in chữ KHÓA 72A Sinh Viên Sĩ Quan Không Quân.


    Nhóm Chủ Trương
    Khóa 72A/SVSQKQ

  6. #4
    Administrator
    hung45qs's Avatar
    Status : hung45qs v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Jul 2009
    Nguyên quán: Los Angeles, California
    Posts: 1,033
    Thanks: 933
    Thanked 2,389 Times in 553 Posts
    Blog Entries: 3

    Default

    Duyên Tương Ngộ


    Từ dạo mùa hè ba mươi năm trước,
    Bọn chúng mình lũ lượt kéo nhau đi.
    Tuổi hoa niên thời loạn ước mong gì?
    Đời binh nghiệp thân trai vì sông núi.

    (Thơ Nguyễn Hoàng Tân)



    Mùa hè 1972 là một thời điểm khó quên cho những Sinh Viên Sĩ Quan Không Quân của khóa 72A. Miền Nam Việt Nam vốn dĩ đã là vùng nhiệt đới, nhưng chưa bao giờ người ta thấy cái nóng thiêu đốt như năm đó. Từ tháng ba, những cơn bão lửa đã bắt đầu đổ xuống những địa danh địa đầu giới tuyến, những An Lộc, Đông Hà, Quảng Trị, Bồng Sơn, Lai Khê, và đã được Phan Nhật Nam ghi lại trong Mùa Hè Đỏ Lửa. Lửa đã đến gần thành phố lắm rồi. Ở Trảng Bàng cách Sài Gòn có 40 cây số vào tháng sáu lửa bom napalm đã thiêu rụi mất áo quần của em bé gái Phan thị Kim Phúc trong một tấm ảnh đoạt giải Pulitzer chụp bởi Huỳnh Công Út. Những thanh niên chưa rời ngưỡng cửa nhà trường làm sao còn có thể quân tâm tới sách vở trong khi các đàn anh của họ đang lăn xả giữa đạn thù để tranh giữ từng tấc đất trong một cuộc chiến mà nhiều khi biên giới quá mù mờ. Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách. Mười chín đôi mươi là lứa tuổi dễ chạnh lòng khi người ta nghĩ rằng mình đang trốn tránh trách nhiệm của trai thời loạn.

    Ở cổng Phi Long của phi trường Tân Sơn Nhất trong tháng 6/72 đã có hàng ngàn thanh niên đứng nối đuôi nhau chờ nộp đơn tình nguyện. Hãy nghe Huỳnh Thanh Hải kể lại ngày đầu tiên đến xin đơn.

    "Sáng hơn 9 giờ tôi còn tà tà ngồi uống cà phê rồi mới lên Tân Sơn Nhất xin đơn. Khi tôi đến vào khoảng gần mười giờ thì trước cổng Phi Long là một rừng người. Nhìn hàng dài mà tôi phát ớn, vội làm một vòng duyệt hàng binh để tìm cách xé rào. Qua hàng hàng lớp lớp người xếp hàng thứ tự, tôi nhận diện ra có bốn loại thí sinh là Sài Gòn, miền Trung, miền Bắc, và miền Tây. Tôi nghĩ nếu nhào vô đám Sài Gòn chắc là bị tụi nó đánh bỏ mẹ, dù có đai đen Thái Cực Đạo cũng không chịu nổi khi bị tụi nó hội đồng. Nhìn mấy cha nội miền Trung còn ớn chè đậu nữa, bởi nếu gặp đám như thằng Ngữ thì nó đánh có nước bị loại chớ bay bổng làm sao nổi, còn vào nhầm đám Bắc Kỳ Hố Nai nhỡ gặp đám như thằng Tỵ Già thì cũng miễn dịch vĩnh viễn và khỏi cưới vợ luôn. Do đó tôi quyết định bám sát đám miền Tây cho dễ ăn. Sau khi chọn một thời điểm thuận tiện tưởng là không ai để ý, bất thình lình tôi nhẩy đại vào hàng đứng với đám miền Tây, có lẽ trong đó có Út Small. Tôi nghe trong hàng phía sau lưng nổi lên những tiếng la ó chửi bới ỏm tỏi, nhưng cứ thản nhiên mặt lạnh như tiền lấy thuốc châm lửa hút để trấn an tinh thần và chuẩn bị dzọt nếu tình hình bất ổn. May sao tiếng xì xầm từ từ lắng dịu và im hẳn, bởi dường như tụi nó chấp nhận cho tôi một chỗ đứng... Số thứ tự nộp đơn của tôi là 251 . Tôi thầm nhủ ‘cảm ơn và cảm ơn!’ Do đó sau này ngoài những ơn nghĩa với Út Small tôi cứ trả hoài mà như còn nợ vậy.”

    Sau đây là lời Đỗ Minh Hùng về lý do chàng tình nguyện vô Không Quân.

    "Cái đời sống bận rộn ngày nay là một cuộc chạy theo với dòng đời không ngừng nghỉ. Nhớ lại chuyện 30 năm cũ thì một nửa đời người đã qua. Ngày còn bé tôi được cưng nhất vì là con trai một và là con trai trưởng theo phong tục cũ, nam trọng nữ khinh. Tối ngày tôi quấn quít bên mẹ.

    Năm lên bẩy tuổi, một buổi chiều kia tôi đã luồn vào rạp Nam Quang không mua vé như thường lệ. Cuốn phim chính thì không đáng kể, nhưng cuốn phim phụ, một phim Pháp phụ đề Việt ngữ, đã in vào trí óc tôi cho tới ngày nay.

    Cuốn phim có tựa đề là 'Cậu Bé và Chiếc Bong Bóng Đỏ'. Nhân vật chính trong phim khoảng trạc tuổi tôi. Một hôm khi rong chơi trên phố, cậu bé đã được ông bán bong bóng cho một chiếc. Chiếc bong bóng sau đó như một con vật sống trung thành bay theo cậu bé khắp nơi.


    Một hôm có đứa bạn tinh nghịch đâm thủng cái bong bóng, và cậu bé buồn sinh bệnh ngày càng trầm trọng, rồi bỗng một hôm trước khung cửa sổ không phải là một hay mười, mà là cả trăm cái bong bóng đỏ. Cậu bé vui mừng chạy ra nắm lấy chùm bong bóng, và nó đã từ từ đưa cau bay lên trời cao mất dạng.

    Cuốn phim chỉ có thế, nhưng trong tôi từ đó đã nẩy ra ý tưởng thèm được có một chùm bong bóng để giúp tôi bay lên được trời xanh.

    Khi lớn hơn chút nữa tôi không ưa con gái, chẳng giống như sau này thấy đàn bà con gái là mắt cứ nhắm tít lại không còn biết đường về nhà. Tôi thường hay nói với mẹ tôi rằng khi lớn lên tôi sẽ đi lính đánh giặc, khi nước nhà yên ổn thì tôi sẽ về nuôi mẹ mà không lấy vợ.

    Trong những năm sau đó, sau khi tôi đã biết yêu, một hôm vào tháng 6/72 khi đang lang thang gần Tân Sơn Nhất, tôi thấy nhiều thanh niên xếp hàng sau hàng rào dây kẽm gai. Hỏi ra mới biết Không Quan đang tuyển lựa sĩ quan. Thế là tôi quên khuấy mất rằng mình đang được hoãn dịch vì là con trai một và đang học đại học, vội nhẩy qua hàng rào kẽm gai để nhập vào hàng. Giữa những tiếng la ó phàn nàn, tôi giả điếc. Có lẽ nhờ cái tướng cô hồn của tôi nên nhiều người không muốn buồn phiền và đã để tôi yên.

    Sau khi nhận được số thứ tự để nộp đơn, tôi về nhà và báo cho cha mẹ biết rằng tôi đi lính, và mẹ tôi bật khóc. Đay là lần đầu tôi tự quyết định cho đời mình, và thấy đau xót vô cùng khi nhìn những giòng nước mắt của mẹ tôi. Bố tôi thì lặng yên. Báo tin cho người yêu, tức là vợ tôi bây giờ, thì nàng chỉ buồn không nói. Thế là ngày song bát 72 tôi vào trại ông Tiến chờ ngày ra Nha Trang huấn nhục."

    Huỳnh Thanh Hải sau này đã trả nợ Út Small ra sao, và Đỗ Minh Hùng đã trả giá đắt thế nào cho giấc mơ được bay lên trời, xin đón đọc hồi sau sẽ rõ. Bây giờ trở lại những thanh niên trong hàng hôm đó. Họ chưa biết lời của bài Không Quân Hành Khúc, nhưng khi ngẩng mặt nhìn trời xanh họ đã mơ hồ thấy bóng mình trong đó. Mộng mây trời là một giấc mơ kỳ ảo và đẹp đến độ gần như là hoang đường không có thật. Một cánh chim tung mình trong nắng sớm hay gọi đàn trong lúc hoàng hôn. Những khoảng trời thần thoại.

    Cái hình ảnh thơ mộng như một bài thơ tình diễm tuyệt kia đã làm cho những anh tân binh của 72A không buồn tiếc khi mái tóc xanh rậm rì của họ bị tông đơ gậm nham nhở trong trại ông Tiến sau ngày nhập trại. Bộ đồ ka ki xanh mặc vào cũng thấy thoải mái, và đôi giầy bốt đờ xô đi cũng êm chân. Ngày hai buổi trưa chiều sắp hàng chờ ăn cơm. Những chiếc khay nhôm bốn ngăn. Nhà bàn không còn máy lạnh nên hơi nóng bức và chứa đầy những dãy bàn dài ngồi sát cánh nhau. Cơm nhà bàn không đầy đủ như cơm nhà nhưng trong cái cảm giác mới mẻ quanh những thằng bạn từ bốn phương trời mới tụ họp về đây không mấy ai thấy đáng phàn nàn. Còn gì bằng trong giữa buổi trưa nắng bức qua hàng kẽm gai mua được bịch cà phê đá cầm về hút chung nhau điếu thuốc làm quen câu chuyện kể.

    Sau đây hãy nghe lời kể của Trần Đôn Điền.

    “Năm 64 bố mẹ tôi đã dẫn con cái lên Pleiku lập nghiệp. Thị trấn vùng cao nguyên, nắng bụi, mưa bùn. Ở đây là nơi đặt Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II cho nên lính nhiều hơn dân, và phần đông dân là gia đình binh sĩ vì. Họ đến từ Đông Hà, Quảng Trị cho đến những người ở tận Cà Mau. Chính nơi đây tôi đã biết thế nào là chiến tranh qua những trận Pleime, Chư Sao, Mậu Thân.


    Hai người bạn tôi quen đầu tiên ở trại Thượng Sĩ Tiến là Mai Văn Dũng tức Dũng Đen và Dương Hồng Sơn. Dũng có vẻ từng trải, còn Sơn thì chẳng biết gì cả, ngáo bỏ mẹ. Nó hút ké tôi có một hơi thuốc mà ho sặc sụa. Bị Dũng Đen cười, nó quê lắm và bắt đầu tập hút thuốc. Thế nhưng trong ngày đầu tiên được cho về phép, nó đã lộn ngược tất cả các túi áo vì sợ rằng về nhà mà ông bà bô thấy nó có thuốc lá thì sẽ mắng nó. Thời trẻ của chúng ta là thế đấy phải không các bạn? Dù đã bắt đầu bước chân vào cuộc chiến, nhưng đối với bậc sinh thành thì điều gì các cụ không thích có khi nào chúng ta dám làm trước mặt?

    Trong buổi chiều chủ nhật cuối cùng ở trại Thượng Sĩ Tiến trước khi ra Nha Trang, ba đứa tôi xuống khu gia binh vào một cái quán vô danh nào đó kêu vài chai bia con cọp. Bia đắng vị houblon, uống một hớp là nhăn mặt một lần. Qua chai thứ hai thì có vẻ ngon hơn một chút, và tôi đã làm liều ghẹo cô con gái bà chủ quán. Tôi một hai kêu bà chủ quán bằng má xưng con. Đó là lần đầu tiên tôi bắt đầu biết xỉn.

    Hai năm sau đó khi quay về Bộ Tư Lệnh làm giấy tờ đi du học, tôi đã gặp lại hai mẹ con bà chủ quán. Bây giờ thì quán đã khang trang hơn và lại ở ngay sát nhà đậu xe trong Bộ Tư Lệnh, và tôi không còn dám gọi bà chủ quán là má nữa.”

    Trong thời gian ở trại ông Tiến, anh em khóa 72A đã đủ thì giờ quen biết nhau khá kỹ, và nhiều thằng đã bắt đầu giở trò phá phách nham nhở. Một hôm trong giờ tắm, Châu Thiên Huệ đã ve vẩy của quý như một chiếc ma trắc giả vờ như sắp phang vào Khanh Béo đang ngồi giặt quần áo gần đó trong khi thằng này không để ý. Phần Khanh Béo thì cũng chẳng vừa gì, Hải Ác Tăng vẫn còn nhớ cái giọng ca đểu cáng của nó theo nhịp quân hành khi cả đám sắp hàng đi ra phi đạo để lên phi cơ ra Nha Trang, “Má thằng Sơn vừa đi vừa vén cái quần lên, vén cái quần lên thì thấy cái đầu thằng Sơn.” Cả bọn cười rần lên trong khi Phạm Duy Sơn quê đỏ mặt tía tai không nói được lời nào. May mà đang đi trong hàng chứ không chắc Khanh Béo mập mình với thằng Sơn cú đó.


