CổNG Số 9 TRƯỜNG BỘ BINH LONG THÀNH
NGÀY 30 THÁNH 4 NĂM 75


NT 73F THÂN MẾN!

Đọc bài "Trận đánh không có Đại bàng" cùng ký tên của ba người là: Lê Nguyễn, Trần văn Trung và Hải Triều, đọc xong tôi nhận thấy cần phải bổ túc thêm cho chính xác, vì khóa 73F của chúng ta và một số ít SVSQ/KQ khóa khác là quân chủ lực của Trường Thủ Đức trong ngày 30-4-1975, bản thân tôi xin kể lại những gì mà mình nhớ được trong trí nhớ của mình.


Tiểu đoàn Không Quân của trường Bộ Binh Long Thành gồm những SVSQ từ khắp mọi nơi qui tụ về, từ những chàng đang học bay bên Mỹ, từ những chàng đã đậu Anh ngử và đang chờ đi Mỹ cùng các bạn ở Macv, Nha Trang v..v đều có cùng chung số phận vì sự bôi tín mà Hoa kỳ đã cúp ngang ngân khoảng viện trợ từ 600 triệu US $ xuống 300 và triệt tiêu ở con số zero, mộng bay bổng tan tành, Tiểu đoàn Không Quân được thành lập tại Trường Bộ Binh Long Thành vào đầu năm 1974.

Giai đoạn thụ huấn của SVSQ Thủ đức là 9 tháng, cho nên trong vài ngày cuối của cuộc chiến, các khóa khác đã ra trường, còn lại Không Quân là khóa sinh kỳ cựu, hơn nửa tính từ ngày nhập ngủ đến tháng tư đen chúng ta ai cũng tròm trèm gần ba tuổi lính, có một số khóa đàn anh tuổi lính càng cao hơn, còn Sinh viên của trường Võ Bị Đà Lạt và trường Chiến tranh Chính trị chạy về thì phong độ không còn, có một khóa làm lể ra trường tại Long Thành chỉ học có 3 năm, các Sỉ Quan học Bộ Binh Trung cấp thì không có súng ống gì, các trường khác như Tình báo cũng vậy, di tản từ Long Thành về Thủ Đức vào ngày 28-4-75, Sinh viên Sỉ Quan Không Quân được phân chia làm kháng tuyến chính án ngử bốn mặt của quân trường, được trang bị một hỏa lực tối đa ngoài cấp số, hơn hẳn những cấp số 2, 3 của những đơn vị tác chiến ngoài chiến trường mà chúng ta được biết.

Tất cả những đơn vị khác là khách cho nên được ở bên trong làm quân trừ bị, được gọi là Kháng tuyến phụ, ngoài M72 còn được phát thêm nhiều thùng đạn M79 chống chiến xa đầu đạn dài hơn đạn thường bắn vào vùng tử giác, mìn, lựu đạn M26 thì quá nhiêu ,theo bài bản quân trường thì hỏa lực của chúng ta được trang bị kinh hồn, hơn nửa chúng ta từng đã học Quân sự taị trường Phi Dũng của Không quân, mượn những bải tập của trường Đồng Đề, về Bộ Binh sơ cấp , cấp trung đội trưởng chúng ta bị đã học tới học lui đến binh pháp lào thông, nhàm chán, có thể làm huấn luyện viên về môn cơ bản thao diển, chưa ra trường nhưng chúng ta đủ trình độ của một anh lính chuyên nghiệp để bắn đủ loại súng, không hoang mang khi thấy chiến xa T54 địch đang rầm rì tiến vào căn cứ với đại bác to nòng đang pháo ầm ì.

Thông thường thì Trung uý Sáng, Sĩ Quan Liên Lạc Không Quân phát lương vào ngày 20 hoặc 21 mỗi tháng , nhưng tháng tư 75 chờ mãi không thấy, để trả nợ và chi phí cho bao tử nên khi vừa về tới Thủ Đức tôi phải cầm ngay cái đồng hồ Rado kỷ niệm, địa hình địa vật của trường nầy tôi không biết nhiều vì phải canh gác và túi thì rổng tuyếch, vì ở đây chỉ có vài ngày phù du.

Dưới quyền Đạị úy Thu, Đại Đội Trưởng, Trung Úy Triều Trung Đội Trưởng, đại đội 4 mang khăn màu vàng trong đó có tôi được đóng quân ngay cổng số 9 của quân trường Thủ Đức, cổng số 9 phía trước có những thùng phuy làm hàng rào cản, dọc theo tuyến là một hàng rào kẽm gai, ngoài lớp kẽm gai là một giao thông hào lớn giống như trường Long Thành mà khi chúng ta mới về được Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi thay thế Trung Tướng Nguyễn văn Minh, Tướng Nghi đã cho một tiểu đoàn công binh đào chung quanh căn cứ Long Thành, bề ngang rộng và sâu để cản chiến xa, tank sẽ bị sụp hầm nếu càn qua, xa hơn là một khoảng đồng trống và xa hơn nữa là một xóm nhà với những nóc nhà màu trắng xen kẽ đỏ xám, trộn lẩn với cây cối xanh rì, tầm xa khoảng 700 đến 1km, đêm 29 ngồi gác nghe rỏ những âm thanh của phèn la, chiên trống , tiếng phát loa văng vẳng từ xóm nhà trước mặt, có lẻ là họ tổ chức biểu tình.

Hai cái poncho kết lại thành túp lều lý tưởng, lều chõng được giăng bên trong tuyến rợp rời, kế sát một giao thông hào nhỏ chạy dài theo tuyến thủ, nón sắt, lưỡi lê, balo, mìn , lựu đạn, M72, M79, M26, M16, M60, những thùng lựu đạn, thùng là thùng, thùng đại liên , những dây đạn được mang đầy mình vì ai đó tung tin rất có lý là sẽ chống miểng hay đạn ghim vào người, đầy đủ quân số, cấp số dư thừa, hỏa lực đủ niềm tin khi giáp trận.

Trong khí thế sẳn sàng, trận chiến đang hồi hộp không biết sẽ xãy ra trong giây phút nào, tin Biên Hòa Thất thủ, tất cả những phi cơ đủ loại bay rợp trời về hướng Sài gòn trong đêm tối, những tiếng đì đùng ầm ĩ vang vọng từ xa, những ánh lửa nháng lên tứ phía, tin nghe được Long thành bị mất, Long Bình kho đạn bị nổ, Thủ đức đã kề bên, súng đạn đã lên nòng trong hồi họp lo âu, thì hởi ôi một tiếng nổ lớn đau lòng đã làm bay nguyên một bàn tay của AC Nguyễn văn Bình do cây M72 mà anh giương sẳn kế lều của tôi, NT Bình từ Mỹ về đang học bay trực thăng và cùng chung Trung đội với tôi, anh ta có cái răng vàng duyên dáng, giọng nói miền Trung, tôi không biết anh thuộc khóa nào của Không Quân chúng ta, giờ nầy anh ra sao ?

Chỉa súng ra ngoài , về hướng phải của cổng số 9 khoảng 150 m có một cái lô cốt bằng xi măng lớn có nhiều lổ châu mai, Tuần sự đại đôi 4 khăn vàng đóng đô tại đó, có máy truyền tin , chất chứa rất nhiều thùng đạn dự trữ đủ loại, lều của tôi căng ngay tại đó.

Tình hình căng thẳng nên sự canh gác rất cẩn mật, những diển tiến chung quanh quân trường Thủ Đức tôi không biết gì, những Đại Đôi khăn đỏ, khăn xanh , khăn tím của Không Quân đóng ở tuyến số mấy bao quanh quân trường tôi không biết được, nhờ quý NT bổ túc, hơn nửa chúng ta không phải là cấp chỉ huy nên tình hình càng mù tịt, làm sao mà nghe những mẫu đối thoại giữa cán binh nói chuyện và bàn tính với nhau, làm sao biết được những ý định của địch, làm sao biết hết tình hình trận địa, do đó tôi chỉ nói về cổng số 9 của sáng 30.

Tiếng súng cắt bùm hòa lẩn những tràng liên thanh hàng loạt thỉnh thoảng vang lên cộng thêm tiếng phèn la phát ra từ xóm nhà trước mặt, Đạị Đội 4 không tài nào ngủ được trong cái đêm 29 nầy, thằng gác cũng như thằng ngủ đều chập chờn căng thẳng cho đến rạng sáng 30.