    Đến tháng tám thì mặt trời đã xuống gần hơn chút nữa. Sân cát Nha Trang chói lóa sau khi chào Đại Bàng vác sac marin chạy vòng quanh Phi Dũng. Những cái lưỡi trắng vì thiếu nước buổi trưa trong nhà bàn chỉ được thấm giọng bằng vài muỗng nước trà. Những khuôn mặt đẫm mồ hôi lấm lem đất cát. Những chiếc vớ hôi như mùi chuột chết. Đêm ngửa mặt nhìn sao nghe niên trưởng ngâm thơ

    Ôi không gian giờ đây ta mới biết,
    Mộng mây trời đã giết chết đời ta.


    Những nhọc nhằn này cũng dễ chịu thôi khi người ta có máu nóng và có bạn bè bên cạnh. Và sự gắn bó của những thằng bạn 72A đã thực sự bắt nguồn từ những giây phút huấn nhục cam go đó. Ba trăm sáu chục thằng lính mới trừ đi một trăm Không Phi Hành còn lại Phi Hành hai trăm sáu chẵn chòi.

    Trong khi đa số những bạn Phi Hành trong lứa tuổi mười chín đôi mươi và có tú tài I, các bạn Không Phi Hành thường đều ở đại học. Bởi trong kỳ đôn quân này tất cả những sinh viên học sinh vì bất kỳ lý do gì mà học trễ một năm trở lên đều phải đi lính, nhiều bạn Không Phi Hành đã sắp tốt nghiệp Phú Thọ, Y Khoa, hay Kiến Trúc đã phải cay đắng rời trường để miễn cưỡng thành quan Không Quân hơi sớm.

    Thế là những Sinh Viên Sĩ Quan Không Quân khóa 72A đã bỏ lại sau lưng những quán cà phê đèn mờ với những bài hát của Trịnh Công Sơn mà trong đó có đàn bò vào thành phố và người con gái Việt Nam da vàng để thay vào bằng những câu hát mới

    Đoàn người tưng bừng về trong cơn gió
    Hồn như đám mây trắng lững lờ
    Giang hồ không bờ không bến
    Đẹp như kiếp Bô Hê Miên


    hoặc

    Ta là đàn chim bay trên mây xanh
    Đi nhìn qua khói những kinh thành xa
    Đôi cánh tung hoành nhịp trên mây xanh
    Ta là tinh cầu bay trong đêm trăng


    Khi rời quân trường, họ đã say mê tiếng hát Thanh Thúy qua những câu

    Giữa lòng trời khuya muôn ánh sao hiền
    người trai đi viết câu chuyện
    một chuyến bay đêm


    hay là Sĩ Phú trong bài Tuyết Trắng

    Khi nắng chiều đi không gian chợt tối
    Đã hẹn nhưng chẳng thấy anh sang
    Khi nắng sân trường soi bóng em
    Khi chiều ngả dài bao nhiêu nhớ thương
    Khi đường mây chờ anh tung cánh thép
    Đây áo bay màu xanh, xanh như tình ái
    Khép lại khăn ấm chính em đan


    Những bài hát của người phi công Việt Nam là như thế đó, đẹp và êm ái như những bức thư tình muôn thuở, không có đạn bom máu lửa, chiến công, thù hận. Người phi công của Việt Nam Cộng Hòa hào hoa đã nhận phi vụ lệnh và ra đi trong sự ung dung. Họ ra đi bằng tình thương hơn là sự thù hận, như Phạm Đình Chương trong Anh Đi Chiến Dịch

    Anh đi chiến dịch xa vời
    Lòng súng nhân đạo cứu người lầm than
    Thương dân nghèo đồng hoang cỏ cháy
    Thấy nỗi xót xa của kiếp đọa đày, anh đi


    hoặc Màu Áo Hoa Rừng

    Ngày anh ra đi với chiếc áo xanh màu hoa
    Ngày anh ra đi vai súng hiên ngang đường xa
    Băng suối qua rừng chập chùng
    Hay những đêm dài lạnh lùng
    Sương mờ nẻo vắng,
    bước chân anh không ngại ngùng.


    Không phải chỉ có những bài hát là nhẹ nhàng, mà ngay cả những tác phẩm về đời phi công cũng thế. Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh với Đời Phi Công, Dương Hùng Cường trong Buồn Vui Phi Trường với hình ảnh của Phượng, hay Saint Exupéry trong Chuyến Thư Miền Nam với hình ảnh mảnh mai của Geneviève đều là những tác phẩm đầy thi vị. Trong Cõi Người Ta người phi công đã phải bay len lỏi giữa những khe núi với những ngọn cao tới bảy ngàn thước để tìm đường vượt qua rặng Andes bằng những phi cơ chỉ bay tới cao độ năm ngàn hai trăm thước. Người phi công trong văn chương là người tình người chồng người cha, tức là những người đàn ông rất người.

    Dù những đêm huấn nhục mệt mỏi là như thế nhưng sau khi các niên trưởng leo lên StepVan rời Phi Dũng ra về là anh em vẫn còn đủ sức bò lên quán cô Thương mặt đỏ để làm gói mì và ly trà đá. Ngay từ ngày đầu tiên ra Nha Trang tới Phi Dũng khi về tới barrack là tất cả đã phải dốc ngược sac marin ra cho niên trưởng bộ khám. Không may cho những anh mang theo những món mặn để dành ăn cơm như thịt chà bông hay thịt kho mắm ruốc phải ăn cho hết, và những anh còn thuốc lá thì phải ngậm hết những điếu thuốc còn trong gói để châm lửa hút một lượt. Thế mà Nguyễn Đình Cẩn dấu làm sao mà còn được một gói ô mai cam thảo. Trong một buổi tối kia, chàng ta đã trèo lên một căn phòng trên lầu của một barrack bỏ trống mang ô mai ra pha trà tầu đãi những bạn thân là Bùi Mộng Lân và Nguyễn Hữu Thiện Tuấn, và bởi vì ô mai của chàng có lẽ đã bị người yêu bỏ bùa thư hay sao đó mà mấy thằng sau đó bị Tào Tháo rượt tơi bời hết cả một đêm.

    Sau mới có hai tuần lễ ở Phi Dũng là mười bốn anh em đầu tiên đậu ba kỳ thi Anh văn ở trường Sinh Ngữ Quân Đội đã được gọi về Sài Gòn để đi Mỹ. Những thằng đó có tên sau đây: 1. Lý Văn Ánh, 2. Lê Văn Cảnh, 3. Trần Ngọc Dương, 4. Nguyễn Thanh Liêm, 5. Nguyễn Thiện Nhượng, 6. Trần Văn Phiêm, 7. Nguyễn Ngọc Châu Phòng, 8. Trần Chung Thanh, 9. Lê Hữu Thiện, 10. Đoàn Anh Thuấn, 11. Nguyễn Trọng Tiến, 12. Nguyễn Hữu Thiện Tuấn, 13. Trần Ngọc Tùng, và 14. Trần Anh Tuấn. Về tới Tân Sơn Nhất, 11 người đã được làm thủ tục đi Mỹ nhanh chóng, chỉ có Trần Ngọc Tùng phải ở lại hơn một tháng để điều trị tim, Nguyễn Hữu Thiện Tuấn thì phải ở lại hai tháng vì hắn có tới ba hòn phải cắt bớt đi một, và Trần Chung Thanh bị kẹt lại vì lý do “an ninh” và sau đó ra Nha Trang học L-19.

    Một trong những việc mà anh em phải làm ở quân trường là đi gác, ngày cũng như đêm. Sau đây là lời tường thuật của Đỗ Minh Hùng.

    "Ở Nha Trang huấn nhục được khoảng 2 tuần, tôi và Đỗ Trọng Nhâm được xếp gác đêm với nhau. Mỗi thằng được phát một cây súng M-16 trước khi trèo lên vọng gác. Trước 12 giờ đêm, hai thằng còn tỉnh táo, nói chuyện huyên thuyên về gia đình, về bồ bịch, rồi chuyện tương lai một mai khi thành phi công. Cứ tưởng tượng trở thành phi công là thấy sướng đời mê đi rồi.

    Chỉ còn 6 tiếng nữa là trời sẽ sáng và phiên trực sẽ qua. Coi bộ hai thằng tôi không qua nổi đêm nay. Buồn ngủ ơi là buồn ngủ. Hai mí mắt nặng như chì, chỉ chờ dịp là xụp xuống. Tôi và Nhâm chia nhau giờ giấc. Tôi thức cho Nhâm ngủ trước. Sau đó Nhâm sẽ thức cho tôi ngủ. Ba tiếng đầu trôi qua chậm chạp. Phố Nha Trang im dần theo bóng đêm. Lâu lâu có những tiếng gõ lóc cóc của mấy hàng mì, hoặc tiếng rao: 'Ai xương xa, vịt lộn hôn' mà nghe như: 'Ai xa xa vật lộn hôn." Tới hết ca của mình, tôi đánh thức Nhâm dậy, giao súng cho hắn, rồi đi ngủ.

    Đang mơ màng trong giấc điệp thì tôi bật dậy vì lãnh một cái tát như trời giáng. Bên kia, Nhâm cũng cùng số phận. Ông trung sĩ trực quát tháo um xùm: 'Súng của các ông đâu?' Tôi và Nhâm nhìn quanh, cây M-16 mất tiêu. 'Mất súng là các ông ở tù mọt gông.'

    Tôi và Nhâm đứng như trời trồng. Tôi hình dung ra một viễn ảnh u ám. Từ bé tới giờ nào tôi đã biết tù tội là gì. Lúc này bỗng chúng tôi tỉnh táo vô cùng, có phải thức vài đem nữa cũng chẳng sao.

    Tôi và Nhâm được lệnh làm 50 cái hít đất. Sau đó ông trung sĩ trả lại súng. Thì ra khi chúng tôi đang say ngủ, hắn đã bò lên chôm súng rồi tặng chúng tôi mỗi thằng một cái bạt tai nhớ đời. Bên má trái tôi đau rát, chắc hôm sau cần mua thuốc dán. Chờ ông trung sĩ đi khuất, tôi rủa Nhâm: 'Đ. M., tôi thức thì ông ngủ. Tới phiên tôi ngủ, ông cũng ngủ là nghĩa làm sao?' Hắn nhìn tôi cười trừ, một nụ cười ngáo không thể tả."


    Sau bốn tuần huấn nhục, tháng chín đến là đã được mang Alpha mặc đồ vàng ra phố. Phố Nha Trang nhỏ nhưng cũng có tới bốn rạp xi nê. Những đôi giày củ chuối mà cũng lê được cho tới khi mòn vẹt gót. Thằng nào có đào thì đọc thư của mình, thằng nào không có đào thì nghe đọc thư đào của Vũ Xuân Quảng kể chuyện leo lên nóc nhà ngồi viết cho chàng. Người tình bé nhỏ dĩ nhiên sau này đã đẹp đôi với một anh cha căng chú kiết nào đó không phải trong khóa 72A, nhưng trong khi chờ đợi thì thư nàng viết cũng mùi. Kể ra những lá thư tình hay ho như thế mà viết cho một anh lùn phệ bụng mỗi tối mặc xiệp đánh giầy theo nhịp cha cha cha của Santana thì cũng quá ngược đời.

    Khi cuộc sống bắt đầu có chút thảnh thơi là khi Đỗ Tiến Như lên tiếng hát. Mỗi tối trong tiếng đàn ghi ta phừng phừng là phải nghe lại vài lần điệp khúc:

    Cho đồng bào tôi ở khắp bốn phương trời
    Hát những bài ca tôi mọi đã mòn hơi


    Không biết đồng bào đã mòn mỏi tới cỡ nào, nhưng tiếng hát mỗi tối của Như nghe chừng hăng say lắm.

    Khi đã được ra phố là Châu Thiên Huệ đã bắt đầu bị bôi bác. Có nhiều bạn đã làm chứng rằng vũ khí của hắn khi lâm trận chẳng những buồm không căng gió mà cột buồm cũng chẳng dương thêm kích thước bao nhiêu. Nghĩ nực cười, thằng bự con mà ưa khóc tổ cha! Trong mấy tuần huấn nhục cứ nghe nó khóc lóc với cán bộ khi bị móc ra phạt không thôi cũng đủ muốn bịnh luôn.

    Để chấm dứt chương này, hãy chép lại đây nguyên văn lời kể của Hoàng Văn Trung về Quân Trường Không Quân Nha Trang:

    "Kính tặng các niên trưởng của trại Ngân Hà đã dậy các khóa đàn em nhận xét và đối phó với những gian khổ trên đời.
    Cùng kính tặng những người lính VNCH để nhớ lại những ngày đầu vào lính.

    Tôi vào Không Quân trong cái lo âu của mẹ già. Nhưng trong không khí chiến tranh của cả nước, giặc Cộng nổi lên đánh phá khắp nơi, làm thân trai với một lòng yêu nước nhiệt thành, đã được hun đúc bởi bao nhiêu công lao dậy dỗ của các thầy cô trong những năm cắp sách, tôi không thể ngoảnh mặt quay lưng với những đau thương quằn quại của cả một dân tộc.

    Nếu muốn, thì với cái vốn 'con trai độc nhất còn lại trong gia đình', tôi có thể ở nhà, lang thang qua lại trong các trường đại học sống lây lất qua ngày! Hay là theo bọn Huỳnh tấn Mẫm, Lê văn Nuôi đi biểu tình chống chính phủ. Nhưng tôi đã chọn con đường mà biết bao thế hệ ông cha, trai hùng nước Việt đã chọn khi tổ quốc lâm nguy.
    Hai lần đưa đơn lên Đà Lạt không có hồi âm. Tôi vào Không Quân.
    Sau khi trải qua bao lo âu hồi hộp trong những kỳ khám sức khỏe, tôi được tuyển vào đợt đầu tiên, đợt 'ngon lành nhất'.

    Vào trại khóa sinh ở Tân sơn Nhất chờ ngày ra Nha Trang. Chúng tôi tập đi đứng như một người lính... (sau này ra Nha Trang tôi mới thấy đi một, hai kiểu Tân sơn Nhất là đi kiểu lính dởm!) Tôi dại khờ tự nhủ: 'Đi lính vậy mà có người than khổ.'
    Ăn thì xếp hàng thứ tự vào nhà ăn, cơm dọn sẵn có cá chiên có canh, cơm trắng. Tôi nghe ai đó nói là cá mối chiên, nên tôi lợm. Nghe đến tiếng 'mối' là thấy nhợn quá rồi. Mẹ tôi vào thăm qua ngả trại Hoàng hoa Thám, gặp tôi cứ xoa xoa nắn nắn: 'Trời ơi, mới có mấy ngày mà sao con gầy đét như thế này...'

    Ba chuyến C-130 chở bọn tôi hăm hở ra Nha Trang học lái máy bay! Tôi đi chuyến thứ hai. Lần đầu tiên trong đời được đi máy bay, thấy cũng thích mà cũng ớn. Ngồi trong lòng máy bay cứ mơ tưởng đến cái đẹp Nha Trang của miền thùy dương cát trắng trong sách vở mà lòng háo hức không thôi.

    Cảnh đẹp với những hàng dừa, phi lao, bãi cát trắng, bộ đồ ka ki vàng dạo phố, bộ đồ bay oai phong lẫm liệt như mấy ông pi lốt thường thấy trong xi nê, sách báo... Mình sắp ngon lành rồi..."
    Máy bay hạ cánh.

    Ái dà, Nha Trang với gió biển sao mà nóng quá vậy. Khô quá. Toàn cát là cát. Phi lao phi liếc gì đâu sao không thấy. Núi cao vời vợi. Hàng rào kẽm gai. Vỉ sắt lót đường. Sao không thấy gì hấp dẫn hết vậy ta?

    Sao không thấy ai đem đồ bay phát cho mình vậy? Đứa nào đứa nấy mặc đồ treidi xanh coi 'dởm' quá. Ông hạ sĩ quan hướng dẫn bọn tôi đang đứng ngóng chờ ai đó với xấp giấy trong tay. Trời Nha Trang với miền thùy dương cát trắng gì mà sao khủng khiếp thế này.

    Mồ hôi bắt đầu lấm tấm. A! May quá. Có hai người mặc ka ki vàng đi tới. A! Sinh Viên Sĩ Quan. Có đứa trong bọn tôi cười cười chỉ chỉ.


    Một ông ka ki vàng hùng hổ sấn tới:
    "Ông cười tôi cái gì?
    Cả bọn xính vính: 'Sao bất lịch sự quá. Ngang tàng quá. Ma cũ bắt nạt ma mới đây mà.'

    "Mấy ông đi đâu đây?
    "Dạ. Chúng tôi đi ra quân trường...
    Chưa dứt lời, 'hắn' đã chận họng:
    "Mấy ông là đàn bà đi chợ chứ đi quân trường cái gì... Như một đàn vịt ngoài chợ. Quân trường này không chấp nhận những người như các ông.
    Thêm mấy ông ka ki vàng tới nữa. Mặt ông nào ông nấy đằng đằng sát khí. Lườm lườm, kênh kênh, giận dữ, mắng mỏ. Không khí bất chợt trở nên cực kỳ ngộp thở.
    "Ông tên gì?
    "Dạ, tên...
    Bỗng... ông ka-ki vàng quát lên một tiếng long trời:
    "Dạ cái gì? Quân đội mà dạ hả? Không có dạ ai hết... Nghe chưa?
    Thằng đàn em run rẩy, lí nhí:
    " Dạ, nghe...
    Đây là còn ở phòng khách của phi trường Nha Trang. Bao nhiêu cặp mắt của đàn ông, đàn bà, con nít, người lớn, thanh niên, thiếu nữ đổ dồn về nhìn chúng tôi ngạc nhiên. Quê quá. Quê quá!
    "Lại dạ nữa... Ông bước ra khỏi hàng cho tôi.
    Thằng em tội nghiệp, lếch thếch vác cái túi đồ nặng chình chịch đi theo ông ka ki. Rất là vô lý và ngang ngược, ông ka ki đứng đối diện với con ma mới:
    "Ông thích dạ lắm phải không? Ra đứng đằng kia. Dạ đủ cho tôi một trăm tiếng.
    Thằng em chạy ra xa, mắc cỡ ngó đám khán giả, ngại ngần:
    "Ông chống đối phải không?
    "Dạ, dạ, dạ, dạ..."
    Tiếng dạ 'vang lừng' trời đất. Tôi liếc thấy mấy đứa con gái đang che miệng cười ngặt nghẹo. Quê ơi là quê! Bỗng... có tiếng nạt bên tai:
    "Ông ngó cái gì? Bò ra khỏi hàng, hít đất cho tôi một trăm cái.
    Tôi chới với, lừng khừng một chút:
    "Thưa huynh trưởng, tôi...
    Nạt nộ lấn át:
    "Huynh trưởng cái gì? Bộ ở đây là Thủ Đức hả? Hay là Hướng Đạo? Ông muốn chống đối phải không?
    Tôi tiu nghỉu, ngoan ngoãn bò ra khỏi hàng nằm chống hai tay xuống hít lên hít xuống. Thằng đứng kế tôi được một ka ki khác hỏi thăm:
    "Ông có cái băng vải đỏ với bốn chữ SVSQ là nghĩa gì vậy?
    "Dạ... là Sinh Viên Sĩ Quan...
    "À! Sinh Viên Sĩ Quan. Có nghĩa là ông bằng cấp bực với tôi phải không? Ngon. Ông có giấy tờ chứng-nhận là Sinh Vi ên S ĩ Quan không?
    "Dạ...dạ..không.
    Bỗng ông ka-ki vàng gào lên:
    "Ông muốn chết như những khóa trước ông phải không? Vậy thì ông cứ dạ hoài đi... Không Quân mà khúm núm như ông thì chết rồi. Ông có giấy gì chứng nhận là Sinh Viên Sĩ Quan không?
    Có lời nói to:
    "Không.
    "Ủa! Vậy là ông giả mạo Sinh Viên Sĩ Quan ra đây phải không?
    Cả bọn chúng tôi ngơ ngác chẳng biết mô tê gì hết. Bỗng một ông có vẻ là trưởng-toán đứng ở đầu hàng quân nói lớn:
    "Các ông xưng là SVSQ ra đây để hù dọa chúng tôi? Không ai gắn alpha cho các ông. Không ai có lấy một tờ giấy gì để chứng nhận. Tôi cho các ông 30 giây để xé cái băng SVSQ giả mạo xuống. Một, hai, ba, ...
    Cả đám nhốn nháo đưa tay xé, bứt... mà làm sao bứt được cái băng vải được may thật kỹ phía trên nắp túi. Giờ ngồi nghĩ lại thấy mình sao ngu quá: tự nhiên mấy người trời ơi đất hỡi nó đến nó "phạt" mình... rồi cái mình hùng hục làm theo, vậy à!


    Tiếng đếm vẫn lạnh lùng, khô khốc: 'chín, mười, mười một...'
    Thế là cả bọn tôi nhào vào, thằng này cắn cho thằng kia. Cả đám khán-giả ở ngoài xem vở 'bi... hùng kịch' chắc là... thích lắm.
    "Để trừng phạt cái tội giả mạo. Chúng tôi cho các ông một ân huệ là hít đất 100 cái đúng thế. Bất cứ ai ma giáo, cả hàng sẽ phải làm lại từ đầu.
    Những tiếng thét gào lại vang ầm lên như cố tình lấy oai với đám khán giả bất đắc dĩ ở phòng chờ đợi máy bay. Cả bọn chúng tôi bò nhoài ra. Cát bụi tung mù lên. Một, hai, ba, ... mười, ... hai chục, ... ba chục... Má tôi mà gặp cảnh như vầy chắc bả lấy đòn gánh khện mấy ông ka ki vàng này chết quá.

    Mồ hôi đã nhễ nhại. Cũng gần 80 cái rồi. Trời nắng chàng chang, gay gắt đổ lửa. Miệng lưỡi khô rát. Bỗng có tiếng quát tháo:
    "Có người ma giáo. Ông kia bước ra khỏi hàng. Bước ra mau. Mau. Nãy giờ nằm yên không lên xuống gì hết. Bỏ... Bỏ... Đếm lại... một, hai, ba, bốn... Ông kia nữa bước ra khỏi hàng. Tử tế, thấy các ông mệt mỏi, cho các ông khuây khỏa các ông không muốn. Các ông lại giở trò ma giáo với khóa đàn anh.

    Tôi nghĩ thầm:
    "À! thì ra là khóa đàn anh đây. À! thì ra đây là huấn nhục đây mà. Cũng chưa sao.
    "Hít. Hít. Hít.
    Cả bọn tôi sau vài lần đếm tới đếm lui, đếm qua đếm lại rất là 'bất nhân' của các ông 'anh', đã xơ xác tiều tụy thê lương lắm lắm rồi. Tiêu điều thấy rõ. Tôi thấy đã bắt đầu hơi... chán lính. Nhớ mẹ quá. Ai bảo? Cũng tại không nghe lời mẹ ở lại Sài Gòn đi học đại học!

    Hai chiếc GMC xịch đến. Hai chiếc xe buýt dân sự cũng chạy đến chở đám hành-khách Air Việt-Nam.
    "Các ông có 15 giây để lên xe. Ông nào lè phè ở lại sẽ bị hành xác tối đa.
    Cả bọn ùa lên xe nhào nhào. Đứa nào đứa nấy mặt cắt không còn hột máu. Tôi ước ao chạy lên chuyến xe dân sự về lại Sài Gòn sống với... má! Xe GMC đến một cái sân nhỏ có tượng Đại Bàng xòe cánh.
    "Trong 15 giây các ông phải tập họp trước tượng Đại Bàng. Xuống. Xuống. Lẹ lên.
    Có tiếng gào:
    "Mau lên. Dòm cái gì. Biết chạy không?
    Cả một bầy ka ki vàng nhốn nháo lăng xăng rầm rập gào hét khắp nơi y như một bầy kiến lửa bao vây xâu xé một bầy kiến đen bất hạnh đang co rúm người lại, rách bươm.
    "Các tân khóa sinh quỳ xuống. Chúng tôi trước tượng Đại Bàng... Xin thề.
    "... Toàn thể khóa sinh... Xin thề. xin thề.

    Tôi chẳng biết mấy ông nội nói cái gì. Thấy đưa tay thì cũng đưa lên đưa xuống. Khát nước quá. Mệt muốn lả ra rồi. Cát trắng Nha Trang khô khan nóng bỏng. Bên kia chắc là câu lạc bộ, vài người đang đưa ly nước đá lên uống. Ôi chao! Sao mà đã quá. Chắc là nước đá chanh đường. Bọn tôi vẫn thở hồng hộc, chỉ khác con chó là không có le lưỡi ra mà thôi. Mặt trời vẫn như đổ lửa xuống những con người khốn khổ dám mơ mộng đòi lái máy bay.
    Xe tiếp tục đến trại.
    "Nhanh lên, nhanh lên. Sao các ông giống mấy bà già quá...

    Vào đến nơi thấy mấy đứa đi chuyến máy bay trước đang lảo đảo chạy vòng quanh chào trại. Bọn tôi bị lùa vào chung một mẻ, vác cái túi nặng quân-trang trên vai nối theo dòng người, cùng nhau tơi tả. Cứ lếch thếch chạy như những người điên. Cái nắng, cái khô, cái mệt, cái khát cùng ập vào những người 'dại dột'. Những bước chân bắt đầu xiêu vẹo dần và từ từ gục ngã trên đám cát trắng của... miền thùy dương!! Vài đứa đã bắt đầu lật ngửa. Bọn không phi hành quả yếu thật. Lật chổng gọng dài dài. Vài ông đàn anh có vẻ nóng nẩy co chân đá vào cái túi quân trang. Té sấp. Lủi vào cát nóng bừng bừng. Có tiếng đàn anh hô to khoan khoái:
    "Có hai người chết rồi. Niên trưởng ơi, có người chết rồi. Hết thở rồi... Đem lên núi chôn đi...
    "Khoan. Cho nó phủ lá cờ đã rồi hãy chôn.
    Bốn đứa được chỉ định khiêng hai xác... 'chết' đem đi chôn. Một giọng nói lạnh lùng:
    "Lột áo ra.
    Hai chiếc áo được cởi ra. Hai đứa nữa được tăng cường để khiêng lên hai xác một lượt.
    "Để nằm trên vỉ sắt kia. Một lát nữa chôn cũng được.
    Vừa được đặt nằm lên vỉ sắt, bỗng hai xác chết bật dậy nhăn nhó quằn quại. Cái vỉ sắt có ba hàng sóng, lót cho xe chạy, nằm tênh hênh giữa bãi cát dưới ánh nắng thiêu đốt của quân trường Nha Trang đã trở thành một cái vỉ 'nướng'.