Mờ sáng nhưng không nhìn thấy được gì ngoài đám sương mù dày đặc trắng xóa che mất tầm nhìn trước mặt, được tan dần theo ánh nắng mặt trời le lói chiếu nhẹ nhàng trong buổi sáng nhiều sương, từ từ nhìn được khoảng cách xa hơn, 10m, 20m , rồi 30m, bổng nhiều tiếng la hốt hoảng " xe tăng xe tăng " vang lên dọc theo tuyến thủ, đang ngồi trong lo cốt tôi chạy ra ngoài nhìn ra chẳng thầy gì hết mà chỉ nghe tiếng rầm rì của xe tăng đang lăn bánh, vài phút sau thì hiện rỏ ra một chiếc tank đang chạy về hướng quân trường, ngay trước mặt tôi, nhìn kỷ hơn thì thấy một lá cờ xanh đỏ với ngôi sao vàng nhấp nhô trong những bụi chà chôm của những cành cây ngụy trang trên xe, khoảng cách chừng 30 tới 40m, không biết lệnh lạc từ đâu súng đã nổ dòn tan dọc theo tuyến của cổng số 9, rồi thì trận địa bắt đầu, nòng súng của chiếc T54 phun ra lửa khói, tiếng đạn rít ngang đầu bay vào bên trong liên tục, tiếng ngói đổ rì rào sình đất bay tứ tung , đủ loại tiếng nổ và ánh sang nhấp nhóe tạo nên chiến trường thật sự, lửa đủ màu bay quanh chiếc tank mà nó cứ tiếp tục lăn bánh gần sát giao thông hào, những ngọn lửa của M72 che khuất chiếc xe cùng theo những tiếng "cháy rồi, cháy rồi " inh ỏi, lửa tắt bánh xe vẫn còn lăn, nhiều ngọn lửa khác tiếp tục, nòng đại bác của tank vẫn đều đều phun lửa, tiếng ì ầm vẫn rền vang toàn khu vực, tôi bò ra ngoài giao thông hào vì sợ nó quay nòng vào lô cốt thì mình phải chầu diêm vương, ai bắn mặc ai tôi cứ mò mẩm chung quanh thân mình để coi đã bị thương chổ nào rồi , may quá chỉ là sình đất mà thôi, vài phút tỉnh hồn ngẩng đầu lên thì chiếc tank vẫn còn nổ máy đang trước mặt mình vài thước, nó bị khựng lại bởi giao thông hào cứu mạng, tôi giương cây M72 của mình chỉa thẳng vào xe và nhấn nút, ngọn lửa đã phà bít chiếc xe và chính miệng tôi cũng reo vang " cháy rồi " rất lớn, máy xe vẫn còn nổ và nòng súng vẫn còn phun lửa, Kỳ nầy chết chắc thật rồi, tôi than thầm trong bụng và chưởi thề mấy thằng quỷ bạn cách vài chục thước hai bên trái phải của tôi sao không chịu bắn vào giây xích với góc độ 60 độ ,như những lần thực tập, mà cứ bắn trợt qua trợt lại, nhìn lên chiếc tank xuyên qua miếng sắt chắn đạn tôi thấy ánh mắt hốt hoảng của anh tài xế xe tank, cứu mạng tôi thì anh phải chết, tôi nâng cây M16 lên và nhắm vào mắt của anh bò bóp cò từng viên một, anh cho xe thụt lùi và chạy nhanh qua cổng số 9 ngay chổ của đám Huỳnh Phú Hiếu vào bên trong sau lưng bọn tôi, chúng tôi không biết phải làm gì, tiếng súng tại cổng 9 không còn nửa và chiếc tank nầy bị bắn cháy gần cổng số 1, do Đại Đội mấy của Không Quân bắn thì tôi không biết được.

Lệnh đầu hàng từ lúc nào không ai được biết, Sỉ Quan trực không liên lạc được một ai, tôi chỉ nhớ có một ông Thiếu tá rất nhỏ con, có râu, mang ống dòm với huy hiệu trường Võ Bị Đà Lạt, lái chiếc xe Jeep thắng lại cổng 9 và khen rằng: "Mấy anh Không Quân hay quá ", rồi khui một thùng Ruby Quân Tiếp vụ tặng thưởng, tôi được một gói trước khi tan hàng, khoảng 2 giờ trưa ngày 30-4-75.

Thằng Nguyễn Văn Quới cùng lều với tôi đã khóc sướt mướt, nó còn lay quay lo gài lựu đạn và mìn, tôi phải khuyên nó gài chốt lại.

Lạc Vệ Hùng rất ba gai trong Đại Đội 4, nên được chọn là Trưởng ban Kỷ Luật, nó vẫn ba gai chạy tới, chạy lui theo tuyến, trong lúc mọi người dưới giao thông hào, hình ảnh đó thật khó quên, không biết nó có cùng khóa 73F của chúng ta hay không?

Sau nầy nghe kể lại thì Trịnh Văn Tá của khoá 73F và một số Sinh viên sĩ Quan của khóa khác đã tử thương trong trận chiến giờ thứ 25 nầy vì đạn pháo của tank 54 bắn trực xạ không có mục tiêu nhứt định, hơn nửa nó đang hốt hoảng chạy chết, khi tank 54 bị bắn đứt giây sên nằm ỳ một chổ thì có hai Sinh viên Sĩ Quan Không Quân rút chốt lựu đạn nhảy tới và trèo lên mở nấp tung lựu đạn M26 vào , theo lời kể của NT C thuộc đại đội khăn đỏ thì màn nầy còn hấp dẩn hơn xi- nê của HOLLYWOOD rất nhiều, vì xảy ra trong tích tắc, nhanh va chính xác, sau đó thì thép của Nga Sô đã bốc cháy dể dàng.

Trong tâm trạng là một xác người biết đi, tôi cởi bỏ áo trận chỉ còn áo thun trắng, vẫn mang đôi giày bố cùng một đám bạn rời bỏ Trường Thủ Đức lội bộ về tới Sài Gòn thì màn đêm đả xuống, đài phát thanh Thủ Đô không còn những tiếng nói quen thuộc nữa mà thay vào những âm thanh chát chúa lanh lãnh khó nghe, lòng rối bời chua xót cho vận nước, cho cuộc đời và cho cả bản thân tôi, từ ngày đó tôi biết được danh từ Tù được thay bằng cái tên hoa mỹ là Học tập cải tạo, tôi biết được rừng tràm U-minh mà từ lâu chỉ nghe tiếng, Độc lập, Tự do, Hạnh Phúc dân Việt chưa bao giờ có được từ ngày đó.

Thân mến

Minh Khải