    Hai xác chết 'hồi dương' nhìn gương mặt lạnh lùng cô hồn của ông đàn anh đang nhìn chằm chằm, kênh xì-po. Biết thân biết phận hai thằng lại lủi thủi chạy. Ba ngày sau, trên lưng mỗi đứa đều hiện rõ ba sọc ngang của lá cờ, rát bỏng.
    Mèo vờn chuột một lúc rồi cũng phải chán.

    Vào nhà nghỉ lại phải chịu một đòn cân não.
    "Các ông mà lái máy bay cái gì. Chạy mới có mấy vòng đã xỉu lên xỉu xuống. Chúng tôi được lệnh phải loại sức khỏe khóa này 50%. Ai chịu không nổi sẽ loại ra khỏi Không Quân. Ê! Ông kia còn muốn lái nữa không?

    Thằng nào thằng nấy lắc đầu chua chát. Mấy ông kẹ bắt đầu thấy có vẻ dễ chịu hơn, có ông cười cười. Vừa vặn được năm, mười phút Bỗng bọn hắn 'trở mặt' thật lẹ. Một ông kẹ bỗng 'kiếm chuyện', quát lên:
    "Ra sân. Ra sân. Các ông là những con người lêu lổng. Tôi về Sài gòn đi phép gặp các ông tóc dài tóc ngắn. Đi với đào nắm tay nắm chân. Gặp tôi không biết đàn anh đàn em. Chưa ra quân trường mà dám móc an-pha đi dạo phố Sài Gòn. Yêu cầu mấy ông tập họp ra sân làm 100 cái hít đất.

    Đến màn khám xét vật dụng lại có một trận cười ra nước mắt. Một tên có đem theo hộp sữa. Bắt phải khui ra. Vừa chạy từ đầu trại đến cuối trại, vừa nút hộp sữa vừa la to cho mọi người cùng nghe:
    "Tôi đi Không Quân mà chưa bỏ bú. Tôi chưa bỏ bú mà đòi đi Không Quân... Tôi đi Không Quân mà...
    Rồi liên tục bị quần thảo, bị hành xác từ sáng tinh mơ 4, 5 giờ đến 11, 12 giờ đêm là thường. Vào nhà ăn phải bò, phải lết, phải quỳ... Đang ăn mà chạm nhẹ cái muỗng lên mâm là cả ba bốn ông đàn anh đến hỏi thăm:
    "Ông ăn kiểu chợ Cầu Muối hay Cầu Ông Lãnh? Tư-cách SVSQ là như vậy hả. Bỏ mâm cơm xuống, bước ra khỏi hàng. Móc chân lên cửa sổ, chống hai tay xuống đất. Cầm cái muỗng ăn cũng không nên thân.
    "Ông kia nhẩy cóc chung quanh nhà ăn cho đến khi nào được lệnh mới vô."

    Có thằng tủi-thân khóc sướt mướt, lấy nước mắt chan cơm. Có thằng lóc cóc vừa nhẩy vừa sụt sịt.
    Tối phải cầm súng, thay ca, gác cho đàn anh ngon giấc. Cơm, phải thay phiên dọn sẵn, chờ các 'quan' ăn xong mới được vào ăn. Phòng tắm, nhà cầu phải sạch sẽ cho các 'ngài' xử dụng. Đang ngủ tơ lơ mơ 1, 2 giờ sáng lại bị dựng đầu dậy ra sân tập họp phạt vì... ngủ ngáy lớn quá. Đang mắc mùng đi ngủ thì bị lôi ra phạt nhễ nhại mồ hôi vì tội dám... đem muỗi ở Sài Gòn ra đốt khóa đàn anh! Đàn anh đi ngang chưa kịp chào cũng bị bắt lỗi là khi dễ đàn anh.
    Lại bò lê bò càng

    Một câu 'có vẻ' tình người nhất, là hôm chúng tôi được chở ra quân y viện Nha Trang hiến máu. Hiến xong, có bíp tếch, ốp la, thuốc bổ, cà phê sữa... khoan khoái cuộc đời, hổm rày ăn toàn... chửi rủa với hét la. Khi về trại, chúng tôi nghe một lời thảng thốt của ông Thiếu Tá Liên Đoàn Trưởng:
    "Trời ơi! Tụi nó là phi hành mà sao mấy anh bắt tụi nó đi hiến máu. Rồi làm sao huấn nhục được bây giờ.
    Phi-hành cũng có thớ lắm chứ nhỉ! Hà hà. Nhờ vậy mà nghỉ được vài ba ngày. Mấy ông đàn anh đi ngang cứ lườm lườm nguýt nguýt. Kênh kiệu. Gặp các ông khóa 40, 41 hoa-tiêu L-19 mặc áo bay, đội nón đen nón tím coi oai không thể tả. Mà gặp 'tụi nó' là coi như lãnh đủ. Mấy ông nội này mà 'quần' là xỉu dài dài. Thiên hạ đồn rằng 'vì các ông ấy bất mãn không được đi Mỹ lái F-4, F-5 nên trút tất cả bực dọc lên đàn em là những đứa có khả năng đi Mỹ nhiều hơn.' Mỗi lần mấy ổng 'ra tay' là 2 chiếc Dodge pick-up chờ sẵn.
    "Nếu không xỉu 2 phần 3 thì ngày mai chúng tôi sẽ không đi bay!
    “Hai chiếc xe chờ sẵn đây. Một chiếc sẽ chở các ông đi nhà thương. Một chiếc sẽ đi nhà xác nếu cần. Ông nào không đủ sức khỏe sẽ loại ra khỏi Không-quân.
    "Bước ra khỏi hàng. Tại sao niên trưởng đang nói mà ông dám ngáp. Biết các ông mệt, tôi đã cho các ông thoải mái mà các ông còn khi dễ chúng tôi. Nhẩy xổm 100 cái...
    Vua kiếm chuyện!' Làm sao thì làm, các ngài cũng không vừa lòng đẹp ý! Hiệu lệnh được phát động thế là cả đàn kiến lửa cộng thêm kiến có cánh, bò vào xé nát hàng ngũ đàn kiến đen xấu số... Lật! Ngả! Xỉu! Khiêng ra xe. Đủ một xe là phóng đi bệnh xá.
    Tiếng hét, tiếng la, tiếng gào tiếng hài tội. Cảnh áo vàng ka ki láng o đứng nghiêm nghị quắc mắt trước một tên áo treidi ướt đẫm mồ hôi, bèo nhèo, nhăn nhúm, đầu cạo trọc lóc, đứng không vững... là hình ảnh rõ rệt nhất của 'thế giới quân trường'.
    Lật! Lật! Ngả dài dài.
    "Bò! Bò như con chó đó. Sủa lên cho tôi nghe coi.
    "Gâu. Gâu. Gâu.
    "Lăn. Lăn như con heo đó.
    "Ông khiêng cái xắc ma ranh lên khỏi đầu nhẩy cho tôi 100 cái đúng thế. Nhẩy sai đếm lại từ đầu...
    Mệt lả. Khát nước. Mắt mờ đi vì mồ hôi cứ tươm vào mắt. Run rẩy. Hối hận. Phải chi giờ này ở Sài Gòn thì cà phê cà pháo. Khỏe quá. Không biết đào mình ở Sài-gòn bây giờ đang làm gì nhỉ? Chắc em tưởng mình đang 'thụ huấn, học lái máy bay khu trục chiến đấu Skyraider. Đang học oanh tạc, học bắn rocket!!' Ngu! Ngu thiệt! Em đâu ngờ anh bây giờ đang vừa bò vừa sủa như con ki ki nhà em!
    "Ông nhẩy xuống cái ống cống này cho tôi. Nằm xuống. Nhẩy lên. Nhăn cái gì. Chống đối phải không?
    Xe chở đi nhà thương dài dài. Và quả thật có hai thằng phải chở đi nhà xác.
    "Ông nhẩy cho tôi 100 cái công lực. Hai gót chạm mông. Sinh Viên Sĩ Quan mà các ông không có tư cách gì hết ráo.
    Chưa vào lính mà nghe nhẩy xổm sao thấy dễ quá! Nhẩy 25 cái thôi là biết đá biết vàng liền. Từ 5 giờ sáng đến 10 giờ đêm ít ra là khoảng vài ba ngàn cái hít đất, nhẩy cóc nhẩy nhái, nhẩy xổm, bò lê bò lết. Thư sinh cách mấy mà vô đó rồi thì cũng sạm đem. Thịt da săn cứng. Chắc nịch. Hùng dũng. Cô lét tê rôn, chất béo, chất mỡ gì là láng sạch sành sanh. Chạy đường trường năm ba cây số là đồ bỏ.
    Tin đồn huấn nhục chỉ hai tuần thôi mà sao kéo dài đến ba tuần. Rồi bốn tuần. Rồi hai tháng. Chết mẹ chắc 'mấy ổng' quên! Rồi... rồi... ba tháng hơn!
    "A ha ha! Rồi cũng đến ngày gắn An-pha.
    "Các niên trưởng của tôi rước cờ thật đẹp. Cho đến bây giờ tôi chưa thấy đội hầu kỳ nào đi oai phong, hùng dũng và lả lướt như đội hầu kỳ của Sinh Viên Sĩ Quan Không Quân.
    "Quỳ xuống các khóa sinh...
    "Xin thề. Xin thề...
    "Đứng lên các Sinh Viên Sĩ Quan.
    –Đêm trao găng tay trắng diễn ra cảm động. Trong dẫy trại ba rắc, bên ánh nến lung linh mờ ảo. Sau lưng là các khẩu ga răng với dây đeo màu trắng móc chéo vào nhau. Giây phút chờ đợi của SVSQ Không Quân đang đến với chúng tôi đây. Thôi cũng được. Chúng tôi 'tha thứ' cho các niên trưởng đã hành hạ chúng tôi trong ba tháng qua. Toàn thể chúng tôi trong bộ ka ki vàng mới toanh. Từng hàng SVSQ niên trưởng bước vào tươi cười đeo găng cho chúng tôi. Rồi tiệc vui, thoải mái, 'bình đẳng'. Cuộc đời Sinh Viên Sĩ Quan chúng tôi sẽ khỏe khoắn hơn từ đây. Giã-từ những ngày huấn nhục kinh hoàng cho những chàng trai trẻ vừa từ giã chiếc ghế nhà trường. Hôm nay ta ngủ được một giấc ngủ yên lành không chiêm bao mộng mị. Hãy cầu xin trời đất phù hộ cho các đàn anh dù họ đã hành hạ mình quá sức tưởng tượng. Sau cơn mưa trời cũng phải sáng lại mà thôi. Ngủ cho ngon cái đã.
    "Tiếng kẻng báo thức 5 giờ. Bọn SVSQ mới, trở mình nhìn cái Alpha sung sướng.
    Mình là Sinh Viên Sĩ Quan rồi.
    Bỗng cả đám giật bắn người như điện giật, kinh hoàng co giò chạy ào ra còn hơn ma đuổi. Cái giọng hò-hét quát tháo quen thuộc của ông đàn anh lại vang lên:
    "Giờ này còn chưa dậy phải không? Cho các ông khuây khỏa, tự-giác các ông không muốn. Các ông lại muốn hành xác tối đa. Tập họp trong vòng một phút. Nhẩy cho tôi một trăm cái công lực đúng thế. Gắn Alpha rồi mà vẫn còn lè phè ngủ không biết giờ dậy. Từ hôm nay sẽ phạt gấp đôi!"



  7. #5
    Administrator
    hung45qs's Avatar
    Status : hung45qs v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Jul 2009
    Nguyên quán: Los Angeles, California
    Posts: 1,033
    Thanks: 933
    Thanked 2,389 Times in 553 Posts
    Blog Entries: 3

    Default

    Mẫu Chuyện Đời Dang Dở


    Cuộc đời là một trường thiên đại kịch, và kịch trường có những nguyên tắc của nó. Khởi đầu một vở kịch là hình ảnh của một trạng thái quân bình, rồi sự quân bình này bị xáo trộn làm cho khán giả cảm thấy bất an. Sự xáo trộn này vừa không hợp lý và được tạo ra bởi ý muốn của một nhân vật nào đó làm cho khán giả bất mãn. Sự bất hợp lý này phải được giải quyết bởi các nhân vật trong vở kịch. Trong một vở kịch phức tạp có thể có nhiều sự éo le xẩy ra, hoặc trong cùng một lúc để rồi được giải quyết cùng một lần vào đoạn chót, hoặc xẩy ra từng sự việc một và được giải quyết tuần tự.

    Trước khi đi xa hơn, hãy phân biệt rõ ràng thế nào là “vô lý” và thế nào là “bất hợp lý”. Vô lý là khi có kẻ đồn rằng Phạm Công Chiến Thắng dùng Viagra. Chuyện này vô lý, nghĩa là không có lý, ở chỗ anh chàng ngăm đen bình thường trông đã rất khỏe mạnh cường tráng mà lại còn mới lấy vợ trẻ. Còn bất hợp lý, nghĩa là không đúng, là khi có người đề nghị bỏ treo cờ vàng ba sọc đỏ trong ngày họp khóa.


    Bây giờ hãy trở lại đề tài kịch nghệ. Hãy tạm dùng câu truyện cổ tích Thạch Sanh Lý Thông làm thí dụ. Khi vào truyện là một hoàn cảnh thanh bình đẹp đẽ. Hai anh em bạn thân từ tấm bé cùng lớn lên với nhau, một chàng thư sinh theo kinh sử sau làm quan, người kia khéo tay và khỏe mạnh thì thành người tiều phu đốn củi. Một trạng thái quân bình xã hội.

    Trạng thái quân bình đó đã bị lung lay sụp đổ khi công chúa bị chằng tinh bắt đi. Nếu công chúa không may trúng gió chết thì là vì tai nạn, không có gì đáng tức giận, nhưng đây là vì cái ý muốn tai ác của một chằng tinh. Bởi ý muốn đó không phù hợp với ý muốn của mọi người trong truyện như vua cha, triều thần, dân chúng, v.v..., cũng như ý muốn của khán giả, sự việc cần phải được giải quyết.

    Khi Lý Thông tình nguyện mang quân đi dẹp chằng tinh, chàng đã nhờ người bạn cũ giúp sức, và họ đã thành công trong việc giết chằng tinh để cứu công chúa về. Sự quân bình đã được tái lập, và câu chuyện có thể kết thúc mà khán giả không bất mãn, nhưng kết thúc như thế thì tẻ nhạt quá vì không có biến cố chi nhiều. Do đó phải có một sự bất hợp lý khác xẩy ra để tiếp nối câu chuyện. Sự bất hợp lý này đã được thể hiện qua việc Lý Thông bỏ Thạch Sanh lại dưới hang chằng tinh sau khi đã cứu được công chúa. Một lần nữa, ý muốn của Lý Thông không phù hợp với ý muốn yêu chuộng công bằng của đại đa số khán thính giả.

    Sự bất hợp lý đó đã được phanh phui trong bữa tiệc mừng Lý Thông thành phò mã. Cây đàn thần làm từ một khúc gỗ của một cây cổ thụ linh thiêng do chính tay Thạch Sanh đốn mang về trước đó đã lên tiếng hát:

    Đàn kêu tích tịch tình tang
    Ai đem công chúa lên hang mà về?


    Sau khi sự thật đã phơi bày thì dĩ nhiên Lý Thông phải bị trừng phạt, trong khi Thạch Sanh đã được thưởng xứng đáng với công trạng. Trạng thái quân bình hợp lý được tái lập, và người nghe có thể ra về thơ thới hân hoan.

    Vở trường thiên đại kịch là cuộc đời dĩ nhiên là phức tạp hơn nhiều. Vở kịch này hay hay dở là tùy nó có nhiều biến cố hay không, và những biến cố đó có được giải quyết hợp lý hay không.

    Câu chuyện của 72A cũng thế. Nó hay hay dở là tùy nó có nhiều tình tiết hay không, và những tình tiết này có được giải quyết hợp lý hay không.

    Khởi đầu câu chuyện là một thời gian tương đối thanh bình. Thế chiến thứ hai đã qua, những đế quốc đang mất dần thuộc địa và ở Đông Dương thì Pháp đã phải rút lui trả lại độc lập ngay vào khoảng thời gian anh em 72A ra đời. Mọi việc có vẻ rất quân bình hợp lý, nhưng ngay sau đó là đất nước bị phân chia vì ý thức hệ, và trong những năm sau đó thì miền Bắc đã tấn công miền Nam.

    Sự bất hợp lý đó đã là một đám mây mù che phủ cả quãng thời gian thơ ấu cũng như đến lúc trưởng thành của những người bạn 72A. Chính vì cái bất hợp lý đó mà những người bạn 72A đã đăng lính và đã gặp nhau.


    Năm 75 khi miền Nam thất trận thì biến cố này không hợp lý. Tuy nhiên, hãy tạm coi như đó là một tai nạn đi, vì biến cố đó không phải do một cá nhân gây ra, và bởi nó quá lớn cho những anh em 72A, họ cũng không thể làm gì được nữa.

    Sự mất quân bình không phải chỉ có thế thôi. Sau đó là những mảnh đời phiêu bạt. Kẻ chạy được sang ngoại quốc thì ở trong tâm trạng hoang mang thiếu chuẩn bị và chới với trong những môi trường xa lạ không người thân thuộc. Kẻ kẹt lại thì đi học tập ở những chốn rừng thiêng nước độc, cơm không có để ăn, áo quần không có mặc, ốm đau không có thuốc.

    Với thời gian rồi thì những khó khăn của hoàn cảnh cũng dần qua, nhưng hình như trạng thái quân bình vẫn chưa được tái lập. Đây là vì nhiều yếu tố: Thế giới đã thay đổi, con người đã thay đổi, xã hội Việt Nam đã thay đổi. Cái đời sống cũ như anh em 72A đã từng biết và từng chia xẻ đã mất. Nó đã mất quá đột ngột vội vàng. Thời gian qua quá nhanh, hình như có một cái gì đó không hoàn toàn hợp lý. Mỗi người có một cái gì đó không hợp lý mà có thể đã bắt nguồn từ tất cả những biến cố đã kể ngoài khả năng kiểm soát của chính mình, như chiến tranh, biến cố 75, v.v... Nếu sống trong một hoàn cảnh thanh bình, có thể mình đã không chọn cái công việc mình đang làm, có thể mình đã không chọn người bạn đời mà mình đang chung sống, hoặc có thể mình không chọn nơi mình đang ở.

    Bây giờ hãy thử nhìn sơ lược về những gì đã xẩy ra trong suốt thời gian qua của cuộc đời mình và ghi nhận xem mình đã có những gì khả dĩ làm cho mình được hài lòng, cũng như những gì vẫn còn chưa ổn. Qua những sự việc đó, hãy tự hỏi xem trong mỗi hoàn cảnh, mình đã có được sự chọn lựa nào. Dĩ nhiên ai cũng chỉ phải chịu trách nhiệm cho những gì do chính sự chọn lựa của mình đưa tới mà thôi.


  8. #6
    Administrator
    hung45qs's Avatar
    Status : hung45qs v?n ch?a c m?t trong di?n ?n
    Tham gia: Jul 2009
    Nguyên quán: Los Angeles, California
    Posts: 1,033
    Thanks: 933
    Thanked 2,389 Times in 553 Posts
    Blog Entries: 3

    Default

    Bối Cảnh Trước 75


    Hai mươi mấy năm đầu của cuộc đời những thằng sinh viên sĩ quan Không Quân của khoá 72A là những năm có nhiều biến cố lạ trong lịch sử của nước Việt. Từ khi đất nước chia hai, riêng miền Nam đã chứng kiến sự hiện diện của hai cường quốc, hai nền cộng hòa, và hai lần di cư.

    Nói về những nẻo đường đất nước, Bàng Bá Lân đã nói:
    Có thể ví những nẻo đường đất nước ta như những huyết quản chạy khắp châu thân là tổ quốc Việt Nam. Nước Việt Nam ta có một con đường chính nối liền ba miền Bắc, Trung, Nam, đầu gối Nam Quan, chân đạp Cà Mau, dài hơn 2.000 cây số. Con đường ấy thời xa xưa có cái tên rất Việt Nam là đường cái quan, nay là quốc lộ xuyên Việt số 1.

    Vào ngày 7/5/54, quân đội viễn chinh Pháp , một đội quân thiện chiến có hạng trên thế giới với một lịch sử kiêu hùng của hơn ba trăm năm, đã đầu hàng trong trận Điện Biên Phủ. Từ ngày 20/7/54 hiệp định Genève chia đôi đất nước, quốc lộ số 1 đã bị cắt đứt ngang vĩ tuyến 17 tại giòng sông Bến Hải. Trong phần Sông Mẹ của Trường Ca Mẹ Việt Nam, Phạm Duy đã viết:
    Chia tang thương phân tranh mộng đồ vương
    Cho con sông Bến Hải buồn thương
    Chia da thịt tang thương
    Cắt thân hình trơ xương
    Trái tim buồn còn hằn mang vết thương lòng


    Từ sau khi quả bom nguyên tử đầu tiên đã nổ trên Hiroshima, một cuộc chạy đua vũ khí vĩ đại đã diễn ra giữa Nga và Mỹ. Năm 52 thì bom khinh khí với sức mạnh tàn phá 100 lần hơn bom nguyên tử đã ra đời và gây đe dọa trầm trọng cho sự sống còn của nhân loại. Cho đến năm 54 thì miền Nam nước Việt, mà người Pháp gọi là Cochinchine là thuộc địa của Pháp. Trong khi đó thì đối với Bắc Việt là một phần của Indochine, hoặc là Đông Dương, gồm có Việt Miên Lào, thì họ chỉ là chính phủ bảo hộ mà thôi. Miền Trung thì tự trị bởi triều đình nhà Nguyễn. Ở Việt Nam ngày đó có rất nhiều thứ lính. Kể sơ sơ ra cũng đủ thấy ù tai. Nào là Khố Xanh, Khố Đỏ, Khố Vàng , Tẩy , Lê Dương, Pạc Ti Giăng, Lãng Binh, Dõng, Cơ, Lệ, Mã Tà, Mặt Rằn, Phú Lít . Đó là chưa kể tới những quân đội của các giáo phái địa phương không chịu thuộc vào một chính phủ nào.

    Cuộc di cư từ Bắc vào Nam đã chấm dứt vào tháng tư năm 55, và trong năm đó người Pháp đã bắt đầu rút khỏi Đông Dương. Cùng trong năm này, Bức Màn Sắt đã chia cắt Âu Châu làm hai khối. Chín trăm nghìn dân miền Bắc đã di cư vào Nam trong gần một năm sau hiệp định Genève. Theo với họ là những màu sắc tuy xa lạ nhưng rất nên thơ.
    Gió thổi mùa thu hương cốm mới
    Gió thổi heo may về Hà Nội

    Trong những vùng có đông dân di cư chiều cuối tuần những gia đình theo Công giáo hay có họp nhau đọc những câu kinh
    Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời,
    cầu cho chúng con là kẻ có tội
    hoặc:
    Tôi đã phạm tội nhiều trong tư tưởng,
    lời nói, việc làm và những điều thiếu sót:
    lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng

    Trong khi đọc ba lần lời cáo mình trong câu chót, người ta dùng nắm tay đấm nhẹ vào ngực, và do đó mà có kẻ đã dùng chữ “dân đấm ngực” để chỉ những người theo Công giáo.


    Vào năm 54, ông Ngô Đình Diệm đã được người Mỹ đưa sang Pháp để yết kiến Quốc Trưởng Bảo Đại nhận ủy nhiệm thư từ về làm thủ tướng Việt Nam. Lúc bấy giờ quân đội miền Nam nằm dưới quyền chỉ huy của Tổng Tư Lệnh Quân Đội là Trung Tướng Nguyễn Văn Hinh với sự hậu thuẫn của Pháp. Ở Miền Nam thời đó còn có ba thế lực lớn không thuộc chính phủ là Cao Đài, Hòa Hảo, và Bình Xuyên. Riêng Bình Xuyên là một tập thể mạnh hơn cả ở miền Nam. Trong cái tinh thần “cứu khổn phò nguy” của các anh hùng Lương Sơn Bạc, người miền Nam rất ái mộ hai câu thơ sau:
    Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả
    Lâm nguy bất cứu mạc anh hùng

    Vào tháng 10/54, các đảng phái chính trị, tôn giáo, và các nghiệp đoàn đã họp nhau lại và cùng đồng lòng truất phế Quốc Trưởng Bảo Đại và ủng hộ Thủ Tướng Ngô Đình Diệm. Trong năm 55, Ngô Đình Diệm đã bình định miền Nam, và tướng Hinh thì đã lưu vong sang Pháp. Với uy nổi như cồn, đến ngày 20/7/55, Ngô Đình Diệm đã từ chối tham dự cuộc tổng tuyển cử toàn quốc. Vào tháng 9/57, chính phủ Ngô Đình Diệm làm một cuộc tổng tuyển cử ở miền Nam, và ông đã được bầu làm tổng thống. Sau khi nhậm chức xong, giữa lúc tinh thần dân chúng đang lên cao, Ngô Đình Diệm đã hô hào rằng miền Nam lúc đó có ba thứ để cho mọi người cùng chống là Thực, Phong, Cộng. Lòng dân chúng miền Nam lúc đó đều hoan hỉ. Miền Nam như thế là được thái bình từ năm 56 tới 59.

    Từ tháng 4/56 người Mỹ bắt đầu giúp huấn luyện quân đội. Đến tháng 6/57 thì những cơ quan huấn luyện quân sự Pháp mới hoàn toàn rời khỏi miền Nam.
    Dù quân đội Pháp đã rời Việt Nam, nhưng ảnh hưởng của họ vẫn còn khắp nơi. Sàigòn với những ngôi nhà sơn trắng được gọi là Hòn Ngọc Viễn Đông (Perle d’Orient). Những chiếc Traction đen, Simca, Citroen, Peugoet vẫn còn ngày ngày chạy dưới những tàng cây me già trồng dọc theo đường phố Sài Gòn mà hai bên san sát những ngôi nhà quét vôi trắng. Những kiến trúc chính từ dinh Gia Long đến Sở Thú, vườn Tao Đàn, Tòa Đô Chính, Bến Bạch Đằng, chợ Bến Thành, cho đến nơi nghỉ mát của dân Sài Gòn là Ô Cấp (Cap Saint Jacques) đều là của Pháp để lại. Văn chương thì có Những Kẻ Khốn Nạn , Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ , và Vô Gia Đình đã mở ra những chân trời xa lạ làm cho độc giả Việt say mê. Thời đại lãng mạn của Trà Hoa Nữ đã qua. Ảnh hưởng của những nhà thơ lãng mạn Alphonse de Lamartine và Alfred de Vigny và những nhà thơ Việt chịu ảnh hưởng của họ như Xuân Diệu và Huy Cận đã phai mờ. Truyện ngụ ngôn của La Fontaine là những bài học vỡ lòng cho trẻ em:
    Ve sầu kêu ve ve
    Suốt mùa hè
    Đến kỳ gió bấc thổi
    Nguồn cơn thật bối rối
    Một miếng cũng chẳng còn
    Ruồi bọ không một con
    Ve đành phải khúm núm
    Sang chị kiến hàng xóm
    Xin cùng chị cho vay
    Dăm ba hạt qua ngày

    Trong cùng lúc đó thì ảnh hưởng văn chương Trung Hoa vẫn còn sâu đậm. Bài Kẻ Sĩ của Nguyễn Công Trứ không mấy ai là không biết:
    Tước hữu ngũ, sĩ cư kỳ liệt
    Dân hữu tứ, sĩ vi chi tiên
    Có giang sơn thì sĩ đã có tên
    Từ Chu Hán vốn sĩ này là quý

    Hình ảnh nhà nho của thế hệ trước không còn thịnh hành, như cho thấy qua các câu thơ của Vũ Đình Liên:
    Mỗi năm hoa đào nở
    Lại thấy ông đồ già
    Bày mực tàu giấy đỏ
    Bên phố đông người qua
    Hoa tay thảo những nét
    Như phượng múa rồng bay
    Bao nhiêu người thuê viết
    Tấm tắc ngợi khen tài
    ...
    Nhưng mỗi năm mỗi vắng
    Người thuê viết nay đâu
    Giấy đỏ buồn không thắm
    Mực đọng trong nghiên sầu

    Các bài thơ chữ Hán vẫn còn trong chương trình trung học đệ nhị cấp. Cái bài thơ mà thân phụ của thi sĩ Hồ Dzếnh đã đọc bằng tiếng Quảng Đông trong căn phòng trọ khi mới sang Việt Nam tha phương cầu thực chính là bài Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế:
    Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
    Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
    Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
    Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

    mà Tản Đà dịch là:
    Trăng tà tiếng quạ kêu sương
    Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ
    Thuyền ai đậu bến Cô Tô
    Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San

    Trong Người Về Đầu Non, Võ Hồng đã kể lại bài vè ông học vỡ lòng chữ nho mà ông đã đọc như tụng kinh trong khi tay cầm que gõ nhịp làm sứt miệng ống nhổ của ông thầy đồ:
    Tử con, tôn cháu,
    Lục sáu, tam ba
    Gia nhà, quốc nước,
    Tiền trước, hậu sau

    Một điều ngạc nhiên là chữ Nho cũng có những câu thơ tục trào phúng, tỷ dụ như bốn câu sau chỉ cách xem tướng phụ nữ
    Hồng diện đa dâm thủy
    Mi trường hộ tố mao
    Triết yêu chân đại huyệt
    Trường túc bất tri lao.

    mà đã được dịch thành
    Những cô má đỏ hồng hồng
    Nước kia tát bẩy gầu sòng chưa vơi
    Những cô mày rậm mi dài
    Lông tơ đốt được một vài thúng tro
    Những cô thắt đáy tò vò
    Hang hầm rộng phải gọi đò sang ngang
    Những cô cẳng sếu chân giang
    Mỗi đêm thách thức cả làng không thua.

    Người miền Nam với tinh thần hài hước riêng của họ đã cười nhạo những kẻ thuộc thành phần “nho chùm hán(g) rộng” với những câu như sau
    Phòng sản kim tồn thạch bất truy

    Phòng sản là ngừa đẻ nói lái thành “đè ngửa”. Kim tồn là nay còn nói lái thành “con này”. Thạch bất truy là “đá chẳng theo” nói lái thành là “đ. chẳng tha”.
    Chữ quốc ngữ bây giờ đã tìm được chỗ đứng vững vàng của nó. Truyện thơ Kim Vân Kiều của Nguyễn Du đã được chọn cho chương trình trung học đệ nhị cấp thay cho Lục Súc Tranh Công :
    Trời hóa sanh muôn vật
    Đất dung dưỡng mọi loài
    Giống nào là giống chẳng có tài
    Người nào là người không nhờ vật
    Long chức quản bổ thiên dục nhật
    Lân quyền uy giúp thánh phò thần
    Quy thông tư thành bại kiết hung
    Phụng lảu biết thạnh suy bỉ thái

    Còn truyện Kiều thì ai cũng biết:
    Trăm năm trong cõi người ta
    Chữ tài chữ mệnh khéo mà ghét nhau
    Trải qua một cuộc bể dâu
    Những điều trông thấy mà đau đớn lòng

    Một anh học trò cắc cớ nào đó đã sửa lời mấy câu này thành:
    Trăm năm trong cõi người ta
    Chữ chồng chữ vợ khéo mà quải nhau
    Trải qua một cuộc để râu
    Những lần vợ giật mà đau đớn cằm

    Trong chương trình trung học đệ nhất cấp thì có Bích Câu Kỳ Ngộ:
    Thành Tây có cảnh Bích Câu
    Cỏ hoa góp lại một bầu xinh sao
    Đua chen thu cúc xuân đào
    Lựu phun lửa hạ mai chào gió đông

    Ở cấp tiểu học thì có những áng văn xuôi biền ngẫu rất êm tai như bài Tôi Đi Học trích trong một truyện ngắn cùng tên của Thanh Tịnh:
    Hàng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường. Tôi không thể nào quên được những cảm giác trong sáng ấy nẩy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.
    hoặc Tâm Hồn Cao Thượng gồm nhiều bài văn ngắn do Hà Mai Anh dịch từ một quyển sách giáo khoa nguyên tác của Ý Đại Lợi. Dưới đây là một đoạn trích trong bài Học Đường:
    Cố lên! Tên lính nhỏ trong đoàn quân lớn lao kia! Cố lên! Con ơi! Lấy sách vở làm khí giới, lấy lớp học làm quân đội, lấy thế giới làm bãi chiến trường, coi sự ngu dốt là cừu địch và lấy sự văn minh của nhân loại làm cuộc khải hoàn, con phải phấn đấu luôn luôn và chớ hề làm tên lính hèn nhát.

    Tiểu học còn có những bài học thuộc lòng như:
    Tan buổi học mẹ ngồi tựa cửa
    Ngóng trông con đứa đứa về dần
    Xa xa con đã tới gần
    Các con về đủ quây quần bữa ăn
    Cơm dưa muối khó khăn mới có
    Của không ngon nhà khó cũng ngon
    Khi vui câu chuyện thêm dòn
    Chồng chồng vợ vợ con con một nhà

    và học sinh nào cũng thuộc lòng bài Học Sinh Hành Khúc:
    Học sinh là người tổ quốc mong cho mai sau
    Học sinh xây đời niên thiếu trên bao công lao
    Lúc các quốc dân tranh đấu hy sinh cho nền độc lập
    Học sinh nề chi tuổi xanh trong lúc phấn đấu
    Đem hết can trường của người Việt Nam tiến lên

    Trong thời Ngô Đình Diệm làm Tổng Thống khi đi coi hát bóng khán giả phải đứng nghiêm chào cờ, trước là nghe bài quốc ca:
    Này công dân ơi, quốc gia đến ngày giải phóng
    Đồng lòng cùng đi hy sinh tiếc gì thân sống
    Vì tương lai nước Nam
    Cùng xông pha khói tên
    Làm sao cho nước Nam
    Từ nay thêm vững bền

    và sau đó là bài Suy Tôn Ngô Tổng Thống:
    Ai bao năm từng lê gót nơi quê người
    Gương hy sinh thề tranh đấu không hề phai
    ...
    Toàn dân Việt Nam biết ơn Ngô Tổng Thống
    Ngô Tổng Thống Ngô Tổng Thống muôn năm
    Toàn dân Việt Nam nhớ ơn Ngô Tổng Thống
    Xin thượng đế ban phước lành cho ngài!


    Những năm đầu của nền Đệ Nhất Cộng Hòa đã mang đến nhiều hứa hẹn sáng tươi. Việc tốt đẹp đầu tiên là đóng cửa hai khu tứ đổ tường vĩ đại là Kim Chung ở Sài Gòn và Đại Thế Giới trong Chợ Lớn trước đó do Bình Xuyên kiểm soát. Số đề đã bị cấm và được thay bằng vé số Kiến Thiết Quốc Gia. Mỗi chiều thứ ba khi có xổ số ở rạp Thống Nhất thì ai cũng chờ bên cạnh máy thu thanh để nghe trực tiếp truyền thanh kết quả. Vũ Nam Nhuận học ở Võ Trường Toản gần đó cứ trốn học đi coi hoài. Bắt đầu buổi xổ số là giọng Quái kiệt Trần Văn Trạch:
    Kiến Thiết Quốc Gia
    Giúp đồng bào ta
    Mua lấy cửa nhà
    Giàu sang mấy hồi
    Tô điểm giang san
    Qua bao lầm than
    Ta cùng xây đắp
    Chung giấc mộng vàng

    Giấy bạc phát hành bây giờ có in dòng chữ nhỏ “Hình luật phạt khổ sai những kẻ nào giả mạo giấy bạc do Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam phát ra”. Ngày ngày trẻ em đi học mang theo bình mực xanh hay tím với quản bút dùng ngòi viết sắt làm theo hình bầu hay hình lá tre chấm mực. Tập vở Xích Lô Máy có bảng cửu chương đề là Table de Multiplication nhân từ một lần một là một, hai lần một là hai, tới 12 lần 12 là 144.

    Những trường tiểu học quét vôi vàng có trồng cây điệp bông vàng ở sân lâu lâu có chớp bóng những phim cao bồi cỡi ngựa bắn nhau với mọi da đỏ và phim chống muỗi anophen để phòng ngừa sốt rét. Giờ ra chơi mua khoai mì luộc, me ngào hoặc cà rem đậu xanh cắt ra từ những miếng dẹp. Mỗi độ hè về có hoa phượng nở đỏ ven đường. Mùa thu có lá me bay. Những tên đường được đổi từ Catinat, Bonard, và Richaud sang Tự Do, Lê Lợi và Phan Đình Phùng. Những nghệ sĩ di cư sáng tác mạnh. Nhạc thì có Phạm Duy, Phạm Đình Chương. Mai Thảo đã viết những tác phẩm với bối cảnh thời cuộc ở Bắc Việt trong những ngày trước khi vô Nam như Chuyến Tàu Trên Sông Hồng, hoặc Viên Đạn Đồng Chữ Nổi. Vũ Hoàng Chương vẫn nhớ thương cô học trò bé nhỏ của ông ngày xưa khi còn trẻ:
    Mươi hàng chữ đơn sơ, ồ ngượng ngập
    E dè sao mươi hàng chữ đơn sơ
    Màu mực tươi xanh ngát ý mong chờ
    Tình hé nụ bừng thơm trong nếp giấy...
    Ôi thân mến, nhắc làm chi thuở ấy
    Đêm nay đây hồn xế nẻo thu tàn
    Khóc chia lìa ai níu gọi than van
    Ta chỉ biết nằm nghe tình hấp hối

    Có những nghệ sĩ cải lương di cư ca vọng cổ bằng giọng Bắc rất mùi như Kim Chung và Bích Thuận. Cô đào Kim Chung nổi tiếng đến độ mà từ đoàn Kim Chung sau này đã lên tới Kim Chung 7, Kim Chung 8. Sự phát triển mạnh mẽ của cải lương đã dần đưa bộ môn Hát Bội vào bóng tối . Riêng bộ môn Ca Trù, tức là Hát Cô Đầu của miền Bắc sau di cư thì đã biến mất hoàn toàn . Xóm Khâm Thiên ở Hà Nội cũng đã không còn nữa.

    Thanh niên thoải mái mặc “áo chim cò, quần ống túm” chải đầu brillantine bóng mượt và bắt đầu biết lui tới phòng trà nghe nhạc Mambo:
    É Măm Bô
    Đi ra đi vô é
    Là hết năm trăm


    Khi ca sĩ Túy Phượng lên ngôi Nữ Hoàng Nhạc Twist thì mỗi chiều tối về là trong các xóm nghèo dưới ánh đèn dầu mù mờ có tiếng đàn ghi ta phừng phừng với những ca khúc truyền cảm:
    Tôi đi giữa hoàng hôn
    khi ánh chiều buông
    Khi nắng còn vương
    Một mình tôi ngắm cánh chim lạc loài
    Mà lòng mình thấy u hoài

    hoặc là:
    Xuyên lá cành trăng lên lều vải
    Lòng đất ấm thương tình đôi mươi
    Mộc mạc hơn thì:
    Ai đang đi trên đường đê
    Tai lắng nghe muôn câu hò đê mê

    Hai bản nhạc sau này thông dụng đến độ mà con nít đã sửa lời thành:
    Anh hết tiền em đi làm đĩ
    Đời con gái bây giờ lưu manh

    và:
    Ai đang đi trên cầu Bông
    Té xuống sông ướt cái quần ny lông

    Con nít nhà nghèo dù cơm ăn không có nhiều thịt cá nhưng có rất nhiều trò chơi như đánh khăng đánh đáo tạt hình tạt lon đá cá đá dế thả diều. Con gái thì nhẩy dây, lò cò, đánh đũa. Nếu giai đoạn hòa bình này mà cứ kéo dài mãi thì chắc những trẻ em Việt đã lớn lên với tâm hồn trong sáng không hận thù.
    Trong thời gian này, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã thực thi chính sách Cải Cách Ruộng Đất . Để thực hiện chính sách này, ông đã mua đất từ các đại địa chủ bằng công khố phiếu. Dân chúng ở nông thôn bất kỳ là dân miền Nam hoặc Bắc Kỳ di cư đều được chia ruộng. Từ những khu ruộng vườn đó mà mới tạo dựng nên những khu phát triển mới gọi là Khu Trù Mật.

    Gia đình Đỗ Văn Quá 72A, một gia đình theo Công Giáo, là một trường hợp điển hình của Khu Trù Mật. Khi mới di cư vào Nam năm 54 thì gia đình Quá ở Hố Nai. Sau khi bị hỏa hoạn mất nhà thì vào năm 56 gia đình Quá được cho đất về Khu Dinh Điền Cái Sắn thuộc tỉnh Rạch Giá. Khu này ở miệt Hậu Giang cách biển khoảng 40 cây số. Gia đình Quá được cấp cho sáu tháng lương thực, ba mẫu đất, cùng với một chiếc xuồng ba lá nhỏ để làm phương tiện di chuyển. Vùng đất này khi đó còn hoang vu đồng không mông quạnh không có trường học hay đường lộ, và những người về đó “phá sơn lâm, đâm hà bá” là những người đi khai phá. Khu Dinh Điền Cái Sắn là một vùng đất trầm thủy chỉ có một giống cây lác mọc chưa cao tới đầu người. Cứ mỗi năm thì nước ngập hết đất đai hàng tháng trời. Trong nhà thì đắp nền cao nên nước không ngập tới, và trong thời gian này mọi người phải rút vào trong nhà. Muỗi ở đây nhiều vô số kể, tối tối nhà nào cũng phải chui vô trong mùng ngồi ăn cơm. Thịt thì không có sẵn nhưng cá thì rất nhiều, chỉ cần đào một cái đìa nho nhỏ đâu đó là cuối năm tát nước bắt những con cá lóc to bằng bắp đùi phải mang trâu bò ra cộ cá về. Bình thường trong năm thì chỉ cần cất một cái vó xép là cá ăn không hết.


    Sự hiện diện của người Mỹ ở Việt Nam được ghi nhận thoạt tiên qua cái “đèn Hoa Kỳ” và cái “xe Hoa Kỳ”. Những chiếc đèn Hoa Kỳ khi mới đến Việt Nam đã được tặng không. Chiếc đèn ấy dài độ một gang tay, có bình chứa dầu và một ống thủy tinh trên hẹp dưới rộng mà người Nam kêu bằng ống khói hoặc bóng đèn và người Bắc gọi là ống thông phong. Khi dùng thì người ta châm dầu hỏa, tức là dầu hôi, vô bình để cho thấm lên tim đèn, mở bóng châm lửa rồi gắn trở lại. Bấc đèn có thể được điều chỉnh cao thấp bằng một bánh xe vặn cho tim lên xuống. Khi mùa mưa đến, những con mối đâm đầu vào ánh lửa rơi xác vào ngập ống thông phong bốc mùi khét lẹt. Chiếc đèn Hoa Kỳ ngày nay thấy lù mù là thế nhưng so với cây nến hoặc ngọn đèn dầu lạc mà nó thay thế thì nó đã từng là một tiến bộ lớn lao. Nhờ nó mà bao nhiêu nhân tài đã thành người trong mấy thế hệ. Tối tối trong nhà cùng ngồi quanh bàn dưới ánh một cái đèn dầu duy nhất. Cha thì xem báo, mẹ vá thêu, anh chị em thì học bài. Phạm Duy đã ghi lại cảnh này qua mấy câu hát:
    Cha tôi ngồi xem báo
    bên cây đèn dầu hao
    Me tôi ngồi may áo
    Ánh mắt có trăng sao

    Những chiếc xe Hoa Kỳ thì hiếm hoi hơn. Trước ngày di cư, ở Hải Phòng có nhạc sĩ Đoàn Chuẩn làm chủ một chiếc xe Hoa Kỳ mà ai cũng biết. Ở Sài Gòn sau ngày di cư, chúng đậu dọc theo đường Hàm Nghi trước Kho Bạc và Hotel Catinat chờ người thuê đi rước dâu đám cưới. Những chiếc xe này bắt mắt vì trông chúng rất đồ sộ so với những chiếc Citroen, Simca, Peugeot hoặc xe tắc xi Renault của Pháp. Thật ra thì Hoa Kỳ không có bán được cho dân Việt được mấy chiếc xe hơi mới. Những chiếc xe Hoa Kỳ mà dân Việt làm chủ đa số là do những người Mỹ trong phái đoàn ngoại giao làm việc ở Việt Nam mang sang dùng cũ rồi bán lại.

    Thời gian vui mừng của người dân chưa kéo dài được bao lâu thì du kích cộng sản bắt đầu khuấy rối ngay ngoại ô mạn Bắc Sàigòn vào đầu năm 58. Vào tháng 12/60 thì Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam ra đời sau một trận tấn công lớn ở Tây Ninh. Trong tập thể này đã có nhiều nhà trí thức tham gia vì bất mãn để rồi bị chính quyền miền Bắc cô lập sau đó một cách tinh vi.

    Vào giữa năm 61, phi hành gia Yuri Gagarin của Nga và Alan Shepard của Mỹ đã lên được quỹ đạo của trái đất trong không khí phấn khởi của mọi người. Dù ai cũng biết rằng Nga và Mỹ đang chạy đua vũ khí và tranh giành ngôi bá chủ, nhưng sự tiến bộ của khoa học trong bước đầu chinh phục không gian của nhân loại đã mang đến nỗi vui mừng. Trong khi đó thì tháng 9 Cộng quân đã tấn công nhiều nơi ở tỉnh Kontum, và vào tháng 11, Tổng Thống Kennedy đã tăng gia viện trợ quân sự cho miền Nam nhưng chưa có lính tác chiến Mỹ tham gia vào cuộc chiến.

    Tháng 2/62 thì chính sách Ấp Chiến Lược ra đời. Chung quanh vòng đai Ấp Chiến Lược có đào hào cắm chông. Không như các Khu Trù Mật trước đó, sau khi nền Đệ Nhất Cộng Hòa chấm dứt thì các Ấp Chiến Lược hoàn toàn tan rã.

    Tháng 4/63 là lúc khởi đầu chương trình Chiêu Hồi. Tháng 5/63 đồng bào Phật tử xuống đường ở Huế vì các cơ quan võ trang của chính phủ ngăn chặn họ mừng ngày Phật Đản. Vào ngày 11/6, Hòa Thượng Thích Quảng Đức tự thiêu ở Sàigòn. Bức hình ông ngồi xếp bằng trong đám lửa xăng đang cuồn cuộn cháy đã được đăng trên trang đầu của báo chí khắp nơi làm chấn động dư luận thế giới.

    Trong chín năm của thời Đệ Nhất Cộng Hòa đã có tới ba lần đảo chánh. Ngày 11/11/60, một cuộc đảo chánh của quân đội đã không thành công. Ngày 27/2/62 (26/2???) Trung Úy Phạm Phú Quốc và Chuẩn Úy Nguyễn Văn Cử đã dội bom dinh Độc Lập. Ngày 1/11/63 dinh Gia Long đã bị oanh tạc bởi phi cơ của Không Lực Việt Nam Cộng Hòa. Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Cố Vấn Ngô Đình Nhu đã chết vì bị ám hại sau khi vụ đảo chánh thứ ba này đã thành công, và nền Đệ Nhất Cộng Hòa đã chấm dứt sau chín năm. Trong cùng tháng đó, Tổng Thống John F. Kennedy đã bị ám sát ở Dallas, Texas.

    Sau cuộc đảo chánh 63 không lâu thì Nguyễn Hữu Thọ của Mặt Trận Giải Phóng đã tuyên bố với báo chí Úc rằng đó là một ân huệ trời cho với họ, vì những người cầm đầu lực lượng an ninh của miền Nam đã bị thay thế hay xuống chức. Vào giữa năm 64, trong khi các tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa đang tranh chấp, tình thế an ninh càng ngày càng suy kém, để cho bọn cộng sản nằm vùng tự do hoạt động hơn ở các nội thành, nhất là Sàigòn. Ở các ngoại thành thì quân của Mặt Trận Giải Phóng di chuyển dễ dàng và đã tấn công vào các địa điểm trọng yếu của phía bên ta.


    Cùng trong năm 64, tướng William Westmoreland đã sang Việt Nam. Brigitte Bardot của Pháp đã nhường bước cho Marilyn Monroe của Mỹ. Phim cao bồi đánh nhau với mọi da đỏ được chiếu cho bà con coi khỏi trả tiền ở các trường tiểu học cùng với các phim chỉ cách diệt muỗi anophen trừ sốt rét. Các thanh niên mặc quần ống túm áo chim cò và chải đầu bằng brillantine bóng bị các bà già chửi là “đồ cao bồi du đãng”. Với các cụ thì hình ảnh những anh chăn bò lấc cấc trên màn bạc coi không mấy dễ ưa.

    Trong khi tình hình miền Nam rối ren với tướng Nguyễn Khánh lật đổ tướng Dương Văn Minh vào đầu năm 64 thì vào đầu tháng 8/64 người Mỹ đã tuyên bố rằng hai chiếc khu trục hạm của họ đã bị tàu Bắc Việt tấn công . Để trả đũa, Đệ Thất Hạm Đội đã tấn công các căn cứ quân sự Bắc Việt. Cuối năm 64 và đầu năm 65 Cộng quân đã khủng bố các cơ quan quân sự Mỹ ở Sàigòn, Pleiku, và Qui Nhơn.

    Vào thời điểm này thì những chàng trai 72A đang lớn. Họ bắt đầu biết say mê giọng ca Thanh Tuyền trong Nỗi Buồn Hoa Phượng:
    Mỗi năm đến hè lòng man mác buồn
    Chín mươi ngày qua chứa chan tình thương

    hoặc Thanh Thúy trong Tàu Đêm Năm Cũ:
    Trời đêm dần tàn,
    tôi đến sân ga đưa tiễn người trai đi về ngàn

    cũng như Phương Dung trong Nỗi Buồn Gác Trọ:
    Gác trọ về khuya cơn gió lùa
    Trăng gầy ngiêng bóng cài song thưa

    Từ tháng giêng năm 65 lính Nam Hàn đã sang miền Nam. Từ tháng 3 là Mỹ dội bom Bắc Việt và đưa lính tác chiến sang. Sau đó là lính Phi, Thái, Tân Tây Lan, Úc Đại Lợi. Trong tháng 11 là những cuộc biểu tình phản chiến đã lan rộng khắp nước Mỹ. Con số lính Mỹ tăng dần cho đến cuối năm 68 thì đã lên tới con số cao nhất là 536.100 người.

    Sau khi tướng Nguyễn Khánh đi lưu vong vào tháng 1/65, vào tháng 6 thì Hội Đồng Lãnh Đạo Quốc Gia do Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu cầm đầu đã bổ nhiệm Thiếu Tướng Tư Lệnh Không Quân Nguyễn Cao Kỳ làm thủ tướng. Sau đó thì Nguyễn Văn Thiệu đã được bầu làm Tổng Thống thứ nhì của Việt Nam Cộng Hòa trong cùng liên danh với Nguyễn Cao Kỳ, nhậm chức vào năm 67. Vào năm 71, Nguyễn Văn Thiệu đã tiếp tục nhiệm kỳ hai với Phó Tổng Thống Trần Văn Hương sau một cuộc bầu cử không có liên danh đối lập .


    Vào tết Mậu Thân, ngày 1/2/68, một nhiếp ảnh gia của Thông Tấn Xã Hoa Kỳ tên là Eddie Adams đã chụp được tấm ảnh Chuẩn Tướng Cảnh Sát Nguyễn Ngọc Loan xử tử một tù binh Việt cộng đang bị trói tên là Bảy Lúp. Khi tấm ảnh này chạy trên những trang báo với tít lớn ở hậu phương nước Mỹ, người dân Mỹ đã nêu lên một câu hỏi cho chính phủ Hoa Kỳ rằng “Đây có phải là cái dân chủ tự do mà chúng ta đang bảo vệ hay không? ” Ít có ai có thì giờ tìm biết sự thật bên dưới rằng ông Loan đã bắn tên tù binh đó vì hắn là một đại úy Việt Cộng vừa mới giết cả một gia đình của một cảnh sát viên. Khi hiểu ra sự thật đó, chính Eddie Adams đã khóc trong ngày ông Loan mất vì những thiệt hại mà tấm ảnh đã mang đến cho ông ta vào lúc sinh thời.

    Đầu năm 68 nhằm tết Mậu Thân cộng quân đã tấn công khắp nơi trên lãnh thổ Nam Việt từ ngày 30/1/68 cho tới hết tháng 2/68. Sau biến cố Mậu Thân thì các thanh niên phải tham gia Nhân Dân Tự Vệ để tối tối đi gác cũng như trước kia thanh niên phải vào Dân Vệ dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Những chàng trai của 72A đã từ giã tuổi thơ ngây để đi lấy Lược Giải Cá Nhân. Họ thao thức khi nghe những bài hát nói lên tâm trạng của người trai thời loạn những bài hát báo hiệu cho những gì đang chờ họ. Một thí dụ là bài Biển Mặn của Trần Thiện Thanh sáng tác và Nhật Trường trình bày:
    Tôi thức từng đêm,
    thơ ấu mà nghe muối pha trong lòng
    Mẹ là mẹ trùng dương,
    gào than từ bãi trước ghềnh sau
    Tuổi đời qua mau,
    nước biển mặn nuôi lớn khôn tôi
    nên năm hăm mốt tuổi
    tôi đi vào quân đội
    mà lòng mình chưa hề yêu ai
    hoặc Những Ngày Xưa Thân Ái do Duy Khánh hát:
    Những ngày xưa thân ái
    Anh gửi lại cho ai?
    Trăng mùa thu lên cao
    Bóng dừa xanh lao xao
    Anh cùng tôi trốn ngủ
    Ra ngồi xem lá đổ
    Vui hơn thì có Hùng Cường và Mai Lệ Huyền trong các bài ngợi ca đời lính:
    Anh là lính đa tình
    Tình non sông rất nặng
    Tình hải hồ ôm mộng
    Tình vũ trụ ngát xanh

    Văn nghệ ở miền Nam lúc này phát triển mạnh. Các bài ca tân cổ giao duyên trở thành quen thuộc. Mỗi sáng thứ bảy có đại nhạc hội tuyển lựa ca sĩ ở rạp Quốc Thanh qua đủ ba kỳ phúc khảo bán kết chung kết. Mỗi tuần một lần có chương trình ngâm thơ Tao Đàn do thi sĩ Đinh Hùng sáng lập với giọng ngâm bất hủ của Hồ Điệp . Trong chương trình Tiếng Tơ Đồng có các giọng ca Mai Hương, Thái Thanh người ta đã nghe lại được bài hát tân nhạc đầu tiên của Việt Nam do Thẩm Oánh sáng tác:
    Đôi oanh vàng
    Trong mây bạc
    Say sưa tạt sang đồi
    Tìm tổ ấm sánh đôi

    Trong địa hạt thơ, những thi sĩ mới đã tách rời những thể thơ Đường luật. Phạm Công Thiện trong thể thơ tự do trong toàn tập Ngày Sanh Của Rắn không có chữ nào viết hoa:
    bây giờ anh xa hương tới mấy đại dương xanh
    mấy phương trời cỏ mọc
    mấy phương trời hương khóc
    Trần Dạ Từ da diết hơn với:
    Thuở làm thơ yêu em
    Trời mưa không ướt áo
    Hoa cúc vàng chân thềm
    Gió mây giăng bờ dậu

    Bùi Giáng với khả năng dùng chữ trác tuyệt đã cho ra đời những câu thơ rất lạ như:
    Em về giũ áo mù sa
    Trút quần phong nhụy cho tà huy bay

    hoặc là:
    Quần sẽ đỏ từ khi trăng là nguyệt
    Kinh là kỳ từ phố quận tân toan
    Bạo dạn hơn nữa là Nguyễn Đức Sơn với:
    Năm mười bốn có lần anh ngó thấy
    Em ở truồng ngoe nguẩy cuối vườn trăng
    Khắp bầu trời ướp mượt cả lông măng
    Em chưa đái mà hồn anh đã ướt

    Nhiều bài thơ hay đã được Phạm Duy phổ nhạc, tỷ dụ như những câu sau của Cung Trầm Tưởng
    Lên xe tiễn em đi
    Chưa bao giờ buồn thế
    Trời mùa Đông Paris
    Suốt đời làm chia ly

    Đây là lúc mà truyện Trung Hoa hiện đại đang trở thành phổ thông. Những bộ Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa, Tây Du Ký, Thủy Hử bây giờ được thay thế bằng Mùa Thu Lá Bay của Quỳnh Dao hoặc Anh Hùng Xạ Điêu của Kim Dung. Tiểu thuyết Nhật như Ngàn Cánh Hạc của Kuwabata hoặc Kim Các Tự của Mishima cũng đã được chào đón nồng nhiệt trong giới sinh viên. Herman Hesse với Câu Chuyện Giòng Sông hoặc Erich Maria Remarque trong Mặt Trận Miền Tây Vẫn Yên Tĩnh. Tập san Văn đã góp phần cho ra đời nhiều bản dịch như Mặt Trời Mù của nhà văn Ý Đại Lợi Malaparte mà trong đó khi một viên đại úy pháo binh đứng nhìn ra cửa sổ căn buồng khách sạn đã nhìn thấy “ngọn Bạch Sơn ánh thép chém loang loáng”, và khi cô bồi phòng lách người đi ra thì ông đã thấy “khuỷu tay chàng vú chạm mềm vào.” Chân Dung Nàng Thơ dịch từ tiếng Pháp, cho đến những tác phẩm có mầu sắc chính trị lịch sử như Niki Truyện Con Chó dịch từ tiếng Hung Gia Lợi, hoặc Bác Sĩ Zhivago của Nga.

    Vào cuối thập niên 60, ảnh hưởng của Pháp đã phai mờ lắm rồi. Sylvie Vartan với mái tóc ngắn trong Ce Soir Je Serais La Plus Belle Pour Aller Danser trên màn ảnh truyền hình đen trắng trông vẫn bắt mắt, nhưng không bằng Thanh Lan với đôi mắt to nửa ngây thơ nửa dạn dĩ. Không có thẻ hội viên để vào Cercle Sportif bơi thì ta đi hồ Nguyễn Bỉnh Khiêm để sau đó còn ăn bánh mì kẹp thịt nướng. Không được vào Trung Tâm Văn Hóa Pháp xem phim Thằng Gù Nhà Thờ Đức Bà thì ta ra rạp coi phim có phụ đề Việt Ngữ của các tài tử Mỹ Anthony Quinn, Yul Brynner, hoặc Charles Bronson đóng. Không xem BB thì ta coi tạm CC, MM , hoặc Sophia Loren cũng đỡ ghiền.
    Với cái vô tuyến truyền hình là những vở thoại kịch do Túy Hồng, La Thoại Tân, Thẩm Thúy Hằng, và Kim Cương đóng. Riết rồi hết đề tài để giữ chương trình hàng tuần, người ta bắt đầu cho ra những vở kịch dài, như là vở kịch ma Người Về Lúc Không Giờ.
    Khi anh em bắt đầu vô trung học là bắt đầu được mấy thằng bạn lớn hơn chuyền tay cho đọc tập Bẩy Đêm Khoái Lạc quay ronéo mực tím. Truyện viết dù không táo bạo nhưng có những chữ rất tượng hình như kiểu “vác cày qua núi”, “bà già ôm thúng”, hoặc là “bà kia xay bột” gợi cho những bộ óc còn non nớt những khung cảnh rất huyền ảo say sưa. Những tấm hình đen trắng chụp đi chụp lại nhiều lần mờ mịt mỗi tấm một người đàn bà trẻ trong tư thế sẵn sàng và rất gần gũi thiên nhiên làm điêu đứng những tâm hồn non trẻ.

    Về phần thể thao thì có trực tiếp truyền thanh các trận túc cầu vào chiều thứ bẩy. Những cái tên cầu thủ như Rạng, Tam Lang trở thành quen thuộc. Viện Nhu Đạo Quang Trung với Thượng Tọa Thích Tâm Giác ngày càng đông võ sinh, trong khi các trường dạy Thái Cực Đạo được mở ra khắp nơi. Trường Đua Phú Thọ hàng tuần vẫn đông nghẹt khán giả, và những vụ cáp độ vẫn xẩy ra sôi nổi.

    Trong thời gian đó, mỗi năm vào dịp Giáng Sinh đi qua những vùng đông người Bắc di cư, những biểu ngữ:
    Sáng danh Chúa Cả trên trời
    Bằng an dưới thế cho người thiện tâm
    đã được thay bằng những chữ nhiều vần bằng hơn:
    Vinh danh Thiên Chúa trên trời
    Bình an dưới thế cho người thiện tâm

    Gần chợ Bến Thành, nơi trưng bày đầy những tấm biển quảng cáo kem đánh răng Anh Chà Hynos và Leyna Kem Trắng Chỉ Hồng, mỗi tháng sáu người ta lại thấy chăng biểu ngữ:
    Hai mươi tháng bẩy năm tư,
    Giặc Hồ chia rẽ cơ đồ Việt Nam.

    Lên trung học thì học sinh không còn dùng viết chấm mực mà dùng viết máy bơm mực hiệu Pilot hoặc Parker.
    Có lẽ nhờ sự cố vấn của người Mỹ về các đặc tính của nền dân chủ mà người ta thấy có nhiều thay đổi. Câu “Kinh Thượng Một Nhà” trở nên quen thuộc. Các ứng cử viên thượng và hạ nghị viện lên vô tuyến truyền hình tranh cử rầm rộ, nhiều người nói tiếng Việt không rành. Nhờ tự do ngôn luận phỏng theo gương của Mỹ mà báo cứ ra như nấm. Thích chửi thì đọc Con Ong. Muốn đọc những bài trung thực hơn hoặc muốn xem rao vặt thì có Chính Luận. Vài tờ báo bị đục trắng loang lổ. Chương trình Hữu Sản Hóa Đồng Bào Vô Sản cũng như Người Cày Có Ruộng đã thêm vào đường phố những chiếc xa Lam 3 bánh có hai băng ghế sau mà trên nguyên tắc mỗi bên ngồi được bốn người, mà trên thực tế thì chở năm, kèm theo hai người ngồi ké hai bên tài xế làm cho xích lô máy và xích lô đạp bị ế. Xe ô tô buýt của Công Quản Chuyên Chở Công Cộng Đô Thành thì ít người đi hơn vì chờ lâu và lên xuống bất tiện. Những chiếc xe thổ mộ quang gánh chất đầy mui được kéo bởi những con ngựa gầy gò cũng dần dà ít thấy. Trong năm 67 loạt đầu của những chiếc xe Honda dame đỏ và Vespa đã được bán cho công chức với giá rẻ. Những chiếc Goebel, Mobylette, Puch ba đèn, và Velosolex bắt đầu bị sa thải. Mỗi lần đi xem chớp bóng là phải xem phim quảng cáo xe Suzuki “an toàn trên xa lộ, thanh lịch trong thành phố, tiện lợi khi vào ngõ hẹp” hoặc “hôm nay tôi ra đường nhiều người nhòm ngó tôi bởi vì tôi đeo chiếc đồng hồ Seiko mắt diều hâu”.
    Về phía bên kia bán cầu, từ khi Tổng Thống Kennedy mất thì lời hứa thực thi công bằng xã hội để dựng xây một cuộc sống tốt đẹp hơn cho mọi công dân trên toàn cầu đã đi vào quên lãng. Sau vụ thảm sát Mỹ Lai xẩy ra vào giữa tháng 3/68, cuộc họp đầu tiên giữa Harriman và Xuân Thủy đã diễn ra ở Hòa Đàm Ba Lê vào ngày 10/5. Hòa đàm kéo dài cho đến ngày 15/12/69 thì Nixon tuyên bố sẽ rút là sẽ rút bớt một phần ba quân số tại Việt Nam cho đến ngày 15/3/70.

    Không lâu sau khi Nixon tự hào rằng phi hành gia Neil Armstrong đã lên tới mặt trăng trong năm đầu tiên ông nhậm chức thì vào tháng 5/70, Vệ Binh Quốc Gia Hoa Kỳ đã nổ súng vào những sinh viên của đại học Ken State đang biểu tình chống chiến tranh Việt Nam làm cho bốn sinh viên bị thiệt mạng. Biến cố này đã làm cho những người Hoa Kỳ ít quan tâm tới chính trị nay cũng lên tiếng phản đối chính phủ. Cùng với sự leo thang của những cuộc biểu tình phản chiến kéo dài sang năm 71 thì Nixon đã thông thương với Trung Cộng. Năm 72, khi Kissinger và Nixon hòa đàm với Nga và viếng thăm Mao Trạch Đông ở Hoa Lục thì ngày 1/5/72 Quảng Trị mất cho đến ngày 16/9 mới chiếm lại được.

    Ngày 27/1/73 Hiệp Định Ba Lê đã được ký kết và chiến tranh Việt Nam đã coi như là chấm dứt. Khi nghe tin này loan báo qua radio, anh em 72A reo hò vui mừng trong khắp các barracks trong khi minigun vẫn bắn như bò kêu trong khu Đồng Bò. Sau đó, quân đội Mỹ đã tiếp tục rút khỏi Việt Nam theo hiệp định, và đến ngày 22/3/73, người lính Mỹ cuối cùng mới rời khỏi Việt Nam.

    Dù hòa ước đã được ký kết nhưng quân Cộng Sản vẫn tiếp tục cuộc chiến xâm lược. Ngày 27/1/74, tức là đúng một năm sau khi hòa ước Ba Lê được ký kết, miền Nam lên tiếng công bố rằng 13.778 quân nhân và 2.159 thường dân đã chết dưới tay Cộng Quân trong một năm qua.
    Ngày 21/4/75, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức. Phó Tổng Thống Trần Văn Hương lên thay. Ngày 28/4/75 ông Hương nhường chức lại cho Đại Tướng Dương Văn Minh. Ngày 30/4 lính Bắc Việt vào Sàigòn, và ông Minh tuyên bố đầu hàng.


Trang 1/4 123 ... cuốicuối

Similar Threads

  1. Nỗi nhớ hắt hiu
    By hung45qs in forum TL Hội ngộ LK Kỳ 3
    Trả lời: 0
    Bài mới nhất : 11-17-2010, 04:57 PM
  2. 45 năm phi hành gia Mỹ đi bộ ra ngoài không gian
    By PS khoá 72G in forum Sưu Tầm, Biên Khảo
    Trả lời: 0
    Bài mới nhất : 06-12-2010, 03:45 PM
  3. Không Gian Tưởng Nhớ : Trung Úy Trần Văn Bảo
    By Raptor in forum Anh Hùng Tử Sĩ
    Trả lời: 1
    Bài mới nhất : 05-22-2009, 02:49 AM

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •  
Hội Quán Phi Dũng created by Liên Khóa 72 - 73 SVSQKQ / QLVNCH

Hit Counters
Hit Counters